Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

BÀN VỀ NỢ CÔNG

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016

Chính sách tiền tệ và Chính sách tài khoá là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng



Chính sách tiền tệ và Chính sách tài khoá là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng, mỗi chính sách có mục tiêu riêng nhưng cùng theo đuổi mục tiêu chung là tăng trưởng kinh tế bền vững và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, chính sách tiền tệ là công cụ của Ngân hàng Trung ương để điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suât và tín dụng, kết quả là chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền để đạt mục tiêu chính sách đề ra. Thực tế những năm gần đây, quá trình toàn cầu hoá đã đặt ra nhiều thách thức và đòi hỏi phải nghiên cứu những điểm mới của chính sách tiền tệ, thực hiện việc điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt hơn, nhất là quan hệ với tỷ giá và cải cách tài chính nhằm duy trì ổn định tỷ giá. Hơn nữa, gần đây sự phát triển của khủng hoảng nhà ở và đổ vỡ của nhiều ngân hàng tại Mỹ  đã cho thấy rủi ro lan truyền rất nhanh. Chính vì vậy, chính sách tiền tệ phải linh hoạt nhằm thích ứng với những thay đổi về cơ cấu kinh tế và thực tế toàn cầu hoá thị trường tài chính.
Bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 10/12/1942, vai trò, trách nhiệm và chức năng của BOT đã được quy định cụ thể tại Bộ Luật Ngân hàng Trung ương B.E.2485 và được sửa đổi tại Bộ Luật B.E.2008. Kể từ tháng 5 năm 2000, BOT đã áp dụng linh hoạt cơ chế điều hành chính sách tiền tệ lấy lạm phát làm mục tiêu. Định kỳ hàng năm, BOT đưa ra mức lạm phát mục tiêu cụ thể và công bố ra công chúng. Lãi suất chính sách được coi là công cụ hàng đầu trong việc điều hành chính sách tiền tệ của BOT và luôn được công bố rõ ràng với vai trò là tín hiệu của chính sách và công cụ định hướng thị trường.
Theo cơ chế này, nhiệm vụ chủ yếu và mục tiêu quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, tức là kiềm chế lạm phát ở mức thấp và ổn định, việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế chỉ là mục tiêu thứ yếu, không phải là nhiệm vụ và mục tiêu trọng tâm của BOT. Các nội dụng này được ghi rõ trong Luật của BOT B.E.2485.
Mục tiêu quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát
Xuất phát từ quan điểm về vai trò của chính sách tiền tệ trong quản lý kinh tế vĩ mô, BOT đã xác định mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát mặc dù chính sách tiền tệ có thể được dùng để kích thích tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn nhằm khắc phục những khó khăn tạm thời (ví dụ như giảm lãi suất để giúp phục hồi kinh tế trong thời kỳ suy thoái kinh tế), nhưng chính sách tiền tệ không thể trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn (nếu lãi suất chính sách giảm không có nghĩa là sẽ mang lại tăng trưởng tốt hơn trong dài hạn); chính sách tiền tệ chỉ có thể hỗ trợ sự tăng trưởng bền vững trong dài hạn thông qua việc duy trì sự ổn định về giá. Việc ổn định giá cả, tức là kiềm chế lạm phát ở mức thấp và ổn định sẽ tạo thuận lợi cho các chủ thể trong nền kinh tế ra các quyết định chi tiêu, tiêu dùng chính xác và lập các kế hoạch đầu tư dài hạn.
Chính phủ và công chúng cũng kỳ vọng BOT có những biện pháp điều hành chính sách tiền tệ thoát ly khỏi mục tiêu ổn định giá cả nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, BOT cho biết, trong khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ, mục tiêu quan trọng nhất của BOT là ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, với lý do các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của BOT chỉ có tác động đến tăng trưởng trong ngắn hạn và tạo ra bước đệm chống đỡ các cú sốc còn việc ổn định giá cả có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn.
Đơn vị chịu trách nhiệm ra quyết định về chính sách tiền tệ: Hội đồng chính sách tiền tệ (MPC) chịu trách nhiệm và có quyền đưa ra quyết định về mức lạm phát mục tiêu, lãi suất, tỷ giá, giám sát sự ổn định của các tổ chức tài chính.
Mức lạm phát mục tiêu: Từ năm 2000 đến năm 2008, mức lạm phát mục tiêu mà BOT đề ra là tốc độ tăng trưởng bình quân theo quý của lạm phát cơ bản phải được giữ trong khoảng từ 0 – 3,5%. Tuy nhiên, kể từ năm 2009, BOT đã điều chỉnh mục tiêu lạm phát lên mức 0,5 – 3% nhằm tránh nguy cơ giảm phát, đồng thời thu hẹp khoảng dao động của mục tiêu.
Về cách tính lạm phát cơ bản: Lạm phát cơ bản được BOT tính toán dựa trên giá của một số hàng hoá và dịch vụ trong rổ CPI nhưng không bao gồm lương thực, thực phẩm thô tươi (ví dụ như gạo và các sản phẩm ngũ cốc, thịt, gia cầm và cá, rau và hoa quả, các sản phẩm sữa và trứng) và một số mặt hàng năng lượng (Benzene và diesel, ga đun nấu và điện,…) bởi vì giá cả của những mặt hàng này rất dễ biến động trong ngắn hạn và sự biến động đó vượt ngoài tầm kiểm soát của BOT.
Công cụ chính sách: Công cụ chính sách mà BOT sử dụng để điều tiết lạm phát, ổn định giá cả là lãi suất mua lại song phương 1 ngày còn gọi là lãi suất chính sách. Lãi suất chính sách được sử dụng nhằm đưa ra một tín hiệu chính sách tiền tệ rõ ràng, minh bạch, đồng thời cung cấp khuôn khổ cho một cơ chế truyền dẫn hiệu quả hơn. Sau khi ra quyết định lãi suất chính sách, trong cùng ngày, BOT sẽ dùng các nghiệp vụ thị trường mở để đưa lãi suất chính sách về mức mong muốn, duy trì thanh khoản trên thị trường tiền tệ ở mức nhất quán với lãi suất chính sách.
Về cơ chế truyền dẫn và độ trễ của chính sách tiền tệ: Sự thay đổi về lãi suất chính sách hoặc lượng tiền cung ứng sẽ ảnh hưởng đến 5 kênh truyền dẫn: Lãi suất thị trường, tín dụng ngân hàng, giá tài sản, tỷ giá và kỳ vọng; từ đó làm thay đổi tổng cầu trong và ngoài nước đối với hàng hoá và dịch vụ của Thái Lan, ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả trong nước và từ đó tác động đến lạm phát.
Theo ước tính của BOT, đối với Thái Lan, phải mất từ 4-8 quý chính sách tiền tệ mới phát huy tác dụng đầy đủ lên nền kinh tế (do độ trễ chính sách tiền tệ). Do đó, việc hoạch định chính sách tiền tệ cần phải có khả năng đi trước, đón đầu, dự báo cao về triển vọng của nền kinh tế và thị trường tài chính, tiền tệ trong thời gian tới.
Các điều kiện then chốt để có thể áp dụng chính sách tiền tệ lấy lạm phát làm mục tiêu (theo đánh giá của BOT)
(i)  Theo dõi, giám sát chặt chẽ các điều kiện kinh tế trong nước, cũng như nền kinh tế lớn và các nước trong khu vực. Mặt bằng giá cả trong nước phải có xu hướng ổn định cao, nếu một nước có tình trạng lạm phát cao xảy ra thường xuyên thì không áp dụng được;
(ii) Năng lực nghiên cứu chuyên sâu ở trình độ cao, nhạy bén trong việc nhìn nhận về tương lai thông qua các dự báo về kinh tế;
(iii) Đánh giá các rủi ro, nguy cơ mất ổn định và kiến nghị các biện pháp chính sách với MPC;
(iv) Công bố số liệu và thông tin, chính sách thường xuyên, minh bạch, rõ ràng, kịp thời, chính xác, nhất quán ra công chúng nhằm phát ra những tín hiệu rõ ràng về định hướng chính sách và neo kỳ vọng lạm phát;
(v) Ngân hàng Trung ương phải có trách nhiệm giải trình cao, có uy tín, tín nhiệm rất cao đối với công chúng, có như vậy mới góp phần neo được kỳ vọng về lạm phát của dân chúng. Chính sách phải dễ hiểu, rõ ràng, nhất quán, đáng tin cậy, đạt được sự đồng thuận cao. Sự minh bạch của quá trình ra quyết định và trách nhiệm giải trình về chính sách giúp gây dựng và củng cố uy tín và tín nhiệm của Ngân hàng Trung ương.
Trong trường hợp không đạt được mục tiêu lạm phát (mức lạm phát thực tế cao hoặc thấp hơn so với mục tiêu), BOT cần phải đưa ra sự giải thích rõ ràng về lý do.
(vi) Chú trọng công tác dự báo, có các mô hình dự báo và năng lực dự báo phát triển cao;
(vii) Ngân hàng Trung ương phải độc lập với Chính phủ vì mục tiêu của Chính phủ là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khi đó mục tiêu chính của Ngân hàng Trung ương là ổn định giá để kiềm chế lạm phát;
(viii) Theo đuổi chính sách tiền tệ lấy lạm phát làm mục tiêu tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ giữ ổn định giá cả, chống đầu cơ trong nước do vậy Ngân hàng Trung ương phải bỏ qua một số mục tiêu khác như cố định tỷ giá
Có thể nói, để thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia là “ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát”, BOT đã thực hiện nghiêm túc và coi đó mục tiêu quan trọng không thể tự ý thay đổi trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của mình. Đây có thể đựơc coi là một kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó, từ việc thực hiện khuôn khổ chính sách tiền tệ của BOT, Việt Nam cần cũng cần xem xét học tập nhằm nâng cao tính độc lập tương đối cho Ngân hàng Trung ương, tách bạch rõ vai trò, các giải pháp cũng như tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá đến mục tiêu kiềm chế lạm phát và mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở đó, tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, chính sách thương mại và đầu tư đến mục tiêu tổng thể là ổn định kinh tế vĩ mô.

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

10 kiến thức về kinh tế mà bạn cần biết

Chúng ta thảo luận rất nhiều về kinh tế nhưng đôi khi lại bỏ qua những điều cơ bản . Những gì chúng tôi chia sẻ dưới đây hy vọng sẽ giúp bạn cấu trúc lại kiến thức kinh tế của mình
1. Kinh tế có 2 thành phần chính là kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô.
 


Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi, động cơ của người tiêu dùng, giá cả, lợi nhuận, v.v… Kinh tế vi mô nghiên cứu nền kinh tế rộng hơn và những giá trị lớn hơn như lãi suất, GDP và các công cụ khác mà bạn thường thấy trong mục kinh tế của các tờ báo. Kinh tế vi mô hữu ích hơn cho các nhà quản trị còn kinh tế vĩ mô có lợi hơn cho các NĐT. Ngoại trừ các điểm 2 và 3, tôi sẽ lướt qua kinh tế vĩ mô ở các mục khác.
2. Luật cung – cầu: nền tảng của kinh tế


Bất cứ khi nào nguồn cung tăng sẽ làm cho giá giảm và cầu tăng sẽ làm giá tăng. Vì thế, khi bạn sản xuất thừa ngũ cốc, giá thực phẩm sẽ giảm và ngược lại. Hãy suy nghĩ một cách trực quan, bạn sẽ thấy quy luật nàyđúng ở mọi nơi trên thế giới.

3. Hiệu dụng biên

Mỗi khi bạn có thêm 1 cái gì đó để sử dụng, giá trị của nó đối với bạn sẽ giảm đi. Vì vậy, 100$ sẽ có giá trị hơn khi bạn kiếm 1000$/tháng so với 1 triệu đô/tháng. Điều này được sử dụng rộng rãi trong việc thiết lập giá cả.
4. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Đây là công cụ cơ bản nhất để đo kích thước của 1 nền kinh tế. Theo khái niệm, GDP sẽ bằng tổng thu nhập của tất cả người dân trong 1 quốc gia hoặc tổng giá trị thị trường của tất cả SP và dịch vụ được sản xuất trong quốc gia đó. Hiện nay, Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới xét theoGDP (khoảng 14 nghìn tỷ USD). Điều đó có nghĩa rằng, mỗi năm có 14 nghìn tỉ USD giá trị hàng hoá và dịch vụ được sản xuất tại Mỹ.
5. Tốc độ tăng trưởng

Sự phát triển của 1 nền kinh tế được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP. Vì GDP là thước đo thu nhập của 1 quốc gia, nên tốc độ tăng trưởng GDP sẽ cho thấy thu nhập trung bình một người dân tăng lên bao nhiêu mỗi năm.
6. Lạm phát


Bạn đã biết rằng giá của hầu hết các SP hiện nay đều cao hơn so với thời cha ông chúng ta. Lạm phát (tính theo phần trăm) cho thấy mức độ tăng giá củahàng hoá so với năm trước. Trong nền kinh tế phát triển, lạm phát hàng năm vào khoảng 2% - điều đó có nghĩa rằng giá các món hàng tăng trung bình 2% mỗi năm. Vai trò cơ bản của NHTW là quản lý tỉ lệ này và giữ nó ở 1 con số dương thấp. Sau đây là biểu đồ cho thấy mức độ lạm phát của Mỹ trong suốt 100 năm qua.

7. Lãi suất

Khi bạn cho ai đó vay tiền, bạn mong đợi sẽ nhận được thêm một khoản tiền đền bù. Phần tiền này gọi là tiền lãi. Lãi suất là 1 số dương phản ánh số tiền bạn sẽ nhận được “thừa ra” so với khoản ban đầu bạn cho vay. Hãy theo dõi biểu đồ lãi suất dưới đây. Trong ngắn hạn, lãi suất thường được quy định bởi các NHTW. Hiện nay, nó gần tiến về mức 0. Về lâu dài, lãi suất sẽ do thị trường quyết định và phụ thuộc vào tỉlệ lạm phát và các viễn cảnh của nền kinh tế. Những cơ chế NHTW dùng để kiểm soát lãi suất ngắn hạn được gọi là chính sách tiền tệ.
8. Lãi suất – Lạm phát – Tăng trưởng

Gần như có 1 mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất và tỉ lệ tăng trưởng GDP, ngoài ra lãi suất có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ lạm phát. Vì thế, khi bạn gia tăng lãi suất, lạm phát sẽ có xu hướng đi xuống tuy nhiên đi cùng với nó là kinh tế phát triển chậm lại. Do vậy, không có gì khó hiểu khi việc quy địnhlãi suất luôn khiến các nhà chức trách phải đau đầu. Ở Mỹ, cục Dự trữ liên bang chịu trách nhiệm quy định lãi suất ngắn hạn và và đó luôn là một trong những thông tin kinh tế được theo dõi nhiều nhất.
9. Chính sách tài khóa

Chính phủ có thể kiểm soát nền kinh tế bằng cách điều chỉnh chi tiêu. Nhóm các cơ chế sử dụng ngân sách hình thành nên c/s tài khóa. Khi chính phủ chi tiêu nhiều, dẫn đến cầu nhiều hơn và giá tăng nhiều hơn. Điều này có nghĩa rằng nền kinh tế tăng trưởng tốt nhưng đồng thời mang theo lạm phát cao và ngược lại. Do đó, chính phủ cố gắng chi tiêu nhiều hơn trong giai đoạn tăng trưởng thấp và lạm phát thấp, đồng thời thắt chặt chi tiêu trong thời kì tăng trưởng và lạm phát cao.
10. Chu kì kinh tế

Nền kinh tế có những thời kì bùng nổ và khủng hoảng với chu kì khoảng 7 năm. Khởi đầu chu kì sẽ là sự bùng nổ của nền kinh tế, sau đó nó phát triển đến mức cực thịnh, tiếp đến sẽ bước vào suy thoái (thời kì tăng trưởng âm/thất nghiệp gia tăng) và cuối cùng là sang chu kỳ tiếp theo.
11. Chi phí cơ hội

Khi thực hiện một hành động gì đó, bạn có thường so sánh lợi ích của hành động ấy so với các hành động khác. Ví dụ, vào tối thứ 6 khi phải làm việc cật lực cho 1 dự án, bạn có thể nghĩ rằng “Trời đất, mình đáng lẽ nên làm việc gì đó khác.” “Việc khác” ấy (trong trường hợp này là tiệc tùng cùng bạn bè) có 1 giá trị cao, và nó chứng tỏ dự án hiện tại của bạn tốt hơn, hấp dẫn hơn. Giá trị của hành động mà bạn bỏ lỡ được gọi là “chi phí cơ hội”. Vì thế, nếu bạn bỏ 1 công việc trả lương 120 nghìn Đô/năm để bắt đầu lại, chi phí cơ hội của việc bắt đầu lại là 120 nghìn Đô/năm. Bạn nên chọn những công việc mang lại doanh thu cao hơn những công việc khác màmình đã từ bỏ.
12. Lợi thế so sánh

Bạn đang phát triển một dự án công nghệ và vào một ngày nọ, khách hàng đến và hỏi rằng liệu bạn có thể xây dựng một trang web cho họ không.Liệu bạn sẽ đồng ý phát triển trang web cho họ hay nhường cơ hội này lại cho người bạn của mình? Làm thế nào để quyết định được? Thông thường một người sẽ tính toán anh ta sẽ mất bao nhiêu thời gian để xây dựng trang web và liệu có thể sử dụng thời gian đó để kiếm được nhiều hơn với dự án đang thực hiện. Sau đó,anh ta sẽ tính xem liệu người bạn kiacó thể phát triển trang web hiệu quả hơn mình hay không.
Nếu người bạn đó có thể mang lại hiệu quả tốt hơn và bạn có nhiều điều phải làm với dự án của mình, bạn sẽ bỏ qua cơ hội này. Đây được gọi là lý thuyết về lợi thế so sánh. Người bạn của bạn có một lợi thế và bạn hoàn toàn không có lý do gì để nhận lấy công việc kia. Các quốc gia, doanh nghiệp và người dân chỉ nên làm những việchọ có thế mạnh và dành phần còn lại cho người khác.
 

Business Insider

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

240 câu hỏi trắc nghiệm môn kinh tế Vĩ Mô



Câu 1 : GDP danh nghĩa năm 1997 là 6000 tỷ . GDP danh nghĩa năm 1998 là 6500 tỷ . Chỉ số giá năm 1997 là 120. Chỉ số giá năm 1998 là 125 . Tỷ lệ tăng trưởng năm 1998 là :
a. 8,33 %
b. 4%
c. 4,5%
d. 10%
Giải thích : * GDPthực 1997 = 6000/120 = 50 tỷ
 * GDPthực 1998 = 6500/125 = 52 tỷ
     => Tỷ lệ tăng trưởng = ( 52-50)/50 x 100% = 4% 
Câu 2 : Khi nền kinh tế đang có lạm phát cao nên:
a. Giảm lượng cung tiền , tăng lãi suất
b. Giảm chi ngân sách và tăng thuế
c. a và b đều đúng
d. a và b đều sai
Giải thích : Khi nền kinh tế có lạm phát , lúc đó đồng tiền bị mất giá ( hay nói cách khác là dư tiền ) => để  giảm lạm phát nên giảm lượng cung tiền và  giảm chi ngân sách. Mặt khác tăng lãi suất và tăng thuế để giảm  lượng tiền đầu tư => giảm  lạm phát
Câu 3 : Cho biết tỷ lệ tiền mặt so với tiền gởi ngân hàng là 60% , tỷ lệ dự trữ ngân hàng so với tiền gởi ngân hàng là 20% . Ngân hàng trung ương bán ra 5 tỷ đồng trái phiếu sẽ làm cho khối tiền tệ :
a. Tăng thêm 5 tỷ đồng
b. Giảm bớt 5 tỷ đồng
c. Giảm bớt 10 tỷ đồng
d. Tăng thêm 10 tỷ đồng
Giải thích : Theo đề bài ta có : m = 60% = 0,6
                                                        d = 20% =0,2
                                                        ∆H = - 5 (tỷ đồng)
      Suy ra : kM = (m+1)/ (m+d) = ( 0,6+1)/(0,6+0,2) = 2
            Do ở đây m và d không đổi nên ta có :
            ∆M1 = km.∆H = 2 x ( -5) = -10
            Vậy khối tiền tệ  giảm  bớt 10 tỷ đồng
Câu 4 : Sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng khác nhau ở :
a. Mục đích sử dụng
b. Thời gian tiêu thụ
c. Độ bền trong quá trình sử dụng
d. Cả 3 câu đều đúng
  
Khác nhau
Sản phẩm trung gian
Sản phẩm cuối cùng
Mục đích sử dụng
- Mang tính chất tạm thời , được dùng để chuyển tải hoặc biến đổi để thành sản phẩm cuối cùng
- Mang t/c lâu dài , là mục đích của SX , sử dụng
Thời gian tiêu thụ
- Thông thường ngắn hạn hoặc trung hạn
- Dài hạn
Độ bền trong quá trình sử dụng
- Thông thường chỉ dùng được trong thời gian ngắn ( tuy nhiên còn phụ thuộc vào các yếu tố như : quá trình sử dụng , chất liệu cấu thành…)
- Được dùng trong thời gian dài ( cũng phụ thuộc vào các yếu tố như sản phẩm trung gian)
Câu 5 : Ngân hàng trung ương có thể làm thay đổi cung nội tệ bằng cách :
a. Mua hoặc bán trái phiếu chính phủ
b. Mua hoặc bán ngoại tệ
c. a và b đều đúng
d. a và b đều sai
Giải thích  : Khi muốn thay đổi lượng cung nội tệ , NHTW có thể mua hoặc bán trái phiếu chính phủ hoặc ngoại tệ vì :
+ Trái phiếu chính phủ  :
- Bán : người dân sẽ dùng nội tệ để mua => giảm  lượng nội tệ ngoài thị trường
- Mua : Người dân sẽ bán trái phiếu lại cho chính phủ => Chính phủ sẽ đưa một lượng nội tệ ra để mua lại trái phiếu => tăng  lượng cung nội tệ
+ Ngoại tệ
- Bán : Người dân có xu hướng dùng nội tệ mua ngoại tệ để tích lũy hoặc trao đổi mua bán => giảm lượng cung nội tệ
- Mua : Chính phủ dùng nội tệ mua ngoại tệ =>tăng  lượng cung nội tệ.
Bạn có thể download toàn bộ 240 câu hỏi kèm đáp án tại đây 

Kinh tế vĩ mô - Cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái- mô hình IS- LM - BP



1. Cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái
Trong hệ thống tỷ giá cố định, để giữ cho tỷ giá cố định thì buộc NHTW phải can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách mua vào hay bán ra dự trữ ngoại hối.
- Nếu cán cân thanh toán BP = CA + KA > 0 thì có một luồng tiền ngoại tệ ròng chảy vào Việt Nam, làm cung ngoại tệ tăng (tỷ giá sẽ giảm xuống) nhưng để giữ tỷ giá cố định NHTW mua vào ngoại tệ vào bằng cách tăng cung VND (tăng M/P).
- Nếu cán cân thanh toán BP < 0 thì có một luồng ngoại tệ ròng chảy ra khỏi Việt Nam, làm cầu về ngoại tệ tăng (tỷ giá sẽ tăng) nhưng để giữ tỷ giá cố định buộc NHTW bán ra dự trữ  ngoại tệ (thu nội tệ vào) dẫn đến cung tiền nội tệ giảm (VND).

 Sự can thiệp vào tỷ giá hối đoái
- Đối với hệ thống tỷ giá cố định: tỷ giá danh nghĩa NER được quyết định bởi nhà nước (NHTW) và NHTW giữ tỷ giá cố định bằng cách bán ra hay mua vào ngoại tệ, điều này sẽ làm thay đổi mức cung tiền nội tệ (VND).
- Đối với hệ thống tỷ giá thả nổi: tỷ giá danh nghĩa NER hình thành bởi quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối và NHTW không tham gia mua bán ngoại tệ nên mức cung tiền nội tệ không đổi.

2. Mô hình IS – LM – BP

Mô hình 3 đường Is, Lm và BP
BP = CA + KA = NX + CF
Khi cán cân thanh toán quốc tế cân bằng, ta có:
BP = 0 ó NX + CF = 0
Điều này cũng có thể nói rằng thâm hụt cán cân vãng lai sẽ được tài trợ bởi thặng dư của cán cân vốn hay ngược lại thâm hụt cán cân vốn sẽ được tài trợ bởi thặng dư của cán cân vãng lai.
Giả định rằng không có kiểm soát vốn tức là vốn tự do di chuyển giữa các nước, khi đó về dài hạn BP nằm ngang.

Gọi i và if là lãi suất tương ứng của vốn trong và ngòai nước (quốc tế), ta có:
            Nếu i > if (lãi suất trong nước > lãi suất quốc tế) vốn sẽ di chuyển vào trong nước, khi đó BP > 0. Nếu i < if thì vốn chạy ra nước ngoài (vốn đi tìm kiếm lợi tức cao hơn), khi đó BP < 0.          Nếu i = if thì sự di chuyển vốn chấm dứt.

* Trong chế độ tỷ giá cố định
- Nếu BP > 0 (khi i > if) thì vốn di chuyển vào trong nước, cung ngoại tệ tăng, NHTW mua ngoại tệ vào dự trữ bằng cách tăng cung tiền VND nhằm giữ  tỷ giá không đổi.
- Nếu BP < 0 (khi i < if) thì vốn di chuyển ra nước ngòai, cầu ngoại tệ tăng, NHTW phải bán ra ngoại tệ (rút bớt VND ra khỏi lưu thông tức giảm cung VND) để giữ tỷ giá không tăng.
* Trong chế độ tỷ giá thả nổi (NHTW không can thiệp vào tỷ giá, mức cung nội tệ VND không đổi).
- Nếu BP > 0 (khi i > if) thì vốn chảy vào trong nước, tăng cung ngoại tệ dẫn đến tỷ giá giảm (hay VND tăng giá). Khi tỷ giá giảm thì xuất khẩu ròng NX sẽ giảm.
- Nếu BP < 0 (khi i < if) thì vốn di chuyển ra nước ngoài, cầu ngoại tệ tăng dẫn đến tỷ giá tăng. Khi tỷ giá tăng thì xuất khẩu ròng NX sẽ tăng.
- Nếu BP = 0 thì i = if thì sự di chuyển vốn chấm dứt.
Ta nói nền kinh tế cân bằng bên ngoài (EB - external balance) khi BP = 0 và nền kinh tế đạt cân bằng bên trong (IB-internal balance) khi nó đạt đến sản lượng tiềm năng.
 Hình: Tình trạng của nền kinh tế trong nền kinh tế mở với luồng vốn tự do di chuyển

Trong sơ đồ trên, hai đường FE (đường toàn dụng nhân công) và đường BP=0 chia ra bốn miền. Góc trên bên trái phản ánh trình trạng sản xuất dưới mức tiềm năng (đình trệ) và thặng dư trong cán cân thanh toán; góc dưới bên trái phản ánh sự đình trệ và thâm hụt; góc phải bên trên phản ánh trình trạng sản xuất trên mức tiềm năng và thâm hụt cán cân thanh toán.

Kinh tế vĩ mô - Cán cân thanh toán



1. Định nghĩa
Cán cân thanh toán (BP) là bảng ghi chép thống kê tất cả các giao dịch kinh tế giữa một quốc gia đối với các quốc gia còn lại của thế giới trong một giai đoạn nhất định.

Hạch toán cán cân thanh toán dựa trên cơ sở hệ thống bút toán kép. Do vậy, theo định nghĩa, tổng thể cán cân thanh toán cần phải cân bằng về mặt số học. Tuy nhiên mỗi tài khoản đơn lẻ có thể không cân bằng, làm nảy sinh các khái niệm như thâm hụt hay thặng dư.

Số liêu bảng cán cân thanh toán cho biết tình hình thương mại và đầu tư quốc tế của một quốc gia. Những con số thống kê này là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Ví dụ số liệu thâm hụt thương mại (tài khoản vãng lai) có thể được xem là tốt, xấu, quá thấp hoặc quá cao đều không sai. Ví dụ, khi cán cân thương mại bị thâm hụt nhưng nếu nhập khẩu hàng xa xỉ có thể không có lợi cho nền kinh tế, trong khi đó vay nợ để tài trợ cho nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị có thể là dấu hiệu của việc tăng đầu tư trong một nền kinh tế đang phát triển.

Trên cán cân thanh toán bao gồm các giao dịch nợ và các giao dịch có.
Giao dịch có (+) là giao dịch dẫn đến kết quả là nhận ngoại tệ từ nước ngoài. Trong khi đó, giao dịch nợ (-) là giao dịch dẫn đến kết quả là trả ngoại tệ cho nước ngoài.

- Các giao dịch có (thu ngoại tệ) bao gồm:
+ Xuất khẩu hàng hóa.
+ Xuất khẩu dịch vụ (bảo hiểm, du lịch, vận tải biển…)
+ Thu nhập nhận được từ đầu tư nước ngoài
+ Quà nhận được từ các chủ thể nước ngòai.
+ Viện trợ của chính phủ nước ngoài.
+ Đầu tư (vay) vào trong nước của người nước ngoài.

- Các giao dịch nợ (chi trả ngoại tệ)
            + Nhập khẩu hàng hóa
            + Nhập khẩu dịch vụ
            + Thu nhập trả cho người nước ngoài
            + Quà tặng cho người nước ngoài
            + Viện trợ cho chính phủ nước ngoài
            + Đầu tư  (cho vay) ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước.

2. Cấu trúc của cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán bao gồm 3 bộ phận hợp thành: tài khỏan vãng lai (CA), tài khỏan vốn (KA) và thay đổi trong dự trữ chính thức (R). ngòai ra còn có bộ phận sai lệch thống kê (không đáng kể), trong nghiên cứu này chúng ta có thể  bỏ qua.

- Tài khoản vãng lãi (CA – current
+ Thương mại hàng hóa
+ Các giao dịch dịch vụ (du lịch, bảo hiểm, vận tải biển, giáo dục)
+ Thu nhập từ đầu tư (lợi nhuận, cổ tức, lãi cho vay)
+ Chuyển nhượng một chiều (quà tặng của tư nhân và chính phủ)

- Tài khỏan vốn (KA - capital account), bao gồm:
+ Đầu tư trực tiếp và các luồng vốn dài hạn (gián tiếp) khác
Thay đổi về lượng tài sản dài hạn được nắm giữ, bao gồm hai loại: tài sản vật chất (ví dụ nhà máy) và tài sản tài chính (ví dụ như cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân hàng). Giao dịch có (luồng vốn vào) phát sinh khi có sự tăng thuần về nắm giữ tài sản nội địa bởi các chủ thể nước ngoài. Giao dịch nợ thể hiện sự tăng thuần về nắm giữ tài sản nước ngòai của các chủ thể trong nước.
+ Luồng vốn ngắn hạn phi chính thức
Các giao dịch được thể hiện bởi khu vực tư nhân với các tài sản ngắn hạn (thời gian đến hạn dưới một năm). Tương tự như trên, tăng lượng tài sản trong nước nắm giữ bởi chủ thể nước ngoài là giao dịch có, giảm lượng tài sản trong nước nắm giữ bởi chủ thể nước ngoài là giao dịch nợ.

- Thay đổi trong dự trữ chính thức (R)
Tài khoản này đo lường sự thay đổi lượng tài sản tài chính (dự trữ chính thức) của ngân hàng trung ương. Nếu ngân hàng trung ương nước ngoài mua tài sản tại nước chủ nhà, đây là giao dịch có. Nếu ngân hàng trung ương nước chủ nhà (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) mua tài sản dự trữ quốc tế hoặc tài sản của nước khác (ví dụ tài khỏan tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài), giao dịch này là giao dịch nợ.

Bởi vì mỗi giao dịch nợ được cân bằng bởi một giao dịch có ở một nơi khác trong bản cán cân thanh toán nên cộng tổng số dư của các tài khoản bằng không hay tổng thu bằng tổng chi, do vậy:
CA + KA + R = 0
Gọi BP = CA + KA
Nếu BP > 0 thì R < 0 và nếu BP < 0 thì R >0.

3. Mất cân bằng bên ngoài và xác định thu nhập
Mất cân bằng bên ngoài (đối ngoại) xuất hiện khi cán cân của tài khỏan vãng lai không bằng không và không mong muốn. Có một khoảng cách giữa sản xuất và tiêu dùng.

Sản xuất (GDP) = Y
Tiêu dùng (nội địa) = C + I + G
Theo chương ba, chúng ta có: Y = C + I + G + X - M = C + I + G + CA
Lưu ý: ta coi tài khoản vãng lai CA chủ yếu là thương mại hay XNK, các khoản khác bỏ qua do chiếm tỷ lệ không đáng kể trong CA. từ đó có thể rút ra:
CA = X - M = Y – (C + I + G)
Do đó, tài khoản vãng lai (CA) là sự chênh lệch giữa sản xuất (Y) và tiêu dùng (C+I+G).

Nếu Y > C + I + G thì CA > 0 (X > M), cán cân vãng lai thặng dư (CA > 0) có nghĩa là sản xuất vượt mức tiêu dùng.

Nếu Y<C+I+G thì CA < 0 (X<M), cán cân vãng lai thâm hụt (CA<0) có nghĩa là sản xuất dưới mức chi tiêu.

Quốc gia tiêu dùng quá nhiều nên đi vay nợ từ bên ngoài và hoàn trả khoản nợ này bằng cách tiêu dùng ít đi trong tương lai. Tuy nhiên tình trạng này không phải là không mong muốn hay không tốt. Chẳng hạn hiện tại chúng ta vay nợ nước ngoài để đầu tư (nhập khẩu tư liệu sản xuất) phát triển sản xuất để rồi tăng xuất khẩu và trả nợ trong tương lai.

Kinh tế vĩ mô - Đường tổng cung Keynes




1. Đường tổng cung Keynes
Đường tổng cung Keynes giả định các doanh nghiệp sẽ cung cấp bất kỳ mức sản lượng yêu cầu nào tại mức giá hiện tại. Điều này xảy ra khi có tỷ lệ thất nghiệp cao và các doanh nghiệp có thể thuê bất kỳ số lượng lao động nào mà họ muốn tại mức lương hiện tại.

Trong trường hợp này đường tổng cung là đường nằm ngang tại mức giá ban đầu, có nghĩa là tổng cung hoàn toàn co giãn theo giá.

Đường tổng cung Keynes dựa trên giả thuyết là các thị trường, đặc biệt là thị trường lao động, không phải lúc nào cũng cân bằng và trong nền kinh tế luôn có tình trạnh thất nghiệp.
 Hình: đường tổng cung Keynes
 Hình: thị trường lao động trong tổng cung Keynes

Đường cung về lao động là đường nằm ngang, có độ co giãn hoàn toàn tại mức lương hiện tại. Do đó, các doanh nghiệp có thể thuê tất cả số lao động muốn mà không ảnh hưởng đến mức lương (lương không tăng).
Như vậy, trong mô hình tổng cung Keynes, giá cả và tiền lương không đổi.

2. Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong tổng cung Keynes
Giả sử rằng có sự gia tăng về tổng cầu AD do chi tiêu chính phủ tăng hay cung tiền tăng, đường AD dịch chuyển sang phải. Tuy nhiên, đường tổng cung Keynes là đường nằm ngang nên ảnh hưởng dài hạn là sự thay đổi về thu nhập thực tại mức giá hiện tại P1.
 Hình: chính sách tài khoá và tiền tệ có ảnh hưởng đến sản lượng cân bằng

Tóm tắt ảnh hưởng của chính sách tài khoá và tiền tệ (mở rộng).

Chính sách
Tổng cung
Sản lượng
Lãi suất
Giá cả
Tài khoá
Keynes
+
+
0
Cổ điển
0
+
+
Tiền tệ
Keynes
+
-
0
Cổ điển
0
+
+
Ghi chú: (+) có tác động tăng; (-) có tác động giảm; (0) không tác động

Hai trường hợp đặc biệt trên về đường tổng cung AS phản ánh hai quan điểm khác nhau về sự hoạt động của giá cả và tiền lương trong nền kinh tế thị trường.
Trong mô hình cổ điển khẳng định rằng những điều chỉnh trong giá cả và tiền lương xảy ra nhanh chóng (rất linh hoạt) trong khi đó trong mô hình Keynes lại khẳng định giá cả và tiền lương là cứng nhắc. Sự khác nhau này còn bao hàm cả quan điểm khác nhau về tốc độ điều chỉnh của nền kinh tế.

Sự khác nhau của hai trường phái là tốc độ của quá trình điều chỉnh nền kinh tế. Do đó, đến nay các nhà kinh tế học đã thống nhất thừa nhận rằng mô hình Keynes mô tả hành vi nền kinh tế trong ngắn hạn, còn mô hình cổ điển mô tả hành vi nền kinh tế trong dài hạn.
Trong thực tế, theo trường phái Tân cổ điển, giá cả và tiền lương không hoàn toàn linh hoạt và cũng không hoàn toàn cứng nhắc. Đường tổng cung AS trong thực tế phải là một đường dốc lên nhất định.

Kinh tế vĩ mô - Mối quan hệ giữa độ dốc đường IS và hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ



1. Đường IS dốc
Đường IS dốc khi đầu tư ít nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số d nhỏ). Trong trường hợp này chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và tiền tệ vào mô h́nh IS – LM.

- Chính sách tài khoá
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tài khóa

Quan sát hình vẽ trên chúng ta thấy rằng nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra rất hiệu quả (tác động đến sản lượng khá lớn). Nguyên nhân là ảnh hưởng chèn lấn đầu tư không đáng kể. Mặc dù lãi suất thị trường bị đẩy lên nhưng đầu tư giảm không đáng kể do đầu tư kém nhạy cảm đối với lãi suất vì vậy tác động ngược ở vòng 2 không đáng kể nên sản lượng tăng gần xấp xỉ với trường hợp trong mô h́nh Keynes giản đơn.

- Chính sách tiền tệ
Giả sử thực hiện chính sách tăng cung tiền, đường LM dịch chuyển sang phải, làm lãi suất thị trường giảm xuốngđáng kể nhưng vì đầu tư ít nhạy cảm với lãi suất nên đầu tư chỉ tăng lên rất ít. Chính v́ vậy mà sản lượng chỉ tăng lên một lượng rất nhỏ. Như vậy, chính sách tiền tệ trong trường hợp này không hiệu quả (tác động lên sản lượng cân bằng rất nhỏ).
 Hình:  Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tiền tệ

2. Đường IS thoải
Đường IS thoải khi đầu tư rất nhạy cảm đối với lãi suất (hệ số d lớn). Bây giờ chúng ta xem xét tính hiệu quả của tác động của chính sách tài khoá và tiền tệ vào mô h́nh IS – LM.

- Chính sách tài khoá
Quan sát hình vẽ dưới đây chúng ta thấy rằng nếu khi thực hiện chính sách tài khoá mở rộng, chính sách tài khoá tỏ ra kém hiệu quả (tác động đến sản lượng nhỏ). Nguyên nhân là ảnh hưởng chèn lấn đầu tư rất lớn. Mặc dù lãi suất thị trường tăng lên ít nhưng đầu tư giảm đáng kể do đầu tư rất nhạy cảm đối với lãi suất vì vậy tác động ngược ở vòng 2 khá lớn nên làm cho sản lượng giảm nhiều. Tác động sau cùng là sản lượng có tăng từ Y1 lên Y2 nhưng sản lượng tăng không lớn.
 Hình: Sản lượng cân bằng tăng ít khi thực hiện chính sách tài khóa

- Chính sách tiền tệ
Giả sử thực hiện chính sách tăng cung tiền, đường LM dịch chuyển sang phải, làm lãi suất thị trường giảm xuống không đáng kể (vì IS thoải) nhưng vì đầu tư rất nhạy cảm với lãi suất nên đầu tư tăng lên rất nhiều. Chính vì vậy mà sản lượng tăng lên một lượng khá lớn. Như vậy chính sách tiền tệ trong trường hợp này khá hiệu quả (tác động lên sản lượng cân bằng khá lớn).
 Hình : Sản lượng cân bằng tăng nhiều khi thực hiện chính sách tiền tệ

3. Đường IS thẳng đứng
Đường IS thẳng đứng khi đầu tư hoàn toàn không co giãn theo lãi suất. Khi đó sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào ảnh hưởng đến lãi suất thì cũng không làm đầu tư thay đổi và do đó không tác động đến sản lượng. Đường IS thẳng đứng tại mức sản lượng hiện tại.

- Chính sách tài khoá
Giả sử chính phủ tăng chi tiêu G, chính sách tài khoá có ảnh hưởng đến sản lượng và lãi suất nhưng sự thay đổi của lãi suất không ảnh hưởng đến đến đầu tư vì đầu tư không co giãn theo lãi suất. Do đó, không có ảnh hưởng chèn lấn đầu tư do chính sách tài khoá gây ra, chính sách tài khoá trong trường hợp này có hiệu quả.
 Hình: Chính sách tài khóa có hiệu quả

- Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ chỉ làm thay đổi lãi suất. Tuy nhiên do đầu tư hoàn toàn không co giãn theo lãi suất nên sự thay đổi lãi suất không làm thay đổi đầu tư và do đó không làm thay đổi sản lượng. Như vậy, chính sách tiền tệ hoàn toàn không hiệu quả.
 Hình: Chính sách tiền tệ không hiệu quả

4. Đường IS nằm ngang
Đường IS nằm ngang khi đầu tư hoàn toàn co giãn theo lãi suất. Khi đó sự thay đổi của bất kỳ yếu tố nào dẫn đến thay đổi lãi suất đều làm đầu tư thay đổi rất lớn và do đó làm sản lượng thay đổi.

- Chính sách tài khoá
Giả sử chính phủ thực hiện chính sách tài khoá (tăng chi tiêu G), chính sách tài khoá không ảnh hưởng đến lãi suất và lãi suất. Do vậy chính sách tài khoá không hiệu quả.
  Hình: Chính sách tài khóa hoàn toàn không hiệu quả
- Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ không làm thay đổi lãi suất nhưng làm thay đổi sản lượng. (Thực ra khi thay đổi cung tiền lãi suất sẽ thay đổi. Ngay khi có một sự thay đổi nhỏ của lãi suất dẫn đến sự thay đổi lớn của đầu tư và sản lượng). Do không có sự thay đổi của lãi suất nên cầu đầu cơ L2 không thay đổi, toàn bộ sự thay đổi của mức cung tiền sẽ tác động lên mức cầu tiền giao dịch L1, dẫn đến sự thay đổi lớn trong sản lượng. Như vậy chính sách tiền tệ hoàn toàn có hiệu quả.

Hình: Chính sách tiền tệ hoàn toàn hiệu quả