Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

ĐỜI NGƯỜI CÓ CHỪNG MỰC, THÁI QUÁ ẮT GÂY HỌA

 ĐỜI NGƯỜI CÓ CHỪNG MỰC, THÁI QUÁ ẮT GÂY HỌA

Đời người có chừng mực, thái quá ắt gây họa. Một cuộc đời tốt đẹp nằm ở việc “không quá mức”, bởi vật cực tất phản, nhiều quá ắt đổ, đầy quá ắt tràn.

đời người, Sống biết đủ là cách sống trí tuệ
(Ảnh minh họa: Album “Tuổi thơ quê hương” của Vũ Anh Dũng)

Trong sách Tuân Tử có ghi một chuyện thế này:

Đức Khổng Tử vào xem miếu Hoàn Công nước Lỗ, có một cái lọ đứng nghiêng. Ngài hỏi người coi miếu. Người ấy nói rằng: “Đó là một vật quí của nhà vua thường để bên chỗ ngồi chơi để làm gương”.

Đức Khổng Tử nói: “Ta nghe nhà vua có vật quí để làm gương, vật đó bỏ không thì đứng nghiêng, đổ nước vừa vặn thì đứng ngay, mà đầy quá thì lại đổ, có lẽ là vật này chăng”.

Ngài bèn sai học trò đổ nước vào. Quả nhiên, nước đổ vừa, thì lọ đứng ngay; nước đổ đầy, thì lọ đổ; bỏ không, thì lọ lại đứng nghiêng. Ngài chép miệng than rằng: “Hỡi ôi! Ở đời chẳng cái gì đầy mà không đổ.

Thầy Tăng Tử nói: “Dám hỏi có cách gìn giữ cho đầy mà không đổ không?”

Ngài nói: “Thông minh thánh trí nên giữ bằng cách ngu độn; công lao to hơn thiên hạ nên giữ bằng cách khiêm cung; sức khoẻ hơn đời nên giữ bằng tính nhút nhát; giàu có bốn bể nên giữ bằng thói nhún nhường. Đó là cách đổ bớt đi để giữ cho khỏi đổ”.

Đời người cũng là như vậy, nếu chỉ tìm cách vun vào mà không biết cho đi, thì rốt cuộc cũng bị mất mát.

Lợi không quá tham

Tục ngữ nói: “Lợi bất khả trám tẫn, phúc bất khả hưởng tẫn, thế bất khả dụng tẫn”, ý rằng thấy lợi đừng tham mà chiếm tận, phúc cũng không thể hưởng hết, lại càng không nên quá dùng địa vị của mình mà chèn ép người.

Trong “Sử Ký” lại có câu: “Tham dục không biết dừng, cuối cùng chẳng thứ nào được thỏa mãn; nếu có mà không biết thỏa mãn, cuối cùng sẽ mất tất cả những thứ ban đầu”. Giữ mình không tham thì thường lại an ổn, tranh đoạt của người ắt sẽ thiệt thòi.

Kim tiền phú quý, người người đều mong cầu. Cũng như Khổng Tử từng nói: “Phú và quý là dục vọng của con người.” Truy cầu một cách vừa phải có thể thúc đẩy con người tiến về phía trước. Nhưng nếu chẳng thể cưỡng lại cám dỗ, quá để mắt tới lợi ích trước mắt, ắt sẽ mất đi những thứ bên ngoài tiền tài.

Trong ngụ ngôn phương Tây có câu chuyện gà đẻ trứng vàng: Một đôi vợ chồng già, nuôi một đàn gà mái. Một hôm, một cô gái mái đột nhiên sinh được một quả trứng vàng nhỏ bé, hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng dục vọng khó lấp đầy, họ không thể đợi cô gà mái tiếp tục sinh trứng vàng, mà mang gà mái giết đi, mổ bụng muốn lấy hết số trứng vàng ra. Dẫu rằng nhất thời có được một món tiền tài nho nhỏ, nhưng lại mất đi cơ hội mỗi ngày có được trứng vàng.

Điều khiến đời người thống khổ không phải là nghèo khó, mà là tham dục. Của cải như nước biển, uống càng nhiều, càng khát. Quá tham lam tài phú cuối cùng cũng chẳng thể đắc được điều gì. “Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo”, người quân tử coi trọng của cải nhưng lấy của cải phải đúng đạo lý. Đó mới là điều cần hướng tới.

Nhàn chớ quá an

Trong “Cáo Tử Hạ – Mạnh Tử” viết rằng: “Khi trời giao sứ mệnh trọng đại cho người, trước hết ắt phải làm khổ tâm chí họ, làm nhọc gân cốt họ, khiến thân xác họ đói khát, hao tổn thân họ, nhiễu loạn việc họ làm. Cho nên người ấy mới động tâm mà học cách nhẫn nại, làm giàu thêm những tài năng người ấy chưa có. Người ta thường lầm lỗi rồi sau đó mới có thể sửa đổi; thống khổ trong lòng, mới biết cân nhắc, toan tính về sau… Sinh nơi hoạn nạn, chết nơi an lạc.”

Căn nguyên thất bại của một người không phải là không có năng lực, mà là quá tham thú hưởng thụ lúc thư nhàn. Con người ở môi trường thoải mái lâu sẽ trở nên lười nhác, không muốn động não, lâu dần sẽ thui chột ý chí, sói mòn tâm linh.

Đời người như con thuyền ngược dòng nước, không tiến ắt sẽ thoái. Tham thú an nhàn là điều đại kỵ trong đời người. Cuộc sống an nhàn chỉ có thể khiến bạn vui vẻ nhất thời, nhưng nếu trường kỳ như vậy, sẽ khiến chúng ta tự ru ngủ bản thân.

Con người thường truy cầu an nhàn thoải mái vật chất, mà không biết rằng nó sẽ hủy diệt mình. Kỳ thực cảnh đẹp nhất trong đời là sự điềm tĩnh và thong dong trong nội tâm, điều ấy chỉ có được nhờ sự không ngừng nỗ lực tu dưỡng và giữ gìn phẩm cáchGiận không quá mức

Con người sống trên đời, những chuyện không như ý chiếm tới tám, chín phần mười. Khi gặp chuyện chẳng thuận lòng như ý, mỗi người dù ít dù nhiều đều cảm thấy nóng giận. Chữ “Nộ” phía trên là chữ “Nô” (奴 – Nô bộc, đầy tớ), phía dưới là chữ “Tâm” (心). Từ trên mặt chữ có thể thấy rằng khi con người phẫn nộ thì tâm của người đó đã biến thành nô lệ của cảm xúc rồi.

Tức giận chỉ khiến sự tình trở nên tồi tệ hơn, chẳng có chút ích lợi gì. Phẫn nộ vì hành vi của người khác cũng ngốc nghếch giống như nổi nóng với một hòn đá ngáng đường.

Vương Dương Minh có câu: “Khi không nên tức giận mà tức giận, thì là bị ma quỷ mê hoặc vậy.” Có giận cũng không nên quá mức khiến nó bột phát ra ngoài, nên kiềm chế cho đến khi cơn giận nguôi ngoai. Tức giận chính là dùng sai lầm của người khác mà trừng phạt bản thân mình.

Trong đời người có rất nhiều chuyện không vui, kỳ thực cũng đều là bản thân tự làm khó mình. Khi chúng ta bị cảm giác phẫn nộ bủa vây, chúng ta rất dễ nổi nóng, và chẳng thể nhìn thấy những điều tốt đẹp kề bên.

Phàm mọi việc chớ quá bận lòng, hãy nghĩ thoáng, nhìn rộng một chút. Điều chỉnh lại tâm thái, ít nổi giận, thong dong với thực tại.

Thiên Cầm

ĐẠO CỦA NGƯỜI QUÂN TỬ: LẤY ĐỨC BÁO OÁN

“Lấy ơn trả ơn, lấy oán trả oán” là cái lý của người bình thường trong cuộc sống xưa nay. Nhưng bậc quân tử, người có đức hạnh cao thượng lại không hành xử như vậy.

Trong “Luận Ngữ. Hiến vấn” ghi chép lại, có người hỏi Khổng Tử: “Có nên lấy ân huệ để báo oán thù không?“. Khổng Tử hỏi ngược lại: “Thế lấy gì để báo đáp ân huệ? Nên lấy chính trực mà báo oán thù, và lấy ân huệ để đáp lại ân huệ.” Khi đối mặt với oán hận, oan khuất mà có thể lấy công bằng, lấy chính trực để báo đáp thì đó là người có đức, là hành vi của người quân tử.

Chỉ những người không phải “phàm phu tục tử” mới có thể lấy ơn báo oán. Trong lịch sử các bậc giác giả, thánh nhân như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Chúa Jesus đều là những người làm được điều này.

người quân tử

Trong “Luận Ngữ. Ung Dã thiên”, Khổng Tử còn giảng: “Lẽ sống của con người là phải ngay thẳng, không ngay thẳng mà sống thì ấy là nhờ may mắn mà tránh khỏi tai họa mà thôi.”

Người có đức hạnh chính trực mới có thể phân biệt được thị phi, loại bỏ được những suy nghĩ hiểm độc, có thể sống được tự tại, bảo dưỡng được thọ mệnh. Còn người mà rời bỏ chuẩn tắc sống chính trực thì việc không gặp tai họa bất quá chỉ là nhờ may mắn mà thôi. Chính trực không chỉ là tư tưởng của Khổng Tử mà nó còn là nhân tố trọng yếu xuyên suốt trong truyền thống đạo đức của người xưa.

Tất nhiên trong lịch sử, có rất nhiều danh sĩ hiển đạt vì giữ mình chính trực mà thậm chí hy sinh cả tính mạng bản thân, nhưng ngàn năm sau hậu thế vẫn còn nhắc tới họ. “Tâm địa quang minh, chính đại” vẫn là lý tưởng đạo đức mà đại đa số con người hướng tới. Đặc biệt, đó cũng là lý niệm mà người quân tử xưa luôn nguyện ý dốc lòng theo đuổi.

Khổng Tử nói: “Quân tử hoài đức”, tức là người quân tử luôn nghĩ đến đạo đức, làm gì cũng đặt đạo đức lên trên hết. Có lẽ trong cuộc sống đời thường, việc thản nhiên ôm giữ một tâm ngay thẳng cũng không phải việc quá khó khăn. Cái khó chính là ở trong hoàn cảnh bần cùng, sống lang bạt mà vẫn có thể giữ được đức hạnh, đạo đức. Khó chính là khó ở chỗ ở vào thời khắc nguy hiểm sống chết mà vẫn có thể giữ được chính trực, không vì sợ hãi mà bị khuất phục.

“Lấy đức báo oán”, tuy rằng khó, nhưng vì khó mới hiển lộ rõ ra nhân cách và khí khái cao thượng của người quân tử. Nếu có thể “Trong nguy khốn mà giữ tròn tiết tháo”, dùng đại thiện đại nhẫn mà đối mặt với sự bức bách, uy hiếp, giữ được tấm lòng rộng mở, giữ được khí phách chính trực như cây tùng cây bách thì cảnh giới ấy nếu không phải bậc thánh hiền, quân tử thì không thể đạt tới được.

Có câu nói: “Người quân tử có việc không nên làm, lại có việc tất phải làm”. “Làm” hay “không làm” đều là một loại nhân sinh, một loại lựa chọn. Người quân tử gặp việc, nhất định sẽ biết phân biệt đúng sai, thiện ác, tốt xấu mà lựa chọn việc gì nên làm việc gì không nên làm. Tiêu chuẩn của “nên làm” và “không nên làm” cũng giúp phân biệt được cảnh giới tinh thần của người có đức và người vô đức. Lấy ngay thẳng làm người, lấy đạo lý công bằng để xử thế là nguyên tắc sinh tồn của người có đức thời xưa.

An Hòa

 

CHƯƠNG 9 - ĐỐI THOẠI VỚI VÕ VĂN KIỆT - VÕ VĂN KIỆT VÀ TRƯỜNG CHINH

CHƯƠNG IX

VÕ VĂN KIỆT VÀ TRƯỜNG CHINH

THỰC TIỄN VÀ TƯ DUY ĐỔI MỚI

Có một câu hỏi lớn khi nghiên cứu Đổi mới:

Ai đã làm cho thực tiễn trở thành đường lối?

Nếu chỉ nhìn từ Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta có thể thấy những người trực tiếp thử nghiệm.

Nếu chỉ nhìn từ Đại hội VI, chúng ta lại thấy một đường lối đã được Trung ương chính thức hóa.

Nhưng giữa hai đầu ấy là cả một quá trình.

Địa phương có thể thử nghiệm, cán bộ có thể nhìn thấy vấn đề.

Các giám đốc có thể tìm được cách làm mới. Nông dân có thể tự thay đổi phương thức sản xuất. Nhưng tất cả những điều đó chưa phải là chính sách quốc gia.

Để một kinh nghiệm địa phương trở thành đường lối, cần có một bước trung gian tổng kết thực tiễn và thay đổi tư duy chính sách. Ở điểm này, Trường Chinh là nhân vật không thể bỏ qua.

Và khi đặt ông bên cạnh Võ Văn Kiệt, ta nhìn thấy hai dạng năng lực khác nhau:

Võ Văn Kiệt — người va chạm với thực tế và tìm cách tháo nút.

Trường Chinh — người phải quyết định xem những kinh nghiệm ấy có đủ sức trở thành một thay đổi trong đường lối hay không.

Nhưng cũng chính ở đây xuất hiện một nghịch lý:

Một người từng là biểu tượng của tư duy cách mạng và mô hình kế hoạch hóa lại trở thành người chủ trì một bước chuyển lớn trong tư duy kinh tế.

Muốn hiểu Đổi mới, không thể bỏ qua nghịch lý ấy.

1. Trường Chinh không bước vào Đổi mới từ một khoảng trống

Trường Chinh không phải một nhà kinh tế thị trường xuất hiện đột ngột vào năm 1986.

Ông là một trong những lãnh đạo cao cấp và lâu năm nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong nhiều thập niên, ông gắn với việc xây dựng đường lối cách mạng, tổ chức hệ thống chính trị và hoạch định chính sách theo mô hình xã hội chủ nghĩa.

Vì vậy, khi nghiên cứu Trường Chinh năm 1986, không nên viết theo cách:

“Ông đột nhiên trở thành người đổi mới.”

Câu hỏi là:

Điều gì đã khiến một nhà lãnh đạo được hình thành trong một hệ tư tưởng nhất định phải thay đổi cách nhìn về cơ chế kinh tế?

2. Cuộc khủng hoảng buộc tư duy phải thay đổi

Cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn sản xuất thấp; thiếu lương thực; thiếu vật tư; cơ chế giá không phản ánh cung cầu; doanh nghiệp nhà nước thiếu quyền chủ động; lạm phát; ngân sách khó khăn; chiến tranh và chi phí quốc phòng; cùng với tình trạng cô lập kinh tế quốc tế.

Những khó khăn này không thể giải thích bằng một nguyên nhân duy nhất.

Nhưng chúng tạo ra một sức ép chung cơ chế hiện hành không tạo ra đủ động lực để nền kinh tế vận hành hiệu quả.

Thành phố Hồ Chí Minh phản ứng bằng những cách làm thực tế.

Các địa phương khác cũng thử nghiệm. Một số hợp tác xã thay đổi cách khoán. Một số doanh nghiệp tìm cách tự cân đối, nơi tự tìm nguồn nguyên liệu. Một số lãnh đạo địa phương tìm cách bảo vệ những thử nghiệm đó.

Vấn đề lúc này không còn là “Có nên thử không?” mà trở thành “Có thể tiếp tục quản lý cả nước theo cách cũ không?”

3. Thành phố Hồ Chí Minh gửi một thông điệp lên Trung ương

Theo các tư liệu hồi cố về quá trình hình thành đường lối Đổi mới, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh trong đó có Nguyễn Văn Linh đã tìm cách báo cáo trực tiếp với các lãnh đạo Trung ương về những thử nghiệm đang diễn ra tại thành phố.

Tháng 7 năm 1983, Nguyễn Văn Linh cùng lãnh đạo thành phố và một số giám đốc xí nghiệp đã báo cáo với Phạm Văn Đồng, Trường Chinh và Võ Chí Công tại Đà Lạt về những cách làm mới của thành phố. Đây là một sự kiện có ý nghĩa.

Bởi nó cho thấy thực tiễn không tự động trở thành chính sách. Phải có một quá trình thuyết phục.

Một địa phương phải chứng minh “Cách chúng tôi làm không phải là tùy tiện. Nó đang tạo ra kết quả.”

Đây chính là lúc số liệu, sản lượng, doanh thu, đời sống công nhân và hiệu quả sản xuất trở thành một loại ngôn ngữ chính trị mới.

4. Trường Chinh xuống tận cơ sở

Sau những báo cáo ấy, Trường Chinh trực tiếp vào Thành phố Hồ Chí Minh để tìm hiểu.

Theo các tư liệu được Báo Nhân Dân công bố, ông gặp các giám đốc xí nghiệp, khảo sát cơ sở và đối chiếu những điều thành phố báo cáo với thực tế. Sau quá trình khảo sát, ông đi đến nhận định rằng cần đổi mới và xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.

Bởi nó cho thấy trải nghiệm thực tế có thể làm thay đổi tư duy của một nhà hoạch định chính sách.

Trường Chinh không chỉ đọc báo cáo. Ông đi xuống cơ sở.

Đó là một phương pháp quan trọng muốn sửa chính sách, trước hết phải nhìn thấy chính sách đang làm gì đối với đời sống thực.

5. Nhưng “đi thực tế” không đồng nghĩa với “chấp nhận mọi thử nghiệm”

Điểm này phải được giữ thật rõ.

Một nhà lãnh đạo Trung ương xuống địa phương không có nghĩa là ông mặc nhiên chấp nhận mọi cách làm ở đó.

Một thử nghiệm thành công trong một thành phố chưa chắc phù hợp với toàn quốc. Một doanh nghiệp có thể tự cân đối được trong một điều kiện đặc biệt. Nhưng hàng nghìn doanh nghiệp trong cả nước có thể không làm được. Một thành phố có thể huy động nguồn hàng từ Đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng một tỉnh miền núi có thể không có nguồn hàng tương tự.

Vì vậy, tổng kết thực tiễn không phải là sao chép thực tiễn.

Nó là quá trình quan sát → phân tích → tìm nguyên lý → loại bỏ yếu tố đặc thù → kiểm nghiệm → chính sách hóa.

Đây mới là công việc của Trung ương.

6. Võ Văn Kiệt cung cấp cái gì cho quá trình ấy?

Không nên nói Võ Văn Kiệt “đưa ra lý thuyết Đổi mới”.

Đó không phải điểm mạnh nổi bật nhất của ông. Điều ông cung cấp là tri thức từ thực tiễn quản trị.

Ông biết doanh nghiệp cần gì; người dân gặp khó khăn gì; vì sao hàng hóa không lưu thông, cơ sở phải tìm cách vượt quy định, cán bộ địa phương sợ trách nhiệm; và vì sao một quy định có thể đúng trên giấy nhưng gây hậu quả ngược trong thực tế.

Một nguồn tư liệu của Báo Nhân Dân ghi nhận Võ Văn Kiệt thường xuyên đi xuống cơ sở, phát hiện nhân tố mới và đề xuất với Trung ương những chủ trương sát với thực tiễn.

Đó là một loại tri thức khác với tri thức lý luận.

Có thể gọi là tri thức của người quản trị.

7. Trường Chinh cần một thứ khác: khả năng tổng kết

Một nhà lãnh đạo Trung ương không thể chỉ nói “Tôi đã thấy một nhà máy làm tốt.”

Ông phải hỏi: Tại sao nó làm tốt? Và Điều gì trong cơ chế cũ ngăn các nhà máy khác làm tương tự?

Rồi:

Nếu thay đổi quy định ấy trên toàn quốc thì hậu quả gì?

Đó chính là quá trình từ:

case study sang policy. Một mô hình địa phương chỉ trở thành cải cách quốc gia khi nó được chuyển từ kinh nghiệm thành nguyên tắc.

8. Tháng 8 năm 1986: bước chuyển trong tư duy kinh tế

Đây là một trong những mốc quan trọng nhất.

Theo các tư liệu của Đảng, tháng 8 năm 1986, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh, Bộ Chính trị họp và đưa ra những kết luận quan trọng về quan điểm kinh tế, cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và ba chương trình kinh tế lớn. Những kết luận này trở thành cơ sở quan trọng cho việc hoàn thiện các văn kiện Đại hội VI.

Đây là lúc câu chuyện bắt đầu vượt khỏi phạm vi “Thành phố Hồ Chí Minh làm khác.”

Nó chuyển thành:“Cả nước cần thay đổi cách quản lý.” Đó là một bước nhảy rất lớn.

9. Trường Chinh và bài toán “xóa bỏ cái cũ”

Điểm đáng chú ý trong các kết luận năm 1986 là sự thay đổi không chỉ ở vài chính sách cụ thể.

Đó là thay đổi về cách nhìn nền kinh tế.

Đại hội VI sau đó xác định phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và chuyển sang cơ chế phù hợp hơn với sản xuất hàng hóa và hạch toán kinh doanh.

Nói cách khác cái được thay đổi không chỉ là một quy định, mà là một cách nghĩ về cách Nhà nước quản lý nền kinh tế.

Đây là điểm khác biệt giữa cải cách chính sách và thay đổi tư duy phát triển.

10. Một nghịch lý lịch sử

Trường Chinh từng là một trong những người tiêu biểu của mô hình chính trị và kinh tế mà Đổi mới bắt đầu điều chỉnh.

Nhưng chính ông lại giữ vai trò rất quan trọng trong việc chuẩn bị Đại hội VI.

Điều đó đặt ra một bài học rất đáng suy nghĩ:

Một hệ thống chỉ có thể tự cải cách nếu bên trong nó tồn tại khả năng nhận ra sai lầm và thay đổi quan điểm.

Nếu mọi sai lầm đều phải được che giấu để bảo vệ uy tín của hệ thống, cải cách sẽ rất khó xảy ra.

Nếu thừa nhận sai lầm đồng nghĩa với phủ nhận toàn bộ quá khứ, người lãnh đạo cũng có thể không dám thay đổi.

Vì vậy, một hệ thống có khả năng cải cách thường phải làm được một việc khó thừa nhận cái không còn phù hợp mà không cần phủ nhận toàn bộ những gì đã làm trước đó.

Đây là một bài toán chính trị rất lớn.

11. Giá – Lương – Tiền: một phép thử đau đớn

Không thể viết Trường Chinh và Đổi mới mà bỏ qua cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền năm 1985.

Đây là một trong những thất bại chính sách nghiêm trọng trước Đại hội VI.

Cuối năm 1985, tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn sau những khuyết điểm của cuộc tổng điều chỉnh giá – lương – tiền. Các tư liệu chính thức sau đó ghi nhận Trung ương phải tiếp tục đổi mới tư duy và cơ chế chính sách.

Điều quan trọng không chỉ là cuộc điều chỉnh đó thất bại.

Điều quan trọng hơn là hệ thống đã học được gì từ thất bại ấy?

Nếu một chính sách thất bại mà người ta chỉ tìm cách đổ lỗi cho người thực hiện, thì hệ thống không học được gì.

Nếu thất bại được dùng để xem lại chính giả định ban đầu, thì nó trở thành tri thức.

Đổi mới 1986 phải được nhìn trong cả hai dòng những thử nghiệm thành công và những thất bại buộc phải thay đổi tư duy.

12. Võ Văn Kiệt cũng không đứng ngoài cuộc khủng hoảng ấy

Đây là điểm cần tránh một huyền thoại khác.

Không thể kể rằng:

Võ Văn Kiệt đã thấy hết mọi thứ đúng từ đầu. Ông cũng là một nhà lãnh đạo nằm trong chính hệ thống đã tạo ra những chính sách có vấn đề. Ông từng giữ những chức vụ rất cao trong hệ thống kế hoạch và quản lý kinh tế.

Từ tháng 4 năm 1982, ông giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Các tư liệu chính thức cho biết trong thời kỳ này, ông thúc đẩy mở rộng quyền chủ động sản xuất, kinh doanh cho cơ sở, nhưng nền kinh tế vẫn tiếp tục gặp khó khăn và cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền năm 1985 đặt ra yêu cầu phải thay đổi mạnh hơn.

Đây là điều làm chân dung ông thật hơn.

Một nhà cải cách không nhất thiết là người chưa từng thuộc về hệ thống cũ.

Đôi khi chính người ở bên trong hệ thống mới hiểu sâu nhất những giới hạn của nó.

13. Võ Văn Kiệt và Trường Chinh: một cuộc gặp giữa hai loại tri thức

Có thể diễn đạt mối quan hệ này bằng hai câu Võ Văn Kiệt biết cái gì đang xảy ra dưới cơ sở.

Trường Chinh phải quyết định cái gì cần thay đổi ở cấp đường lối.

Nhưng giữa hai người không phải quan hệ người đưa ý tưởng và người thi hành.

Đó là quan hệ giữa thực tiễn và tư duy chính sách. Một bên cung cấp dữ liệu sống. Một bên chuyển dữ liệu ấy thành nguyên lý.

Nếu thiếu thực tiễn lý luận có thể trở thành giáo điều.

Nếu thiếu tổng kết thực tiễn có thể trở thành những mảnh vụn địa phương.

Đổi mới cần cả hai.

14. Và Nguyễn Văn Linh nằm ở giữa

Đây là lý do Chương VIII và Chương IX phải nối với nhau.

Nguyễn Văn Linh không chỉ là người của Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông còn là người đứng ở vị trí kết nối giữa thực tiễn thành phố và Trung ương.

Các tư liệu về quá trình chuẩn bị Đại hội VI cho thấy Nguyễn Văn Linh, Trường Chinh và tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã cùng tham gia quá trình xây dựng văn kiện.

Như vậy, chuỗi lịch sử không phải:

Võ Văn Kiệt → Trường Chinh.

Mà gần hơn với thực tiễn cơ sở → Võ Văn Kiệt và những người làm thực tế → Nguyễn Văn Linh và lãnh đạo địa phương → Trường Chinh và Trung ương → Đại hội VI.

Và ngay trong chuỗi ấy còn có rất nhiều người khác.

15. “Nhân tố mới” không phải chỉ là lãnh đạo

Đây là điểm tôi muốn đẩy mạnh hơn trong cuốn sách.

Khi nói về Đổi mới, chúng ta rất dễ chỉ nhắc đến:

Võ Văn Kiệt Nguyễn Văn Linh Trường Chinh Đỗ Mười Nguyễn Cơ Thạch.

Nhưng những “nhân tố mới” thực sự còn có giám đốc xí nghiệp; kỹ sư; kế toán; công nhân; nông dân; thương nhân; chuyên gia kinh tế; cán bộ ngân hàng; cán bộ địa phương.

Chính họ tạo ra những dữ liệu mà Trung ương cuối cùng phải đối diện.

Một giám đốc tìm được nguồn nguyên liệu. Một xí nghiệp tự cân đối được tài chính. Một hợp tác xã thử khoán. Một nông dân sản xuất vượt mức. Một thành phố tìm cách mua gạo.

Tất cả những điều đó nói với Trung ương: “Thực tế đang vận hành khác với mô hình trên giấy.”

16. Nhưng thực tiễn không phải lúc nào cũng đúng

Đây là phản đề bắt buộc.

“Thực tiễn” không phải một từ thần kỳ.

Một địa phương có thể làm sai.

Một doanh nghiệp có thể thành công nhờ điều kiện đặc biệt.

Một người lãnh đạo có thể tưởng mình nhìn thấy tương lai nhưng thực ra chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt.

Vì vậy, khẩu hiệu: “Đi từ thực tiễn” vẫn chưa đủ.

Phải thêm: “Kiểm chứng bằng kết quả.”

Và còn phải thêm: “Kiểm chứng bằng cái giá phải trả.”

Một chính sách làm GDP tăng nhưng tạo ra độc quyền có thể không phải là một chính sách tốt.

Một quyết định giải quyết thiếu gạo hôm nay nhưng tạo ra lạm phát ngày mai cũng phải được đánh giá đầy đủ.

Đây là lý do phương pháp của cuốn sách phải luôn có: kết quả + chi phí + hệ quả ngoài dự kiến.

17. Đại hội VI: từ những mảnh vỡ thành một đường lối

Đại hội VI diễn ra từ ngày 15 đến 18 tháng 12 năm 1986.

Trường Chinh đọc Báo cáo Chính trị.

Nguyễn Văn Linh đọc diễn văn khai mạc.

Võ Văn Kiệt trình bày báo cáo về phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 1986–1990.

Chi tiết này rất quan trọng.

Bởi nó cho thấy ba nhân vật mà chúng ta đang nghiên cứu không đứng ở ba thế giới tách biệt.

Họ cùng xuất hiện trong một thời điểm lịch sử:

Trường Chinh — chính trị và đường lối.

Nguyễn Văn Linh — lãnh đạo và đổi mới tư duy.

Võ Văn Kiệt — kinh tế và tổ chức phát triển.

Nhưng phía sau họ là cả một tập thể lãnh đạo và một xã hội đang chịu sức ép phải thay đổi.

18. Không nên nói Đại hội VI “phát minh” Đổi mới

Đây là một nguyên tắc quan trọng.

Đại hội VI là mốc chính trị quyết định, nhưng Đổi mới không bắt đầu từ một ngày duy nhất.

Các tư liệu chính thức hiện nay cũng nhấn mạnh rằng Đổi mới bắt đầu từ thực tiễn, từ những thử nghiệm “phá rào” và những cách làm sáng tạo ở các địa phương, sau đó được Trung ương tổng kết và chuyển thành thay đổi về nhận thức, đường lối, thể chế và chính sách.

Điều này hoàn toàn phù hợp với cấu trúc cuốn sách của chúng ta:

1975 → va chạm thực tế → phá rào → thử nghiệm → tổng kết → 1986 → thể chế hóa → 1989 tăng tốc.

Không phải:

1986 → mọi thứ bắt đầu.

19. Nhưng cũng không nên nói Đổi mới đã hoàn tất năm 1986

Đây là mặt đối lập.

Nếu 1986 chỉ là điểm khởi đầu chính trị, thì những thay đổi lớn về kinh tế vẫn phải diễn ra sau đó.

IMF cho thấy cải cách sâu rộng được đẩy mạnh trong giai đoạn 1987–1989, trong đó năm 1989 là một bước ngoặt về tự do hóa giá cả, thương mại và các cải cách cơ cấu.

Điều đó có nghĩa:

Đại hội VI mở cửa tư duy.

Nhưng thực thi cải cách mới là cuộc chiến tiếp theo và đây chính là nơi chúng ta sẽ phải trở lại với Võ Văn Kiệt.

20. Trường Chinh và giới hạn của Đổi mới

Có một câu hỏi rất đáng đặt:

Trường Chinh muốn đổi mới đến đâu?

Đổi mới kinh tế?

Có.

Xóa cơ chế tập trung quan liêu bao cấp?

Có.

Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần?

Có.

Nhưng có phải ông chủ trương thay đổi toàn bộ cấu trúc chính trị?

Đổi mới 1986 được hình thành trong khuôn khổ Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo chính trị.

Điều đó phải được giữ nguyên trong nghiên cứu.

Vì vậy, Đổi mới ngay từ đầu đã mang trong nó một cấu trúc kép mở rộng đáng kể không gian kinh tế nhưng giữ giới hạn rõ ràng về cấu trúc chính trị.

Đây sẽ là một trong những câu hỏi quan trọng nhất khi chúng ta đi đến các chương cuối:

Đổi mới kinh tế có tất yếu dẫn tới đổi mới thể chế chính trị hay không?

Lịch sử Việt Nam sau 1986 cho thấy câu trả lời không đơn giản.

21. Võ Văn Kiệt có thể đã đi xa hơn ở một số vấn đề

Đây là nơi cần nghiên cứu bằng tư liệu chứ không bằng huyền thoại.

Những năm sau 1986, Võ Văn Kiệt ngày càng tiếp xúc với chuyên gia kinh tế; trí thức; doanh nhân; người Việt ở nước ngoài; những người từng làm việc trong chế độ Việt Nam Cộng hòa; và các nguồn tri thức quốc tế.

Báo Nhân Dân ghi nhận ông đã xây dựng các nhóm tư vấn kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có những người từng làm việc trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa như Nguyễn Xuân Oánh; đến năm 1986 có “Nhóm thứ sáu” với Phan Chánh Dưỡng, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn và những người khác.

Đây là một hướng nghiên cứu rất quan trọng.

Bởi nó cho thấy:

Đổi mới không chỉ là thay đổi chính sách.

Nó còn là mở rộng nguồn tri thức mà nhà nước chấp nhận sử dụng.

Đây sẽ là cầu nối trực tiếp đến các chương về trí thức, chuyên gia, Việt kiều và hòa hợp dân tộc.

22. Một câu hỏi khó dành cho Trường Chinh

Nếu được đối thoại với Trường Chinh, có lẽ chúng ta không nên hỏi:

“Ông có phải người đổi mới không?”

Câu hỏi ấy quá dễ.

Nên hỏi:

“Điều gì đã khiến ông chấp nhận rằng một số nguyên tắc quản lý kinh tế trước đó không còn phù hợp?”

Và:

“Ông đã nhìn thấy điều gì ở Thành phố Hồ Chí Minh mà những báo cáo hành chính không cho ông thấy?”

Và khó hơn:

“Khi ông thay đổi tư duy kinh tế, ông nghĩ giới hạn của sự thay đổi nằm ở đâu?”

Đó mới là cuộc đối thoại lịch sử.

23. Và một câu hỏi dành cho Võ Văn Kiệt

“Nếu không có những người như Trường Chinh ở Trung ương, những thử nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh có thể đi xa đến đâu?”

Câu trả lời có lẽ không thể là: “Không đi được.”

Nhưng cũng không thể là: “Chắc chắn sẽ thành công.”

Một địa phương có thể tiếp tục thử nghiệm.

Nhưng nếu Trung ương không thay đổi luật chơi, thử nghiệm địa phương luôn có giới hạn.

Đó chính là bài học:

Không có thể chế hóa, cải cách địa phương rất dễ trở thành ngoại lệ.

24. Ba tầng của Đổi mới

Qua Võ Văn Kiệt và Trường Chinh, có thể thấy ba tầng:

Tầng 1 — Thực tiễn

Người dân, doanh nghiệp, địa phương tìm cách giải quyết vấn đề.

Tầng 2 — Tổng kết

Lãnh đạo và chuyên gia tìm nguyên nhân, phân biệt cái gì có thể nhân rộng.

Tầng 3 — Thể chế

Trung ương thay đổi chính sách và luật chơi.

Nếu thiếu tầng 1:

cải cách không có dữ liệu sống.

Nếu thiếu tầng 2:

cải cách dễ trở thành cảm tính.

Nếu thiếu tầng 3:

cải cách chỉ tồn tại như những ngoại lệ.

Đây chính là công thức mà cuốn sách cần giữ:

Thực tiễn → Tổng kết → Thể chế hóa.

25. Quy luật vận hành – Bài học Hưng Quốc

Từ Võ Văn Kiệt và Trường Chinh, có thể rút ra một quy luật:

Một quốc gia chỉ có thể cải cách bền vững khi biết biến kinh nghiệm sống của xã hội thành tri thức chính sách và biến tri thức chính sách thành luật chơi ổn định.

Đó là ba bước:

Dân làm → Nhà nước học → Thể chế sửa.

Nhưng phải thêm bước thứ tư:

Thể chế mới → Dân kiểm chứng.

Bởi sau khi ban hành chính sách, người dân lại tạo ra thực tiễn mới.

Và chu trình lại tiếp tục:

Thực tiễn → chính sách → thể chế → thực tiễn mới.

Một quốc gia biết học là một quốc gia có khả năng phát triển.

Một quốc gia không biết học sẽ lặp lại chính những sai lầm mà nó từng trải qua.

ĐẶT LẠI VẤN ĐỀ

Người ta thường nói Võ Văn Kiệt là người phá rào. Trường Chinh là người đưa Đổi mới thành đường lối.

Cách nói này có phần đúng nhưng vẫn chưa đủ.

Câu hỏi sâu hơn là:

Ai đã tạo ra tri thức để Trung ương buộc phải thay đổi?

Câu trả lời không phải một người.

Đó là người dân + cơ sở sản xuất + địa phương + chuyên gia + nhà quản lý + lãnh đạo Trung ương.

Võ Văn Kiệt, Trường Chinh là một mắt xích rất quan trọng, nhưng Đổi mới là sản phẩm của một quá trình học tập tập thể dưới sức ép của khủng hoảng của chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

VẤN NẠN

Nếu một chính sách chỉ thay đổi sau khi người dân đã khốn khổ vì nó trong nhiều năm, thì câu hỏi không chỉ là:

“Ai đã sửa sai?”

Mà phải hỏi:

“Tại sao hệ thống mất quá lâu mới nhận ra sai lầm?”

Đây là câu hỏi về năng lực tự sửa sai của quốc gia.

Và đây cũng là câu hỏi mà Hưng Quốc Học phải đặt ở tầng sâu hơn:

Một nhà nước mạnh không phải là nhà nước không bao giờ sai.

Một nhà nước mạnh là nhà nước có khả năng nhận ra sai, sửa sai và tạo cơ chế để sai lầm không lặp lại.

KẾT CHƯƠNG

Võ Văn Kiệt cho chúng ta nhìn thấy thực tiễn đi trước chính sách.

Trường Chinh cho chúng ta nhìn thấy tư duy chính sách có thể thay đổi trước sức ép của thực tiễn.

Giữa hai người là cả một quá trình thử nghiệm → tranh luận → khảo sát → tổng kết → thay đổi tư duy → thay đổi đường lối.

Đại hội VI là một cột mốc. Nhưng nó không phải điểm kết thúc.

Nó chỉ mở ra một câu hỏi mới:

Sau khi đã quyết định Đổi mới, ai sẽ thực hiện nó?

Và khi bước vào thực hiện, những lực lượng nào sẽ ủng hộ?

Ai sẽ phản đối? Đổi mới sẽ đi đến đâu? Ai sẽ được hưởng lợi và sẽ mất đặc quyền?

Và quan trọng nhất:

Khi nền kinh tế được mở ra, quyền lực kinh tế sẽ được tổ chức lại như thế nào?

Đó là nơi chúng ta phải bước sang Đỗ Mười.

Bởi nếu Võ Văn Kiệt đại diện nổi bật cho thực tiễn cải cách, Nguyễn Văn Linh cho tư duy đổi mới trong lãnh đạo, Trường Chinh cho sự chuyển hóa thực tiễn thành đường lối, thì Đỗ Mười đặt chúng ta trước một bài toán khác:

Làm thế nào để vừa cải cách vừa giữ được một hệ thống đang phải tự thay đổi chính mình?

Và ở đó, câu chuyện sẽ trở nên khó hơn rất nhiều.

Hoàng Phong Nhã 

Tài liệu nền của chương

Đại hội VI, 15–18/12/1986: Trường Chinh đọc Báo cáo Chính trị; Nguyễn Văn Linh đọc diễn văn khai mạc; Võ Văn Kiệt trình bày báo cáo về phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế–xã hội 1986–1990. �

Tulieu Van Kien

Niên biểu Trung ương khóa V: Hội nghị Trung ương 10 tháng 5/1986 phân tích những sai lầm trong giá–lương–tiền và khẳng định quyết tâm xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; tháng 7/1986 Trường Chinh trở thành Tổng Bí thư. �

Tulieu Van Kien

Quá trình khảo sát TP.HCM: tư liệu của Báo Nhân Dân ghi nhận Nguyễn Văn Linh và lãnh đạo thành phố báo cáo với các lãnh đạo Trung ương năm 1983; sau đó Trường Chinh trực tiếp khảo sát thực tiễn, gặp các giám đốc xí nghiệp và đi đến kết luận cần đổi mới. �

Nguyễn Văn Linh

Vai trò của Võ Văn Kiệt: các tư liệu chính thức ghi nhận ông thường xuyên xuống cơ sở, phát hiện nhân tố mới và đề xuất chính sách từ thực tiễn. �

Báo Nhân Dân điện tử

Các nhóm chuyên gia: tư liệu về Văn phòng kinh tế của Bí thư Thành ủy và “Nhóm thứ sáu” cho thấy Võ Văn Kiệt sử dụng một mạng lưới chuyên gia khá đa dạng, trong đó có người từng làm việc trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đây sẽ là tư liệu quan trọng cho các chương 15, 19, 20 và 23. �

Báo Nhân Dân điện tử

Một điểm tôi muốn khóa ở chương này: từ đây trở đi, ta không nên viết “Đổi mới bắt đầu năm 1986” theo nghĩa tuyệt đối. Chính xác hơn là 1986 là mốc chính trị–đường lối quyết định; còn quá trình hình thành đã diễn ra từ trước, và quá trình thực thi sâu rộng còn tiếp tục sau 1986. Tư liệu IMF và World Bank mà ta đã thu thập cho Chương V sẽ đặc biệt quan trọng khi sau này viết về giai đoạn 1987–1989.

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

CHƯƠNG 13 - TIẾN VÀO THIÊN NIÊN KỶ MỚI - DÂN TỘC VÀ CĂN TÍNH VIỆT NAM

CHƯƠNG 13

DÂN TỘC VÀ CĂN TÍNH VIỆT NAM

Luận đề

Sau khi đặt câu hỏi “Quốc gia là gì?”, câu hỏi tiếp theo không thể tránh khỏi là:

Điều gì khiến những con người khác nhau nhận mình là cùng một dân tộc?

Một quốc gia có thể được xác định bằng lãnh thổ, dân cư, chủ quyền và các thiết chế nhà nước. Nhưng một dân tộc không chỉ tồn tại trong bản đồ hay trong văn bản pháp luật. Dân tộc còn tồn tại trong ký ức, ngôn ngữ, văn hóa, biểu tượng, những câu chuyện được truyền lại, những mất mát được tưởng nhớ và đặc biệt là trong cảm giác “chúng ta thuộc về nhau”.

Nhưng căn tính dân tộc không phải một thứ được đóng dấu vĩnh viễn từ quá khứ. Một dân tộc không phải là một sinh vật bất biến.

Nó được hình thành, tiếp nhận, biến đổi, tranh luận, tự định nghĩa và tái định nghĩa qua lịch sử.

Vì vậy, vấn đề của Việt Nam trong kỷ nguyên mới không phải là:

“Làm thế nào để giữ nguyên căn tính Việt Nam?”, mà phải hỏi sâu hơn “Làm thế nào để căn tính Việt Nam đủ vững để không bị hòa tan, nhưng cũng đủ mở để có thể học hỏi, tự sửa mình và sáng tạo tương lai?”

Đó là bài toán của một dân tộc bước vào Kỷ nguyên thứ Hai.

I. DÂN TỘC KHÔNG PHẢI LÀ MỘT KHÁI NIỆM ĐƠN NHẤT

Trong ngôn ngữ đời thường, “dân tộc”, “quốc gia”, “đất nước”, “người Việt” thường được dùng gần như đồng nghĩa.

Nhưng về mặt học thuật, chúng không hoàn toàn giống nhau.

Quốc gia là cộng đồng chính trị–pháp lý.

Nhà nước là hệ thống thiết chế thực thi quyền lực công.

Quốc gia–dân tộc có thể bao gồm cả chiều kích chính trị lẫn lịch sử–văn hóa.

Còn dân tộc theo nghĩa lịch sử–văn hóa là một cộng đồng được liên kết bởi những ký ức, biểu tượng, ngôn ngữ, truyền thống, cảm giác thuộc về và những câu chuyện chung.

Do đó, không thể dùng một tiêu chí duy nhất để trả lời câu hỏi:

“Ai là người Việt?”

Nếu trả lời bằng huyết thống, chúng ta bỏ qua lịch sử giao lưu và tiếp biến. Nếu trả lời bằng ngôn ngữ, chúng ta bỏ qua sự đa dạng văn hóa. Nếu trả lời bằng lãnh thổ, chúng ta bỏ qua cộng đồng Việt Nam ở bên ngoài lãnh thổ. Nếu trả lời bằng pháp lý, chúng ta bỏ qua chiều sâu của ký ức và văn hóa. Nếu trả lời bằng quá khứ, chúng ta bỏ qua tương lai.

Căn tính dân tộc vì vậy phải được nhìn như một cấu trúc nhiều lớp.

II. HAI CỰC ĐOAN: CĂN TÍNH BẤT BIẾN VÀ CĂN TÍNH HƯ VÔ

Có hai cách nhìn tưởng như đối lập nhưng đều có thể dẫn tới sai lầm.

Cực đoan thứ nhất: Căn tính là bản chất bất biến

Theo cách nhìn này, người Việt “vốn đã như thế” từ hàng nghìn năm trước.

Người Việt được mô tả bằng một danh sách những phẩm chất gần như cố định cần cù; thông minh; yêu nước; đoàn kết; chịu thương chịu khó; thích nghi; trọng tình. Những phẩm chất ấy có thể chứa những quan sát đúng.

Nhưng nếu biến chúng thành bản chất vĩnh cửu của dân tộc, chúng ta sẽ không còn khả năng giải thích vì sao người Việt thay đổi.

Một dân tộc từng sống trong xã hội nông nghiệp có thể trở thành xã hội công nghiệp.

Một xã hội từng tổ chức chủ yếu bằng quan hệ làng xã có thể trở thành xã hội đô thị.

Một nền văn hóa từng tiếp nhận chữ Hán có thể sáng tạo chữ Nôm rồi chuyển sang Quốc ngữ.

Một cộng đồng từng có đời sống chính trị chủ yếu trong phạm vi quân chủ có thể bước vào nhà nước hiện đại.

Nếu căn tính hoàn toàn bất biến, những biến đổi ấy sẽ không thể giải thích được.

Cực đoan thứ hai: Dân tộc chỉ là một “sản phẩm tưởng tượng”

Một số cách tiếp cận hiện đại nhấn mạnh rằng dân tộc được kiến tạo thông qua ký ức, biểu tượng, truyền thông và những câu chuyện chung.

Điều này giúp chúng ta tránh việc thần thánh hóa “dòng máu”.

Nhưng nếu đẩy quá xa, người ta có thể đi đến kết luận rằng dân tộc chỉ là một câu chuyện tùy ý.

Không phải vậy.

Một căn tính có thể được kiến tạo mà vẫn có sức mạnh hiện thực.

Tiền tệ cũng là một thiết chế được con người kiến tạo, nhưng nó có sức mạnh rất thật.

Luật pháp cũng do con người tạo ra, nhưng có thể quyết định số phận một con người.

Quốc gia cũng được xây dựng bằng những thiết chế và ký ức chung, nhưng chiến tranh, hòa bình, nghĩa vụ và lòng trung thành đối với nó đều có hậu quả thực tế.

Vì vậy:

Căn tính dân tộc không phải bản chất bất biến, nhưng cũng không phải ảo tưởng không có thực. Nó là một thực tại lịch sử–xã hội được con người liên tục tạo dựng và tái tạo.

III. CĂN TÍNH KHÔNG PHẢI LÀ MỘT GENE

Không có một “gene Việt Nam” quy định trước người Việt phải nghĩ thế nào, yêu nước ra sao hay tổ chức xã hội như thế nào.

Con người sinh ra với những đặc điểm sinh học nhất định, nhưng căn tính dân tộc được học, sống và truyền lại trong xã hội.

Một đứa trẻ học ngôn ngữ; cách xưng hô; cách ứng xử; những câu chuyện về tổ tiên; những ngày lễ; những biểu tượng; những bài hát; những ký ức của gia đình; những câu chuyện về đất nước.

Qua quá trình ấy, đứa trẻ dần hình thành cảm giác:

“Đây là thế giới của chúng ta.”

Nhưng thế giới ấy không đứng yên.

Mỗi thế hệ đều tiếp nhận một căn tính từ thế hệ trước, đồng thời biến đổi nó.

Vì thế:

Căn tính là sự liên tục trong biến đổi.

Đây là một trong những nguyên lý quan trọng nhất để hiểu dân tộc Việt Nam.

IV. CĂN TÍNH VIỆT NAM ĐƯỢC HÌNH THÀNH QUA NHIỀU LỚP LỊCH SỬ

Không có một thời điểm duy nhất mà “căn tính Việt Nam” hoàn thành.

Nó là kết quả của nhiều lớp lịch sử chồng lên nhau.

1. Những cộng đồng cư dân cổ và không gian văn hóa ban đầu

Trước khi có nhà nước Việt Nam hiện đại, vùng đất ngày nay thuộc Việt Nam đã là nơi cư trú và giao lưu của nhiều cộng đồng.

Các nền văn hóa khảo cổ khác nhau cho thấy lịch sử khu vực này không bắt đầu từ một cộng đồng thuần nhất đã hoàn chỉnh.

Điều quan trọng ở đây không phải tìm một “dân tộc Việt nguyên thủy” hoàn toàn tinh khiết.

Điều quan trọng hơn là nhận ra:

Căn tính Việt Nam được hình thành trong một không gian giao tiếp và hội tụ.

2. Tiếp xúc lâu dài với Trung Hoa

Không thể hiểu lịch sử Việt Nam nếu phủ nhận ảnh hưởng sâu rộng của văn minh Trung Hoa.

Việt Nam tiếp nhận chữ Hán; tư tưởng Nho giáo; Phật giáo và Đạo giáo qua nhiều con đường; mô hình hành chính; luật lệ; văn chương; kỹ thuật; nhiều yếu tố tổ chức nhà nước.

Nhưng tiếp nhận không đồng nghĩa với sao chép.

Người Việt sử dụng những nguồn lực văn hóa ấy để tạo ra những hình thức riêng.

Đó chính là quá trình:

Tiếp nhận → biến đổi → Việt hóa → sáng tạo.

Đây là một trong những quy luật quan trọng nhất của căn tính Việt Nam.

3. Hình thành một không gian chính trị độc lập

Từ các quá trình đấu tranh, xây dựng nhà nước và phát triển xã hội qua nhiều thế kỷ, một ý thức về một không gian chính trị riêng ngày càng rõ nét.

Những văn bản như Nam quốc sơn hà và Bình Ngô đại cáo cho thấy những tầng phát triển khác nhau của ý thức về quốc gia, chủ quyền và cộng đồng chính trị.

Nhưng khi sử dụng những văn bản ấy, cần tránh một sai lầm thường gặp:

Không nên lấy khái niệm “dân tộc–quốc gia” của thế kỷ XXI rồi áp ngược nguyên vẹn vào thế kỷ XI hay XV.

Các khái niệm chính trị thay đổi theo thời đại.

Điều có thể nói chắc chắn hơn là những văn bản ấy cung cấp bằng chứng quan trọng về ý thức về lãnh thổ, chủ quyền, cộng đồng và sự khác biệt chính trị trong những thời kỳ lịch sử khác nhau.

Đó là cách đọc lịch sử vừa trân trọng vừa tỉnh táo.

V. NAM TIẾN: CĂN TÍNH VIỆT NAM ĐƯỢC HÌNH THÀNH TRONG MỘT KHÔNG GIAN MỞ RỘNG

Đây là một phần không thể né tránh nếu muốn nói nghiêm túc về căn tính Việt Nam.

Lịch sử Việt Nam không chỉ là lịch sử của vùng châu thổ sông Hồng.

Không gian Việt Nam hiện đại được hình thành qua nhiều quá trình di cư; khai phá; thương mại; hôn nhân; chiến tranh; mở rộng hành chính; định cư; giao lưu văn hóa; tiếp xúc và xung đột giữa các cộng đồng.

Quá trình Nam tiến vì vậy phải được nghiên cứu như một quá trình lịch sử phức tạp, chứ không nên kể như một câu chuyện đơn tuyến rằng một cộng đồng vốn đã hoàn chỉnh chỉ đơn giản “đi xuống phía Nam”.

Champa, Khmer và nhiều cộng đồng cư dân khác không phải những cái tên bên ngoài lịch sử Việt Nam.

Họ là một phần của lịch sử hình thành không gian mà Việt Nam ngày nay đang sống trong đó.

Một căn tính trưởng thành không sợ sự thật lịch sử.

Nó không cần phủ nhận những đóng góp của mình.

Nhưng nó cũng không cần xóa dấu vết của những cộng đồng đã cùng tạo nên lịch sử khu vực.

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng:

Biết mình không đòi hỏi phải quên người khác.

Và tự hào về lịch sử không đồng nghĩa với việc biến lịch sử thành bản án đạo đức cho các thế hệ hiện tại.

VI. “VIỆT HÓA” – MỘT NĂNG LỰC CỦA DÂN TỘC

Nếu phải tìm một khái niệm có khả năng diễn tả một phần quan trọng của sức sống Việt Nam, đó là:

VIỆT HÓA.

Việt hóa không phải là đóng cửa.

Cũng không phải là lấy cái của người khác rồi đổi tên.

Việt hóa là khả năng tiếp nhận một yếu tố bên ngoài, đặt nó vào hoàn cảnh của mình, biến đổi nó, kết hợp với vốn có và tạo ra một hình thức mới có ý nghĩa đối với chính mình.

Chữ Hán không còn nguyên trạng khi đi vào đời sống Việt Nam.

Nho giáo ở Việt Nam không hoàn toàn giống Nho giáo Trung Hoa.

Phật giáo Việt Nam có những hình thức và truyền thống riêng.

Chữ Nôm là một sáng tạo từ quá trình tiếp xúc với hệ thống chữ viết Hán.

Quốc ngữ lại mở ra một giai đoạn mới.

Đó là những ví dụ khác nhau của một quy luật:

Dân tộc mạnh không phải dân tộc không tiếp nhận ảnh hưởng bên ngoài; dân tộc mạnh là dân tộc có khả năng biến ảnh hưởng bên ngoài thành năng lực của chính mình.

Vì thế, trong Kỷ nguyên thứ Hai:

Việt hóa phải trở thành năng lực đổi mới.

Việt Nam không thể chỉ hỏi:

“Thế giới đang làm gì?”

Mà phải hỏi:

“Điều gì phù hợp với chúng ta, điều gì cần biến đổi, và chúng ta có thể tạo ra điều gì tốt hơn?”

VII. CĂN TÍNH VIỆT NAM KHÔNG CHỈ CÓ MỘT TẦNG

Để tránh đồng nhất “Việt Nam” với một mẫu người duy nhất, cần phân biệt ít nhất bốn tầng căn tính.

1. Căn tính văn hóa

Ngôn ngữ, phong tục, nghệ thuật, ký ức, tín ngưỡng và đời sống thường nhật.

2. Căn tính lịch sử

Những gì các thế hệ cùng nhớ, cùng kể, cùng tranh luận về quá khứ.

3. Căn tính chính trị

Ý thức rằng:

“Chúng ta cùng thuộc về một cộng đồng chính trị và cùng chịu trách nhiệm đối với tương lai của cộng đồng ấy.”

4. Căn tính tương lai

Đây là tầng thường bị bỏ quên.

Một dân tộc không chỉ được xác định bởi những gì họ đã từng là.

Dân tộc còn được xác định bởi những gì họ cùng muốn trở thành.

Đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam trong Kỷ nguyên thứ Hai.

Nếu căn tính chỉ quay về quá khứ, nó có thể biến thành bảo thủ.

Nếu căn tính chỉ hướng tới tương lai mà phủ nhận quá khứ, nó có thể trở thành một dự án không có gốc rễ.

Một dân tộc trưởng thành phải có cả:

ký ức về quá khứ + ý thức về hiện tại + khát vọng về tương lai.

VIII. NGÔN NGỮ – NƠI DÂN TỘC TỰ GỌI TÊN MÌNH

Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền đạt thông tin.

Ngôn ngữ chứa cách một cộng đồng gọi người khác; cách gọi cha mẹ; cách gọi quê hương; cách kể chuyện; cách diễn đạt tình cảm; cách đặt câu hỏi; cách phân biệt đúng–sai; cách lưu giữ ký ức.

Lịch sử chữ viết Việt Nam là một ví dụ đặc biệt rõ.

Từ chữ Hán đến chữ Nôm, rồi đến Quốc ngữ, lịch sử chữ viết cho thấy căn tính không nhất thiết được bảo vệ bằng cách giữ nguyên hình thức cũ.

Một dân tộc có thể thay đổi công cụ biểu đạt mà vẫn duy trì và tái tạo căn tính.

Thậm chí, đôi khi chính sự thay đổi công cụ ấy lại mở ra một giai đoạn mới của dân tộc.

Vì vậy:

Bảo vệ tiếng Việt không có nghĩa chỉ bảo vệ từ vựng cũ; còn phải bảo vệ khả năng của tiếng Việt trong việc diễn đạt những tư tưởng mới.

Một ngôn ngữ mạnh không chỉ kể được chuyện của tổ tiên.

Nó phải nói được khoa học; triết học; công nghệ; luật pháp; trí tuệ nhân tạo; kinh tế; nghệ thuật; những vấn đề đạo đức của tương lai.

Nếu tiếng Việt không đủ năng lực diễn đạt thế giới mới, căn tính cũng sẽ bị thu hẹp.

IX. “NGƯỜI VIỆT” KHÔNG CHỈ LÀ VẤN ĐỀ HUYẾT THỐNG

Một trong những thay đổi lớn của thế giới hiện đại là con người có thể sống ở nhiều nơi nhưng vẫn duy trì những tầng căn tính khác nhau.

Một người có thể đồng thời là thành viên của gia đình; thành viên của một cộng đồng địa phương; người Việt; công dân của một quốc gia khác; thành viên của một cộng đồng nghề nghiệp toàn cầu.

Các căn tính ấy không nhất thiết loại trừ nhau.

Vì vậy, cộng đồng người Việt ở nước ngoài không nên được nhìn chỉ như một vấn đề “người ở ngoài” và “người ở trong”.

Câu hỏi sâu hơn là:

Một dân tộc có thể duy trì sự gắn bó xuyên biên giới như thế nào mà không biến căn tính thành một công cụ chính trị để phân chia người Việt thành những nhóm “đúng” và “không đúng”?

Đây là vấn đề sẽ được phát triển sâu hơn ở Chương 17, khi bàn về Đồng bào và cộng đồng chính trị.

Ở đây chỉ cần xác lập nguyên tắc:

Căn tính có thể vượt qua biên giới địa lý, nhưng cộng đồng chính trị phải được xây dựng trên quyền, nghĩa vụ và sự tự nguyện thuộc về nhau.

X. CĂN TÍNH DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC KHÔNG PHẢI LÀ MỘT

Đây là một phân biệt bắt buộc.

Có căn tính dân tộc không đồng nghĩa với theo chủ nghĩa dân tộc.

Một người có thể yêu tiếng Việt, nhớ quê hương, tự hào về lịch sử Việt Nam và mong Việt Nam giàu mạnh mà không cần tin rằng dân tộc mình cao hơn dân tộc khác.

Lòng tự hào có thể nói:

“Đây là điều thuộc về chúng tôi.”

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan có thể biến thành:

“Vì đây là của chúng tôi nên chúng tôi cao hơn người khác.”

Khoảng cách giữa hai điều ấy rất lớn.

Căn tính có thể tạo ra đoàn kết; trách nhiệm; hy sinh; hợp tác; niềm tin.

Nhưng khi bị tuyệt đối hóa, nó cũng có thể tạo ra bài ngoại; kỳ thị; đồng hóa cưỡng bức; sùng bái lịch sử; phủ nhận sai lầm; coi người bất đồng là phản bội.

Một dân tộc trưởng thành phải có khả năng nói:

“Chúng ta có quyền yêu mình mà không cần khinh người khác.”

Đó là một trong những dấu hiệu của lòng yêu nước trưởng thành.

XI. CĂN TÍNH VIỆT NAM VÀ 53 DÂN TỘC THIỂU SỐ

Một quốc gia có thể có một căn tính quốc gia chung mà không cần biến mọi cộng đồng văn hóa thành một khuôn mẫu duy nhất.

Việt Nam có 54 dân tộc được Nhà nước công nhận.

Điều đó đặt ra một câu hỏi quan trọng:

Căn tính Việt Nam có phải là một căn tính duy nhất của người Kinh rồi những cộng đồng khác chỉ đứng bên cạnh?

Nếu trả lời như vậy, căn tính quốc gia sẽ trở nên quá hẹp.

Một cách tiếp cận trưởng thành hơn là phân biệt căn tính văn hóa riêng và căn tính chính trị chung.

Một người có thể giữ tiếng nói; phong tục; ký ức; tín ngưỡng; nghệ thuật; cộng đồng riêng; đồng thời chia sẻ một cộng đồng chính trị Việt Nam.

Như vậy:

Đoàn kết không nhất thiết là đồng nhất.

Một quốc gia mạnh không phải quốc gia làm cho mọi người giống nhau, mà là quốc gia khiến những người khác nhau có thể cùng sống trong một trật tự công bằng.

Đây chính là tiền đề để chuyển từ khái niệm “đồng nhất văn hóa” sang “thống nhất chính trị trong đa dạng văn hóa.”

XII. ÁN LỆ LỊCH SỬ I – VIỆT NAM: MỘT CĂN TÍNH ĐƯỢC HÌNH THÀNH QUA HỘI TỤ

Nếu nhìn toàn bộ lịch sử Việt Nam, khó có thể tìm thấy một căn tính hoàn toàn thuần khiết.

Có: yếu tố bản địa; ảnh hưởng Đông Á;  Nam Á qua Phật giáo; Đông Nam Á;  phương Tây; các quá trình di cư và giao thương; các cộng đồng cư dân khác nhau; những biến đổi của không gian chính trị.

Nhưng kết quả cuối cùng không phải là một bản sao của bất kỳ nền văn minh nào.

Đó là một cấu trúc mang tính Việt Nam. Đây là điểm cần nhìn nhận một cách nghiêm túc:

Căn tính Việt Nam không mạnh vì nó tinh khiết. Nó mạnh ở chỗ có khả năng hội tụ và chuyển hóa.

Nếu đúng như vậy, “Việt hóa” không chỉ là một hiện tượng văn hóa trong quá khứ.

Nó có thể trở thành một năng lực phát triển quốc gia trong tương lai.

XIII. ÁN LỆ SO SÁNH – INDONESIA: THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG

Indonesia là một trường hợp đặc biệt hữu ích cho Việt Nam.

Đây là một quốc gia quần đảo với sự đa dạng lớn về: ngôn ngữ; dân tộc; tôn giáo; địa phương; lịch sử.

Nhưng quốc gia hiện đại đã phải xây dựng một căn tính chính trị đủ rộng để các cộng đồng khác nhau cùng thuộc về một quốc gia.

Bài học quan trọng không phải là Việt Nam phải sao chép Indonesia.

Bài học là:

Căn tính quốc gia có thể được xây dựng ở tầng chính trị chung mà không xóa bỏ hoàn toàn sự đa dạng ở tầng văn hóa.

Đây là một vấn đề ngày càng quan trọng khi Việt Nam đô thị hóa, di động dân cư và hội nhập sâu hơn.

XIV. ÁN LỆ LỊCH SỬ II – KÝ ỨC VIỆT NAM THẾ KỶ XX

Không có căn tính dân tộc trưởng thành nào nếu chỉ cho phép một ký ức duy nhất tồn tại.

Thế kỷ XX để lại cho người Việt những ký ức khác nhau về: thuộc địa; độc lập; chiến tranh; chia cắt; di cư; mất mát; cải tạo; vượt biên; đổi mới; hội nhập.

Những ký ức ấy đôi khi mâu thuẫn.

Một người có thể nhìn một sự kiện bằng ký ức gia đình hoàn toàn khác với người khác.

Điều đó không có nghĩa một bên nhất thiết không phải người Việt.

Ngược lại, chính sự khác biệt ấy cho thấy căn tính Việt Nam vẫn đang được thương lượng.

Một quốc gia trưởng thành không nhất thiết phải buộc mọi người nhớ quá khứ theo cùng một cách.

Điều cần thiết hơn là:

mọi người có thể cùng nói về quá khứ mà không biến ký ức thành lý do để phủ nhận nhân phẩm của nhau.

Đây sẽ là nền tảng cho Chương 15 và Chương 16 về hòa giải, hòa hợp và ký ức.

XV. CĂN TÍNH MẠNH PHẢI CÓ KHẢ NĂNG TỰ PHẢN BIỆN

Đây là nơi Chương 13 nối trực tiếp với Phần II.

Nếu căn tính được coi là thiêng liêng đến mức không thể chất vấn, thì căn tính trở thành một cái lồng.

Một dân tộc trưởng thành phải có khả năng hỏi:

Điều gì trong truyền thống của chúng ta đáng giữ? Điều gì từng phù hợp nhưng nay không còn phù hợp? Điều gì trong lịch sử đáng tự hào? Điều gì cần nhìn nhận với sự hổ thẹn? Điều gì chúng ta đã hiểu sai? Điều gì cần sửa? Điều gì thế hệ trước chưa làm được mà thế hệ sau phải làm? Đây không phải là tự phủ định. Đó là tự trưởng thành.

Một dân tộc không thể mạnh nếu chỉ có khả năng ca ngợi mình.

Nó phải có khả năng tự phê bình mà không tự khinh mình.

Đây chính là sự khác biệt giữa tự hào dân tộc và tự mãn dân tộc.

Tự hào nói:

“Chúng ta đã làm được.”

Tự mãn nói:

“Vì chúng ta đã làm được nên chúng ta không cần thay đổi.”

Khai sáng nói:

“Chúng ta đã làm được, nhưng chúng ta còn có thể làm tốt hơn.”

XVI. CĂN TÍNH VIỆT NAM: GIỮ – VƯỢT – SÁNG TẠO

Nếu phải đưa ra một nguyên tắc thực hành cho căn tính Việt Nam trong Kỷ nguyên thứ Hai, có thể cô đọng thành ba động từ:

GIỮ – VƯỢT – SÁNG TẠO

Giữ

Giữ những giá trị đã tạo nên sức sống của cộng đồng: tình nghĩa; tinh thần cộng đồng; khả năng thích nghi; ý thức độc lập; lòng yêu nước; khả năng học hỏi; sự bền bỉ; năng lực hội tụ.

Vượt

Vượt những mặt trái từng cản trở sự phát triển: tâm lý thứ bậc; trọng quan hệ hơn nguyên tắc; ngại phản biện; sợ mất mặt; đồng thuận bằng im lặng; tư duy nhiệm kỳ; cục bộ địa phương; tùy tiện trong thực thi quyền lực; tâm lý thành tích.

Sáng tạo

Tạo ra những phẩm chất mới: tinh thần công dân; văn hóa pháp quyền; tư duy khoa học; năng lực phản biện; tinh thần sáng tạo; tôn trọng khác biệt; trách nhiệm xã hội; tự chủ cá nhân; hợp tác toàn cầu.

Đây chính là:

Hội tụ → Việt hóa → Khai phóng → Sáng tạo.

Không phải trở thành một dân tộc khác.

Mà là trở thành một phiên bản trưởng thành hơn của chính mình.

XVII. HỌC GIẢ HƯNG QUỐC – CĂN TÍNH CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐẾN ĐÂU?

Học giả A:

— Nếu căn tính dân tộc có thể thay đổi, vậy còn gì gọi là “bản sắc”?

Học giả B:

— Một con người thay đổi theo tuổi tác, nhưng vẫn là cùng một con người. Vì sao một dân tộc lại không thể như vậy?

Học giả A:

— Nhưng nếu thay đổi quá nhiều thì có thể mất mình.

Học giả B:

— Đúng. Nhưng mất mình không phải chỉ vì thay đổi. Đôi khi một dân tộc mất mình vì không còn khả năng tự định nghĩa mình.

Học giả A:

— Vậy cái gì tạo nên sự liên tục?

Học giả B:

— Không phải một danh sách những phong tục bất biến. Mà là khả năng truyền lại những giá trị cốt lõi, đồng thời cho phép thế hệ mới diễn giải chúng theo hoàn cảnh mới.

Học giả A:

— Như vậy căn tính không phải một chiếc hộp?

Học giả B:

— Không. Nó là một dòng chảy có nguồn, có bờ và có khả năng tìm đường đi mới.

Đó chính là:

liên tục trong biến đổi.

XVIII. PHẢN ĐỀ: “GIỮ BẢN SẮC” CÓ THỂ TRỞ THÀNH MỘT CÁI CỚ ĐỂ KHÔNG THAY ĐỔI

Mọi lời kêu gọi bảo vệ bản sắc đều cần được đặt trước một câu hỏi:

Bảo vệ cái gì?

Nếu bảo vệ: phẩm giá; ngôn ngữ; ký ức; văn hóa; lòng nhân ái; tinh thần cộng đồng; thì đó là bảo vệ nền tảng.

Nhưng nếu “bản sắc” được dùng để bảo vệ: bất bình đẳng; mê tín; đặc quyền; sự tùy tiện; im lặng trước quyền lực; kỳ thị người khác biệt; thì đó không còn là bảo vệ căn tính.

Đó là bảo vệ thói quen của quá khứ bằng danh nghĩa căn tính.

Không phải mọi thứ tồn tại lâu đều đáng giữ.

Thời gian tồn tại không phải là bằng chứng của giá trị.

Một dân tộc có trí tuệ phải biết phân biệt: truyền thống đáng giữ với thói quen cần vượt qua.

XIX. PHẢN CHỨNG: TOÀN CẦU HÓA KHÔNG XÓA BỎ CĂN TÍNH

Có quan điểm cho rằng toàn cầu hóa sẽ khiến căn tính dân tộc ngày càng mờ nhạt.

Điều này chỉ đúng một phần.

Toàn cầu hóa làm: hàng hóa lưu chuyển; con người di chuyển; thông tin vượt biên giới; văn hóa giao thoa; công nghệ phổ biến.

Nhưng càng hội nhập, con người đôi khi càng ý thức rõ hơn về câu hỏi:

“Mình là ai?”

Một bộ phim Việt có thể được xem ở nhiều quốc gia.

Một món ăn Việt có thể đi khắp thế giới.

Một nhà khoa học Việt Nam có thể làm việc trong mạng lưới toàn cầu nhưng vẫn sáng tạo từ những câu hỏi của Việt Nam.

Một người Việt ở nước ngoài có thể có nhiều căn tính cùng lúc.

Toàn cầu hóa vì vậy không nhất thiết dẫn tới:

mất căn tính.

Nó có thể dẫn tới:

căn tính nhiều tầng.

Thách thức của Việt Nam không phải là đóng cửa để giữ mình.

Mà là xây dựng một căn tính đủ tự tin để hội nhập mà không mặc cảm, đủ mở để học hỏi mà không lệ thuộc.

XX. MỘT CĂN TÍNH VIỆT NAM CHO KỶ NGUYÊN THỨ HAI

Nếu Kỷ nguyên thứ Nhất đặt trọng tâm vào:

tồn tại – độc lập – thống nhất – ổn định – phát triển,

thì Kỷ nguyên thứ Hai cần một căn tính có khả năng phục vụ những mục tiêu cao hơn:

tự do – sáng tạo – pháp quyền – thịnh vượng – phẩm giá – trách nhiệm – tự chủ.

Điều đó đòi hỏi một sự chuyển dịch quan trọng.

Từ  “Chúng ta là một vì chúng ta giống nhau.” sang “Chúng ta là một vì chúng ta cùng thuộc về một tương lai.”

Từ “Yêu nước là đồng thuận.” sang “Yêu nước có thể bao gồm cả quyền bất đồng.”

Từ “Truyền thống là thứ phải giữ nguyên.” sang “Truyền thống là nguồn lực để thế hệ mới sáng tạo.”

Từ “Dân tộc là quá khứ.” sang “Dân tộc là quá khứ được truyền lại, hiện tại được sống và tương lai được cùng nhau tạo dựng.”

XXI. QUY LUẬT HƯNG QUỐC

Từ toàn bộ phân tích trên, có thể rút ra một quy luật:

Dân tộc mạnh không phải là dân tộc không thay đổi; dân tộc mạnh là dân tộc có khả năng thay đổi mà không đánh mất tính liên tục của mình.

Nhưng cần thêm một mệnh đề nữa:

Dân tộc yếu không nhất thiết là dân tộc mất bản sắc; đôi khi đó là dân tộc mất khả năng tự định nghĩa và tự sửa mình.

Vì vậy, căn tính quốc gia trong Kỷ nguyên thứ Hai phải có bốn năng lực:

Tiếp nhận. Việt hóa.

Tự phản biện.

Sáng tạo.

Có thể cô đọng thành:

Căn tính mạnh = Gốc rễ + Khả năng tiếp nhận + Năng lực tự sửa + Khả năng sáng tạo.

Một dân tộc chỉ có gốc rễ mà không tiếp nhận sẽ trở nên khép kín, nhưng chỉ tiếp nhận mà không Việt hóa sẽ trở thành bản sao.

Một dân tộc tiếp nhận và Việt hóa nhưng không tự phản biện sẽ trở nên tự mãn.

Một dân tộc có cả bốn năng lực mới có thể bước vào tương lai bằng tư thế của một chủ thể.

XXII. BÀI HỌC VIỆT NAM

Từ đó, Việt Nam cần nhìn căn tính của mình bằng một thái độ trưởng thành hơn.

Không phải:

“Chúng ta tốt hơn tất cả.”

Cũng không phải:

“Chúng ta kém hơn tất cả.”

Mà là:

“Chúng ta có những điều đáng tự hào, những điều đáng hổ thẹn, những điều cần giữ, những điều cần bỏ và những điều phải sáng tạo.”

Đó mới là lòng yêu nước có trí tuệ.

Một dân tộc trưởng thành không cần một lịch sử hoàn hảo.

Nó cần một khả năng đọc lịch sử trung thực.

Không cần một căn tính bất biến, mà cần một năng lực bảo vệ những giá trị cốt lõi trong khi thay đổi những hình thức đã lỗi thời.

Không cần đóng cửa trước thế giới mà cần một năng lực tiếp nhận mà không lệ thuộc.

Không cần đồng nhất mọi con người mà cần một cộng đồng chính trị đủ rộng để những con người khác nhau cùng thuộc về.

XXIII. ỨNG DỤNG

1. Ở cấp quốc gia

Nhà nước cần bảo vệ sự đa dạng văn hóa; xây dựng căn tính công dân chung; nghiên cứu lịch sử bằng tinh thần học thuật; cho phép nhiều ký ức lịch sử được nghiên cứu và thảo luận; chống kỳ thị dân tộc và bài ngoại; tạo điều kiện để văn hóa Việt Nam hội nhập quốc tế; biến tiếng Việt thành một ngôn ngữ có năng lực của thời đại khoa học và công nghệ.

2. Ở cấp giáo dục

Giáo dục lịch sử không nên chỉ nhằm tạo ra:

niềm tự hào.

Mà phải tạo ra:

năng lực hiểu.

Một học sinh cần có khả năng nói điều gì đáng tự hào; điều gì còn tranh luận; điều gì có bằng chứng; điều gì chưa đủ bằng chứng; điều gì cần nghiên cứu thêm; và vì sao lịch sử vẫn liên quan đến tương lai.

Giáo dục căn tính không nên là:

“Hãy tự hào vì mình là người Việt.”

Mà nên tiến tới:

“Hãy hiểu mình là người Việt từ đâu đến, đã trở thành ai, đang là ai và muốn trở thành người Việt như thế nào trong tương lai.”

3. Ở cấp cá nhân

Mỗi người Việt có thể tự hỏi:

Tôi đang giữ điều gì của cha ông?

Tôi đang lặp lại điều gì mà đáng lẽ phải vượt qua?

Tôi đang học được gì từ thế giới?

Tôi đã Việt hóa được điều gì?

Tôi có đóng góp gì cho thế hệ sau?

Đó chính là căn tính được sống chứ không phải căn tính được trưng bày.

XXIV. KẾT LUẬN: MỘT DÂN TỘC KHÔNG CHỈ ĐƯỢC ĐỊNH NGHĨA BẰNG QUÁ KHỨ

Căn tính Việt Nam không phải một chiếc hộp được đóng kín từ hàng nghìn năm trước.

Cũng không phải một câu chuyện có thể tùy ý viết lại.

Nó là một dòng chảy lịch sử.

Trong dòng chảy ấy có tiếp nhận và chống lại; hội tụ và phân tách; chiến thắng và thất bại; tự hào và hổ thẹn; sáng tạo và bảo thủ; ký ức và quên lãng; đoàn kết và chia rẽ.

Không có căn tính nào trưởng thành nếu chỉ giữ lại ánh sáng và xóa bóng tối.

Căn tính trưởng thành là khả năng nhìn thấy cả hai.

Bởi vậy:

Căn tính Việt Nam không phải một chiếc lồng để nhốt người Việt trong quá khứ; nó phải là nền móng để người Việt bước vào tương lai bằng tư thế của một dân tộc có chủ thể tính.

Và:

Một dân tộc mạnh không phải là dân tộc không thay đổi. Một dân tộc mạnh là dân tộc có khả năng thay đổi mà không đánh mất mình, có khả năng tự sửa mình mà không phủ nhận lịch sử, và có khả năng tiếp nhận thế giới mà vẫn đủ tự tin để tạo ra cái của chính mình.

Đó là ý nghĩa sâu nhất của Việt hóa trong Kỷ nguyên thứ Hai:

Hội tụ để không khép kín. Việt hóa để không sao chép. Khai phóng để không tự giam mình. Sáng tạo để trở thành chính mình trong tương lai.

Nếu Chương 12 trả lời:

“Quốc gia là gì?”

thì Chương 13 trả lời:

“Chúng ta là ai?”

Nhưng câu hỏi tiếp theo còn khó hơn:

“Nếu chúng ta biết mình là ai, vì sao chúng ta muốn cùng nhau xây dựng đất nước này?”

Hoàng Phong Nhã 


VÀI CẢM TƯỞNG VỀ QUAN NIỆM NHO GIÁO GÂY BẤT BÌNH ĐẲNG GIAI CẤP

 VÀI CẢM TƯỞNG VỀ QUAN NIỆM NHO GIÁO GÂY BẤT BÌNH ĐẲNG GIAI CẤP 

Cuối thế kỷ 20, trong một thời gian dài trước, trong và sau cuộc biến động chính trị khốc liệt tại châu Á, sự phát triển của tân học và Tây học nổi lên, với nhiều mặt tích cực, nhưng cũng kéo theo không ít những tiêu cực: sự bài xích văn hóa truyền thống và phủ nhận các giá trị truyền thống trở nên phổ biến. Mặt khác trong các cuộc vận động chính trị với mục tiêu làm nổi bật và tuyên truyền cho chế độ mới, đứng trước việc phải bảo vệ bản thân và gia đình, người ta bị ép buộc phải phản đối và phê phán xã hội cũ. Cũng từ đó, các luận điệu như Nho giáo gây ra bất bình đẳng giai cấp, làm hại “dân đen”, bảo vệ “chủ nô lệ”, v.v. ra đời…

Không thể phủ định rằng trong quá trình lịch sử, Nho giáo càng tiến về cận đại thì càng suy kém và có các loại biểu hiện không được như ý. Nhưng ví như con người có sinh lão bệnh tử, thì bất kể một hệ tư tưởng nào, một loại chế độ nào cũng đều có quá trình “thành trụ hoại” của nó. Chúng ta thảo luận về bất kể hiện tượng nào, đều cần xem về tình huống vào thời kỳ chính thường của nó. Không thể vì người ta sắp lâm chung mà phủ định cả đời, không thể vì trong các việc có việc bất thành mà phủ định những thành công trước đó. Vậy nên khi bàn đến các tội lỗi bị gán cho Nho giáo, người ta cần đối sánh chúng với các kinh điển Nho học nguyên thủy.

Vài cảm tưởng về quan niệm Nho giáo gây bất bình đẳng giai cấp

Chính danh là duy trì phân biệt đẳng cấp?

Luận điểm mà những người phản đối Nho giáo đưa ra là: “Mục đích của chính danh mà Nho giáo đề cao là sự ổn định xã hội, suy cho cùng là để bảo vệ quyền của thiên tử, duy trì sự phân biệt đẳng cấp”. Vậy trước tiên, “chính danh” có nghĩa là gì?

Trong sách “Luận ngữ”, thiên Tử Lộ, có viết:

Tử Lộ hỏi: “Nếu vua nước Vệ mời thầy đi làm quan quản lý chính sự, thầy làm việc gì trước tiên?”

Khổng tử nói: “Việc trước tiên nhất định phải là chính danh đã.”

Tử Lộ hỏi: “Thật thế ư? Thầy nói viển vông đó. Sao lại phải chính danh?”

Khổng tử nói: “Trò Do (Tử Lộ) sao lại ăn nói thô thiển như vậy? Người quân tử gặp việc mình chưa rõ thì không phát biểu tùy tiện.

Danh phận không rõ ràng, thì nói sẽ không thuận. Nói không thuận thì việc không thành. Việc không thành thì lễ nhạc sẽ mất đi trật tự. Lễ nhạc mất đi trật tự thì hình phạt sẽ không thỏa đáng. Hình phạt không thỏa đáng khiến cho dân không biết làm như thế nào cho đúng.

Cho nên người quân tử khi định được danh phù hợp với thực, thì có thể nói ra được, mà nói ra là có thể thực hành thông suốt. Người quân tử đối với lời mình nói thì không bao giờ để sơ suất.”

(Tứ thư, NXB Quân đội nhân dân, 2003)

Nói theo ngôn ngữ hiện đại, thì nếu không là người có thể đại diện cho công ty như phó giám đốc, giám đốc, thì liệu có thể đứng ra quyết định công việc, ký kết hợp đồng, v.v..? Người có danh phận ấy thì mới có thể toàn lực gánh nhận trách nhiệm ấy. Kẻ không có danh phận, dẫu toàn lực làm điều mà mình nên làm, thì thông thường việc cũng không thể thông thuận. Bởi vậy chính danh là cách đối nhân xử thế của người quân tử, và hệ quả tất nhiên là nó đề cao sự ổn định của xã hội dưới thời trọng dụng hiền tài.

Nhưng cái gọi là “bảo vệ quyền của Thiên tử” thì tìm khắp Tứ thư Ngũ kinh cũng đều không thấy có.

Giải oan cho Nho giáo – Kỳ II: Nho giáo có gây ra bất bình đẳng giai cấp?
Khổng Tử và học trò. (Tranh sưu tầm)

Thuyết chính danh của Khổng Tử thể hiện ở câu: Quân quân, Thần thần, Phụ phụ, Tử tử. Tức là vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con. Trong tư cách ấy thì gánh vác trách nhiệm ấy.

Mạnh Tử nói: “Ta nghe nói Chu Văn Vương có giết một kẻ thất phu tên là Trụ chớ chưa hề nghe nói giết vua bao giờ”.

Tuân Tử lại nói: “Vua là thuyền, dân là nước, nước có thể nâng thuyền, cũng có thể lật thuyền”.

Đây là những điều được ghi chép trong kinh điển Nho gia. Trong khi đó, những lời bị gán ghép cho Nho giáo như “vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung”, “tôi trung không thờ hai vua”… cũng không hề thấy chép trong Tứ thư Ngũ kinh.

Kỳ thực, Khổng Tử đã từng bỏ vua nước Lỗ để đi tìm kiếm minh quân. Hơn thế, ông bàn về trung và hiếu như sau:

Vua Ai công nước Lỗ hỏi Khổng Tử rằng: “Con theo mệnh cha có phải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là trung không?”. Hỏi ba lần mà Khổng Tử không trả lời.

Lúc Khổng Tử ra ngoài, Khổng Tử đem chuyện ấy nói với Tử Cống và hỏi ý Tử Cống thế nào. Tử Cống thưa: “Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung, còn ngờ gì nữa?”

Khổng Tử nói: “Ngươi không biết gì. Đời xưa đấng minh quân làm vua nước vạn thặng có tránh thần bảy người thì vua không làm điều lỗi; làm vua nước thiên thặng có tránh thần năm người, thì xã tắc không nguy; làm chủ một nhà, có tránh thần ba người thì lộc vị không suy. Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều vô lễ; kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa. Cho nên con theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung. Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo, mới gọi là hiếu, là trung vậy”

(Khổng Tử gia ngữ: Tam thứ, IX).

Như vậy rõ ràng là nếu vua làm điều bạo nghịch thì kẻ dưới không những không phải bảo vệ quyền của Thiên tử, mà nếu vua không nghe can gián thì kẻ dưới còn không có trách nhiệm phải trung thành. Người quân tử chỉ làm điều đúng đắn là vậy.

“Lao tâm giả trị nhân” là bản tính của giai cấp bóc lột?

Câu nói “Lao tâm giả trị nhân; Lao lực giả trị ư nhân” (kẻ lao tâm trị người còn người lao lực thì bị người trị) của Mạnh Tử cũng thường hay bị đem ra phê phán là “bản tính của giai cấp bóc lột”. Có đúng vậy không?

“Lao tâm giả trị nhân; Lao lực giả trị ư nhân” là câu nói trong sách Mạnh Tử, Đằng Văn Công chương cú thượng. Hoàn cảnh Mạnh Tử đưa ra câu này như sau:

Có một người là Trần Tương theo Hứa Hành học đạo Thần Nông (Thần Nông là một vị Hoàng đế cổ dạy dân cày ruộng trồng lúa, mở mang nông nghiệp). Trần Tương cho rằng Đằng Văn Công tuy là bậc vua giỏi nhưng chưa hiểu được cái đạo trị nước. Theo Trần Tương thì vua hiền phải cày ruộng với dân để lấy cái ăn, phải tự nấu lấy cơm, chứ không nên tích trữ lương thực và tài sản.

Bàn đến chuyện này, xin được trích nguyên đoạn đối thoại giữa Mạnh Tử và Trần Tương trong sách Mạnh Tử như sau:

– Hứa Hành chắc là phải tự mình trồng lúa lấy gạo mà ăn phải không?

– Đúng vậy.

– Hứa Hành chắc phải tự tay dệt lấy vải rồi mới may áo mặc chứ?

– Không phải. Hứa Hành lấy vỏ đay bện thành áo mặc.

– Thế Hứa Hành có đội mũ không?

– Có.

– Đội mũ loại gì?

– Mũ làm bằng loại lụa điều trắng.

– Lụa ấy tự tay mình dệt ra chứ?

– Không phải, đem thóc đổi lấy lụa.

– Vì sao Hứa Hành không tự tay dệt lấy?

– Làm như vậy sợ là trở ngại đến việc cày cấy.

– Hứa Hành có dùng nồi đồng, niêu đất nấu cơm, dùng lưỡi cày sắt để cày không?

– Có.

– Tự mình làm ra cả ư?

– Không phải, đem thóc đi đổi.

– Đem thóc đi đổi lấy đồ dùng, điều đó không hại gì đến thợ gốm và thợ sắt cả. Thợ gốm và thợ sắt lấy sản phẩm gốm và kim khí đi đổi lấy thóc lúa, không có lẽ làm hại đến người làm ruộng. Lại nói, tại sao Hứa Hành không tự mình làm luôn việc luyện sắt nung gốm, cái gì cũng tự mình làm ra? Việc gì lại phải mua bán đổi chác với thợ sắt, thợ gốm? Vì sao mà Hứa Hành không kiêm hết tất cả?

– Nếu làm việc của cả trăm nghề ấy thì không thể nào mà cày cấy được.

Mạnh Tử liền nói:

– Thế chẳng lẽ riêng việc trị nước thì có thể vừa cày ruộng vừa làm ư? Có phần việc do quan lại làm. Có phần việc do dân chúng làm. Hơn nữa, muốn cung cấp đủ nhu cầu sinh hoạt của một con người, cần phải dựa vào đủ loại thợ mới được. Nếu như buộc mọi người ai cũng phải tự mình làm ra mọi thứ cho bản thân mình dùng, như vậy sẽ khiến cả thiên hạ phải lo chạy đôn chạy đáo khắp mọi nơi vậy.

Cho nên người xưa có câu rằng: “Có người lao tâm, có người lao lực…

(Tứ thư, NXB Quân đội nhân dân, 2003)

Như vậy, đặt trong ngữ cảnh của toàn bộ câu nói, “Lao tâm giả trị nhân; Lao lực giả trị ư nhân” chính là đạo lý thông thường trong thiên hạ. Từ “trị” này thời xưa cũng không có ý tiêu cực, không phải là kiểu “trị” mang theo phản ý của người thời nay.

Giải oan cho Nho giáo – Kỳ II: Nho giáo có gây ra bất bình đẳng giai cấp?
Cảnh xã hội thời xưa. (Một phần của bức Thanh minh thượng hà đồ)

Ngoài ra, cuối phần trên Mạnh Tử còn phê phán một thuyết nữa của Hứa Hành, chính là thuyết “hàng hóa ở chợ chỉ có một giá thôi, như vậy khỏi xảy ra các sự gian lận”. Mạnh Tử nói:

– Vật có tinh, thô, hơn, kém tức là không giống nhau. Đây là thuộc tính tự nhiên của chúng. Giá của chúng có thể khác nhau từ một lần đến năm lần, có thứ sai nhau mười lần, có thứ sai nhau cả nghìn lần. Nếu ngươi muốn cho các vật đều một giá như nhau, như thế là làm loạn thiên hạ vậy. Giầy dép lớn bé xấu tốt, giá tiền đều bằng nhau thì ai chịu làm thứ tốt? Nghe theo học thuyết của Hứa Hành, thì chỉ khiến người ta đua nhau làm những việc lừa bịp dối trá lẫn nhau hơn mà thôi, làm sao mà yên trị nước nhà được?

(Sách Mạnh Tử, NXB Quân đội nhân dân, 2003)

Nói về điều này, học giả Nguyễn Hiến Lê bàn rằng: “Nguyên tắc phân công là nguyên tắc căn bản cho mọi xã hội, không có phân công thì không có xã hội. Nó dựa trên luật tự nhiên này: vạn vật không giống nhau, không đồng đều nhau về tính chất.” – Sách Mạnh Tử, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa thông tin.

Nếu như “Lao tâm giả trị nhân; Lao lực giả trị ư nhân” đã là dựa trên luật tự nhiên, thì hà cớ gì người ta phải “Đoạn chương thủ nghĩa”, lấy ra một câu nói nhưng vứt bỏ đi ngữ cảnh và hàm nghĩa mà nó biểu đạt, để kết tội cho Nho giáo đây?

Thực chất của việc phê phán Nho giáo gây ra bất bình đẳng giai cấp

Thực ra, câu chuyện của Mạnh Tử mà chúng ta kể trên đây không chỉ đụng chạm đến vấn đề “công bình tuyệt đối” là cực đoan, mà còn đụng chạm đến vấn đề “bao cấp”, “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Những điều này làm sao mà không khiến những người muốn áp đặt một ý thức hệ mới không lo ngại và bài xích?

Sau những nhiệt tình cứu nước bất chấp tất cả, người ta tưởng rằng họ sắp bước vào một thời kỳ nắm quyền tự chủ trọn vẹn. Nhưng điều người dân không ngờ được là, để những học thuyết mới của chính quyền đứng vững, thì những giá trị đạo đức của Nho giáo phải bị tàn nhẫn dứt khỏi tâm trí người dân.

Đơn cử như đối với việc đi ngược lại lợi ích của kẻ cầm quyền. Thời xưa, kẻ cầm quyền là Thiên tử sẽ bị “vạn chúng chú mục”. Kẻ cầm quyền hành ác là không che dấu được, nếu làm việc xấu còn có sử quan chuyên ghi chép, chẳng hạn như câu chuyện chép sử về Thôi Trữ:

Vụ án Tề Trang công bị giết được quan Thái sử nước Tề chép: “Thôi Trữ giết vua là Quang”. Thôi Trữ bắt quan thái sử chép khác đi, thái sử không chịu nên bị Thôi Trữ giết chết. Người em quan thái sử chép lại như anh mình vào quốc sử nước Tề. Thôi Trữ nổi giận lại giết người đó. Đến người em thứ ba chép nguyên cũng bị giết. Tới khi người em thứ tư vẫn chép như vậy, không chịu thay đổi theo lệnh của Thôi Trữ. Ông đành thôi không giết người chép sử nữa.

Sử ký – Tề Thái công thế gia

Câu chuyện chép sử này sau được nhắc đến trong bài thơ “Chính khí ca” của Văn Thiên Tường, từng được nhiều học giả Việt Nam say mê:

Ta vốn chẳng có tài phép lớn
Nhưng trần ai khôn bận lòng ta.
Lòng ta chính khí chói loà
Âm dương điên đảo khôn mờ tấc son.

(Chính khí ca – Bản dịch của Nguyễn Văn Thọ)

Sự tồn tại của những nhân tố dũng cảm như sử quan chính là lý do tại sao xã hội hoàng quyền xưa không cần có hiến pháp. Thử hỏi ngày nay, ai dám dũng cảm trở thành sử quan? Ai dám là kẻ đi ngược lại với quyền lợi của giai cấp thống trị? Ở một số nước thiếu nhân quyền, những “kẻ độc tài” hoàn toàn nắm trong tay quyền sinh quyền sát, còn có cả những thủ đoạn thanh trừng vây cánh hoặc bịt miệng. Nó thậm chí còn bỉ ổi, đê tiện và hèn hạ hơn thời xưa rất nhiều.

Thựa ra, với lời hứa hẹn về một xã hội bình quyền, người ta kích động nhân dân tham gia vào một cuộc lật đổ trật tự xã hội cũ mà Nho giáo duy trì – Một cuộc lật đổ đầy máu và nước mắt. Điều người ta không nói với nhân dân là: Sau bao nhiêu năm “trao quyền” cho nhân dân, xã hội vẫn có kẻ giàu người nghèo, kẻ trên người dưới, vẫn phân chia tầng lớp, vẫn có chủ tớ, vẫn có khoán ruộng đất, vẫn có kẻ làm quan và người làm dân, vẫn có những cái gọi là “bất bình đẳng giai cấp”…

Với lời hứa hẹn giao đất, giao nhà máy, người ta kích động nhân dân đấu tố địa chủ, đấu tố tư bản, hoàn toàn vứt bỏ những giá trị đạo đức mà Nho gia đề cao, không quan tâm đến nạn nhân bị đấu tố là người tốt hay kẻ xấu. Điều người ta không nói với nông dân và công nhân là: Sau bao nhiêu năm “trao quyền” cho họ, họ sẽ vẫn là những kẻ nghèo khó nhất…

Nạn đói thời Mao – Hậu quả của cái gọi là “công bình tuyệt đối” và “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” – Đây có phải là cái mà người ta thật sự hướng tới? (Ảnh qua incolors.club)
Trong Đại nhảy vọt, nông dân buộc phải bỏ hoang ruộng để làm thép, bỏ phí cả hoa màu, lúa mạch chín hoang phế ngoài đồng. (Ảnh qua uwgbcommons.org)
Giải oan cho Nho giáo – Kỳ II: Nho giáo có gây ra bất bình đẳng giai cấp?
Cách cai trị tàn bạo của ĐCSTQ là cấp số nhân so với Tần Thủy Hoàng. Đó đâu chỉ là diệt Nho, mà còn là diệt cả nhân tính. (Ảnh qua quora.com)

Với lời hứa hẹn về một thiên đường trên mặt đất, người ta kích động thực hiện một cuộc Đại nhảy vọt nhằm “nhân đôi sản lượng thép”, “vượt trên Anh quốc trong 10 năm và Mỹ trong 15 năm”. Nông dân buộc phải bỏ hoang ruộng để làm thép, bỏ phí cả hoa màu, lúa mạch chín hoang phế ngoài đồng. Nhưng quan chức chính quyền lại bịa đặt báo cáo rằng sản lượng lúa đang tăng vọt, rằng “Sản lượng trên mỗi mẫu là hơn mười ngàn cân”. Điều đó khiến cho toàn bộ phần lương thực còn sót lại của nhân dân đều bị tịch thu để nộp cho đủ số tương ứng với “thành tích”. Những năm tháng đó đã kích động ma tính trong con người ta đến mức điên cuồng và mù quáng, hoàn toàn rời xa văn hóa truyền thống. Kết quả là 30 đến 40 triệu người bị chết đói. Sau tất cả những việc ấy, kẻ cầm quyền vẫn tuyên truyền khắp nơi rằng đó là do “thiên tai”…

Điều đó đủ để thấy rằng cái gọi là thiên đường trên mặt đất thực chất lại là địa ngục chốn nhân gian, nơi dân tộc vứt bỏ giá trị Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo – những giá trị đạo đức truyền thống. Nói thẳng ra, hiện nay dẫu có sự thoải mái nhất định, thì những tôn giáo ấy cũng chỉ còn giữ lại được cái vỏ hình thức bề ngoài, còn nội dung bên trong thì trống rỗng hư không, nếu không phải là nơi rửa tiền thì cũng là chốn kinh doanh, thậm chí trác táng.

Cái xã hội méo mó của Trung Quốc hiện lên với những tượng đài ca ngợi lãnh đạo; với luật lệ hà khắc; với việc kiểm soát tư tưởng lan đến cả mạng Internet; và với tà sách liên đới quy định rằng một nhân sĩ lên tiếng sẽ khiến cả gia đình, họ hàng, và cơ quan bị phạt.

Ai là kẻ dẫm đạp lên nhân dân dưới chiêu bài “giai cấp”?

Minh Nhật