Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khủng hoảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khủng hoảng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Tương lai nào cho nước Mỹ hậu khủng hoảng

Xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm, tiêu dùng giảm, tiết kiệm tăng khiến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế khó mà diễn ra êm ả. Thế giới kinh tế cũng như thế giới thực.

Năm nay nền kinh tế Mỹ được kỳ vọng sẽ tăng trưởng khoảng 3% sau khi suy giảm 2,4% trong năm 2009. Những người lạc quan hy vọng rằng cuối cùng số việc làm cũng bắt đầu tăng và con tàu kinh tế mới thoát khỏi cơn bão chẳng hề giống con tàu đối mặt với cơn bão xưa kia.

Cơn bão tài chính từng đánh quỵ nuớc Mỹ đã qua và cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ thập niên 1930 mà nó gây ra đã lùi dần.
Có những tổn thất thật rõ ràng: thất nghiệp cao, hàng triệu ngôi nhà bị tịch thu, tài chính công thâm thủng nặng nề. Ít rõ ràng hơn là quá trình “tái cân đối” trước mắt: từ tiêu dùng, nhà đất và nợ tới xuất khẩu, đầu tư và tiết kiệm.Hàng thập kỷ nay nước Mỹ dựa vào thứ tiêu dùng sinh ra từ vay mượn và ảo tưởng về bong bóng giá tài sản. Giờ người Mỹ đang tiết kiệm nhiều và đi vay ít hơn vì giá nhà lao dốc đã thổi bay tài sản của họ.
Giới ngân hàng và các cơ quan giám sát từng tán dương “sự dân chủ hóa tín dụng” nay dè chừng nó. Các doanh nghiệp từ General Electric tới Citigroup từng làm giàu nhờ văn hóa tiêu dùng đang phải suy xét lại và thường là thu nhỏ lại số tiền mình cho vay.
Các nhà thầu xây dựng cho ra đời những ngôi nhà nhỏ hơn, tùng tiệm hơn. Địa lý quốc gia cũng đang thay đổi. Suy thoái níu chân những người đang đổ tới vùng bờ biển đầy nắng. Người ta chuyển khỏi Florida và tới Bắc Dakota. Những vụ đóng cửa cùng tiền xăng xe đắt đỏ làm những vùng ngoại ô xa xôi ít đuợc chú ý.
Tín dụng đắt đỏ lại hiếm hoi chẳng phải lý do duy nhất. Năng lượng dù không còn cắt cổ như năm 2008 nhưng cũng chẳng còn rẻ nữa. Người Mỹ đang chọn xe hơi thay vì xe tải nhẹ, các ngành dịch vụ công cộng được khuyên nên dùng nhiều năng lượng tái tạo hơn và số dầu và khí đốt dự trữ dưới đáy biển sâu hay trong núi đá đột nhiên đem lại lợi nhuận.
Nếu xu hướng này tiếp diễn, nước Mỹ có thể chỉ phải nhập khẩu một nửa lượng dầu đáng lẽ họ sẽ nhập vào năm 2025 nếu mọi chuyện giống như 5 năm trước.
Một quốc gia xuất khẩu
Người tiêu dùng buộc phải sống trong khả năng của chính mình nên doanh nghiệp Mỹ sẽ phải bán thêm hàng cho phần còn lại của thế giới.
Mệnh lệnh có vẻ khó khăn nhưng nhờ đồng USD cạnh tranh hơn cùng tăng trưởng tốt tại các quốc gia khác hỗ trợ, những mặt hàng Hoa Kỳ có thế mạnh như dịch vụ và hàng công nghiệp giá trị cao sẽ cạnh tranh tốt. Kết quả là nền kinh tế Mỹ sẽ cân đối hơn mà nói rộng ra là nền kinh tế toàn cầu sẽ lành mạnh hơn.
Hay ít ra cũng nên như vậy. Nhưng không nên coi một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế êm ái là điều đương nhiên. Quyết sách cả ở trong và ngoài nước Mỹ sẽ quyết định liệu quá trình tái cân đối ấy nhẹ nhàng hay đau đớn.
Nói thẳng ra là nếu người Mỹ tiết kiệm nhiều mà tiêu dùng ít đi trong khi các quốc gia lớn khác làm ngược lại, nền kinh tế thế giới sẽ khởi sắc. Nếu người Mỹ tằn tiện hơn trong khi các nước khác chẳng chịu mở hầu bao, kinh tế sẽ trì trệ.
Các nền kinh tế có thặng dư đã hưởng lợi từ cơn sốt tiêu dùng mọi thứ từ xe hơi, đồ điện tử tới tủ giả và quần áo của người Mỹ. Nếu Mỹ tiết kiệm và xuất khẩu nhiều hơn, các quốc gia mới nổi ở Châu Á sẽ phải dựa nhiều hơn vào người tiêu dùng của chính mình cũng như các quốc gia Á Châu khác.
Quan niệm đánh đồng sức mạnh kinh tế với thặng dư thương mại cũng phải thay đổi và mở ra hàng loạt những cải cách kinh tế vi mô để tăng thu nhập và khuyến khích tiêu dùng từ người lao động Á Châu.
Hối thúc Trung Quốc cải cách hệ thống chăm sóc y tế, lương hưu và quản trị doanh nghiệp giờ là vì lợi ích của tất cả mọi người. Và một đồng NDT mạnh hơn cũng sẽ tăng tốc tái cân đối toàn cầu. Dù vậy với người Mỹ cũng thật nguy hiểm nếu cứ ám ảnh mãi về đồng tiền của Trung Quốc.
Tằn tiện sao cho không ai thấy thiếu
Từ quan điểm đó, mệnh lệnh kinh tế vĩ mô với Washington thật rõ ràng: một kế hoạch trung hạn đáng tin cậy để giảm thâm hụt. Kế hoạch đó sẽ tránh được việc thắt chặt quá sớm nhưng vẫn làm yên lòng được thị trường trái phiếu để giữ thấp lãi suất dài hạn.Nhiều cải cách kinh tế vi mô cũng có thể giúp tái cân đối. Mỹ đánh thuế thu nhập và đầu tư quá cao nhưng tiêu dùng lại quá thấp. Mỹ cũng tăng trợ cấp, bảo đảm và ưu đãi cho các khoản vay thế chấp giúp thổi phồng lên bong bóng bất động sản. Chính quyền trung ương hiện đứng đằng sau 60% số khoản vay thế chấp mua nhà dân cư.
Sự trợ giúp nên hướng tới những chủ bất động sản không thể dễ dàng chuyển tới làm ở những vùng tươi sáng hơn vì căn nhà của họ còn không đáng giá bằng khoản vay thế chấp. Tổng thống Obama đã đi đúng hướng khi giúp dân chúng giảm nợ do vay thế chấp mua nhà.
Nền kinh tế lớn nhất thế giới đã bắt đầu một quá trình tái cân đối lâu dài. Tiêu dùng và vay mượn tại Mỹ có thể sẽ không còn là động lực tăng trưởng của cả nước Mỹ lẫn thế giới. Đó là hy vọng.


Nguồn Dân Trí/Economist

Khủng hoảng nợ tại châu Âu: Đâu là “chiến trường” kế tiếp?

Sau khi Hy Lạp cam kết sẽ cắt giảm thêm khoản thâm hụt ngân sách khổng lồ của nước này, giới đầu tư toàn cầu bắt đầu tạm yên tâm về cuộc khủng hoảng ở đây. Tuy nhiên, một câu hỏi mới nổi lên: một khi rời Hy Lạp, khủng hoảng nợ sẽ gõ cửa quốc gia tiếp theo nào trong số các nước “chúa chổm” ở châu Âu?
Người hưu trí biểu tình phản đối kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ Hy Lạp trên đường phố Athens hôm 3/3 - Ảnh: AP.
Ngày 3/3, Athens đã trấn an cả thế giới khi công bố kế hoạch tăng thuế và giảm chi tiêu thêm 6,5 tỷ USD trong năm tài khóa hiện tại. Với kế hoạch này, Chính phủ Hy Lạp hy vọng, họ sẽ huy động được vốn bằng con đường phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế, hoặc được Liên minh châu Âu (EU) ra tay giải cứu. Thủ tướng Hy Lạp George Papandereou cũng đặt ra kịch bản trong trường hợp xấu nhất, nước này sẽ tìm đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).Coi như tạm thời yên tâm về tình hình Hy Lạp, nhiều nhà phân tích cảnh báo rằng, cuộc khủng hoảng nợ công có thể tiếp tục bùng nổ ở một quốc gia khác ở châu Âu, tạo ra những cú sốc đối với đồng tiền chung của khu vực - đồng Euro.
Tờ New York Times cho hay, một số ngân hàng và quỹ đầu cơ đã hướng sự chú ý tới các quốc gia nặng nợ khác ở châu Âu, đặc biệt là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italy, và Ireland. Theo giới chuyên môn, khủng hoảng lan rộng trong khối các nước sử dụng đồng Euro có thể là một miếng mồi ngon cho các ngân hàng, quỹ đầu cơ và định chế tài chính khác một khi họ sử dụng ngón đòn bán khống.
Bằng cách vay và ồ ạt bán khống đồng Euro, các đối tượng này làm cho tỷ giá Euro lao dốc mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác. Cuối cùng, họ thực hiện việc mua vào Euro với giá rẻ để trả lại, bỏ túi những khoản lãi khổng lồ. Ở thời điểm hiện nay, các quỹ này vẫn đang đặt cược vào sự mất giá của đồng Euro và cả đồng Bảng Anh.
Sự lo ngại về tình hình ở châu Âu đã được phản ánh rõ nét trên Sở Giao dịch Hàng hóa Chicago (CME), nơi giá trị các hợp đồng kỳ hạn đồng Euro đã tăng lên mức kỷ lục 60 tỷ Euro trong tháng 2 vừa qua, tăng 71% so với cùng kỳ năm trước. Theo giới chuyên môn, dữ liệu của CME cho thấy, trong suốt một thập kỷ qua, chưa khi nào giới đầu cơ lại đặt cược lớn tới vậy vào sự mất giá của đồng Euro.
Vai trò của các quỹ đầu cơ đang trở thành một vấn đề gây nhiều tranh cãi ở Mỹ và châu Âu. Trên thực tế, từ khi nổi lên vấn đề khủng hoảng nợ Hy Lạp vào cuối năm ngoái, đồng Euro đã liên tục trượt giá so với USD, khiến các cơ quan chức năng của Mỹ và EU lo ngại có bàn tay của các quỹ đầu cơ lớn phía sau sự mất giá này.
Tuần trước, Bộ Tư pháp Mỹ đã yêu cầu bốn quỹ đầu nổi tiếng là Greenlight Capital, SAC Capitol Advisors, Paulson & Company và Soros Fund Management giao nộp sổ sách của các vụ giao dịch và các tài liệu khác.
Quỹ Soros Fund Management, quỹ của tỷ phú đầu cơ lừng danh George Soros, đã lên tiếng phủ nhận việc họ có bất kỳ hành vi sai trái nào. “Lúc nào thị trường tiền tệ có vấn đề thì dư luận chẳng để ý đến George Soros”, một phát ngôn viên của quỹ này nói. Trong khi đó, các quỹ khác đều từ chối đưa ra bình luận.
Ông Kenneth J. Heinz, một chuyên gia thuộc thuộc Tổ chức Nghiên cứu quỹ đầu cơ của Mỹ, cho hay, các quỹ đầu cơ lớn hiện đang đánh giá phản ứng của các nước châu Âu khác trong việc EU giải cứu Hy Lạp, trước khi họ đánh giá điểm yếu và cơ hội của các nước có nguy cơ xảy ra khủng hoảng nợ tiếp theo.
“Nếu những rắc rối ở Hy Lạp không được giải quyết ngay, có khả năng thị trường sẽ tập trung vào những mắt xích yếu nhất tiếp theo trong dây chuyền”, ông Jim Caron, chiến lược gia hàng đầu về lãi suất thuộc Morgan Stanley, nhận định.
Theo nhiều chuyên gia, sau Hy Lạp, quốc gia có khả năng “lâm nạn” cao nhất là Tây Ban Nha, đất nước đang chìm sâu trong suy thoái. Với tỷ lệ thất nghiệp lên tới 20%, thâm hụt ngân sách trên 10% GDP, và nền kinh tế có thể suy giảm 0,4% trong năm 2010, Madrid sẽ dễ dàng bị đẩy vào chân tường nếu các nhà đầu tư lạnh nhạt trước những đợt phát hành trái phiếu trị giá 85 tỷ Euro của nước này trong năm nay.
Quốc gia láng giềng của Tây Ban Nha là Bồ Đào Nha cũng là một mắt xích dễ đứt. Với thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại cùng cao, cộng với tỷ lệ tiết kiệm nội địa thấp, Bồ Đào Nha đã đặt số phận của họ vào tay các nhà đầu tư nước ngoài. Cũng như ở Hy Lạp, ý chí chính trị đối với việc cắt giảm chi tiêu công hay tăng thuế ở Bồ Đào Nha là rất thấp.
Italy bị xem là một “chúa chổm” nữa ở châu Âu, với khoản nợ trên 2.000 tỷ USD. Tuy nhiên, nước này được đánh giá cao hơn Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vì nền kinh tế được dự báo tăng trưởng 0,9% trong năm nay và 1% trong năm tới. Ngoài ra, thâm hụt ngân sách của Italy cũng không quá cao, và được dự báo vào khoảng 5,4% trong năm nay.
Trong số bốn nước châu Âu bị các quỹ đầu cơ đặt vào tầm ngắm, thì Ireland được xem là nước “khỏe” nhất. Với những biện pháp thắt chặt chi tiêu và tăng thuế ngặt nghèo, Chính phủ Ireland đã huy động được 19 tỷ Euro trong năm nay từ thị trường trái phiếu.
Dù điều gì có xảy ra với Athens, thì cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu cũng đe dọa đảo lộn trật tự tài chính, chính trị và quyền lực ở châu lục này. Với việc Đức và Pháp nổi lên thành những quốc gia có khả năng giải cứu cao nhất, thì các nhà lãnh đạo ở Berlin và Paris rốt cục có thể sẽ là những người quyết định chính sách tài khóa cho Bồ Đào Nha, Ireland, Italy, Hy Lạp và Tây Ban Nha.
Hiện Đức và Pháp đang là hai quốc gia hậu thuẫn hàng đầu trong kế hoạch giải cứu Hy Lạp. Tuy nhiên, hai nước này cũng đang phải đương đầu với nhiều khó khăn về tăng trưởng và ngân sách. Thâm hụt ngân sách của Đức và Pháp lần lượt ở mức 6,3% và 7,5% GDP. Ngoài ra, các cử tri của các hai quốc gia này đều không hào hứng gì với việc chính phủ của họ cứu láng giềng.


Nguồn VnEconomy

Khủng hoảng nợ có nguy cơ lan rộng khắp châu Âu

Bầu không khí lo ngại bao trùm khắp châu Âu sau khi Hy Lạp, Bồ Đào Nha đồng loạt tụt hạng tín nhiệm, bởi đây hai nước duy nhất đối mặt với những vấn đề đáng lo ngại về nợ công và tín dụng tại lục địa này.
Bản đồ hiển thị mức độ thâm hụt ngân sách tại châu Âu. 13 trong số 27 nước thuộc EU có khoản nợ công chiếm từ 60% GDP trở lên. Những nước màu vàng nhạt có mức nợ chiếm từ 60% tới 100% GDP. Màu nâu dành cho những nước có mức thâm hụt chiếm hơn 100% so với GDP. Ảnh: New York Times.
Các thị trường chứng khoán trên thế giới đồng loạt mất điểm hôm nay do các nhà đầu tư ngày càng lo ngại về việc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và thậm chí Ireland có thể không vay được hàng tỷ USD để trang trải khoản chi tiêu của chính phủ.“Tình hình đang trở nên xấu hơn rất nhanh và chúng ta chưa biết ai sẽ có thể ngăn chặn viễn cảnh đáng sợ của Hy Lạp. Thực tế đó tạo nên một hiệu ứng lan tỏa”, Edward Yardeni, chủ tịch tổ chức Yardeni Research, phát biểu.
Lãnh đạo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) nhóm họp tới Berlin hôm nay để thảo luận với các nhà lập pháp Đức và Thủ tướng Angela Merkel về biện pháp giải cứu Hy Lạp.
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ không chỉ riêng Hy Lạp cần được cứu, mà Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và nhiều quốc gia khác tại châu Âu cũng sắp phải phát hành trái phiếu để bù đắp khoản thâm hụt ngân sách. 13 trong số 27 nước thuộc Liên minh châu Âu có khoản thâm hụt ngân sách chiếm từ 60% trở lên so với tổng sản phẩm quốc nội.
“Tây Ban Nha phải phát hành trái phiếu nợ mới để trang trải khoản nợ hiện nay. Vì thế nước này lệ thuộc vào lòng tốt của những quốc gia khác”, Jonathan Tepper, một chuyên gia của tổ chức Variant Perception tại Anh, nhận định.
Các quốc gia trên khắp thế giới đều phát hành trái phiếu chính phủ để trang trải những khoản đầu tư vào dịch vụ công cộng và trả lương cho công chức. Ở những nước phát triển, khoản nợ đó được coi là tương đối an toàn vì chính phủ có thể tăng thuế để trả nợ. Nhưng do tiền thu thuế của nhiều nước giảm mạnh do kinh tế suy thoái, việc tăng thuế có thể kìm hãm đà tăng của nền kinh tế.
Trong bối cảnh tình hình nợ chính phủ của nhiều nước châu Âu ngày càng trở nên tồi tệ, giới đầu tư lo ngại một số quốc gia sẽ gặp khó khăn trong nỗ lực trả nợ.
Nếu nền kinh tế tăng trưởng ổn định, áp lực tài chính sẽ giảm. Giới chức tài chính của Hy Lạp và các chuyên gia của IMF đang chạy đua với thời gian để đạt được thỏa thuận về khoản vay dành cho Hy Lạp trước ngày 19/5.
Trong một chừng mực nào đó, sự bất lực của châu Âu trong quá trình xử lý khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đang tạo nên tâm trạng hoang mang trong dư luận, đồng thời cho thấy những chia rẽ chính trị bên trong lục địa già. Mỗi bước đi của châu Âu đối với Hy Lạp đều bị đánh giá là quá ít ỏi hoặc quá muộn.
Đề xuất mới nhất của châu Âu và IMF về việc cho Hy Lạp vay 45 tỷ euro hầu như chẳng có tác dụng bình ổn tâm lý của giới đầu tư. Cũng trong tuần này Đức tuyên bố Hy Lạp phải giảm thâm hụt ngân sách trước khi thực hiện các cam kết khác. Tuyên bố đó càng làm dư luận tin rằng châu Âu không đoàn kết trong nỗ lực cứu Hy Lạp.
Ngày càng nhiều người tin rằng cộng đồng quốc tế phải tung ra khoản cứu trợ lớn hơn để giúp Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.
“Con số sẽ rất lớn. 90 tỷ euro cho Hy Lạp, 40 tỷ euro cho Bồ Đào Nha và 350 tỷ euro cho Tây Ban Nha”, Piero Ghezzi, một nhà kinh tế của Barclays Capital, nhận định.
Trong khi đó, các nhà phân tích của ngân hàng Goldman Sachs cho rằng Hy Lạp cần tới 150 tỷ euro trong vòng ba năm tới. Đó là con số mà giới đầu tư mô tả là “gây sốc và đáng sợ”.
Phó chủ tịch Ngân hàng trung ương châu Âu hôm qua thừa nhận khu vực sử dụng đồng euro đang đối mặt với thách thức lớn nhất kể từ khi hiệp định Maastricht ra đời vào năm 1997. Những biện pháp thắt lưng buộc bụng tại Hy Lạp và Bồ Đào Nha đang gây nên bất ổn xã hội. Công nhân ngành giao thông vận tải ở cả hai nước đều biểu tình vào ngày 27/4 khiến các nhà ga tê liệt.
Các quan chức của Standard & Poor’s nói các biện pháp khắc khổ của Hy Lạp và Bồ Đào Nha có thể làm giảm đà tăng trưởng kinh tế.
Người lao động trong ngành vận tải công cộng Hy Lạp biểu tình bên ngoài trụ sở Bộ Tài chính ở thủ đô Athens vào ngày 27/4. Ảnh: AFP.
Như vậy hai nước đang đối mặt với một vòng tròn luẩn quẩn: Sự trì trệ của nền kinh tế buộc chính phủ phải cắt giảm chi tiêu, nhưng cắt giảm chi tiêu sẽ làm giảm tiền thuế. Tiền thuế càng ít thì khả năng trả nợ của họ cũng càng xa vời. Là một thành viên trong khu vực sử dụng đồng euro, hai nước không được phép in tiền để kích thích tăng trưởng kinh tế hoạt động xuất khẩu. Vì thế khoản nợ công ngày càng tăng và viễn cảnh đen tối cũng tới gần hơn.Nhưng dù đang chịu sức ép lớn, Hy Lạp và Bồ Đào Nha vẫn chỉ là những nền kinh tế tương đối nhỏ. Tây Ban Nha mới đáng là mối lo lớn.
Với quy mô của nền kinh tế Tây Ban Nha, dư luận cho rằng cuộc khủng hoảng nợ ở đây sẽ tác động tiêu cực tới các thị trường trên thế giới. Nhìn bề ngoài thì khoản nợ của Tây Ban Nha có vẻ nằm trong tầm kiểm soát. Khoản nợ của nước này chiếm 54% tổng sản phẩm quốc nội, trong khi con số của Hy Lạp và Bồ Đào Nha lần lượt là 120% và 80%.
Nhưng trên thực tế, Tây Ban Nha đang hứng chịu mức thâm hụt kép – thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai - lớn hơn mọi quốc gia trên thế giới, trừ Iceland. Thực tế đó cho thấy Tây Ban Nha phụ thuộc quá lớn vào các nhà đầu tư nước ngoài, đối tượng vốn không kiên định khi nền kinh tế gặp khó khăn. Khoản nợ của Tây Ban Nha sẽ lên tới 225 tỷ euro trong năm nay – tương đương với giá trị của nền kinh tế Hy Lạp.
Ngày càng có ít nhà đầu tư tỏ ý muốn mua trái phiếu của Tây Ban Nha và các nước châu Âu khác. Với những khoản lỗ mà giới đầu tư châu Âu vừa hứng chịu do giữ trái phiếu Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong mấy tháng qua, người ta có lý do để tin rằng họ sẽ không dám chi những khoản tiền mà ba nước cần.


Nguồn VNEXPRESS, NEW YORK TIMES

Đã 5 năm trôi qua kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát dữ dội vào tháng 9/2008, kinh tế thế giới hiện đang ở đâu?


Các nền kinh tế lớn suy yếu
Những chính sách kích thích kinh tế của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đi đến giai đoạn cuối, nhưng tăng trưởng vẫn không như mong đợi.
Giữa tháng 8, tờ Wall Street Journal dẫn một phúc trình của Bridgewater, quỹ đầu tư dự phòng lớn nhất thế giới, cho biết những nền kinh tế phát triển lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu hiện đang đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thế giới nhiều hơn các nước mới nổi.Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa các nước phát triển đã hồi sinh. Ngược lại, nó nêu bật sự yếu ớt của nền kinh tế toàn cầu. Tỷ lệ tăng trưởng ở tất cả các nền kinh tế lớn đều thấp hơn xa so với mức từng đạt được trong giai đoạn 2007-2008, rõ ràng tỷ lệ tăng trưởng trước khủng hoảng cho đến nay vẫn chưa hề được thấy lại.
Các nhà kinh tế tham gia khảo sát mới đây của Cục Dự trữ Philadelphia (Hoa Kỳ) dự báo kinh tế Hoa Kỳ chỉ tăng 1,5% trong năm nay, thấp hơn nhiều so với dự báo 2% đưa ra vào tháng 5. Về dài hạn, tăng trưởng cũng không tăng nhiều, chỉ ở mức 1,75%, so với mức bình quân 3,5% trước đó, theo một báo cáo của một nhà kinh tế hàng đầu JPMorgan.
Tình hình thậm chí còn tệ hơn ở bên ngoài Hoa Kỳ. Châu Âu tiếp tục đình đốn, với các nền kinh tế khu vực đồng EUR chỉ tăng 0,3% trong quý II, tức chỉ tăng được 1,1% so với năm ngoái. Việc lấy lại tăng trưởng dương sau 6 quý liền tăng trưởng âm vẫn không phải là dấu hiệu cho thấy châu Âu đã đạt được “bước ngoặt thay đổi”.
Nền kinh tế eurozone hiện vẫn nhỏ hơn 3 lần so với năm 2008. Hầu hết các nhà phân tích đều tin rằng để giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp hiện nay, khu vực này phải đạt được tăng trưởng bình quân ít nhất 2-3% trong 3 năm tới, nhưng điều đó dường như là một “giấc mơ xa”. Tờ Wall Street Journal bình luận rằng “thật khó có thể thấy châu Âu tăng tốc đủ để thoát khỏi sự trì trệ”.
Tờ này cho rằng những nguyên nhân chính làm chậm sự hồi phục ở châu Âu là các chính sách khắc khổ tiếp tục được triển khai, việc tiếp cận tín dụng tốt khó khăn, tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục tăng và thu nhập hộ gia đình kém, các công ty cũng đầu tư ít hơn do vẫn còn hoạt động dưới xa công suất.
Chương trình gia tăng gấp đôi cung tiền của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã giúp thúc đẩy kinh tế xứ Phù tang, với tăng trưởng quý III ước đạt 2,6% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng con số này thấp hơn nhiều so với dự báo 3,6% trước đó.
Thị trường mới nổi bất ổn
Các nền kinh tế lớn như khu vực đồng EUR vẫn chưa thoát khỏi đình đốn
Nhân tố chính làm yếu đi sức đóng góp của các nền kinh tế mới nổi vào tăng trưởng toàn cầu là sự chậm lại ở Trung Quốc. Mục tiêu tăng trưởng chính thức của Trung Quốc năm nay chỉ 7,5%, mức thấp nhất kể từ năm 1990, nhưng một số nhà kinh tế và quan chức thậm chí cho rằng đó là mục tiêu quá cao.Sự sa sút tăng trưởng của Trung Quốc đã tác động mạnh mẽ tới các nền kinh tế ở Đông Nam Á cũng như đối với các nước chuyên xuất khẩu nguyên liệu thô như Brazil và Australia. Cách nay 2 năm, Brazil (nước xuất khẩu đậu tương và quặng sắt cho Trung Quốc) có mức tăng trưởng 7,6%/năm, nhưng năm nay dự báo chỉ tăng trưởng 2,3%.
Australia, nhà cung cấp quặng sắt lớn, đang bị ảnh hưởng nặng nề từ sự đình trệ đầu tư hạ tầng của Trung Quốc. Bộ Tài chính Australia dự báo một sự sụt giảm nghiêm trọng trong thương mại Australia. Chính phủ Australia tuyên bố “sự bùng nổ Trung Quốc”, vốn là lực kéo chính cho các dự án đầu tư quặng sắt, đã kết thúc. Tăng trưởng chậm lại không phải là vấn đề duy nhất.
Ngày càng có nhiều quan ngại rằng mức nợ cao của Trung Quốc - kết quả từ tăng trưởng tín dụng nóng và gói kích thích tài chính đưa ra sau cuộc khủng hoảng năm 2008 - có thể gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính mới.
Giữa tháng 8, tờ Financial Times cho biết nhà phân tích Charlene Chu của Fitch Ratings chỉ ra trong một nghiên cứu về hệ thống “ngân hàng ngầm” (shadow banking) rằng tổng nợ của Trung Quốc có thể lên đến 200% GDP. Chu cảnh báo toàn bộ lĩnh vực ngân hàng Trung Quốc đã tham gia hệ thống ngân hàng ngầm nhiều hơn tất cả những gì nhiều người vẫn tưởng.
Bà ước tính tài sản của hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã mở rộng đạt 14.000 tỷ USD trong giai đoạn từ năm 2008-2013, tương đương với kích cỡ của toàn bộ hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ. Những con số chính thức cho thấy các khoản nợ xấu của các ngân hàng Trung Quốc tăng 2 tỷ USD trong quý II, là quý thứ 7 tăng liên tiếp.
Những vấn đề tài chính đang nổi lên ở Ấn Độ, một nền kinh tế mới nổi khác từng được kỳ vọng là đầu tàu mới cho tăng trưởng toàn cầu, có thể là dấu hiệu cho những gì sẽ diễn ra ở nơi khác. Người ta đang lo ngại rằng kinh tế ngày một tăng trưởng chậm hơn (dự báo năm nay chỉ 5%, bằng 1/2 so với 3 năm trước) có thể làm gia tăng gánh nặng nợ của một số công ty công nghiệp lớn nhất nước.
Hệ thống tài chính Ấn Độ đang bị tổn thương bởi dòng chảy vốn khiến chính phủ phải vất vả ngăn chặn đà phá giá của đồng rupee. Tờ Financial Times miêu tả nền kinh tế Ấn Độ đang phải chịu “chất độc hỗn hợp giữa đồng rupee mất giá, tăng trưởng chậm lại nhanh chóng, tài khoản vãng lai trương phình và thâm hụt ngân sách, lạm phát cao”. Vấn đề nằm ở chỗ Ấn Độ không phải là nền kinh tế mới nổi duy nhất đối mặt với những vấn đề tài chính ngày một gia tăng.
Khả năng Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) sẽ sớm thu hẹp chương trình mua trái phiếu trị giá 85 tỷ USD/tháng ngay từ tháng 9 đã kích hoạt dòng vốn chảy ra khỏi các thị trường mới nổi. Thí dụ, Indonesia nay cũng đang chứng kiến những vấn đề tài chính gia tăng tương tự Ấn Độ.


Nguồn:Đầu tư Tài chính