-
Phong trào Phụ nữ đòi Quyền sống. (Bà Ngô Bá Thành sáng lập).
-
Phong trào Thi hành Hiệp Định Paris.
-
Mặt trận Nhân dân Cứu đói. (Tổ chức lớn nhất ở miền Nam với sự tham gia của các nhóm Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo và Cao Đài. Linh mục Phan Khắc Từ là một trong 3 phó chủ tịch.)
-
Mặt trận các Tôn giáo vì Hòa bình, Hòa hợp, và Hòa giải. (Dương Văn Minh sáng lập).
-
Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Dân tộc (Một tổ chức Phật giáo do Vũ Văn Mẫu lãnh đạo).
-
Tổ chức Nhân dân đòi Thi hành Hiệp định Paris. (Ngô Bá Thành sáng lập).
-
Ủy ban Tranh đấu cho Tự do Báo chí và Xuất Bản. (Dân biểu Nguyễn Văn Binh, anh vợ Ngô Công Đức đứng đầu).
-
Ủy ban đòi trả tự do cho tù Chính trị của Lực lượng thứ ba.
-
Ủy ban bảo vệ quyền lợi người lao động (Linh mục Phan Khắc Từ lãnh đạo).
-
Nhóm các Nhà Lập Pháp Tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Hòa bình.
Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014
Vài nhận xét về “thành phần thứ ba” và “hòa hợp, hòa giải dân tộc”
Ngô Vĩnh Long
Hàng năm, đến khoảng tháng 4, báo
chí ở Việt Nam lại có một vài bài về “hòa hợp, hòa giải dân
tộc” trong đó có đề cập đến vai trò của “thành phần thứ ba.”
Năm nay tờ báo Đại Đoàn Kết, cơ quan trung ương của
Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, trong bài với tựa đề “Kỷ niệm 36
năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
(30-4-1975/2011): Đóng góp của ‘thành phần thứ ba’ cho ngày
chiến thắng” có viết như sau:[1]
Nhắc lại sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết,
cũng như con đường tất yếu để đi đến hòa hợp, hòa giải dân
tộc, ông Kiệt cho rằng: “Theo tôi, đã đến lúc ta phải nhìn
nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp người
Việt yêu nước từng sống trong lòng chế độ cũ, hiện ở trong
nước hay ở bên ngoài. Bản thân tôi cùng với anh em được giao
tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau một
cuộc chiến tranh như vậy, tôi nghĩ không thể không nói đến
vai trò của các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu,
có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ .… Sự
xuất hiện trở lại trên chính trường của ông Dương Văn Minh
chính là kết quả hoạt động tích cực của lực lượng thứ ba,
lực lượng những người đấu tranh với Mỹ - Thiệu ngay trong
lòng chế độ Sài Gòn bấy giờ.”
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình
thẳng thắn thừa nhận: “Nhiều người ngại nói đến lực lượng
thứ ba, nhưng theo tôi, lực lượng này đã có những đóng góp
nhất định vào thắng lợi của nhân dân ta”. Năm 1960, Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm
chủ tịch là một liên minh rộng lớn đại diện cho nhiều tổ
chức, đoàn thể, các dân tộc, tôn giáo, các cá nhân yêu nước
thuộc nhiều thành phần trong xã hội trong và ngoài nước, sĩ
quan và viên chức kể cả cấp cao của chính quyền Ngô Đình
Diệm. Với chính sách ngoại giao “hòa bình và trung lập”, Mặt
trận đã tranh thủ được đông đảo các lực lượng yêu chuộng hòa
bình và công lý trên toàn thế giới, bao gồm cả phong trào
phản chiến ở Mỹ, kể cả những người khác xa về chính kiến,
tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn chưa từng
có, đoàn kết với cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của dân
tộc ta. Chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều nước,
châu Á, Phi, Mỹ La-tinh đã chính thức công nhận Mặt trận Dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam về mặt chính phủ. Cách mạng
miền Nam ngày càng thắng lớn, Mặt trận càng có điều kiện mở
rộng, tập hợp thêm lực lượng. Sau Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân Mậu Thân, ngày 20-4-1968, Liên minh các lực lượng dân
tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ra đời do Luật sư Trịnh
Đình Thảo, nhà trí thức yêu nước nổi tiếng ở miền Nam làm
Chủ tịch. Thắng lợi mang tính chiến lược của cuộc tổng tấn
công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 buộc đế quốc Mỹ và chính
quyền Sài Gòn phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Hội
nghị Paris nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở
Việt Nam, trong đó Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam là một bên đại diện cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của
nhân dân ta ở miền Nam. Với sự lớn mạnh về mọi mặt của cách
mạng miền Nam, ngày 06-6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, kịp thời phục vụ
cuộc đấu tranh về ngoại giao trên bàn đàm phán bốn bên, đưa
đến việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27-01-1973. Ký Hiệp
định Paris, Chính phủ Mỹ phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam,
quyền tự quyết của nhân dân ta ở miền Nam, rút quân về nước,
công nhận tình hình thực tế ở miền Nam có hai chính quyền,
hai quân đội và ba lực lượng chính trị. Theo bà Nguyễn Thị
Bình, trong thời gian đàm phán ký kết Hiệp định Paris 1973,
nhiều cá nhân và nhóm chính trị rất đa dạng được hình thành,
có người và nhóm do Mặt trận vận động tổ chức, có người và
nhóm không có liên hệ gì với Mặt trận, nhưng hoạt động có xu
hướng theo mục tiêu đấu tranh của Mặt trận, đó chính là lực
lượng thứ ba. Bà Ngô Bá Thành, Luật sư Trần Ngọc Liểng, một
số người trong nhóm tướng Dương Văn Minh... là một trong
những lực lượng đó.
Tại sao tít bài báo đề cập đến “thành phần
thứ ba” trong ngoặc kép trong khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
và nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình lại nói đến lực
lượng thứ ba không có nháy nháy? Tại sao tít lại nói
đóng góp “cho ngày chiến thắng” mà không cho hòa hợp, hòa
giải dân tộc? Câu bà Bình nói lực lượng thứ ba được hình
thành “trong thời gian đàm phán ký kết Hiệp định Paris 1973”
có nghĩa là bắt đầu từ năm 1968 hay từ hồi nào? Và tại sao
bà Bình lại buộc phải nói như sau: “Nhiều người ngại nói đến
lực lượng thứ ba, nhưng theo tôi, lực lượng này đã có những
đóng góp nhất định vào thắng lợi của nhân dân ta”?
Trong bài này tôi xin có vài nhận xét sơ khởi
về những câu hỏi ở trên và về một số “đóng góp nhất định”
của một vài “cá nhân và nhóm chính trị rất đa dạng” mà bà
Bình nêu ở trên. Tôi sẽ đề cập đến việc tại sao trong những
năm cuối thập kỷ 60 và đầu 70 của thế kỷ trước người ta chú
trọng đến vai trò của lực lượng thứ ba trong việc “hòa hợp,
hòa giải dân tộc.” Sau đó tôi sẽ đưa ra một vài dẫn chứng
tại sao chính quyền Sài Gòn đã ra sức tấn công các cá nhân
và các nhóm trong lực lượng thứ ba sau khi Hiệp Định Paris
được ký kết cuối tháng Giêng năm 1973 và hậu quả là gì sau
này đối với vấn đề đoàn kết dân tộc và việc xây dựng một xã
hội dân chủ, hài hòa.
1. Vài lời về tên gọi
Trước hết xin nói qua về tên gọi. Cái tên gọi
“lực lượng thứ ba” (tiếng Anh là “Third Force”) đã có từ
những năm đầu của thập kỷ 60 và đã được sử dụng ở nước ngoài
cho đến những năm đầu thập kỷ 70. Jean-Claude Pomonti, một
phóng viên của báo Le Monde bên Pháp đã viết là tên
gọi “lực lượng thứ ba” được dùng năm 1960 sau khi một nhóm
18 chính khách chống chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng cũng
chống Cộng, họp tại khách sạn Caravelle ở Sài Gòn và đưa ra
một bản tuyên ngôn đòi “giải phóng” và đòi ông Diệm chấm dứt
chế độ gia đình trị.[2]
André Menras, một giáo viên người Pháp có tham gia phong
trào đô thị ở Sài Gòn, nói rằng một lực lượng thứ ba là “một
phong trào hòa bình đã hình thành và lớn mạnh từ năm 1963
trong cuộc đấu tranh chống các chính sách của Ngô Đình
Diệm.”[3]
Theo một số nhân vật trong phong trào phản chiến của Mỹ thì
tên gọi “lực lượng thứ ba” hay “giải pháp thứ ba” (Third
Solution) đã được nhiều người trong phong trào đô thị miền
Nam dùng từ năm 1965.[4]
Tên gọi “thành phần thứ ba” thì theo ký giả
Jacques Decornoy của báo Le Monde đã xuất hiện vào
mùa thu năm 1969 với một nhóm người chống chính quyền Nguyễn
Văn Thiệu và đi theo hướng hòa giải dân tộc mà ông Dương Văn
Minh được coi là đại diện. Decornoy dùng từ “troisième
composante” (tức “thành phần thứ ba”).[5]
Theo hồi ký của Nguyễn Hữu Thái, người đã giúp phần tác động
ông Dương Văn Minh đơn phương ngừng bắn và dẫn ông Dương Văn
Minh đến Đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975 để ghi
âm và phát lời tuyên bố đầu hàng, thì:
Trong lúc này [từ cuối năm 1968] tôi tiếp xúc
được với những bạn bè đối lập chính quyền và bắt đầu viết
cho những tờ báo có khuynh hướng hòa bình, hòa giải dân tộc.
Họ là một nhóm dân biểu Quốc hội Sài Gòn chống đối lại tướng
Nguyễn Văn Thiệu, ngả theo đường lối hòa giải dân tộc của
tướng Dương Văn Minh, trong số họ có người móc nối phối hợp
hành động với phía Mặt trận Giải phóng. Cơ quan ngôn luận
của họ là tờ báo Tin sáng, nơi quy tụ hàng chục cây
bút chống đối chế độ và tôi trở thành một trong các cây bút
chủ lực.[6]
Nguyễn Hữu Thái không có đề cập gì đến việc
nhóm trên có tự gọi mình là “thành phần thứ ba” hay không,
nhưng hai trang sau đó ông viết tiếp:
Năm 1971 có bầu cử Quốc hội Sài Gòn, Mặt trận
Giải phóng bí mật đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa
bình đứng giữa, chuẩn bị cho 'Thành phần thứ ba'. Hội nghị
Paris về vấn đề Việt Nam chưa ngã ngũ nhưng đang bàn đến
việc lập chính phủ 3 thành phần, trong đó có thành phần đứng
giữa làm trung gian hòa giải trong chính phủ liên hiệp tương
lai.[7]
Tên gọi “thành phần thứ ba” được bắt đầu dùng
là do đề nghị của chính phủ miền Bắc tại hòa đàm Paris về
thành lập một chính phủ liên hiệp gồm ba thành phần, nhưng
không phải để áp dụng cho các nhóm trong phong trào đô thị
vận động cho hòa bình, hòa hợp và hòa giải. Từ năm 1968 các
tập san ngoại ngữ miền Bắc và của Mặt Trận Giải Phóng nói
rất nhiều đến phong trào đô thị miền Nam, nhưng không dùng
tên “thành phần thứ ba” hay “lực lượng thứ ba” cho mãi đến
năm 1972. Ví dụ, Vietnam Courier (một nguyệt
san của Bộ Ngoại Giao) trong số tháng 12 năm 1972 viết: “Tại
Sài Gòn một lực lượng thứ ba đã hình thành như là một thách
thức đối với tên độc tài sừng thiếc [tức ông Nguyễn Văn
Thiệu], người mà vẫn cứ phủ nhận sự tồn tại của lực lượng
này.”[8]
Trong suốt thời gian đàm phán, phía Mỹ và
chính quyền Sài Gòn nhất quyết không đồng ý có một chính phủ
liên hiệp gồm ba thành phần như phía cách mạng đề nghị. Tuy
nhiên, cuối cùng, khi “Hiệp Định Chấm Dứt Chiến Tranh Lập
Lại Hòa Bình ở Việt Nam” được ký ở Paris cuối tháng Giêng
năm 1973 thì điều 12 của Hiệp Định này có nói đến việc thiết
lập một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm
ba thành phần ngang nhau”:
a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam
Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp
dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành
lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba
thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc
nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân
tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương để
thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam
sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt
Nam càng sớm càng tốt, và sẽ làm hết sức mình để thực hiện
việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu
lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam
là hòa bình, độc lập và dân chủ.
b) Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân
tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành
Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo
đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân
tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói
trong Điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc
tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển
cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua
hiệp thuơng mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa
hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử
địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận.
Do đó, các cá nhân và các lực lượng không
thuộc chính quyền Sài Gòn hay Chính phủ Cách mạng Lâm thời
được coi là “thành phần thứ ba.” Tuy rằng danh từ “thành
phần” (tiếng Anh là “segment” hay “component”) được dùng
trong Hiệp Định Paris và một số văn bản, chính phủ Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa vẫn thường gọi các thành phần không theo
bên này hoặc bên kia ở miền Nam là “lực lượng thứ ba” và đề
cao vai trò của chúng mãi đến đầu năm 1975 trong việc hòa
giải, hòa hợp và việc thành lập một chính phủ liên hiệp. Sau
đây là lời nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một cuộc
phỏng vấn với nhà báo nổi tiếng Pháp tên Jean Lacouture được
đăng trên tập san Vietnamese Studies do Nguyễn Khắc
Viện chủ biên: “Việc thành lập một chính phủ hòa hợp dân tộc
ở miền Nam là chìa khóa dẫn đến hòa bình, và lực lượng thứ
ba là một thành phần không thể thiếu được của giải pháp này.
Vì chính trị là nghệ thuật để tạo ra cái gì có thể thực
hiện được, chúng tôi đã đi đến kết luận đây là phương
pháp độc nhất có thể dẫn đến hòa bình. Tôi có thể nói đây là
một giải pháp cơ may. Ngoài ra không có giải pháp nào khác,
chỉ có chiến tranh.”[9]
Lời nói trên của ông Phạm Văn Đồng cho thấy
rõ là chính phủ miền Bắc lúc đó coi trọng lực lượng thứ ba
vì họ muốn có một giải pháp hòa bình theo Hiệp Định Paris và
không muốn tiếp tục có chiến tranh. Nhưng, như mọi người đã
biết, điều này không thành và cuối cùng giải pháp quân sự đã
được dùng để giải phóng miền Nam. Hậu quả ra sao đối với
lực lượng thứ ba và vấn đề hòa giải, hòa hợp sẽ được đề cập
đến ở phần cuối của bài này. Dưới đây tôi sẽ trình bày sự
phát triển của vài nhóm trong thành phần này cũng như một số
đóng góp của các cá nhân trong đó vào giai đoạn 1968 đến
1975.
2. Một số đóng góp trong giai đoạn 1968-1972
Như báo
Đại Đoàn Kết
đề cập đến ở trên, năm 1968 là cái mốc lớn.
Tết Mậu Thân chứng minh cho dân chúng Mỹ cũng như cho nhiều
người Việt Nam trong các thành phố sự phá sản của chính sách
Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trước Tết Mậu Thân các chính khách Mỹ,
kể cả Tổng Thống Lyndon B. Johnson, thường lên truyền hình
nói rằng họ đến Việt Nam là để giúp đỡ dân chúng Việt Nam
xây dựng một đất nước dân chủ và thịnh vượng. Họ nói rằng
phần lớn người Việt hiểu ý tốt của họ nên ủng hộ chính phủ
Sài Gòn và vì thế “bọn Việt Cộng” chỉ có thể kiểm soát một
phần dân chúng nông thôn ban đêm qua các “hoạt động khủng
bố” (terrorist activities) mà thôi. Nhiều người Mỹ lúc đó
tin những lời tuyên truyền như thế, một phần vì số đông theo
đạo Thiên chúa và chống Cộng sản. Thêm vào đó là phần lớn
người Mỹ ở trong các thành thị cho nên khó thông cảm với
nông dân Việt Nam mặc áo bà ba đen hay quần xà lỏn và đi
chân đất, mà các phương tiện truyền thông của Mỹ thường gọi
chung là “Việt Cộng” khi họ bị giết chóc hay tàn sát. Nhưng
khi quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn thả bom tàn phá hàng
loạt các thành thị miền Nam trong Tết Mậu Thân thì hàng
triệu người xuống đường biểu tình ở Hoa Thịnh Đốn (cũng như
một số thành phố lớn khác) đòi chính phủ Mỹ phải chấm dứt
chiến tranh ở Việt Nam. Trong những người biểu tình này có
sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ và cuối tháng 2 năm 1968
một số người này đã thâu thập được 16 chữ ký cho một bản
tuyên bố đòi chính phủ Mỹ và các nước đồng minh phải rút hết
quân đội của họ ra khỏi Việt Nam để người Việt Nam có thể
quyết định tương lai của mình. Nhóm sinh viên này đã đến gặp
đại sứ của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Thịnh Đốn và
các quan chức tại Nhà Trắng ngày 2 tháng 3 để chuyển bản
tuyên bố. Trưa hôm đó các đại diện của nhóm có cuộc họp báo
tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia (the National Press Club).[10]
Sau đó một số sinh viên này càng ngày càng hoạt động tích
cực và đã giúp các nhóm trong phong trào chống chiến tranh
của Mỹ tìm hiểu, móc nối, và kết hợp hoạt động nhiều hơn với
các nhóm trong phong trào đô thị ở miền Nam.
Tại Việt Nam vào tháng 2 và tháng 3 năm 1968
trong những thành phố mà Mặt Trận Giải Phóng (kết hợp với
quân đội của miền Bắc ở vài nơi, như Huế) chiếm đóng, hàng
loạt các tổ chức địa phương tự gọi mình là “Liên minh các
lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình” ra đời. Riêng tại
Huế, liên minh này đã trụ được đến 3 tuần.[11]
Các liên minh này bắt nguồn từ những lực lượng trong phong
trào đô thị trước đó chứ không phải tự phát trong một thời
gian ngắn. Sau khi quân giải phóng rút khỏi các thành phố
thì các tổ chức vừa thành lập nói trên nhập lại thành “Liên
minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam”
trong một cuộc họp ngày 20-21 tháng 4 năm 1968 tại một địa
điểm gần Sài Gòn. Những người tham dự gồm nhiều trí thức,
học giả, sinh viên, nhà văn, nhà báo, thương gia, công chức,
v.v., đại diện cho các thành phần xã hội, chính trị ở các
thành phố miền Nam. Bốn mươi người đã được bầu vào Ủy Ban
Trung Ương của Liên Minh, nhưng chỉ có tên của 10 người được
công bố, vì những người kia thì hoặc là có địa vị cao trong
chính quyền Sài Gòn, hoặc có những vị trí quan trọng trong
các thành phố nên sự an toàn của họ cần được bảo vệ.[12]
Hầu hết những người có tên được công bố là những người gia
đình khá giả ở miền Nam; họ có bằng cấp cao và phần lớn đã
du học ở các đại học bên Pháp. Chủ tịch Liên Minh là ông
Trịnh Đình Thảo, một luật sư nổi tiếng ở Sài Gòn, xuất thân
từ một gia đình địa chủ giàu có ở miền Nam. Ông đã được đi
Pháp học và vợ ông là một thương gia. Ông Tôn Thất Dương Kỵ,
tổng thư ký Ủy ban trung ương Liên minh Các lực lượng dân
tộc, dân chủ và hoà bình, nguyên là giáo sư sử học tại
đại học Huế và đại học Sài Gòn. Bà Dương Quỳnh Hoa, phó tổng
thư ký, là một bác sĩ sản khoa được đào tạo ở Pháp. Bà này
đã có liên hệ với đảng Cộng sản Pháp khi còn đi học. Nhưng
không người nào trong 40 người trong ủy ban trung ương của
Liên Minh là đảng viên của đảng Cộng sản (đảng Lao Động hay
các nhánh khác) ở miền Nam.[13]
Trái lại, theo Wilfred Burchett (một nhà báo Úc có quan hệ
mật thiết với chính phủ miền Bắc và Mặt Trận Giải Phóng) và
Douglas Pike (tình báo CIA chuyên về phong trào Cộng sản tại
Việt Nam), các thành viên của Liên Minh luôn luôn phủ nhận
là họ có quan hệ tổ chức gì với Mặt Trận Giải Phóng cả, mặc
dầu họ chấp nhận những mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc
của Mặt Trận.[14]
Bản tuyên ngôn của Liên Minh có những mục
tiêu nói chung cũng giống như của Mặt Trận, nhưng những
chính sách đưa ra thì hướng về việc mở rộng ra các vấn đề có
thể được đem ra thảo luận giữa Mỹ và chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa khi có hòa đàm. Liên Minh nhấn mạnh vấn đề hòa
bình và trung lập, và muốn làm cầu nối giữa các thành phần
chính trị chống đối nhau để giúp Mỹ có thể liên lạc với Mặt
Trận trong khi vẫn không thừa nhận Mặt Trận hay nói chuyện
thẳng với Mặt Trận.[15]
Có thể vì những lý do này cho nên chính phủ miền Bắc đã cho
phổ biến bản tuyên ngôn của Liên Minh trên các phương tiện
truyền thông của mình và thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có lời
chào mừng sự ra đời của Liên Minh.[16]
Sau này ông Đồng có viết rằng từ khi Liên Minh được thành
lập “xu hướng cho hòa bình và trung lập đã phát triển rất
nhanh trong các tầng lớp trí thức và tư sản chống chính
quyền bù nhìn Sài Gòn.”[17]
Wilfred Burchett báo cáo rằng Liên Minh đã liên hệ được với
các tầng lớp nhân dân mà Mặt Trận khó vận động được và vì
thế đã giúp làm cầu nối giữa cách mạng với các thành phần
yêu nước trong chính quyền và quân đội Sài Gòn.[18]
Hơn nữa, Liên Minh giúp liên kết với các
thành phần nhân dân miền Nam không có quan hệ với Mặt Trận
Giải Phóng nhưng muốn có một giải pháp hòa bình dựa trên
việc thành lập một chính phủ liên hiệp gồm ba thành phần mà
chính phủ miền Bắc lúc đó đang đề nghị tại bàn đàm phán
Paris. Do đó, Liên Minh có thể trở thành một đại diện của
“thành phần thứ ba”. Mùa hè năm 1968 Wilfred Burchett đã cho
biết rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận
Giải Phóng nghĩ rằng Liên Minh có thể đóng một vai trò quan
trọng cho giải pháp hòa bình trong quá trình đàm phán.[19]
Các quan chức chính phủ miền Bắc tại Paris cũng cho hai đại
diện của phong trào hòa bình Mỹ biết rằng Liên Minh có thể
là một thành phần trọng yếu của một chính phủ liên hiệp.[20]
Đúng như
báo
Đại Đoàn Kết
viết ở trên, cuộc “tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân
1968 buộc đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải chấp nhận
ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris.” Nhưng những đợt
tấn công sau đó đã làm cho Mặt Trận bị thiệt hại nặng nề và
không những bị đẩy ra khỏi nhiều vùng nông thôn miền Nam mà
còn phải rút quân sang các vùng biên giới. Do đó, phong trào
đô thị đã có “đóng góp nhất định” trong việc chi phối sức
mạnh quân sự và chính trị của Mỹ và của chính quyền Sài Gòn,
giúp cho Mặt Trận có thời gian và không gian để hồi phục.[21]
Hoạt động của phong trào đô thị, trong đó có Liên Minh, đã
giúp cho cách mạng phát huy vai trò chính trị của mình trong
nước và trên thế giới trong khi Mặt trận đang suy yếu trên
lãnh vực quân sự và trong khi chính quyền Mỹ đang đẩy mạnh
“chương trình Việt Nam hóa” (Vietnamization Program) và
“chương trình bình định cấp tốc” (Accelerated Pacification
Program) với trung bình khoảng 300 cuộc hành binh “bình định
nông thôn” mỗi ngày theo các báo cáo chính thức.[22]
Việc bắt lính và tàn phá nông thôn đã gây ra hàng loạt cuộc
biểu tình tại các thành phố miền Nam chống bắt lính, chống
càn quét, và đòi chính phủ Sài Gòn và Mỹ phải kết thúc chiến
tranh “ngay lập tức”. Những đòi hỏi này còn có phần mạnh hơn
đề nghị 10 điểm mà ông Trần Bửu Kiếm, trưởng phái đoàn đàm
phán của Mặt Trận Giải Phóng tại Paris, đã đưa ra vào ngày 8
tháng 5 năm 1969. Trong đề nghị này Mặt Trận có đòi Mỹ và
các nước ngoài khác rút quân nhưng không bắt buộc đúng thời
điểm nào. Hai vấn đề quan trọng nhất trong đề nghị 10 điểm
này là có những cuộc bầu cử tự do và dân chủ để quyết định
một chính thể mới cho miền Nam và việc thiết lập một chính
phủ liên hiệp lâm thời trong thời gian các quân đội nước
ngoài đang rút ra khỏi Việt Nam để bảo đảm việc rút quân và
tuyển cử.[23]
Mặc đầu đây là một đề nghị có tính chất bao quát và thỏa
hiệp cao nhất đến thời điểm đó, chính quyền Nixon lập tức
bác bỏ và nói đó chỉ là việc “trở lại Hiệp Định Genève” năm
1954. Thêm nữa, ngày 14 tháng 5 năm 1969 tổng thống Nixon
công bố một “kế hoạch cho hòa bình” (plan for peace) trong
đó có những điểm chính sau đây: tất cả các binh lính không
phải từ miền Nam (all non-South Vietnamese troops) sẽ phải
rút đi trong hai giai đoạn; các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức
bởi “chính phủ theo hiến pháp và hợp pháp” (constitutional
and legal government) của Miền Nam Việt Nam (tức chính quyền
Sài Gòn); và tất cả các thành viên của Mặt Mặt Trận Giải
Phóng phải lột bỏ vũ khí, từ bỏ việc dùng bạo lực, và trở về
với “cộng đồng quốc gia” (national community). Như thế Nixon
không những không chấp nhận Mặt Trận là một thực thể chính
trị ở miền Nam mà còn cho là bất hợp pháp nên các thành viên
muốn có quyền công dân trở lại thì phải đầu hàng.
Để chứng minh Mặt Trận là một thực thể chính
trị có sự ủng hộ rộng lớn của nhiều thành phần nhân dân miền
Nam và để làm áp lực Mỹ tại bàn đám phán, Mặt Trận đã cùng
Liên Minh thành lập Chính phủ Cách Mạng Lâm thời tháng 6 năm
1969 với ông Nguyễn Hữu Thọ (chủ tịch Mặt Trận) làm Chủ tịch
Hội Đồng Cố vấn và ông Trịnh Đình Thảo làm phó chủ tịch.
Nhiều ủy ban của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời sau đó được
thành lập từ làng đến tỉnh trên khắp miền Nam trong khi
nhiều chính phủ trên thế giới và nhiều cơ quan quốc tế đã
nhanh chóng công nhận thực thể chính phủ này. Trong khi
Chính Phủ Cách Mạng Lâm thời tạo được thêm hậu thuẫn thì
chính quyền Sài Gòn lại càng bị phản đối vì chính sách hiếu
chiến. Những cuộc biểu tình chống chính quyền Sài Gòn đòi
hòa bình và những cuộc đình công đòi quyền sống càng ngày
càng nhiều và càng lớn trong các thành phố miền Nam, tạo nên
sự liên kết của nhiều thành phần trong xã hội. Một ví dụ là
vào ngày 25 tháng 6 năm 1970 124 công đoàn với tổng số hơn
100 ngàn công nhân trong vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định
tuyên bố sẽ tổng đình công. Những công đoàn khác, Phong trào
Thương Chiến Binh, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang, Tổng Hội Sinh
Viên Sài Gòn, và một vài tổ chức khác lập tức hứa ủng hộ
đình công. Trong cùng ngày Huỳnh Tấn Mẫm, một sinh viên đã
bị chính quyền Thiệu-Kỳ bắt giam và tra tấn dã man, sau khi
được bầu làm chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn dẫn một
đoàn đại diện sinh viên đến trụ sở Tổng Liên Đòan Lao Công Việt Nam
để gặp các lãnh tụ của các công đoàn đình công và cam kết sự
ủng hộ hoàn toàn của toàn thể sinh viên. Trước đó, trong
cùng ngày, Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đã đưa ra một nghị
quyết trong đó có những điểm như sau: (1) lập tức ngưng
chiến tranh; (2) lập tức rút toàn bộ quân đội Mỹ và đồng
minh; (3) lập tức trả độc lập lại cho Việt Nam; và (4) lập
tức bỏ hẳn các chương trình đào tạo quân sự. Sau cuộc gặp
mặt giữa các lãnh tụ sinh viên và công đoàn, hai bên ra một
thông cáo chung trong đó nhiều điểm giống như công bố của
sinh viên ngày 22 tháng 6 và nghị quyết ngày 25 tháng 6. Hai
bên kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam cho sự tranh đấu
của công nhân.[24]
Theo báo New York Times ngày 17 tháng 7 năm 1970 Tổng
thống Thiệu lo sợ đến nổi đã ra lịnh đàn áp tất cả các phong
trào đòi hòa bình. Tờ báo trích lời tuyên bố của ông Thiệu:
“Tôi sẵn sàng đập tan tất cả các phong trào đòi hòa bình với
bất cứ giá nào bởi vì tôi vẫn thật sự là một chiến sĩ….Chúng
tôi sẽ đánh chết những ai đòi lập tức có hòa bình” [I am
ready to smash all movements calling for peace at any price
because I’m still much of a soldier…. We will beat to death
the people who are demanding immediate peace.] Tờ New
York Times vừa trích cũng cho biết là trong cùng ngày
Trung tướng Trần Văn Hai, tổng tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, đã
ra lệnh cho các cảnh sát trưởng dùng “các biện pháp mạnh, kể
cả lưỡi lê và đạn” [strong measures, including bayonets and
bullets] để đập tan các cuộc biểu tình.[25]
Trước tình hình kể trên, ngày 17 tháng 9 năm
1970 Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình của Chính phủ Cách mạng
Lâm thời đưa ra đề nghị “8 điểm” trong đó có nói đến việc
bầu cử để thành lập một chính phủ phản ánh các khát vọng của
toàn thể nhân dân Việt Nam về hòa bình, độc lập, trung lập,
dân chủ, và hòa giải, hòa hợp dân tộc. Điểm 5 đề cập đến một
chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 3 thành phần: những nhân
vật của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời; những nhân vật yêu
chuộng hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ trong chính
quyền Sài Gòn; và những nhân vật của các lực lượng chính trị
và tôn giáo, trong hay ngoài nước, có lập trường ủng hộ hòa
bình, độc lập, trung lập và dân chủ.[26]
Đề nghị “8 điểm”, mà sau này phần lớn đã được
đưa vào Hiệp Định Paris năm 1973, tạo được rất nhiều dư luận
ủng hộ trên thế giới và cả ở nước Mỹ nên Nixon ngày 7 tháng
10 năm 1970 buộc phải trả lời bằng cách tuyên bố trên các
đài truyền hình Mỹ một “phương án hòa bình” nữa. Trong đó
Nixon đòi rằng điều kiện tiên quyết cho một cuộc đàm phán là
một “cuộc ngưng bắn tại chỗ” (ceasefire-in-place) và việc
thả hết tất cả các tù binh của Mỹ; rằng cuộc đàm phán là
phải với hết tất cả các nước Đông Dương (tức hai miền Việt
Nam, Lào và Kampuchia) chứ không chỉ có với Việt Nam; rằng
Mỹ và miền Bắc “rút quân cùng lúc” (mutual troop withdrawal)
khỏi miền Nam; rằng một giải pháp chính trị cho miền Nam sẽ
theo các thủ tục được đồng ý trong tương lai.[27]
Nhiều thành phần nhân dân miền Nam lúc ấy
phản đối đòi hỏi vô lý của Nixon. Sau một thời gian vận
động, ngày 11 tháng 11 năm 1970 khoảng 1000 đồng bào gồm đủ
các giới tham dự buổi hợp do Ủy Ban Đòi Quyền Sống Đồng Bào,
Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết, Ủy Ban Phụ Nữ Đòi Quyền Sống,
và Nghiệp Đoàn Giáo Chức Tư Thục tổ chức tại đại học xá Minh
Mạng thành lập “Mặt Trận Nhân Dân Tranh Thủ Hòa Bình”
(MTNDTTHB). Tuyên ngôn cho biết là MTNDTTHB “được thành lập
với mục đích kết hợp mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài
nước, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, xu hướng và quá
khứ cùng chung một ý chí đem lại Hòa bình cho đất nước.”[28]
Sự ra đời của MTNDTTHB giúp Mặt Trận Giải
Phóng chứng minh rằng một giải pháp ngưng chiến tranh dựa
vào giải pháp hòa đàm sẽ được sự ủng hộ của nhân dân trong
nước và trên thế giới. Ngày 10 tháng 12 năm 1970 bà Nguyễn
Thị Bình tuyên bố là sẽ có đình chiến giữa quân đội Giải
Phóng và quân đội của Mỹ và đồng minh nếu họ hứa sẽ rút quân
trước ngày 30 tháng 6 năm 1971. Bà Bình cũng nói là sẽ có
ngưng bắn giữa quân đội Giải Phóng và Sài Gòn sau khi hai
bên đồng ý thành lập một chính phủ lâm thời gồm 3 thành phần
như đã được nêu trong đề nghị “8 điểm.” Nhưng Nixon không
muốn có đình chiến, chỉ muốn leo thang chiến tranh hòng làm
suy yếu phe cách mạng và củng cố chính quyền Sài Gòn vì
Nixon không tin tưởng ở khả năng chính quyền này có thể tồn
tại trong một giải pháp hòa bình dựa vào đấu tranh chính trị
trong một chính phủ liên hiệp. Do đó, ngày 8 tháng 2 năm
1971 Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã đưa hơn 45 ngàn quân vào
khu vực đường 9 nam Lào, với ý định chiếm đóng toàn khu vực
đó hòng cắt đứt mọi chi viện cho Mặt Trận từ miền Bắc. Nhưng
lý do mà Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird tuyên bố là để
bảo vệ sinh mạng của Mỹ và để “bảo vệ chương trình Việt Nam
hóa” (to protect the Vietnamization program.)[29]
Mặc dầu đây là một cuộc hành quân với quy mô
rất lớn, tin tức về cuộc hành quân này đã bị lộ ra nhiều
ngày trước. Do đó, theo hầu hết các báo Sài Gòn đăng vào
ngày 5 tháng 2 năm 1971, Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết, Ủy Ban
Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, và Mặt Trận Nhân Dân Tranh Thủ Hòa
Bình đã ra thông cáo chung phản đối việc Mỹ và chính quyền
Thiệu mở rộng chiến tranh sang Lào. Thông cáo nói rằng đây
là một cuộc leo thang chiến tranh rất nguy hiểm theo học
thuyết Nixon về việc dùng người Đông Dương để giết nhau. Do
đó, thông cáo nói là để chấm dứt cuộc tàn sát vô nghĩa tất
cả quân đội Mỹ và đồng minh phải lập tức và hoàn toàn rút
khỏi Đông Dương. Theo báo Tin Sáng, tờ báo của nhóm
dân biểu Công giáo trong Quốc hội Sài Gòn và là tờ báo lớn
nhất ở miền Nam lúc ấy, ngày 8 tháng 2 hơn 8000 người biểu
tình chống việc đưa quân sang Lào. Đại diện của nhiều nhóm
thuộc nhiều thành phần (phụ nữ, sinh viên, công nhân, chính
trị, tôn giáo) đòi chồng con, anh em của họ phải được trở về
với gia đình. Chính quyền Sài Gòn bắt giữ và đánh đập nhiều
người biểu tình, số lớn là sinh viên. Do đó, Tổng hội Sinh
viên Sài Gòn buộc công bố một “tối hậu thư” đòi những sinh
viên và bạn bè của họ phải được trả tự do trong vòng 24
tiếng đồng hồ. Nhưng chính quyền Sài Gòn trả lời bằng cách
đưa cảnh sát dã chiến và quân cảnh của Mỹ đến tấn công cư xá
sinh viên Minh Mạng. Sinh viên trả thù bằng cách đốt các xe
quân cảnh của Mỹ trên đường phố.[30]
Ngày 14 tháng 2 năm 1971 sinh viên đốt 15 chiếc xe quân sự
của Mỹ tại Sài Gòn và phát hơn 250 nghìn truyền đơn chống
việc Nixon leo thang chiến tranh.[31]
Ngày 15 tháng 2 năm 1971 tại Sài Gòn 14 tổ chức đã đưa ra
một thông cáo chung trong đó họ đòi Mỹ phải rút quân ngay
lập tức khỏi Đông Dương và ngưng mọi hoạt động trá hình nhằm
mở rộng chiến tranh và cản trở việc tái lập hòa bình. Khẩn
hiệu của các nhóm này đã đổi từ “chống Mỹ cứu nước”, “đuổi
Mỹ cứu nước,” sang “diệt Mỹ cứu nước.” Từ đó trở đi hầu như
mỗi ngày là có xe quân đội Mỹ bị đốt cháy trên đường phố Sài
Gòn như các báo Sài Gòn đã đăng tin. Báo Dân Chủ Mới
ngày 26 tháng 10 năm 1970 đăng một bài dài của GS Nguyễn Văn
Trung, khoa trưởng Đại học Văn Khoa và là một người Công
giáo, giải thích tại sao nhiều người Việt Nam đã trở thành
những người thù Mỹ đến độ thấy xe Mỹ là đốt, thấy lính Mỹ là
đánh.
Thông tin về phong trào đô thị và hoạt động
của sinh viên miền Nam trong thời gian này được phổ biến rất
rộng rãi tại Mỹ một phần vì người đại diện chính thức của
Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đã thiết lập quan hệ tốt với báo
chí Mỹ, với các tổ chức trong phong trào chống chiến tranh
tại các đại học, và với Hiệp Hội Sinh Viên Quốc Gia Hoa Kỳ
(United States National Student Association, USNSA). Một ví
dụ điển hình là đại diện này đã thúc đẩy USNSA tổ chức một
hội thảo quốc tế tại Georgetown University ở Hoa Thịnh Đốn
ngày 13-16 tháng 10 năm 1971 gồm đại diện của hơn 30 nước
trên thế giới và hơn 40 đại học tại Mỹ để chủ yếu bàn tình
hình ở Nam Việt Nam và tình trạng của sinh viên Việt Nam
trước sự đàn áp của chính quyền Sài Gòn.[32]
Như đã thấy ở trên, thông tin về phong trào
đô thị được nhiều báo và tập san viết đến, trong đó một
trong những tờ báo quan trọng là tờ Tin Sáng không
phải vì nó là tờ báo lớn nhứt trong khoảng 30 tờ báo ở miền
Nam, nhưng vì nó là một tờ báo tiến bộ với sự cộng tác của
nhiều nhân vật quan trọng trong Quốc hội và trong nhiều
thành phần chính trị và tôn giáo tại miền Nam. Thêm vào đó
những nhân vật này phần lớn là người Công giáo, như hai ông
chủ biên Ngô Công Đức và Hồ Ngọc Nhuận, cho nên lời nói của
họ được nhiều người Mỹ tin tưởng. Mặc dầu là dân biểu Quốc
hội (nên được hưởng quyền bất khả xâm phạm) và là cháu của
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, Tổng thống Thiệu gọi ông Ngô
Công Đức là tay sai Cộng sản và bắt giam ông Đức 5 ngày năm
1971. Văn phòng của ông Đức bị đặt bom plastic hai lần trong
năm 1970 và cuối cùng bị thiêu rụi vào tháng ba năm 1971. Từ
tháng 3 năm 1970 cho đến tháng hai năm 1972 tờ Tin Sáng
bị tịch thu 295 lần, nhưng hầu hết các số bị tịch thu đã
được ban biên tập tìm cách gởi sang cho Vietnam Resource
Center qua hệ thống bưu điện quân sự của Mỹ (APO) cho nên
chỉ vài ngày sau là nhận được. Các báo khác và các thông tin
khác cũng phần lớn qua ngả này và sau đó được nhanh chóng
dịch, phân tích, và phổ biến.[33]
Ngô Công Đức cũng có quan hệ tốt với nhiều ký giả nước ngoài
và nhiều lần được các tờ báo nước ngoài mời viết bài. Một ví
dụ là bài “Anti-Americanism: Common Cause in Vietnam” (Chống
Mỹ: Mục Đích Chung ở Việt Nam) đăng trong số tháng 2 năm
1971 của tập san The Progressive tại Mỹ. Dân biểu Lý
Quí Chung trong nhóm Tin Sáng (sau khi Tin Sáng
bị đóng cửa thì Lý Quí Chung sang bên Điện Tín, cùng
một nhóm thành lập), thuộc khối Phật giáo
trong Quốc hội và trong cánh của Tướng Dương Văn Minh, năm
1970 xuất bản với một nhà xuất bản lớn tại Mỹ một cuốn sách
gồm nhiều bài dịch từ Tin Sáng.[34]
Qua các hoạt động như trên, “nhiều cá nhân và
nhóm chính trị rất đa dạng” (theo lời nói của bà Nguyễn Thị
Bình được trích ở trên) đã giúp cho nhân dân trong nước và
trên thế giới, đặc biệt là người Mỹ, thấy rõ hơn bộ mặt độc
tài của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và tại sao càng ngày
càng nhiều người Việt Nam chống chính sách và sự hiện diện
của Mỹ ở Việt Nam. Để lừa quần chúng Mỹ và để có thể chứng
minh rằng chính quyền Sài Gòn là một chính quyền có chính
danh, Mỹ và Thiệu cho tổ chức bầu cử Quốc hội để dọn đường
cho việc Thiệu chắc chắn thắng trong cuộc bầu cử tổng thống
vào ngày 3 tháng 10 năm 1971. Các cuộc bầu cử này cũng nhằm
phá hoại cuộc đàm phán tại Paris và các đề nghị của Chính
phủ Cách Mạng Lâm Thời về một chính phủ liên hiệp lâm thời,
về trung lập, về đình chiến và về tự do. Cương lĩnh bầu cử
tổng thống của Thiệu là chính sách “bốn không”: không có
chính phủ liên hiệp dưới bất cứ một hình thức trá hình nào,
không có nhượng đất đai cho Cộng sản, không có trung lập
thiên Cộng, và không có chủ nghĩa Cộng sản được tự do tuyền
bá và đảng Cộng sản được hoạt động ở Nam Việt Nam.[35]
Ông Thiệu đã chính thức tuyên bố rằng trung lập tức là thiên
Cộng. Ồng nói Cộng sản tuyên bố trung lập là không theo Mỹ
hay theo Cộng sản, nhưng thật ra Cộng sản muốn miền Nam
trung lập là vì họ muốn Mỹ không có cớ ở lại miền Nam.[36]
Trò bầu cử này đã bị các cá nhân và nhóm
trong phong trào đấu tranh đô thị lật tẩy và phá vỡ. Các báo
Sài Gòn, đặc biệt là Tin Sáng, cho biết Mỹ đã ủng hộ
chính phủ Thiệu trong việc dồn phiếu cho các ứng cử viên
ngay trước ngày bầu cử. Các ứng cử viên đối lập bị đánh đập,
bị bắt, và bị dọa là sẽ bị giết. Lính của chính quyền được
gởi đến các trạm bỏ phiếu để bỏ phiếu nhiều lần cho các ứng
cử viên trong danh sách phe của Thiệu. Và tại nhiều làng hơn
hai phần ba lá phiếu không được đưa cho cử tri vì chính
quyền nghi rằng những cử tri đó sẽ không đầu phiếu danh sách
của Thiệu.[37]
Tuy vậy, chính Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ cũng đã phải
tuyên bố tại Sài Gòn là những vi phạm và gian lận trong cuộc
bầu cử được nêu trên các báo chí thật ra chỉ bằng 25 phần
trăm của những gì đã xảy ra trên khắp nước. Ông Kỳ nói tiếp
là theo những gì chính bản thân ông biết thì “thật là rùng
rợn một trăm phần trăm và không thể tưởng tượng nổi.”[38]
Ngoài việc phơi bày những vi phạm và gian lận
trong kỳ bầu cử Quốc hội cho thế giới biết, các cá nhân và
nhóm trong phong trào đô thị cũng đã làm áp lực các chính
khách, trong đó có Dương Văn Minh, không ra ứng cử tổng
thống để Mỹ và Thiệu không thể dùng cuộc bầu cử này để biện
minh cho tính chính danh của chính quyền Sài Gòn.[39]
Cuối cùng Nguyễn Văn Thiệu phải “độc diễn” và chính quyền
Sài Gòn thông báo là theo con số đếm chính thức ông ta được
94,3 phần trăm tổng số phiếu. Chính phủ Mỹ không những không
thể dùng trò bầu cử để bịp dân chúng Mỹ cho tiếp tục ủng hộ
chính quyền Sài Gòn mà còn bị dư luận thế giới, trong đó có
báo chí và chính khách Mỹ, phê phán kịch liệt.[40]
Để gỡ gạc, đại sứ Ellsworth Bunker tuyên bố: “You can’t
expect too much from this underdeveloped country” (Không có
thể đòi hỏi quá đáng từ một nước chưa phát triển như thế
này). Và tổng thống Nixon nói: “It’ll take a few more
generations before the Vietnamese can enjoy democracy” (Cần
một vài thế hệ nữa trước khi người Việt Nam mới có thể hưởng
dân chủ). Cách ăn nói này đã gây phản ứng rầm rộ trên các
báo Sài Gòn. Một số người viết thư cho các báo, hay thư ngõ
cho Bunker và Nixon đăng trên các báo, phản đối sự trịch
thượng của hai vị này và sự tàn bạo của đế quốc Mỹ.[41]
Tại Mỹ một số hạ, thượng nghị sĩ đòi cắt viện
trợ quân sự cho chính quyền Thiệu. Nhưng tổng thống Nixon đã
bào chữa cho việc tiếp tục viện trợ với lý do là 30 trong 91
nước trên thế giới mà Mỹ cấp viện trợ quân sự là những nước
mà các nhà cầm quyền được tuyển chọn qua các tiêu chuẩn bầu
cử mà đối với người Mỹ là không công bằng. Vì thế, nếu áp
dụng những tiêu chuẩn mà nhiều người Mỹ muốn áp dụng ở Nam
Việt Nam thì cũng phải cúp viện trợ cho hơn hai phần ba nước
đang nhận viện trợ Mỹ lúc đó.[42]
Được sự ủng hộ công khai của Nixon chính
quyền Thiệu bắt đầu đàn áp thẳng tay những người tranh đấu
đòi hòa bình, trung lập và dân chủ. Trong một bản báo cáo
(đăng trong Tia Sáng ngày 2 tháng 2 năm 1972) dân
biểu Hoàng Thế Phiệt cho biết có hơn 40 ngàn người ở các địa
phương còn ở trong tù vì họ phản đối cuộc bầu cử tháng 10
năm 1971. Ông Phiệt viết là con số này không kể những sinh
viên, học sinh đã bị bắt tại Sài Gòn và bị tra tấn không
nương tay. Sau đây chỉ là một vài trường hợp lấy ra trong
vài số báo từ tháng Giêng cho đến tháng 3 năm 1972 để cho
độc giả thấy được một phần nào tình trạng lúc ấy đối với
những người đấu tranh trong phong trào đô thị.
Ngày 13 tháng Giêng năm 1972 tờ Tin Sáng
Hải Ngoại cho biết là sinh viên Lê Văn Nuôi và hai bạn
là Nguyễn Chiến và Trương Minh đã bị đánh què chân trong tù
và một học sinh khác tên là Trương Văn Khuê đã bị hỏng mắt
và sức khỏe bị đe dọa trầm trọng. Ngày 23 tháng 3 năm 1972
báo Dân Chủ Mới cho biết là vì áp lực của bạn bè
trong nước và trên thế giới Lê Văn Nuôi và các bạn được đem
ra tòa để xử. Hàng trăm cảnh sát đã phong tỏa tòa và nhiều
cảnh sát khác đã được đưa đến Quốc hội và tòa đại sứ Mỹ để
củng cố an ninh. Phiên tòa phải chấm dứt khi Lê Văn Nuôi và
bạn lấy dao lam rạch tay, rạch bụng, và rạch ngực và lấy máu
mình viết các khẩu hiệu chống chính quyền Thiệu trên vách
tường của tòa án. Mặc dầu những sinh viên này bị thương, họ
bị bắt giải về tù mà không được cứu chữa gì hết. Theo báo
Điện Tín ngày 25 tháng 3 năm 1972, sau khi bị giải về tù
các học sinh trên lại bị tiếp tục tra tấn. Sự tàn bạo của
chính quyền đã khiến cho toàn thể sinh viên học sinh tại Sài
Gòn, khoảng 100 ngàn người, phản đối bằng một cuộc nghỉ học
dài không thời hạn chấm dứt.
Trường hợp thứ hai là trường hợp của Huỳnh
Tấn Mẫm, chủ tịch Ban chấp hành lâm thời của Tổng hội Sinh
viên miền Nam. Theo báo Tin Sáng
Hải Ngoại ngày 3 tháng 3 năm 1972 Mẫm đã bị bắt giam
trong tù của chính quyền Sài Gòn và đã bị tra tấn cho đến
nỗi máu đã chảy ra từ mắt và tai. Sau khi bị tra tấn Mẫm còn
bị gởi đến trung tâm của CIA tại Bến Chương Dương để bị “hỏi
cung”, và tại đây Mẫm đã bị tra tấn thêm. Báo Dân Chủ Mới
ngày 23 tháng 3 năm 1972 cho biết là trong khi bị CIA
giữ Mẫm đã tuyệt thực trong 14 ngày và phải bị truyền nước
muối (sodium pentathol) để khỏi chết; nhưng sức khỏe của Mẫm
đã bị đe dọa trầm trọng.
Ngày 7 tháng 3 năm 1972 Dân Chủ Mới
đăng tin Giáo Sư Ngô Kha, Chủ tịch Mặt trận Văn hoá Dân tộc
miền Trung, đã bị bắt và tra tấn dưới sự điều khiển của các cố vấn
Mỹ. Ngày 17 tháng 3 Dân Chủ Mới đăng tin là Ngô Thế
Lý, chủ tịch Hội Sinh Viên Phật Tử ở Đà Lạt vừa bị bắt và có
thể đã bị giết vì đã viết những bài phản đối chính quyền Sài
Gòn. Và ngày 24 tháng 3 năm 1972 báo Điện Tín cho
biết là bà Ngô Bá Thành, chủ tịch Ủy Ban Phụ Nữ Đòi Quyền
Sống, đã bị tra tấn trong tù.[43]
Vì báo chí đăng những tin như trên gần như
hằng ngày, chính quyền Thiệu cũng gần như hằng ngày tịch thu
các báo. Agence France Press ngày 3 tháng 6 năm 1972
cho biết là trong tháng 4 và tháng 5 năm 1972 các báo tại
Sài Gòn đã bị tịch thu 337 lần. Các chủ bút và phóng viên
của các báo cũng đã bị trù dập bằng nhiều cách. Một ví dụ là
trường hợp của Linh mục Chân Tín, chủ nhiệm tờ Đối Diện.
Báo Điện Tín ngày 14 tháng 3 năm 1972 cho biết là ông
Chân Tín đã bị kêu án 12 tháng tù và phạt một triệu đồng
(khoảng 5000 USD lúc đó). Trước đó ông Chân Tín và hai phóng
viên của tờ báo đã bị xử 6 tháng tù vì vài bài biết chỉ
trích rất nhẹ nhàng chính phủ và các người trí thức ủng hộ
chế độ.
Hình như thấy những biện pháp đàn áp trên vẫn
chưa đủ để triệt tiêu phong trào đô thị ngày 19 tháng 5 năm
1972 Thiệu ra lệnh thiết quân luật. Sự đàn áp gia tăng đến
nỗi mà ngày 13 tháng 6 năm 1972 tờ New York Post đăng
tin là chỉ trong có vài tuần sau thiết quân luật mà đã có
hơn năm ngàn người bị bắt bởi chính quyền Sài Gòn và ký giả
nói thêm là những người này nhất thiết là những người tù
chính trị. Tuần san Far Eastern Economic Review
(FEER) ngày 3 tháng 6 năm 1972 đăng một bài khá dài và chi
tiết về việc bắt bớ và tra tấn sau khi lệnh thiết quân luật
được tuyên bố. Ngoài việc bắt bớ và xét nhà bất cứ lúc nào,
nhưng đặc biệt là trong đêm khuya, thì trong tháng 6 chính
quyền Sài Gòn cho biết là sẽ bắt khoảng 42 ngàn sinh viên đi
lính. Trong số này, theo tờ FEER sẽ có nhiều sinh viên Đại
Học Vạn Hạnh và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn vì nhiều cuộc biểu
tình đã xuất phát từ những nơi này. Ngày 5 tháng 8 năm 1972
tờ San Francisco Chronicle viết là khoảng 14 ngàn
thường dân đã bị bắt giam từ tháng 4 năm ấy. Ngày 10 tháng
11 năm 1972 tờ Washington Post cho biết là từ sau
Hiệp Định Paris được ký tắt chính quyền Sài Gòn đã bắt thêm
40 ngàn tù nhân chính trị. Ngày 11 tháng 11 năm 1972 chương
trình truyền CBS Evening News phát một bản tin trong
đó Hoàng Đức Nhã, phát ngôn viên của Thiệu và là một người
cháu, khoe rằng từ sau Hiệp Định Paris được ký tắt, chính
quyền Thiệu đã bắt 55 ngàn “Communist sympathizers” (người
thân Cộng) và giết 5 ngàn người khác. Thông
tấn xã Associated Press và chương trình truyền hình
CBS Evening News cho thông tin là Tổng thống Thiệu đã
đưa ra một sắc lệnh bảo nhân dân miền Nam phải diệt Cộng
trước khi, trong khi, và sau khi Hiệp Định Paris được chính
thức ký kết. Ngày 4 tháng 11 năm 1972 tờ San Francisco
Chronicle trích lời phát biểu của Thiệu trong cùng ngày
rằng tất cả ai ủng hộ một chính phủ liên hiệp đều là “trung
lập thân Cộng” (pro-Communist neutralists) và vì thế ông
Thiệu sẽ không để cho những người nấy sống lâu hơn 5 phút.
Cuối cùng, ngày 25 tháng 11 năm 1972 Thiệu ký một sắc lệnh
cấm tất cả mọi hình thức biểu tình chống đối. Sắc lệnh này
nói là người nào bị nghi là có quan điểm không phù hợp với
tình hình hiện thời và trong tương lai, bất cứ về chuyện đối
nội hay đối ngoại, sẽ có thể bị tuyên án tử hình bởi một tòa
án quân sự.[44]
Những chi tiết trên cho thấy rõ ràng là chính
quyền Thiệu muốn tiêu diệt phong trào đô thị để khỏi có một
chính phủ liên hiệp. Chính quyền Nixon cũng muốn phá hủy
Hiệp Định Paris mà họ đã buộc đã phải ký tắt bằng cách đòi
thay đổi khoảng hơn 100 chỗ trong bản ký tắt đó. Khi chính
phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ chối thì Nixon ra lệnh một
cuộc oanh tạc thành phố Hà Nội và Hải Phòng với hàng trăm
máy bay B-52 bắt đầu ngày 25 tháng 12 năm 1972 mà người Mỹ
sau đó gọi là “cuộc oanh tạc Giáng Sinh” (Christmas
Bombing). Nhưng cuộc tấn công này đã thất bại và sự chống
đối của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới buộc Henry
Kissinger phải trở lại bàn đàm bán và ký Hiệp Định Paris mà
trong đó chỉ có vài thay đổi nhỏ so với hiệp định đã được ký
tắt.
3. Vài đóng góp trong thời kỳ 1973-1975
Ngoài việc thiết lập một “Hội đồng quốc gia
hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau”
như điều khoản 12 đã được trích ở trên, Hiệp Định Paris còn
công nhận hai thực thể chính trị ngang nhau ở miền Nam là
chính quyền Sài Gòn và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời; và hai
chính thể này phải tiến đến một giải pháp chính trị trong
tình trạng có đầy đủ các quyền dân chủ và không có sự can
thiệp của Mỹ (các điều khoản 1. 4. 8, 9 và 11.) Điều khoản
8c nói rõ rằng tất cả các tù chính trị đều phải được thả
“trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt
thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình.” Nhưng
đối với chính quyền Thiệu thả tù chính trị tức là giúp cho
phong trào chống đối càng có thêm nhiều người tham gia.
Nguyên văn điều khoản 11 như sau:
Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt
Nam sẽ:
– Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa
bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử
với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc
bên kia;
– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân
dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do
hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín
nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống,
quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.
Điều này
có nghĩa bất cứ cá nhân hay tổ chức nào cho mình không theo
chính quyền Sài Gòn hay Chính phủ Cách Lâm Thời đều có quyền
đi truyền bá một chủ nghĩa trung lập. hay một chính phủ
liên hiệp mà không bị đàn áp. Nhưng ba ngày trước khi ký
Hiệp Định Paris Kissinger còn tuyên bố tại một cuộc họp báo
rằng chính sách của chính phủ Mỹ là không “áp đặt một chính
phủ liên hiệp hay một chính phủ liên hiệp trá hình trên nhân
dân Việt Nam” (“imposing
a coalition government or a disguised coalition government
on the people of South Vietnam.”)[45]
Trong khi đó thì vào ngày 23 tháng Giêng năm 1973 Nixon
tuyên bố trên các đài truyền thanh và truyền hình rằng Hoa
Kỳ “vẫn tiếp tục công nhận chính phủ Cộng Hòa Việt Nam như
là chính phủ chính danh độc nhất” (“continue to recognize
the government of the Republic of Vietnam as the sole
legitimate government of South Vietnam.”[46])
Được thể, Tổng
thống Thiệu lập tức nhấn mạnh lại lập trường “bốn không.”
Sau đó, trong một bài phỏng vấn đăng trong Vietnam Report
(số 15 tháng 7 năm 1973), ông Thiệu nói rằng “bọn Việt
Cộng muốn thiết lập trong vùng họ kiểm soát một chính quyền,
một chính quyền thứ hai ở miền Nam” được nhiều sự ủng hộ
quốc tế để dẫn đến một “chính phủ liên hiệp màu hồng.”[47]
Do đó, ông Thiệu nói tiếp: “Thứ nhất, chúng ta phải ráng hết
sức để Mặt Trận Giải Phóng không có thể thiết lập một quốc
gia, một quốc gia thứ hai ở miền Nam.” (Nguyên văn tiếng
Anh: “In the first place, we have to do our best so that the
NLF cannot build itself into a state, a second state within
the South.”) Và thứ hai là dùng mọi hình thức và điều kiện
trong tay để ngăn cấm không cho một lực lượng thứ ba hình
thành vì tất cả các nhân vật trong thành phần thứ ba đều
thiên cộng và phản quốc. Cuối tháng 4 năm 1972, Hoàng Đức
Nhã tuyên bố là nếu không phải quốc gia thì là Cộng sản, chứ
không có thành phần thứ ba thứ tư gì hết.[48]
Và Dân biểu Nguyễn Bá Cẩn, chủ tịch hạ viện của Quốc hội,
nói là “không có chuyện hòa giải, hòa hợp dân tộc” với các
lực lượng chính trị đối lập.[49]
Để đối với “bốn
không” của chính quyền Thiệu thì chính phủ miền Bắc đã đưa
ra chủ trương “5 cấm” cho quân đội của họ ở miền Nam cũng
như quân lính của Chính phủ Cách Mạng Lâm thời: không được
tấn công địch, không được tấn công quân địch khi nó hành
quân chiếm đất, không được bao vây đồn địch, không được pháo
đồn địch, và không được xây ấp chiến đấu. Sau này, trong một
bài viết đăng trên Tạp Chí Lịch Sử Quân Đội (số tháng
3 năm 1988), ông Lê Đức Thọ giải thích là một trong những lý
do lúc đó chính phủ miền Bắc có chính sách dè dặt là vì Liên
Xô đã giảm viện trợ cho Việt Nam và Trung Quốc đã cắt hết
tất cả các chương trình viện trợ kinh tế. Nixon và Kissinger
đã cho Thiệu biết trong cuộc viếng thăm Nhà Trắng vào tháng
3 năm 1973 là Liên Xô và Trung Quốc sẽ kiềm chế Hà Nội bằng
cách giảm viện trợ.[50]
Trong khi phía cách mạng gặp phải những hạn
chế kể trên thì chính quyền Sài Gòn được Mỹ cung cấp viện
trợ quân sự cho đến mức mà, theo lời điều trần của Trung
Tướng
Peter Olenchuck trước
Quốc
hội
Mỹ,
thì các quân chủng
của
Mỹ
đã bị
thiếu
hụt
trang bị
ngay trong nước
và cả
ở
bên Âu Châu.[51]
Do đó chính quyền
Thiệu
đã lập
tức
điều
hành các cuộc
“hành quân tràn ngập
lãnh thổ”
để
chiếm
các vùng dưới
quyền
kiểm
soát của
Chính phủ
Cách Mạng
Lâm Thời
và tha hồ
dội
bom và nả
pháo vào các vùng đó. Một
báo cáo của
Thượng
Viện
Mỹ
tháng 6 năm 1973 cho biết
quân đội
Sài Gòn mỗi
ngày bắn
pháo 105 ly vào các vùng giải
phóng
ở
các tỉnh
miền
Trung với
tỷ
lệ
nhiều
hơn
là tổng
số
các đầu
đạn
đó được
sản
xuất
mỗi
ngày tại
Mỹ.[52]
Tờ
Washington Post
ngày 16 tháng 2 năm 1974 trích một báo cáo
của Lầu Năm Góc (Pentagon) cho biết là quân đội Sài Gòn
“nhắm mắt mà bắn” (“fire blindly”) vào các vùng của phía
cách mạng vì họ thừa biết là sẽ được Mỹ tái cung cấp (“knew
full well they would get all the replacement supplies they
needed from the United States”). Ngoài việc nả pháo và dội
khoảng 15 ngàn trái bom mỗi tháng, chính quyền Sài Gòn còn
khoe là mỗi tháng có hàng ngàn cuộc hành quân để tái chiếm
các vùng quê miền Nam. Một báo cáo của Tỉnh Ủy Long An sau
này cho biết là sau khi Hiệp Định Paris được ký mỗi ngày mỗi
làng trong tỉnh dưới sự kiểm soát của cách mạng đã bị dội
bom 4 đến 5 lần và bị nả pháo trung bình khoảng một ngàn
quả. Từ tháng 5 cho đến tháng 8 năm 1973 phía cách mạng phải
đương đầu với 3300 (ba ngàn ba trăm) cuộc hành quân của địch
và nhiều cuộc hành quân này đã gồm vài sư đoàn.[53]
Nói chung, các vùng giải phóng đã bị thiệt hại nặng nề trong
hai năm 1973-1974.
Trước tình hình nói trên, các cá nhân và các
nhóm trong phong trào đô thị đã dựa vào các điều khoản được
đảm bảo trong Hiệp Định Paris về các quyền tự do đã được
trích ở trên cho các thành phần chính trị ở miền Nam, trong
đó có “thành phần thứ ba”, để tranh đấu với chính quyền Sài
Gòn trên nhiều lãnh vực. Một trong những lãnh vực đó là vấn
đề trả tự do cho các người tù chính trị. Một ví dụ là “Ủy
ban Vận động Cải thiện Chế độ Lao tù miền Nam Việt Nam” đã cho ra đời tờ
Tin Lao Tù (bằng ronéo) và tại Mỹ bản tin này đã được
Vietnam Resource Center thường xuyên dịch ra và đưa cho các
báo chí Mỹ cũng như nhiều hạ, thượng nghị sĩ Mỹ. Tháng Giêng
năm 1972 Ngô Công Đức, lúc đó đang ở Stockholm (Thụy Điển),
tung ra một bài khá chi tiết về chế độ lao tù ở miền Nam và
con số khoảng 200 ngàn tù chính trị tại các nhà tù lớn như
Chí Hòa, Phú Quốc, Thủ Đức, Tân Hiệp và Côn Sơn cũng như các
trại giam ở các tỉnh. Vietnam Resource Center đã dịch và chú
thích tài liệu này và gởi đến cho các báo cũng như đưa cho
các tổ chức tại Mỹ để họ gặp các đại diện của họ ở Quốc hội
làm “lobby.”
Một kết quả là giữa tháng 3 năm 1973 Jerry
Tinker, một trợ lý của Thượng Nghị Sĩ Edward Kennedy, đã
hướng dẫn một phái đoàn điều tra của Quốc hội Mỹ sang Việt
Nam. Phái đoàn đã gặp “Ủy Ban Vận động Chế Độ Lao tù miền
Nam Việt Nam” ngày 18 tháng 3 và hứa sẽ phổ biến tin tức về chế độ
lao tù và tình trạng của các tù nhân chính trị cho nhân dân
Mỹ biết. Trong một bài diễn văn tại thượng viện Thượng Nghị
Sĩ Kennedy cho biết là chính quyền Sài Gòn đã thay đổi các
hồ sơ tù nhân chính trị thành “thường phạm” (common
criminals). Kennedy trích một báo cáo của Đại Sứ Quán Mỹ tại
Sài Gòn cho ủy ban do ông làm chủ tịch rằng trước và sau
Hiệp Định Paris được ký chính quyền Thiệu đã thay đổi hồ sơ
của các tù chính trị thành thường phạm bằng cách nói là họ
đã bị tù vì đã có vi phạm về thẻ căn cước hay vì trốn lính.[54]
Thượng Nghị Sĩ Kennedy cho biết là trong khi Đại Sứ Quán của
Mỹ ở Sài Gòn và Bộ Ngoại Giao của Mỹ công nhận là có tù
chính trị và họ có bị tra tấn, hai cơ quan này nói chuyện tù
nhân là chuyện nội bộ của Nam Việt Nam. Thương Nghị Sĩ
Kennedy nói rằng ông không hiểu nổi lý luận này vì chính phủ
Mỹ vẫn chi tiền cho hệ thống lao tù ở Việt Nam và vẫn đào
tạo cảnh sát và các nhân viên tra tấn trong tù. Theo
Kennedy, tài liệu của chương trình viện trợ cho hệ thống lao
tù ở Việt Nam mà AID (Agency for International Development)
nộp cho ủy ban của ông tại Thượng Viện cho biết là trong năm
1973 Mỹ đã chi tiền để thiết lập 329 trại giam (“detention
centers”) và định sẽ dùng thêm 12,2 triệu USD nữa cho
“Fiscal Year 1974” (“Năm Tài Chính,” bắt đầu từ ngày 1 tháng
7 năm 1973 cho đến ngày 30 tháng 6 năm 1974) cho hệ thống
lao tù ở Nam Việt Nam. Kennedy lưu ý là số tiền chính phủ
Hoa Kỳ thông báo cho ủy ban của ông chỉ là một số tiền rất
nhỏ so với tổng số được chi tiêu cho việc đàn áp của chính
quyền Sài Gòn trong hệ thống nhà tù. Kennedy nói tiếp là
việc che đậy và tráo trở của chính quyền Mỹ đối với việc
tiếp tục tài trợ cho hệ thống cảnh sát và lao tù tại Nam
Việt Nam là việc không thể hiểu được. (Nguyên văn lời nói
của Kennedy: “The administration’s cover-up and deception on
continuing support of the police and prison system in South
Vietnam defies understanding.”)[55]
Ngoài vấn đề tù chính trị các cá nhân và nhóm
trong phong trào đô thị miền Nam cũng đã dùng các quyền “tự
do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống”
được bảo đảm trong điều khoản 11 của Hiệp Định Paris để
tranh đấu cho những người trong các “trại tị nạn Cộng sản”
và những người tị nạn chiến tranh đang sinh sống chung quanh
các thành phố được trở về quê quán. Theo một nghiên cứu của
thượng viện Mỹ thì đến năm 1972 ở miền Nam đã có 10 triệu
người tị nan trong tổng số dân là 18,2 triệu.[56]
Năm ngày trước khi Hiệp Định Paris được ký chính quyền Thiệu
đã cho đăng một số công bố ngày 22 tháng Giêng năm 1973 trên
tờ Tin Sống, cơ quan ngôn luận bán chính thức của
chính quyền, rằng ai xúi dục dân chúng ra khỏi vùng kiểm
soát của chính quyền sẽ bị bắt và bị xử tử tại chỗ.
Một vài cá nhân trong phong trào đô thị vội
báo cho các ký giả nổi tiếng của các tờ báo lớn tại Mỹ về
việc này và vận động họ sang Việt Nam để điều tra. Daniel
Sutherland, lúc đó đang ở Hồng Công, lập tức sang miền Nam
đi điền dã và sau đó đã viết trên tờ Christian Science
Monitor ngày 29 tháng Giêng năm 1973 là không những
chính quyền Sài Gòn cấm dân chúng trở về nông thôn mà tại
nhiều nơi còn cấm họ không được làm việc ngoài đồng ruộng
cách xa làng (“being prohibited from working in the outlying
fields”) vì sợ là những vùng này sẽ rơi vào tay Cộng sản.
Đến giữa tháng 3 năm 1973 Sutherland lại viết một bài cho
biết là chính quyền Sài Gòn đã dùng mọi cách để cấm các
người tị nạn chiến tranh trở về quê, kể cả việc bắt họ đứng
chụp hình dưới lá cờ của Mặt Trận Giải Phóng để vu khống họ
nếu họ bỏ đi.[57]
Frances FitzGerald, tác giả cuốn Fire in the Lake đã
được giải Pulitzer, sang Việt Nam viết một loạt bài cho tờ
New York Times, đã viết trong số ngày 4 tháng 5 năm
1973 rằng chính quyền Sài Gòn đã tịch thu thẻ căn cước của
những người trong các trại tị nạn và dọa sẽ bắt họ và dùng
bạo lực đối với họ nếu họ bỏ đi. Cảnh sát và lính phòng biên
đã bắt những người đi chợ, nói rằng họ gánh đồ cho Việt Cộng
và trong những trường hợp như thế này không những hành trang
của các người nông dân bị tịch thu mà họ còn bị tra khảo.[58]
Ngoài việc cấm không cho dân tị nạn trở về
quê, tờ New York Times ngày 22 tháng 3 năm 1973 cho
biết rằng chính quyền Sài Gòn tuyên bố là họ đã chuyển 100
ngàn người tị nạn trong số 660 ngàn ở một số tỉnh miền Trung
về khu vực phía bắc của thành phố Sài Gòn. Đây là chương
trình di dân mà cơ quan của Mỹ gọi là “Cơ quan Điều
phối Dân sự Vụ và Phát triển Nông thôn” (Civil Operations and
Rural Development Support, CORDS) cùng chính quyền Sài Gòn
đã thiết lập. Trong kế hoạch năm 1973 chi phí cho 600 ngàn
người bị di chuyển là 14 USD một người. Nhưng như các báo
Sài Gòn cho biết thì cuối cùng người dân không được hưởng gì
cả vì tham nhũng. Tờ Hòa Bình số ngày 6 tháng 6 năm
1973, chẳng hạn, cho biết rằng chỉ ở một trại tị nạn ở Đà
Nẵng thôi thì khoảng nửa triệu đô la đã bị lấy mất. Các báo
Sài Gòn đưa tin, gần như hằng ngày, rằng một phần do tham
nhũng và một phần do thiếu lương thực ở các tỉnh miền Trung
nạn đói đã hoành hành dữ dội và các báo này thường có những
bài rất chi tiết về hoàn cảnh bi đát của những người trong
các trại tị nạn. Các báo lớn tại Mỹ cũng đã có những bài về
vấn đề này, trong đó cho biết là vào tháng 9 năm 1973 đã có
những cuộc biểu tình của dân tị nạn tại ba tỉnh miền Trung
(Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam) và tỉnh Long Khánh đòi
được trả tự do.[59]
Qua đến đầu năm 1974 các báo Sài Gòn đã gắn việc thiếu đói ở
các tỉnh với sự tham nhũng của các quan chức chính quyền Sài
Gòn, trong đó có Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ Xã Hội Phan
Quang Đán (người mà được chính phủ Mỹ rất tin cậy và nói là
không có thể bị tham nhũng được).[60]
Nói chung là trong giai đoạn 1973-1975 nhiều
cá nhân và nhóm tại miền Nam đã dùng Hiệp Định Paris và việc
không thi hành các điều khoản trong hiệp định ấy để đấu
tranh với chính quyền Sài Gòn và Mỹ trên nhiều lãnh vực.
Nhiều “phong trào,” “mặt trận,” “lực lượng,” “ủy ban,” và
“nhóm” đã được sáng lập với mục đích làm suy yếu chính quyền
Nguyễn Văn Thiệu. Sau đây là tên của một vài tổ chức được
sáng lập từ cuối năm 1973:
Các tổ chức này có thể là “năm cha bảy mẹ” và
trong đó có một số “lực lượng không có lực lượng” (như có
người đã mỉa mai), hay là “rất đa dạng” như báo Đại Đoàn
Kết trích bà Nguyễn Thị Bình nói phía trên. Nhưng tất cả
đều chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và các chính sách của
Mỹ tại Việt Nam.[61]
Những cá nhân trong các tổ chức này, như Tướng Dương Văn
Minh, đã thay đổi lập trường chính trị của họ từ chống Cộng
đến chống Thiệu và chống Mỹ vì hoàn cảnh bi đát của đất nước
và dân tộc. Đầu tháng 10 năm 1974, trong một cuộc phỏng vấn
với tuần san Far Eastern Economic Review, Tướng Minh
tuyên bố: “Chiến tranh đã kéo dài quá lâu. Nhân dân đã chịu
khổ đến hết mức rồi. Do đó, chiến tranh ý thức hệ đã mất hết
ý nghĩa. Vấn đề khẩn cấp không còn là sự chiến thắng của lập
trường chính trị này hay ý thức hệ kia mà là sự sống còn của
dân tộc.”[62]
Lẽ dĩ nhiên là những cá nhân và nhóm bao quanh ông Minh
trong những năm 1973-1975 có lập trường chính trị khác nhau,
có các cá nhân “tả khuynh” như Ngô Công Đức và Lý Quí Chung
và “hữu khuynh” như Thượng nghị sĩ Vũ Văn Mẫu và Dương Minh
Đức (con trai ông Dương Văn Minh.) Nhưng đây là vấn đề khá
“phức tạp”. Khó có thể xác định lập trường chính trị
thật sự của các cá nhân dựa trên những lời tuyên bố của họ
lúc này hay lúc khác vì có thể trong thời điểm đó họ đang
cần vận động dư luận về một vấn đề nào đó, hay một tổ chức
chính trị đặc biệt nào đó.
Ông Dương Văn Minh có lập một “văn phòng
chính trị” tại Sài Gòn do Dương Minh Đức và một số nhân vật
khác điều khiển. Dương Minh Đức thường chạy sang Pháp, và
sau đó sang Mỹ, nói là đại diện bố để gọi là trao đổi ý kiến
với một vài nhóm chính trị.[63]
Tháng Giêng năm 1975 Ngô Công Đức được mời sang Mỹ để gặp
các tờ báo Mỹ và các chính trị gia Mỹ để nói về chế độ lao
tù ở miền Nam và để dự “The Assembly to Save the Peace
Agreement” tại Hoa Thịnh Đốn. Sau cuộc họp này, mấy ngàn
người đã đi đến văn phòng của các hạ, thượng nghị sĩ để đòi
họ cắt viện trợ cho chính quyền Sài Gòn. Lúc đó chính quyền
Sài Gòn và Nhà Trắng đòi Quốc hội Mỹ chi thêm 300 triệu USD
quân viện cho Sài Gòn. Ngô Công Đức được mời đi gặp các hạ
và thượng nghị sĩ và đã yêu cầu họ là không nên viện trợ cho
chính quyền Sài Gòn để tiếp tục chiến tranh nữa.[64]
Dương Minh Đức nhất định tháp tùng Ngô Công Đức sang Mỹ mặc
dầu không được ai mời để mong kềm kẹp hoạt động của Ngô Công
Đức. Nhưng trước cuộc họp ở Hoa Thịnh Đốn Ngô Công Đức quyết
định mời Dương Minh Đức trở về Pháp.[65]
Ông Vũ Văn Mẫu cho mình là người “quốc gia,”
có lẽ vì ông là thượng nghị sĩ của chính quyền Sài Gòn hay
là đại diện của nhóm Phật giáo Ấn Quang. Ông Mẫu đã có những
tuyên bố “lúc này lúc kia.” Khi ông công bố “Lực lượng Hòa
hợp Dân tộc” đầu tháng 9 năm 1974 thì ông nói mục đích chính
tổ chức này là tạo một “bầu không khí hòa hoãn” trong nước
và ngoài nước hòng để chấm dứt chiến tranh.[66]
Tháng 9 năm 1974 ông tuyên bố rằng dân chúng miền Nam có thể
sống trong đoàn kết và không có một lực lượng nào được khống
chế lực lượng khác và tự gắn cho mình danh nghĩa đại diện
cho tất cả.[67]
Hai tuyên bố trên rõ ràng là tiến bộ hay “tả khuynh” hơn
tuyên bố cùng tháng 9 này của ông Dương Văn Minh là muốn
lãnh đạo các lực lượng thứ ba bằng cách kết hợp tất cả các
lực lượng chống chính quyền Thiệu vì tự do báo chí, vì hòa
bình và vì một chính quyền trong sạch.[68]
Sang năm 1975 thì có vẻ ông Mẫu “hữu khuynh” và “quốc gia”
hơn trong như trong hai ví dụ sau đây: Cuối tháng 3 năm 1975
Vũ Văn Mẫu đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức để cho “những lực
lượng quốc gia thật sự” có thể hình thành.[69]
Ngày sau đó ông Mẫu tố cáo ông Thiệu là “đã đánh mất trong
dưới hai tuần nhiều đất đai và nhiều dân số hơn hai mươi năm
trước đó.”[70]
Nhưng vài ngày sau đó, khi gặp một phái đoàn Quốc hội Mỹ
sang Sài Gòn tìm hiểu tình hình thì ông Mẫu đã yêu cầu họ
cắt viện trợ cho chính quyền Thiệu.[71]
Không những các cá nhân “tả khuynh” và “hữu
khuynh” chung quanh Dương Văn Minh đã gặp nhau trên vấn đề
Thiệu phải ra đi và Mỹ phải cắt viện trợ như trên, những
nhân vật lúc trước cực kỳ chống Cộng như Linh mục Nguyễn
Quang Lãm đã đi đến nhận định rằng chính quyền Sài Gòn đã
thối nát đến tận xương tủy và dẫu có thêm 3000 tỷ thay vì
300 triệu Mỹ kim thì cũng không có thể cứu vãn được nữa.
Linh mục Lãm viết tiếp là càng có thêm nhiều tiền càng sụp
đổ mau hơn.[72]
Trước tình thế trên, Mỹ không có lựa chọn nào khác ngoài
việc bắt Thiệu từ chức tối ngày 21 tháng 4 năm 1975 và mời
ông Trần Văn Hương thay thế. Ông Hương là ứng cử viên phó
tổng thống trong cuộc “độc diễn” của ông Thiệu năm 1971. Ông
Hương yêu cầu Quốc hội bổ nhiệm ông Dương Văn Minh làm tổng
thống. Lưỡng viện và các phe phái tranh nhau ghế ngồi trong
chính quyền mới cho đến ngày 27 mới thông qua yêu cầu của
ông Hương; và ngày 28, trong lúc 14 sư đoàn Quân đội Nhân
Dân đang tiến vào Sài Gòn thì ông Dương Văn Minh mới chính
thức thành tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa. Thay vì “tử
thủ” như một số người kêu gọi hay chịu theo áp lực của Đại
sứ Jean-Marie Mérillon của Pháp đòi thương lượng với phía
cách mạng vào giờ chót để lập một chính phủ liên hiệp, ông
Dương Văn Minh quyết định đầu hàng vô điều kiện. Trong khi
ngồi chờ đại diện phía cách mạng đến gặp để nhận đầu hàng,
ông Minh nói với một ký giả của hãng thông tấn Pháp rằng:
“Sinh mạng con người, sinh mạng người Việt, sinh mạng người
Pháp, phải được cứu. Bảo đại sứ Pháp là anh đã gặp tôi ở
đây.”[73]
4. Thay lời kết
Mặc dầu quyết định đầu hàng của ông Dương Văn
Minh đã giúp cứu được bao sinh mạng, trình bày ở trên cho
thấy các thành phần trong phong trào đấu tranh đô thị đã có
những “đóng góp nhất định” trong giai đoạn từ 1968-1975 như
ông Võ Văn Kiệt và bà Nguyễn Thị Bình đã khẳng định. Các cá
nhân và tổ chức đã giúp tranh thủ dư luận quần chúng tại
Việt Nam và trên thế giới chống các chính sách chiến tranh
của chính quyền Sài Gòn và chính phủ Mỹ. Chính quyền Nguyễn
Văn Thiệu và chính phủ Mỹ không muốn có một chính phủ liên
hiệp gồm ba thành phần ở miền Nam vì họ sợ thua trong một
cuộc đấu tranh chính trị. Họ đã sử dụng vũ lực và nhiều hình
thức đàn áp khác với hy vọng triệt tiêu cách mạng và phong
trào đối kháng tại đô thị. Nhưng, ngược lại, chính quyền Sài
Gòn đã sụp đổ cho nên không còn điều kiện thành lập một
chính phủ liên hiệp gồm “ba thành phần” như Hiệp Định Paris
đã qui định và như chính phủ miền Bắc cũng như Chính Phủ
Cách Mạng Lâm Thời đã kêu gọi. Không có một chính phủ liên
hiệp thì không có “thành phần thứ ba” trong ngoặc kép như
báo Đại Đoàn Kết đã đề cập đến ở đầu bài này. Và
không có “thành phần thứ ba” thì không có chuyện cái thành
phần không được hình thành này đóng vai trò hòa giải, hòa
hợp dân tộc.
Tuy
nhiên, trong khi chiến tranh chưa kết thúc và miền Nam có
hai lực lượng quân sự và chính trị ̶ Chính phủ Cách
Mạng Lâm Thời và Chính quyền Sài Gòn ̶ thì người
ta có thể gọi chung các tổ chức và các nhóm không thuộc hai
chính phủ này là lực lượng thứ ba. Trong thời gian từ năm
1968, tức là thời gian chiến tranh cao độ dẫn đến phân cực
ghê gớm, các nhóm “rất đa dạng” lúc đó đã cùng nhau chống
chính quyền Sài Gòn và các chính sách của Mỹ và tranh đấu
cho các quyền con người, cho hòa bình, và cho hòa hợp, hòa
giải dân tộc. Các hoạt động của các cá nhân trong phong trào
đô thị lúc ấy đã có những “đóng góp nhất định” cho “ngày
chiến thắng” mà tít báo Đại Đoàn Kết trích đầu bài
này đã viết rất đúng. Nhưng đã chiến thắng, đặc biệt qua
hình thức quân sự, thì việc hòa hợp, hòa giải là của phe
chiến thắng chứ không phải của các nhóm tranh đấu trong thời
kỳ còn chiến tranh. Ngày 2 tháng 5 năm 1975 chính phủ mới đã
ra lệnh giải tán tất cả các tổ chức chính trị được thành lập
dưới chế độ cũ.[74]
Các tổ chức có thể gọi là “xã hội
công dân” như “Phong trào Phụ nữ Đòi Quyền Sống” tự giải thể
vì, như bà Ngô Bá Thành đã tuyên bố, sau chiến tranh nó
không còn lý do để tồn tại nữa.[75]
Tất cả các nhóm phụ nữ khác được sát nhập vào “Hội Phụ Nữ
Giải Phóng,” các tổ chức công nhân được sát nhập vào các “Ủy
Ban Cách Mạng Nhân Dân,” và các tổ chức tôn giáo được sát
nhập vào các tổ chức tôn giáo của Mặt Trận Giải Phóng.
Việc giải tán và tự giải thể kể trên lúc đó
không có một lời phản đối nào của những người trong các tổ
chức đó hết cả, mặc dầu họ đã đương đầu rất gay gắt với chế
độ cũ mà không hề tỏ ra sợ sệt gì cả. Vậy không rõ tại sao,
như bà Nguyễn Thị Bình thừa nhận ở trên rằng, 36 năm sau
ngày chiến thắng, còn “nhiều người ngại nói đến lực lượng
thứ ba”? Sợ kể công họ ra là mất hào quang chiến thắng cho
mình chăng? Hay sợ không còn được độc quyền chia chiến lợi
phẩm? Chiến tranh càng lâu dài càng tạo phân cực ngày càng
lớn trong xã hội. Do đó, muốn hàn gắn vết thương chiến tranh
và tạo điều kiện cho việc hòa hợp, hòa giải dân tộc thì
người chiến thắng thường nên tỏ ra hào hiệp. Ít nhất thì
cũng nên mở cửa cho tương lai bằng xét lại quá khứ (chứ
không phải khép kín) một cách trung thực và công bằng. Không
có công bằng khó có thể có một xã hội dân chủ và hài hòa.
Chú thích
[1]
Bài này có thể tải về từ địa chỉ này:
http://daidoanket.vn/PrintPreview.aspx?ID=28937.
Tờ báo điện tử ChúngTa.com tại Hà Nội trong bài với
tựa đề “Những trăn trở của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt:
Đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc” ngày 30 tháng 4 năm
2011 cũng có đăng lại nguyên văn bài phỏng vấn với
Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã được đăng trên tuần báo
Quốc Tế (số ra ngày 31-3-2005) và TuổiTrẻ Online
(17-4-2005) mà tờ Đại Đoàn Kết trích. Trong đó ông
Kiệt nói rõ hơn về vai trò của lực lượng thứ ba. Xin
xem:
http://chungta.com/PortletBlank.aspx/E87168AED88D45648F671CE3F2B…anh
Dong/Vo_Van_Kiet_doan_ket_hoa_hop_dan_toc/?print=2118950419
;
http://tuoitre.vn/PrintView.aspx?ArticleID=74587.
[2]
Jean-Claude Pomonti, La Rage d’Etre Vietnamien
(Paris: Le Seuil, 1972), trang 242.
[3]
André Menras, “How America Mocked the Ceasefire:
Vietnam Since the Paris Agreement,” Bulletin of
Concerned Asia Scholars, tháng 11-12, 1974,
trang 25.
[4]
Don Luce và John Sommers, Vietnam: The Unheard
Voices (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press,
1969), trang 123; Alfred Hassler, “They Call it a
Third Solution,” Moral Argument and the War in
Vietnam. Paul Menzel chủ biên (Nasville: Aurora
Publishers, 1971), trang 202.
[5]
Jacques Decornoy, “’Tombeur’ de Diem et Ennemi de
Thieu,” Le Monde, 27-28 tháng 4 năm 1975.
[6]
Nguyễn Hữu Thái, Thách thức
& Lựa chọn: hành trình của một sinh viên Sài Gòn từ
chiến tranh đến hòa bình
(bản sửa năm 2010, chưa xuất bản), trang 95.
[7]
Như trên, trang 97.
[8]
Nguyên văn (trang 2): “In Saigon, a
third force was coming into being as a challenge to
that tinhorn dictator who persisted in denying its
existence.” Bản tiếng Pháp của nguyệt san này tên là
“Courrier du Vietnam” và cả hai được phát hành bởi
Nhà Xuất Bản Ngoại Văn, lúc đó do bác sĩ Nguyễn Khắc
Viện làm giám đốc.
[9]
Vietnamese Studies,
số 39, năm 1974, trang 47-48. Nguyên văn tiếng Anh:
“The formation of a government of national concord
in the South is key to peace, and the third force is
an indispensable part of this solution. As
politics is the art of the possible, we have
concluded that this formula is the only one that can
lead to peace. I would say that it is a providential
solution. And there is no other apart from this,
there is only war.” Từ “providential” dịch sát nghĩa
là “trời cho.”
[10]
Xem tờ Washington Post
và tờ New York Times
ngày 3 tháng 3 năm 1968. Báo Harvard Crimson
của đại Học Harvard có một bài tường thuật khá
dài (cả một trang lớn) ngày 13 tháng 3 năm 1968 về
việc này và đăng toàn bộ bản tuyên bố, trong đó có
câu: “To end the war before it is too late, we call
upon the American government to heed
Secretary-General U Thant’s appeal and stop all
bombing of North Vietnam. We call upon the United
States government, the government of South Vietnam,
the government of North Vietnam and the National
Liberation Front to promptly reach a peaceful
settlement. A lasting peace for Vietnam should be
based upon a total withdrawal of foreign troops that
will allow us, Vietnamese, to shape our future free
from all foreign interference.” Ngày hôm sau các đại
diện của nhóm đến Liên Hiệp Quốc gặp ông U Thant
trao đổi hơn một tiếng đồng hồ. Người điều phối bản
tuyên bố và các cuộc gặp mặt là Ngô Vĩnh Long.
[11]
Gareth Porter, A Peace Denied (Bloomington:
University of Indiana Press), trang 70.
[12]
Mười người có tên được công bố lập tức bị Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu tuyên án tử hình khiếm diện vì tội
“phản quốc.” Xem: Douglas Pike, War, Peace and
the Viet Cong (Cambridge, Mass.: MIT Press,
1969), trang 30-31.
[13]
Douglas Pike, như trên, trang 19-29; Wilfred
Burchett, Vietnam Will Win! (New York:
Guardian Books, 1970), trang 197-206; Robert
Shaplen, “Letter from Saigon,” New Yorker
(ngày 29 tháng 6 năm 1968), trang 27-28; Lê Văn Hảo,
“The Path of a Patriotic Intellectual,” Vietnam
Courier, ngày 13, 20 và 27 tháng 3 và ngày 3
tháng 4 năm 1972. Tuy nhiên, theo nhiều người
khác thì Tôn Thất Dương Kị, Dương Quỳnh Hoa, Trương
Như Tảng, Hồ Văn Bửu, Tôn Thất Dương Tiềm… là những
đảng viên đảng Cộng sản VN 100%…
[14]
Burchett, như trên, trang 206; Pike, như trên, trang
23.
[15]
Toàn bộ bản tuyên ngôn đã được dịch ra tiếng Anh và
có thể tìm thấy ở đây: Robert Turner, Vietnamese
Communism: Its Origins and Development
(Stanford, California: Stanford University Press,
1975), trang 444-450.
[16]
Shaplen, như trên, trang 39.
[17]
Phạm Văn Đồng, Selected Writings (Hanoi:
Foreign Languages Publishing House, 1977), trang
250.
[18]
Burchett, như trên, trang 206.
[19]
Trích bởi Edith Lenart, “A Neutral Peace?” Far
Eastern Economic Review, ngày 29 tháng 6 năm
1968, trang 56.
[20]
Porter, như trên, trang 290.
[21]
Về một số thành tựu và hậu quả của Tết Mậu Thân xin
xem bài sau đây. Bài này là bài rút ngắn của bài đã
được trình bày tại hội thảo do Bộ Ngoại Giao và Học
Viện Quân Sự tổ chức năm 1988 ở Hà Nội với các học
giả Việt và Mỹ nhân dịp kỷ niệm 20 năm Tết Mậu Thân.
Ngô Vĩnh Long, “The Tet Offensive and Its Aftermath”
trong Jayne Werner and David Hunt, The American
War in Vietnam ( Southeast Asia Program, Cornell
University, Fall 1993) và “The Tet Offensive and Its
Aftermath” trong Marc Jason Gilbert and William Head
(eds.), The Tet Offensive (Westport,
Connecticut: Praeger, 1996). Trong bài này tác giả
đã có nhận định rằng trong khi Mặt Trận Giải Phóng
bị suy yếu thì quân đội miền Bắc gởi vào Nam từ năm
1969 đến cuối năm 1970 không những không hoạt động
được mà còn bị mất mát đến gần 90%. Chỉ sau khi Mặt
Trận Giải Phóng đã hồi phục vì chính sách “bám trụ”
và vì sự chia lửa của phong trào đô thị thì chi viện
của miền Bắc mới có hiệu quả. Các vị tướng tham gia
hội thảo trên tại Hà Nội đồng ý với nhận định này.
[22]
Tập san Quần Chúng,
số ngày 5 tháng 9 năm 1969 có một bài dài với tựa
đề “Tập thể quân nhân trong cuộc càn quét mới” của
tác giả tên Trình Phổ, một cựu sĩ quan chiến tranh
chính trị của quân đội Sài Gòn, nói về vấn đề càn
quét và tại sao chính quyền Sài Gòn bắt thêm hàng
triệu người vào các binh chủng.
[23]
Toàn văn tiếng Anh của 10 điểm này được xuất bản
trong cuốn sách: Bases for a Settlement of the
Vietnam Problem (Hanoi: Vietnam Courier, 1971),
trang 28-33.
[24]
Xem: Tin Sáng, số ngày 26 tháng 6 năm 1970.
Toàn bộ công bố của Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn phân
tích tình hình chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa,
giáo dục và xã hội được đăng trong tập san Tự
Quyết, số 3, tháng 10 năm 1970.
[25]
Thật ra việc đàn áp và tra tấn sinh viên rất dã man
đã xảy ra từ đầu năm 1970. Bắt đầu từ tháng 4 năm
1970, chẳng hạn, báo Tin Sáng có một loạt bài
trong suốt hai tháng về sự tranh đấu của sinh viên
và việc họ bị tra tấn dã man bởi chính quyền Sài
Gòn. Trong loạt bài này có đăng những nhật ký của
các sinh viên trong tù gởi ra. Tờ nguyệt san Đối
Diện do Linh mục Chân Tín làm chủ nhiệm cũng đã để
trọn hai số tháng 4 và tháng 5 cho đề tài này. Linh
mục Nguyễn Quang Lãm (Thiên Hổ), một linh mục rất
chống Cộng, đã viết một bài tả những trường hợp sinh
viên bị tra tấn dã man sau khi họ bị chính quyền Sài
Gòn bắt giam vì bị nghi là có liên lạc với Việt
Cộng. Dân biểu Dương Văn Ba, trong một bài báo tựa
đề “Đàn áp sinh viên đã đến giai đoạn mới” đăng trên
Tin Sáng ngày 25 tháng 5 năm 1970 gọi đại sứ
Mỹ là kẻ nói dối khi ông này nói là một tài liệu bắt
được của Việt Cộng cho biết là các sinh viên đó có
dính líu với Mặt Trận Giải Phóng vì khi những sinh
viên thách ông đại sứ đưa tài liệu đó ra thì ông
không có mà đưa. Thậm chí, theo báo Tin Sáng
ngày 17 tháng 6 năm 1970, liên tiếp trong 2 ngày
14-16 tháng 6 năm 1970 Mỹ gởi quân cảnh với súng
M16, lựu đạn cay, và nhiều vũ khí khác đến Đại học
Nông Nghiệp tại Sài Gòn và bắn vào trường. Cũng theo
báo Tin Sáng và nhiều báo Sài Gòn khác ngày
18 thì ngày 17 quân cảnh Mỹ lại trở lại, lần này với
súng đại liên ráp trên các chiếc xe, và xả đạn, lựu
đạn và pháo vào trường. Báo Tin Sáng cho rằng
Mỹ và chính quyền Thiệu muốn triệt tiêu phong trào
đấu tranh của sinh viên trước khi nó lớn mạnh thêm.
[26]
Toàn văn bản tiếng Anh trong Bases for a
Settlement of the Vietnam Problem, trang 34-39.
[27]
The New York Times,
ngày 8 tháng 10 năm 1970.
[28]
Toàn văn bản “Tuyên Ngôn của Mặt Trận Nhân Dân Tranh
Thủ Hòa Bình”, “Bản Tường Trình Trước Đại Hội của
Chủ tịch Chủ Tịch Đoàn Ủy Ban Vận Động Mặt Trận Nhân
Dân Tranh Thủ Hòa Bình”, và “Hiệu Triệu của Mặt Trận
Nhân Dân Tranh Thủ Hòa Bình” đã được đăng trong
Thời Báo Gà, số tháng 12 năm 1970. Thời Báo
Gà , phát hành từ tháng 3 năm 1969 đến tháng 5
năm 1975, là tờ báo hằng tháng của Vietnam Resource
Center (Trung tâm tư liệu Việt Nam) ở Cambridge,
Massachusetts, Hoa Kỳ. Trung tâm được thành lập đầu
năm 1969 bởi một nhóm sinh viên Việt Nam tại Mỹ và
hoạt động cho đến năm 1978. Ngoài tờ báo hằng tháng
Trung tâm thường xuyên cung cấp các tư liệu về Việt
Nam cho các báo chí, các tổ chức, các viện nghiên
cứu tại Mỹ và nhiều nước trên thế giới. Nhiều nhà
báo Mỹ, trước khi sang Việt Nam, thường đến Trung
tâm gặp để được “hướng dẫn” (briefings) và giới
thiệu với các cá nhân và nhóm ở Việt Nam. Trung tâm
thường xuyên gởi người đi thuyết trình khắp nơi trên
nước Mỹ, đi “lobby” các cơ quan chính quyền của Mỹ,
và đi tường trình tại Quốc hội Mỹ. Những bản dịch
của Trung tâm, cũng như những bài viết, đã được
nhiều hạ, thượng nghị sĩ Mỹ đưa vào “The
Congressional Records.” Giám đốc của Trung tâm, Ngô
Vĩnh Long, là đại diện chính thức tại Mỹ của “Tổng
Hội Sinh Viên Sài Gòn” từ năm 1970-1975. Tuy là đại
diện chính thức, Ngô Vĩnh Long không bao giờ nhận
được một “chỉ thị” nào cả của bất cứ một ai trong
“Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn” trong suốt thời gian
nói trên, kể cả những hoạt động công khai dưới danh
nghĩa của Tổng Hội như là tổ chức những hội thảo kêu
gọi các phong trào ở Mỹ và các nước khác trên thế
giới ủng hộ Tổng Hội, nói riêng, và phong trào sinh
viên học sinh Việt Nam, nói chung.
[29]
Trích trong: Wilfred Burchett, Catapult to
Freedom: The Survival of the Vietnamese People
(London: Quartet Books, 1978), trang 143.
[30]
Tin Sáng,
số ngày 9 và ngày 11 tháng 2 năm 1971.
[31]
Tin Sáng,
số ngày 15 tháng 11 năm 1971.
[32]
Xem: The New York Times ngày 7 tháng 10 năm
1971, trang 29, về số nước và đại học sẽ đến dự hội
thảo và mục tiêu của hội thảo. Tờ Washington Star
tại Hoa Thịnh Đốn ngày 13 tháng 10 năm 1971 có một
bài trường thuật về hội thảo, trong đó có câu: “The
primary focus of the discussion will be South
Vietnam. The students say the South Vietnamese
government ‘seeks to liquidate (the Saigon) student
union’ because students have opposed the Thieu
regime and demanded the withdrawal of U.S. troops.”
Chương trình hội thảo có ghi là lúc 9 giờ đến 10 giờ
ngày 14 Ngô Vĩnh Long cùng 3 người nữa thay mặt ban
tổ chức đọc diễn văn đón chào (welcome) những người
đến tham dự hội thảo; và trong khoảng thời gian từ 1
giờ đến 3 giờ chiều Ngô Vĩnh Long tường trình về
phong trào sinh viên Việt Nam (The Vietnamese
Student Movement). Hội thảo này do Ngô Vĩnh Long
giúp tổ chức và không có sự can thiệp của bất kỳ
nhóm sinh viên nào ở miền Nam lúc đó.
[33]
Báo Tin Sáng và các báo khác mà Vietnam
Resource Center đã thu thập hiện nay được trữ tại
thư viện Yenching của đại học Harvard, Hoa Kỳ.
[34]
Lý Quí Chung, Between Two Fires. New York:
Praeger, 1970.
[35]
Theo chuyển ngữ sang tiếng Anh đăng trong tờ
Vietnam Report số ngày 15 tháng 10 năm 1971,
trang 6. Đây là tờ bán nguyệt chính thức của Hội
Đồng Quan Hệ Quốc Tế (Council on Foreign Relations)
của chính quyền Sài Gòn và được tòa đại Sứ Sài Gòn
tại Mỹ phát hành.
[36]
Nguyên văn bằng tiếng Anh của lời phát biểu của ông
Thiệu đăng trong số Vietnam Report ngày 15
tháng 10 năm 1970, trang 9, là: “The communists
proclaim that ‘neutralism’ means non-alignment,
whether with the Americans or the communists. The
communists, in fact, want South Vietnam to be
neutral to take away from the Americans the main
rationale for their being here.”
[37]
Xem: Tin Sáng, số ngày 26 tháng 8, ngày1, 2,
và 5 tháng 9 năm 1971.
[38]
Trích trong Tin Sáng, số ngày 2 tháng 9 năm
1971.
[39]
Dân biểu Lý Quí Chung cho một nhà báo Pháp biết là
chính ông đã khuyên Dương Văn Minh không ra ứng cử.
Xem: Jean-Claude Pomonti, La Rage d’Etre
Vietnamien (Paris: Le Seuil, 1974), trang 126.
Nhưng tác giả bài này đã nói chuyện với những người
quen biết Lý Quí Chung và Dương Văn Minh như Dương
Văn Ba và Hồ Ngọc Nhuận thì họ cho biết đây là việc
làm của nhiều người. Pomonti sau này cũng đồng ý với
tác giả trong những buổi gặp mặt riêng là không phải
chỉ vì lời khuyên của một người mà vì áp lực của
nhiều người trong phong trào. Theo một số tài liệu
thì Ông Dương Văn Minh đã được Mỹ đưa về từ Bangkok
để có thể đóng một vai trò tạo chính danh cho chính
quyền Sài Gòn, nhưng việc ông từ chối không chịu ra
ứng cử tổng thống đã làm Mỹ rất thất vọng. Xem:
Donald Kirk, “The Thieu Presidential Campaign:
Background and Consequences of the Single-Candidacy
Phenomenon,” Asian Survey (tháng 7 năm 1972)
trang 615.
[40]
Donald Kirk, như trên, trang 615; The New York
Times, ngày 16 tháng 8 năm 1971; The New
Yorker, ngày 13 tháng 11 năm 1971.
[41]
Xem Tin Sáng, số 22 và 23 tháng 10 năm 1971.
[42]
Toàn bài phát biểu của Nixon đã được đăng trong
Weekly Compilation of President Documents, Vol.
9, no. 10, ngày 16 tháng 9 năm 1971, trang
1282-1283.
[43]
Ngày 10 tháng hai năm 1972 mười sinh viên Việt Nam
tại Mỹ đã chiếm Tổng Lãnh Sự của chính quyền Sài Gòn
tại Nữu Ước đòi phải trả tự do lập tức cho bà Ngô Bá
Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Xuân Lập
(Chủ tịch Liên đoàn Sinh Viên Phật giáo tại Sài
Gòn), Vũ Sĩ Hùng (Chủ tịch Đoàn Sinh viên Công giáo
của Đại học Sư phạm tại Sài Gòn và thành viên của Phong
trào Thanh niên Lao động Công giáo -- gọi tắt là
Thanh Lao Công), và khoảng 100
ngàn tủ nhân chính trị khác. Bản công bố cho báo chí
của sinh viên trên cũng đã đòi hệ thống đàn áp và
lao tù tại miền Nam phải lập tức được tháo bỏ và
Tổng thống Thiệu, người có trách nhiệm đối với việc
đàn áp, phải từ chức ngay lập tức. Hơn 600 đài
truyền thanh và truyền hình Mỹ đã phóng tin về việc
chiếm đóng của 10 sinh viên trên ở Mỹ cũng như đến
nhiều nước trên thế giới. Các hãng thông tấn như AP,
UPI, Reuter và College News Service cũng như nhiều
báo chí tại Mỹ ngày 11 tháng 2 năm 1972 (trong đó có
Daily News tại Nữu Ước, The New York
Times, The Boston Globe, The Harvard Crimson)
cũng đã đăng tin vể việc này. Sau đây là hai bài
dài và có nhiều chi tiết: Ngô Vĩnh Long, “Vietnamese
in America: Why We Fight Thiệu”, Boston After
Dark, ngày 22 tháng hai năm 1972; Perry Link,
“South Vietnamese Seize Consulate,” The Phoenix,
ngày 23 tháng 2 năm 1972. Sau gần một ngày chiếm
đóng, 10 sinh viên trên bị bắt đưa đến tòa không
phải vì tội chính trị mà vì tội gây ồn ào và phiền
nhiễu cho các văn phòng xung quanh vì có quá nhiều
phóng viên và những người ủng hộ bên ngoài lãnh sự
quán. Các sinh viên được thả sau khi tòa bắt họ hứa
là không chiếm lãnh sự quán ở Nữu Ước nữa. Nhưng hai
tháng sau đó các sinh viên này và khoảng hơn 20 lưu
sinh viên khác đã chiếm lãnh sự quán tại San
Francisco. Lần này họ được cựu chiến binh Mỹ giúp
canh gác hết tất cả khu vực vào lãnh sự quán cho nên
cành sát thành phố không dám can thiệp. Sinh viên đã
tự do dùng lãnh sự quán gần một ngày để nói chuyện
với các báo chí Mỹ và các hãng thông tấn và sau đó
ngang nhiên đi ra.
[44]
Vietnam Courier,
số tháng Giêng năm 1973, trang 32.
[45]
New York Times,
25 January 1973.
[46]
Gareth Porter, A Peace Denied: The United States,
Vietnam, and the Paris Agreement (Indiana
University Press, 1975), trang 186.
[47]
Nguyên văn tiếng Anh:
The Viet
Cong are presently trying to turn areas under their
control into a state endowed with a government,
which they could claim to be the second such
institution in the South. They probably also hope
that when this government has achieved a degree of
international recognition, international opinion
will force the two administrations to merge into a
coalition government. If that were to happen, they
would only agree to a pinkish government of
coalition, which then will try to enter negotiation
with Hanoi easily.
[48]
Chính Luận,
ngày 28 tháng 4 năm 1973.
[49]
Điện Tín
ngày 3 tháng 10 năm 1970.
[50]
Gareth Porter, A Peace Denied, như trên,
trang 188. Về lệnh "5 cấm",
xem
Marilyn B. Young, The Vietnam Wars, 1945-1990
(New York: HarperPerenial, 1990), tr. 286-289:
Hanoi imposed the “Five Forbids” on
all the military forces from the North as well as
PRG forces in the South. They were forbidden to
attack the enemy; to attack enemy troops carrying
out land grab operations; to surround outposts; to
shell outposts; and to build combat villages. Except
for rare instances of local defiance, Hanoi’s
approach prevailed for almost a year after the
agreements were signed.
[51]
Nguyên văn câu tiếng Anh của tướng Olenchuk như sau:
"We shortchanged ourselves within our overall
inventories. We also shortchanged the reserve units
in terms of prime assets. In certain instances, we
also diverted equipment that would have gone to
Europe." Xem: Fiscal year 1974 Authorization for
Military Procurement, Research and Development,
Construction Authorization for Safeguard ABM, and
Active Duty and Selected Reserve Strengths,
hearings before the Committee on Armed Services,
United States Senate, 93rd Congress, pt. 3,
Authorizations (Washington, D. C.: U.S. Government
Printing Office, 1973), trang 1383.
[52]
Subcommittee on US Security Agreements and
Commitments Abroad, Staff Report, ngày 11
tháng 6 năm 1973, trang 33.
[53]
Báo Cáo Diễn Biến 21 Năm
Kháng Chiến Chống Mỹ và Những Bài Học về Toàn Dân
Đánh Giặc của Long An
(Long An: Bản Tổng Kết Chiến Tranh Tỉnh Long An),
trang 127-130.
[54]
Ngô Vĩnh Long, “Thieu Refuses to Discuss Prisoner
Situation,” The Boston Pheonix, June 26,
1973. Nguyên văn của câu trong lá thư của tòa đại sứ
Mỹ: “Before and since the ceasefire, the GVN
[Government of Vietnam] has been converting
detainees to common criminal status by the expedient
of convicting them of ID card violations or
draftdodging.”
[55]
Trích trong “Thieu Refuses to Discuss Prisoner
Situation,” như trên. Một số tài liệu về hệ thống
lao tù ở Việt Nam (như nghiên cứu của Ngô Công Đức;
các lá thư gởi cho Giáo Hoàng Paul VI của các Linh
Mục Chân Tín, Trương Bá Cần, Nguyễn Ngọc Lan, Phan
Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, Bùi Thông Giao, v.v., và
nhiều tù chính trị người Công giáo; các bản án của
chính quyền Sài Gòn) đã được Vietnam Resource Center
dịch và xuất bản chung với NARMIC (National
Action/Research on the Military Industrial Complex,
một chương trình của The American Friends Service
Committee) tháng 6 năm 1973. Chuyên khảo này, với
tựa đề “After the Signing of the Paris Agreements:
Documents on South Vietnam’s Political Prisoners,”
đã được gởi đến nhiều cơ quan truyền tin, nhiều nghị
sĩ Quốc hội Hoa Kỳ, và nhiều nhóm chính trị và tôn
giáo ở Mỹ và một số nước khác.
[56]
“Relief and Rehabilitation of War Victims in
Indo-China, Part IV: South Vietnam and Regional
Problems.” Hearing Before the Subcommittee to
Investigate Problems Connected with Refugees and
Escapees of the Committee on the Judiciary, United
States Senate, 93rd Congress (Washington DC: US
Government Printing Office, 1973), trang 8.
[57]
Daniel Sutherland, “Saigon Curbs Homeward-bound
Refugees,” The Christian Science Monitor,
ngày 16 tháng 3 năm 1973.
[58]
Sau đây là hai đoạn trích nguyên văn của bài
này:
In many provinces officials have
taken away these people’s identity cards—forcing
them to check in at the police station every few
days—and threatened arrest or violence against those
who moved form the wartime settlements.
Where refugees have disobeyed orders,
the Government has carried out those threats. In
many provinces it has made it a practice to bomb or
shell all the newly-built houses in the PRG areas.
In areas undefended by the PRG main forces, it has
sent in ground troops to burn the new houses, strip
the new fields, and, perhaps incidentally, to loot
the farmers’ belongings. The police and territorial
forces that patrol the borders of Government zones
have arrested farmers going to market and charged
them with “supplying the VC.” As was always the case
during the war, these arrests are often followed by
confiscation of the farmers’ belongings and sessions
of interrogation and torture.
Hai ký giả vừa trích quen thân với
tác giả bài này (Ngô Vĩnh Long) hồi còn ở vùng
Boston và sau đó thường liên lạc nhau. Daniel
Sutherland thường dùng những tài liệu của Vietnam
Resource Center. Frances FitzGerald là bạn học cùng
trường (Harvard) và đã được tác giả bài này giúp tài
liệu để viết cuốn sách được giải thưởng uy tín nhất
(Pulitzer) của Mỹ.
[59]
The Washington Post,
ngày 5 tháng 7 năm 1973; The New York Times,
ngày 4 tháng 8 năm 1973; The Washington Post,
ngày 11 tháng 9 năm 1973.
[60]
Xem: Đại Dân Tộc, số ngày 1 tháng 2, ngày 24
tháng 2, ngày 2 tháng 4, ngày 8 tháng 4, và ngày 18
tháng 5 năm 1974; Điện Tín, ngày 4 tháng 2,
ngày 25 tháng 4, ngày 3 tháng 5, và ngày 1 tháng 7
năm 1974.
[61]
Tháng Giêng năm 1975 Vietnam Resource Center đã xuất
bản một tập chuyên khảo về các nhóm và các thành
phần chính trị tại miền Nam và qua đó phân tích
những kịch bản chính trị có thể đi đến được:
South Vietnam: What Futures are Possible?
Vietnam Resource Center đã cùng với NARMIC phân phối
tập chuyên khảo này rất rộng rãi tại Mỹ trong những
tháng đầu năm 1975.
[62]
Far Eastern Economic Review,
ngày 11 tháng 10 năm 1974, trang 14. Nguyên văn
tiếng Anh: “The war has lasted too long. The people
have suffered to the last limit of their endurance.
And for these reasons, the ideological war has lost
all meaning. The urgent problem is no longer the
triumph of such and such a political or ideological
tendency, but the survival of the nation’s body.”
[63]
Le Monde,
ngày 9 tháng 4 năm 1975.
[64]
Xem: Jerry Elmer, Felon for Peace: The Memoir of
a Vietnam-Era Draft Resister (Nashville,
Tennessee: Vanderbilt University Press, 2005), trang
233-236. Sách này đã được Lady Borton dịch ra tiếng
Việt và đã được Nhà Xuất Bản Ngoại Văn phát hành. Về
một số hoạt động của Ngô Công Đức khi ở Mỹ xem:
Indochina Chronicle, số 44, tháng 10-11, năm
1975.
[65]
Dương Minh Đức đã ở nhà tác giả bài này (Ngô Vĩnh
Long) tại Cambridge, Massachusetts, cùng với Ngô
Công Đức và Thầy Thích Thiện Châu khoảng một tuần.
Tác giả bài này đã tổ chức cho Ngô Công Đức và Thầy
Thích Thiện Châu nói chuyện tại các đại học vùng
Cambridge/Boston như Harvard và Boston University và
gặp ký giả các báo như Boston Globe và The
New York Times. Sau Boston, và sau khi tách với
Dương Minh Đức, Ngô Công Đức đã cùng với tác giả bài
này đi Nữu Ước, Philadelphia, và nhiều thành phố
khác trước khi đến Hoa Thịnh Đốn. Thầy Thích Thiện
Châu được các nhóm tôn giáo ở Mỹ đưa đi riêng. Cuối
cùng cả ba đã gặp lại ở Hoa Thịnh Đốn và đã thuyết
trình tại cuộc họp nói trên.
[66]
Reuter,
ngày 3 tháng 9 năm 1974.
[67]
Le Monde,
ngày 17 tháng 9 năm 1974.
[68]
Le Monde,
ngày 26 tháng 9 năm 1974.
[69]
Le Monde,
ngày 25 tháng 3 năm 1975.
[70]
Le Monde,
ngày 26 tháng 3 năm 1975.
[71]
Le Monde,
ngày 1 tháng 4 năm 1975.
[72]
Đại Dân Tộc,
ngày 10 tháng 2 năm 1975. Về những phát biểu tương
tự khác của các chính khách Sài Gòn, xem: Điện
Tín, 17 tháng Giêng năm 1975; Đông Phương,
ngày 13 tháng Giêng năm 1975.
[73]
Le Monde,
ngày 2 tháng 5 năm 1975.
[74]
Le Monde,
ngày 3 tháng 5 năm 1975.
[75]
Le Monde,
ngày 12 tháng 5 năm 1975
© Thời Đại Mới


22:53
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét