Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

VÀI CẢM TƯỞNG VỀ QUAN NIỆM NHO GIÁO GÂY BẤT BÌNH ĐẲNG GIAI CẤP

 VÀI CẢM TƯỞNG VỀ QUAN NIỆM NHO GIÁO GÂY BẤT BÌNH ĐẲNG GIAI CẤP 

Cuối thế kỷ 20, trong một thời gian dài trước, trong và sau cuộc biến động chính trị khốc liệt tại châu Á, sự phát triển của tân học và Tây học nổi lên, với nhiều mặt tích cực, nhưng cũng kéo theo không ít những tiêu cực: sự bài xích văn hóa truyền thống và phủ nhận các giá trị truyền thống trở nên phổ biến. Mặt khác trong các cuộc vận động chính trị với mục tiêu làm nổi bật và tuyên truyền cho chế độ mới, đứng trước việc phải bảo vệ bản thân và gia đình, người ta bị ép buộc phải phản đối và phê phán xã hội cũ. Cũng từ đó, các luận điệu như Nho giáo gây ra bất bình đẳng giai cấp, làm hại “dân đen”, bảo vệ “chủ nô lệ”, v.v. ra đời…

Không thể phủ định rằng trong quá trình lịch sử, Nho giáo càng tiến về cận đại thì càng suy kém và có các loại biểu hiện không được như ý. Nhưng ví như con người có sinh lão bệnh tử, thì bất kể một hệ tư tưởng nào, một loại chế độ nào cũng đều có quá trình “thành trụ hoại” của nó. Chúng ta thảo luận về bất kể hiện tượng nào, đều cần xem về tình huống vào thời kỳ chính thường của nó. Không thể vì người ta sắp lâm chung mà phủ định cả đời, không thể vì trong các việc có việc bất thành mà phủ định những thành công trước đó. Vậy nên khi bàn đến các tội lỗi bị gán cho Nho giáo, người ta cần đối sánh chúng với các kinh điển Nho học nguyên thủy.

Vài cảm tưởng về quan niệm Nho giáo gây bất bình đẳng giai cấp

Chính danh là duy trì phân biệt đẳng cấp?

Luận điểm mà những người phản đối Nho giáo đưa ra là: “Mục đích của chính danh mà Nho giáo đề cao là sự ổn định xã hội, suy cho cùng là để bảo vệ quyền của thiên tử, duy trì sự phân biệt đẳng cấp”. Vậy trước tiên, “chính danh” có nghĩa là gì?

Trong sách “Luận ngữ”, thiên Tử Lộ, có viết:

Tử Lộ hỏi: “Nếu vua nước Vệ mời thầy đi làm quan quản lý chính sự, thầy làm việc gì trước tiên?”

Khổng tử nói: “Việc trước tiên nhất định phải là chính danh đã.”

Tử Lộ hỏi: “Thật thế ư? Thầy nói viển vông đó. Sao lại phải chính danh?”

Khổng tử nói: “Trò Do (Tử Lộ) sao lại ăn nói thô thiển như vậy? Người quân tử gặp việc mình chưa rõ thì không phát biểu tùy tiện.

Danh phận không rõ ràng, thì nói sẽ không thuận. Nói không thuận thì việc không thành. Việc không thành thì lễ nhạc sẽ mất đi trật tự. Lễ nhạc mất đi trật tự thì hình phạt sẽ không thỏa đáng. Hình phạt không thỏa đáng khiến cho dân không biết làm như thế nào cho đúng.

Cho nên người quân tử khi định được danh phù hợp với thực, thì có thể nói ra được, mà nói ra là có thể thực hành thông suốt. Người quân tử đối với lời mình nói thì không bao giờ để sơ suất.”

(Tứ thư, NXB Quân đội nhân dân, 2003)

Nói theo ngôn ngữ hiện đại, thì nếu không là người có thể đại diện cho công ty như phó giám đốc, giám đốc, thì liệu có thể đứng ra quyết định công việc, ký kết hợp đồng, v.v..? Người có danh phận ấy thì mới có thể toàn lực gánh nhận trách nhiệm ấy. Kẻ không có danh phận, dẫu toàn lực làm điều mà mình nên làm, thì thông thường việc cũng không thể thông thuận. Bởi vậy chính danh là cách đối nhân xử thế của người quân tử, và hệ quả tất nhiên là nó đề cao sự ổn định của xã hội dưới thời trọng dụng hiền tài.

Nhưng cái gọi là “bảo vệ quyền của Thiên tử” thì tìm khắp Tứ thư Ngũ kinh cũng đều không thấy có.

Giải oan cho Nho giáo – Kỳ II: Nho giáo có gây ra bất bình đẳng giai cấp?
Khổng Tử và học trò. (Tranh sưu tầm)

Thuyết chính danh của Khổng Tử thể hiện ở câu: Quân quân, Thần thần, Phụ phụ, Tử tử. Tức là vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con. Trong tư cách ấy thì gánh vác trách nhiệm ấy.

Mạnh Tử nói: “Ta nghe nói Chu Văn Vương có giết một kẻ thất phu tên là Trụ chớ chưa hề nghe nói giết vua bao giờ”.

Tuân Tử lại nói: “Vua là thuyền, dân là nước, nước có thể nâng thuyền, cũng có thể lật thuyền”.

Đây là những điều được ghi chép trong kinh điển Nho gia. Trong khi đó, những lời bị gán ghép cho Nho giáo như “vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung”, “tôi trung không thờ hai vua”… cũng không hề thấy chép trong Tứ thư Ngũ kinh.

Kỳ thực, Khổng Tử đã từng bỏ vua nước Lỗ để đi tìm kiếm minh quân. Hơn thế, ông bàn về trung và hiếu như sau:

Vua Ai công nước Lỗ hỏi Khổng Tử rằng: “Con theo mệnh cha có phải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là trung không?”. Hỏi ba lần mà Khổng Tử không trả lời.

Lúc Khổng Tử ra ngoài, Khổng Tử đem chuyện ấy nói với Tử Cống và hỏi ý Tử Cống thế nào. Tử Cống thưa: “Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung, còn ngờ gì nữa?”

Khổng Tử nói: “Ngươi không biết gì. Đời xưa đấng minh quân làm vua nước vạn thặng có tránh thần bảy người thì vua không làm điều lỗi; làm vua nước thiên thặng có tránh thần năm người, thì xã tắc không nguy; làm chủ một nhà, có tránh thần ba người thì lộc vị không suy. Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều vô lễ; kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa. Cho nên con theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung. Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo, mới gọi là hiếu, là trung vậy”

(Khổng Tử gia ngữ: Tam thứ, IX).

Như vậy rõ ràng là nếu vua làm điều bạo nghịch thì kẻ dưới không những không phải bảo vệ quyền của Thiên tử, mà nếu vua không nghe can gián thì kẻ dưới còn không có trách nhiệm phải trung thành. Người quân tử chỉ làm điều đúng đắn là vậy.

“Lao tâm giả trị nhân” là bản tính của giai cấp bóc lột?

Câu nói “Lao tâm giả trị nhân; Lao lực giả trị ư nhân” (kẻ lao tâm trị người còn người lao lực thì bị người trị) của Mạnh Tử cũng thường hay bị đem ra phê phán là “bản tính của giai cấp bóc lột”. Có đúng vậy không?

“Lao tâm giả trị nhân; Lao lực giả trị ư nhân” là câu nói trong sách Mạnh Tử, Đằng Văn Công chương cú thượng. Hoàn cảnh Mạnh Tử đưa ra câu này như sau:

Có một người là Trần Tương theo Hứa Hành học đạo Thần Nông (Thần Nông là một vị Hoàng đế cổ dạy dân cày ruộng trồng lúa, mở mang nông nghiệp). Trần Tương cho rằng Đằng Văn Công tuy là bậc vua giỏi nhưng chưa hiểu được cái đạo trị nước. Theo Trần Tương thì vua hiền phải cày ruộng với dân để lấy cái ăn, phải tự nấu lấy cơm, chứ không nên tích trữ lương thực và tài sản.

Bàn đến chuyện này, xin được trích nguyên đoạn đối thoại giữa Mạnh Tử và Trần Tương trong sách Mạnh Tử như sau:

– Hứa Hành chắc là phải tự mình trồng lúa lấy gạo mà ăn phải không?

– Đúng vậy.

– Hứa Hành chắc phải tự tay dệt lấy vải rồi mới may áo mặc chứ?

– Không phải. Hứa Hành lấy vỏ đay bện thành áo mặc.

– Thế Hứa Hành có đội mũ không?

– Có.

– Đội mũ loại gì?

– Mũ làm bằng loại lụa điều trắng.

– Lụa ấy tự tay mình dệt ra chứ?

– Không phải, đem thóc đổi lấy lụa.

– Vì sao Hứa Hành không tự tay dệt lấy?

– Làm như vậy sợ là trở ngại đến việc cày cấy.

– Hứa Hành có dùng nồi đồng, niêu đất nấu cơm, dùng lưỡi cày sắt để cày không?

– Có.

– Tự mình làm ra cả ư?

– Không phải, đem thóc đi đổi.

– Đem thóc đi đổi lấy đồ dùng, điều đó không hại gì đến thợ gốm và thợ sắt cả. Thợ gốm và thợ sắt lấy sản phẩm gốm và kim khí đi đổi lấy thóc lúa, không có lẽ làm hại đến người làm ruộng. Lại nói, tại sao Hứa Hành không tự mình làm luôn việc luyện sắt nung gốm, cái gì cũng tự mình làm ra? Việc gì lại phải mua bán đổi chác với thợ sắt, thợ gốm? Vì sao mà Hứa Hành không kiêm hết tất cả?

– Nếu làm việc của cả trăm nghề ấy thì không thể nào mà cày cấy được.

Mạnh Tử liền nói:

– Thế chẳng lẽ riêng việc trị nước thì có thể vừa cày ruộng vừa làm ư? Có phần việc do quan lại làm. Có phần việc do dân chúng làm. Hơn nữa, muốn cung cấp đủ nhu cầu sinh hoạt của một con người, cần phải dựa vào đủ loại thợ mới được. Nếu như buộc mọi người ai cũng phải tự mình làm ra mọi thứ cho bản thân mình dùng, như vậy sẽ khiến cả thiên hạ phải lo chạy đôn chạy đáo khắp mọi nơi vậy.

Cho nên người xưa có câu rằng: “Có người lao tâm, có người lao lực…

(Tứ thư, NXB Quân đội nhân dân, 2003)

Như vậy, đặt trong ngữ cảnh của toàn bộ câu nói, “Lao tâm giả trị nhân; Lao lực giả trị ư nhân” chính là đạo lý thông thường trong thiên hạ. Từ “trị” này thời xưa cũng không có ý tiêu cực, không phải là kiểu “trị” mang theo phản ý của người thời nay.

Giải oan cho Nho giáo – Kỳ II: Nho giáo có gây ra bất bình đẳng giai cấp?
Cảnh xã hội thời xưa. (Một phần của bức Thanh minh thượng hà đồ)

Ngoài ra, cuối phần trên Mạnh Tử còn phê phán một thuyết nữa của Hứa Hành, chính là thuyết “hàng hóa ở chợ chỉ có một giá thôi, như vậy khỏi xảy ra các sự gian lận”. Mạnh Tử nói:

– Vật có tinh, thô, hơn, kém tức là không giống nhau. Đây là thuộc tính tự nhiên của chúng. Giá của chúng có thể khác nhau từ một lần đến năm lần, có thứ sai nhau mười lần, có thứ sai nhau cả nghìn lần. Nếu ngươi muốn cho các vật đều một giá như nhau, như thế là làm loạn thiên hạ vậy. Giầy dép lớn bé xấu tốt, giá tiền đều bằng nhau thì ai chịu làm thứ tốt? Nghe theo học thuyết của Hứa Hành, thì chỉ khiến người ta đua nhau làm những việc lừa bịp dối trá lẫn nhau hơn mà thôi, làm sao mà yên trị nước nhà được?

(Sách Mạnh Tử, NXB Quân đội nhân dân, 2003)

Nói về điều này, học giả Nguyễn Hiến Lê bàn rằng: “Nguyên tắc phân công là nguyên tắc căn bản cho mọi xã hội, không có phân công thì không có xã hội. Nó dựa trên luật tự nhiên này: vạn vật không giống nhau, không đồng đều nhau về tính chất.” – Sách Mạnh Tử, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa thông tin.

Nếu như “Lao tâm giả trị nhân; Lao lực giả trị ư nhân” đã là dựa trên luật tự nhiên, thì hà cớ gì người ta phải “Đoạn chương thủ nghĩa”, lấy ra một câu nói nhưng vứt bỏ đi ngữ cảnh và hàm nghĩa mà nó biểu đạt, để kết tội cho Nho giáo đây?

Thực chất của việc phê phán Nho giáo gây ra bất bình đẳng giai cấp

Thực ra, câu chuyện của Mạnh Tử mà chúng ta kể trên đây không chỉ đụng chạm đến vấn đề “công bình tuyệt đối” là cực đoan, mà còn đụng chạm đến vấn đề “bao cấp”, “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Những điều này làm sao mà không khiến những người muốn áp đặt một ý thức hệ mới không lo ngại và bài xích?

Sau những nhiệt tình cứu nước bất chấp tất cả, người ta tưởng rằng họ sắp bước vào một thời kỳ nắm quyền tự chủ trọn vẹn. Nhưng điều người dân không ngờ được là, để những học thuyết mới của chính quyền đứng vững, thì những giá trị đạo đức của Nho giáo phải bị tàn nhẫn dứt khỏi tâm trí người dân.

Đơn cử như đối với việc đi ngược lại lợi ích của kẻ cầm quyền. Thời xưa, kẻ cầm quyền là Thiên tử sẽ bị “vạn chúng chú mục”. Kẻ cầm quyền hành ác là không che dấu được, nếu làm việc xấu còn có sử quan chuyên ghi chép, chẳng hạn như câu chuyện chép sử về Thôi Trữ:

Vụ án Tề Trang công bị giết được quan Thái sử nước Tề chép: “Thôi Trữ giết vua là Quang”. Thôi Trữ bắt quan thái sử chép khác đi, thái sử không chịu nên bị Thôi Trữ giết chết. Người em quan thái sử chép lại như anh mình vào quốc sử nước Tề. Thôi Trữ nổi giận lại giết người đó. Đến người em thứ ba chép nguyên cũng bị giết. Tới khi người em thứ tư vẫn chép như vậy, không chịu thay đổi theo lệnh của Thôi Trữ. Ông đành thôi không giết người chép sử nữa.

Sử ký – Tề Thái công thế gia

Câu chuyện chép sử này sau được nhắc đến trong bài thơ “Chính khí ca” của Văn Thiên Tường, từng được nhiều học giả Việt Nam say mê:

Ta vốn chẳng có tài phép lớn
Nhưng trần ai khôn bận lòng ta.
Lòng ta chính khí chói loà
Âm dương điên đảo khôn mờ tấc son.

(Chính khí ca – Bản dịch của Nguyễn Văn Thọ)

Sự tồn tại của những nhân tố dũng cảm như sử quan chính là lý do tại sao xã hội hoàng quyền xưa không cần có hiến pháp. Thử hỏi ngày nay, ai dám dũng cảm trở thành sử quan? Ai dám là kẻ đi ngược lại với quyền lợi của giai cấp thống trị? Ở một số nước thiếu nhân quyền, những “kẻ độc tài” hoàn toàn nắm trong tay quyền sinh quyền sát, còn có cả những thủ đoạn thanh trừng vây cánh hoặc bịt miệng. Nó thậm chí còn bỉ ổi, đê tiện và hèn hạ hơn thời xưa rất nhiều.

Thựa ra, với lời hứa hẹn về một xã hội bình quyền, người ta kích động nhân dân tham gia vào một cuộc lật đổ trật tự xã hội cũ mà Nho giáo duy trì – Một cuộc lật đổ đầy máu và nước mắt. Điều người ta không nói với nhân dân là: Sau bao nhiêu năm “trao quyền” cho nhân dân, xã hội vẫn có kẻ giàu người nghèo, kẻ trên người dưới, vẫn phân chia tầng lớp, vẫn có chủ tớ, vẫn có khoán ruộng đất, vẫn có kẻ làm quan và người làm dân, vẫn có những cái gọi là “bất bình đẳng giai cấp”…

Với lời hứa hẹn giao đất, giao nhà máy, người ta kích động nhân dân đấu tố địa chủ, đấu tố tư bản, hoàn toàn vứt bỏ những giá trị đạo đức mà Nho gia đề cao, không quan tâm đến nạn nhân bị đấu tố là người tốt hay kẻ xấu. Điều người ta không nói với nông dân và công nhân là: Sau bao nhiêu năm “trao quyền” cho họ, họ sẽ vẫn là những kẻ nghèo khó nhất…

Nạn đói thời Mao – Hậu quả của cái gọi là “công bình tuyệt đối” và “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” – Đây có phải là cái mà người ta thật sự hướng tới? (Ảnh qua incolors.club)
Trong Đại nhảy vọt, nông dân buộc phải bỏ hoang ruộng để làm thép, bỏ phí cả hoa màu, lúa mạch chín hoang phế ngoài đồng. (Ảnh qua uwgbcommons.org)
Giải oan cho Nho giáo – Kỳ II: Nho giáo có gây ra bất bình đẳng giai cấp?
Cách cai trị tàn bạo của ĐCSTQ là cấp số nhân so với Tần Thủy Hoàng. Đó đâu chỉ là diệt Nho, mà còn là diệt cả nhân tính. (Ảnh qua quora.com)

Với lời hứa hẹn về một thiên đường trên mặt đất, người ta kích động thực hiện một cuộc Đại nhảy vọt nhằm “nhân đôi sản lượng thép”, “vượt trên Anh quốc trong 10 năm và Mỹ trong 15 năm”. Nông dân buộc phải bỏ hoang ruộng để làm thép, bỏ phí cả hoa màu, lúa mạch chín hoang phế ngoài đồng. Nhưng quan chức chính quyền lại bịa đặt báo cáo rằng sản lượng lúa đang tăng vọt, rằng “Sản lượng trên mỗi mẫu là hơn mười ngàn cân”. Điều đó khiến cho toàn bộ phần lương thực còn sót lại của nhân dân đều bị tịch thu để nộp cho đủ số tương ứng với “thành tích”. Những năm tháng đó đã kích động ma tính trong con người ta đến mức điên cuồng và mù quáng, hoàn toàn rời xa văn hóa truyền thống. Kết quả là 30 đến 40 triệu người bị chết đói. Sau tất cả những việc ấy, kẻ cầm quyền vẫn tuyên truyền khắp nơi rằng đó là do “thiên tai”…

Điều đó đủ để thấy rằng cái gọi là thiên đường trên mặt đất thực chất lại là địa ngục chốn nhân gian, nơi dân tộc vứt bỏ giá trị Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo – những giá trị đạo đức truyền thống. Nói thẳng ra, hiện nay dẫu có sự thoải mái nhất định, thì những tôn giáo ấy cũng chỉ còn giữ lại được cái vỏ hình thức bề ngoài, còn nội dung bên trong thì trống rỗng hư không, nếu không phải là nơi rửa tiền thì cũng là chốn kinh doanh, thậm chí trác táng.

Cái xã hội méo mó của Trung Quốc hiện lên với những tượng đài ca ngợi lãnh đạo; với luật lệ hà khắc; với việc kiểm soát tư tưởng lan đến cả mạng Internet; và với tà sách liên đới quy định rằng một nhân sĩ lên tiếng sẽ khiến cả gia đình, họ hàng, và cơ quan bị phạt.

Ai là kẻ dẫm đạp lên nhân dân dưới chiêu bài “giai cấp”?

Minh Nhật

CHƯƠNG 6 - TRIẾT LÝ VIỆT - NGƯỜI VIỆT – SỨC MẠNH CỦA THÍCH NGHI


CHƯƠNG VI

NGƯỜI VIỆT – SỨC MẠNH CỦA THÍCH NGHI

Từ sinh tồn trong hoàn cảnh đến khả năng kiến tạo một đời sống mới

1. CÂU HỎI TRIẾT HỌC: VÌ SAO CON NGƯỜI CÓ THỂ SỐNG ĐƯỢC TRONG NHỮNG HOÀN CẢNH KHÁC NHAU?

Một dân tộc không chỉ được hình thành bởi nơi mình sinh ra, mà còn bởi cách mình học cách sống trong nơi ấy.

Con người sinh ra trong một hoàn cảnh mà mình không lựa chọn: khí hậu, địa hình, sông ngòi, biển cả, tài nguyên, chiến tranh, dịch bệnh, những cộng đồng khác và những biến động của lịch sử.

Nhưng hoàn cảnh không quyết định hoàn toàn số phận.

Cùng đứng trước một dòng sông, có cộng đồng chỉ nhìn thấy vật cản; có cộng đồng nhìn thấy đường giao thông; có cộng đồng nhìn thấy nguồn nước; có cộng đồng biến nó thành một phần của nền văn minh.

Khác biệt nằm ở cách con người đáp lại hoàn cảnh.

Đó chính là vấn đề triết học của thích nghi.

Thích nghi, theo nghĩa sâu nhất, không đơn giản là chịu đựng để tồn tại. Nó là khả năng:

nhận ra hoàn cảnh, thay đổi cách ứng xử, tích lũy kinh nghiệm, tổ chức lại đời sống và tạo ra một phương thức sống phù hợp hơn.

Bởi vậy cần phân biệt ba cấp độ:

Chịu đựng → Thích nghi → Kiến tạo.

Chịu đựng giúp con người vượt qua một hoàn cảnh.

Thích nghi giúp con người sống được trong hoàn cảnh ấy.

Nhưng kiến tạo mới giúp con người thay đổi hoàn cảnh để thế hệ sau không phải lặp lại mãi một cách chịu đựng cũ.

Đây là điểm quan trọng nhất của chương này.

2. ĐẤT VÀ NƯỚC – TRƯỜNG HỌC ĐẦU TIÊN CỦA THÍCH NGHI

Trong triết lý Việt, Đất và Nước không chỉ là hai yếu tố địa lý.

Đất tạo nền – Nước tạo dòng.

Đất cho con người nơi đứng.

Nước buộc con người phải chuyển động.

Đất tạo ra cư trú, ruộng đồng, làng xóm.

Nước tạo ra giao thông, phù sa, thủy sản, thương mại nhưng cũng mang theo lũ lụt, xói lở và bất định.

Bởi vậy, môi trường Việt Nam từ rất sớm đã đặt con người trước một bài toán kép làm thế nào để bám vào một nền đất ổn định trong khi phải sống cùng một dòng nước luôn biến đổi?

Đó không phải một bài toán thuần túy tự nhiên.

Nó dần trở thành bài toán xã hội.

Muốn canh tác phải biết mùa nước.

Muốn sống ven sông phải biết dòng chảy.

Muốn xây dựng làng xóm phải hiểu địa hình.

Muốn vận chuyển phải biết đường sông.

Muốn tránh lũ phải biết dự báo, đê điều, nơi cao nơi thấp.

Từ đó, thiên nhiên trở thành một trường học kinh nghiệm.

Nhưng cần tránh một cách giải thích đơn giản rằng thiên nhiên “tạo ra” tính cách dân tộc.

Không có một quan hệ cơ giới khí hậu này → tính cách này. Có thể nói chắc chắn hơn là:

môi trường tạo ra những bài toán; cách con người giải những bài toán ấy góp phần hình thành kinh nghiệm xã hội và văn hóa.

Đó là một cách nhìn vừa tôn trọng tự nhiên vừa tôn trọng chủ thể con người.

3. TỪ THÁCH THỨC TỰ NHIÊN ĐẾN KINH NGHIỆM CỘNG ĐỒNG

Đối với cư dân nông nghiệp, một người khó có thể tự mình giải quyết tất cả những vấn đề của nước, mùa màng và thiên tai.

Từ đó xuất hiện một sự thật căn bản:

Một số bài toán của tự nhiên chỉ có thể được giải bằng tổ chức xã hội.

Đê điều; Thủy ; Gặt hái cần nhiều người.

Bảo vệ làng xóm cần nhiều người.

Khi một kinh nghiệm được lặp lại qua nhiều thế hệ, nó không còn là kinh nghiệm của một cá nhân. Nó trở thành:

thói quen → tập quán → quy ước → tổ chức → văn hóa.

Đây là một trong những con đường mà qua đó hoàn cảnh tự nhiên đi vào đời sống xã hội.

Nhưng cộng đồng cũng có hai mặt.

Nó tạo ra khả năng hợp tác.

Song nó cũng có thể tạo ra sức ép đồng thuận.

Nó giúp con người không bị bỏ lại một mình.

Nhưng đôi khi nó khiến cá nhân khó thoát khỏi những khuôn mẫu của cộng đồng.

Vì vậy, không thể đơn giản ca ngợi “tinh thần cộng đồng” như một giá trị tuyệt đối.

Một xã hội trưởng thành phải biết:

dùng sức mạnh cộng đồng để bảo vệ con người, nhưng không dùng cộng đồng để nuốt mất cá nhân.

Đây sẽ là một trong những nghịch lý quan trọng mà Chương VIII sẽ trở lại.

4. TỪ KINH NGHIỆM SINH TỒN ĐẾN KHẢ NĂNG THAY ĐỔI

Một dân tộc có thể rất giỏi thích nghi mà chưa chắc đã giỏi phát triển.

Đây là một phân biệt quan trọng.

Người nông dân có thể biết né lũ.

Người buôn có thể biết xoay xở khi thị trường thay đổi.

Gia đình có thể biết ứng phó với khó khăn.

Một xã hội có thể biết sống qua khủng hoảng.

Nhưng nếu mỗi thế hệ chỉ lặp lại khả năng ứng phó, xã hội sẽ luôn phải đối diện với cùng một vấn đề.

Khi đó thích nghi trở thành vòng tròn.

Cao hơn một bước là biến kinh nghiệm thành tri thức.

Tri thức; Kỹ thuật thành tổ chức. Tổ chức thành năng lực phòng ngừa.

Khi ấy, thích nghi bắt đầu trở thành kiến tạo.

Đây là sự khác biệt giữa:

“biết sống với lũ” và “biết xây dựng một hệ thống để giảm thiểu thiệt hại do lũ.”

Cái trước là thích nghi.

Cái sau là kiến tạo.

Và chính ở đây, triết lý thích nghi gặp triết lý phát triển.

5. ĐẤT NƯỚC NHIỀU DÒNG: BA KHÔNG GIAN, BA BÀI HỌC

Nếu nhìn Việt Nam qua các vùng sinh thái lớn, có thể thấy những hình thức thích nghi khác nhau.

Đồng bằng sông Hồng

Đây là không gian của mật độ cư trú cao, nông nghiệp lúa nước, hệ thống làng xã và những bài toán liên quan đến sông ngòi, mùa vụ, thủy lợi.

Con người phải học cách tổ chức cộng đồng trên một nền đất có giới hạn.

Sông Đà và vùng núi

Ở miền núi, địa hình đặt ra những bài toán khác: độ dốc, rừng, giao thông, nguồn nước, sự phân tán dân cư và sự đa dạng của các cộng đồng.

Ở đây, thích nghi không thể chỉ được nhìn từ góc độ đồng bằng.

Mỗi môi trường tạo ra một kho kinh nghiệm khác nhau.

Mekong

Đến đồng bằng Mekong, bài toán lại thay đổi.

Nước không chỉ là nguy cơ cần kiểm soát.

Nó là một phần của đời sống.

Sông rạch, mùa nước, phù sa, giao thông thủy và mạng lưới thương mại tạo nên một không gian xã hội khác.

Điều đáng chú ý là khi người Việt đi xuống phương Nam, họ không chỉ “mang văn hóa Việt” đến một vùng đất mới.

Vùng đất mới cũng làm thay đổi chính người Việt.

Đó mới là bản chất sâu sắc của thích nghi.

6. ÁN LỆ LỊCH SỬ: NAM TIẾN – KHI MÔI TRƯỜNG MỚI BIẾN ĐỔI CHỦ THỂ

Nam tiến không nên được kể như một câu chuyện đơn tuyến về một dân tộc “đi mở đất”.

Không gian phía Nam trước và trong quá trình người Việt mở rộng cư trú vốn đã có những cộng đồng và nền văn hóa khác, trong đó có người Chăm, Khmer, Hoa và nhiều nhóm cư dân khác.

Vì vậy, nghiên cứu Nam tiến nghiêm túc phải đồng thời nhìn thấy:

mở rộng lãnh thổ – di cư – chiến tranh – giao thương – chung sống – xung đột – giao lưu – biến đổi văn hóa.

Người Việt đến một môi trường mới.

Nhưng môi trường ấy không phải tờ giấy trắng.

Con người mới gặp những con người đã sống ở đó.

Họ gặp những phương thức canh tác khác.

Gặp những mạng lưới thương mại khác.

Gặp những tín ngưỡng khác.

Gặp những điều kiện tự nhiên khác.

Và chính quá trình đó làm biến đổi xã hội Việt.

Nam Bộ vì thế không đơn giản là “miền đất được Việt hóa”.

Nó cũng là một không gian làm Nam hóa người Việt.

Đó là một phát hiện quan trọng.

Bản sắc không chỉ được mang đi, mà còn được tạo lại trong quá trình gặp gỡ.

Từ đây, Chương VI bắt đầu mở cửa sang Chương VII:

Thích nghi tạo khả năng tiếp nhận.

Tiếp nhận tạo điều kiện cho hội tụ.

7. SÀI GÒN – TỪ THÍCH NGHI ĐẾN HỘI TỤ

Nếu Nam Bộ là một trường hợp lớn của thích nghi, Sài Gòn là một trường hợp đặc biệt của thích nghi chuyển thành hội tụ.

Sài Gòn hình thành và phát triển trong sự gặp gỡ của nhiều dòng người, hàng hóa, ngôn ngữ và văn hóa.

Người Việt. Người Hoa. Người Khmer. Người Chăm. Người Pháp. Người Ấn.

Những thương nhân và cộng đồng đến từ nhiều không gian khác.

Sài Gòn không trở thành một đô thị quan trọng chỉ vì một nền văn hóa duy nhất.

Sức sống của nó nằm ở khả năng tổ chức sự khác biệt thành một không gian chung.

Đó là một cấp độ cao hơn của thích nghi.

Thích nghi ban đầu là:

“Tôi phải sống được với hoàn cảnh.”

Hội tụ tiến thêm một bước:

“Chúng ta có thể cùng tạo ra một hoàn cảnh mới.”

Đây chính là lý do Sài Gòn sẽ trở lại như một case study quan trọng ở Chương VII.

8. THÍCH NGHI VỚI VĂN HÓA: TIẾP NHẬN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI BẮT CHƯỚC

Lịch sử Việt Nam không diễn ra trong cô lập.

Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, chữ Hán, các thiết chế nhà nước, kỹ thuật, thương mại và sau này là những dòng tư tưởng, tôn giáo, khoa học và công nghệ từ phương Tây đều tác động đến xã hội Việt Nam.

Nhưng tiếp nhận không đồng nghĩa với sao chép.

Đây là điểm cần phân biệt.

Một nền văn hóa yếu có thể thấy cái bên ngoài → bắt chước cái bên ngoài.

Một nền văn hóa đóng kín có thể thấy cái bên ngoài → từ chối cái bên ngoài.

Một nền văn hóa có chủ thể có thể thấy cái bên ngoài → lựa chọn → biến đổi → kết hợp → tạo ra cái phù hợp với mình.

Vì vậy:

Tiếp thu tạo vốn – Việt hóa tạo mình.

Chữ Hán được tiếp nhận nhưng tiếng Việt không trở thành tiếng Hán.

Chữ Nôm được hình thành như một nỗ lực biểu đạt tiếng Việt bằng một hệ thống chữ viết dựa trên vật liệu chữ Hán nhưng được cải biến.

Chữ Quốc ngữ có nguồn gốc trong một quá trình giao lưu ngôn ngữ và truyền giáo, nhưng về sau trở thành một công cụ quan trọng của đời sống trí thức và xã hội Việt Nam hiện đại.

Những trường hợp ấy cho thấy một công cụ có thể có nguồn gốc bên ngoài nhưng trở thành một phần của lịch sử bên trong.

Đó chính là thích nghi ở cấp độ văn hóa.

9. MẶT SÁNG VÀ MẶT TỐI CỦA THÍCH NGHI

Thích nghi là một năng lực.

Nhưng mọi năng lực đều có thể bị sử dụng theo hai hướng.

Mặt sáng của thích nghi là linh hoạt; thực tế; biết học hỏi; biết tìm giải pháp;

biết sống cùng khác biệt biết biến khó khăn thành kinh nghiệm; biết thay đổi khi hoàn cảnh thay đổi.

Nhưng mặt tối có thể là tùy tiện; “xoay xở” thay cho cải cách; né tránh nguyên tắc; thỏa hiệp với cái sai; chịu đựng quá lâu; quen sống trong bất ổn; tìm cách thích nghi với một hệ thống kém hiệu quả thay vì thay đổi nó.

Đây là phản đề quan trọng nhất:

Một xã hội có thể trở nên quá giỏi thích nghi với những điều đáng lẽ phải được thay đổi.

Nếu con người luôn tìm được cách sống sót trong một hệ thống bất hợp lý, hệ thống ấy có thể tồn tại lâu hơn.

Do đó, thích nghi không thể trở thành triết lý của sự cam chịu.

Triết lý đúng phải là:

Thích nghi với cái không thể thay đổi; thay đổi cái có thể thay đổi; và kiến tạo cái chưa tồn tại.

10. TỪ THÍCH NGHI SINH TỒN ĐẾN THÍCH NGHI KIẾN TẠO

Đây là bước chuyển quan trọng nhất của chương.

Có thể hình dung bốn cấp độ:

Cấp độ 1 – Sinh tồn

Con người tìm cách vượt qua khủng hoảng.

Cấp độ 2 – Thích nghi

Con người thay đổi hành vi để sống phù hợp với hoàn cảnh.

Cấp độ 3 – Học hỏi

Con người biến kinh nghiệm thành tri thức và kỹ năng.

Cấp độ 4 – Kiến tạo

Con người thay đổi tổ chức, công nghệ và thể chế để tạo ra hoàn cảnh tốt hơn.

Cá nhân thích nghi tốt là người biết thay đổi mình.

Xã hội thích nghi tốt là xã hội biết học.

Quốc gia thích nghi tốt là quốc gia có khả năng tự sửa sai.

Vì vậy, năng lực thích nghi quốc gia không thể chỉ đo bằng khả năng người dân “chịu khó” hay “chịu đựng”.

Nó phải được đo bằng khả năng của hệ thống trong việc:

nhìn thấy vấn đề → thừa nhận vấn đề → học từ vấn đề → sửa chính sách → đổi tổ chức → chuẩn bị cho lần sau.

Đây là nơi thích nghi gặp quản trị.

11. ÁN LỆ HIỆN ĐẠI: KHỦNG HOẢNG VÀ KHẢ NĂNG HỌC

Những cuộc khủng hoảng hiện đại cho thấy một điều: thích nghi không còn là khả năng của từng cá nhân riêng lẻ.

Trong đại dịch COVID-19, chẳng hạn, cá nhân phải thay đổi hành vi.

Doanh nghiệp phải thay đổi cách hoạt động.

Trường học phải thay đổi phương thức giáo dục.

Y tế phải thay đổi cách tổ chức.

Nhà nước phải thay đổi chính sách.

Công nghệ trở thành một phần của khả năng duy trì đời sống xã hội.

Bài học lớn hơn không nằm ở việc một xã hội “chịu đựng được bao nhiêu”.

Nó nằm ở câu hỏi:

Sau khủng hoảng, xã hội có học được gì không?

Nếu chỉ vượt qua rồi quay lại trạng thái cũ, đó mới chỉ là sinh tồn.

Nếu biết rút kinh nghiệm và cải thiện hệ thống, đó là thích nghi kiến tạo.

Vì vậy:

Khả năng phục hồi không chỉ là khả năng đứng dậy; đó còn là khả năng đứng dậy với một cấu trúc tốt hơn trước.

12. THÍCH NGHI CÁ NHÂN VÀ THỂ CHẾ

Có một sai lầm thường gặp khi nói về khả năng thích nghi của người Việt: quá đề cao khả năng xoay xở của cá nhân.

Một người có thể rất giỏi tìm đường đi trong một hệ thống phức tạp.

Nhưng nếu hệ thống buộc hàng triệu người phải “xoay xở”, đó không còn là thành công của xã hội.

Nó có thể là dấu hiệu của một thể chế chưa tốt.

Vì vậy cần phân biệt:

Thích nghi cá nhân là vốn.

Thể chế là bộ khuếch đại.

Một xã hội tốt không bắt người dân phải thông minh hơn để tồn tại trong một hệ thống bất hợp lý.

Nó phải làm cho hệ thống trở nên hợp lý hơn.

Khi ấy, trí thông minh của cá nhân được chuyển thành sức mạnh chung.

Đây là bước chuyển từ “người Việt biết xoay xở” sang “người Việt biết xây dựng những hệ thống để không phải xoay xở mãi.”

13. PHẢN ĐỀ: KHI THÍCH NGHI TRỞ THÀNH KẺ THÙ CỦA CẢI CÁCH

Một dân tộc có khả năng thích nghi cao có một nguy cơ đặc biệt.

Họ có thể chịu được quá nhiều, sống được trong quá nhiều hoàn cảnh, tìm ra cách tồn tại ngay cả khi hệ thống chưa tốt.

Điều này tạo ra một nghịch lý:

Càng giỏi thích nghi với cái cũ, đôi khi càng ít áp lực để thay đổi cái cũ.

Đó là lý do thích nghi phải có giới hạn.

Nếu một con người thích nghi với bất công bằng cách im lặng, đó không phải là thành công.

Nếu một xã hội thích nghi với tham nhũng bằng cách tìm “quan hệ”, đó không phải là năng lực đáng tự hào.

Nếu một nền giáo dục thích nghi với việc học sinh học để thi bằng cách dạy thêm nhiều hơn, đó chưa chắc là cải cách.

Nếu một nền kinh tế thích nghi với năng suất thấp bằng lao động giá rẻ, đó không phải là con đường phát triển bền vững.

Thích nghi phải dẫn đến một câu hỏi cao hơn:

“Có điều gì trong hoàn cảnh này cần được thay đổi thay vì chỉ thích nghi?”

Đó là câu hỏi của kiến tạo.

14. ĐỐI THOẠI: THÍCH NGHI HAY THAY ĐỔI?

Học trò:

Thưa thầy, nếu thích nghi giúp con người tồn tại, tại sao không cứ thích nghi?

Người thầy:

Vì có những hoàn cảnh không nên được chấp nhận như một định mệnh.

Học trò:

Nhưng nếu không thích nghi thì làm sao sống?

Người thầy:

Ta vẫn phải thích nghi để sống. Nhưng sau khi sống được, ta phải hỏi: tại sao đời sống lại khó khăn như vậy?

Học trò:

Vậy thích nghi chỉ là bước đầu?

Người thầy:

Đúng. Thích nghi giúp con người không bị hoàn cảnh đánh bại. Kiến tạo giúp con người không phải mãi sống dưới sự thống trị của hoàn cảnh.

Học trò:

Vậy sức mạnh cao nhất không phải là chịu được nhiều?

Người thầy:

Không.

Học trò:

Mà là gì?

Người thầy:

Là sau mỗi lần vượt qua một thử thách, con người làm cho thử thách ấy khó có thể đánh bại mình lần thứ hai.

15. ĐẠI DỤ NGÔN: CÂY TRE VÀ DÒNG NƯỚC

Có một cây tre mọc bên bờ sông.

Mỗi mùa nước lớn, dòng sông lại dâng lên.

Gió thổi. Mưa đến. Đất rung chuyển. Cây tre cong xuống.

Nước rút, nó lại đứng lên.

Một ngày nọ, cây cổ thụ bên bờ sông hỏi:

— Vì sao ngươi không chống lại dòng nước?

Tre đáp:

— Vì ta biết có những thứ mạnh hơn ta.

Cây cổ thụ nói:

— Vậy ngươi yếu hơn ta sao?

Tre không trả lời.

Mùa bão năm ấy đến.

Cây cổ thụ bị quật ngã.

Cây tre vẫn còn đó.

Nhưng sau nhiều năm, một điều khác xảy ra.

Người dân chặt tre làm cầu.

Làm nhà.

Làm thuyền.

Làm dụng cụ.

Làm nhạc cụ.

Cây tre nhận ra:

Sống sót chỉ là một phần của thích nghi.

Giá trị lớn hơn là:

biến khả năng tồn tại thành khả năng phục vụ đời sống.

Con người cũng vậy.

Một dân tộc không nên tự hào mãi rằng mình “chịu được”.

Điều đáng tự hào hơn là:

từ những gì mình đã chịu đựng, mình tạo ra được điều gì cho tương lai.

16. QUY LUẬT THÍCH NGHI – KIẾN TẠO

Từ toàn bộ phân tích trên, có thể rút ra một quy luật:

QUY LUẬT THÍCH NGHI – KIẾN TẠO

Một cộng đồng chỉ biến khả năng thích nghi thành sức mạnh lâu dài khi biết chuyển thách thức thành kinh nghiệm, kinh nghiệm thành tri thức, tri thức thành kỹ thuật, kỹ thuật thành tổ chức và tổ chức thành năng lực kiến tạo tương lai.

Quy luật này có thể viết thành một chuỗi:

THÁCH THỨC → THÍCH NGHI → KINH NGHIỆM → TRI THỨC → KỸ THUẬT → TỔ CHỨC → KIẾN TẠO.

Nếu chuỗi dừng ở “thích nghi”, xã hội chỉ tồn tại.

Nếu chuỗi đi đến “tri thức”, xã hội bắt đầu học.

Nếu đi đến “kỹ thuật”, xã hội bắt đầu làm chủ.

Nếu đi đến “tổ chức”, xã hội tạo ra sức mạnh tập thể.

Nếu đi đến “kiến tạo”, xã hội bắt đầu làm chủ tương lai.

17. CÔNG THỨC TRIẾT LÝ CỦA CHƯƠNG

Có thể cô đọng toàn bộ chương bằng công thức:

THÍCH NGHI = HOÀN CẢNH × KINH NGHIỆM × TRÍ TUỆ × HỢP TÁC

Nhưng đối với một quốc gia hiện đại, công thức phải được mở rộng:

NĂNG LỰC THÍCH NGHI QUỐC GIA = CON NGƯỜI × TRI THỨC × THỂ CHẾ × CÔNG NGHỆ × KHẢ NĂNG HỌC HỎI

Không có con người, công nghệ không có chủ thể.

Không có tri thức, kinh nghiệm không được nâng lên.

Không có thể chế, sáng kiến cá nhân khó biến thành sức mạnh xã hội.

Không có công nghệ, nhiều ý tưởng không thể mở rộng.

Không có khả năng học hỏi, mọi thành công đều có thể trở thành thành công nhất thời.

18. TỪ “BIẾT XOAY XỞ” ĐẾN “BIẾT KIẾN TẠO”

Có lẽ đây là bước chuyển mà người Việt cần suy nghĩ sâu hơn trong thế kỷ XXI.

Trong một thời gian dài, khả năng xoay xở là một phẩm chất đáng quý.

Nhưng một nền kinh tế hiện đại không thể dựa mãi vào xoay xở.

Một nền giáo dục hiện đại không thể dựa vào việc học sinh tự xoay xở.

Một nền quản trị hiện đại không thể bắt người dân tự tìm đường trong những thủ tục phức tạp.

Một quốc gia hiện đại không thể chỉ dựa vào khả năng người dân chịu khó.

Thế giới ngày càng đòi hỏi tư duy hệ thống, khoa học, công nghệ, thể chế, sáng tạo và khả năng dự báo.

Vì vậy, sức mạnh thích nghi của người Việt cần chuyển từ xoay xở → học hỏi → chuyên nghiệp hóa → tổ chức hóa → sáng tạo hóa → kiến tạo.

Đó mới là sự trưởng thành của thích nghi.

19. THÍCH NGHI VỚI TƯƠNG LAI

Thích nghi trong thế kỷ XXI còn khó hơn thích nghi với những biến động của quá khứ.

Bởi tốc độ thay đổi ngày càng nhanh.

Khí hậu thay đổi. Công nghệ thay đổi. Trí tuệ nhân tạo thay đổi phương thức lao động. Kinh tế thay đổi. Dân số thay đổi. Các thành phố thay đổi. Các mô hình giáo dục thay đổi.

Những nghề nghiệp hôm nay có thể biến mất hoặc biến dạng trong tương lai.

Trong hoàn cảnh ấy, thích nghi không thể chỉ là “học cái mới khi cái cũ đã lỗi thời.”

Cần tiến đến: học cách học.

Đây là cấp độ cao nhất của thích nghi.

Một người biết một kỹ năng có thể thích nghi với một biến động.

Một người biết học có thể thích nghi với nhiều biến động.

Một xã hội biết học có thể thích nghi với cả một thời đại.

Vì thế, tương lai của Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào lượng tri thức đang có.

Nó phụ thuộc vào khả năng tạo ra, tiếp nhận, kiểm chứng, truyền bá và ứng dụng tri thức mới.

20. KẾT LUẬN: THÍCH NGHI ĐỂ KHÔNG BỊ CUỐN TRÔI

Con người Việt Nam được hình thành trong một không gian nhiều biến động:

Đất và nước. Sông và biển. Lũ và hạn. Đồng bằng và núi rừng. Chiến tranh và hòa bình. Di cư và định cư. Giao thương và giao lưu. Truyền thống và hiện đại.

Đông và Tây.

Những hoàn cảnh ấy không tự động tạo nên một “tính cách Việt Nam” cố định.

Nhưng chúng tạo ra những bài toán.

Và trong quá trình giải những bài toán ấy, con người Việt đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thích nghi.

Điều đáng suy nghĩ không phải là:

“Người Việt có thích nghi tốt hay không?”, mà là “Người Việt đã biến khả năng thích nghi thành sức mạnh kiến tạo đến đâu?”

Đó mới là câu hỏi của tương lai. Một dân tộc chỉ thích nghi thì có thể tồn tại, biết học từ thích nghi thì có thể phát triển, biết biến kinh nghiệm thành tri thức, tri thức thành tổ chức và tổ chức thành sáng tạo thì có thể tự tạo ra tương lai của mình.

Vì thế, thích nghi không phải đích đến.

Nó là cây cầu.

Cây cầu nối sinh tồn với phát triển, quá khứ với tương lai, kinh nghiệm với tri thức, con người với cộng đồng, cội nguồn với hội tụ.

Và từ đây xuất hiện bước chuyển tiếp tự nhiên của triết lý Việt: Đất tạo nền – Nước tạo dòng. Thích nghi tạo sức.

Hội tụ tạo vốn. Việt hóa tạo mình. Sáng tạo tạo tương lai.

Nếu Chương VI hỏi:

“Người Việt đã học cách sống thế nào trong một thế giới luôn biến đổi?”

thì Chương VII sẽ đặt câu hỏi tiếp theo:

“Khi những dòng người, tư tưởng và văn hóa gặp nhau, điều gì khiến một nền văn hóa không bị hòa tan mà có thể trở nên giàu có hơn?”

Đó là câu hỏi về HỘI TỤ.

TÓM LƯỢC TRIẾT LÝ CHƯƠNG VI

1. Đất tạo nền – Nước tạo dòng.

2. Hoàn cảnh tạo ra thách thức, nhưng con người quyết định cách đáp lại.

3. Thích nghi khác với cam chịu.

4. Thích nghi sinh tồn chưa phải thích nghi kiến tạo.

5. Kinh nghiệm chỉ trở thành sức mạnh lâu dài khi được chuyển hóa thành tri thức, kỹ thuật và tổ chức.

6. Vùng đất mới không chỉ được con người biến đổi; nó cũng biến đổi chính con người.

7. Tiếp nhận văn hóa không đồng nghĩa với bắt chước.

8. Thích nghi có mặt sáng và mặt tối: linh hoạt có thể trở thành tùy tiện, xoay xở có thể thay thế cải cách.

9. Một quốc gia mạnh không phải vì người dân chịu được nhiều, mà vì hệ thống biết học và tự sửa sai.

10. Thích nghi là tiền đề của hội tụ; hội tụ mở đường cho Việt hóa và sáng tạo.

Công thức cuối chương

THÁCH THỨC → THÍCH NGHI → KINH NGHIỆM → TRI THỨC → KỸ THUẬT → TỔ CHỨC → KIẾN TẠO

Và trong dòng chảy lớn của TRIẾT LÝ VIỆT – TRIẾT LÝ ĐẤT NƯỚC:

ĐẤT TẠO NỀN → NƯỚC TẠO DÒNG → THÍCH NGHI TẠO SỨC → HỘI TỤ TẠO VỐN → NGHỊCH LÝ TẠO ĐỘNG LỰC → SÁNG TẠO TẠO TƯƠNG LAI.

Hoàng Phong Nhã 

CHƯƠNG 9 - LÊ DUẨN VÀ HOÀNG VĂN HOAN: HAI CÁCH NHÌN VỀ LỢI ÍCH QUỐC GIA

CHƯƠNG 9

LÊ DUẨN VÀ HOÀNG VĂN HOAN: HAI CÁCH NHÌN VỀ LỢI ÍCH QUỐC GIA

Khi hai người cùng nói về độc lập nhưng không còn nhìn cùng một hướng

Có một cách rất dễ để kể câu chuyện Hoàng Văn Hoan.

Lê Duẩn nghiêng về Liên Xô. Hoàng Văn Hoan nghiêng về Trung Quốc. Hai người mâu thuẫn. Lê Duẩn thắng. Hoàng Văn Hoan thất thế rồi đào thoát sang Trung Quốc.

Cách nói có ưu điểm là đơn giản, nhưng lịch sử hiếm khi đơn giản như vậy.

Năm 1975, khi quan hệ Việt–Trung bắt đầu xuất hiện những bất đồng nghiêm trọng, Lê Duẩn chưa hề công khai đặt Việt Nam vào một lựa chọn kiểu “Trung Quốc hoặc Liên Xô”. Trong phát biểu của ông tại Hội nghị Trung ương năm 1976, ông vừa ghi nhận sự giúp đỡ to lớn của cả Liên Xô và Trung Quốc, vừa nhấn mạnh rằng mỗi nước có lợi ích riêng và Việt Nam phải độc lập, tự chủ.

Đó là một điểm rất quan trọng.

Bởi nếu chính Lê Duẩn cũng nói đến độc lập, tự chủ, thì câu hỏi không thể chỉ là: Ai thân Trung Quốc, ai thân Liên Xô?

Câu hỏi phải sâu hơn: Độc lập, tự chủ được mỗi người hiểu như thế nào?, và khi lợi ích của Việt Nam va chạm với lợi ích của những nước từng giúp đỡ mình, họ sẽ đặt giới hạn ở đâu? Đó mới là nơi Lê Duẩn và Hoàng Văn Hoan bắt đầu đi vào hai con đường khác nhau.

I. Hai người không bắt đầu từ hai thế giới khác nhau

Lê Duẩn và Hoàng Văn Hoan đều là những người cộng sản Việt Nam thuộc thế hệ đầu. Cả hai đều trải qua thời kỳ cách mạng hoạt động trong điều kiện Việt Nam chưa có một nhà nước độc lập và đều trưởng thành trong một phong trào mà sự giúp đỡ quốc tế là một phần không thể tách rời của cuộc đấu tranh.

Cả hai đều hiểu một sự thật mà người nghiên cứu ngày nay đôi khi dễ quên: Việt Nam không thể tiến hành cuộc cách mạng thế kỷ XX hoàn toàn tách khỏi môi trường quốc tế. Trung Quốc, Liên Xô và các phong trào cộng sản quốc tế từng là những nguồn hỗ trợ quan trọng.

Vì vậy, sự khác biệt sau này không nằm ở chỗ một người cần quan hệ quốc tế, còn một người không cần. Cả hai đều cần.

Khác biệt nằm ở câu hỏi Quan hệ quốc tế được sử dụng như thế nào để bảo vệ lợi ích Việt Nam? Đây là ranh giới giữa liên minh và lệ thuộc. Giữa hợp tác và phụ thuộc. Giữa tham khảo một cường quốc và nhìn thế giới qua lăng kính của cường quốc ấy.

II. Lê Duẩn: độc lập trước hết là quyền tự quyết của Việt Nam

Tư liệu về cuộc hội đàm giữa Lê Duẩn và lãnh đạo Liên Xô tháng 10 năm 1975 cho thấy ông quan tâm rất rõ đến vị trí của Việt Nam giữa các nước lớn.

Ông nói về Trung Quốc, Liên Xô, Hoa Kỳ, Đông Nam Á và vấn đề Campuchia trong cùng một bức tranh chiến lược. Biên bản hội đàm này đặc biệt quan trọng bởi nó cho thấy cách Lê Duẩn nhìn Việt Nam trong những tháng đầu sau thống nhất, thay vì chỉ dựa vào những tuyên bố về sau.

Điều đáng chú ý là trong nhận thức của Lê Duẩn, sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa không xóa bỏ lợi ích riêng của Việt Nam.

Trong một phát biểu được dẫn lại từ Hội nghị Trung ương năm 1976, ông thừa nhận Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn của cả Liên Xô và Trung Quốc.

Nhưng ngay sau đó ông nhấn mạnh mỗi nước có lập trường riêng vì vị trí và quyền lợi riêng. Đây không phải lời nói của một người cho rằng Việt Nam có thể sống không cần đồng minh.

Nó thể hiện một cách hiểu khác đồng minh có thể giúp ta, nhưng đồng minh không thể thay ta quyết định lợi ích của ta. Đây là một điểm mà khi đánh giá Lê Duẩn cần ghi nhận đầy đủ.

Sau này, khi quan hệ Việt–Xô trở nên đặc biệt chặt chẽ, người ta có thể đặt câu hỏi về mức độ lệ thuộc của Việt Nam vào Liên Xô.

Nhưng không nên lấy kết quả của năm 1978–1979 để xóa đi những tính toán của năm 1975.

III. Nhưng độc lập của Lê Duẩn không có nghĩa là trung lập giữa mọi cường quốc

Đây mới là phần khó.

Một quốc gia có thể nói “độc lập, tự chủ” nhưng trong thực tế vẫn phải lựa chọn đối tác.

Sau 1975, Việt Nam đối mặt với một môi trường an ninh ngày càng bất lợi. Quan hệ với Trung Quốc xấu đi. Khmer Đỏ trở thành đối thủ quân sự. Hoa Kỳ tiếp tục không bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.

Trong khi đó, Liên Xô sẵn sàng cung cấp nguồn lực kinh tế và quân sự lớn hơn.

Nghiên cứu của Nicholas Khoo về sự chấm dứt liên minh Trung–Việt cho thấy ngay trong chuyến thăm Trung Quốc của Lê Duẩn tháng 9 năm 1975, hai bên đã bộc lộ những khác biệt đáng kể, đặc biệt về Liên Xô và vấn đề khu vực. Sau chuyến thăm ấy, Liên Xô lại đưa ra những cam kết viện trợ đáng kể cho Việt Nam.

Như vậy, sự gần gũi Việt–Xô không thể được giải thích chỉ bằng một ý chí cá nhân của Lê Duẩn. Nó cũng là kết quả của một môi trường chiến lược đang thay đổi.

Nhưng ở đây xuất hiện một vấn đề khác:

Khi một quốc gia ngày càng dựa vào một cường quốc vì lý do an ninh, chính sự dựa vào đó lại có thể khiến cường quốc đối thủ cảm thấy bị bao vây.

Đây là vòng xoáy an ninh.

Việt Nam thấy Trung Quốc nguy hiểm hơn → gần Liên Xô hơn.

Trung Quốc thấy Việt Nam gần Liên Xô hơn → coi Việt Nam nguy hiểm hơn.

Trung Quốc tăng sức ép → Việt Nam càng cần Liên Xô.

Và vòng xoáy tiếp tục.

Trong hoàn cảnh ấy, “độc lập, tự chủ” trở thành một mục tiêu khó thực hiện hơn rất nhiều so với khi quan hệ các nước còn ổn định.

IV. Hoàng Văn Hoan: độc lập nhưng không muốn cắt đứt Trung Quốc

Nếu Lê Duẩn ngày càng nhìn Trung Quốc qua vấn đề an ninh chiến lược, thì Hoàng Văn Hoan có một điểm xuất phát khác.

Ông có lịch sử quan hệ với Trung Quốc dài hơn nhiều so với một nhiệm kỳ ngoại giao. Từ những năm 1920, Trung Quốc đã là một phần quan trọng trong quá trình hoạt động cách mạng của ông.

Sau đó ông làm việc lâu năm tại Trung Quốc. Ông từng là đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh. Ông có quan hệ với nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc. Vì vậy, đối với Hoàng Văn Hoan, Trung Quốc không chỉ là một cường quốc ở phía bắc. Nó còn là một phần trong lịch sử hình thành của chính phong trào cộng sản Việt Nam.

Đây là khác biệt về trải nghiệm lịch sử.

Lê Duẩn từng hoạt động lâu năm ở Nam Bộ và trực tiếp trải nghiệm những cuộc đấu tranh tại miền Nam. Hoàng Văn Hoan lại có một phần lớn cuộc đời chính trị gắn với Trung Quốc và công tác đối ngoại.

Không thể nói một trải nghiệm “đúng” và trải nghiệm kia “sai”. Nhưng hai trải nghiệm khác nhau có thể tạo ra hai cách đọc cùng một sự kiện.

V. Hoàng Văn Hoan nhìn Trung Quốc qua ký ức của một đồng minh

Có một điều rất đáng chú ý trong trường hợp Hoàng Văn Hoan. Ông từng biết Trung Quốc trong thời kỳ Trung Quốc giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Ông từng biết các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong những năm hai nước hợp tác.

Vì thế, khi quan hệ hai nước bắt đầu xấu đi, ông có thể nhìn thấy một Trung Quốc khác với hình ảnh mà một số lãnh đạo Việt Nam ngày càng nhìn thấy. Đây là một giả thuyết có cơ sở để nghiên cứu, nhưng chưa nên biến thành kết luận về động cơ của ông.

Hoàng Văn Hoan có thể tin rằng:

Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa có lợi ích chung căn bản với Việt Nam.

Trong khi đó, Lê Duẩn ngày càng có lý do để tin rằng lợi ích của Trung Quốc và Việt Nam có thể xung đột trực tiếp.

Hai cách nhìn ấy có thể cùng tồn tại trong một thời gian.

Cho đến khi thực tế buộc một người phải lựa chọn.

VI. Năm 1975: chính Lê Duẩn còn cố giữ cả hai cánh cửa

Đây là một bằng chứng rất đáng chú ý chống lại cách giải thích quá đơn giản về Lê Duẩn.

Tháng 9 năm 1975, Lê Duẩn sang Trung Quốc.

Theo nghiên cứu của Nicholas Khoo, mục tiêu của phía Việt Nam là cải thiện quan hệ và bảo đảm với Bắc Kinh rằng quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô vẫn có thể cùng tồn tại. Nhưng chuyến thăm không đạt được kết quả mong muốn; hai bên không ra thông cáo chung, và Lê Duẩn rời Trung Quốc sớm hơn dự kiến.

Các biên bản được công bố về cuộc gặp Lê Duẩn – Đặng Tiểu Bình ngày 29 tháng 9 năm 1975 cũng cho thấy hai bên đã trực tiếp nói về những vấn đề trong quan hệ song phương và những khác biệt liên quan đến Liên Xô.

Điều này rất quan trọng.

Nếu Lê Duẩn đã quyết định từ năm 1975 rằng Việt Nam phải trở thành “vệ tinh Liên Xô”, thì việc ông sang Bắc Kinh tìm cách duy trì quan hệ với Trung Quốc sẽ rất khó giải thích.

Cách giải thích hợp lý hơn là Lê Duẩn muốn giữ quan hệ với Trung Quốc, nhưng muốn giữ theo những điều kiện mà Hà Nội cho là phù hợp với lợi ích của mình. Vấn đề là Bắc Kinh cũng có điều kiện của mình. Và hai hệ lợi ích ngày càng khó dung hòa.

VII. Vậy Hoàng Văn Hoan khác Lê Duẩn ở đâu?

Không phải ở chỗ Hoan yêu Trung Quốc, Lê Duẩn yêu Liên Xô. Sự khác biệt có thể nằm ở thứ tự ưu tiên. Với Lê Duẩn , Ưu tiên hàng đầu là khả năng tự quyết của Việt Nam trong một môi trường mà ông ngày càng nhìn thấy những nguy cơ an ninh trực tiếp.

Nếu Trung Quốc gây sức ép ở biên giới và hỗ trợ Khmer Đỏ, thì quan hệ với Liên Xô có thể trở thành một phương tiện để cân bằng sức ép đó.

Với Hoàng Văn Hoan, Trung Quốc có thể vẫn được nhìn như một đối tác chiến lược có thể duy trì quan hệ lâu dài, bất chấp bất đồng.

Nếu đúng như vậy, thì ông có thể coi việc Việt Nam ngày càng gắn với Liên Xô là một bước đi nguy hiểm. Nhưng đây mới là mô hình giải thích, chưa phải kết luận cuối cùng. Muốn biến nó thành kết luận, phải tìm những phát biểu của Hoàng Văn Hoan trước năm 1979.

Đặc biệt là ông nói gì trong những năm 1975–1978; có phản đối chính sách với Trung Quốc hay không; có phản đối quan hệ với Liên Xô hay không; nhìn Campuchia như thế nào; nhìn vấn đề người Hoa ra sao; và ông có đưa những quan điểm ấy vào các cơ quan lãnh đạo hay không.

VIII. Một điểm rất quan trọng: Hoàng Văn Hoan không chỉ là “người thân Trung Quốc”

Nếu chỉ đọc những lời ông nói sau khi sang Bắc Kinh năm 1979, người ta rất dễ quay ngược lại để giải thích cả quá khứ.

Nhưng đó là phương pháp nguy hiểm.

Sau khi đào thoát, Hoàng Văn Hoan trở thành một nhân vật chính trị sống trong môi trường Trung Quốc. Ông công khai chỉ trích đường lối của Lê Duẩn và bảo vệ quan điểm của Bắc Kinh về nhiều vấn đề.

Trong một cuộc phỏng vấn được Peking Review đăng tháng 11 năm 1979, ông công khai phản đối chính sách mà ông gọi là “anti-China policy” của Lê Duẩn và yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Đó là bằng chứng về quan điểm của Hoàng Văn Hoan sau khi đào thoát.

Nhưng nó không tự động chứng minh rằng ông đã có chính quan điểm ấy ở năm 1975.

Muốn làm điều đó phải có chứng cứ độc lập.

Đây là nguyên tắc rất quan trọng của cuốn sách:

Không dùng lời nói năm 1979 để làm bằng chứng duy nhất cho suy nghĩ năm 1975.

Một người có thể thay đổi.

Một người cũng có thể hồi tưởng lại quá khứ theo cách có lợi cho lập luận hiện tại.

Hồi ký là nguồn tư liệu quý.

Nhưng hồi ký không phải bản án lịch sử.

IX. Còn Lê Duẩn? Có phải ông thực sự “chống Trung Quốc”?

Cũng phải đặt câu hỏi ngược lại.

Lê Duẩn có những bất đồng ngày càng gay gắt với Bắc Kinh. Nhưng gọi ông là “chống Trung Quốc” cũng chưa đủ. Bởi chính ông từng thừa nhận sự giúp đỡ lớn lao của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam. Ông không phủ nhận lịch sử hợp tác ấy. Điều thay đổi là đánh giá về lợi ích hiện tại.

Đây là sự khác biệt giữa biết ơn một đồng minh trong quá khứ và trao cho đồng minh ấy quyền định nghĩa lợi ích hiện tại của mình.

Theo những phát biểu được ghi lại, Lê Duẩn cho rằng Việt Nam phải biết ơn các nước đã giúp mình nhưng đồng thời phải giữ độc lập, tự chủ.

Cho nên, nếu phê phán Lê Duẩn, điểm cần nghiên cứu không phải là ông có muốn Việt Nam độc lập hay không.

Câu hỏi khó hơn là: Trong quá trình thực hiện mục tiêu độc lập ấy, ông đã lựa chọn Liên Xô đến mức nào và sự lựa chọn đó tạo ra những giới hạn mới nào cho Việt Nam? Đó là câu hỏi lịch sử thực sự.

X. Một nghịch lý: chống lệ thuộc Trung Quốc có thể tạo ra lệ thuộc Liên Xô

Đây là vấn đề không thể bỏ qua.

Nếu Việt Nam xích lại gần Liên Xô để chống sức ép từ Trung Quốc, thì về mặt chiến lược đó có thể là một quyết định có lý do. Nhưng mọi liên minh đều có chi phí.

Việt Nam cần viện trợ; vũ khí; nhiên liệu; tín dụng; thị trường; hỗ trợ ngoại giao. Liên Xô có khả năng cung cấp những thứ đó ở quy mô lớn. Đổi lại, Việt Nam ngày càng gắn với hệ thống kinh tế và chiến lược của Liên Xô.

Nghiên cứu của Kosal Path cho thấy Trung Quốc sử dụng các biện pháp kinh tế đối với Việt Nam trong giai đoạn 1975–1978 một phần trong bối cảnh Hà Nội ngày càng gần Moskva. Một nghiên cứu năm 2025 của Vũ Hùng Phi cũng lập luận rằng yếu tố Trung Quốc là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự gắn kết Việt–Xô trong giai đoạn này.

Nhưng từ đó không thể kết luận rằng Liên Xô “điều khiển” Việt Nam. Đó lại là một sự đơn giản hóa. Đúng hơn, phải nhìn thấy một quan hệ trao đổi:

Việt Nam cần Liên Xô để tăng khả năng đối phó với môi trường an ninh. Liên Xô cần Việt Nam như một đối tác quan trọng ở Đông Nam Á. Hai bên có lợi ích chung. Nhưng lợi ích chung không có nghĩa lợi ích hoàn toàn giống nhau.

XI. Campuchia làm khoảng cách giữa hai cách nhìn trở nên không thể che giấu

Đến vấn đề Campuchia, sự khác biệt trở nên đặc biệt rõ. Hà Nội nhìn Khmer Đỏ như một mối đe dọa trực tiếp. Bắc Kinh nhìn Campuchia như một quốc gia mà Việt Nam không được phép biến thành vùng ảnh hưởng của mình.

Liên Xô đứng gần Việt Nam hơn. Trung Quốc đứng gần Khmer Đỏ hơn.

Vì vậy, vấn đề Campuchia không còn chỉ là một tranh chấp biên giới. Nó trở thành phép thử đối với toàn bộ chiến lược của Việt Nam.

Nếu Lê Duẩn cho rằng Việt Nam phải đánh Khmer Đỏ để bảo vệ an ninh quốc gia, thì việc Trung Quốc hỗ trợ Phnom Penh càng khiến ông nhìn Bắc Kinh như một nguồn đe dọa.

Nếu Hoàng Văn Hoan cho rằng xung đột có thể được giải quyết bằng một phương án khác, hoặc việc đưa quân vào Campuchia sẽ tạo ra một cuộc đối đầu rộng hơn với Trung Quốc, thì quan điểm ấy sẽ ngày càng đối lập với đường lối của Hà Nội.

Đến đây, “thân Trung Quốc” không còn là vấn đề tình cảm. Nó trở thành câu hỏi về đánh giá chiến lược.

XII. Nhưng ai có quyền quyết định?

Đây là điểm cần phân biệt rõ nhất giữa Lê Duẩn và Hoàng Văn Hoan.

Lê Duẩn là Tổng Bí thư. Ông ở trung tâm của quá trình hoạch định đường lối.

Hoàng Văn Hoan sau Đại hội IV năm 1976 không còn trong Bộ Chính trị và Trung ương. Vì vậy, hai người không đứng ở cùng một vị trí khi đưa ra quan điểm.

Đây là vấn đề về thẩm quyền chính trị. Một người có thể có quan điểm. Một người khác có khả năng biến quan điểm thành chính sách.

Cho nên không thể chỉ hỏi: Ai hiểu Trung Quốc hơn?

Phải hỏi:

Ai có quyền quyết định?

Và tiếp đó:

Cơ chế nào cho phép một quan điểm khác được tranh luận trong hệ thống?

Đây là nơi câu chuyện Hoàng Văn Hoan chạm tới một vấn đề rộng hơn về quyền lực.

Nếu một hệ thống có nhiều người có kinh nghiệm khác nhau nhưng cuối cùng chỉ một nhóm nhỏ quyết định, thì chất lượng chính sách phụ thuộc rất lớn vào khả năng những ý kiến trái chiều được đưa vào quá trình quyết định.

XIII. Đặt lại vấn đề: Hoàng Văn Hoan có thực sự “sai” về Trung Quốc?

Câu hỏi này chưa nên trả lời vội.

Có những điều Hoàng Văn Hoan có thể đã nhìn thấy đúng. Ông hiểu Trung Quốc rất sâu. Ông hiểu rằng không thể xử lý quan hệ với Bắc Kinh chỉ bằng đối đầu. Ông có lý khi cho rằng lịch sử quan hệ hai nước không thể bị xóa bỏ chỉ vì bất đồng chính trị.

Nhưng cũng có những điều có thể ông nhìn chưa đầy đủ.

Một quốc gia có thể vừa là đồng chí, vừa là đối tác, vừa là đối thủ. Trung Quốc của những năm 1950 không nhất thiết là Trung Quốc của những năm 1970.

Và kinh nghiệm cá nhân với một thế hệ lãnh đạo Trung Quốc không bảo đảm rằng người ta hiểu đầy đủ lợi ích chiến lược của Trung Quốc trong một thời kỳ mới. Đó chính là mặt trái của kinh nghiệm.

Kinh nghiệm có thể tạo ra hiểu biết sâu sắc, nhưng cũng có thể tạo ra quán tính nhận thức.

Một người từng biết rất rõ một đồng minh có thể khó chấp nhận rằng đồng minh ấy đã trở thành đối thủ.

XIV. Vấn nạn Hưng Quốc: lợi ích quốc gia có phải là một thứ bất biến?

Đây là câu hỏi lớn nhất mà hai nhân vật đặt ra. Lợi ích quốc gia không phải một khẩu hiệu bất biến. Nó phải được xác định trong từng hoàn cảnh.

Năm 1950, lợi ích của Việt Nam có thể đòi hỏi quan hệ đặc biệt với Trung Quốc.

Năm 1965, viện trợ Liên Xô có thể trở nên đặc biệt quan trọng.

Năm 1975, Việt Nam cần tái thiết và muốn duy trì quan hệ với cả Bắc Kinh lẫn Moskva.

Năm 1978, môi trường an ninh đã thay đổi.

Một chính sách từng đúng trong hoàn cảnh này có thể trở thành bất lợi trong hoàn cảnh khác.

Vì vậy, Hưng Quốc không thể chỉ hỏi:

“Theo Trung Quốc hay theo Liên Xô?”

Mà phải hỏi:

“Trong hoàn cảnh cụ thể này, lợi ích cốt lõi của Việt Nam là gì, và Việt Nam có đủ năng lực để theo đuổi lợi ích ấy mà không biến mình thành phụ thuộc vào bất kỳ cường quốc nào hay không?”

Đó mới là bài toán độc lập chiến lược.

XV. Một cuộc đối thoại giả định

Nếu đặt hai người trước cùng một câu hỏi:

“Việt Nam phải làm gì khi Trung Quốc và Liên Xô đều muốn Việt Nam đứng gần mình?”

Hoàng Văn Hoan có thể sẽ nhấn mạnh rằng Việt Nam không nên để quan hệ với Liên Xô phá hỏng quan hệ truyền thống với Trung Quốc.

Lê Duẩn có thể sẽ nhấn mạnh rằng không một nước nào, kể cả Trung Quốc, có thể quyết định thay Việt Nam.

Điểm thú vị là cả hai đều có thể nói đến độc lập. Nhưng họ có thể hiểu khác nhau về con đường để đạt tới độc lập. Đây mới là xung đột thật sự.

Không phải xung đột giữa “yêu nước” và “không yêu nước”.

Mà là xung đột giữa hai cách đánh giá nguy cơ, hai kinh nghiệm lịch sử và hai cách sử dụng quan hệ với các cường quốc.

XVI. Kết luận chương

Lê Duẩn và Hoàng Văn Hoan không phải hai nhân vật được sinh ra để trở thành đối thủ. Họ từng ở trong cùng một phong trào. Từng phục vụ cùng một nhà nước và chia sẻ cùng một mục tiêu lớn là xây dựng một nước Việt Nam độc lập theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Nhưng sau 1975, hoàn cảnh thay đổi.

Lê Duẩn ngày càng nhìn vấn đề Trung Quốc qua lăng kính an ninh và cân bằng quyền lực.

Hoàng Văn Hoan, với lịch sử đặc biệt của mình, vẫn giữ một vốn kinh nghiệm và quan hệ với Trung Quốc mà ông cho là có giá trị đối với Việt Nam.

Hai cách nhìn ấy không nhất thiết ban đầu đã loại trừ nhau. Nhưng khi quan hệ Việt–Trung xấu đi, không gian cho sự khác biệt ngày càng thu hẹp.

Đến năm 1976, Hoàng Văn Hoan không còn trong Bộ Chính trị và Trung ương.

Đến năm 1978, Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô, trong khi xung đột với Khmer Đỏ và căng thẳng với Trung Quốc tăng mạnh.

Đến năm 1979, Hoàng Văn Hoan đào thoát sang Trung Quốc.

Nhưng giữa những mốc ấy còn một câu hỏi chưa được giải quyết Hoàng Văn Hoan chỉ bất đồng về đường lối, hay ông đã trở thành một đối tượng mà hệ thống quyền lực Việt Nam xem là nguy cơ?

Và nếu ông thực sự bị xem là nguy cơ, thì nguy cơ ấy xuất phát từ quan điểm chính trị của ông, quan hệ của ông với Bắc Kinh, hay từ cả hai?

Muốn trả lời, chúng ta phải bước vào năm 1979.

Không phải bắt đầu bằng cuộc đào thoát, mà bắt đầu bằng cuộc chiến biên giới Việt–Trung và cuộc khủng hoảng chính trị đã đẩy Hoàng Văn Hoan đến điểm không còn đường lùi.

Hoàng Phong Nhã 

Tài liệu tham khảo chương 9

Nicholas Khoo, “Revisiting the Termination of the Sino–Vietnamese Alliance, 1975–1979,” European Journal of East Asian Studies, Vol. 9, No. 2, 2010. Nghiên cứu quan trọng về quá trình liên minh Trung–Việt tan rã và các mốc năm 1975–1979.

Biên bản hội đàm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Liên Xô, 27–31/10/1975, tư liệu về cách Lê Duẩn nhìn quan hệ Việt Nam–Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Campuchia ngay sau thống nhất.

Biên bản cuộc trò chuyện Đặng Tiểu Bình – Lê Duẩn, Bắc Kinh, 29/9/1975, tư liệu quan trọng về những bất đồng Việt–Trung ngay trong năm đầu sau chiến tranh.

U.S. Department of State, Foreign Relations of the United States, 1977–1980, Vol. XIII, các tài liệu về quan hệ Trung Quốc–Việt Nam, trong đó có tài liệu ghi nhận cách Bắc Kinh nhìn Lê Duẩn và Hoàng Văn Hoan năm 1979.

U.S. Department of State, Foreign Relations of the United States, 1977–1980, Vol. XXII, tài liệu về Việt Nam, Campuchia, Trung Quốc và Liên Xô trong giai đoạn 1977–1980.

Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả — nguồn hồi ký tự thuật quan trọng, cần đối chiếu với tư liệu độc lập, nhất là khi ông mô tả những xung đột nội bộ sau 1975.

Hoàng Văn Hoan, các tuyên bố và phỏng vấn sau khi sang Trung Quốc năm 1979, trong đó có cuộc phỏng vấn được Peking Review đăng tháng 11/1979. Đây là chứng cứ trực tiếp về quan điểm của ông sau đào thoát, không nên tự động dùng như chứng cứ về quan điểm của ông ở những năm trước đó.

Vũ Hùng Phi, “The Role of China in Vietnam–Soviet Relations (1975–1979),” Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, Vol. 22, No. 4, 2025. Dùng để tham khảo cách giải thích vai trò của yếu tố Trung Quốc trong sự xích lại gần Việt–Xô.

Mạch tiếp theo đã rõ: Chương 10 không nên nhảy ngay vào kể diễn biến quân sự. Nó nên mở bằng “Chiến tranh biên giới Việt–Trung: chiến tranh giữa hai nước hay điểm nổ của cuộc cạnh tranh Trung–Xô tại Đông Dương?”, rồi mới đi vào quyết định của Bắc Kinh, quyết định của Hà Nội, Campuchia, Liên Xô và vị trí của Hoàng Văn Hoan trong những ngày cuối trước khi ông đào thoát.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

CHƯƠNG 21 - VIỆT HIẾN 2050 - MẠNG LƯỚI DOANH NGHIỆP VIỆT TOÀN CẦU

 CHƯƠNG 21

MẠNG LƯỚI DOANH NGHIỆP VIỆT TOÀN CẦU

1. Từ cộng đồng người Việt đến cộng đồng có năng lực kinh tế

Một cộng đồng muốn tồn tại lâu dài không thể chỉ dựa vào ký ức, tình cảm và các hoạt động văn hóa.

Cộng đồng còn cần năng lực sản xuất; kinh doanh; đầu tư; công nghệ; quản trị; kết nối thị trường; tạo việc làm; tích lũy vốn.

Nếu không có năng lực kinh tế, cộng đồng dễ trở thành nơi nói nhiều về tương lai nhưng phụ thuộc vào nguồn lực của người khác để thực hiện tương lai ấy.

Vì vậy, một trong những mạng lưới quan trọng nhất của Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu phải là:

Mạng lưới Doanh nghiệp Việt Toàn cầu.

Nhưng cần hiểu đúng.

Đây không phải là một “liên minh doanh nghiệp Việt” để tạo độc quyền.

Cũng không phải một thị trường đóng kín trong đó:

người Việt chỉ mua của người Việt, bán cho người Việt và ưu tiên người Việt bất kể năng lực.

Mục tiêu phải cao hơn:

kết nối doanh nhân Việt với nhau để cùng bước vào thị trường của thế giới.

2. Doanh nghiệp là một năng lực cộng đồng

Doanh nghiệp trước hết là một chủ thể kinh tế.

Doanh nghiệp không tồn tại để “phục vụ cộng đồng” theo nghĩa phải hy sinh lợi ích hợp pháp của mình.

Doanh nghiệp tồn tại để tạo sản phẩm; cung cấp dịch vụ; giải quyết nhu cầu; tạo việc làm; tạo lợi nhuận; đầu tư; đổi mới; đóng thuế; chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Nhưng khi có hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam hoạt động ở nhiều quốc gia, giữa họ xuất hiện một nguồn lực mới:

mạng lưới doanh nghiệp.

Mạng lưới này có thể giúp tìm đối tác; tìm nhà cung cấp; tìm nhân tài; tìm thị trường; chia sẻ kinh nghiệm; chuyển giao công nghệ; kết nối vốn; hỗ trợ thế hệ doanh nhân trẻ.

Do đó:

Doanh nghiệp tạo giá trị cho thị trường; mạng lưới tạo thêm giá trị từ sự kết nối giữa các doanh nghiệp.

3. Không xây “thị trường Việt Nam đóng”

Đây là ranh giới chiến lược.

Nếu mạng lưới doanh nghiệp chỉ hướng tới:

“người Việt mua hàng của người Việt”,

thì nó có thể tạo ra một thị trường nội bộ nhưng khó tạo ra sức mạnh toàn cầu.

Mô hình cần hướng tới là:

NGƯỜI VIỆT LIÊN KẾT → ĐI VÀO THỊ TRƯỜNG SỞ TẠI → KẾT NỐI THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ → MỞ RỘNG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU.

Một doanh nghiệp Việt tại Đức không chỉ bán cho người Việt ở Đức.

Nó phải có khả năng bán cho: khách hàng Đức, châu Âu và toàn cầu.

Một doanh nghiệp Việt tại Mỹ không chỉ phục vụ cộng đồng Việt.

Nó phải có khả năng bước vào: thị trường Mỹ và thị trường quốc tế.

Một doanh nghiệp Việt tại Singapore không chỉ kết nối với người Việt.

Nó có thể dùng Singapore như: một cửa ngõ thương mại, tài chính và logistics của khu vực.

Vì vậy:

Người Việt liên kết với nhau để đi vào thị trường của thế giới, chứ không phải xây một thị trường Việt Nam đứng ngoài thế giới.

4. Doanh nghiệp Việt Toàn cầu là gì?

Có thể định nghĩa:

Mạng lưới Doanh nghiệp Việt Toàn cầu là hệ thống liên kết tự nguyện giữa các doanh nhân, doanh nghiệp, nhà đầu tư, chuyên gia và tổ chức hỗ trợ kinh doanh có mối liên hệ với Cộng đồng Việt Nam Toàn cầu, nhằm chia sẻ tri thức, kết nối thị trường, phát triển chuỗi cung ứng, huy động nguồn lực, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh trong phạm vi pháp luật áp dụng.

Định nghĩa này có một điểm quan trọng:

mạng lưới không thay thế doanh nghiệp.

Doanh nghiệp vẫn tự chịu trách nhiệm; tự ký hợp đồng; tự quản lý tài chính; tự chịu rủi ro; tự chịu trách nhiệm pháp lý.

Mạng lưới chỉ:

tạo thêm khả năng kết nối.

5. Ai thuộc mạng lưới?

Mạng lưới không chỉ dành cho chủ doanh nghiệp.

Có thể bao gồm:

Doanh nhân

Người sáng lập, chủ sở hữu hoặc nhà quản lý.

Doanh nghiệp

Từ startup đến tập đoàn.

Nhà đầu tư

Cá nhân, quỹ, tổ chức đầu tư hợp pháp.

Chuyên gia

luật; tài chính; kế toán; marketing; công nghệ; logistics; quản trị; nhân sự; sở hữu trí tuệ.

Người khởi nghiệp

Đặc biệt là thế hệ trẻ.

Nhà nghiên cứu

Những người tạo ra công nghệ hoặc tri thức có khả năng thương mại hóa.

Đối tác quốc tế

Những người không phải người Việt nhưng muốn hợp tác.

Điều này phản ánh nguyên tắc của Chương 20:

Mở cửa về năng lực.

6. Một doanh nhân Việt có thể có nhiều căn tính

Một người có thể đồng thời là người Việt; công dân Mỹ; doanh nhân Đức; nhà đầu tư Nhật; giáo sư Pháp; thành viên cộng đồng Việt;thành viên mạng lưới doanh nghiệp. Không có mâu thuẫn tất yếu giữa các căn tính đó.

Ngược lại, chính việc sống trong nhiều hệ thống có thể tạo ra:

lợi thế kết nối.

Một người hiểu:

Việt Nam + Nhật Bản

có thể tạo cầu nối khác với người chỉ hiểu một thị trường.

Một người hiểu:

Việt Nam + Hoa Kỳ + công nghệ

có thể tạo ra một chuỗi giá trị khác.

Vì vậy:

Đa căn tính có thể trở thành tài sản kinh tế nếu được kết nối đúng cách.

7. Mạng lưới phải bắt đầu từ lợi ích thực tế

Không thể thu hút doanh nghiệp bằng khẩu hiệu:

“Hãy đóng góp cho cộng đồng.”

Câu hỏi đầu tiên phải là:

“Mạng lưới giúp doanh nghiệp làm được điều gì mà doanh nghiệp khó làm một mình?”

Ví dụ: tìm khách hàng; tìm đối tác; tìm nhân tài; tìm vốn; tìm nhà cung cấp; tìm công nghệ; tìm thị trường mới; hiểu pháp luật và tiêu chuẩn; tìm chuyên gia; tìm cơ hội đầu tư.

Khi doanh nghiệp nhận được giá trị: họ có lý do để tham gia.

Khi doanh nghiệp thành công: họ có động lực đóng góp.

Đó chính là chu trình:

GIÁ TRỊ → THAM GIA → THÀNH CÔNG → ĐÓNG GÓP → MẠNG LƯỚI MẠNH HƠN → GIÁ TRỊ LỚN HƠN.

8. Doanh nghiệp không phải nhà tài trợ bắt buộc của cộng đồng

Một sai lầm thường gặp là coi doanh nhân như:

“nguồn tiền của cộng đồng.”

Điều đó có thể phá hỏng lòng tin.

Doanh nghiệp có quyền: kiếm lợi nhuận; tái đầu tư; trả cổ tức; mở rộng; thất bại; rút khỏi một dự án.

Đóng góp cho cộng đồng phải dựa trên: tự nguyện, hợp đồng, trách nhiệm pháp lý và lợi ích phù hợp.

Không được biến:

“tình đồng bào”

thành:

nghĩa vụ tài chính không có giới hạn.

9. Lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cộng đồng

Hai lợi ích này không nhất thiết đối lập.

Một doanh nghiệp phát triển có thể: tạo việc làm; đào tạo nhân lực; tạo công nghệ; tạo thu nhập; tạo thuế; hỗ trợ xã hội; tạo cơ hội cho người trẻ.

Nhưng cũng không được mặc định:

doanh nghiệp Việt = lợi ích cộng đồng.

Một doanh nghiệp vẫn có thể: vi phạm pháp luật; bóc lột lao động; gian lận; gây ô nhiễm; cạnh tranh không lành mạnh.

Do đó:

Căn tính Việt không miễn trừ trách nhiệm doanh nghiệp.

Nguyên tắc phải là:

Tốt cho doanh nghiệp khi tạo giá trị hợp pháp; tốt cho cộng đồng khi doanh nghiệp tạo giá trị bền vững.

10. Mạng lưới không phải cartel

Đây là một giới hạn đặc biệt quan trọng.

Các doanh nghiệp trong mạng lưới có thể hợp tác; chia sẻ kinh nghiệm; giới thiệu khách hàng; cùng nghiên cứu; cùng đầu tư.

Nhưng không được dùng mạng lưới để thông đồng giá; chia thị trường; loại bỏ đối thủ; trao đổi thông tin cạnh tranh nhạy cảm trái pháp luật; thao túng đấu thầu; tạo độc quyền; vi phạm luật cạnh tranh.

Do đó:

Hợp tác tạo giá trị — không thông đồng để bóp méo thị trường.

Mạng lưới phải tôn trọng luật cạnh tranh; luật chống độc quyền; luật thương mại; luật thuế; luật lao động; luật sở hữu trí tuệ; luật dữ liệu;

các quy định chuyên ngành của quốc gia sở tại.

11. Từ mạng lưới người quen đến mạng lưới chuyên nghiệp

Một mạng lưới yếu dựa vào:

“Tôi biết ông A.”

Một mạng lưới mạnh dựa vào:

“Tôi biết hệ thống nào có thể giúp ông giải quyết vấn đề.”

Sự khác biệt nằm ở:

thể chế hóa tri thức.

Mạng lưới nên có cơ sở dữ liệu chuyên môn; danh mục doanh nghiệp; bản đồ ngành nghề; hệ thống giới thiệu; diễn đàn chuyên môn; cơ chế đánh giá; cơ chế xác minh; kho kiến thức; sự kiện kết nối.

Nhưng dữ liệu phải được quản trị theo nguyên tắc bảo vệ quyền riêng tư.

12. Bản đồ năng lực doanh nghiệp Việt toàn cầu

Một nhiệm vụ quan trọng có thể là xây dựng:

BẢN ĐỒ NĂNG LỰC DOANH NGHIỆP VIỆT TOÀN CẦU.

Không phải để kiểm soát doanh nghiệp.

Mà để biết: ai đang hoạt động trong ngành nào;ở quốc gia nào; có năng lực gì; đang cần gì; có thể cung cấp gì, hợp tác với ai.

Có thể phân loại theo: Địa lý ; Bắc Mỹ; châu Âu; Đông Á; Đông Nam Á; Úc; Trung Đông; các khu vực khác.

Ngành công nghệ; sản xuất; tài chính; logistics; y tế; giáo dục; nông nghiệp; thực phẩm; xây dựng; bất động sản; dịch vụ; sáng tạo; AI.

Quy mô startup; SME; doanh nghiệp lớn; tập đoàn; quỹ đầu tư.

Mục tiêu cuối cùng:

biến thông tin phân tán thành khả năng kết nối.

13. Chuỗi cung ứng Việt Toàn cầu

Một trong những giá trị lớn nhất của mạng lưới là khả năng hình thành:

chuỗi cung ứng xuyên biên giới.

Ví dụ:

nghiên cứu tại Mỹ

→ thiết kế tại Đức → linh kiện tại Nhật→ sản xuất tại Việt Nam→ logistics qua Singapore → bán tại châu Âu và Bắc Mỹ.

Nếu người Việt hiện diện ở nhiều mắt xích cộng đồng trở thành một mạng lưới kinh tế.

Không phải bằng quyền lực chính trị.

Mà bằng năng lực kinh tế.

14. Mỗi quốc gia sở tại là một cửa ngõ

Đây là một tư duy chiến lược cần ghi rõ trong Việt Hiến.

Một cộng đồng Việt ở nước ngoài không chỉ là:

nơi người Việt sinh sống.

Nó có thể trở thành:

một cửa ngõ của mạng lưới Việt toàn cầu.

Hoa Kỳ có thể mang đến công nghệ; vốn; đại học; thị trường; hệ sinh thái startup.

Đức có thể mở ra: công nghiệp; kỹ thuật; tiêu chuẩn; chuỗi cung ứng châu Âu.

Nhật Bản: công nghệ; sản xuất; quản trị; mạng lưới doanh nghiệp.

Hàn Quốc: công nghệ; sản xuất; giải trí;chuỗi cung ứng.

Singapore: tài chính; logistics; quản trị;

cửa ngõ ASEAN.

Nhưng cần tránh biến những nhận định trên thành khuôn mẫu cứng.

Mỗi thị trường thay đổi theo thời gian.

Nguyên tắc quan trọng hơn danh sách:

Hiểu lợi thế của nơi mình sống để kết nối với phần còn lại của thế giới.

15. Người Việt không chỉ là người tiêu dùng của mạng lưới

Một cộng đồng kinh tế trưởng thành phải có:

người sản xuất + người tiêu dùng + người đầu tư + người sáng tạo + người quản trị.

Không thể xây sức mạnh kinh tế nếu cộng đồng chỉ được nhìn như:

một nhóm khách hàng.

Người Việt có thể là founder; CEO; kỹ sư; nhà khoa học; nhà đầu tư; luật sư; chuyên gia; nhà quản lý; nhà thiết kế; nhà sáng tạo.

Vì vậy:

Mục tiêu không phải tạo ra “khách hàng Việt”, mà tạo ra “năng lực Việt”.

16. Thị trường nhân tài và mạng lưới doanh nghiệp

Chương 15 đã đặt nền cho:

Thị trường Nhân tài Việt Toàn cầu.

Mạng lưới doanh nghiệp phải trở thành một trong những nơi hấp thụ nguồn nhân tài ấy.

Sinh viên có thể: thực tập.

Người mới tốt nghiệp: tìm việc.

Chuyên gia: chuyển giao tri thức.

Nhà nghiên cứu: thương mại hóa công nghệ.

Doanh nhân:tìm đồng sáng lập.

CEO: tìm lãnh đạo cấp cao.

Như vậy:

Mạng lưới doanh nghiệp là cầu nối giữa nhân tài và thị trường.

17. Không biến tuyển dụng thành ưu tiên người Việt bất kể năng lực

Đây là một ranh giới quan trọng.

Nếu doanh nghiệp tuyển người chỉ vì:

“cùng là người Việt”,

thì doanh nghiệp có thể tự làm yếu mình.

Nguyên tắc phải là:

căn tính mở cửa cơ hội; năng lực quyết định tuyển dụng.

Một doanh nghiệp có thể ưu tiên giới thiệu; mentoring; đào tạo; tạo cơ hội thực tập; cho người trẻ Việt.

Nhưng khi tuyển dụng chính thức:

năng lực, phẩm chất và yêu cầu công việc phải là tiêu chí cốt lõi, phù hợp pháp luật.

18. Mạng lưới doanh nghiệp và thế hệ trẻ

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là:

đưa người trẻ vào thế giới kinh doanh thực tế.

Không chỉ bằng hội thảo.

Mà bằng: internship; apprenticeship; startup lab; mentorship; venture projects; case competitions;

research commercialization; global business projects.

Một sinh viên không nên chỉ nghe:

“hãy khởi nghiệp.”

Họ cần được:

thử làm một dự án thật.

19. Doanh nhân thành công phải trở thành người mở cửa

Một mạng lưới trưởng thành không biến doanh nhân thành:

người phải tài trợ mọi thứ.

Mà khuyến khích doanh nhân thành công trở thành:

người mở cửa cho thế hệ sau.

Ví dụ: giới thiệu một sinh viên; nhận một thực tập sinh; cố vấn một startup; tài trợ một nghiên cứu; đầu tư vào công nghệ; mở một thị trường; truyền lại kinh nghiệm.

Đó là:

trao lại bằng năng lực.

20. Từ doanh nghiệp cá nhân đến vốn cộng đồng

Một doanh nhân có thể bắt đầu bằng:

vốn cá nhân.

Sau đó:

đồng sáng lập.

Rồi:

nhà đầu tư.

Sau đó:

quỹ đầu tư.

Và cuối cùng:

vốn cộng đồng.

Nhưng vốn cộng đồng phải được quản trị cực kỳ chặt chẽ.

Cần phân biệt: quyên góp; đầu tư; cho vay; tài trợ; cổ phần; quỹ từ thiện; quỹ nghiên cứu.

Không thể gọi tất cả là:

“quỹ cộng đồng.”

21. Quỹ đầu tư cộng đồng không phải “tiền chung vô chủ”

Nếu trong tương lai có:

Quỹ Việt Toàn cầu thì phải trả lời rõ: ai sở hữu pháp nhân; nguồn vốn từ đâu; ai quản lý; ai đầu tư; tiêu chí đầu tư; ai hưởng lợi; ai kiểm toán; xử lý xung đột lợi ích thế nào; khi giải thể tài sản thuộc về ai.

Đặc biệt: người quản lý quỹ không sở hữu tiền của quỹ.

Đây là nguyên tắc đã được xác lập từ Chương 14:

TÀI SẢN CỘNG ĐỒNG ≠ TÀI SẢN CÁ NHÂN.

22. Từ kết nối doanh nghiệp đến đầu tư công nghệ

Một mạng lưới doanh nghiệp mạnh không nên chỉ tập trung vào:

thương mại.

Nó phải tiến dần tới: đổi mới.

Có thể xây dựng chuỗi:

Ý TƯỞNG → NGHIÊN CỨU → NGUYÊN MẪU → VỐN → STARTUP → THỊ TRƯỜNG → MỞ RỘNG → TOÀN CẦU HÓA.

Đây là nơi mạng lưới doanh nghiệp gặp mạng lưới công nghệ; tri thức; tài chính;  giáo dục.

Các chương sau sẽ phát triển sâu hơn.

23. Doanh nghiệp Việt không chỉ bán hàng Việt

Một hạn chế của tư duy cộng đồng là:

chỉ nghĩ đến việc xuất khẩu sản phẩm Việt.

Đó mới là một tầng.

Tầng cao hơn là:

xuất khẩu năng lực.

Ví dụ: kỹ thuật; phần mềm; AI; thiết kế; quản trị; tài chính; giáo dục; y tế; tư vấn; nghiên cứu.

Và tầng cao hơn nữa: sở hữu tài sản trí tuệ và công nghệ.

Đó là lúc cộng đồng chuyển từ: tham gia chuỗi giá trị sang tạo ra một phần chuỗi giá trị.

24. Người Việt như những “nút cầu”

Một lợi thế đặc biệt của cộng đồng Việt toàn cầu là:

nhiều người sống giữa hai hoặc nhiều hệ thống.

Họ hiểu ngôn ngữ; văn hóa; thị trường; pháp luật; cách kinh doanh; tâm lý xã hội; của nhiều quốc gia.

Những con người ấy có thể trở thành nút cầu của mạng lưới.

Nhưng phải tránh một sai lầm:

“Người Việt sẽ làm trung gian cho mọi giao dịch.” Không.

Giá trị của nút cầu phải đến từ: năng lực thực.

25. Mạng lưới và thương hiệu Việt

Một mạng lưới doanh nghiệp có thể góp phần xây dựng:

uy tín của người Việt trong kinh doanh.

Không bằng khẩu hiệu.

Mà bằng: giữ chữ tín; tôn trọng hợp đồng; minh bạch; đúng hạn; chất lượng; đổi mới; trách nhiệm xã hội.

Nếu hàng nghìn doanh nghiệp Việt làm tốt:

“thương hiệu Việt” sẽ được xây dựng từ hành vi của họ.

Do đó:

Thương hiệu cộng đồng là tổng hợp của vô số hành vi cá nhân và doanh nghiệp.

26. Nhưng không có “thương hiệu Việt” để che trách nhiệm

Ngược lại, nếu một doanh nghiệp vi phạm pháp luật:

không được dùng:

“uy tín cộng đồng”

để bảo vệ doanh nghiệp khỏi trách nhiệm.

Cộng đồng có thể khuyến khích cải thiện; hỗ trợ người bị ảnh hưởng; cung cấp chuyên gia; thúc đẩy hòa giải khi phù hợp.

Nhưng:

không được bao che vi phạm.

Nguyên tắc:

Bảo vệ con người và nguyên tắc, không bảo vệ sai phạm chỉ vì cùng căn tính.

27. Mạng lưới doanh nghiệp và xã hội sở tại

Doanh nghiệp Việt phải được nhìn trước hết như:

một doanh nghiệp của xã hội nơi nó hoạt động.

Nó có khách hàng sở tại; nhân viên sở tại; đối tác sở tại; nghĩa vụ pháp lý sở tại.

Do đó, hội nhập không phải:

chỉ dùng cộng đồng Việt làm thị trường.

Mà là:

trở thành một phần có năng lực của nền kinh tế sở tại.

Khi đó, thành công của doanh nghiệp Việt cũng trở thành:

thành công của người Việt trong dòng chính.

28. Án lệ xã hội: một startup AI

Một nhóm sinh viên Việt ở Canada xây dựng một công nghệ AI.

Một giáo sư Việt ở Mỹ có chuyên môn. Một kỹ sư ở Nhật có kinh nghiệm phần cứng. Một doanh nhân ở Singapore có thị trường. Một nhà đầu tư ở California có vốn.

Nếu mỗi người hoạt động riêng:

dự án có thể không bao giờ vượt qua giai đoạn ý tưởng.

Nếu mạng lưới kết nối:

tri thức + công nghệ + vốn + thị trường + quản trị

có thể tạo ra:

một doanh nghiệp toàn cầu.

Điều đáng nói nhất không phải startup ấy “Việt Nam” đến mức nào.

Mà là:

mạng lưới đã giúp một ý tưởng đi từ con người đến thị trường.

29. Án lệ xã hội: mạng lưới biến thành câu lạc bộ thân hữu

Một nhóm doanh nhân thành lập mạng lưới.

Ban đầu họ chia sẻ cơ hội.

Sau một thời gian hợp đồng chỉ trao cho thành viên thân quen; thành viên mới bị loại; thông tin thị trường bị giữ kín; người phản biện bị gạt ra ngoài; lãnh đạo mạng lưới dùng danh nghĩa cộng đồng để gây sức ép.

Mạng lưới khi ấy không còn là hạ tầng cơ hội.

Nó trở thành hạ tầng đặc quyền.

Đây là lý do Chương 20 đặt ra:

không độc quyền + minh bạch + tự chủ + trách nhiệm giải trình.

30. Phản đề: “Người Việt nên ưu tiên người Việt trong kinh doanh”

Có một phần hợp lý trong quan niệm này:

mạng lưới đồng bào có thể tạo niềm tin ban đầu và giảm chi phí tìm kiếm đối tác.

Nhưng nếu biến nó thành nguyên tắc tuyệt đối:

người Việt phải luôn ưu tiên người Việt,

thì sẽ tạo ra nhiều vấn đề giảm cạnh tranh; giảm chất lượng; tạo thân hữu; có thể vi phạm pháp luật; làm doanh nghiệp yếu đi.

Nguyên tắc phù hợp hơn:

Hãy mở cửa đầu tiên bằng sự tin cậy; nhưng quyết định cuối cùng phải dựa trên năng lực, giá trị, điều kiện hợp đồng và pháp luật.

31. Phản đề: “Doanh nghiệp thành công thì tự lo, không cần cộng đồng”

Điều này đúng ở một mức độ.

Doanh nghiệp không có nghĩa vụ vô hạn với cộng đồng.

Nhưng mạng lưới vẫn có giá trị:

không phải vì doanh nghiệp yếu, mà vì ngay cả doanh nghiệp mạnh cũng cần hệ sinh thái.

Một tập đoàn lớn vẫn cần nhân tài; công nghệ; thị trường; nhà cung cấp; đối tác; nghiên cứu; vốn.

Không doanh nghiệp nào là một hòn đảo.

32. Phản đề: “Mạng lưới doanh nghiệp sẽ làm người Việt tách khỏi xã hội sở tại”

Chỉ xảy ra nếu mạng lưới được thiết kế như:

thị trường khép kín.

Việt Hiến phải thiết kế ngược lại:

Mạng lưới Việt là bàn đạp để bước vào xã hội sở tại.

Doanh nghiệp Việt càng mở rộng ra thị trường quốc tế:

mạng lưới càng mạnh.

33. Quy luật vận hành của kinh tế cộng đồng

Có thể rút ra một quy luật:

Một doanh nghiệp tạo ra giá trị bằng sản phẩm hoặc dịch vụ.

Một mạng lưới doanh nghiệp tạo ra giá trị bằng kết nối.

Một hệ sinh thái doanh nghiệp tạo ra giá trị bằng khả năng phối hợp nhiều nguồn lực.

Một mạng lưới toàn cầu tạo ra giá trị bằng khả năng nối nhiều thị trường.

Vì vậy:

Doanh nghiệp là tế bào kinh tế. Mạng lưới là hệ tuần hoàn. Hệ sinh thái là cơ thể. Một tế bào khỏe là chưa đủ.

Cần một hệ thống lưu thông tốt.

34. Bài học Việt Hiến

Việt Hiến không nên hứa:

“Cộng đồng sẽ làm giàu cho doanh nghiệp.”

Việt Hiến nên tạo:

điều kiện để doanh nghiệp có thể kết nối và cạnh tranh tốt hơn.

Không:

bảo đảm lợi nhuận.

Mà:

mở cơ hội.

Không:

bảo đảm thành công.

Mà:

giảm chi phí kết nối.

Không:

bảo vệ doanh nghiệp khỏi cạnh tranh.

Mà:

giúp doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh.

Đây là khác biệt giữa:

đặc quyền và hạ tầng cơ hội.

35. Thiết kế Mạng lưới Doanh nghiệp Việt Toàn cầu

Có thể xây dựng sáu chức năng cốt lõi:

1. Business Directory

Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp và chuyên gia.

2. Market Gateway

Thông tin và kết nối thị trường.

3. Talent Gateway

Kết nối nhân tài với doanh nghiệp.

4. Capital Gateway

Kết nối vốn hợp pháp với dự án.

5. Technology Gateway

Kết nối công nghệ và nghiên cứu.

6. Partnership Gateway

Kết nối đối tác xuyên quốc gia.

Các chức năng này không nhất thiết phải do một tổ chức duy nhất vận hành.

Có thể do:

nhiều tổ chức chuyên môn cùng tham gia.

36. Chuỗi giá trị doanh nghiệp Việt Toàn cầu

Có thể thiết kế:

Ý TƯỞNG

↓

NHÂN TÀI

↓

NGHIÊN CỨU

↓

CÔNG NGHỆ

↓

VỐN

↓

DOANH NGHIỆP

↓

CHUỖI CUNG ỨNG

↓

THỊ TRƯỜNG

↓

TOÀN CẦU HÓA

↓

TÀI SẢN TRÍ TUỆ

↓

DI SẢN KINH TẾ — CÔNG NGHỆ

Đây mới là tầm nhìn dài hạn.

37. Bộ nguyên tắc đạo đức doanh nghiệp trong mạng lưới

Doanh nghiệp tham gia mạng lưới nên cam kết:

Tuân thủ pháp luật.

Tôn trọng hợp đồng. Không gian lận. Không hối lộ. Không thông đồng trái pháp luật. Tôn trọng người lao động. Bảo vệ dữ liệu. Tôn trọng sở hữu trí tuệ.

Công khai xung đột lợi ích khi cần thiết. Không sử dụng danh nghĩa cộng đồng để phục vụ lợi ích riêng trái quy định.

Đây không phải: “đạo đức Việt Nam” theo nghĩa dân tộc chủ nghĩa.

Đó là chuẩn mực của một cộng đồng doanh nghiệp muốn được tôn trọng trên toàn cầu.

38. Đo lường sức mạnh của mạng lưới

Không nên chỉ đo:

bao nhiêu doanh nghiệp đăng ký.

Cần đo số hợp tác thành công; số thị trường mới; số việc làm; số startup; số công nghệ được thương mại hóa; số người trẻ được mentoring; số dự án xuyên quốc gia; giá trị đầu tư; số doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng quốc tế; số doanh nghiệp vươn vào dòng chính của nền kinh tế sở tại.

Công thức:

SỨC MẠNH MẠNG LƯỚI = KẾT NỐI × GIÁ TRỊ × TIN CẬY × KHẢ NĂNG MỞ RỘNG.

39. Điều khoản Việt Hiến đề xuất

Điều 1. Tự do kinh doanh

Cộng đồng tôn trọng quyền tự do kinh doanh, sáng tạo, đầu tư và hợp tác của con người trong phạm vi pháp luật áp dụng.

Điều 2. Mạng lưới doanh nghiệp

Cộng đồng khuyến khích hình thành các mạng lưới doanh nghiệp và doanh nhân Việt Toàn cầu nhằm chia sẻ tri thức, kết nối nguồn lực và mở rộng cơ hội kinh tế.

Điều 3. Cạnh tranh lành mạnh

Mọi hoạt động kinh doanh thuộc mạng lưới phải tuân thủ pháp luật cạnh tranh và các quy định pháp luật áp dụng.

Điều 4. Không độc quyền

Không mạng lưới nào được sử dụng danh nghĩa cộng đồng để tạo độc quyền hoặc loại bỏ cạnh tranh hợp pháp.

Điều 5. Tự chủ doanh nghiệp

Việc tham gia mạng lưới không làm mất quyền tự chủ của doanh nghiệp hoặc quyền quyết định hợp pháp của chủ sở hữu và cơ quan quản trị doanh nghiệp.

Điều 6. Không mua quyền lực cộng đồng

Việc đóng góp tài chính cho mạng lưới hoặc cộng đồng không tự động tạo thêm quyền biểu quyết hoặc quyền quản trị.

Điều 7. Cơ hội

Mạng lưới khuyến khích mở rộng cơ hội nghề nghiệp, kinh doanh, đầu tư, nghiên cứu và khởi nghiệp trên cơ sở tiêu chí minh bạch và chính đáng.

Điều 8. Hội nhập

Mạng lưới hướng tới việc đưa doanh nghiệp và nhân tài Việt Nam vào thị trường sở tại và thị trường toàn cầu.

Điều 9. Đối tác quốc tế

Mạng lưới được quyền hợp tác với cá nhân và tổ chức không thuộc cộng đồng Việt Nam trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và pháp luật áp dụng.

Điều 10. Trách nhiệm

Doanh nghiệp và tổ chức tham gia mạng lưới chịu trách nhiệm độc lập đối với hành vi kinh doanh của mình.

40. Tình huống tổng hợp

Giả sử một doanh nhân người Việt tại Hoa Kỳ có công ty công nghệ; vốn đầu tư; quan hệ với trường đại học; mạng lưới kỹ sư.

Một doanh nhân tại Đức có: nhà máy; thị trường châu Âu; năng lực sản xuất.

Một nhóm kỹ sư tại Nhật có: công nghệ robot.

Một startup tại Việt Nam có: đội ngũ kỹ thuật trẻ.

Mạng lưới có thể: kết nối tất cả.

Nhưng không ai có quyền: ra lệnh cho người khác.

Không ai sở hữu: mạng lưới.

Không ai được: lấy danh nghĩa cộng đồng để ép ký hợp đồng.

Mỗi bên: tự quyết định có tham gia hay không.

Nếu hợp tác: hợp đồng xác lập quyền và nghĩa vụ.

Nếu thất bại: mỗi bên chịu trách nhiệm theo thỏa thuận và pháp luật.

Đó chính là: liên kết không thâu tóm.

41. Mạng lưới doanh nghiệp và quê hương

Mạng lưới doanh nghiệp toàn cầu cũng có thể mở ra những con đường đóng góp cho Việt Nam đầu tư; thương mại; chuyển giao công nghệ; đào tạo; nghiên cứu; kết nối thị trường; đưa doanh nghiệp Việt vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhưng cần giữ nguyên nguyên tắc của Phần XI:

đóng góp cho quê hương bằng năng lực, đồng thời tôn trọng pháp luật của quốc gia sở tại và pháp luật Việt Nam trong phạm vi áp dụng.

Không biến mạng lưới doanh nghiệp thành:

công cụ chính trị.

Không biến hoạt động kinh doanh thành:

nghĩa vụ trung thành với một phe phái.

Doanh nghiệp phải có:

tự chủ kinh tế và trách nhiệm pháp lý.

42. Từ doanh nhân đến nhà kiến tạo

Một doanh nhân thành công có thể đi qua nhiều tầng:

NGƯỜI KINH DOANH

↓

NGƯỜI TẠO VIỆC LÀM

↓

NGƯỜI TẠO CÔNG NGHỆ

↓

NGƯỜI TẠO HỆ SINH THÁI

↓

NGƯỜI ĐẦU TƯ CHO THẾ HỆ SAU

↓

NGƯỜI KIẾN TẠO DI SẢN.

Không phải ai cũng phải đi đến tầng cuối.

Nhưng một cộng đồng mạnh phải tạo cơ hội cho những người muốn đi xa hơn.

43. Quy luật lớn

Có thể cô đọng toàn bộ chương thành một quy luật: Doanh nghiệp tạo ra của cải. Mạng lưới làm giảm chi phí kết nối. Hệ sinh thái làm tăng khả năng phối hợp. Toàn cầu hóa làm mở rộng thị trường. Tri thức và công nghệ làm tăng năng suất. Thể chế minh bạch bảo vệ giá trị khỏi bị chiếm đoạt.

Vì vậy:

Sức mạnh kinh tế của cộng đồng không nằm ở số người Việt có doanh nghiệp, mà ở khả năng biến các doanh nghiệp riêng lẻ thành một hệ thống hợp tác có năng lực cạnh tranh toàn cầu.

44. Công thức trung tâm

CÁ NHÂN → DOANH NHÂN → DOANH NGHIỆP → MẠNG LƯỚI → CHUỖI GIÁ TRỊ → HỆ SINH THÁI → THỊ TRƯỜNG TOÀN CẦU.

Và:

NHÂN TÀI + TRI THỨC + VỐN + CÔNG NGHỆ + MẠNG LƯỚI + THỊ TRƯỜNG = NĂNG LỰC KINH TẾ VIỆT TOÀN CẦU.

Nhưng phải luôn đặt bên cạnh một công thức khác:

NĂNG LỰC + CẠNH TRANH + PHÁP QUYỀN + MINH BẠCH = SỨC MẠNH BỀN VỮNG.

45. Tuyên ngôn Mạng lưới Doanh nghiệp Việt Toàn cầu

Chúng ta không xây một thị trường đóng cửa cho người Việt.

Chúng ta xây một mạng lưới để người Việt bước vào thị trường của thế giới, không dùng tình đồng bào để thay thế năng lực, dùng tình đồng bào để mở thêm những cánh cửa hợp tác.

Chúng ta không biến doanh nhân thành người phải tài trợ cho cộng đồng. Chúng ta tạo ra một cộng đồng đủ giá trị để doanh nhân muốn đầu tư vào tương lai chung, không bảo vệ doanh nghiệp khỏi cạnh tranh. Chúng ta giúp doanh nghiệp có thêm năng lực để cạnh tranh.

Chúng ta không lấy căn tính Việt làm giấy phép đặc quyền.

Chúng ta lấy năng lực, chữ tín, sáng tạo và trách nhiệm để xây dựng uy tín của người Việt, không chỉ xuất khẩu hàng hóa.

Chúng ta xuất khẩu tri thức, công nghệ, dịch vụ, sáng tạo và năng lực.

Chúng ta không chỉ tạo ra doanh nghiệp.

Chúng ta tạo ra những mạng lưới có khả năng kết nối các thị trường.

Và cuối cùng:

Mỗi doanh nghiệp Việt thành công bằng năng lực của mình là một điểm sáng.

Hàng nghìn doanh nghiệp kết nối được với nhau là một mạng lưới.

Một mạng lưới nối được với thế giới là một sức mạnh.

46. Kết luận

Mục tiêu của Mạng lưới Doanh nghiệp Việt Toàn cầu không phải làm cho người Việt chỉ giao dịch với nhau.

Mục tiêu là làm cho người Việt có thêm năng lực để giao dịch với thế giới.

Không phải đóng cửa để bảo vệ nhau.

Mà liên kết để cùng bước ra ngoài.

Không phải xin đặc quyền.

Mà xây năng lực cạnh tranh.

Không phải tập trung tiền vào một trung tâm.

Mà kết nối vốn, người, công nghệ và thị trường thành nhiều dòng chảy.

Không phải một tổ chức điều khiển doanh nghiệp.

Mà một mạng lưới giúp doanh nghiệp tự do hợp tác.

Và không phải một cộng đồng chỉ biết giữ lấy những gì mình có.

Mà là một cộng đồng biết biến những gì mình có thành giá trị mới.

Đó là con đường từ:

CỘNG ĐỒNG → NĂNG LỰC → DOANH NGHIỆP → MẠNG LƯỚI → THỊ TRƯỜNG → TOÀN CẦU.

Và đó cũng là cách một người Việt ở bất kỳ nơi nào trên thế giới có thể trở thành một nút kết nối của sức mạnh Việt toàn cầu.

Hoàng phong nhã