Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã Hội Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã Hội Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2015

Mại dâm là tệ nạn hay giải pháp?

ờ một công viên ở Hà Nội
Tôi lớn lên ở vùng nông thôn, từ thủa nhỏ đã chứng kiến cảnh ngộ của nhiều gia đình đông con, trong khi người chồng còn tráng kiện dẻo dai thì người vợ lại sớm gầy gò già nua héo quắt.
Năm ngoái một người ông gần nhà lên mổ nội soi ở bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, bệnh của ông liên quan gì đó đến đường tiết niệu. Thương và buồn cho ông mà không dám nói ra, một trong những nguyên nhân gây bệnh cho ông là tình trạng không được thỏa mãn tình dục kéo dài.
Giống như nhiều người có tuổi khác mà tôi biết, họ đều có nhu cầu tình dục và khát khao những cô gái trẻ, nhưng vì nhiều lý do họ đã không thể. Mặc dù người già nhu cầu tình dục giảm sút không như người trẻ, nhưng với đời sống an nhàn nhiều dinh dưỡng hiện nay thì người ngoài 70 tuổi vẫn có khả năng và nhu cầu tình dục.
Bi kịch là khi người vợ do nhàm chán hoặc đã không còn khả năng đáp ứng khiến người chồng sống trong chịu đựng. Với quãng đời còn dài phía trước, nếu cứ nín nhịn kìm nén để giữ yên ấm thì đó quả là một cuộc sống buồn tẻ, dễ cáu giận và âm ủ bệnh tật.
Để vui sống và giữ gìn sức khỏe thì tìm kiếm thỏa mãn sinh lý là nhu cầu chính đáng, ai làm điều đó là người khôn ngoan, thể hiện sự tự chủ mạnh mẽ và có ý thức chăm lo đời sống sức khỏe cá nhân. Nhưng nó lại dễ bị quy là sa đọa về đạo đức lối sống.
Theo khoa học thì mức độ khát vọng tình dục có nguyên nhân từ cấu tạo thể trạng sinh học trong mỗi người, việc thỏa mãn nhu cầu sẽ giúp bộ máy cơ thể vận hành đúng công suất nhịp độ chức năng, đó là cách để đảm bảo cho bất kỳ bộ máy nào được bền lâu.
Chướng ngại còn lại là những thành kiến về đạo đức, tuy nhiên đây cũng không phải là thành trì kiên cố khó phá mà thực ra cũng dễ bị xô đổ bởi thông tin kiến thức. Kiến thức khi được lưu chuyển sẽ giúp giảm bớt những quan niệm khe khắt, tạo lập thái độ cởi mở khoan dung về vấn đề tình dục.
Ngày nay chúng ta cần cổ vũ lối sống lành mạnh cho người già, theo đó cần có lối thoát cho nhu cầu sinh lý chứ không nên cổ súy cho lối sống khắc khổ chịu đựng, che giấu những khát khao thầm kín để rồi suy kiệt về sức khỏe, tinh thần.

Thực trạng mại dâm


Theo bài báo ‘63 tỉnh báo cáo mại dâm: Đồ Sơn, Quất Lâm không có?’ trên báo Đất Việt, các cơ quan quản lý cho biết tính đến cuối năm 2014 cả nước có 11.240 người bán dâm có hồ sơ quản lý. Theo nhận định của bài báo thì trên thực tế thì số lượng người bán dâm còn cao hơn nhiều có thể lên đến 30 nghìn.
Bài báo cho biết theo số liệu từ Bộ công an, đã tổ chức triệt phá 11.676 tổ chức hoạt động mại dâm, bắt hơn 47 ngàn đối tượng (không rõ tính trong khoảng thời gian nào?).
Con số trên cho thấy số lượng người bán dâm và những người liên quan đến nó như môi giới hay chứa chấp là rất lớn, và đó mới chỉ là số liệu thống kê những vụ việc đã xử lý, còn những trường hợp chưa xử lý chắc chắn còn cao hơn nữa.
Những người này đều là công dân sống trong cộng đồng xã hội, việc chúng ta nhìn nhận và đối xử với họ như thế nào sẽ dẫn tới mức độ ý thức trách nhiệm trong công việc họ làm.

Với số lượng đông đảo có khả năng gây ảnh hưởng lớn, tùy vào vai trò được xác định trong cộng đồng họ có thể thúc đẩy hoặc là nguồn tiêu hao các nguồn lực và khiến kéo lùi bước tiến xã hội.
Vậy lâu nay cộng đồng nhìn nhận và đối xử về vấn đề mại dâm như thế nào? Hãy nhìn vào thực trạng hoạt động của họ thì biết. Mặc cho số liệu về mại dâm là rất lớn, trên thực tế chắc chắn đã diễn ra tình trạng giới chức ngó lơ để cho nhiều trường hợp hoạt động.
Vì nếu muốn xử lý tất cả những trường hợp sai phạm thì có thể xử lý liên tục hàng loạt ở các khu du lịch nghỉ mát, mà nhiều nơi đã trở thành những tụ điểm công khai mọi người biết tiếng như bãi biển Quất Lâm ở Nam Định, bãi biển Đồ Sơn ở Hải Phòng và nhiều nơi khác.
Việc quy kết hành vi môi giới và chứa mại dâm là tội phạm trong khi thực tế có nơi, có lúc lại dung túng không xử lý làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật, hoặc tạo môi trường phi pháp cho tình trạng bảo kê kiếm chác trên cơ thể chị em.

Bộ luật hình sự

Khi sống trong cộng đồng chúng ta đồng thời bị ràng buộc bởi những chuẩn mực đạo đức và bị điều chỉnh bởi khuôn khổ luật pháp. Đôi khi thành kiến đạo đức hẹp hòi làm cho đời sống cá nhân khắc khổ (ví như trong vấn đề tình dục), khi đó pháp luật có thể bổ khuyết giúp bớt đi sự nghiệt ngã bằng những quy định thông thoáng của luật (ví như nới lỏng cho tình trạng mại dâm).
Bộ luật hình sự hiện đang được rà soát sửa đổi, văn bản dự thảo đang được trình ra lấy ý kiến nhân dân, mọi tội danh trong Bộ luật hình sự hiện đang trong trạng thái sẵn sàng được đặt ra luận bàn hiệu chỉnh.
Tôi cho rằng cần bỏ đi tội môi giới và tội chứa mại dâm, thay vì xử lý hình sự những đối tượng này thì nên thông qua họ mà thực hiện các hoạt động phối hợp, giúp kiểm soát quản lý hoạt động mại dâm, giữ trật tự và ngăn ngừa bệnh tật.
Việc bỏ hai tội danh này thực ra chỉ là sự xác nhận cái thực tế đã diễn ra (vì lâu nay đã dung túng cho tồn tại).
Không chỉ thế, nhìn theo cách khác đó còn là quyết sách khôn ngoan theo chủ nghĩa dân túy, tìm cách lấy lòng dân chúng trong tình cảnh chính quyền giảm sút uy tín tìm cách góp nhặt sự ủng hộ.

Chăm lo sức khỏe người già


Tôi cho rằng sức khỏe của người già có liên quan chặt chẽ tới việc có được thỏa mãn tình dục hay không. Như tôi hiểu thì ở phương Tây người già sống thọ và sống khỏe vì họ có niềm vui thú tuổi già, họ không gặp nhiều khó khăn để thỏa mãn sinh lý như ở Việt Nam.
Đừng tưởng rằng người già ít nhu cầu nên vấn đề đáp ứng tình dục cho họ không phải vấn đề quan trọng cho xã hội, hãy hình dung với số lượng người già trên cả nước ở mỗi thời điểm lên tới hàng triệu thì sẽ thấy lượng ‘nhu cầu’ sẽ không còn là nhỏ nữa. Và việc đáp ứng lượng nhu cầu này ra sao sẽ đem lại nhiều hệ lụy cho xã hội.
Tôi cho rằng sự nín nhịn chịu đựng và không được thỏa mãn về tình dục có liên quan đến căn bệnh tim mạch và huyết áp của người trung tuổi và cao tuổi ở Việt Nam.
Theo bài báo ‘Bệnh tim mạch chiếm ¼ số người chết ở Việt Nam’ trên báo điện tử Vietnamnet thì tại Việt Nam, cứ 3 người trưởng thành có 1 người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Mỗi năm, các bệnh lý về tim mạch cướp đi khoảng 200.000 người, chiếm 1/4 tổng số trường hợp tử vong tại Việt Nam.
Số người chết do bệnh tim và đột qụy nhiều hơn cả ung thư, lao, sốt rét và HIV cộng lại.
Đây là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng và theo tôi cần nghiêm túc nghiên cứu đánh giá về mối quan hệ giữa việc không được thỏa mãn về tình dục với căn bệnh tim mạch và huyết áp, từ đó tìm ra giải pháp cho căn bệnh tử thần này.
Quay lại vấn đề mại dâm thì thấy, người già muốn được sống lâu và sống vui, trong khi họ có tiền thì tại sao lại ngăn cấm họ tìm một cô gái trẻ?
Về phía những cô gái, họ đã tự nguyện lựa chọn công việc để có thu nhập thì tại sao lại không để họ chăm sóc sức khỏe cho người già? Xã hội nên có cái nhìn khai phóng về vấn đề này.

Giữ gìn trật tự xã hội

 


Vấn đề mại dâm không chỉ giúp cho người già mà còn giúp tháo gỡ các vấn nạn xã hội do người trẻ gây ra. Lâu nay nhiều người đã cảnh báo về tình trạng bạo lực ở lứa tuổi thanh niên, đây hẳn có một phần nguyên nhân từ sự thiếu vắng tình dục.
Chúng ta biết rằng ở lứa tuổi thanh niên, khi không quan hệ tình dục thì con người dễ ở vào trạng thái kích động ưa bạo lực. Cứ để ý sẽ thấy những thanh niên có quan hệ tình dục thường có tính cách thuần hơn.
Thanh niên có nhu cầu tình dục là điều rất rõ ràng, trong khi không phải mọi thanh niên đều có bạn tình và cũng không thể bắt chúng chịu nhịn cho tới khi có vợ. Chúng ta nên cho chúng một lối thoát để thỏa mãn.
Những cô gái bán dâm tự nguyện lựa chọn nghề nghiệp sẽ biết cách giúp thỏa mãn mà vẫn giữ được an toàn khỏe mạnh cho cả hai, từ đó giúp giảm tránh những hành vi tội phạm bột phát do sự thiếu vắng thỏa mãn tình dục gây ra.
Khoan dung cho vấn đề mại dâm tức là giúp giảm bớt mức độ mặc cảm tội lỗi khi mua dâm, điều này tạo ra lối thoát cho những bức bối về tình dục, giúp giảm tránh tội phạm hiếp dâm.
Như thế, chính quyền cần nhìn ra các vấn đề xã hội và tìm giải pháp đúng đắn để tháo gỡ, nếu khác đi thì sẽ khiến xã hội chậm phát triển. Vấn đề mại dâm hãy nhìn thấy nó như là giải pháp thay vì nhìn nó như một tệ nạn.
Tất nhiên đây là vấn đề dễ gây tranh cãi, vì thật khó tưởng tượng các bà vợ lại đồng tình cho người chồng tìm kiếm thỏa mãn tình dục bên ngoài.
Nhưng xét cho cùng thì phi hình sự mại dâm không phải là cổ súy cho lối sống trụy lạc, mà nó chỉ không ngăn cản tìm kiếm thỏa mãn về tình dục. Theo thời gian từ những thay đổi của luật pháp sẽ dẫn đến thay đổi trong việc làm thói quen, sẽ phát sinh ra những bàn luận, nâng cao và thay đổi nhận thức của cộng đồng.
Nhiều nước trên thế giới cũng đã trải qua những giai đoạn tranh cãi về vấn đề mại dâm, song sớm hay muộn các xã hội đều dần khoan dung cởi mở cho vấn đề tình dục và dần chấp nhận mại dâm như một hoạt động hợp pháp trong xã hội.
Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay đang bị coi là mất dân chủ, đời sống ngột ngạt bí bách thiếu tự do, khi đó phi hình sự mại dâm sẽ giúp tăng hàm lượng tự do dân chủ trong đời sống xã hội.
Việc này nếu làm cũng không ảnh hưởng gì đến quyền lực chính trị của lãnh đạo chính quyền. Ngược lại sẽ nhận được sự ngầm thuận từ người dân và sự tán dương từ cộng đồng quốc tế vốn soi xét từng động thái dân chủ của giới chức trong nước.
Bài phản ánh văn phong và quan điểm của riêng tác giả, luật sư sống và làm việc ở Hà Nội.

XUNG QUANH CHỦ ĐỀ MẠI DÂM





Công khai và hợp pháp mại dâm là “kéo cờ trắng” với tệ nạn này

- Thưa bà, bà đánh giá như thế nào về việc một số nhà quản lý đang đề nghị công khai hợp pháp nạn mại dâm ?

- Trong một cuộc chiến đấu, giải pháp đơn giản nhất là chấp nhận thua và kéo cờ trắng. Chấp nhận sự tồn tại của nạn mại dâm, công khai nó là cách thức đơn giản nhất đối với nhà quản lý. Có điều là trên thực tế, nhiều nước đã “kéo cờ trắng” rồi nhưng mại dâm vẫn không buông tha, nhất là các nước nghèo. Sau khi chiếm được các khu “đèn đỏ” làm thành trì vững chắc, mại dâm bắt đầu tấn công vào các khu vực khác, vào cả xã hội, vào từng gia đình. Xét cho cùng thì quan điểm của các vị lãnh đạo chính quyền ủng hộ công khai nạn mại dâm là không mới .Tôi lấy làm tiếc rằng, các vị đã không dựa trên những chứng cứ khoa học và thực tế mà chỉ phát biểu theo cảm tính và có phần vô trách nhiệm. Năm 2000, khi tham gia chủ trì một hội thảo khoa học, sau đó chủ biên cuốn sách “ Mại dâm , quan điểm và giải pháp” do Cục phòng chống tệ nạn xã hội thuộc Bộ Lao động ,Thương binh và Xã hội tổ chức và xuất bản, tôi thấy vấn đề này đã được tranh luận rồi. Cho đến nay, mại dâm vẫn tiếp tục là một tệ nạn nhức nhối của xã hội, trước hết, chúng ta phải xem xét lại trách nhiệm và năng lực của chúng ta với tư cách là các nhà quản lý, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn và cả với tư cách người dân nữa.

-Trong Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm của Ban chỉ đạo phòng chống AIDS, ma túy, mại dâm TP Đà Nẵng mới đây, một cán bộ lãnh đạo UBND TP đã có phát biểu được cho là “gây sốc”: “Với thành phố du lịch mình, tôi cho rằng không thể không có mại dâm”. Một lần nữa, chuyện có công khai mại dâm hay không lại được xới lên. Chúng tôi muốn nghe quan điểm của bà, dưới góc độ là một chuyên gia nghiên cứu về giới, mại dâm?

- Trong xã hội thường tồn tại các mặt tốt lẫn mặt xấu, tốt để chúng ta làm theo và xấu để chúng ta trừ bỏ. Không phải ngẫu nhiên mà gần như cả loài người đã và đang chống lại tệ nạn này và chỉ có một vài nước trên thế giới là hợp pháp hóa vì nhiều lý do trong đó lý do chính là họ không chống được mại dâm. Tôi muốn lưu ý rằng, ngay cả ở những nước “cởi mở” nhất đối với mại dâm, thì đây cũng vẫn được xem là một sự sai lệch chuẩn mực xã hội, là tệ nạn xã hội, làm băng hoại xã hội. Tuy nhiên, chống mại dâm là một việc khó, nhưng không phải cứ vấp vào việc khó là chúng ta lại buông trôi hoặc “kéo cờ trắng”. Ngay từ thế kỷ 19, nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim (1858-1917), một trong những người sáng lập ra ngành Xã hội học đã viết rằng: Mại dâm cùng với nạn tự tử là dấu hiệu một xã hội loạn kỷ cương. Phải coi mại dâm là vết nhơ vì đến tận thế kỷ 21 rồi mà con người “ăn nằm” với nhau không phải do nhu cầu về tình cảm mà lại là do nhu cầu về tiền bạc. Nói tới đây tôi lại nhớ tới nhà xã hội học Mỹ, giáo sư Znanniecki đầu thế kỷ trước đã nói rằng “mãi dâm là hình ảnh khôi hài của thần ái tình”...

 - Nhưng có người bảo đây là nhu cầu kinh tế của nhiều người ?

-  Gần đây tôi thấy một số nhà báo dùng khái niệm “vốn tự có”, “vốn trời cho” để chỉ những chị em kiếm sống bằng chính thân xác mình. Tôi thật sự rùng mình với cái khái niệm không hề nhân văn này. Khó mà có thể đo được cái giá phải trả cũng như những gì thu nhận được từ hoạt động mại dâm.Tôi có thể đưa ra đây một vài sự phân tích trên các phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình. Về mặt kinh tế, nhiều người muốn thu thuế từ mại dâm và để phát triển du lịch. Điều này có một số nước đã làm trong đó có Thái Lan. Có một thời kỳ Thái Lan rất phát triển công nghệ tình dục. Tuy nhiên, theo một báo cáo của Thái Lan thì có năm họ thu được rất nhiều tiền từ hoạt động có liên quan tới mại dâm nhưng lại phải chi gấp bội số tiền đó cho công tác phòng chống HIV/AIDS cho gái mại dâm. Họ thua lỗ đấy chứ. Đấy là chưa kể họ bị một số người ác ý gọi họ là “ Nhà thổ của thế giới”. Ở Việt Nam, có người lại khẳng định rằng, nếu công khai mại dâm, chúng ta còn có thể thu được cả thuế từ hoạt động này. Thật là hài hước, không biết các vị nêu ý kiến trên có cảm giác như thế nào, chứ bản thân tôi và chắc chắn sẽ có nhiều người khác nữa thì sẽ chẳng lấy gì làm vinh hạnh khi biết thu nhập của mình là được phân chia do những khoản thu từ các cô gái đang bán mình. Tôi xin được hỏi thêm các vị này rằng : Chúng ta dùng tiền thuế từ mại dâm để làm gì? Để cứu trợ người nghèo hay để xây trường học, xây bệnh viện hay các công trình phúc lợi khác? Hay để trả lương cho những người hô hào công khai mại dâm? Ai sẽ nhận những đồng tiền đó ? Tôi không tin, những người có lòng tự trọng, có nhân phẩm nào lại đi nhận khoản tiền này

Mặt khác, nếu coi mại dâm là một nghề thì lại phải có đào tạo, nâng bậc hay biểu dương, tôn vinh nghề nghiệp, Ai làm việc này? Ngay ở Hà Lan là nước đã hợp pháp hóa mại dâm và ở tất cả các nước trên thế giới, việc khinh miệt mại dâm vẫn là phổ biến. Người ta đánh đập, nhục mạ, hành hạ thậm chí giết hại những người làm mại dâm. Việc này khiến người làm mại dâm không còn tự tin và chắc chắn không thể tự hào về cái được gọi là “nghề nghiệp” của mình.

Về văn hóa, xã hội, nếu chúng ta công khai mại dâm tức là đem một sai lệch chuẩn mực xã hội thành chuẩn mực để mọi người có thể tuân theo và thậm chí học tập theo. Đó là hỏng từ gốc về mặt văn hóa, làm lẫn lộn giữa cái tốt và cái xấu. Hơn nữa Việt Nam là một nước có nhiều truyền thống quý giá, nay đang hướng tới mục tiêu giải phóng con người lại càng không thể làm như thế. Phụ nữ Việt Nam là những người anh hùng trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Không ai được phép mang họ đi bán để kiếm lời trong các dịch vụ du lịch. Chúng ta sẽ trả lời như thế nào với những người mẹ, người chị đã đấu tranh kiên cường, đã đổ máu và ngã xuống cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ trước đây. Thật sai lầm khi cho rằng mại dâm là điều kiện cần thiết để hấp dẫn khách du lịch. Khách du lịch đến nước ta là vì đất nước, văn hóa, con người, chứ nhất quyết không chỉ đến để thỏa mãn tình dục.  Vả lại, nếu có vị khách du lịch bệnh hoạn nào, tìm đến Việt Nam chỉ để tìm thú vui tình dục thì chúng ta cũng chẳng vinh hạnh gì mà đốn tiếp họ

Về mặt gia đình thì mại dâm làm tan nát nhiều gia đình. Sự nghi ngờ lẫn nhau giữa vợ và chồng sẽ là liều thuốc độc làm sói mòn và giết chết hạnh phúc gia đình. Do đó từ tất cả các góc độ, chúng ta không thể công khai mại dâm được.

Đừng mơ quản lý được mại dâm ở Việt Nam nếu công khai nó.

Có không ít người vẫn hy vọng sẽ quản lý được mại dâm nếu công khai nó?

- Những người này thật ảo tưởng. Không thể phủ nhận một thực tế là tất cả những nước công khai mại dâm đều là những nước có tỷ lệ người hành nghề mại dâm cao nhất. Nếu công khai mại dâm, chúng ta sẽ chấp nhận con số bao nhiêu? Ai sẽ “được quyền” tham gia vào cái hoạt động kiếm tiền này. Ở các nước giàu, kinh tế và văn hóa phát triển cao, người ta được lựa chọn nghề nghiệp của mình thì sẽ có rất ít người làm việc này. Nhưng ở các nước nghèo thì sao? Thực tế cho thấy, mại dâm gắn nhiều với hiện tượng người nghèo, không có khả năng kiếm được việc làm. Vậy điều gì sẽ xảy ra khi Nhà nước hợp pháp hóa mại dâm? Những người ít học, thất nghiệp sẽ cho rằng mại dâm là việc nên làm vì Nhà nước đã công nhận và họ có quyền chính đáng để tham gia. Ai sẽ cản trở họ khi con số là quá với quy định của nhà quản lý? Các tiêu chuẩn ưu tiên nào cho những loại người nào được làm ? Tôi xin khẳng định rằng, sẽ giống như các nước đã công khai nạn mại dâm, nếu chúng ta cũng thực hiện điều này, tỷ lệ những người tham gia hoạt động mại dâm sẽ tăng lên rất nhiều so với hiện nay. Một khu “đèn đỏ” hay một trăm khu là đủ? Nếu không quản lý được thì làm thế nào? Ai sẽ phân biệt mại dâm hợp pháp và không hợp pháp? Hợp pháp chắc là những người đóng thuế còn ngược lại là không hợp pháp? Không biết các vị hô hào công khai mại dâm đã nghĩ đến điều này chưa?

- Vậy thì phải quản lý thế nào đây, thưa bà?

- Các nhà nghiên cứu đã nói nhiều rồi, nhưng hình như các nhà quản lý rất bận nên chưa có điều kiện nghe. Giải quyết mại dâm không thể trong một thời gian ngắn. Nhiệm vụ của chúng ta là phải hạn chế nó nhưng không phải theo cách “treo cờ trắng” đầu hàng. Phải giải quyết tận gốc, đó là phát triển kinh tế lành mạnh và bền vững để giải quyết việc làm cho thanh niên, nhất là nữ thanh niên, không để họ phải ở trong những bước đường cùng buộc phải làm mại dâm. Cần có các chính sách và họat động cứu trợ xã hội kịp thời với các trường hợp người nghèo, người gặp rủi ro, thiên tai và các tai nạn khác. Cần giáo dục cho thanh niên và xã hội về những giá trị cao đẹp của cuộc sống, giá trị của con người có đầy đủ nhân phẩm. Con người hoạt động tình dục theo cách có văn hóa, chứ không phải chỉ để thỏa mãn tính dục như động vật, có nghĩa là con người có đầu óc, tình cảm, hoạt động tình dục trong yêu thương, tôn trọng người khác chứ không phải chỉ dùng vài đồng tiền là có thể mua được tất cả. Cần kiểm soát chặt chẽ khách làng chơi, đặc biệt là một bộ phận quan chức, cán bộ tha hóa ( kể cả nam và nữ), lừa dối vợ/ chồng, con, ăn chơi trên đồng tiền của Nhà nước và nhân dân, làm băng hoại xã hội. Cần có biện pháp trừng phạt nghiêm khắc với nhóm này.

- Trước đây không lâu, một cán bộ của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) sau khi đi khảo sát đã cho biết không phát hiện có mại dâm ở Đồ Sơn (Hải Phòng) và Quất Lâm (Nam Định) thì phát ngôn của ông Phó Chủ tịch Đà Nẵng cũng là một tín hiệu đáng mừng khi ông dám nhìn thẳng sự thật?

- Nếu bảo những nơi này không có mại dâm thì đúng là mắt của vị cán bộ kia có vấn đề ! Người ta có thừa nhận hay không thì dân cũng biết hết. Có điều, nếu chỉ vì “bệnh” thành tích mà họ không dám nói ra sự thật thì dân làm sao còn tin vào khả năng quản lý của họ nữa.

 
Gs. Lê Thị Quý

-Theo bà, liệu có xóa hoàn toàn nạn mại dâm trong đời sống?

- Tôi đã nói ở trên rồi. Còn xa lắm, tạm thời cứ “sống chung với lũ” và phải tìm cách giảm nhẹ nó đi theo các giải pháp trên, nhưng nhất định không thể hợp pháp hóa mại dâm!

Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện!
Tác giả bài viết: Vũ Thủy

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Những tranh cãi tôn giáo về thuyết nhật tâm

Ngay từ thời Aristarchus, ở Châu Âu ý tưởng nhật tâm đã bị chối bỏ vì bị coi là phản tôn giáo. Tuy vậy, vấn đề này không mang bất kỳ ý nghĩa quan trọng nào trong gần 2000 năm.
Nicolaus Copernicus đã xuất bản cuốn De Revolutionibus mang ý nghĩa quyết định về hệ thống của ông năm 1543. Copernicus đã bắt đầu viết nó năm 1506 và hoàn thành năm 1530, nhưng không cho xuất bản tới tận khi ông sắp qua đời. Dù ông có danh tiếng tốt với nhà thờ và đã đề tặng cuốn sách cho Giáo hoàng Paul III, cuốn sách được in ra vẫn có phần lời nói đầu không ký tên của Osiander cho rằng hệ thống này chỉ đơn giản là một cách thức toán học và không có ý định phủ định cho thực tế. Có lẽ vì phần lời nói đầu này, tác phẩm của Copernicus gây ra ít cuộc tranh luận về việc nó có phải là một cuốn sách dị giáo hay không trong 60 năm sau đó.
Thuật ngữ thời ấy cho một cách thức tính toán hoàn toàn hư cấu như vậy là giả thuyết. Để hiểu được các cuộc tranh cãi trong vòng 100 năm sau, cần nhớ rằng ý nghĩa hiện đại, một ý tưởng cần được xác nhận hay phủ nhận bởi thực nghiệm, đã chưa xuất hiện cho tới mãi về sau này.
Từ sớm trong những tín đồ Dòng tu Dominic đã có đề xuất cần cấm giảng dạy cuốn sách đó, nhưng dù sao việc này vẫn không xảy ra. Tuy nhiên trong thế kỷ 16, một số người Tin lành đã kịch liệt phản đối nó. Martin Luther từng nói:
"Đã có những lời nói về một nhà chiêm tinh mới, người muốn chứng minh rằng Trái Đất chuyển động và tự xoay quanh trục chứ không phải bầu trời, Mặt Trời, Mặt Trăng, cũng như nếu có một người đang ngồi trong một toa xe hay trên một chiếc tàu chuyển động sẽ thấy rằng anh ta đang đứng yên trong khi Trái Đất và cây cối chuyển động quanh mình. Nhưng đó là cách mọi thứ đang diễn ra ngày nay: khi một người muốn trở nên thông minh, anh ta sẽ cần phải phát minh ra một thứ gì đó đặc biệt, và cách thức thực hiện điều đó cũng phải là tốt nhất! Kẻ ngu muốn đảo lộn toàn bộ trật tự thiên văn học. Tuy nhiên, như Kinh Thánh linh thiêng đã dạy chúng ta, cũng như Joshua đã ra lệnh cho Mặt Trời đứng yên chứ không phải Trái Đất."
Những câu này được nói ra trong bối cảnh một cuộc tranh luận ở bữa ăn tối và không phải là một tuyên bố chính thức về đức tin. Tuy nhiên, Melanchthon đã phản đối học thuyết ấy trong nhiều năm.
Tuy nhiên, cùng với thời gian, Nhà thờ Công giáo bắt đầu tỏ thái độ cứng rắn hơn trong việc bảo vệ quan điểm địa tâm. Giáo hoàng Urban VIII, người từng đồng ý cho Galileo xuất bản một cuốn sách về hai lý thuyết thế giới, đã trở thành thù địch với Galileo; có ý kiến cho rằng Giáo hoàng nghĩ Galileo đã nhạo báng ông trong cuốn Đối thoại về hai hệ thống chính của thế giới, dù không có nhiều bằng chứng về điều đó. (Nhân vật đại diện cho các quan điểm truyền thống trong cuộc đối thoại được đặt tên là "Simplicio", theo tên nhà triết học cổ điển Simplicius, người thời ấy được những tín đồ chủ nghĩa Plato mới kính trọng.) Cuối cùng, Nhà thờ Cơ đốc trở thành phái đối chọi chủ chốt của quan điểm nhật tâm.
Hệ thống được ưa chuộng là hệ Ptolemy, trong đó Trái Đất nằm ở trung tâm vũ trụ và mọi thiên thể đều quay quanh nó. (Không nên lẫn lộn việc Cơ đốc giáo ủng hộ thuyết địa tâm với ý tưởng về một Trái Đất phẳng, là cái chưa từng được nhà thờ ủng hộ.) Hệ Tycho đã sắp đặt ổn thỏa các vị trí của mô hình địa tâm, trong đó Mặt Trời quay quanh Trái Đất, trong khi các hành tinh quay quanh Mặt Trời giống như mô hình của Copernicus. Những nhà thiên văn học dòng Tên tại Roma ba đầu không đồng ý với hệ thống của Tycho; người nổi bật nhất là Clavius, ông đã bình luận rằng Tycho đã "lẫn lộn mọi thứ trong thiên văn học, bởi vì ông muốn đặt Sao Hỏa thấp hơn Mặt Trời." (Fantoli, 2003, p. 109) Nhưng khi cuộc tranh cãi ngày càng phát triển và Nhà thờ có quan điểm cứng rắn hơn về các ý tưởng của Copernicus sau năm 1616, phái dòng Tên quay sang ủng hộ việc giảng dạy ý tưởng của Tycho; sau năm 1633, việc sử dụng hệ thống này hầu như đã trở thành bắt buộc. Vì tội đã đề xuất thuyết nhật tâm, Galileo đã bị quản thúc tại gia trong nhiều năm.
Tuy nhiên, nhà thần học đồng thời cũng là một mục sư Thomas Schirrmacher, đã biện hộ:
"Trái với truyền thuyết, hệ thống của Galileo và Copernican đã được các quan chức nhà thờ rất quan tâm. Galileo là nạn nhân của chính tính kiêu ngạo của mình, sự đố kị của các bạn đồng nghiệp và quan điểm chính trị của Giáo hoàng Urban VIII. Ông bị buộc tội không phải vì đã chỉ trích Kinh thánh, mà vì đã bất tuân lệnh của giáo hoàng."
Các nhà khoa học Cơ đốc cũng nói:
"Rõ ràng rằng việc đánh giá Galileo hay Copernicus là dị giáo không hề có ý nghĩa gì về mặt thần học hay tổng quát", (Heilbron 1999).
Ở thế kỷ 17 Galileo Galilei đã phản đối Nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã khi mạnh mẽ ủng hộ thuyết nhật tâm
Những cách giải thích về thần học này dù thực sự có xuất hiện hay không bên trong Nhà thờ ở thời Galileo có thể sẽ được xác định từ đoạn văn về Cuộc điều tra khi Nhà thờ tìm cách buộc tội Galileo năm 1633. Trong những lời buộc tội chính thức từ Cuộc điều tra ông không bị kết tội vi phạm mệnh lệnh của giáo hoàng; thay vào đó, họ buộc tội ông đã tin vào "một học thuyết sai trái do nhiều người giảng dạy, nói rõ ra là Mặt Trời bất động ở trung tâm thế giới và Trái Đất chuyển động". Trong khi thẩm vấn, Galileo đã bị đặt câu hỏi (ngày đầu tiên) ông đã nhận được những mệnh lệnh gì trong năm 1616 (rõ ràng ám chỉ tới cái mệnh lệnh được kể tới ở trên); nhưng ông cũng phải trả lời (ngày thứ tư) về những niềm tin vào hệ thống Copernicus của mình. Lời tuyên án cuối cùng hoàn toàn trùng hợp với bản cáo trạng: ông phải tự "hoài nghi mãnh liệt về sự dị giáo", nhưng không hề có lời đề cập tới sự bất tuân với một mệnh lệnh đặc biệt nào đó.
Chính Hồng y Robert Bellarmine đã coi mô hình của Galileo có "ý nghĩa tuyệt vời" trong việc làm đơn giản hoá toán học; có nghĩa là, như một "giả thuyết" (xem bên trên). Và ông nói:
"Nếu có một bằng chứng thực sự cho thấy Mặt Trời nằm ở trung tâm vũ trụ, rằng Trái Đất nằm trên mặt cầu [tầng trời] thứ ba, thì chúng ta cần rất thận trọng khi giải thích các trích đoạn trong Kinh thánh, với lời dạy trái ngược, và vì thế chúng ta nên nói rằng ta không hiểu được chúng chứ không nên tuyên bố đó là ý kiến sai lầm khi nó đã được chứng minh là đúng. Nhưng tôi không nghĩ có bất kỳ một bằng chứng nào như vậy bởi vì chưa có ai cho tôi thấy được nó." (Koestler 1959, pp. 447–448)
Vì thế ông ủng hộ lệnh cấm giảng dạy ý tưởng đó dưới bất cứ tên gọi nào mà chỉ được coi là giả thuyết. Năm 1616 ông chuyển cho Galileo một mệnh lệnh của giáo hoàng không được "ủng hộ hay bảo vệ" ý tưởng nhật tâm. Trong những cuộc tranh luận trước khi có lệnh cấm, ông giữ lập trường ôn hoà, bởi vì nhóm Dominic muốn cấm iệc giảng dạy thuyết nhật tâm ở mọi hình thức. Phiên toà xử tội dị giáo của Galileo diễn ra năm 1633, đưa ra những sự phân biệt rõ ràng giữa "giảng dạy" và "ủng hộ và bảo vệ coi đó là đúng".
Sự phản đối chính thức thuyết nhật tâm của nhà thờ không phải là sự phản đối với toàn bộ ngành thiên văn học; quả vậy, họ cần các dữ liệu quan sát thiên văn để điều chỉnh bộ lịch của mình. Để ủng hộ các nỗ lực quan sát đó, họ cho phép sử dụng chính các giáo đường làm đài quan sát thiên văn.
Năm 1664, Giáo hoàng Alexander VII đã xuất bản cuốn Index Librorum Prohibitorum Alexandri VII Pontificis Maximi jussu editus gồm toàn bộ những lời chỉ trích từ trước với các cuốn sách về hệ địa tâm. Một bản copy có chú giải cuốn Principia của Isaac Newton đã được hai linh mục le Seur và Jacquier của dòng Franciscan Minims, hai nhà toán học Cơ đốc giáo với lời nói đầu cho rằng công trình của tác giả có vẻ ủng hộ thuyết nhật tâm và không thể được giải thích nếu không có giả thuyết. Giáo hoàng Benedict XIV ngừng lệnh cấm các tác phẩm viết về hệ nhật tâm ngày 16 tháng 4 năm 1757 dựa trên công trình của Issac Newton. Giáo hoàng Pius VII đã đồng ý với nghị định năm 1822 của Giáo đoàn điều tra linh thiêng cho phép in các cuốn sách về lý thuyết nhật tâm tại Roma.

Quan điểm của khoa học hiện đại

Sự nhận thức rằng, theo một nghĩa chặt chẽ, quan điểm nhật tâm cũng không hoàn toàn chính xác đã được từng bước hoàn thành. Rằng Mặt Trời không phải là trung tâm của vũ trụ, mà chỉ là một trong vô số những ngôi sao, đã được Giordano Bruno, một người theo chủ nghĩa thần bí tán thành; Galileo cũng có cùng quan điểm, nhưng ông hiếm khi đề cập tới vấn đề này, có lẽ vì không muốn gây gổ với nhà thờ. Trong thế kỷ 18 và 19, địa vị Mặt Trời chỉ là một trong số nhiều ngôi sao khác dần trở nên rõ rệt. Tới thế kỷ 20, thậm chí trước khi con người khám phá ra rằng có nhiều hệ ngân hà, đây không còn là một vấn đề gây tranh cãi nữa.
Thậm chí nếu cuộc tranh luận chỉ giới hạn trong Hệ Mặt Trời, Mặt Trời không nằm ở trung tâm hình học của bất cứ quỹ đạo của hành tinh nào, mà nói chính xác hơn, nó nằm ở một tiêu điểm của quỹ đạo hình elíp. Hơn nữa, khi mở rộng ra rằng khối lượng của một hành tinh không thể bị bỏ qua khi so sánh với khối lượng của Mặt Trời, tâm hấp dẫn của Hệ Mặt Trời hơi dịch chỗ ra khỏi tâm Mặt Trời. (Các khối lượng của các hành tinh, chủ yếu là Sao Mộc, bằng khoảng 0,14% so với khối lượng Mặt Trời.) Vì thế một nhà thiên văn học lý thuyết trên một ngoại hành tinh sẽ quan sát thấy hiện tượng "lắc lư".
Từ bỏ toàn bộ quan điểm "đứng yên" có liên quan tới nguyên lý tương đối. Trong khi, thừa nhận một vũ trụ không biên giới, rõ ràng rằng không có vị trí ưu tiên trong vũ trụ, cho tới khi sự thừa nhận thuyết tương đối hẹp của Albert Einstein, ít nhất sự tồn tại của một lớp ưu tiên trong các hệ quán tính tuyệt đối "đứng yên" được công nhận, đặc biệt ở hình thức các lý thuyết aether truyền ánh sáng. Một số hình thức Mach's principle coi hệ quy chiếu là đứng yên và có xem xét tới các khối lượng trong vũ trụ có các đặc tính đặc biệt.

Thuật ngữ "địa tâm" và "nhật tâm" ngày nay

Trong cách thức tính toán hiện đại, gốc và hướng của một hệ tọa độ thường phải được lựa chọn. Vì các lý do thực tiễn, các hệ tọa độ có gốc tại trung tâm khối lượng Trái Đất, khối lượng Mặt Trời hay trung tâm khối lượng của Hệ Mặt Trời thường được sử dụng. Tính từ "địa tâm" hay "nhật tâm" có thể được sử dụng trong ngữ cảnh này. Tuy nhiên, sự lựa chọn các hệ tọa độ như vậy không hề có những liên quan triết học hay vật lý.
Fred Hoyle đã viết:
"Mối quan hệ giữa hai mô hình [địa tâm và nhật tâm] được đơn giản hóa thành một sự chuyển đổi hệ tọa độ bình thường và đó chính là nguyên tắc cơ bản lý thuyết của Einstein cho rằng bất kỳ hai cách tiếp cận nào đối với thế giới có quan hệ với nhau bởi một sự chuyển đổi hệ quy chiếu thì hoàn toàn tương tự với nhau từ quan điểm vật lý." (Hoyle, 1973, trang 78)

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Xã hội dân sự là gì?


Nguồn: Ryan Salzman, “Civil Society”, in John T. Ishiyama and Marijke Breuning (eds), 21st Century Political Science: A Reference Handbook (Thousand Oaks, CA: SAGE Publications, 2011), pp. 193 – 200.>>PDF
Biên dịch: Ngô Trần Thanh Hiền | Hiệu đính: Nguyễn Thế Phương
Xu hướng các cá nhân tự tập hợp lại với nhau dựa trên chủng tộc, khu vực địa lý, và lợi ích đã được cả các lý thuyết gia lịch sử lẫn các nhà khoa học chính trị đương đại xem là điều tự nhiên. Việc các “nhóm” được nhìn nhận theo cách này bởi những cá nhân khi suy nghĩ hoặc nghiên cứu về chính trị là không có gì đáng ngạc nhiên. Chính trị thường đặt ra yêu cầu phải thừa nhận một cách cơ bản sự cần thiết của các nhóm đối với việc tổ chức chính trị, có thể với tư cách là một nhóm công dân đơn lẻ, các bè phái có lợi ích cạnh tranh với nhau, hay cả với tư cách là những chủng tộc riêng rẽ cùng chung một lãnh đạo. Do đó, gần như không thể hiểu rõ được chính trị nếu không để ý tới tác động của các nhóm lên hệ thống một cách tổng thể.
Sự tương tác giữa các nhóm và các chủ thể chính trị trong xã hội được hình dung một cách tốt nhất thông qua thảo luận về xã hội dân sự, các mạng xã hội, và vốn xã hội. Trong chương này, mỗi thuật ngữ trên mô tả một khía cạnh của những tổ chức đoàn thể định hình nên đời sống xã hội và chính trị. Các mạng xã hội (social networks) thường được dùng để mô tả các tổ chức không chính thức của các cá nhân bao gồm nhiều thành phần xã hội đa dạng (Gibson, 2001). Những mạng lưới này có thể nhỏ hoặc lớn, nhưng mục đích cuối cùng của chúng là khuếch trương lợi ích chung. Vốn xã hội có thể được tích lũy trong những mạng lưới như vậy. Vốn xã hội (social capital) là “tổng hòa của những nguồn lực thực tế hay tiềm năng gắn với sự sở hữu một mạng lưới bền chặt những mối quan hệ ít nhiều được thể chế hóa của quá trình hiểu biết và công nhận lẫn nhau” (Bourdieu, 1985, p. 248). Quá trình tích lũy vốn xã hội khuyến khích các cá nhân cùng hành động nhằm đạt được mục tiêu chung. Không có vốn xã hội thì không thể thực hiện những mục tiêu này. Những thay đổi đều đặn trong tích lũy vốn xã hội, đặc biệt khi đặt trong các mạng xã hội, tạo ra những tổ chức xã hội tương tác ở nhiều cấp độ của xã hội lẫn chính quyền với các hình thức khác nhau. Trạng thái mở rộng này được hiểu là xã hội dân sự (civil society). Các mạng xã hội tương tác với nhau trong phạm vi của xã hội dân sự. Những hành động của cá nhân trong xã hội dân sự thúc đẩy sự tăng lên hay giảm xuống của vốn xã hội và ảnh hưởng tới những tương tác trong tương lai của các cá nhân và của các mạng xã hội. Trong khi các thuật ngữ trên đại diện cho những hiện tượng riêng biệt, các mối quan hệ vẫn là một trọng tâm mang tính nhất quán.
Mặc dù nhìn chung gắn liền với chính trị về mặt lịch sử, quá trình thảo luận và tìm hiểu chính thức về các nhóm trong xã hội phát triển cùng với quá trình truyền bá dân chủ từ đầu thế kỷ 19.  Đi cùng với dân chủ là nhu cầu xem xét sự ưu tiên của các cá nhân. Thường thì những ưu tiên này được nhận biết và chia sẻ bởi những cá nhân tự tổ chức lại thành nhóm dựa trên những ưu tiên chung đó. Mong muốn nhận thức và đáp ứng lại những nhóm như vậy của các nhà lãnh đạo chính trị đã thúc đẩy những nghiên cứu về các tổ chức hiệp hội trong xã hội.
Chương này xem xét những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan tới vốn xã hội, mạng xã hội, và xã hội dân sự. Trước khi đào sâu vào những ý tưởng đương thời là chủ đề chính của chương này, điều quan trọng là cần phải thảo luận vai trò của các tổ chức và các nhóm trong đời sống chính trị giống như lịch sử đã ghi nhận. Tiếp theo, những khái niệm lý thuyết về vốn xã hội, mạng xã hội và xã hội dân sự sẽ được phân tích riêng, chú ý đến việc những khái niệm này liên hệ với nhau thế nào. Sau đó, mối quan hệ giữa những khái niệm kể trên với nghiên cứu về dân chủ sẽ được xem xét với tư cách là cầu nối nghiên cứu xuyên suốt bao gồm vốn xã hội, mạng xã hội và xã hội dân sự. Phần tiếp theo tập trung vào vốn xã hội và xã hội dân sự do chúng có liên hệ tới kinh tế và xã hội theo cách thức rộng lớn hơn. Cuối cùng những phê bình và đường hướng cho những nghiên cứu trong tương lai sẽ được thảo luận.
Tầm quan trọng của các tổ chức hiệp hội trong đời sống chính trị
Kể từ khi xã hội chính trị được thảo luận bởi những triết gia Hy Lạp cổ đại cho tới những quan sát sớm nhất về nền dân chủ Mỹ và thông qua việc đón nhận dân chủ trên phạm vi toàn cầu giữa thế kỷ 20, sự thừa nhận tầm quan trọng của việc con người kết giao với nhau đã được thể hiện và chấp nhận trong bối cảnh người dân ngày càng tham dự nhiều hơn vào đời sống chính trị. Đối với Aristotle (khoảng 335 trước CN), các công dân cần phải biết rõ về nhau để các cá nhân có thể ra quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn lãnh đạo. Thiếu vắng tính chất này thì không thể đưa ra quyết định chính trị hợp lý cho cộng đồng. Theo cách này, Aristotle nhìn nhận thành phố như là một nhóm trong đó các cá nhân tương tác để nhận biết được tính cách và sự ưu tiên của nhau. Quá trình tương tác này là cần thiết khi chính trị yêu cầu sự tham gia của các công dân.
Trong quan sát của mình về buổi ban đầu của nền dân chủ Mỹ, Alexis de Tocqueville (1840) đã viết chi tiết về sự thắng thế và cần thiết của các tổ chức hiệp hội ở đất nước non trẻ này. Ông cho rằng những tổ chức này là quan trọng đối với một kiểu xã hội đang nở rộ tại Mỹ mà ở đó người dân đang ngày càng tham gia nhiều hơn vào đời sống chính trị. Ở Mỹ, các tổ chức hiệp hội đã thành công hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới tại thời điểm đó. Bằng việc tham gia vào các tổ chức hiệp hội, công dân Mỹ có thể khắc phục được sự thiếu ảnh hưởng của bản thân nếu họ hoạt động với tư cách một cá nhân đơn lẻ. Tocqueville quan sát khi các cá nhân có chung quan điểm gặp gỡ nhau, họ sẽ tự động kết hợp lại thành một tổ chức. Khi tổ chức lớn mạnh, những chủ thể chính trị buộc phải chú ý đến chúng và nhận ra những ưu tiên của các thành viên trong đó. Theo cách này, các tổ chức hiệp hội tăng quyền lực cho các cá nhân trong bối cảnh chính trị cụ thể, và điều này buộc những chủ thể chính trị phải tự thích nghi. Chính những tổ chức hiệp hội như vậy đã duy trì được tính cốt lõi của xã hội dân sự, mạng xã hội và vốn xã hội.
Theo sau những quan sát của Tocqueville, Emile Durkheim (1893/1984) đã thăm dò sự tương tác của các cá nhân trong xã hội và thấy rằng liên kết giữa các cá nhân vẫn được duy trì sau những tương tác ban đầu. Những mối liên kết xã hội được duy trì này đóng góp vào hoạt động chức năng của cộng đồng theo một cách thức rộng hơn các tương tác ban đầu, thông qua định hình điều kiện của vốn xã hội phát sinh từ quá trình tương tác. Theo cách này, các tổ chức hiệp hội luôn ảnh hưởng lẫn nhau thông qua những tác động mang tính lâu dài giữa các cá nhân.
Nhiều nhà khoa học chính trị buổi ban đầu khuếch trương tầm quan trọng của những tổ chức hiệp hội mang tính tự nguyện. Ví dụ, Almond và Verba (1963) tuyên dương các tổ chức hiệp hội tự nguyện như là nhân tố hòa giải quan trọng nhất giữa các cá nhân và nhà nước. Việc kết giao với các cá nhân trong một tổ chức tự nguyện giúp con người có thể đạt được mục đích chính trị mà họ khao khát thông qua những nguồn lực chính trị cộng thêm. Tư cách thành viên trong những tổ chức hiệp hội cũng ảnh hưởng tới thái độ chính trị của một cá nhân. Với Almond và Verba, những tổ chức tự nguyện cũng quan trọng như tính đa dạng của nó. Chính sự biến thiên này giữa các nhóm hình thành nên những câu hỏi liên quan tới xã hội dân sự, các mạng xã hội và vốn xã hội trong nhiều thập kỷ theo sau nghiên cứu của Almond và Verba.
Lý thuyết về vốn xã hội, các mạng xã hội và xã hội dân sự
Vốn xã hội, các mạng xã hội và xã hội dân sự là những thuật ngữ và ý tưởng liên quan với nhau nhưng không nhất thiết là đồng nghĩa. Vốn xã hội có thể là thước đo để đánh giá các mạng xã hội và xã hội dân sự, nhưng xét cho cùng, nó mô tả quan hệ giữa các cá nhân và thể chế. Xã hội dân sự là tổng quan của vốn xã hội một cách tương đối trên mỗi một lĩnh vực, xã hội, hoặc nhà nước. Các mạng xã hội là những viên gạch giúp xây dựng nên xã hội dân sự, nhưng hai khái niệm này thường được coi là độc lập với nhau, mặc dù chúng được tích hợp trong cùng một xã hội dân sự. Để hiểu rõ toàn bộ, cần phải hiểu từng khái niệm một.
Vốn xã hội                                            
Trong khi hàng thập kỷ nghiên cứu tập trung vào vai trò của các tổ chức hiệp hội trong cuộc sống thường ngày, khái niệm vốn xã hội đã không được củng cố như hình thức hiện thời của nó cho tới khi Coleman (1988) xem xét những hình thức khác nhau của vốn (capital) và tuyên bố rằng, cũng giống những hình thức vốn khác, vốn xã hội tồn tại và tạo thuận lợi cho tương tác giữa các cá nhân và tổ chức. Trong tương quan với vốn vật chất và vốn con người, vốn xã hội được xem là ít được nhận biết nhất. Thay vì tập trung vào quá trình sản xuất hay những kỹ năng có liên quan tới sản xuất, vốn xã hội tập trung vào chức năng của một số khía cạnh nhất định trong cấu trúc xã hội. “Chức năng được nhận dạng bằng khái niệm ‘vốn xã hội’ là giá trị của những khía cạnh này trong cấu trúc xã hội mà các chủ thể coi là những nguồn lực có thể được sử dụng để giành lấy lợi ích cho mình” (Coleman, 1988, p. S101). Nhận dạng được các chức năng của cấu trúc xã hội trở thành cách để giải thích những kết quả khác biệt xảy đến với các cá nhân mà không cần phải chi tiết hóa cấu trúc xã hội – vốn là nơi qua trình chuyển dịch (từ hành động đến kết quả) diễn ra.
Một ví dụ của Coleman có thể được tóm tắt ngắn gọn như sau: các hội kín có thể thúc đẩy những hành động mang tính cách mạng ở những nơi mà các hành động phản kháng một cách hòa bình là kết quả được mong đợi hơn. Trong kịch bản này, những kết quả mang tính cách mạng được tạo ra bởi một tập hợp của các cá nhân, trong trường hợp này chính là vốn xã hội. Hệ thống vẫn không thay đổi. Thay vào đó, sự xuất hiện của một dạng vốn xã hội khác với những dạng thức tồn tại trước đó đã tạo ra kết quả mới. Một hệ thống ổn định có thể sản sinh ra những kết quả vô cùng đa dạng, tùy vào vốn xã hội được tận dụng, cùng với đó là những nguồn lực mang tính hệ thống khác. Coleman quả quyết việc sản sinh và tích hợp vốn xã hội để tạo ra những kết quả nhất định cũng không khác gì việc kết hợp các nguyên liệu thô (ví dụ, dầu mỏ) với các thể loại vốn vật chất (ví dụ công nghệ) để tạo ra những sản phẩm khác nhau (ví dụ dầu nhớt, xăng).
Với Coleman, thực tế vốn xã hội trong cấu trúc xã hội được quy định bởi các nghĩa vụ, kỳ vọng, và sự tin tưởng. Rốt cuộc, xung lực này có thể được định nghĩa dễ dàng là một hệ thống có qua có lại trong đó nếu làm điều gì đó cho một cá nhân sẽ gây nên một phản ứng tương đương nơi người tiếp nhận. Trong tình huống này, lòng tin vào cá nhân đang được giúp đỡ tạo ra kỳ vọng rằng người đó sẽ đáp lại. Đối với người được giúp đỡ, nghĩa vụ trả ơn được cảm nhận và sẽ được thực hiện. Chính theo cách này mà vốn xã hội được tạo ra và phát triển. Một cá nhân có thể có trữ lượng vốn xã hội đủ để quyết định kết quả của một tình huống. Tin tưởng là điểm nút của động lực vốn xã hội. Không có sự tin tưởng, gần như không thể tạo ra vốn xã hội.
Với Uslaner (2002), lòng tin là sự cân nhắc mang tính trung tâm trong nhiều mặt hoạt động của loài người. Trong khi đồng ý rằng có được lòng tin không phải là cách duy nhất để hợp tác, ông cổ vũ ý kiến cho rằng một hệ thống có đi có lại thì đáng tin cậy hơn với những cấp độ tin tưởng cao hơn. Để vốn xã hội hoạt động theo cách thức của Coleman, cần phải giả định sự có đi có lại là có thể đoán trước được. Do đó, một mặt phải đạt được lòng tin, mặt khác lòng tin đó cũng cần được giả định là có tồn tại. Với những nhà nghiên cứu khác, sự thay đổi trong xung lực của lòng tin tái định hình thực tế của vốn xã hội và do đó định hình xã hội dân sự nói chung.
Trong một nỗ lực làm sáng tỏ vai trò của vốn xã hội ảnh hưởng tới quản trị quốc gia như thế nào và ngược lại, Putnam và Goss (2003) đã phân biệt vốn xã hội để có thể đánh giá một cách dễ dàng hơn những biến thể khác nhau giữa các hệ thống. Một số vốn xã hội mang tính chính thức trong khi các một số khác lại là phi chính thức. Loại hình cấu trúc tổ chức (ví dụ, công đoàn so với câu lạc bộ ăn đêm) sẽ quy định vốn xã hội có mang tính chính thức hay không. Một điểm khác biệt nữa là giữa vốn xã hội đặcthưa. Vốn xã hội đặc tồn tại trong những nhóm có kết nối khăng khít, và vốn xã hội thưa thì trội hơn ở những người chỉ ở mức quen biết với nhau. Vốn xã hội hướng nội tập trung vào phúc lợi của những thành viên trong nhóm, trong khi vốn xã hội hướng ngoại tập trung vào những hàng hóa công cộng. Cuối cùng, vốn xã hội bắc cầu (bridging social capital) mang những cá nhân khác biệt lại với nhau, tương phản với vốn xã hội gắn kết (bonding social capital) tập hợp những cá nhân tương đồng. Mặc dù sự phân biệt của Putnam và Goss không thực sự có ý nghĩa nhiều đối với việc khái niệm hóa lý thuyết đặt ra bởi Coleman, chúng cũng giúp làm sáng tỏ các biến thể của vốn xã hội.
Mạng xã hội
Trong công trình đầu tiên xem xét xã hội dân sự và mạng xã hội, Putnam áp dụng ý tưởng về vốn xã hội được thảo luận phía trên. Với Putnam, cũng như Coleman, vốn xã hội tập trung vào lòng tin và tính chất có đi có lại. Khi xem xét các xã hội dân sự, ông cũng quảng bá vốn xã hội như một thứ hàng hóa công mà mọi người trong xã hội đều có thể có được. Theo cách này, vốn xã hội phát sinh từ những hình thức khác của vốn, bao gồm vốn vật chất và vốn con người. Vốn xã hội và các mạng lưới can dự công dân (networks of civic engagement) tạo ra và duy trì các quy chuẩn có chức năng như những ràng buộc tự nhiên lên hành động của các cá nhân hoặc của các nhóm thông qua việc công nhận và ủng hộ những tác động ngoại hiện (externality) xuất phát từ những hành động tích cực hoặc tiêu cực đối với những cá nhân liên quan. Do đó, vốn xã hội có thể được tạo ra, duy trì và áp dụng để ảnh hưởng tới các kết quả trong một hệ thống có tổ chức.
Đường hướng chính mà qua đó vốn xã hội hoạt động là mạng lưới can dự công dân, hoặc các mối liên kết xã hội. Trong nghiên cứu về sự phát triển của các thể chế kinh tế và xã hội Italy, Putnam (1993) đã xem xét hình thức của các mạng lưới đã tồn tại hàng trăm năm trước và hiệu ứng của chúng lên những hệ quả về mặt thể chế ở Italy đương thời. Không giống xã hội dân sự vốn rộng lớn hơn nhiều, các mạng xã hội là (hình thức) đặc thù đối với những lợi ích được chia sẻ của những cá nhân tham gia. Các cá nhân có thể liên quan tới nhiều mạng lưới chồng chéo lẫn nhau. Putnam nhìn nhận các mạng lưới này như những công cụ cho việc tổ chức vốn xã hội, với nhiều kết quả tích cực. Thực tế, Putnam coi những mạng lưới can dự công dân cũng chính là vốn xã hội. Theo nghĩa đương thời, những mạng lưới này có thể là tổ chức phụ huynh – giáo viên, hội nam sinh, đảng chính trị, câu lạc bộ tennis, vv…
Lợi ích của các mạng xã hội thường được quy định bởi mật độ của mạng lưới. Mật độ nghĩa là số lượng và cường độ của các cá nhân và tương tác trong nhóm. Về cơ bản, sự hợp tác tăng cường vì lợi ích chung thì dễ dàng hơn trong các nhóm mật độ dày và khó khăn hơn ở những nhóm thưa. Putnam (1993) liệt kê một số cách thức khác mà những mạng lưới này đem lại lợi ích cho các thành viên. Việc các cá nhân không tôn trọng kết quả mà mạng lưới mong đợi sẽ bị ngăn trở bằng cách gia tăng chi phí tiềm năng đối với việc không tôn trọng đó. Điều này khuyến khích sự hợp tác. Những quy chuẩn vững chắc của tính chất có qua có lại cũng được khuyến khích bằng mạng lưới can dự công dân. Mức độ tin cậy của cá nhân dễ nhận thấy hơn do các cấp độ giao tiếp tăng lên và dòng lưu chuyển thông tin thuận lợi hơn nhờ mạng lưới. Thành công của mạng lưới trong việc đạt được sự cộng tác trong hiện tại có thể có chức năng định hình cho sự cộng tác trong tương lai.
Về mặt cấu trúc, mạng lưới khế ước công dân về bản chất phân theo chiều ngang. Mạng lưới ngang không được cấu trúc theo thứ bậc mà được trải đều khắp xã hội theo cách mà các vị trí trong mạng lưới gần như tương đương về mặt quyền lực. Điều này không có nghĩa là mạng luôn được cấu trúc theo cách này, nhưng chúng có cơ hội tốt nhất để đạt được những mục tiêu đề cập ở trên khi chúng được phân ngang. Theo Putnam, chỉ có thể thông qua những mạng lưới tổ chức theo chiều ngang, niềm tin và hợp tác xã hội mới có thể đạt được. Những mối liên kết xã hội được tổ chức hợp lý có thể khuyến khích vốn xã hội cải thiện hiệu năng qua việc thúc đẩy các hoạt động điều phối.
Xã hội dân sự
Trong bài viết về sự phát triển của xã hội Italy và những biến đổi trong bối cảnh nước Mỹ, Putnam (1993, 1995, 2000) quan tâm nhất đến việc xem xét xu hướng của vốn xã hội trong xã hội dân sự. Đối với xã hội dân sự, trọng tâm là cộng đồng nói chung. Không giống mối quan hệ trực tiếp giữa cá nhân và các thực thể khác vốn quan trọng nhất cho vốn xã hội, hoặc các mạng lưới can dự công dân theo đuổi các lợi ích cụ thể, xã hội dân sự là một bức tranh khổ rộng của cộng đồng. Khi chúng ta nghiên cứu về xã hội dân sự, quan trọng là cần hiểu được rằng mức độ kết nối giữa các cá nhân hay các thực thể và trong nội bộ mạng xã hội có thể có những hiệu ứng rộng khắp toàn xã hội bắt nguồn từ tổng hòa các cấp độ can dự công dân.
Giống như những hiệu ứng tích cực của các mối liên kết xã hội đã thảo luận ở trên, các tác động ngoại hiện của các hiệp hội và việc tích lũy vốn xã hội có thể ảnh hưởng tới cả những cá nhân với vốn xã hội bằng 0, hoặc những người chẳng tham gia một mạng lưới nào. Những cộng đồng có mức độ kết nối và nguồn vốn xã hội cao thường có thể tiến hành các hoạt động tập thể một cách dễ dàng hơn. Điều này là do sự thẩm thấu những quy chuẩn đã được phát triển giữa các cá nhân và ngay trong mạng lưới. Do đó các xu hướng, vốn ảnh hưởng tới các cá nhân, sau đó sẽ ảnh hưởng tới một số khu vực hay toàn bộ mạng lưới và rốt cuộc là toàn bộ xã hội.
Ý tưởng về một xã hội dân sự rộng lớn đã được đề cập trong một bài báo chuyên đề của Putnam năm 1995 “Đi chơi bowling một mình: Vốn xã hội suy giảm của nước Mỹ” (“Bowling Alone: America’s Declining Social Capital”). Trong nghiên cứu của mình, Putnam chỉ ra thực tế rằng sự không ràng buộc chính trị đang ngày càng gia tăng có nguồn gốc từ những thay đổi trong tương tác giữa các cá nhân, cũng như những thay đổi rộng lớn hơn trong kiến thiết của các mối liên kết xã hội. Ông chắc rằng những thay đổi này rồi sẽ định hình lại đường hướng cho xã hội dân sự ở Mỹ.
Putnam rút ra câu hỏi nghiên cứu (tại sao xã hội dân sự lại thay đổi?) từ những quan sát tưởng chừng không liên quan tới quá trình tham gia chính trị. Ông lưu ý rằng quá trình này, đặc biệt là vấn đề bầu cử, đã suy giảm dần đều ở nước Mỹ. Để hiểu tại sao điều này lại xảy ra, ông đã nhìn vào những thay đổi diễn ra bên trong xã hội dân sự. Từ việc xem xét này, ông rút ra một quan sát đơn giản làm nền tảng cho lập luận của mình: người Mỹ chơi bowling nhiều hơn bao giờ hết, nhưng mức độ tham gia vào các câu lạc bộ hay liên đoàn chơi bowling lại thấp hơn bao giờ hết. Giống như ví dụ về các mối liên kết xã hội, hoặc mạng can dự công dân đã thảo luận ở trên, tập thể cùng tiến có thể thúc đẩy quá trình tạo ra và tích lũy vốn xã hội. Putnam đi từ quan sát cụ thể này tới một nhóm các quan sát rộng hơn, tất cả đều dẫn tới kết luận là các mối liên kết xã hội đang thay đổi và suy giảm. Quay trở lại với lý giải của ông về vốn xã hôi, ông chắc rằng một sự chuyển dịch tiêu cực trong “tình láng giềng” và “niềm tin xã hội” đã gắn liền với sự sụt giảm của can dự công dân. Trong khi hướng đi của mũi tên nhân quả được dành cho những nghiên cứu tương lai tìm hiểu, Putnam sử dụng thực tế này để mô tả tình huống trên bình diện tổng hợp vốn đang hiện diện trong xã hội dân sự Mỹ. Mặc dù ông đưa ra một số giải thích khả dĩ cho sự thay đổi này, có một điều chắc chắn rằng nó là thực tế đã xảy ra.
Như các thảo luận bên trên về các lý thuyết xoay quanh khái niệm vốn xã hội, các mạng xã hội, và xã hội dân sự, mỗi khái niệm đều liên quan tới các khái niệm còn lại tuy nhiên bản thân mỗi khái niệm vẫn mang đặc điểm riêng biệt liên quan tới những thực thể mà chúng đại diện cũng như những chức năng mà chúng có thể gây ảnh hưởng. Vốn xã hội là một viên gạch cấu thành từ lòng tin và tính chất có qua có lại, qua đó các mối quan hệ được thiết lập và duy trì. Các mối quan hệ xã hội mở rộng để chúng tồn tại không chỉ giới hạn bởi hai cá nhân và lớn lên một cách tự nhiên dưới ánh sáng của lợi ích chung. Mức độ vốn xã hội được vun trồng qua các mối liên kết xã hội định hình sự hiểu biết chung về xã hội dân sự của cả một hệ thống. Mức độ kết nối trong hệ thống ảnh hưởng tới sự phát triển tương đối của xã hội dân sự trong hệ thống đó, điều này tới lượt nó lại ảnh hưởng tới nhiều điều kiện tổng quát của xã hội trên diện rộng.
Phần tiếp theo sẽ nhìn vào dòng nghiên cứu chính mà trong đó xã hội dân sự và vốn xã hội được xem xét: dân chủ. Từ nghiên cứu này, các nghiên cứu phái sinh đã phát triển để xem xét tác động của vốn xã hội, các mối liên kết xã hội và xã hội dân sự. Để hoàn tất thảo luận, những phê bình và khả năng nghiên cứu tương lai cũng sẽ được khảo sát.
Xã hội dân sự, vốn xã hội, mạng xã hội và dân chủ
Trong hệ thống chính trị có tính tham dự cao (ví dụ như, dân chủ), bối cảnh mà trong đó các cá nhân hoạt động quy định quan điểm và hành động tiếp theo của họ trong hệ thống đó. Cũng như những cá nhân sở hữu nhiều của cải được kỳ vọng sẽ có những hành động khác với những cá nhân có ít của cải hơn, những cá nhân là thành viên của một nhóm được kỳ vọng sẽ hành động khác với cá nhân không thuộc một nhóm nào. Trong lập luận thiên về trực giác này, có thể dễ dàng thấy là các tổ chức khiến cho hoạt động của các cá nhân trong đời sống chính trị thay đổi. Điều này được thể hiện rất rõ ràng trong cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề tạo lập hệ thống chính trị Hoa Kỳ, trong đó những người chủ trương lập chế độ liên bang và những người phản đối đều ủng hộ những quan điểm cạnh tranh trong việc làm thế nào để tạo ra một chính phủ tốt nhất đại diện cho người dân.
Đối với James Madison, nền dân chủ mới của nước Mỹ cần phải cảnh giác với nạn bè phái. Trong bài viết Federalist số 10, Madison (1787/1982) đã nêu rõ rằng việc các cá nhân tự tập hợp với nhau thành các tổ chức với những người cùng chung lợi ích là điều tự nhiên. Bên cạnh việc đình chỉ quyền tự do của công dân, cách duy nhất để kiểm soát tác động của các tổ chức bè phái là tạo ra một hình thức chính phủ cộng hòa. Ông hình dung điều này sẽ cải thiện các tác động xấu mà tình trạng bè phái gây ra, đồng thời cũng không đình chỉ quyền tự do hoặc làm suy yếu hệ thống chính trị mang tính tham dự cao mà những nhà lập quốc Mỹ mong muốn gây dựng. Ví dụ này làm sáng tỏ bản chất sâu sắc của các tổ chức hiệp hội trong nền dân chủ. Đối với những nghiên cứu về tác động của vốn xã hội, các mối liên kết xã hội và xã hội dân sự, những tác động của chúng lên hình mẫu chính quyền, đặc biệt là dân chủ, trở thành trọng tâm trong hướng nghiên cứu này. Phần này xem xét một số nghiên cứu đã được tiến hành liên quan tới sự tác động của xã hội dân sự (và các thành phần của nó) tới nền dân chủ.
Như đã bàn tới ở trên, Putnam (1995) đã quan sát sự suy giảm trong bầu cử ở Mỹ và mong muốn giải thích tại sao điều này lại xảy ra. Ông đã đưa ra một lý thuyết cho rằng sự suy giảm trong việc tham gia các tổ chức hiệp hội đã tạo ra sự suy giảm vốn xã hội, điều này tiếp tục dẫn tới sự suy giảm trong bầu cử. Đối với Putnam, sự suy giảm trong bầu cử rốt cuộc xuất phát từ sự ngắt quãng của những kết nối đang lớn dần lên giữa các cá nhân. Không có nhu cầu kết nối thì có ít nhu cầu tạo ra quyết định nhóm. Mặc dù kiểm nghiệm đơn giản, nhưng kết quả trình bày của ông thì cụ thể hơn: Giảm sút trong việc tham gia xã hội dân sự gây ra suy giảm trong bầu cử.
Verba, Schlozman, và Brady trong công trình năm 1995 đã xem xét đời sống công dân và hiệu ứng của nó lên chính trị nói chung. Họ khẳng định các thể chế phi chính trị (bao gồm các tổ chức hiệp hội và các mối liên kết xã hội) nâng cao khả năng hoạt động của công dân trong đời sống chính trị. Điều này xảy ra do một số nguyên nhân. Ví dụ, những cá nhân tham gia xã hội dân sự được va chạm với những xúc tác mang tính chính trị, khiến cho sự sẵn sàng và khả năng tham gia chính trị của họ được nâng cao. Tương tự, quá trình tham gia vào xã hội dân sự cũng khuyến khích sự tham dự sâu hơn vào xã hội dân sự với kết quả là những cam kết có liên quan tới các tổ chức hiệp hội có hiệu ứng được nhân rộng lên gấp nhiều lần cho cả công dân và xã hội.
Các tổ chức đoàn thể cũng thể hiện nhiều vai trò trong xã hội dân chủ bằng cách đặt ra chương trình nghị sự chính trị (Cohen & Rogers, 1992). Chúng giữ vai trò hòa giải giữa cá nhân và nhà nước. Vai trò hòa giải có thể mang lại cho các tổ chức đoàn thể nói riêng, hoặc xã hội dân sự nói chung sức mạnh to lớn trong việc định hình và điều phối những ưu tiên của những người tham gia. Mặc dù Cohen và Rogers, cũng giống Madison, quan ngại về việc kiềm chế vai trò của những tổ chức đoàn thể mang tính bè phái, họ thừa nhận rằng các nhóm và mạng lưới có thể đóng góp cho quản trị dân chủ theo một cách tích cực.
Quá trình tham gia chính trị đặc biệt quan trọng trong những xã hội dân chủ và do đó chiếm một phần quan trọng trong nghiên cứu về vốn xã hội, các mối liên kết xã hội, xã hội dân sự và nền dân chủ. Trong công trình xem xét về quá trình tham gia chính trị ở Mỹ, Rosenstone và Hansen (2003) cho rằng khía cạnh tự nguyện của việc tham gia vào các vấn đề xã hội là quan trọng trong việc vận động các công dân. Đầu tiên, phần lớn các nhóm đều tự tiến hành các hoạt động vận động chính trị của chính các nhóm đó. Thứ hai, các thành viên của nhóm được tiếp xúc với những chính khách và nhà hoạt động có chung lý tưởng, cùng với mục tiêu vận động các thành viên. Cuối cùng, việc đơn giản là một thành viên của nhóm hứa hẹn những tưởng thưởng tiềm năng mà các thành viên khác cùng theo đuổi và có thể đạt được tốt nhất thông qua hành động chính trị. Theo cách này, mức độ vốn xã hội, các mối liên kết xã hội và xã hội dân sự có thể ảnh hưởng một cách đa dạng tới mức độ tham dự vào đời sống chính trị.
Đối với Verba, Nie, và Kim (1978), các tổ chức mang tính tự nguyện tác động đến sự tham gia của công dân một cách độc lập với các nguồn lực và nhân tố khác. Những tổ chức này có thể điều chỉnh sự trao đổi nguồn lực trong hoạt động chính trị. Verba cùng cộng sự dự đoán rằng các tổ chức đoàn thể có thể thúc đẩy quá trình tham gia chính trị, đặc biệt thông qua các cuộc bầu cử, lên một mức độ lớn hơn so với những gì các nguồn lực đơn thuần có thể làm. Tuy nhiên, họ cũng phát hiện nguồn lực lại ảnh hưởng tới tư cách hội viên. Dự cảm trước điều này, Huntington và Nelson (1976) thấy rằng tư cách hội viên có vai trò quan trọng trong quá trình tham gia chính trị. Trong khi Verba, Nie và Kim tập trung vào bảy quốc gia được cho là phát triển hơn, Huntington và Nelson chỉ quan tâm tới những quốc gia kém phát triển.
Theo bước Huntington và Nelson (1976), nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào những nước đang phát triển. Sự khác biệt này là quan trọng bởi vì nó dẫn tới nhiều biến đổi hơn trong kết quả, vốn thường ổn định hơn ở những nước phát triển. Ví dụ tốt nhất của thế giới thứ ba mang đến những manh mối mới cho nghiên cứu về xã hội dân sự là một bài báo của Booth và Richard (1998). Trong nghiên cứu của mình, họ nhận diện một khu vực của xã hội và đặt tên là xã hội phi dân sự (uncivil society – một lối chơi chữ của tác giả, có thể hiểu vừa là “xã hội phi văn minh”, vừa là “xã hội phi dân sự” – NBT). Xã hội phi dân sự này mang tính bạo lực và đối đầu với điều kiện của các nhóm thường là phản dân chủ. Giống những biến thể khác trong xã hội dân sự, khu vực xã hội này này ảnh hưởng tới hoạt động và đầu ra của chính quyền. Không giống ở những nước phát triển, xã hội phi dân sự thịnh hành ở những khu vực đang phát triển và đặc biệt là Trung Mỹ.
Ở những quốc gia gần đây đã quá độ lên dân chủ, các mạng xã hội được chỉ ra là tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển tiếp. Gibson (2000) tìm hiểu khái niệm này bằng việc xem xét nước Nga hậu cộng sản. Thoát ra khỏi nhà nước Xô Viết khép kín, mạng xã hội với những mối liên kết yếu giữa các cá nhân đã chiếm lấy vị thế vốn thường được nắm giữ bởi xã hội dân sự thông thường trong việc khởi xướng và phát triển dân chủ. Gibson thấy rằng, mặc dù bản chất là không chính thức, các mạng xã hội cung cấp những cuộc thảo luận chính trị và các tổ chức chính trị mà sau đó có thể phát triển thành một xã hội hội dân sự lành mạnh. Dễ thấy rằng bản chất mối quan hệ vốn xã hội – xã hội dân sự là phát triển đi lên, nhưng vẫn có thể nảy nở từ những mạng xã hội thậm chí còn yếu kém.
Ngoài việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển tiếp lên dân chủ, xã hội dân sự cũng khuyến khích việc tiếp tục củng cố hệ thống dân chủ. Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu và lý thuyết gia đã tập trung vào vai trò ưu tú của giới tinh hoa trong việc gây ảnh hưởng lên hệ thống dân chủ, những nền dân chủ hoạt động đúng đắn chắc chắn yêu cầu về đầu vào con người. Vì lý do này, Diamond (1999) cho rằng xã hội dân sự là không thể thay thế nếu dân chủ muốn thành công. Xã hội dân sự, bằng nhiều cách, có vai trò trung gian giữa khu vực tư nhân và nhà nước. Đầu tiên, xã hội dân sự tập trung vào mục tiêu công hơn là những mục đích tư. Tiếp theo, nó có quan hệ với nhà nước nhưng không tìm cách kiểm soát nhà nước. Cuối cùng, xã hội dân sự chấp nhận sự đa nguyên và đa dạng (Diamond, 1999). Đại diện cho lợi ích người dân, vai trò quan trọng nhất của xã hội dân sự là khả năng kiểm soát và giới hạn quyền lực nhà nước trong khi đồng thời giúp cải cách nó. Do đó, xã hội dân sự, một cách toàn diện nhất, có thể được coi là có ảnh hưởng tích cực lên hệ thống dân chủ.

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Thế giới băng đảng


Nguồn: Andrew V. Papachristos[1] (2005). “Gang World”, Foreign Policy, No. 147 (Mar. – Apr.), pp. 48-55.
Biên dịch: Nguyễn Thị Nghĩa | Hiệu đính: Hoàng Thân Anh Tuấn
Số lượng các băng nhóm đường phố đang tăng nhanh một cách chóng mặt trên toàn cầu. Nước Mỹ đã vô tình làm bùng phát hiện tượng này khi trục xuất hàng triệu dân nhập cư có tiền án ra khỏi Mỹ mỗi năm. Nhưng đây chỉ là một phần lý do các băng nhóm hoạt động lan ra khắp thế giới. Internet cũng đóng góp một phần vai trò, bởi đây là nơi các băng nhóm thiết lập lãnh địa hay truyền bá văn hóa của mình. Các thành viên băng đảng có thể chưa bao giờ nghe nói tới toàn cầu hóa, nhưng toàn cầu hóa lại làm cho chúng mạnh lên.
Một ngày mùa đông lạnh giá ở Chicago, Hector đứng ở điểm bán thuốc phiện của cậu để phục vụ khách hàng như mọi ngày. Hector là con trai của vợ chồng dân nhập cư gốc Mexico, năm nay mười chín tuổi, là thành viên của băng nhóm đường phố có tên “Những vị vua Latinh”. Cậu chàng nói thứ tiếng Anh-kiểu-Tây-Ban-Nha khá thành thạo, đệm thêm vài tiếng lóng đường phố, mặc đồ giống với bọn thanh niên trong vùng: áo gió, quần jean rộng thùng thình và đôi giày trắng dáng thể thao (dù vùng cậu ở có muối tuyết đủ làm hỏng hết nguyên tủ quần áo). Hector chưa bao giờ đi đâu xa quá ba dặm kể từ căn hộ cậu ta sống, chứ chưa nói đến việc rời Chicago.
Hector là đầu mối cuối cùng của chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế dài lê thê và quen thuộc này. Trong túi của cậu ta có những túi nhựa nhỏ chứa mấy mẩu cocaine vụn giá 10 đô, trông như những miếng đường hỏng. Trước khi được đem bán ở đường phố Chicago, chỗ hàng này đã qua tay hàng tá người ở ba nước khác nhau. Hector cũng không có hứng thú gì với chuỗi cung ứng toàn cầu đó. Mọi mối quan tâm và việc làm thường nhật của cậu ta tập trung hoàn toàn vào vài tòa nhà trong thành phố, và thực tình các mong muốn của cậu cũng chỉ đến vậy mà thôi. Phần lớn thời gian trong ngày cậu làm những việc mà những đứa mười chín tuổi khác hay làm: ngủ, chơi bời với lũ bạn, cưa gái, chơi game, đứng ở góc phố cười đùa ầm ĩ. Hector bán hàng chỉ vài giờ trong ngày, thu được tầm 50 đô la, khá hơn một chút so với làm việc ở nhà hàng của McDonald’s.
Hình tượng của Hector – một thành viên băng đảng trẻ, thuộc nhóm thiểu số, sống ở nội đô – được lan truyền, thêm thắt và tán tụng trên khắp thế giới.  Sự gia tăng tính cơ động của thông tin thông qua không gian mạng, phim ảnh, và âm nhạc làm cho các băng đảng, thành viên băng đảng hay những kẻ muốn bắt chước xã hội đen dễ dàng hơn trong việc lấy thông tin, thay đổi cá tính hay làm biến dạng những cách hành xử băng đảng. Trong đa số các trường hợp, những tưởng tượng về cuộc sống của băng đảng như vậy không chỉ quá cường điệu mà là hoàn toàn sai. Xe hơi hào nhoáng, nhẫn kim cương (thật), tiền hàng nắm… không phải là thứ thường thấy trong thế giới băng đảng. Xoay sở để sống, cố kiếm ăn mà không phải vào tù, mặc đi mặc lại một bộ quần áo cho đến khi thủng lỗ chỗ, ngồi ngáp dài ở trường, thất nghiệp, không có trợ cấp cho trẻ nhỏ mới là cuộc sống thực tế hơn.
Tuy nhiên, hiện tại có hai hình dung cơ bản về các băng nhóm đường phố: Loại thứ nhất là các băng nhóm là những tay côn đồ buôn bán ma túy, và loại thứ hai, xuất hiện gần đây hơn, là các băng nhóm là các tổ chức khủng bố. Mặc dù các phương tiện truyền thông thường liên hệ các băng nhóm với ma túy, nhưng thực ra chỉ một tỷ lệ rất nhỏ các nhóm thực sự buôn bán loại hàng hóa này. Càng ít kẻ buôn bán một cách có tổ chức. Trung tâm Băng nhóm Vị Thành niên Quốc gia (NYGC) ước tính khoảng 34% các băng nhóm Mỹ dính dáng đến buôn bán ma túy có tổ chức. Các nhóm buôn thuốc phiện này đã lấp vào chỗ trống trong nền kinh tế đô thị hậu công nghiệp ngày nay, thay thế cho các lao động trong ngành sản xuất hoặc các công việc không đòi hỏi kỹ năng vốn từng được nhiều người dựa vào làm phương thức kiếm sống trước đây.
Tương tự, cái tên Jose Padilla luôn được gán cho hai thứ: nghi can khủng bố Al Qaeda và thành viên băng nhóm đường phố. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng hai thứ này có liên quan tới nhau. Padilla bị bắt ở sân bay quốc tế O’Hare tại Chicago vào tháng 6 năm 2002 khi đang âm mưu cho nổ một quả “bom bẩn” ở một thành phố của Mỹ. Tuy nhiên, khi buôn bán ma túy, phần lớn các băng nhóm thiếu các nguồn lực để duy trì hoạt động các mạng lưới bí mật xuyên quốc gia. Thay vào đó, chúng tham gia vào các hoạt động nhỏ lẻ mà một nhà nghiên cứu tội phạm gọi là  “tội phạm kiểu tự phục vụ” (cafeteria style crimes), như có một ít về sử dụng ma túy, một ít trộm cắp, một ít bỏ học, một ít đánh nhau … Hành động khủng bố của Padilla thực chất không mấy liên quan đến việc hắn tham gia băng đảng.
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều ví dụ cho thấy có những băng đảng có phạm vi hoạt động toàn cầu đủ để giúp chúng thực hiện các hoạt động khủng bố. Năm 1986, El Rukns ở Chicago lên kế hoạch thay mặt chính phủ Lybia khủng bố nước Mỹ để đổi lấy 2,5 triệu đô la. Những năm 1990, băng “Những vị vua Latinh”, thông qua những mối quan hệ được hình thành trong hệ thống nhà ngục của Mỹ, đã rót tiền cho một nhóm chiến binh ở Puerto Rico tên là FALN. Gần đây nhất, thủ lĩnh của băng Mara Salvatrucha (MS-13), băng nhóm hoạt động ở phạm vi trên 31 bang và 3 nước khác, đã gặp một số thủ lĩnh quan trọng của Al Qaeda ở Honduras để bàn về việc bí mật đưa người nhập cư từ Mexico vào Mỹ.
Một trong những khó khăn cấp bách nhất hiện nay đối với các nhà hoạch địch chính sách là phân biệt được đâu là băng nhóm thông thường và đâu là băng nhóm tội phạm. Cho tới gần đây, việc tham gia vào các băng nhóm là một phần bình thường của thanh niên thành phố và không gây hại gì quá ghê gớm. Các thành viên có thể ra khỏi băng khi họ kết hôn, tìm được việc làm, tham gia quân đội hay không còn phù hợp với cách cư xử trong băng nhóm nữa. Tuy nhiên, các thành phố thay đổi thì các băng nhóm cũng thay đổi theo. Kinh tế toàn cầu hóa và sự dịch chuyển hàng loạt việc làm trong lĩnh vực sản xuất chế tạo từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển đã cô lập nhóm người nghèo cả về mặt địa lý và xã hội. Không có gì đáng ngạc nhiên khi số lượng cũng như mức độ nguy hiểm của các băng nhóm tăng cao đột biến cùng với xu hướng này. Ngày nay, các băng nhóm đóng vai trò như là nơi che chở, là gia đình hay chính người tuyển dụng của các thành viên. Các thành viên ở lại băng nhóm lâu hơn, số lượng phụ nữ trẻ tham gia cũng tăng nhanh. Hiện nay, các băng nhóm hoạt động tại tất cả 50 bang trên khắp nước Mỹ và ở vô số các nước khác.
Các băng nhóm tồn tại trong bối cảnh toàn cầu hóa như một nghịch lý: Các băng nhóm có mặt khắp các nước, không phải vì các nhóm hoạt động xuyên quốc gia (rất ít nhóm hoạt động như vậy), mà là do sự linh hoạt cao độ của các thành viên trong băng nhóm cùng với văn hóa của băng nhóm đó. Trong khi toàn cầu hóa làm cô lập các vùng có đông người tham gia các băng nhóm, thì nó cũng giúp mở rộng hoạt động và văn hóa băng đảng. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, các băng nhóm giờ đã hoạt động trên phạm vi toàn cầu.
Khi các băng nhóm lầm đường
El Rukns là ví dụ điển hình nhất cho những gì tồi tệ nhất mà các băng nhóm tội phạm có thể mắc phải. Ban đầu được biết tới với tên gọi “Blackstone Rangers” [Biệt kích Đá đen], băng này xuất hiện vào cuối những năm 1950 ở phía Nam Chicago. Jeff Fort, thủ lĩnh của nhóm này đã tập hợp thêm 21 băng nhỏ nữa, tạo thành một tổ chức hùng mạnh. Năm 1968, Fort bị tòa án liên bang kết án về tội biển thủ các quỹ trợ cấp chống đói nghèo của nhà thờ và các tổ chức cộng đồng. Thay vì tạo ra công ăn việc làm, Fort dùng các quỹ này để mua súng, ô tô, và thuốc phiện. Rời khỏi nhà tù Leavenworth năm 1976, Fort gia nhập tổ chức tôn giáo “Moorish Science Temple of America” rồi sau đó cải sang đạo Hồi. El Rukns (nghĩa là “nền tảng tri thức” trong tiếng Ả rập) trở thành tên gọi mới thay cho “Blackstone Rangers”. Tháng 3 năm 1986, ba thành viên có máu mặt của El Rukns đến Lybia để thỏa thuận với các quan chức quân sự nước này cho một kế hoạch “khủng bố ngay trên đất Mỹ” để đổi lấy 2,5 triệu đôla. Một lần nữa, băng đảng này lại bị những ham muốn về tiền bạc và danh tiếng thôi thúc. Cuộc gặp gỡ tiếp theo giữa El Rukns và chính quyền Lybia diễn ra ở Panama vào tháng 5. Nhưng lúc trở về, hải quan đã phát hiện ra nhiều tài liệu mật trong hành lý của hai tên trong băng này, bao gồm bản nháp sơ bộ về một số âm mưu khủng bố. Các kế hoạch của chúng được dàn dựng ở Chicago bao gồm phá hủy một số tòa nhà liên bang, đánh bom máy bay, ám sát ủy viên hội đồng thành phố Milwaukee hay “giết người rải rác ở các nơi khác nhau”.
Hai tháng sau, El Rukns mua một thứ vũ khí chống tăng hạng nhẹ giá 1.800 đô la từ một điệp viên FBI chìm. Vụ mua bán này cùng với bằng chứng từ những người cung cấp tin, và những đoạn băng ghi âm thu được đã thuyết phục được vị thẩm phán bang công bố một lệnh truy nã. Các nhà chức trách cuối cùng đã phát hiện được vũ khí chống tăng kể trên, 32 khẩu súng, bao gồm một súng máy tự động MAC-10, một khẩu súng lục tự động cỡ nòng 0.45 inch, và nhiều vòng đạn. Năm thành viên kỳ cựu của băng, bao gồm cả Jeff Fort, bị kết tội âm mưu khủng bố và giờ vẫn ngồi tù. Câu chuyện này vẫn còn là ví dụ điển hình cho việc một băng nhóm đường phố bình thường có thể trở nên nguy hiểm đến mức độ nào.
Giang hồ không biên giới
Các băng nhóm hiện có mặt ở 3.300 thành phố trên khắp nước Mỹ, từ những thành phố trên 250 nghìn dân cho đến các thị trấn nhỏ đang phát triển hay vùng nông thôn. Con số này tăng 433% so với năm 1970, khi chỉ khoảng 200 thành phố có các băng nhóm hoạt động. NYGC ước tính hiện nay có khoảng 731.500 thành viên ở trong khoảng 21.500 băng nhóm trên khắp nước Mỹ. Sự phát triển số lượng nhanh chóng này không bị giới hạn về mặt địa lý. Các băng nhóm và những “Câu lạc bộ thanh niên trẻ” có cả ở Pháp, Hy Lạp, Nam Phi, Brazil, Hà Lan, Tây Ban Nha, Đức, Bỉ, Anh, Jamaica, Mexico, Canada, Nhật, Trung Quốc, Úc và các nước khác.
Lý do thường được dùng để lý giải cho sự gia tăng nhanh chóng này là các băng nhóm “di cư” để tìm kiếm thành viên, địa bàn hoạt động và cơ hội phạm tội mới. Những nhóm như “Những vị vua Latin” hay MS-13 là có thật nhưng rất hiếm. Thực tế không có nhiều chứng cứ cho thấy những ham muốn kinh doanh kiểu xã hội đen có tính toán có liên quan đến việc số lượng băng nhóm gia tăng. Một cách giải thích đáng tin cậy hơn, đó là khi con người di cư, họ mang theo mình các yếu tố văn hóa. Ví dụ, Trey, thành viên của băng Gangster Disciples [“Đệ tử xã hội đen”] ở Chicago, chuyển đến thị trấn nhỏ ở Arkansas sống cùng người anh của hắn vốn không phải là giang hồ và đã xin được việc làm ở đây. Dù cố gắng hòa nhập hợp pháp, hắn nhận thấy thân phận giang hồ trong nhóm Gangster Disciples từ thành phố quê hương Chicago đã giúp hắn có được tiếng tăm đáng kể ở Arkansas. Chỉ trong vòng chín tháng sau, hắn đã lập được một “chi nhánh” mới cho băng Gangster Disciples với 15 thành viên. Nhưng băng này không có bất kỳ mối liên hệ chính thức nào với băng nhóm ở Chicago cả.
Xu hướng tương tự cũng xảy ra mọi nơi, đặc biệt là ở Mỹ Latinh và Châu Á. Trong một nghiên cứu trên 1.000 thành viên băng nhóm gần đây, Trung tâm Nghiên cứu Băng nhóm Tội phạm Quốc gia nhận thấy 50% thành viên  băng nhóm tin rằng nhóm của chúng có đường dây quốc tế. Nghiên cứu khác của trung tâm này cũng chỉ ra rằng tỷ lệ này có thể cao hơn đối với những nhóm thành viên là người nhập cư như Tây Ban Nha (66%) và Châu Á (55%).
Việc các thành viên băng nhóm xuất ngoại không chỉ làm văn hóa băng nhóm lan truyền mà còn xây dựng được mối liên hệ giữa các thành viên băng nhóm ở nhiều nước khác nhau. Khi Lito, thành viên băng “Những vị vua Latinh” của Hector, vướng vào rắc rối luật pháp ở Chicago, gia đình đã gửi hắn sang sống ở Mexico với một người cô. Ở đây, tên này đã nhanh chóng trở thành cầu nối cho các thành viên ở Mỹ trốn chạy và những người nhập cư Mexico tìm việc ở Mỹ. Thực tế, băng “Những vị vua Latinh” biến những cầu nối kiểu này thành việc làm ăn béo bở bằng cách làm thẻ căn cước giả. Một cuộc điều tra năm 1999 phát hiện 31.000 thẻ căn cước giả cùng nhiều tài liệu phục vụ việc đi lại khác.
Tất nhiên, các băng nhóm không phải lúc nào cũng có thể xuất ngoại dễ dàng. Từ giữa những năm 1990, chính sách di dân của Mỹ đã làm tăng mạnh số lượng các băng đảng ở Mỹ Latinh và Châu Á bằng việc trục xuất hàng chục ngàn người di dân có tiền án về nước mỗi năm, trong đó có ngày càng nhiều các thành viên băng đảng. Năm 1996, có khoảng 38.000 người nhập cư bị trục xuất sau khi phạm tội; đến năm 2003 con số này lên tới 80.000 người. Thông thường, các thành viên băng đảng đã sống gần như cả đời ở Mỹ. Nhưng một khi đã phạm pháp, với tư cách là người di dân, họ vẫn có thể bị trục xuất.
Các quốc gia có dòng người bị trục xuất trở về vẫn chưa được trang bị để xử lý số thành viên băng đảng hồi hương lớn đến như vậy. Mặc dù có nhiều ước lượng khác nhau, các chuyên gia cho rằng có khoảng 100.000 thành viên băng nhóm ở khắp Trung Mỹ và Mexico. Hơn 2.100 dân nhập cư có tiền án bị trục xuất khỏi Mỹ về Cộng hòa Dominica năm 2003. Cùng năm đó, El Salvador nhận về gần 2.000 người. Chính quyền Mỹ cũng không biết có bao nhiêu thành viên băng đảng trong số những tội phạm bị trục xuất. Nhưng chính quyền các nước Mỹ Latinh đã thấy được vấn đề và nhìn nhận các băng nhóm là mối đe dọa nguy hiểm đối với an ninh quốc gia hiện tại. Năm 2003, Honduras, El Salvador, Guatemala, Panama và Mexico đã nhất trí hợp tác tìm cách xử lý những thách thức  từ các băng nhóm này.
Không mấy thành viên băng đảng muốn về nơi mình sinh ra. Ít hoặc không có quan hệ gì với tổ ấm mới, những kẻ bị trục xuất chỉ có hai lựa chọn: hoặc tìm cách quay lại Mỹ, hoặc tìm kiếm sự bảo hộ từ những thành viên băng nhóm trong vùng. Sau vụ MS-13, chính quyền Mỹ trục xuất hàng trăm thành viên của băng nhóm này. Nhiều người trong số này vẫn tiếp tục nhập cư bất hợp pháp vào Mỹ, buôn lậu hàng hóa hay buôn người. Một số khác ở lại quê nhà và kết nối với các thành viên bị trục xuất khác. Chính quyền các nước này cho rằng tội phạm và bạo lực gia tăng chủ yếu do nguyên nhân này. Như vậy, chính sách nhập cư của Mỹ theo nghĩa nào đó rốt cuộc đã bảo trợ ngoài dự tính cho việc dịch chuyển xuyên biên giới của các băng nhóm tội phạm. Thay vì giải quyết vấn đề, Mỹ có lẽ lại đã giúp phát tán nó.


[1] Andrew V.Papachristos, Nghiên cứu sinh bậc tiến sỹ về xã hội học của Đại học Chicago, đã tiến hành nghiên cứu các băng nhóm đường phố hơn 12 năm qua.