Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên Cứu Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên Cứu Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

Sự diệt vong của Pompeii và bài học gửi hậu thế

Năm 79 SCN, núi lửa Vesuvius ở bờ biển phía đông của miền Nam Ý phun trào, nham thạch phun lên trời, tro bụi cuồn cuộn bao phủ, chỉ trong mười mấy tiếng, thành Pompeii xa hoa mỹ lệ và thị trấn Herculaneum đã diệt vong, biến mất không một dấu tích…

pompeii
Bức “The Last Day of Pompeii” (Tạm dịch: Ngày tàn của Pompeii), 1830-1833, mô tả cảnh người dân Pompeii khi thảm họa xảy tới, họa sĩ Karl Bryullov. (Tranh qua Wikipedia)

Pompeii – Thành phố phồn hoa và giàu có

Pompeii được xây dựng vào thế kỷ thứ 6 TCN, bởi người Oscan, một sắc dân sinh sống ở miền Trung nước Ý vào thời ấy. Thành phố là một hải cảng an toàn giao thương giữa La Mã với Hy Lạp. Trước Công Nguyên, Pompeii là một nước riêng biệt, có lúc độc lập, có khi là thuộc địa của La Mã. Là một thành phố ven biển, tắm trong sự ấm áp của ánh mặt trời, khí hậu dễ chịu, Pompeii sớm trở thành nơi sinh sống của những người La Mã giàu có và quyền quý.

Thành cổ Pompeii có diện tích 1,8km2. Tường thành được xây dựng bằng đá, tường bao dài 4,8km và có 7 cửa thành với 14 lầu tháp cao lớn, 4 con phố rải đá cắt ngang dọc tạo thành 9 khu vực. Mỗi khu vực đều có phố lớn nhỏ thông nhau, ở phố lớn còn lưu lại vết xe bằng sắt rất sâu trên mặt đường giống như xe ngựa. Ở ngã tư các phố lớn đều có máy nước bằng đá cao gần 1m, dài khoảng 2m để cung cấp nước cho thị dân.

Phế tích Pompeii. (Ảnh qua Wikipedia)
Bản đồ Pompeii. (Ảnh qua Wikipedia)

Hai bên đường là rất nhiều các quán rượu, kỹ viện, phòng tắm, xưởng chế tác vàng bạc, tiệm bánh, cửa hàng tạp hóa, cửa hàng dầu ô liu, cửa hàng trứng cá muối, cửa hàng vải dệt, xưởng gốm,…

Pompeii giàu có và phồn hoa, dường như không thiếu thứ gì.

Tắm được xem là một nét văn hóa đặc sắc của người Pompeii. Vì vậy, trong thành phố người ta xây dựng rất nhiều các nhà tắm có quy mô lớn. Hơn nữa, việc giao dịch bàn bạc làm ăn kinh doanh, trò chuyện, gặp gỡ bạn bè… hết thảy cũng đều diễn ra trong các phòng tắm.

Các phòng tắm này được thiết kế rất tinh tế và đầy đủ, bao gồm phòng thay quần áo, phòng mát xa, phòng làm đẹp, phòng tắm nước lạnh, ấm và nóng không thua kém gì so với các phòng tắm hiện đại ngày nay. Ngoài ra còn thiết kế cả các bồn tắm riêng tư.

Người Pompeii còn xây dựng các đấu trường lớn cho mục đích tương tự như đấu trường La Mã.

Thành phố Pompeii ước tính có 20.000 dân, có đấu trường với sức chứa lên đến 12.000 người và kịch viện lớn với sức chứa 5.000 người. Ngoài ra, ở nơi đây, các kỹ viện mọc lên san sát, giới quý tộc và thương nhân sống một cuộc sống xa hoa, đâu đâu trong thành cũng là nơi ăn chơi, hưởng lạc.

Sự diệt vong của Pompeii

Buổi trưa ngày 24/8 năm 79 SCN, núi lửa Vesuvius ở bờ biển phía đông của miền Nam Ý phun trào, nham thạch phun lên trời, khói đen rợp trời dậy đất, tro bụi cuồn cuộn bao phủ, chỉ trong mười mấy tiếng, thành Pompeii xa hoa mỹ lệ và thị trấn Herculaneum đã biến mất không dấu tích.

Thảm kịch xảy ra khi ngọn núi lửa Vesuvius phun trào và nhấn chìm toàn bộ thành phố trong tro tàn của dòng nham thạch cao hơn 6 mét. Trong đó các thị trấn, vùng đất nông nghiệp của Pompeii từng rất nhộn nhịp nằm dưới chân núi Vesuvius bị hủy diệt đầu tiên. Các công trình xây dựng cùng với 16.000 cư dân Pompeii bị chôn vùi vĩnh viễn.

Sự diệt vong của Pompeii và bài học gửi hậu thế
Bức “Eruption of Vesuvius”, mô tả cảnh núi lửa Vesuvius phun trào trước khi Pompeii diệt vong, họa sĩ Carlo Sanquirico. (Tranh qua Wikipedia)

Do bị đông cứng bởi nham thạch đồng thời bị chôn vùi dưới lòng đất trong điều kiện thiếu không khí và độ ẩm, các di thể và phế tích Pompeii được bảo quản gần như nguyên vẹn theo thời gian.

Sau thảm họa kinh hoàng được ví như “Khúc dạo đầu của ngày tận thế” đó, những tàn tích về Pompeii đã bị lãng quên cho đến khi nó được khám phá bởi các nhà khảo cổ học vào năm 1738.

Ngày nay, thành phố này đã được con người khai quật hơn 2/3 diện tích và trở thành một trong những địa điểm du lịch phổ biến nhất ở Ý. Đồng thời, các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục khám phá và lập danh mục các di tích về cư dân của thành Pompeii được bảo tồn.

Những cảnh tượng đau lòng

Các nhà khảo cổ đã tìm được nhiều cảnh tượng đau lòng của cư dân Pompeii trong thảm họa diệt vong. Đơn cử, có một thi thể đông cứng trong dung nham của một đứa trẻ đang ngồi trên bụng của mẹ mình khi thảm kịch xảy ra. Họ cho rằng đứa trẻ khoảng 4 tuổi. Hai thi thể này bám chặt vào nhau trong giây phút cuối cùng của họ. Cậu bé và mẹ được tìm thấy cùng với hài cốt của cha và anh chị em trong gia đình.

Ông Stefania Giudice, quản lý tại Bảo tàng Khảo cổ học Quốc gia Naples nói: “Mặc dù nó đã xảy ra 2.000 năm trước đây, nhưng chúng ta có thể thấy được đấy là một cậu bé, một người mẹ, và là một gia đình. Đó không chỉ là khảo cổ của khoa học mà còn là khảo cổ của nhân loại.”

Khi các nhà nghiên cứu bắt tay vào việc khôi phục những di thể, họ đều nhận thấy được những thiệt hại và mất mát về tinh thần và tình cảm của những người dân Pompeii.

Sự diệt vong của Pompeii và bài học gửi hậu thế
(Ảnh qua Ricur.org)

Từ góc độ lịch sử xa xưa, thật dễ dàng để tách biệt thế giới hiện đại của chúng ta với những gì đã xảy ra ở Pompeii, nhưng cũng thật khó có thể tưởng tượng nếu một cái gì đó ngoài tầm kiểm soát xảy ra hôm nay thì nhân loại sẽ ra sao. Vậy nên, chúng ta không thể không thương xót cho những linh hồn tội nghiệp kia – những người có thể đã không hề biết chuyện gì sẽ xảy ra cho đến khi quá muộn.

Người ta cũng tìm thấy dòng chữ mà có người trước khi chết đã dùng đá viết lên tường di ngôn vội vàng để cảnh tỉnh hậu thế: “Tội ác dẫn đến diệt vong!”

Pompeii trước ngày diệt vong

Rất nhiều người cho rằng, nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của Pompeii, cũng là nguyên nhân khiến nhiều nền văn minh bị diệt vong, có quan hệ đến sự bại hoại về đạo đức.

Nhà sử học cổ đại Mary Beard thuộc đại học Cambridge từng viết cuốn “Pompeii: The Life of a Roman Town”. Trong đó bà viết: “Trên các ô cửa, xưởng bánh, đường phố… đều dễ dàng có thể nhìn thấy hình ảnh các bộ phận sinh dục.” Đó là “biểu tượng của quyền lực, địa vị và may mắn.” Trong kỹ viện, nhà nghỉ, biệt thự, các bức họa, tác phẩm điêu khắc về tình dục không chỗ nào là không nhìn thấy. Các tác phẩm điêu khắc về cảnh giao hợp cũng được bày biện trong các công viên…

pompeii
Một bức bích họa của Pompeii. (Ảnh qua kknews.cc)
Bích họa Pompeii. (Ảnh qua Wikipedia)

Trên khắp các tường của nhà xưởng, cửa hàng, nhà nghỉ… của thành Pompeii đều đầy rẫy các loại bức bích họa rất khó coi, quan hệ tập thể loạn tính có thể thấy ở khắp nơi. Pompeii có 20.000 nhân khẩu mà có tới 25 tòa kỹ viện lớn nhỏ khác nhau, toàn xã hội phóng túng dâm dục.

Năm 1819, người cai trị Naples là Francis lúc cùng vợ tham quan bích họa ở Pompeii, đã cảm thấy xấu hổ không chấp nhận được, liền cho đóng cửa triển lãm.

Bên cạnh tình trạng loạn tính, thì việc ngược đãi nô lệ tại Pompeii cũng rất thảm khốc.

Phần quan trọng nhất tạo nên sự giàu có của người Pompeii khi giao thương mậu dịch với bên ngoài không phải là hàng hóa, mà chính là nô lệ.

Trong các gia đình giàu có ở Pompeii, không chỉ là hết thảy việc trang trí nhà, may vá quần áo, ăn mặc đi lại… đều do người nô lệ làm mà họ còn phải tham gia vào các việc lao động nặng nhọc.

Trong các đấu trường, người nô lệ bị dã thú cắn xé thân xác nhưng người ta vẫn cứ hưng phấn hò hét và vui mừng thưởng thức. Những người giàu thậm chí dùng nô lệ vừa bị giết để nuôi lươn biển, bởi vì họ cho rằng như thế mới cho mùi vị tươi ngon…

Đấu trường thành Pompeii là một trong những đấu trường lâu đời nhất trên thế giới. Nó có thể chứa đựng 12.000 người, mà lúc ấy tính cả nô lệ thì dân số Pompeii mới chỉ có 20.000 người. Với sức chứa lên đến hơn một nửa dân số, đủ thấy người dân Pompeii cuồng nhiệt với những cuộc đấu người – thú như thế nào.

Đấu trường Pompeii. (Ảnh: Thomas Möllmann, Wikipedia)

Việc thi đấu trong đấu trường này cũng không phải là thi đấu về kỹ năng hay thể thao mà là một cuộc đấu đẫm máu “chưa chết chưa dừng”. Trong các “cuộc đấu” ấy là tiếng hú ghê rợn của thú vật và tiếng khóc thảm thiết của nô lệ.

Những cảnh tượng dữ tợn, thú vật đói xé xác những người nô lệ khốn khổ thường xuyên xảy ra trong các “cuộc đấu” này. Nhưng điều khiến người ta ghê rợn hơn chính là người Pompeii không một chút đồng cảm, thương xót mà thay vào đó là sự phấn khích điên cuồng.

“Hãy tận hưởng cuộc sống này đi, ngày mai khó mà đoán trước”, đó là một câu nói được khắc vào cốc uống nước bằng bạc của Pompeii. Sự phóng túng và sa đọa của Pompeii đã đến mức độ đó.

“Tội ác dẫn đến diệt vong!”, câu di ngôn vội vã viết trên tường trước khi chết của người dân Pompeii thật sự là một lời cảnh tỉnh dành cho hậu thế.

An Hòa

 

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2017

MIỀN NAM ĐỆ NHẤT & ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA

Khi tái bản lần thứ ba cuốn Nửa Thế Kỷ Việt Nam, tôi muốn thêm một chương về một thể chế đã tồn tại suốt 20 năm, một giai đoạn ngắn ngủi so với chiều dài lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, giai đoạn lịch sử hai mươi năm (1955 -1975) ấy, nếu đem so sánh, cân nhắc trong thời kỳ lịch sử Việt Nam cận đại khi đất nuớc phân tranh hai miền Nam Bắc, tình tự dân tộc phân hóa vì ý thức hệ Quốc Cộng, hai mươi năm đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa, người dân miền Nam được hít thở không khí tự do, được hưởng các quyền căn bản theo đúng quy ước nhân quyền của Liên Hiệp Quốc; ngược lại người dân miền Bắc phải sống dưới chế độ cộng sản độc tài hà khắc, bị tước đoạt mọi quyền tự do tối thiểu của một công dân.
Tôi lớn lên qua tuổi thiếu niên, từng chứng kiến và là nạn nhân những vụ đàn áp hà khắc dưới chế độ cộng sản, vượt biên, chạy trốn con người, trốn khỏi quê huơng bản quán sau CCRĐ. Từ trước và sau năm 1954 tôi đã từng chứng kiến, tại miền Bắc, CS tuyên truyền đầu độc người dân bằng những luận điệu xảo trá hoang đường rằng, dưới sự cai trị của Ngô Đình Diệm, miền Nam là một địa ngục. Người miền Bắc di cư vào Nam phải giết con nhỏ lấy thịt làm giò lụa bán để kiếm sống. CS trưng bày trong phòng học, tuyên truyền đầu độc những đầu óc non dại bằng những tấm bích chương vẽ hình một quái vật mình chó, đầu người, mặt Diệm.
Tôi mang ấn tượng đó sang Lào. Khi đến nhà một người Việt, chủ nhân lò bánh mì duy nhất trong tỉnh, nhìn thấy ảnh TT Diệm treo trang trọng trên bức tường phòng khách, tôi đứng lặng người, như vừa tỉnh một cơn mê. Từ đó, dù chưa biết gì về SG, chưa biết gì về miền Nam, về chế độ, lòng tôi rộn rã về một cuộc đời mới. Và tôi mơ ước được sớm trở về miền Nam.
Tháng Tư năm 1960 rời Lào về Sài Gòn, tôi thực sự đuợc sống một thời hăm hở, tự do bay nhảy, học hành và thành đạt. Trong khi, tôi không bao giờ quên được tuổi thơ hãi hùng lúc sống ở quê nhà, nhất là từ cuộc CCRĐ. Tôi lại nhớ nằm lòng những gì bố tôi kể lại những quãng đời ông sống dưới chính thể quân chủ nhà Nguyễn, dưới thời thực dân Pháp đô hộ, và thời trai trẻ là đảng viên đảng CS Đông dương, bí thư chi bộ thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh. Những lần với gậy tầm vông, cùng các đồng chí đột kích đồn Tây, cõng đồng đội bị thương chạy thoát, máu dính đầy tay chân, đầu cổ, về nhà đúng lúc mẹ tôi chuyển bụng sinh anh cả tôi.
Một sự việc tôi không thể quên, bố tôi kể những lần theo các “đồng chí” cấp trên về, kéo đến từng nhà “có máu mặt”, có của, bắt trói treo lên xà nhà, quấn dẻ thấm dầu hôi vào gót chân khổ chủ để khảo của, bắt đưa vàng bạc “hiến tặng” cho “tổ chức”. Người khổ chủ cuối trong lần khảo của ấy là chính bà nội tôi. Bố tôi sửng sốt, lý luận, van xin, bà nội tôi mới thoát nạn. Từ tấm mặt nạ đó rớt xuống, lộ rõ bộ mặt “tổ chức” gian tà độc ác, bố tôi dần dần rút lui và ly khai khỏi đảng.
Trong khi đó, một ông “quan Tây” từ huyện đi ngang qua làng tôi thấy một cây cầu mới làm, có một thanh ván bìa gỗ lim bắc ngang qua, viên quan người Pháp liền triệu tập Lý Trưởng và các viên chức hào cựu trong xã lại truy hỏi tấm gỗ lim ấy lấy từ đâu? Ai khai thác gỗ qúy trong rừng? Có giấy phép của Thủy lâm không? Chuyện Tây thực dân bảo vệ rừng cho xứ Annam đô hộ, so với các chế độ về sau quả là… chuyện lạ!
Những gì bố tôi kể tôi nghe; những gì tôi tận mắt chứng kiến, những gì tôi và gia đình tôi trực tiếp hứng chịu qua các chính sách thuế nông nghiệp, truy tô, đấu tố, xử tử, khủng bố, giam cầm… tất cả như thẩm nhập vào tâm trí để tôi xác quyết Miền Nam, với hai chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa là vùng đất hứa cho những ai được sống ngoài vòng kìm tỏa sau bức màn sắt, dưới chế độ độc tài toàn trị của đảng CSVN.
QUỐC GIA VIỆT NAM
Sau “100 năm nô lệ giặc Tây”, từ năm 1948 Việt Nam là một quốc gia quân chủ lập hiến thuộc Liên hiệp Pháp, tuyên bố chủ quyền toàn bộ lãnh thổ, Thủ đô đặt tại Sài Gòn, Quốc trưởng là cựu hoàng Bảo Đại. Tồn tại từ đó cho đến năm 1955.
Tháng 6/1954, sau thất bại trận Điện Biên Phủ, Pháp đã ký tắt một hiệp ước dự định trao trả độc lập cho Quốc gia Việt Nam. Một tháng sau, Hiệp định Geneve ký kết ngày 20-7 chia đôi Việt Nam. Theo các điều khoản của Hiệp định này, chính quyền và các lực lượng quân sự của Liên Hiệp Pháp, bao gồm Quốc gia Việt Nam tiếp thu lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở xuống.
Toàn bộ các đơn vị quân đội Pháp triệt thoái khỏi miền Nam về nuớc.
Các lực lượng Cộng sản ở miền Nam tập kết ra miền Bắc. Quân đội Việt Minh tiếp thu Hà Nội. Miền Bắc đặt dưới sự cai trị của chế độ độc đảng CSVN, tiến hành cuộc chiến thôn tính miền Nam từ thập niên 60.
ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA
Sau Hiệp định Geneve 20-7-1954, Ông Ngô Đình Diệm về nước, nhận lãnh một gia tài miền Nam tan hoang vì chiến tranh, một xã hội băng hoại với những “thập loại sứ quân” từ Bảy Viễn, Ba Cụt đến Kim Chung, Đại Thế Giới, Bình Khang. Mỗi lãnh chúa chia nhau chiếm hữu từng vùng lãnh thổ, hoạt động thổ phỉ ngoài vòng pháp luật. Ông Diệm vừa dẹp loạn an dân, đưa giang sơn về một mối; vừa lo định cư cho gần một triệu đồng bào di cư từ Miền Bắc.
Giai đoạn những năm đầu của đệ nhất cộng hòa, Chính trị ổn định, Xã hội nề nếp, Văn Hóa, Giáo dục quy củ và thăng tiến ngoạn mục.
Nhưng rồi xáo trộn đã liên tiếp xẩy ra chỉ vì những kẻ “nội thù”, những chính khách sa lông, những chính trị gia nửa mùa, những lãnh tụ đảng phái tham lam quyền lực mù quáng, không viễn kiến, thiếu tầm nhìn về hiểm họa cộng sản, về một tình thế chính trị bất ổn.
Trong khi miền Nam đang lúc vừa xây dựng vừa kiện toàn một xã hội và thể chế ổn định để đối đầu với hiểm họa cộng sản đã chiếm nửa nước, thì đảng phái lại kéo quân đi lập chiến khu Ba Lòng chống chế độ, chống phá những nổ lực cấp thiết cho sự tồn tại và phát triển của miền Nam. Một lòng thì yên ổn. Hai lòng, từ ly thân đến ly dị…, thử hỏi “Ba Lòng” làm sao có thể tồn tại?
Ngày 20 tháng 12 năm 1960, CS thành lập “Mặt Trận Dân Tộc Giải phóng miền Nam”, trước đó một tháng, ngày 11-11-1960 Trần Đình Lan, Vương văn Đông cấu kết các phần tử phản loạn làm đảo chánh, ném bom Dinh Độc Lập. Chế độ mặc dầu vẫn đứng vững, tiếp tục cuộc chiến đấu chống CS xâm lăng, nhưng cuộc đảo chính là một “quả đấm thôi sơn”.
Năm 1963, mượn cớ “chế độ đàn áp Phật Giáo”, CS và đám cơ hội đã dấy động những cuộc biểu tình liên tục, ngày càng quy mô “ác liệt”, với những cuộc đình công bãi thị, những vụ tự thiêu,(*) tác động vào lương tâm các chính phủ và nhiều người, trong và ngoài nước.  
Đến đây ly nước lạnh đã tràn. Mặc dù đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc đã đưa ra kết luận không có tình trạng đàn áp Phật giáo và kỳ thị tôn giáo tại miền Nam VN, Mỹ và CSVN không hẹn mà thành kẻ đồng lõa, trong âm mưu lật đổ chế độ của T.T Ngô Đình Diệm. Cuộc đảo chính do Mỹ sắp đặt với sự kích động, cổ vũ của CS thông qua Phật giáo Ấn Quang.
Dư luận cho rằng, lý do sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Hoà là do chính sách “gia đình trị” và việc đàn áp Phật Giáo của chính quyền T.T Diệm. Nhưng nguyên nhân sâu xa của cuộc chính biến lịch sử nầy, như những gì người ta nhìn thấy lúc bấy giờ, như kết kuận của phái đoàn điều tra LHQ và theo như những tài liệu của Mỹ được giải mật, cùng hồi ký của những người tham gia cuộc đảo chánh, thì nguyên nhân căn bản khiến Mỹ muốn loại bỏ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, là vì T.T Diệm không đồng ý cho Hoa Kỳ đổ quân Mỹ ào ạt vào miền Nam Việt Nam, theo chủ trương của các chính khách diều hâu tại Hoa Thịnh Đốn.
Sư sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Hòa là khởi đầu một đường trượt liên tục suốt hơn mười năm, dẫn tới sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam. Ngày nay, nhiều chiến lược gia và các nhà nhận định thời cuộc cho rằng có ba nguyên nhân chính đưa tới thảm họa 30.4.1975:
– Một là việc Lật đổ Chánh Quyền T.T Ngô Đình Diệm, và việc bãi bỏ quốc sách Ấp Chiến Lược.
– Hai là việc Mỹ áp lực VNCH giải thể Qũy Tiết Kiệm Quân Đội, một cơ cấu tài chánh, có thể mỗi thập niên tích lũy cho Ngân Quỹ của QL/VNCH tối thiểu 12 tỷ đồng (không kể khoản tiền lời sản sinh). Sự kiện này làm hụt hẫng niềm tin của quân nhân các cấp trước một việc làm mờ ám và táo bạo. Cùng lúc, Tín Nghĩa Ngân Hàng cũng bị giải thể và dân biểu Nguyễn Tấn Đời bị bắt giam.
– Ba là việc Mỹ phủi tay trước trách nhiệm can thiệp vào cuộc chiến ngay từ đầu, vừa bó tay QL/VNCH, vừa tạo nên một tâm lý hoang mang tiêu cực trong nhân dân và quân đội miền Nam. Cuối cùng là cuộc triệt thoái một cách hỗn loạn và bi thảm khỏi Cao Nguyên vào tháng 3/1975.
(*) Hiện nay trên các trang mạng xã hội và trong nhiều tài liệu, đã trưng hình ảnh, bằng chứng chiếc xe chở HT Thích Quảng Đức đến góc đường Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt (nay là Nguyễn Đình Chiểu – CM tháng Tám) là xe của ông Tôn Thất Hối, (bố vợ NS Trần Quang Thuận) và người rưới xăng lên đầu, mình và châm lửa đốt HT Thích Quảng Đức là Nguyễn Công Hoan, dân biểu VNCH, một VC nằm vùng.
Ngày đó tôi được chứng kiến tại chỗ, từ phút đầu tiên HT Thích Quảng Đức tự thiêu.
Được một người quen, GS Nguyễn Hưng Nhân báo cho biết, sáng sớm hôm đó tôi cỡi chiếc xe Velo Solex vừa đến góc đường, đoàn tăng ni cũng đã từ hướng ngã tư đường Cao Thắng Phan Đình Phùng (Ng. đình Chiểu) hướng tới Lê Văn Duyệt (CMT8). Đoàn rẽ trái vào khoảng trống góc đường LVD – PĐP, trước sứ quán Cambodge, đối diện là garage sửa xe hơi, một bên là cây xăng Caltex. Tôi đứng bên cây xăng nhìn sang, chỉ cách mặt đường khoảng 4-5 mét.
Lúc đó tôi thấy một vị sư được dìu xuống xe, có người dẫn đi mấy buớc, vị sư ngồi xuống thế tọa thiền. Xung quanh người ta tự động dàn thành một vòng tròn, số đông tăng ni, xen lẫn là những cảnh sát mặc cảnh phục màu trắng đứng xen kẽ. Khi lửa bốc cháy, nhiều bà Phật tử sụp xuống lạy, khóc la. Nhưng tuyệt nhiên không có một người nào, kể cả cảnh sát xông ra cứu chữa. Tôi cau mày đứng nhìn cho đến khi HT. Thích Quảng Đức ngả người lật ngửa ra trên nền xi măng, tôi dắt xe chạy về nhà, kể câu chuyện với bố mẹ tôi. Lúc đó tôi có nhìn thấy nhưng không biết người đổ xăng châm lửa là ai. Và sự việc xẩy ra quá nhanh khiến tôi không kịp suy nghĩ và ghi nhận.
Sau đảo chánh, Ông Nguyễn Hưng Nhân có tặng tôi một ấn bản tài liệu, ghi lại toàn bộ hình ảnh (màu) cùng bài viết về cuộc tự thiêu. Tập sách khổ lớn (bằng 1/2 khổ nhật báo). Ngày sang Mỹ tôi để lại cho ông anh cả tôi, nay không biết còn hay mất.
Trước nay đã có nhiều bài viết phân tích, nhận định về biến cố trọng đại này. Ký giả David Halberstam từng đặt dấu chấm hỏi: Làm thế nào để Thích quảng Đức có thể tự thiêu đến chết mà không hề cử động cơ bắp? (How was Thich Quang Duc able to burn himself to death without moving a muscle?).
Ngày nay mọi việc đã rõ trắng đen, tại thành Hồ, CS đã dựng tượng tướng Dương Văn Minh và Hoà Thượng Thích Quảng Đức (tục danh Lâm Văn Túc), xác nhận là người của CS và tôn vinh họ là những người có công với cộng sản.
Lại một lần nữa, một số tướng lãnh làm cuộc đảo chánh ngày 1-11- 1963, kết liễu sinh mệnh hai anh em TT Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô đình Nhu, kết liễu nền đệ Nhất Cộng Hòa. Theo LS Trương Phú Thứ, “Thực chất cuộc đảo chính là cuộc tạo phản, nhằm thỏa mãn thú tính của một số cá nhân tham vọng bè phái, và nhất là phục vụ quyền lợi và đòi hỏi của ngoại bang. Cuộc đảo chính đã tạo ra hỗn loạn triền miên trong sinh hoạt chính trị ở miền Nam, gây chia rẽ trầm trọng giữa các thành phần dân chúng, ngay cả trong quân đội…”.
Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson đã gọi bọn tướng lãnh ấy là lũ côn đồ “A Goddamn Bunch Of Thugs”. Tháng 5 năm 1961, ông Johnson đã từng đưa ra nhận định: “Tổng Thống Ngô Đình Diệm là Winston Churchill của Đông Nam Á”. Sau cuộc đảo chính 1-11-1963, Phó TT Johnson nói: “Tôi đã bảo đừng đảo chánh”. “Chúng ta đã giết Tổng Thống Diệm để tạo thêm bất ổn chính trị không lường”.
Lịch sử là một cuộc tái diễn không ngừng (“L’histoire est perpétuel recommencement”). Lịch sử sẽ soi rọi quá khứ để người hôm nay và ngày sau không bước vào vết xe cũ. Sự thật đã được phơi bày, lịch sử phải được phân minh.
Để bạn đọc hôm nay và hậu thế không phải mù mờ suy đoán, xin ghi lại dưới đây những dữ kiện trong các hồ sơ tối mật của Mỹ đã được bạch hóa vào năm 1998, trong đó có “Bản ký tự” từ một cuốn băng giải mật được thu tiếng tại tòa Bạch Ốc vào chiều ngày Thứ Hai 04 tháng 11, 1963 (hơn một ngày sau khi anh em ông Diệm bị giết), cuốn băng hiện được lưu trữ tại Thư Viện Tổng Thống Kennedy ở Boston, nội dung:  
Tổng Thống John Kennedy đã nhận ông là người có can dự ngay từ đầu về kế hoạch đảo chánh và nói rõ những ai là “tòng phạm”. Qua nguyên văn lời TT Kennedy được thu băng kéo dài 5 phút, kể cả gần 2 phút nói chuyện với con”:
  1. “Cuộc đảo chánh đã xẩy ra tại Sài Gòn vào cuối tuần. Nó là tột đỉnh của cuộc thảo luận trong ba tháng về một cuộc đảo chánh, một cuộc thảo luận đã gây chia rẽ trong chính quyền ở đây và ở Sài Gòn”.
  2. “Tôi cảm thấy chúng ta phải gánh vác rất nhiều trách nhiệm vì nó đã khởi sự bằng điện văn (mang số 243 được gửi vào cuối tháng Tám, chính xác là vào hồi 9 giờ 36 phút tối thứ Bảy, 24 tháng 8, 1963, từ Bộ Ngoại Giao Mỹ ở, cho Đại sứ Lodge ở Sài Gòn) của chúng ta gửi vào đầu tháng Tám trong đó chúng ta gợi ý cuộc đảo chánh”.
  3. “Theo nhận định của tôi điện văn đó đã được thảo quá tệ, đáng lẽ nó không bao giờ được gửi đi vào một ngày Thứ Bảy. Đáng lẽ tôi đã không nên chấp thuận nó mà không qua một cuộc thảo luận bàn tròn để qua đó McNamara và Taylor có thể trình bầy quan điểm của họ. Trong khi chúng ta đã sửa lại tầm mức của nó trong các điện văn sau đấy, chính điện văn đầu tiên ấy đã khuyến khích Lodge theo chiều hướng ông ta đã muốn tiến tới. Tướng Paul Harkins tiếp tục chống đối cuộc đảo chánh trên căn bản là nỗ lực quân sự đang tiến hành tốt đẹp”.
  4. “Tôi đã bị sốc về cái chết của Diệm và Nhu. Tôi đã gặp Diệm với Thẩm Phán Tối Cao Douglas nhiều năm trước. Ông đã là người có cá tính ngoại hạng và trong khi ông trở thành khó khăn với ta vào những tháng vừa rồi nhưng trong khoảng mười năm qua ông đã giữ vững nước ông để duy trì được nền đôc lập dưới những nghịch cảnh rất khó khăn”.
  5. “Cách mà ông đã bị giết thật là kinh khủng. Vấn đề bây giờ là liệu các tướng có thể đoàn kết với nhau để cùng xây dựng một chính quyền ổn định hay là Sài Gòn sẽ bắt đầu, công luận tại Sài Gòn, trí thức, sinh viên, vân vân sẽ chỉ trích chính quyền này như là áp bức và phi dân chủ trong một tương lai không xa”.
  6. TT Kennedy thông báo (theo tác gỉa Đinh Từ Thức):
6/a. Phe chống đảo chánh gồm: “Tướng Maxwell Taylor, Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara, Tổng Giám Đốc CIA John McCone”.
6/b. Phe ủng hộ đảo chánh: “Bộ Ngoại Giao, dẫn đầu bởi Averell Harriman, George Ball, Michael Forestal, Roger Hilsman.
6/c. Michael Forrestal chỉ là một thứ thiên lôi chỉ đâu đánh đó của Averell Harriman.
  1. Harriman đã có biệt danh “cá sấu”. Tại bàn hội nghị, mắt ông ta lúc nào cũng lim dim như mắt cá sấu nằm bên bờ kinh lạch, lâu lâu “táp” một cái, con mồi khó thoát.
  2. Bobby Kennedy đã tặng ông ta một con cá sấu nhỏ bằng vàng, và nhân viên ông ta tặng một con bằng bạc, coi như kỷ vật “từ các nạn nhân”. Cá sấu Harriman đợi hơn một năm, táp được anh em Cố TT Ngô Đình Diệm.
[Listening In: The Secret White House Recordings of John F. Kennedy, The Kennedy Library Foundation; Foreword by Caroline Kennedy and Introduction and Annotations by Ted Widmer. Copyright 2012 The John F. Kennedy Library Foundation, Inc. Published by Hyperion. [Theo tác giả Đinh Từ Thức (DCVonline)]
Ý Kiến Của Đảng Cộng Hòa Mỹ Về Cuộc Đảo Chính 1-11-1963
  1. Loại bỏ ông Diệm đã không đoàn kết được dân chúng sau lưng các tướng lãnh, như là Washington đã hy vọng. Mặc đầu New York Times đã ca tụng đảo chánh như là một cơ hội đẩy lui cộng sản trên khắp các nẻo đường Đông Nam Á, nhưng sự thật trái ngược đã diễn ra.
  2. Cuộc đảo chánh đã phá hủy kiến trúc được xây dựng trong hàng chục năm, để lại một nhóm tướng lãnh tranh quyền thiếu kinh nghiệm hay hậu thuẫn chính trị.
  3. Chỉ trong năm 1964, đã diễn ra bảy lần thay đổi chính quyền. Không có lần nào theo đường lối dân chủ, và tất cả đều là kết quả của một cuộc đảo chánh, dưới hình thức này hay hình thức khác. Những người kế nhiệm ông Diệm thiếu uy tín của một lãnh tụ quốc gia, hay hình ảnh đáng kính nể của một ông quan, đã không biết làm cách nào khác hơn là đẩy cuộc chiến vào tay Hoa Kỳ. “Do đó, Việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam không phải là nguyên nhân, mà là hậu quả của cuộc đảo chánh 1-11, 1963”.   [Theo Henry Kissinger trong Diplomacy (Trích tác giả Đinh Từ Thức, Hồng Lĩnh ghi lại)]
ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA 1967-1975
Sau ngày 1-11-63, khi nền đệ nhất Cộng Hòa chấm dứt, một loạt biến cố chính trị tranh giành quyền lực giữa các phe phái và giới tướng lãnh diễn ra. Tháng 1 năm 1964 tướng Nguyễn Khánh đảo chính lật đổ “Hội đồng quân nhân cách mạng” lên nắm quyền. Một chính phủ dân sự được thành lập với ông Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng và ông Phan Huy Quát làm thủ tướng trong một hoàn cảnh phức tạp: tranh chấp giữa các đảng phái, các tôn giáo, chiến tranh ngày một gia tăng, Mỹ ào ạt đổ quân vào Việt Nam để ngăn chặn làn sóng đỏ. Phan Khắc Sửu – Phan Huy Quát, trong một tình thế như vậy không điều hành được chính phủ, từ chức, trao quyền lại cho các tướng lãnh.
Ngày 16-8-1964, tướng Khánh ban hành Hiến chương Vũng Tàu, tự phong Quốc Trưởng, Thủ tướng, Tổng tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng QL/VNCH.
Tháng 2-1965 hai tướng Thiệu Kỳ cùng hội đồng tướng lãnh buộc tướng Khánh xuất ngoại sống lưu vong.
Ngày 19 tháng 6-1965 hai tướng Thiệu, Kỳ được quân đội đưa lên lãnh đạo đất nước.
Cấu trúc của nền Hành chánh gồm hai cơ cấu: Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, và Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương. Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia là tướng Nguyễn Văn Thiệu; Chủ tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương là tướng Nguyễn Cao Kỳ. Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia mở cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến vào ngày 3 tháng 9. 1965. 118 đại biểu đắc cử gồm nhiều thành phần. Ngày 1 tháng 4 năm 1967 Quốc Hội tuyên cáo bản Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam. Hiến pháp này là cơ sở pháp lý của Việt Nam Cộng hòa cho đến 30 tháng 4 năm 1975.
Hiến pháp 1967 theo mô hình của nhà nước Hoa Kỳ, xác lập cơ cấu tổ chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa rất hoàn chỉnh. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa đã thể hiện khá đầy đủ tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến.
Năm 1971, cuộc Tổng Tuyển cử thứ nhì của Đệ nhị Cộng hòa. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai.
Hiệp định Paris ngày 11 tháng 1-1973, ký kết giữa bốn bên tham chiến (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hoa Kỳ, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa), quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam. Việt Nam Cộng hòa phản đối một số điều khoản trong hiệp định, nhưng phía Mỹ quyết định dứt khoát rút quân, từ bỏ cuộc chiến, đã gây áp lực chính phủ Việt Nam Cộng hòa chấp nhận ký kết hiệp định.
Sau khi Hoa Kỳ rút lui, CS Hà Nội mở các mặt trận quy mô tấn công vào miền Nam. Ngày 30-4-1975, Sài gòn thất thủ, cuộc chiến 20 năm chấm dứt. Toàn cõi Việt Nam lọt vào ách thống trị của tập đoàn độc đảng cộng sản Việt Nam.
Đúng như nhận định(3) của Đảng Cộng Hòa Mỹ về cuộc đảo chính 1-11-1963, những người làm đảo chánh, kế nhiệm TT Ngô Đình Diệm không có quá trình kinh nghiệm chính trường, làm sao có uy tín của một lãnh tụ quốc gia, làm gì có hình ảnh đáng kính nể của một ông quan.
Mười lăm năm có mặt ở miền Nam, dưới hai thời đệ nhất và đệ nhị cộng hòa, kể cả gần mười năm trong nhà tù cộng sản sau 75, qua những gì nghe thấy, qua những cọ xát ở ngoài xã hội và trong tù, tôi có thể đưa ra nhận xét, một số tướng lãnh, chính khách, một số lãnh tụ (tôi không vơ đũa cả nắm) không có kinh nghiệm với cộng sản và thiếu lý tưởng kiên định trung thành với cuộc chiến đấu chống cộng, là kẻ cơ hội, thiếu tài năng, nên đã không cáng đáng được trách nhiệm trước đại cuộc, phải trao công việc điều hành cuộc chiến vào tay người Mỹ, để kết cục 10 năm sau người Mỹ phủi tay, phản bội đồng minh, trói tay quân đội miền Nam, trao lãnh thổ VNCH với hơn ba mươi triệu người dân miền Nam cho Cộng sản.
Tôi đồng thuận với ý kiến từ dư luận cho rằng “miền Nam VNCH thua CS là phải”.
Những người có ý kiến này không phải họ cho rằng CS tài ba đảm lược, mà nhận xét chung VNCH thua vì hai hai yếu tố:
Thứ nhất: VNCH theo thế chế tự do dân chủ. Tôn trọng và bảo vệ các quyền căn bản của người dân. VNCH “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Trong khi cộng sản chủ trương ngược lại, đem hung tàn thay cho chính nghĩa/ Lấy cường bạo thay cho lòng nhân. VNCH chủ trương bảo vệ tài sản sinh mệnh người dân, trong khi cộng sản sẵn sàng moi gan, mổ ruột bất cứ người nào mà họ nghi ngại, không ưa; hoặc không làm vừa long họ. CS chủ trương khủng bố, uy hiếp để răn đe, buộc mọi người phải tuân theo họ.
T.T. Ngô Đình Diệm chết cũng vì “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn”. Trong cuộc đảo chính 1-11-63, Khi Thiếu tá Duệ, Tham Mưu Trưởng Liên đoàn Phòng vệ Phủ Tổng Thống xin Ông Diệm cho đem đại đội thuộc Lữ đoàn liên quân phòng vệ phủ T.T lên Bộ Tổng Tham Mưu bắt nhóm đảo chính, T.T Diệm nói: “Không được. Hãy dành lực lượng và võ khí để đánh Cộng sản. Người nhà không nên tàn sát lẫn nhau. Quân đội để đi đánh CS chứ quân đội đi đánh quân đội à”.
Vị Thiếu tá nói, “thưa T.T không bắt họ thì mình chịu chết sao”. Ông Diệm nói lại: “Chết thì đã sao”. Và TT Diệm đã chết vì lòng nhân, vì đại nghĩa.
(Hai Cuộc Đảo Chánh, Phạm Văn Hưởng, Nguồn số 53, tháng 1/2012 trang 121”
Thứ hai: đảng CSVN có một hệ thống kết nạp và kiểm soát nhân sự rất chặt chẽ. Từ bộ phận đầu não, bộ chính trị và ban bí thư, đến các nhân sự cấp dưới không cần kiến thức và tri thức mà chỉ cần niềm tin vào đảng (dù đúng hay sai), lòng trung thành tuyệt đối và sự hy sinh quên mình. Thêm vào đó là chính sách tuyên truyền nhồi sọ, tẩy não để người cán bộ, đảng viên khi đã gia nhập hàng ngũ, họ trở thành giáo điều, trở thành những con ngựa bị bịt mắt, chỉ còn con đường đi tới theo lằn roi của tên xà ích chính trị bộ.
Trong khi miền Nam VNCH hoàn toàn không có những điều kiện căn bản như trên áp dụng cho nhân sự các cơ cấu chính quyền, dân cử và đảng phái. Hàng ngũ công chức dân chính lỏng lẻo. Quân đội VNCH có tổ chức chặt chẽ, trên dưới có kỷ luật, nhưng một số cấp chỉ huy không đủ kiến thức và năng lực, thậm chí năng lực yếu kém, không có kinh nghiệm xương máu với CS, không ý thức được hiểm họa CS, “xem cuộc chiến như tai trời ách nước” (Nguyễn Bắc Sơn), xem con đường binh nghiệp là con đường tiến thân, thậm chí dùng chức tước địa vị để tranh thủ tư lợi. (Tướng bán gạo, bán, thuốc tây cho VC, tá dùng cả đoàn xe còi hụ để buôn lậu, dân biểu ăn cắp tượng Chàm, v.v..).
Thử hỏi có không? Lý tưởng, ý chí chiến đấu và hy sinh quên mình?
Bên cạnh đó, lãnh tụ và nhân sự các cấp lãnh đạo đảng phái cũng không phải là những đảng viên trung kiên, không đặt cương lĩnh của đảng trên quyền lợi riêng tư, tự ái cá nhân, thiếu đức hy sinh quên mình cho đại nghĩa…
Phần đông cựu tù nhân chính trị HO cảm thấy thất vọng trong những năm tháng chung đụng, cọ xát với đủ thành phần, chiến hữu, đồng đội của mình qua các trại tù cải tạo, khi chứng kiến một số quan “tai to mặt lớn”, những quan chức tiếng tăm một thời, những mai vàng, mai bạc ngày nào lấp lánh quyền uy, giờ đây trong bộ quần áo tù, đã lộ rõ bản chất của một con người, rất người… tư cách bệ rạc. Những người này không chỉ co rúm thủ thân, mà còn biểu lộ tư cách khúm núm, sợ hãi, tâng bốc kẻ giam nhốt mình, khẩn cầu những ân huệ vật chất nhỏ nhặt tầm thường. Con số này chỉ là thiểu số, nhưng là “con sâu làm rầu nồi canh”.
Một ít lãnh tụ đảng phái danh tiếng, từng là Nghị sĩ, là Bộ trưởng Thông Tin vào tù làm ăng-ten “báo cáo cán bộ”, tuy chẳng có ai chết vì bị rình rập báo cáo ấy, nhưng danh dự hàng ngũ Quốc Gia và tập thể tù cải tạo bị xúc phạm, hoen ố dưới con mắt của đám cán binh CS.
Trường hợp nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, một nhà trí thức, một nhà cách mạng, nhưng vì thành kiến với chế độ của T.T Ngô Đình Diệm, ông đã không nhìn ra hậu quả của việc đánh sập chế độ, phá bỏ thế ổn định, gây nên tình trạng hỗn loạn chính trị, xáo trộn đời sống xã hội, tạo lợi thế cho Cộng sảïn về mặt quân sự. Nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam vô tình hay cố ý không nhận chân kẻ thù chính là cộng sản, không phải là chế độ đệ Nhất Cộng Hoà. Ông đi tìm cái chết (sau một cái trát hầu tòa), phủi tay trước trách nhiệm đối với 30 triệu người dân miền Nam lúc ấy, thay vì ông đi tìm một giải pháp và cùng chung vai gánh vác trách nhiệm. Đó là một cái chết mà ngôn ngữ đường phố gọi là lãng nhách, vô ích, không cần thiết cho đại sự.
Hiện tượng nhức nhối phổ biến nhất ở bất cứ trại tù cải tạo nào, ngoài những người làm ăng-ten là đám “tự quản” đội trưởng, tổ trưởng trong tù. Họ là những chiến hữu, là những đồng đội, là những người bạn ngoài đời, nhưng vào tù, một số ảo tưởng được về sớm, được ban phát ân huệ, được hơn miếng khẩu phần, đã quay lưng trở mặt với tập thể, hợp tác với quản giáo, cai tù hành hạ anh em đồng đội của mình. Con số này khá đông. Vụ Bùi Đình Thi là một điển hình.
Trên đây là những chi tiết, những mảnh vụn, những viên sỏi, những vết đen trong toàn bộ 20 năm sinh hoạt chính trị tồn tại của hai chế độ cộng Hòa Miền Nam VN, tiếp theo là những thể hiện cá nhân con người khoảng 20 năm sau 1975 trong các nhà tù Cộng sản.
Để tránh phiến diện trong bức tranh toàn cảnh phải nêu lên một số con người và hiện tượng tiêu cực, nhưng điều chung quyết khẳng định: thể chế dân chủ miền Nam VNCH là một thể chế được xây dựng trên căn bản phân quyền, tự do dân chủ, lấy nhân bản làm phuơng châm cho một nền hành pháp, lập pháp và tư pháp, xứng đáng đứng ngang hàng với các quốc gia dân chủ tiến bộ của thế giới tự do.
Những mảnh vụn, những vết đen trong các xáo trộn chính trị và con người… phần nào chứng minh chế độ dân chủ miền Nam khác với chế độ độc tài tàn bạo cộng sản.
MIỀN NAM ĐẤT LÀNH BẾN ĐẬU
NHỮNG KẺ LIỀU MẠNG ĐI TÌM TỰ DO
Những năm từ xa xưa đến trước thời kỳ CCRĐ thỉnh thoảng vẫn có những người Việt vượt biên sang Lào tỵ nạn chính trị, hoặc ra đi vì đời sống quá cơ cực. Một số chạy sang Lào từ thời kỳ phong trào Văn Thân tan rã, bị Pháp truy lùng, sau đó họ trở về. Năm 1945 một số khá đông sang Lào trong nạn đói năm Ất dậu.
Từ sau năm 1945, khi chủ nghĩa Phát-xít bị đánh bại, chủ nghĩa Cộng Sản bành trướng, Nga sáp nhập các quốc gia Đông Âu vào Liên Bang Sô Viết và Mao Trạch Đông đánh bại Quốc Dân Đảng thống trị lục địa Trung Hoa, Chiến tranh Việt Pháp kết thúc, Việt Nam chia hai miền Nam Bắc / Quốc Cộng, nhân loại từng chứng kiến nhiều cuộc đào tẩu vượt thoát từ các nuớc cộng sản sang tìm đất sống bên Thế giới Tự do.
Tại Việt Nam, với chính sách tuyên truyền đầy mánh khóe và thủ đoạn, nhưng người dân sống sau bức màn sắt của chế độ cộng sản đã tìm đủ cách, liều mạng chạy vào miền Nam bằng mọi ngả, vượt biên sang Lào, thuyền nhân vượt biển, bơi qua sông Bến Hải…, tìm đến vùng đất Tự do.
Sau Hiệp định Geneve, hơn một triệu người dân miền Bắc ồ ạt xuống “tàu há mồm” di cư vào Nam. Nguời dân Đông Đức vượt bức tường Bá Linh trốn sang Tây Đức. Lịch sử nhân loại chưa hề đuợc chứng kiến hay đón tiếp một làn sóng người dân bên vùng lãnh thổ tự do trốn sang vùng đất cộng sản cai trị.
Năm 1957 khi gia đình tôi sang Lào, số người Việt ở Lào đa số thuộc hai thành phần, tỵ nạn kinh tế và tỵ nạn chính trị. Trong các năm 1957, 58 và 59 có nhiều đợt người Việt vượt biên tỵ nạn Cộng Sản, sau cuộc CCRĐ và sau vụ nhà cầm quyền CS bắt bớ đàn áp “Nhân Văn – Giai Phẩm”. Hầu hết những người chạy trốn CS đến Lào là đàn ông, đều xuất xứ từ các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa. Chặng tạm trú đầu tiên là thị xã Thakhek. Số người vượt biên đa số là thanh niên, thỉnh thoảng có một hai phụ nữ độc thân.
Có một cặp vợ chồng tên là Hoàng Quy, khi vượt biên sang đến biên giới, người chồng bị lính VM bắt, người vợ chạy thoát, sống một thời gian ở Lào, sau về miền Nam lập gia đình. Mấy năm sau người chồng tình nguyện gia nhập Biệt Kích ra Bắc, để lại hai đứa con trai cho vợ nuôi. Bà lại “góa bụa”, lại tái giá. Sau hơn 21 năm người BK ở tù về, con không nhận ra bố, vợ đã ôm cầm thuyền khác.
Gia đình tôi là “thành phần” Việt kiều vượt biên sau CCRĐ, cư ngụ tại khu phố của thị xã Thakhek, nên hầu hết người vượt biên đến sau đều tìm tới thăm. Về sau có những người trở thành thân thiết với bố mẹ tôi và gia đình tôi.
– Anh Thái Khắc Chương là một trong những Sinh Viên, gốc Thanh Hóa vượt biên sau vụ Nhân Văn, Giai phẩm. Hồi đó tôi đã được đọc những tờ báo này do anh mang theo. Thái Khắc Chương về Sài Gòn, anh lên Đà Lạt vào đại học. Nhiều lần anh viết thư khuyên tôi về gấp để vào trường học tiếp.
Tôi về Sài Gòn không liên lạc được với anh. Những ngày SG lên cơn sốt trước ngày 30 tháng tư 75, tôi đọc được trong hồ sơ an ninh số ký giả được Mỹ bốc đi có Thái Khắc Chương. Không biết có sự trùng tên không.
Một toán vượt biên khác có bốn người, về Sài Gòn vẫn còn có liên hệ thân quen với gia đình tôi. Một người là Lê Bá Hòa, học hết Tú Tài toàn phần, lấy em gái tôi, nhập ngũ khóa 19 Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức. Một người em họ của Hòa là Lê Bá Phùng, làm công chức, từng là Trưởng Ty Dân vận Chiêu hồi Đà Lạt, Kiến Phong. Một người khác cùng toán vượt biên này là Hồng Xuân Trí.
SONG NHỊ

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Neturei Karta: những người Do Thái “hâm” chống lại nhà nước Israel





Những người theo Do Thái giáo chính thống chống lại chủ nghĩa Zion và nhà nước Israel
Những người theo Do Thái giáo chính thống chống lại chủ nghĩa Zion và nhà nước Israel
Sáng Ánh
Cuộc chiến hiện nay tại khu vực Gaza với hậu quả tàn khốc và bất cân xứng đã khiến ngày càng nhiều các thành phần Do Thái giáo tại nước ngoài phản đối chính sách của nhà nuớc Israel. 1000+ (còn đang tiếp tục đếm) người thiệt mạng phía Palestine, trong đó 70% là dân sự và 20% là trẻ em, 10% hơn là phụ nữ. Phía Israel thiệt hại ba tá quân nhân và 2 thường dân khiến cảnh bù lu bù loa cố hữu (“tôi bị đe dọa, eo ơi sợ quá”) của chính quyền Israel ngày càng khó nuốt mặc dù vẫn thường xuyên được truyền thông thân hữu của họ tống thẳng vào cổ họng quần chúng.
Nếu nghe xem đài và tin tức sơ sài thì ta được biết “Israel chấp nhận đề nghị hưu chiến nhưng Hamas lại từ chối”. Hỏa lực và quân đội Israel mạnh gấp 1.000 lần Hamas. Hamas không có quân đội, không có hải quân, không quân, chỉ có dân quân tự vệ và tên lửa lèm bèm tự chế, sao lại ngang ngược như vậy?
Gaza bị Israel phong tỏa hoàn toàn từ 7 năm nay. Là một dải đất dài 40km ngang 10km (diện tích 360km2) với 2 triệu dân và mật độ dân cao nhất thế giới (5.000 người/km2). Mặt còn lại, giáp Ai Cập, cũng bị bế quan nốt từ khi chính quyền Anh em Hồi giáo (thân Hamas) bị quân phiệt lật đổ. Tình trạng mới này tại Ai Cập lại càng tồi tệ khi Hamas ủng hộ quân nổi loạn chống Assad tại Syria và đặt mình vào vị thế đối lập với Iran và Hezbollah tại Lebanon. Trở thành người yêu cô đơn (“Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn”) Hamas đã phải lại gần với chính quyền Palestine của tình địch PLO (Fatah, cầm quyền tại Tây Ngạn) trong một chính phủ thống nhất.
Đây là điều Israel không thể chấp nhận vì vẫn muốn duy trì mâu thuẫn giữa hai thành phần chính trị và hai khu vực Palestine. Lấy cớ ba thiếu niên bị ai đó giết (một nhóm quá khích ngoài kiểm soát của Hamas), Israel bèn trừng phạt Gaza. Hamas bị vây khốn như đã nói từ 7 năm liền là cùi chẳng sợ hủi, bẻn trả đũa bằng tên lửa loại bèo nhèo, đằng nào thì cũng chết, không chết bom thì cũng chết ngạt.
Trở lại đề nghị hưu chiến nói trên, điều kiện là Israel đóng quân tại 45% lãnh thổ của Gaza làm trái độn thì hỏi sao Hamas chấp nhận được? Hôm 26/7, truyền thông cho biết Israel nhân nhượng kéo dài ngưng bắn thêm 24 tiếng, Hamas cũng lại xấc xược từ chối, bắn ba viên bích kích pháo và hai tên lửa sang Israel (các con số 3 và 2 ở đây là con số chính xác, không phải là một cách nói). Lý do là vì mở rộng chiến dịch đánh bộ, Israel cần thời gian ngưng bắn này để trưng binh trừ bị và chỉnh đốn đội ngũ!
Người Palestine than khóc trước đống đổ nát sau những cuộc tấn công tên lửa của Israel
Người Palestine than khóc trước đống đổ nát sau những cuộc tấn công tên lửa của Israel
Dư luận Do Thái tại nước ngoài vào lần này, trước những tội ác của Israel đã lên tiếng phê bình nhiều hơn trước. Nhưng hiện diện tiên phong, từ lâu ồn ào và dễ nhận diện nhất trong các thành phần Do Thái giáo chống Zion chủ nghĩa và chống nhà nước Israel là phong trào ‘siêu chính thống’ Neturei Karta. Danh xưng này bằng cổ ngữ (nhưng không phải là tử ngữ) Aramaic, tiếng sử dụng bởi Giê Su Ki Tô tại địa phương, mang nghĩa là “Những người giữ thành (Jerusalem)”. Trang phục và tóc tai đúng kiểu Do Thái truyền thống; tuy ít ỏi nhưng họ nổi bật khi có mặt trong tất cả các cuộc biểu tình ủng hộ Palestine độc lập, mặc dù giáo phái này chắc chỉ chiếm dưới 1% của các thành phần Do Thái giáo chính thống. Để phân biệt, ngoài trang phục chính thống, họ mang trên vai khăn quấn của người Palestine Ả Rập.
Được coi là ngoài lề cộng đồng Do giáo và hơi bị hâm, một số Neturei Karta giờ chủ trương bạo động ném đá, khiến có tư tưởng tại Israel đòi xếp tổ chức này vào loại tổ chức ‘khủng bố’ như là Hamas.
Một thành viên của giáo phái Do Thái ‘siêu chính thống’Neturei Karta’ (đội mũ) trong cuộc biểu tình chống chính quyền Israel năm 2010 tại Jerusalem
Một thành viên của giáo phái Do Thái ‘siêu chính thống’Neturei Karta’ (đội mũ) trong cuộc biểu tình chống chính quyền Israel năm 2010 tại Jerusalem
Vào cuối thế kỷ 19, người Do chính thống (Haredi) sang định cư tại Palestine (lúc đó thuộc đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ) vì lý do tôn giáo (Thánh địa Jerusalem). Thành phần này từ Đông Âu (Hungary, Lithuania) khi đó sống hiền hòa và an lành cạnh các cộng đồng Hồi giáo và Ki tô cho đến khi phong trào Zion chủ nghĩa bắt đầu chủ trương định cư người Do tại đây với lý do chính trị là thành lập một nhà nước Israel. Tuy phải sử dụng chiêu bài tôn giáo Do (vì không có gì khác định nghĩa được người Do ngoài tôn giáo) nhưng Zion chủ nghĩa là một phong trào quốc gia và xã hội thế tục và mâu thuẫn với cộng đồng người Do chính thống.
Lúc đầu thì họ còn làm ngơ mặc kệ nhưng đến 1938, khi người Do theo Zion tại Palestine tăng trưởng thì một số người Do chính thống chịu không được và Neturei Karta chính thức ra đời. Nói nôm na thì tao trở về đất Thánh thờ phượng, sinh hoạt cổ truyền theo Do Thái giáo, chẳng có vấn đề gì với người bản xứ như trong hàng chục thế kỷ qua, tự nhiên mày đến đây đòi lập nước chiếm đất lăng nhăng.
Lập trường của Neturei Karta là một quốc gia và nhà nước Palestine, kiểu như là một nhà nước và quốc gia Hoa Kỳ hay Anh quốc vậy thôi, tại đó có người đạo Do sinh sống, sinh hoạt và thờ phượng theo đạo Do, có gì đâu và chẳng chết ai hết. Xin nhắc lại, chết ai và áp bức người Do là tại Âu châu, tại Ba Lan, tại Đức, tại Nga, trước đó trong lịch sử tàn sát họ là tại Tây Ban Nha chứ không phải tại Palestine, Iran, Ma-rốc. Hiềm khích lịch sử trước ngày Israel lập quốc là giữa người Ki tô giáo với lại người Do thái giáo và người Hồi chứ không phải là giữa người Do và người Hồi. Như vậy quốc gia Israel mới là vấn đề, và tôi đây ngoan đạo, không thể nhân danh tôi và tôn giáo Do mà cướp đất đuổi dân (người ta).
Những người Neturei Karta gặp Phó thủ lĩnh Haniyeh của Hamas (Palestine)
Những người Neturei Karta gặp Phó thủ lĩnh Haniyeh của Hamas (Palestine)
Mâu thuẫn tôn giáo chính thống và Do Thái thế tục này được giải quyết bằng cách thành phần tôn giáo lo việc tôn giáo và thành phần thế tục lo việc nhà nước. Thỏa hiệp này giữa đại đa số cộng đồng Haredi truyền thống và Zion chủ nghĩa đến gần đây mới xảy ra lục đục, điển hình là khi nhà nước Israel đòi bắt các tu sĩ Do thái giáo phải thực thi nghĩa vụ quân sự và cộng đồng lớn này tại Israel bất phục tòng, có giỏi thì bắt hết bỏ tù đi!
Lý do là từ thập niên 90 trở đi, một số lớn người gốc Do từ khối Liên Xô cũ di dân sang Israel. Thành phần này nguồn gốc Do thì nhập nhèm, đức tin tôn giáo thì không có, lại chưa từng sinh hoạt hay chung sống, cảm thông với người Ả Rập bản địa. Người mới đến thường lại hay máu hơn kẻ ở lâu, đối với họ người Palestine là kẻ thù và giờ thì chính trường Israel bị họ chi phối bởi con số, một phần nhờ vào việc những người trước kia sinh trưởng tại chính Israel hễ có cơ hội là vượt biên sang Âu sang Mỹ rất nhiều.
Tóm lại, mâu thuẫn tại Israel là ở giữa ba cộng đồng Do Thái.
Cộng đồng chính thống có mặt lâu nhất và từng sinh sống với láng giềng Ả Rập, bên nhau khi tối lửa tắt đèn từ nhiều thế kỷ là một. Họ, Do và Hồi, cùng bị tàn sát và trục xuất khỏi Tây Ban Nha Ki tô.
Cộng đồng gốc Âu của phong trào Zion lập quốc, thế tục và có khuynh hướng thiên tả Xã hội là hai, từ đầu thế kỷ 20 sang lập ấp và đến Thế chiến thứ Hai ồ ạt. Cộng đồng này là cộng đồng rường cột, đã dựng nên hình ảnh của một Israel hiện đại và văn minh, bé nhỏ nhưng kiên cường v.v., nạn nhân cần sự bao bọc của Tây phương.
Cộng đồng chót là từ khối Liên Xô cũ mới sang Israel từ khi khối này tan rã. Về chính trị cộng đồng này cực đoan và cực hữu, nguồn gốc Do của họ lại mập mờ khiến họ lại càng lính mới hăng say (người Nga gốc Do, sang Israel định cư được mang theo cả dâu rể nội ngoại dù họ có hay không nguồn gốc Do Thái). Nhờ bức tường ngăn cách và chính sách phân biệt, cộng đồng mới này cả đời chưa hề gặp một người Palestine. Họi là những người hiện nay đi chơi dã ngoại, lên đồi ngắm cảnh ném bom Gaza vui như Tết mà miệng nhai dồi lợn (là món kiêng của đạo Do).
Người Israel rủ nhau lên đồi xem pháo bông tại Gaza trong khi tuyên truyền của nhà nước là họ đang sống trong sợ hãi dưới pháo của Hamas
Người Israel rủ nhau lên đồi xem pháo bông tại Gaza trong khi tuyên truyền của nhà nước là họ đang sống trong sợ hãi dưới pháo của Hamas
Neturei Karta thuộc thành phần thứ nhất, là một thiểu số nhỏ trong thành phần này không chấp nhận thỏa hiệp với nhà nước Israel và chủ nghĩa Zion từ 1938 như đã nói. Đâm sau lưng các chiến sĩ Israel thì họ không đâm mà đâm ngay trước mặt, thế mới khó chịu chứ, vì không ai chối bỏ được tư cách Do Thái giáo của họ, cũng như họ chính là những người Do định cư lâu đời nhất tại Palestine.
Cho nên đến giờ họ được coi như là mấy thằng sãi hâm, Do giáo chính thống mà lại đi đưa ma Arafat và khóc như là cha chết, hay là đến gặp (Tổng thống Iran) Ahmadinejad và ủng hộ ông ta (theo Neturei Karta “Iran không phải là hiểm hoạ của người Do Thái. Hiểm họa của người Do Thái là Zion chủ nghĩa”)!
Người Neturei Karta đưa tang Arafat
Người Neturei Karta đưa tang Arafat
Nhưng vào lúc này khi quốc gia Israel tại Gaza đi vào bế tắc của bạo lực thì cũng không hẳn là mấy ông thày chùa Neturei Karta điên đâu. Sau 7 năm phong tỏa giải đất này, thỉnh thoảng đánh bom giết một mớ mà vẫn chưa giải quyết được cốt lõi của vấn đề, ngày càng bị thế giới và ngay cả đồng minh Anh Mỹ đằng hắng, thì Neturei Karta hay là chính quyền Israel, ai mới là rồ dại đây? Vấn đề có thể giải quyết được bằng giết thêm vài mớ nữa hay không? Trừ phi, như đại biểu xinh đẹp của Quốc hội Israel (Ayeled Shaked) phát biểu, là ta giết hết các bà mẹ Palestine để họ khỏi đẻ ra bọn khủng bố nữa!
Ayeled Shaked
Ayeled Shaked
Sống còn của Israel là nhờ ở sự ủng hộ của người Do trên thế giới, tức là ở Tây phương Âu Mỹ, xe tăng tàu bò và sức mạnh quân sự của họ cũng từ đó mà ra. Nhưng nỗi đe dọa đối với họ là ngoài Neturei Karta – thành phần tiên phong, tiên tri và ‘hề’ vui mắt – người Do ở ngoài nước trong dịp Gaza 2014 này đã lên tiếng phản đối như trước đây chưa từng thấy.
Phản đối chiến tranh tại Hoa Kỳ bởi người Do Thái Mỹ, Hai người mang băng rôn đeo cờ Palestine (trên cổ tay và trên ngực) Biểu ngữ đề “Tiếng nói Do Thái cho Hoà Bình: Người Israel và người Palestine. Hai dân tộc. Một tương lai”
Phản đối chiến tranh tại Hoa Kỳ bởi người Do Thái Mỹ, Hai người mang băng rôn đeo cờ Palestine (trên cổ tay và trên ngực) Biểu ngữ đề “Tiếng nói Do Thái cho Hoà Bình: Người Israel và người Palestine. Hai dân tộc. Một tương lai”
Nguồn bài đăng



Huyền thoại Do Thái trở về lập quốc




Jerusalemites-watch-an-evangelical-Christian-parade

Sáng Ánh
1. Huyền thoại Do Thái trở về nhà: Đố ai dám cãi nào

Có lẽ mọi người đều đồng ý là Trung Đông là một nơi bất ổn thường xuyên và kinh niên như bệnh suyễn, thỉnh thoảng lại sù sụ, có khi ho ra máu, và dễ trở thành ngòi nổ, đám cháy… tại một khu vực nhạy cảm của thế giới, với vị trí chiến lược lưu thông giữa Âu-Á, cùng thứ tài nguyên mà bất cứ ai ra đường uống miếng café, ăn quà hay đón con, chở mẹ cũng phải dùng đến, chưa nói tới những chuyện khác. Đó là dầu hỏa.
Có lẽ mọi người cũng đều đồng ý là một trong những nguồn bất an lớn tại Trung Đông, nếu không nói là nguồn bất an lớn nhất, là từ mâu thuẫn giữa Israel với các quốc gia Ả Rập, và sẽ chỉ có hòa bình lâu dài trong khu vực nếu vấn đề Palestine được giải quyết.

Palestine (giờ vẫn chưa là một quốc gia, chỉ là một “nhà chức trách” và không có quân đội) với hai phần đất “còn lại”: Dải Gaza bên ngoài, sát biển, và khu bờ tây sông Jordan, trong đất liền, có thành Bethlehem, nơi Chúa sinh ra đời. Thành Jerusalem tại đây – nơi Chúa Jesus bị đóng đinh, cũng chia hai: nửa Tây thuộc Israel, nửa Đông thuộc Palestine.
Palestine (giờ vẫn chưa là một quốc gia, chỉ là một “nhà chức trách” và không có quân đội) với hai phần đất “còn lại”: Dải Gaza bên ngoài, sát biển, và khu bờ tây sông Jordan, trong đất liền, có thành Bethlehem, nơi Chúa sinh ra đời. Thành Jerusalem tại đây – nơi Chúa Jesus bị đóng đinh, cũng chia hai: nửa Tây thuộc Israel, nửa Đông thuộc Palestine.
Đến đây thì chúng ta bắt đầu bất đồng vì mới xuất hiện một từ húy đối với dư luận Tây phương, tức là truyền thông quốc tế dòng chính hay lề phải, đó là từ “Palestine”.
Palestine là cái gì?
Không có quốc gia nào là Palestine cả!
Chỉ có một quốc gia là Israel. Nói thêm, không có dân tộc nào là Palestine cả, mà chỉ có một dân tộc Do thái. Hình ảnh thông dụng trong quần chúng (Tây phương) của Israel là sau đây: một nước nhỏ bé bị vây quanh bởi một khối khổng lồ hung hăng đe dọa sự sinh tồn của hiệp sĩ đơn thương và Đương Dương Trường Bản này, lâu lâu “chúng” lại đòi đẩy dân tộc này xuống biển hay là xóa tên quốc gia này trên bản đồ.
Xin nhắc lại rất rõ và mọi người hô to cùng:
Không có quốc gia nào là Palestine!
Không có dân tộc nào là Palestine!
Đây là một điều kiện tất yếu cho kịch bản vừa mới nói được suôn sẻ. Vì nếu có một quốc gia Palestine thì ai đã xóa tên quốc gia này trên bản đồ đây? Và nếu có một dân tộc Palestine thì hóa ra dân tộc này đã bị ai ở đâu ra đẩy xuống biển?

Bản đồ về tiến trình mất đất của Palestine, từ 1946 đến 2000, cuối cùng gần như bị… văng ra biển. Ai chiếm? Dĩ nhiên là “thằng bé tội nghiệp Israel” rồi
Bản đồ về tiến trình mất đất của Palestine, từ 1946 đến 2000, cuối cùng gần như bị… văng ra biển. Ai chiếm? Dĩ nhiên là “thằng bé tội nghiệp Israel” rồi
Trong kịch bản này, chỉ có một dân tộc là Do thái và một quốc gia là Israel, nhỏ bé và kiên cường trước nghịch cảnh là bè lũ du côn Ả Rập trùng điệp vây quanh hằm hè, người nách thước, kẻ tay dao, đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi. Thằng Palestine vào đây làm gì, đi ra khỏi trường quay! Nào, tiếp tục bấm máy!
Do Thái là một “Dân tộc chọn lọc”, một dân tộc bị lưu vong ở đầu Công nguyên, họ phân tán khắp nơi trên thế giới và 2000 (hai ngàn) năm sau trở về “Miền Đất Hứa”, “Đất của Israel” (Eretz Israel), họ trở về nhà. Mà ai chọn lọc họ chứ, ai hứa đất và ai dành đất cho họ? Đức Chúa Trời chứ còn ai nữa, thế mới kinh! Có viết trong sách được gọi là Kinh Thánh rành rành thì còn cãi vào đâu! Thằng nào định cãi với Đức Chúa Trời đây? Mười điều răn là Ngài giao cho họ, rẽ biển Hồng Hải cho họ sang Ai cập (lưu vong thứ nhất thời khai thiên lập địa nào đó), rồi đến công nguyên là lưu vong thứ nhì. Ngài còn bảo, các con phải trở về nhà.

“Exodus” (Trở về Đất Hứa) – Tranh của Richard Mcbee – Moses rẽ nước Hồng Hải để từ bờ Ai Cập trở về Đất (được) Hứa
“Exodus” (Trở về Đất Hứa) – Tranh của Richard Mcbee – Moses rẽ nước Hồng Hải để từ bờ Ai Cập trở về Đất (được) Hứa
Đó là chuyện nhà thờ và ở trong Kinh Thánh, tức là sách trong phòng ngủ khách sạn nào ở Tây phương cũng có một cuốn do hội Giddeon thân tặng đặt ở trong ngăn kéo đầu giường. Vào cuối thế kỉ 19, chủ nghĩa Zion, cũng như với các phong trào quốc gia chủ nghĩa ở Âu châu lúc đó (thí dụ Ireland, Bosnia v.v. và vô khối) ra đời và đòi thành lập một quốc gia riêng cho người Do đang sinh sống tại đây. Nhưng nếu chủ nghĩa quốc gia Ireland có đất để mà đòi Đế quốc Anh trả lại hay Bosnia đòi Đế quốc Áo thì người Do phải đòi ai đây? Căn bản tôn giáo trên được Zion chủ nghĩa nhanh trí “cướp” lấy và thế tục hóa. Trời đã trao đất Israel cho họ.
Nói là “cướp”vì phong trào Zion là một phong trào thế tục và XHCN chứ không phải là một phong trào tôn giáo. Họ phải giả tin thôi vì cộng đồng người Do trước hết là một cộng động được định nghĩa bằng tôn giáo là Do thái giáo. Nhưng nếu tin hẳn vào Kinh Thánh thì cũng có vấn đề. Chúa Trời bảo đây là phận phải lưu vong của dân tộc này, chuyện trở về là trước ngày tận thế nhé, không phải là lúc nào muốn về thì về (kiểu bố hấp hối mới được chia đất, không phải chia ngay bây giờ, đuổi em ra đường). Cho nên thành phần Do Thái giáo bảo thủ và tuyệt đối ngoan đạo chống lại việc trở về này. Đến ngày nay và nhân danh Do Thái giáo chính thống, họ vẫn biểu tình chống lại sự hiện hữu trái với luật trời quốc gia Israel. 

Những người theo Do Thái giáo bảo thủ chống lại chủ nghĩa Zion và nhà nước Israel
Những người theo Do Thái giáo bảo thủ chống lại chủ nghĩa Zion và nhà nước Israel
Ngược lại, gần đây thì Israel lại được sự ủng hộ của số giáo dân Ki tô cực đoan (Evangelicals) tại Mỹ. Đối với phong trào này, sự hiện hữu của quốc gia này (người Do trở lại miền đất Hứa) là dấu hiệu “tận thế gần kề” khiến họ rất hân hoan. Tại sao tận thế mà lại hân hoan? Bởi vì nếu tin vào sách Thánh thì tận thế là ngày người ngoan đạo sẽ được lên thiên đàng! Nhắc lại, là trong nhiều thế kỉ dài, sự đàn áp và kỳ thị người Do là bởi người Ki tô tại Âu châu nhé chứ không phải bởi người Hồi tại Trung Đông và cho đến giờ, trong khi chờ đợi Iran có bom nguyên tử (?) thì ngược đãi, tàn sát hay tận diệt người Do là bởi bàn tay nguời Âu và Ki tô.

Từ mái một tòa nhà, những người dân (Israel) ở Jerusalem đứng theo dõi một cuộc diễu hành của phe Ki-tô cực đoan ủng hộ Israel; Một người tuần hành mang một lá cờ có hình ngôi sao David và một con sư tử Ảnh: AP/Kevin Frayer, 2006
Từ mái một tòa nhà, những người dân (Israel) ở Jerusalem đứng theo dõi một cuộc diễu hành của phe Ki-tô cực đoan ủng hộ Israel; Một người tuần hành mang một lá cờ có hình ngôi sao David và một con sư tử Ảnh: AP/Kevin Frayer, 2006
Phong trào Zion có lúc còn định “lập quốc”tại Brazil hay là Uganda (may là chưa có nghĩ đến 6 tỉnh Nam Kỳ). Sau đó, họ thấy khả thi nhất là trở về “Đất Hứa” và khả thi về mặt thực tế chứ không phải là vì Trời đã cho họ đất này. Người cho họ đất này là ngoại trưởng Anh quốc Balfour (sau làm Thủ tướng), và lý do ông đồng ý là vì nước Anh không muốn phải nhận di dân Do thái bị ngược đãi và kỳ thị tại Đông Âu. Mày gặp khó thì tao cũng giúp, nhưng đến ở Scotland nhà tao thì bất tiện lắm, tao có thuộc địa đô hộ ở Trung Đông, nghe đâu 20 thế kỉ trước là nhà mày, mày dọn về đấy mà ở.
Lúc đầu, ngay cả tổ sư của phong trào là Theodor Herzl cũng chỉ muốn sống chung với người Palestine. Lý do: từ 1924, vì Hoa Kỳ siết chặt chính sách di dân sang Mỹ, và người Do bị kỳ thị ở Âu châu khó mà sang Mỹ được. Như đã thấy, Anh quốc cũng không muốn nhận họ. Palestine lúc đó là phần đất dưới bảo hộ (mandate) của Anh. Thôi thì, Anh tặc lưỡi: “Chúng mày sang đó chẳng tốn kém gì của tao, lại còn giúp tao quản được bọn Ả Rập tao đang đô hộ”. Việc Đức Quốc Xã thảm sát người Do trong Thế chiến 2 lại khiến chủ nghĩa Zion thêm mồi, di dân ồ ạt và vấn đề quốc gia trở nên cấp bách và Israel năm 1948 oanh liệt ra đời. Sự thành lập của Israel là thành tích muộn màng của chủ nghĩa thực dân trong một thế giới đang trên đà giải thực.

Theodor Herzl – ông tổ của phong trào Zion – trên một áp phích kỷ niệm 50 năm ngày tổ chức ra đời (1897 – 1947)
Theodor Herzl – ông tổ của phong trào Zion – trên một áp phích kỷ niệm 50 năm ngày tổ chức ra đời (1897 – 1947)

Trang nhất của tờ The Palestine Post ra ngày Chủ nhật, 14. 5. 1948 với thông báo nhà nước Israel ra đời
Trang nhất của tờ The Palestine Post ra ngày Chủ nhật, 14. 5. 1948 với thông báo nhà nước Israel ra đời

Truman, tổng thống Hoa Kỳ lúc ấy, ký một tài liệu công nhận Israel như một quốc gia mới, nhưng lại từ chối công nhận đây là một nhà nước Do Thái.
Truman, tổng thống Hoa Kỳ lúc ấy, ký một tài liệu công nhận Israel như một quốc gia mới, nhưng lại từ chối công nhận đây là một nhà nước Do Thái.
Năm 1945, khi gặp vua Ibn Seoud của Saudi, Tổng thống Franklin D Roosevelt có giải thích về hoàn cảnh khó khăn của người Do Thái bị Đức tận diệt. Ông Ibn Seoud bèn hỏi, thế sao Đồng Minh không lấy luôn vùng đất màu mỡ nhất của nước Đức mà bồi thường cho người Do lập quốc?
Câu trả lời của Zion chủ nghĩa đã có sẵn: nếu không phải Trời cho thì cũng bởi vì 2000 năm trước, đất Israel là của dân tộc Do Thái. Huyền thoại quốc gia Israel thế là trở thành “Một miền đất không dân tộc cho một dân tộc không miền đất”, nghe thì rất du dương hợp nhĩ nhưng phải chấp nhận ba tiền đề.
Tiền đề thứ nhất là có một dân tộc Do thái, đặc biệt không giống ai (“chọn lọc”) và muôn đời.
Tiền đề thứ nhì là dân tộc này trước đây sinh sống tại miền đất đó và còn giữ Sổ đỏ cho đến giờ (có con dấu của cục Nhà đất Thượng đế).
Tiền đề thứ ba là trong 20 thế kỉ qua, miền đất đó ngoài ra không có dân tộc nào khác, là sa mạc đìu hiu bỏ hoang và người Do “trở về nhà” (Aliyah) từ đầu thế kỉ 20 đến trồng hoa trên cát và vun bồi rực rỡ xanh tươi.

Tranh diễn tả người Israel thấy Thượng Đế hiện ra. Trong Exodus 33:1-3 viết: “Thế rồi Thượng Đế nói với Moses, ‘Hãy rời nơi này, mi và những người mà mi đã nuôi dưỡng, ra khỏi Ai Cập, đến vùng đất mà ta đã hứa với Abraham, Isaac và Jacob ; ta đã nói, ‘Ta sẽ cho con cháu ngươi vùng đất ấy.’ Ta sẽ cử một thiên sứ đi trước ngươi, dẫn các ngươi ra khỏi Canaanites, Amorites, Hittites, Perizzites, Hivites và Jebusites. Hãy đi thẳng tới vùng đất, mang sữa và mật ong. Ta sẽ không đi cùng các ngươi, vì các ngươi là những bọn cứng đầu, và ta có thể hủy diệt các ngươi trên đường đi.’” Và cứ thế mà trở về nhà thôi. Đường thì xa và trắc trở, nhưng đã được Thượng Đế dặn thế rồi!
Tranh diễn tả người Israel thấy Thượng Đế hiện ra. Trong Exodus 33:1-3 viết: “Thế rồi Thượng Đế nói với Moses, ‘Hãy rời nơi này, mi và những người mà mi đã nuôi dưỡng, ra khỏi Ai Cập, đến vùng đất mà ta đã hứa với Abraham, Isaac và Jacob ; ta đã nói, ‘Ta sẽ cho con cháu ngươi vùng đất ấy.’ Ta sẽ cử một thiên sứ đi trước ngươi, dẫn các ngươi ra khỏi Canaanites, Amorites, Hittites, Perizzites, Hivites và Jebusites. Hãy đi thẳng tới vùng đất, mang sữa và mật ong. Ta sẽ không đi cùng các ngươi, vì các ngươi là những bọn cứng đầu, và ta có thể hủy diệt các ngươi trên đường đi.’” Và cứ thế mà trở về nhà thôi. Đường thì xa và trắc trở, nhưng đã được Thượng Đế dặn thế rồi!

Những nữ binh Israeli đứng chào trước mộ chiến sĩ trận vong, tại một nghĩa trang quân đội trên Đồi Olive, nhìn xuống thành cổ Jerusalem. Ảnh chụp hôm 14, 4. 2013 của AP/Sebastian Scheiner
Những nữ binh Israeli đứng chào trước mộ chiến sĩ trận vong, tại một nghĩa trang quân đội trên Đồi Olive, nhìn xuống thành cổ Jerusalem. Ảnh chụp hôm 14, 4. 2013 của AP/Sebastian Scheiner
Việc phê bình hay xét lại huyền thoại Do Thái này thì hiếm thấy và chẳng ai dám ở phương Tây, phần vì thương, hay phần vì sợ. Đứng đầu phong trào xét lại huyền thoại này chỉ có thể là chính những người gốc Do, hay chính là những người Israel trong nước vì họ tiếp cận với thực tế của chiếm đóng đất người và chiến tranh, đối kháng chứ không có ngồi đàn huyền thoại về Do Thái ở những nhà hát New York hay là London.
2. Ai mới là người Do Thái chính hiệu?
Nên hồi hương hay hoài hương?
Israel thường được đồng nghĩa với Do Thái, nhưng không hẳn là vậy. Thứ nhất, số người Do tại nước ngoài (12 triệu) cao gấp hai số người Do tại Israel (là 6 triệu) và số người Do tại Mỹ cao bằng (hay cao hơn chút đỉnh) số người Do tại Israel. Và theo đà tăng trưởng, số người Do tại Mỹ thể nào cũng sẽ đông hơn. Thí dụ, năm 2006, khi Thủ tướng (Israel) Olmert bình Đông phạt Bắc tại láng giềng Lebanon thì các con ông đều ở mặt trận… Mỹ. Giờ nếu đánh luôn Iran thì con số người Do tại Israel sẽ bớt hẳn, và con số người Do tại Mỹ sẽ gia tăng, đây là nói thật chẳng phải đùa.

Poster truy nã Ehud Olmert (có hai poster riêng) và Ehud Barak (cả hai đều từng là cựu Thủ tướng Israel) tại Jerusalem, tháng Tư 2010. Olmert và Barak bị cáo buộc ăn hối lộ và tham nhũng. Theo Văn phòng Tổng chưởng lý Israel, trong thời gian trước khi được bầu làm Thủ tướng Israel năm 2006, ông Olmert nhận hàng trăm nghìn USD bất hợp pháp của doanh nhân người Mỹ gốc Do Thái Morris Talansky
Poster truy nã Ehud Olmert (có hai poster riêng) và Ehud Barak (cả hai đều từng là cựu Thủ tướng Israel) tại Jerusalem, tháng Tư 2010. Olmert và Barak bị cáo buộc ăn hối lộ và tham nhũng. Theo Văn phòng Tổng chưởng lý Israel, trong thời gian trước khi được bầu làm Thủ tướng Israel năm 2006, ông Olmert nhận hàng trăm nghìn USD bất hợp pháp của doanh nhân người Mỹ gốc Do Thái Morris Talansky
Theo thống kê Hoa Kỳ, trong thập niên 2000-2010, số người sinh ra tại Israel và định cư tại Mỹ tăng 30%. “Yerida” (bỏ Israel ra nước ngoài) là một vấn đề nghiêm trọng vì nó đi ngược lại vớihuyền thoại trở về (Aliyah) dựng nước của Israel. Trong thập niên 80, khi chính quyền Reagan tại Mỹ sẵn sàng đón nhận 1 triệu di dân Do Thái từ Liên xô và Đông Âu thì chính quyền Israel hoảng hốt (hoảng hốt chứ không phải là hoan hô), và tìm đủ cách, áp lực với Hoa Kỳ, thông đồng với cả an ninh Romania, Hungary để ngăn chặn người Do di dân sang Mỹ.
Sao lại thế? Lẽ sống của Israel và Zion chủ nghĩa là người Do trở về “cố quốc” trồng cây chứ không phải là họ sang Mỹ mở tiệm vàng. Người Do được phép rời Đông Âu thì rất tốt, nhưng phải ngăn họ sang New York hay London và buộc họ “trở về” Israel. Như đã nói đến, ngay cả trước Thế chiến 2 cũng đã thế. Người Do bị ngược đãi tại Đông Âu sang Palestine bảo hộ bởi Anh quốc, không phải vì đó là Đất Hứa gì hết của Chúa Trời mà bởi vì họ không đi Anh Mỹ định cư được. Đất hứa là Golders Green ở London và Brooklyn ở New York, không phải là trồng rau tưới nước ở Đất Thánh nào đó Palestine. Nói thế dễ hiểu, ai cũng vậy hết, con người khi có lựa chọn thì tìm nơi dễ sống và cơ hội tốt, có ai đâm đầu vào chỗ chết tiệt nhọc nhằn vì những câu chuyện 3000 hay 7000 năm.
Một chuyện cười Yiddish (Do thái Đông Âu) trước thế chiến kể: Thế nào là một người (Do) theo Zion chủ nghĩa? Đó là một nguời đi quyên tiền của một người Do thứ nhì để giúp một người Do thứ ba thực hiện Aliyah, tức là trở về sinh sống tại “Eretz Israel”.

Golders Green, trung tâm của người Do trung lưu tại London
Golders Green, trung tâm của người Do trung lưu tại London
Khăng khăng một dân tộc Do
Nhưng thế nào là một người Do? Đó là một người theo Do Thái giáo. Thế còn (rất nhiều) những người Do thế tục (trước hết là trong phong trào Zion) hay vô thần thì sao? Vậy người Do không theo đạo nhưng theo truyền thống văn hóa Do Thái giáo cũng là người Do. Theo giáo luật, thì người Do phải có mẹ là người Do (và bà ngoại, bà cố ngoại v.v. trở lại mấy ngàn năm trước hay trở lại thời khai thiên lập địa). Ở trong trường hợp này, bạn có quyền sang Israel mà nhận Đất Hứa, hay thực tế là được sang đó sinh sống, nhập tịch và có một nhà nước che chở, không trục xuất bạn đi bất cứ nước nào khác dù bạn có tội tình hay bị quốc tế truy nã.
(Nói qua cho vui, đây là trường hợp nhà độc tài Gaddafi. Mẹ của ông này người Do và ông có bà bác, cô cháu người Israel đang sinh sống tại đó. Lúc chính biến tại Lybia, lỡ ông đòi quyền Aliyah (trở về cố quốc) thì sao? Chẳng những ông sẽ phải được chấp nhận tỵ nạn và chứa chấp mà sẽ là công dân đương nhiên của quốc gia theo cái quyền bất biến mà thượng đế đã ban cho dân tộc này trên mảnh đất đó!)

rên 1 triệu người Do ngụ tại thành phố New York là thành phố Do Thái thứ nhì trên thế giới (chỉ kém có Tel Aviv). Riêng tại quận Brooklyn, con số này là 600.000, tức ¼ dân số.
rên 1 triệu người Do ngụ tại thành phố New York là thành phố Do Thái thứ nhì trên thế giới (chỉ kém có Tel Aviv). Riêng tại quận Brooklyn, con số này là 600.000, tức ¼ dân số.
Nhưng thế nào là một dân tộc? Một dân tộc có bất biến và muôn đời không? Một dân tộc sống liên tục 2000 năm trên một mảnh đất đã khó định nghĩa được chính xác. Thí dụ, người “Pháp” thời La mã có phải là người Pháp của ngày nay không? Hay ngay nguời Ý, có phải hẳn là từ thành Roma mà ra? Một “dân tộc” nếu có, 2000 năm phân tán khắp nơi lại càng khó, cái này trẻ con cũng hiểu, nhưng đó là không biết đến “tính cách độc đáo” của dân tộc được “chọn lựa” này. Đặc điểm của dân tộc Do Thái là không có ai giống họ hết nhé. Những nhận xét thông thường như mới kể không áp dụng với dân tộc này được. Pháp không phải là Do Thái, Ý không phải là Do Thái, đừng có ví! Pháp, Ý, Đức gì đó không có được chọn lựa bởi Chúa Trời, có cần phải nhắc lại nữa hay không?

Môsê nhận “Mười điều răn” khắc trên hai phiến đá, của Đức Chúa Trời trao riêng cho dân Do Thái. Kinh Thánh, Xh 19, 3-6, chép: “Ông Môsê lên gặp Thiên Chúa. Từ trên núi, Đức Chúa gọi ông và phán: ‘Ngươi sẽ nói với nhà Giacóp, sẽ thông báo cho con cái Israel thế này: …giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh. Đó là những lời ngươi sẽ nói với con cái Israel”.
Môsê nhận “Mười điều răn” khắc trên hai phiến đá, của Đức Chúa Trời trao riêng cho dân Do Thái. Kinh Thánh, Xh 19, 3-6, chép: “Ông Môsê lên gặp Thiên Chúa. Từ trên núi, Đức Chúa gọi ông và phán: ‘Ngươi sẽ nói với nhà Giacóp, sẽ thông báo cho con cái Israel thế này: …giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh. Đó là những lời ngươi sẽ nói với con cái Israel”.
Nếu định nghĩa một dân tộc là một nhóm người tin chung vào một huyền thoại thì hẳn có một dân tộc Do thái.  Dân tộc này nhiều ngôn ngữ (tiếng Hebrew ngày nay là một phát minh mới của thế kỉ 20), nguồn gốc từ Âu, từ Á, từ Phi, sắc da đen da trắng da nhôm nhôm và đâu có cả da vàng. Họ khả dĩ có cùng một tôn giáo. Dân tộc Do, như vậy cũng như là “dân tộc Phật”, “dân tộc Khổng” hay “dân tộc Lão”, “dân tộc Bah’ai” hay “dân tộc Hồi”. Có dân tộc nào gọi là “dân tộc Phật” hay không? Nhưng lại có một dân tộc gọi là dân tộc Do, thì đã nói, đây là một dân tộc ngoại lệ mà. Nhưng một phần lớn người Do lại là thế tục tức là không có tôn giáo, kiểu, thì tôi dân tộc (đạo) Dừa nhưng tôi không tin chút nào và thoải mái nước mãng cầu. Nhưng tôi đòi phải trả cho tôi miền đất hứa Bến Tre!
Vậy có dân tộc nào là dân tộc Do hay không? Trớ trêu là đầu thế kỉ 20 tại Âu châu, thành phần kỳ thị người Do (như Đức Quốc Xã) đã gắng sức chứng minh một cách “khoa học” là có hẳn, để mà phân biệt và tận diệt. Nó có đi đâu 2000 năm thì nó vẫn là dân tộc Do! Nó không theo đạo hay đã cải đạo Ki tô thì vẫn là người Do! Nó có ở đây 30 đời hay năm bảy thế kỉ thì nó vẫn không phải là người Đức, cho nó vào trại tập trung mà giết hết! Lập luận “dân tộc Do” này cũng lại là lập luận của chủ nghĩa Zion để biện minh cho một quốc gia và nhà nước Israel.

Những tù nhân Do Thái bị bỏ đói trong trại tập trung Mauthausen, được giải thoát hôm 5. 5. 1945
Những tù nhân Do Thái bị bỏ đói trong trại tập trung Mauthausen, được giải thoát hôm 5. 5. 1945
Một giả thiết bất ngờ về người Do chính hiệu
Vào đầu Công nguyên, người Do tại Palestine nổi loạn và bị Đế quốc La Mã đàn áp dã man, kẻ bị giết, người ra đi. Truyền thuyết cho rằng ai không bị giết thì ra đi hết. Cho là như vậy, và họ bỏ đi hết thì trên đường bôn ba của họ, cũng có nhiều nơi các dân tộc khác, Berber ở Bắc Phi, hay Khazar ở Tây Á cải đạo theo Do.

Vương quốc Khazar, kẹp giữa gọng kìm Ki-tô và Hồi giáo, vào thế kỉ 7-10 đã chọn Do Thái làm quốc giáo nhưng sau đó bị người Nga xâm lăng và Mông cổ phân tán. Dân tộc Khazar mang Do Thái giáo lưu vong sang Đông Âu. Phần này, nếu quả là như vậy,không thấy (chưa thấy, chắc phải đợi 10 thế kỉ nữa) về đòi lại và lập nước tại Nga-Ukraine-Kazakstan ngày nay.
Vương quốc Khazar, kẹp giữa gọng kìm Ki-tô và Hồi giáo, vào thế kỉ 7-10 đã chọn Do Thái làm quốc giáo nhưng sau đó bị người Nga xâm lăng và Mông cổ phân tán. Dân tộc Khazar mang Do Thái giáo lưu vong sang Đông Âu. Phần này, nếu quả là như vậy,không thấy (chưa thấy, chắc phải đợi 10 thế kỉ nữa) về đòi lại và lập nước tại Nga-Ukraine-Kazakstan ngày nay.
Khazar là một vương quốc hùng cứ phía Đông Ukraine và phía Bắc Georgia, Armenia ngày nay và tan rã vào thế kỉ 13 khi Mông cổ tràn qua. Do Thái giáo được vương triều tôn lên làm quốc giáo và cả nước (tức là dân tộc Khazar này) theo. Lý do họ theo Do Thái giáo, ngoài việc “bởi vì tôi thích thế”, là các bộ lạc Khazar lắm đạo và đa thần lúc đó cần một ý thức hệ độc thần thống nhất lúc họ đang bị vây hãm hai bên bởi Ki tô giáo của Đế quốc La Mã phương Đông (Bizantium) đồng thời bởi Đế quốc Hồi giáo.
Sau khi Khazar tan rã, người Khazar đi Tây hay đi Đông, bảo tồn tôn giáo Do thái của họ trong những cộng đồng cá biệt. Xin nhắc lại, đây là tôn giáo, không phải là dân tộc.

Người Do ở Khai Phong, Trung Quốc, khoảng 1900
Người Do ở Khai Phong, Trung Quốc, khoảng 1900
Còn những người Do ở lại nôi Palestine của thời La Mã thì sao? Họ chuyển đạo theo Ki tô giáo (ngày nay Ki-tô vẫn là một thiểu số 8-10% của người Palestine). Đa số lớn sau đó theo đạo Hồi.
Tại sao người Do mà lại cải đạo theo Hồi? Khó tin quá. Tại sao người Âu, người Hy Lạp, La Mã lại bỏ đạo mà theo một tôn giáo Trung Đông là Ki-tô? Tại sao có người Ấn giáo lại bỏ đạo theo Hồi? Tại sao người Việt mà lại cải đạo theo Phật giáo? Khó tin thật, nhưng chắc là “tại vì họ thích thế”. Nếu tin được, thì có người Do ở lại miền đất ấy, theo Ki-tô hay theo Hồi về sau. Nói cách khác, thì “dân tộc” Do Thái chính gốc theo giả thiết này chính là… những người Palestine ngày nay! Họ là hậu duệ của một số lớn người Do Thái không lưu vong và không đi đâu hết. Đạo gì thì đạo, tôi đây mới là chính hiệu Do Thái Bảo Hiên Rồng Vàng. Tại tỉnh Hải Dương này, tôi đã ở đây làm bánh đậu xanh chí ít là 1500 năm rồi, còn anh từ Cần Giuộc hay là Cà Mau đến, anh bảo anh mới là chính hiệu Con Nai thì tôi không biết. Nói thế thì nghe cũng được chứ, ta nên tin vào người nào?
Giải thiết trên (của sử gia Schlomo Sand, Abraham Poliak, hay phần nhà văn Arthur Koestler) là một giải thiết đáng được đào sâu thêm. Cuốn sách “Sự phát minh ra dân tộc Do thái” của Sand là một sách bán chạy hàng đầu tại Israel năm 2009 nhưng cũng chẳng vì thế là đã đúng. Tuy nhiên nó chứng tỏ sự quan tâm mới của quần chúng tại đây với việc bắt đầu công việc giải hoặc nguồn gốc Do Thái một cách nghiêm chỉnh.

Người Falasha, Do Thái tại Ethiopia, đang theo lớp về quốc gia họ sắp sửa sang định cư là Israel, tức là sắp sửa “trở về Đất Hứa”.
Người Falasha, Do Thái tại Ethiopia, đang theo lớp về quốc gia họ sắp sửa sang định cư là Israel, tức là sắp sửa “trở về Đất Hứa”.
Người Do đi vắng, người Do giữ nhà
Nghiên cứu sử học lề phải của Do Thái và Israel quan tâm đến vương triều huyền hoặc của Solomon hay là David, hơn là Khazar và không buồn đào sâu. Đáng tiếc là những công trình nghiên cứu lại đào sâu những việc khác, như “di tích” vương triều David 3000 năm về trước, và để đào xới tìm di tích này phải dời cả một thị trấn 50,000 dân cư Palestine, tống cổ họ đi. Nỏ thần của Mỵ Châu hay Sừng tê quà cưới của Thủy Tinh thì chưa tìm thấy đâu làm bằng nhưng sờ sờ là những người Palestine đang sinh sống tại đây ngày hôm nay mất đất. Bởi vì họ chỉ mới sở hữu phần đất đó từ 1500 năm thôi chứ không phải 3000 của thủa lông ngỗng đưa đường nào.

Một người Palestine khóc trước mồ người thân. Bia mộ bên phải ghi “Ramla”, một thành phố bị các đơn vị bán vũ trang Israel càn quét vào cuối những năm 1940s và sau đó chuyển sang bị chính quyền Israel cai trị vào đầu năm 1949. Đây nhiều phần là nghĩa trang của những người Palestine tị nạn. Ảnh và chú thích từ trang Smpalestine
Một người Palestine khóc trước mồ người thân. Bia mộ bên phải ghi “Ramla”, một thành phố bị các đơn vị bán vũ trang Israel càn quét vào cuối những năm 1940s và sau đó chuyển sang bị chính quyền Israel cai trị vào đầu năm 1949. Đây nhiều phần là nghĩa trang của những người Palestine tị nạn. Ảnh và chú thích từ trang Smpalestine
Quyền trở về đất cũ của một dân tộc Do Thái đồng nhất và bất biến 2000 năm sau, dù nếu có, thì đằng nào cũng phải cân nhắc với quyền hiện diện tại đó của một dân tộc khác trong 2000 năm họ “bỏ nhà”. Điều này cũng dễ hiểu nốt. Anh vì lý do gì đó bỏ nhà ra đi biền biệt. Một hôm anh đến gõ cửa đòi lại. Anh lấy Kinh Thánh làm bằng, nói những chuyện hoa đào gió đông năm nào đó, mà tôi cũng không biết có phải là anh không nữa. Tôi không nhận ra, anh nhận vơ hay là anh đã khác nhiều. Anh bảo tôi phải đi ngay, và anh đánh cho một trận thừa sống thiếu chết. Người Do gọi đó là Chiến tranh Độc lập (chứ không phải là Chiến tranh Xâm lăng) và người Palestine gọi đó là Đại họa (Nakba). 

Ảnh chụp năm 1948, khi Israel trục xuất hàng trăm ngàn người Palestine khỏi 450 ngôi làng Palestine. Người Palestine gọi đó là “Day of Nakba” (Đại họa)
Ảnh chụp năm 1948, khi Israel trục xuất hàng trăm ngàn người Palestine khỏi 450 ngôi làng Palestine. Người Palestine gọi đó là “Day of Nakba” (Đại họa)
Vào năm 2006, khi Israel trừng trị Hezbollah tại Lebanon thì có nhiều biểu tình phản đối tại Âu châu. Một nhà trí thức Pháp bèn viết bài mắng bọn trẻ con ồn ào này là dốt, người Do không phải chỉ có mặt tại vùng từ khi lập quốc (1948) mà là từ trước đó, đầu thế kỉ, năm 1920 v.v. Vậy thì trước đầu thế kỉ, trước 1920, ai ở đó? 1820? 1720? 1620? Không có người Do thì không có ai sao?
Tiền đề thứ nhì của huyền thoại là chẳng những Đất Hứa là của dân tộc Do từ ngày ông  David bắn ná lõ đầu thằng khổng lồ Goliath. Để nó đẹp như mơ thì phải có thêm huyền thoại là lúc “dân tộc” Do này trở về, miền đất này chẳng có ai ở cả nên tôi mới lấy lại! Và đó là bài sau…
3. 2000 năm nếu quay lại, đất nào cũng phải là đất hoang
Vào cuối thế kỉ 19, người Do Thái tại Đế quốc Nga gặp khó khăn và bị kỳ thị bằng bạo lực. Bà con đồng đạo của họ đã an cư lạc nghiệp lâu đời tại Tây Âu, có người làm to như công tước Anh quốc Rothschild, mấy đời cho vua cho chúa vay tiền, hay có người đã cải đạo sang Ki-tô làm Thủ tướng (Anh quốc) như Disraeli… Đám người Do Thái mới di dân sang Tây Âu vậy là gây vấn đề cho người Do đã có tại chỗ: họ lếch nhếch, là bà con nghèo, gây tiếng xấu cho một cộng đồng nếu không quyền quí thì cũng đã ổn định. 

Cựu thủ tướng Anh Benjamin Disraeli (1804 – 1881)
Cựu thủ tướng Anh Benjamin Disraeli (1804 – 1881)
Đây cũng giống như trường hợp người Hồi hiện nay tại Anh. Tao đây Qatar, Emirates, mua đội bóng đá, xây tòa nhà, khách sạn, đi đâu có vấn khăn áo thụng người Anh vẫn kính nể, chạy ra ngay mở cửa xe Ferrari; còn bọn mày cũng Ả Rập mà lại khiến chúng khiếp khủng bố hay là khinh túng thiếu. Đi nơi khác là tiện nhất, đây tao dúi cho một nắm tiền, cầm lấy mà khuất mắt nơi này.
Với người Do Thái, phong trào Zion thương thuyết với chính quyền Anh, nếu không cho định cư ở Scotland hay Wales thì xin cho sang Cyprus vậy. Cyprus (đảo nằm ở Địa Trung Hải) lúc đó thuộc ảnh hưởng của Anh, nhưng khó một cái, có người da trắng (Hy Lạp) đã ở sẵn. Anh quốc đề nghị cho họ sang Uganda (thuộc địa Phi châu) mà khẩn hoang. Đại hội 6 của phong trào Zion biểu quyết (đành) chấp nhận đề nghị rộng lượng này.
Thời điểm ấy, Anh quốc là siêu cường số 1 trên thế giới, quyết định mọi chuyện nhé, từ Đông sang Tây, và trong tư duy dạo ấy của Tây phương, ngoài da trắng ra thì chẳng có dân tộc nào cả. Không có dân tộc nào ở Uganda hết, người Do sang đó mà sinh nhai. Nhưng sang Uganda thì ngại lắm, ngại chứ, phong thổ khó khăn, cọp tha ma bắt, chẳng ai muốn sang đó mà làm rẫy trồng hoa. Phong trào Zion bèn nhớ ra là 2000 năm trước mình cũng có nhà, đây là địa chỉ cũ trênCMND do Trời cấp. Ở giai đoạn này, là chuyện định cư tìm sống, không có nói đến chuyện lập quốc gia riêng gì cả.

Chú thích của trang ivarfjeld.com cho bức ảnh này: Có thể tuyệt với Uganda, nhưng không phải là đất hứa của người Do Thái.
Chú thích của trang ivarfjeld.com cho bức ảnh này: Có thể tuyệt với Uganda, nhưng không phải là đất hứa của người Do Thái.
Nếu 2000 năm trước mơ hồ thì thế kỉ 19 ta có những con số. Tại Jerusalem, tức là “thủ đô” của nhà nước Israel ngày nay, vào năm 1880 có 200.000 dân cư. Số người Do hiện diện là 5.000 trước khi phong trào Zion mộ người từ Âu châu sang Palestine sinh sống (1882). Lúc đó khu vực này dưới quyền của Đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), được Anh quốc giúp giành lại được từ tay Ai Cập. Đến Thế chiến 1 thì Thổ Nhĩ Kỳ lại về phe Đức-Áo, khiến nước Anh phải phái ông Lawrence (of Arabia) sang, cỡi ngựa phi lạc đà trong sa mạc và dựng các bộ tộc Ả Rập lên khuấy phá và đòi quyền tự quyết, ai đã xem bộ phim này đều biết lãng mạn thế nào.

T. E. Lawrence với con lạc đà “Jedha” thân yêu của ông
T. E. Lawrence với con lạc đà “Jedha” thân yêu của ông
 Năm 1917, công tước Balfour (cựu Thủ tướng và lúc đó ngoại trưởng Anh quốc) chấp thuận ủng hộ sự thành lập một quốc gia Do Thái trong vùng. “Tuyên bố Balfour” này khiến phong trào Zion đưa ông lên hàng phụ tá  Đức Chúa Trời, Ngài hứa và ông Balfour thực hiện! Vào lúc đó, dân số Ả Rập chiếm từ 80 đến 90% tại Palestine.
Người Zion sang Palestine mua đất làm đồn điền, thì cũng từ tay các địa chủ Ả Rập. Địa chủ thì… có đất, họ cần tiền cưới thêm vợ bé thì họ bán, cho người Do hay ai thì cũng thế, họ không phân biệt, chỉ phân biệt là vàng 4 số 9 có phải Kim Thành hay không. Đây là chuyện bán đất bán nhà, không phải là bán nước. Người Do sang đấy lập ấp để làm ăn, không phải là để lập quốc. Trước đây, những chuyện chuyển nhượng đất đai này chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống của tá điền. Chủ A hay chủ B thì họ vẫn ở đó, bám đất mà cày, phần nộp cho chủ thì vẫn thế, chẳng cần biết là ông chủ nào, tâm lý người bần nông là vậy.
(Đến đây, để giải lao, trong thập niên 70, tổng thống Ai cập Sadat đi thăm một làng quê. Ông hỏi han, thế nào, mùa màng ra sao? Một lão nông bèn đáp “Nhờ ơn của Đức Vua đây, thưa Ngài, chúng con vẫn sống được”. Đó là 20 năm sau khi chế độ quân chủ đã bị lật đổ!)

Một gia đình nông dân tại Palestine 1900-1910
Một gia đình nông dân tại Palestine 1900-1910
Nhưng khi đất chuyển sang các tiền phương của Zion thì có phần thay đổi. Người Do lập trại cho người Do, đuổi nông dân địa phương đi để mang người Do từ Âu châu đến vui ca dựng nhà và tưới nước trên cát nở ra hoa. Tá điền Ả Rập mất đất để mà cạp, đúng ra là mất việc  và sinh kế, đâm ra bất mãn. Hai cuộc nổi loạn 1929 và 1936 bị thực dân Anh đàn áp, với phần giúp sức của cộng đồng Do Thái, và lực lượng bán quân sự của Do Thái bắt đầu từ đó thành hình, kinh nghiệm quân sự đầu tiên là tiếp tay cho chính quyền bảo hộ Anh quốc đàn áp người địa phương. 

Phụ nữ Palestine trong cuộc nổi loạn 1936-39 chống thực dân Anh quốc, thành phần trung lưu phố thị thì quyên tiền…
Phụ nữ Palestine trong cuộc nổi loạn 1936-39 chống thực dân Anh quốc, thành phần trung lưu phố thị thì quyên tiền…

… và thành phần nông dân thì cầm súng
… và thành phần nông dân thì cầm súng
Ngay đến ông Rothschild là ân nhân của phong trào Zion còn than phiền vì chính sách dùng nông dân Ba Lan hay Hungary thay vì nông dân Ả Rập này tuy lý tưởng Zion (người Do cầm cuốc vui ca trên Đất Hứa) nhưng không sinh lợi vì nông dân Ả Rập rẻ và hiệu quả hơn về mặt kinh tế. Ông cứ phải bù thêm tiền mãi, khiến có lúc ông dọa cắt. 

Công tước Walther Rotschild, ân nhân của chủ nghĩa Zion, ở đây chơi nổi tại London với xe tứ mã ngựa vằn (Cường Đô la đâu rồi, ra mà xem)!
Công tước Walther Rotschild, ân nhân của chủ nghĩa Zion, ở đây chơi nổi tại London với xe tứ mã ngựa vằn (Cường Đô la đâu rồi, ra mà xem)!
Nhưng khi đất chuyển sang các tiền phương của Zion thì có phần thay đổi. Người Do lập trại cho người Do, đuổi nông dân địa phương đi để mang người Do từ Âu châu đến vui ca dựng nhà và tưới nước trên cát nở ra hoa. Tá điền Ả Rập mất đất để mà cạp, đúng ra là mất việc  và sinh kế, đâm ra bất mãn. Hai cuộc nổi loạn 1929 và 1936 bị thực dân Anh đàn áp, với phần giúp sức của cộng đồng Do Thái, và lực lượng bán quân sự của Do Thái bắt đầu từ đó thành hình, kinh nghiệm quân sự đầu tiên là tiếp tay cho chính quyền bảo hộ Anh quốc đàn áp người địa phương. 
Đến 1947 thì thế này: người Do sở hữu 11% diện tích đất đai, và 7% diện tích canh tác. Về dân số, họ là 630.000, tức là 1/3. Số người Ả Rập là 1.300.000, sở hữu 93% diện tích canh tác và 89% diện tích đất. Nghị quyết 191 của Liên Hiệp Quốc bèn chia vùng đất này thành 2 quốc gia, (và khu vực Jerusalem) trao cho người Do 55% đất, người Ả Rập là 45%.
Chia cắt thế này, đương nhiên là trên phần đất dành cho Israel có rất nhiều người Ả Rập đang sinh sống. Chính quyền lập quốc đã có sẵn một kế hoạch  (“Plan Dahlet”) và mang ra áp dụng. Đó là khủng bố, giết chóc, các nơi này khiến người Ả Rập phải tập thể ra đi, tàn phá, đốt và san bằng các làng mạc khiến họ không có chốn để trở lại. Chính sách “tảy tộc” này có một thí dụ gần gũi khác, là khu vực Trung Âu trong thập niên 90, khi Yugoslavia tan rã và Serbia trục xuất bằng mọi cách người Croatia, Bosnia. Khác biệt là, Tây phương lên án hành động này, và NATO còn mang bom sang ném Serbia. Trong trường hợp Palestine, thì cả hai khối Tây phương và Liên Xô đều thuận lòng ủng hộ sự ra đời của Israel. Liên Xô là nước đầu tiên công nhận Israel và vũ khí từ Tiệp Khắc chuyển sang cho quân đội nước này là quyết định cơ bản cho cuộc chiến 1948.
(Lại giải lao chút xíu, tiểu liên nổi tiếng của Israel, khẩu Uzi, là copy của xê-ri tiểu liên Tiệp Cz23-24-25-26 được Liên Xô gửi sang trang bị ào ạt cho quân đội tân lập này).

Poster về nữ lao động Liên Xô hài lòng được sống ở Israel
Poster về nữ lao động Liên Xô hài lòng được sống ở Israel
Trong chiến tranh “dựng quốc” của Israel, 500 làng mạc phố xá Ả Rập bị xóa tên trên bản đồ và 700.000 người phải ra đi. Ngay lập tức, chỉ có 2 năm sau, quốc hội Israel ra luật cấm họ trở lại, chắc viện cớ lịch sử là ra đi 2000 năm trước thì có quyền trở về đòi còn ra đi 2 năm trước thì tao cấm mày bén mảng trở lại, chưa đủ thâm niên đâu con! Luật tịch thu đất đai sở hữu của những người “vắng mặt” (Absentees) ra đời. Một số ở lại cũng bị tịch thu nhà cửa dưới diện được gọi là “vắng mặt hiện diện” (Present Absentees)!

Bà Peled vào thời Israel lập quốc
Bà Peled vào thời Israel lập quốc
Bà Zika Peled lúc đó là một phụ nữ trẻ, mới thành hôn và đang ẵm con. Bà kể, đầu tiên là người Do đến các nhà Ả Rập trong phố bị bỏ hoang hôi của nhẹ, rồi xe tải từng đoàn đến chở đi bàn ghế và thảm trải. Sau cùng các nhà này được chia cho người Do. Bà Peled cũng được phát cho một cái. Bà Peled là người Do. Cha của bà là thành phần “lập quốc”, có tên ký trên bản Độc lập, sau là đại sứ đầu của Israel tại LHQ. Chồng của bà là một sĩ quan trẻ đang xông pha thành tích, sau này là tướng trong chiến tranh 1967 và thống đốc Gaza. Nhưng bà nghĩ bà không thể nào ở được một căn nhà mà có một người mẹ khác đã phải bồng con ra đi và không nhận, thà bà vẫn ở với… mẹ chồng!

Khẩu hiệu giết hết người Ả Rập trên cánh cửa nhà ở Israel
Khẩu hiệu giết hết người Ả Rập trên cánh cửa nhà ở Israel
(Đến 1982, tại trại tỵ nạn Sabra Chatila ở Lebanon, còn có một gia đình Do Thái bị sát hại cùng với cả ngàn người Palestine đồng hương của họ. Gia đình Do Thái này, năm 1948 đã theo người Palestine ra đi lưu vong thay vì ở lại mà hôi của và chiếm nhà hàng xóm. Có dại thì cũng dại vừa thôi nhé, đấy, thấy chưa!)
Trước khi Bảo hộ Anh quốc chấm dứt vào ngày 15. 5. 1948, Israel tuyên bố độc lập và các quốc gia Ả Rập gửi quân sang can thiệp, 325.000 người Palestine đã phải ra đi và đã xảy ra nhiều vụ tàn sát thường dân có tội chứ không phải vô tội, và tội là ở nhờ đất Do Thái từ 20 thế kỉ nay. Deir Yassin được thế giới biết đến ngay vào lúc đó (do New York Times tường thuật) nhưng những cuộc tàn sát khác phải đợi dần dà cho đến nay mới được thú nhận, thí dụ tại Al Tantura, hành quyết 230 nam giới từ 10 đến 55 tuổi. Như một tướng lãnh sau này (lúc đó làm đại đội trưởng ra lệnh hành quyết) đợi nửa thế kỉ sau phát biểu, là giờ Israel đã đủ sức mạnh và vững chãi để thừa nhận những hành động đó. Nó chẳng vô tình chút nào và nếu giữ kín với Tây phương thì lại được phổ biến rộng cho dư luận Palestine để họ còn xô nhau mà chạy chứ. Chiến dịch “Tảy tộc” đã bắt đầu trước khi các nước Ả Rập bấm bụng gửi quân sang tham chiến, một lý do làm họ quyết định là phải giữ thể diện, để bảo vệ người Palestine sau những thảm sát này.

Cuộc thảm sát Deir Yassin diễn ra vào 9. 4. 1948, và đến 15. 5, người Ả Rập trong toàn bộ các thành phố lớn của người Palestine đã bị dọn sạch. Khoảng 750,000 tới 800,000 người tị nạn Palestine đã bị xua đuổi khỏi đất họ đang sinh sống. Đây là mở đầu cho việc trục xuất dân Palestine gốc Ả Rập ra khỏi Haifa và ra khỏi Palestine.
Cuộc thảm sát Deir Yassin diễn ra vào 9. 4. 1948, và đến 15. 5, người Ả Rập trong toàn bộ các thành phố lớn của người Palestine đã bị dọn sạch. Khoảng 750,000 tới 800,000 người tị nạn Palestine đã bị xua đuổi khỏi đất họ đang sinh sống. Đây là mở đầu cho việc trục xuất dân Palestine gốc Ả Rập ra khỏi Haifa và ra khỏi Palestine.
Can thiệp quân sự này thất bại và là chiến công đầu của Israel. Xin lỗi, đây là chiến công thứ nhì chứ. Chiến công đầu là các lực lượng vũ trang Do Thái đánh bại các lực lượng địa phương Palestine. Thành tích vẫn được ca tụng này là 50.000 quân Do trong đó 30.000 là chủ lực, có kinh nghiệm, chuẩn bị và tổ chức, võ trang chiến xa, đại pháo và không hải, đơn phương đánh bại 7.000 vệ binh làng không có chỉ huy thống nhất của người Palestine; đội vệ binh này được tiếp sức trong giai đoạn này từ tháng 2.48 bởi 1.000 chí nguyện quân Ả Rập đầy nhiệt huyết nhưng không có huấn luyện. Số chí nguyện quân ấy mấy tháng sau lên đến 3.000 (từ từ chứ, còn có 50 người phải đáp xe đò từ Bosnia sang). Và như thế tương quan quân sự tại chỗ vào tháng 5. 1948 là 50.000 phía Do và 10.000 phía Palestine.
Huyền thoại một quân lực tí hon kiên cường dựng nước giữa biển người Ả Rập đến đầu thế kỉ 21 thì đã sứt mẻ và đổ vỡ. Chuyện thật ra không hẳn là như vậy theo công trình nghiên cứu của các sử gia “xét lại” tại Israel từ cuối thế kỉ 20.  Nhưng hương thừa vẫn còn vương vấn đâu đây
4. Ái phi Israel: nặc nô thừa thông minh nhưng thiếu công bằng 
Ngày 4 tháng 8 năm 1964, chiến hạm Hoa Kỳ USS Maddox đang dong tại Vịnh Bắc Việt, hô hoán là trên màn hình ra-đa có thấy bóng dáng mập mờ thủy lôi phóng về phía họ. Tổng thống Johnson bèn ra lệnh đánh bom miền Bắc.

Chiến hạm Hoa Kỳ USS Maddox
Chiến hạm Hoa Kỳ USS Maddox
Ngày 8 tháng 6 năm 1967, chiến hạm Hoa Kỳ USS Liberty đang di chuyển ngoài khơi khu vực Sinai trong hải phận quốc tế thì bị 4 phi cơ tấn công. Sau đó 3 tàu phóng lôi đến gần, phóng thủy lôi và nã súng, bắn vào các bè cứu cấp đang được thả xuống. Trong số thủy thủ đoàn 284 người, 34 thiệt mạng và 174 bị thương, số tổn thất như vậy là 72%. USS Liberty gọi điện cầu cứu với Đệ lục Hạm đội, và 8 phi cơ Mỹ phóng đi thì bị Bộ trưởng Quốc phòng gọi trở về. Lượt cấp cứu thứ nhì, cũng 8 phi cơ Mỹ, lại bị triệu hồi. Đây là lần duy nhất trong hải sử Hoa Kỳ, 1 chiến hạm gặp nạn bị quân bạn từ chối tiếp cứu. Lần này đích thân Tổng thống Johnson lên máy ra lệnh. Ông bảo, tôi không muốn đồng minh của ta phải bối rối. Các phi cơ, tàu chiến đánh tàu Liberty là của Israel.
Tất nhiên là 2 hoàn cảnh này rất khác nhau, và Israel nhất định không phải là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thủy thủ Bryce Lockwood của tàu Liberty đứng trên boong tàu bị hư hại nặng.
Thủy thủ Bryce Lockwood của tàu Liberty đứng trên boong tàu bị hư hại nặng.
Lý do chính thức khiến Israel lại đi đánh tàu Mỹ là tàu này bị nhận diện nhầm với một tàu Ai Cập Al Quseir, đại khái thì cũng là tàu cả, nhưng ngắn gấp 2 và trọng tải chỉ có 40 % tàu Liberty. Vụ này khiến Đô đốc Moorer, Tham mưu trưởng Hoa Kỳ phải mỉa mai “Ai mà nhầm hai tàu này thì không phân biệt được nổi giữa tòa Nhà Trắng và Tượng đài Washington” (tượng đài này hình tháp nhọn và cao 170 mét). 
Vậy tại sao lại có chuyện lạ là phi cơ “lạ” đánh tàu “lạ” thế này? Liberty là một tàu do thám điện đàm của Hải quân Mỹ, và giải thiết được đưa ra là Israel muốn hủy những tang chứng mà tàu này “tóm” được:
1. Liberty biết được việc Israel hành quyết tập thể 1.000 tù binh Palestine và Ai Cập tại Al Arish. Giả thiết này không đủ thuyết phục. Chẳng lẽ vì thế mà Israel lại nhẫn tâm cố ý đánh chìm 1 tàu Mỹ và tận diệt thêm cả thủy thủ đoàn Hoa Kỳ để phi tang? Thế thì còn tệ hơn cả bác sĩ Cát Tường, đẩy luôn xuống sông cậu bảo vệ vừa giúp mình vứt xác nạn nhân!

Tù binh Ai Cập tại Al Arish khu vực Sinai năm 1967 (ảnh Getty Images)
Tù binh Ai Cập tại Al Arish khu vực Sinai năm 1967 (ảnh Getty Images)
2. Israel quyết định đơn phương đánh Syria, chiếm cao nguyên Golan, không để Hoa Kỳ biết sẽ “ép” họ phải ngưng bắn. Lý do để Israel chiếm cao nguyên Golan và Syria và nguồn nước ngọt, như Bộ truởng Quốc phòng Moshe Dayan sau này thú nhận, là bởi “lòng tham” của các nông trường Israel trong vùng chứ chẳng có gì “tự vệ chính đáng” gì hết (về sau Israel cũng chiếm được cao nguyên trong Cuộc chiến 6 ngày). Tàu Liberty bắt sóng được quyết định này. Israel sợ nếu tàu này báo cáo cho chính quyền Mỹ, ắt họ sẽ ngăn cản (“mình quá quắt lắm, anh không chiều được đâu nhé“). Như vậy phải phá sóng truyền tin và đánh chìm tàu ngay. “Lòng tham” này (greed, chữ của Dayan) là bất chấp, bất kể con tàu kia có là của ân nhân đỡ đầu?

Bể bơi và nông trại Israel trên Golan ngày nay (ảnh AKUS)
Bể bơi và nông trại Israel trên Golan ngày nay (ảnh AKUS)
Sao thì, truyền thông và chính phủ Hoa Kỳ cũng “nhận chìm” chuyện này, và tàu USS Liberty như vậy chết đến 2 lần. Riêng đối với thủy thủ đoàn sống sót thì được chứng kiến quân lực Israel rõ là tồi, có mỗi cái tàu thám thính chỉ có 4 ụ thượng liên tự vệ (không hề được dùng đến) mà đánh không chìm được, và nhắm vào một con tàu đã lê lết bởi phi pháo mà 5 thủy lôi thì hụt mất 4!
Sự cố Liberty trên minh họa quan hệ đặc biệt và đối xử đặc biệt của Hoa Kỳ với Israel. Còn Israel đối xử với Hoa Kỳ ra sao?
Dưới thời Reagan, Mỹ đi đêm với Iran, giao kín bom khôn của Mỹ cho nước này. Việc này do Israel đảm trách. Nói cho dễ hiểu, Mỹ nhờ Israel, có mấy cái Iphone 5 tao đã cho mày, giờ mày đưa cho thằng Iran, tao sẽ bù lại cho mày sau. Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ là McFarlane bí mật đích thân sang Tehran. Đây là việc rất ly kỳ vì vỡ lở là ở tù cả lũ (sau này, Đô đốc Poindexter, kế vị McFarlane đã phải lãnh án tù).
Theo McFarlane kể, phía Iran mới gặp ông là nắm áo chửi ngay, cha làm ăn kiểu gì vậy, tưởng tôi không biết khác biệt giữa Iphone 4 và Iphone 5 hay sao? McFarlane tím mặt, hóa ra Israel giao cho Iran là bom khôn đời cũ!

Tổng thống Mỹ Ronald Reagan hội ý với Bộ trưởng Ngoại giao George Shultz (trái) và Cố vấn An ninh Quốc gia Robert McFarlane, giữa năm 1983.
Tổng thống Mỹ Ronald Reagan hội ý với Bộ trưởng Ngoại giao George Shultz (trái) và Cố vấn An ninh Quốc gia Robert McFarlane, giữa năm 1983.
Dần dà, những ngang ngược này làm mất cảm tình dành cho Israel bởi Tây phương và Hoa Kỳ. Có đáng yêu mấy thì quý phi cũng trở thành Đát Kỷ, nhốt 1 triệu người Gaza trong một nhà tù lớn, dùng phi cơ đánh hết tất cả trại gà công nghiệp của dải, cho chúng mày khỏi ăn trứng gà vì ai cũng biết là trứng gà thì khó chọi lại bom. Ai là David anh hùng đây? Đứa trẻ cầm gạch đá hay là chiến xa Merkeva? An ninh Gaza không có vũ khí chống tăng hữu hiệu, cũng như trại gà không có vũ khí phòng không.

Mang trứng chọi bom: Trại gà ở Rafah, Gaza ngày 6/6/2012 sau khi các gà mẹ đã anh dũng chống trả lại phi cơ Kfir, tức “Sư tử con” (ảnh Abed Rahim Khatib, Demotix)
Mang trứng chọi bom: Trại gà ở Rafah, Gaza ngày 6/6/2012 sau khi các gà mẹ đã anh dũng chống trả lại phi cơ Kfir, tức “Sư tử con” (ảnh Abed Rahim Khatib, Demotix)
Ngay cả người Do Thái nước ngoài hay ở Mỹ (theo chữ củaTony Judt) đã chán “bị Israel bắt làm con tin”. Họ bắt đầu bực mình vì những việc Israel làm mà nhân danh tập thể này! Chính trường của Israel, ngày càng bị hai chiều hướng quá khích quyết định và thao túng. Một là thần quyền “truyền thống”, tất nhiên kỳ thị mọi người khác trên căn bản “dân tộc chọn lọc”. Hai là thành phần di dân mới từ Liên Xô cũ, ăn dồi heo vào ngày kiêng là thứ Bảy nhưng kỳ thị cũng không kém, và “lòng tham” cũng hấp háy các khu vực đất chiếm đóng, đẩy người địa phương đi để cất nhà.
Huyền thoại cuối cùng “Đây là chế độ dân chủ duy nhất trong khu vực” cũng rạn nứt nốt. Dân chủ tại Israel là cho 6 triệu người Do Thái, không phải cho 5,5 triệu người Ả Rập. Những người này phải tuân theo luật riêng dành cho họ, tức là thiết quân luật, hạn chế đi lại, hạn chế công việc, bị bắt giữ thoải mái không cần xét xử.

Lính Israel xét cặp học trò Palestine ở điểm kiểm tra 56, Hebron.
Lính Israel xét cặp học trò Palestine ở điểm kiểm tra 56, Hebron.
Dân chủ này giống như dân chủ tại Nam Phi hay tại miền Nam nước Mỹ trước đây, dân chủ cho người da trắng còn da đen thì ra phía sau xe buýt mà ngồi (như câu nói Mỹ vào thời đó “Chúng ta có thể đặt một người lên mặt trăng nhưng không đặt được một người da đen lên phía đầu xe buýt”). Tuy cựu Tổng thống Mỹ Carter than phiền là “Ở thành phố này (Washington), không một ai, không nhà chính trị nào dám phê bình Israel cả”, chính ông đã viết cả một quyển sách phê bình chính sách Apartheid (theo Nam Phi) này.

Đường ngăn đôi tại khu vực H2 Hebron, (Tây Ngạn thuộc Palestine), phía trái dành cho 35.000 Ả Rập và phía phải dành do 800 cư dân (settlers) Do Thái.
Đường ngăn đôi tại khu vực H2 Hebron, (Tây Ngạn thuộc Palestine), phía trái dành cho 35.000 Ả Rập và phía phải dành do 800 cư dân (settlers) Do Thái.
Ngày nay người Do Thái không còn bị phân biệt kỳ thị ở nước ngoài, không còn bị đe doạ sinh mạng hay cuộc sống, và trớ trêu là nếu họ bị phê phán thì đó là do những hành vi bất khả của Israel! Nếu bảo là Israel cần thiết cho an ninh của người Do thì ngày nay người Do không ở đâu mất an ninh bằng ở ngay tại Israel. Nếu bảo là Israel là Đất Hứa đảm bảo cho người Do có một cuộc sống tốt đẹp thì cuộc sống của họ tại Anh tại Mỹ tốt đẹp hơn nhiều. Theo Tổng Lãnh Sự Israel tại Los Angeles (2012), số người mang song tịch hay quốc tịch Israel tại bang California là 200.000-250.000, tại nước Mỹ là 600.000-700.000. 230 nhân viên ngoại giao của Israel tại Hoa Kỳ hiện mang song tịch hoặc hưởng quy chế thường trú (đây nói về người Israel ở Mỹ, không phải nói về người Do Thái)! Như vậy là riêng tại Hoa Kỳ, 10% người Israel chọn để sinh sống thay vì sống tại Israel. Còn người Do di dân sang Israel thì từ đâu? Sau đợt từ Liên Xô cũ, giờ họ từ…Ấn Độ. Mới đây, tộc Bnei Menashe ở Đông Ấn được phát hiện là có nguồn gốc Do Thái và được đưa về trấn thủ tại các vùng Israel chiếm đóng ở Tây Ngạn, khiến nhà chức trách Palestine phải lên tiếng “ Các ông muốn nhận ai là Do Thái thì cứ nhận, đó là việc của các ông, nhưng nhận họ thì đưa về nhà ông chứ tại sao lại đưa sang nhà tôi”!

Các thành viên của tộc Bneru Menashe, được coi là có gốc Do Thái, từ Ấn Độ di cư sang Israel, tại sân bay Ben Gurion
Các thành viên của tộc Bneru Menashe, được coi là có gốc Do Thái, từ Ấn Độ di cư sang Israel, tại sân bay Ben Gurion
Giải pháp 2 quốc gia đến giờ bế tắc, bởi người 5,5 triệu người Palestine hiện diện chỉ được dành cho có 20% đất và 5 triệu người Palestine tỵ nạn không được phép trở về. Phần Tây Ngạn thì bị băm nát như tương bởi các ấp chiếm đóng vằn vện và chia cắt. Phần Gaza thì như là thiếu nữ cấm cung kín cổng và cao tường, nội bất xuất ngoại bất nhập; có quốc gia nào mà khả thi được trong những điều kiện này, kể cả các Bantustan tại Nam Phi còn kém bề ngột ngạt. Riêng Jerusalem, chỉ muốn chia một phần làm thủ đô chung cho cả hai vẫn còn không được Israel chấp nhận. Israel đơn phương tuyên bố Jerusalem là thủ đô và cho đến giờ chưa có quốc gia nào trên thế giới công nhận thủ đô này cả, kể cả Hoa Kỳ là nuớc vẫn đặt sứ quán tại Tel Aviv. Trong lịch sử quan hệ quốc tế, chuyện coi thường công ước và bất kể nghị quyết LHQ, Israel vô địch hàng đầu. 1955-2013, có tất cả 77 (bảy mươi bảy) nghị quyết của LHQ “lên án”, “đòi hỏi”, “kêu gọi” Israel mà chẳng đến đâu. Không tuân thì thôi, lâu lâu lại ném bom cả lực lượng Mũ xanh. LHQ và những giải pháp của LHQ chẳng là cái đinh gì cả, làm gì nhau, tôi là thằng bé khó bảo.

Năm 1996, Israel pháo tập 38 quả 155mm vào căn cứ LHQ tại Qana, Nam Lebanon là nơi đang có 800 thường dân lánh nạn làm thiệt mạng 106 thường dân, 114 bị thương cùng với 4 quân nhân UNIFIL (LHQ). Bản điều tra của LHQ cho đây là cố tình, có 2 trực thăng và 1 máy bay không người lái hiện diện để hướng dẫn pháo tập và Israel cho đây là tai nạn do bất cẩn gây ra. LHQ thông qua nghị quyết đòi 1.7 triệu USD tiền xây dựng lại căn cứ, tất nhiên là Israel không trả chắc là để đợi 2000 năm nữa
Năm 1996, Israel pháo tập 38 quả 155mm vào căn cứ LHQ tại Qana, Nam Lebanon là nơi đang có 800 thường dân lánh nạn làm thiệt mạng 106 thường dân, 114 bị thương cùng với 4 quân nhân UNIFIL (LHQ). Bản điều tra của LHQ cho đây là cố tình, có 2 trực thăng và 1 máy bay không người lái hiện diện để hướng dẫn pháo tập và Israel cho đây là tai nạn do bất cẩn gây ra. LHQ thông qua nghị quyết đòi 1.7 triệu USD tiền xây dựng lại căn cứ, tất nhiên là Israel không trả chắc là để đợi 2000 năm nữa
Mặt khác, tuy người Do Thái chẳng có lý do chính đáng gì để “trở về” khu vực này tái lập nước, nhưng hiện nay họ đang ở đó và hiện diện 6 triệu. Họ ở đó từ 100 năm nay và không ai đòi đuổi họ đi đâu cả, chẳng ai xua họ đi và lấy lại đất như họ đã làm với người Palestine. Đẩy họ xuống biển cũng chẳng phải là một giải pháp nốt. Vậy thì giải pháp là một quốc gia chung cho hai dân tộc, một quốc gia thế tục và dân chủ thật sự, trong đó mọi người đều bình đẳng và không phân biệt. Sự sống chung tốt đẹp này đã có tiền lệ ngay tại chỗ, trước khi Israel thành lập, người Do Thái đã sống chung êm đềm với người Ả Rập tại Palestine chứ còn ở đâu. Thảm sát người Do, cho đến giờ trong lịch sử là ở Tây Ban Nha, ở Nga, ở Ba Lan hay ở Đức, dưới tay người Ki-tô hay người La Mã nhé, không phải bởi người Hồi. Giải pháp này cũng không phải là bất khả thi đối với người Palestine hay là đối với cái gọi là khối Ả Rập. Thử đề nghị xem họ có chống lại không? Nó chỉ không được chấp nhận bởi người Israel cũng như trước đây người da trắng Nam Phi không thể chấp nhận bình đẳng và gọi Nelson Mandela là…, là gì nhỉ? Là “khủng bố”. (Khi Clinton sang dự sinh nhật thứ 90 của Mandela năm 2008, Mandela vẫn nằm trong danh sách khủng bố của Hoa Kỳ khiến chính quyền Mỹ phải bối rối và lột tên ông ra.)
Thực dân da trắng đến Nam Phi lập quốc mấy trăm năm trước đến giờ này (sau khi chế độ Apartheid cáo chung năm 1994) vẫn còn ở đó. Chế độ mới và đa số da đen, da màu chưa thấy đẩy người da trắng xuống biển. Họ sống chung dân chủ, hòa bình và bình đẳng (vâng) cũng vẫn tại quốc gia đó. Điều này chỉ mới 20 năm trước được cho là vô lý cực kỳ tại Nam Phi, thế thì cũng cho ta hy vọng là Israel trong tương lai cũng sẽ được như thế. Hai dân tộc sống chung công bằng, bình đẳng và phát triển (trong yêu thương trìu mến?). Điều này chỉ có thể thực hiện nếu có sự thay đổi quan điểm của cộng đồng người Do toàn cầu, của cộng đồng người Do tại Hoa Kỳ. Trước hết, và sau cùng, là sẽ nhờ vào những người Do công bằng và dũng cảm ngay tại Israel.
Dũng cảm và công bằng, dân tộc Do Thái không thiếu và điều đó, tất nhiên là với áp lực của dư luận công tâm thế giới, và trước hết là sức đề kháng của dân tộc Ả Rập, cho phép chúng ta được lạc quan rằng, ngay trong thế hệ của chúng ta, sẽ thấy được một ngày như vậy tại Palestine.
Nguồn bài viết : soi.com.vn