Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiến Pháp Đức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiến Pháp Đức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

PHÁP LUẬT KHÔNG THỂ KHÔNG HỘI NHẬP THẾ GIỚI

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo Tuần Việt Nam
Nếu coi quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, thì nền luật pháp nước ta có được cải cách nhanh chóng cả về công nghệ làm luật lẫn lập toà án hiến pháp hay không, rốt cuộc hoàn toàn tùy thuộc trách nhiệm của quốc hội trước dân chúng đã tin cậy và ủy thác sinh mệnh chính trị của mình cho họ!
Bao người mang hộ chiếu Việt sống ở Đức bị Sở Ngoại kiều Đức làm tá hoả, khi cách tháng trước đột nhiên nhận được quyết định của Sở Ngoại kiều nơi cư trú, với nội dung: “Theo điều §13, điểm 2, Luật Quốc tịch Việt Nam mới (LQT), có hiệu lực từ ngày 1.7.2009, “người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam… thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam”.
Điều đó không có nghĩa, khi mất quốc tịch Việt Nam, ngài sẽ được nhập quốc tịch Đức. Lúc đó, ngài sẽ trở thành người không quốc tịch và do mất quốc tịch Việt Nam, nên ngài cũng mất luôn giấy phép lưu trú gắn liền với hộ chiếu đó. Vì vậy, chúng tôi yêu cầu ngài, tới Cơ quan đại diện Việt Nam đăng ký giữ quốc tịch, và trình Sở Ngoại kiều, hạn cuối cùng ngày 30.6.2011. Xin lưu ý ngài rằng, nếu hết thời hạn trên ngài vẫn không thực hiện, sẽ bị coi vi phạm quy định hành chính chiểu theo điều §98, đoạn 2, điểm 3, Luật lưu trú (AufenthG), và bị phạt tiền”.
Nhận được công văn, ai nấy đều ngỡ ngàng, người hiểu biết thì ngờ ngợ nhận ra điều gì đó bất ổn ở Luật pháp Việt Nam, tại sao đang có hộ chiếu chính là giấy chứng nhận quốc tịch lại còn phải đăng ký giữ quốc tịch ? Còn người không màng đến thế sự, thời cuộc, thì tỏ ra không còn hiểu LQT Việt Nam muốn gì ở họ, họ phải bỏ công bỏ việc lên Sứ quán đăng ký, tới Sở ngoại kiều trình, gần thì cả 2 nơi mất 2 ngày, xa thì ba bốn ngày, thêm chi phí tầu xe đi lại, phí dịch vụ, thiệt hại hàng trăm Euro.
Nếu cứ theo đúng điều luật §13 trên, sẽ có chừng 100.000 người mang hộ chiếu Việt Nam định cư ở Đức phải đăng ký giữ quốc tịch, tổng chi phí ước không dưới 20 triệu Euro. Hậu hoạ trút xuống cả Đại sứ quán và Lãnh Sứ quán Việt Nam tại Đức tự dưng thêm việc, trả lời các cuộc điện thoại thắc mắc của bà con.
Rốt cuộc, Đại sứ quán và Lãnh sứ quán phải gửi công văn cho họ khẳng định, công dân Việt Nam có quốc tịch Việt Nam và chỉ mang hộ chiếu Việt Nam không có nghĩa vụ đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, và bác quyết định của Sở Ngoại kiều, bằng cách dẫn Điều 18, Nghị định 78/2009/NĐ-CP ngày 22/09/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 13/11/2008 (NĐQT), có nội dung ngược hẳn LQT: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam… mà không có Hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng, nếu có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam thì phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam”, để được cấp hộ chiếu.
Để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp (HP), trên thế giới hiện có 3/4 số quốc gia có Toà án hiến pháp. Ở nước ta, việc giám sát và phán quyết vi phạm HP không được giao cho một cơ quan chuyên trách nào. Do vậy, thẩm quyền bảo vệ HP không được phân định trách nhiệm rõ ràng, dẫn tới, hiệu lực và hiệu quả bảo vệ HP không cao. Hầu hết các chuyên gia pháp lý đều nhận định, đã đến lúc, nước ta cần xây dựng một cơ chế bảo hiến theo đúng nghĩa của nó – Đó là Toà án Hiến pháp. Nghị quyết Đại hội XI đã nhấn mạnh về tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCH, nêu rõ: Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới. Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền. Đây được coi là cơ sở để thảo luận, nghiên cứu về việc xây dựng và thiết kế một mô hình toà án hiến pháp phù hợp với Việt Nam.
Thời hạn Sở Ngoại kiều đòi trình vẫn chưa đến, nên chưa rõ rắc rối cuả người Việt bởi Luật quốc tịch mới Việt Nam rốt cuộc sẽ giải quyết ra sao, nhưng từ thực tế hệ lụy Đức áp dụng LQT Việt Nam trên có thể rút ra những kết luận bổ ích về sự cần thiết và con đường cải cách bắt buộc để đưa nền pháp luật Việt Nam hội nhập với thế giới hiện đại.
Sở Ngoại kiều Đức đòi người Việt định cư ở Đức phải thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam, bởi đối với thể chế họ, luật pháp là luật pháp dù của Đức hay bất cứ quốc gia nào, nếu thuộc đối tượng nó điều chỉnh, thì phải thực thi vì tính tối thượng của luật pháp, chứ không phải lợi thì theo, không thì thôi. Không chỉ Luật quốc tịch Việt Nam, như Luật Hôn nhân Việt Nam chẳng hạn, hiện đang được Toà án Đức áp dụng khi xử ly hôn các cặp vợ chồng người Việt. Từ đó rút ra kết luận: Luật pháp Việt Nam không phải một ốc đảo mà là một bộ phận của thế giới, họ có quyền áp dụng, không phụ thuộc vào chúng ta.
Vấn đề tiếp theo, khi viện dẫn LQT Việt Nam, Sở Ngoại kiều Đức hiểu đó là một văn bản lập pháp, nghiã là do Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất thông qua, tin tưởng  chính phủ lẫn công dân Việt Nam phải thực hiện, họ không mảy may quan tâm đến những văn bản chính phủ Việt Nam hướng dẫn thi hành luật, vốn ở nước họ chỉ có tác dụng trong nội bộ cơ quan hành pháp thực thi, không có tác dụng thay đổi các chuẩn mực thước đo, quy tắc xử sự ấn định trong văn bản lập pháp được người dân tự động thực hiện bằng không sẽ có chế tài, không cần đến hướng dẫn của chính phủ, ngoại trừ những điều luật trong văn bản đó có ghi rõ cho phép chính phủ làm vậy. Đó cũng chính là nguyên lý phổ quát về mối quan hệ giữa văn bản lập pháp và lập quy trong một nhà nước pháp trị.
Thực trạng ở ta khác, để bác bỏ đòi hỏi của họ, Đại sứ quán và Lãnh sứ quán ta lại phải dẫn văn bản lập quy của chính phủ NĐQT để phủ định văn bản lập pháp LQT của quốc hội mà Sở Ngoại kiều đã viện dẫn. Nghịch lý văn bản lập quy quyết định văn bản lập pháp ngược với nguyên lý phổ quát, rất xa lạ với nền pháp luật thế giới hiện đại, vốn tồn tại đã qúa lâu trong nền pháp luật nước ta; ở Nghị định trên được thể hiện bao quát ngay tại điều §1: “Nghị định này quy định chi tiết thi hành các điều §13, §19, §20, §22, §23, §24, §27, §28, §32, §34 và hướng dẫn thi hành một số điều khác của Luật Quốc tịch Việt Nam”.
Như vậy đã mặc nhiên thừa nhận,  LQT có thể có nhiều cách thi hành, nhưng phải thi hành theo cách do chính phủ quy định tại NĐQT. Nói cách khác, cái mà người dân cần biết và phải tuân thủ không phải luật mà là chính phủ – Mâu thuẫn hoàn toàn với nguyên lý xã hội pháp quyền của thế giới hiện đại: người dân và cơ quan công quyền đều bình đẳng trước pháp luật.
Đối chiếu điều §26, điểm 3, LQT với điều §18, NĐQT, cho thấy điều §26 sai chỉ bởi đã đồng nhất khái niệm Người Việt (có quốc tịch Việt) định cư ở nước ngoài với khái niệm lưỡng tịch (vừa có quốc tịch nước ngoài vừa có quốc tịch Việt)!
Văn bản lập pháp ở ta không khác các nước, hầu như đều qua các công đoạn, rào cản cơ bản: soạn thảo, lấy ý kiến, các ủy ban quốc hội liên quan thẩm định, trong đó không thể thiếu Ủy ban Pháp luật, thông qua Quốc hội, chủ tịch/tổng thống ký lệnh công bố. 2 khái niệm, người Việt định cư ở nước ngoài và lưỡng tịch, vốn phổ quát thế giới, bị nhầm lẫn, nhưng lại dễ dàng lọt qua được tới 6 công đoạn, rào cản trên; thậm chí khi NĐQT ban hành cũng chính là lúc phát hiện được LQT sai, nhưng đã không hoặc không thể khắc phục, thực sự là tiếng chuông báo động về nghiệp vụ và công nghệ làm luật ở nước ta, đặt ra đòi hỏi phải nhanh chóng cải cách, tạo lập một công nghệ làm luật tự động, bảo đảm có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, ban hành luật mới bất cứ lúc nào cần, bởi luật pháp cũng như nhà nước dù tiến bộ đến mấy, sinh ra cũng chỉ là công cụ để phục dân, vì dân, của dân, chứ không phải ngược lại bị nó trói buộc bất chấp lợi ích.
Một công nghệ như vậy, ở các nước hiện đại, trước hết nó phải có khả năng tiếp nhận mọi phản ứng của các đối tượng bị điều chỉnh, xuất phát từ và nhằm trở lại vào lợi ích đối tượng đó; bởi chỉ đối tượng bị điều chỉnh mới có thể phát hiện được lợi ích mình bị xâm phạm, một khi luật có vấn đề, không nhà nước nào thay nổi họ. Như trường hợp LQT chắc chắn không thể không sửa đổi, nếu đại diện cho cộng đồng chừng 3 triệu người Việt ở nước ngoài được hỏi ý kiến. Tiếp theo, không thể thiếu Toà án Hiến pháp, bảo đảm cho cá nhân và pháp nhân được quyền đưa văn bản lập pháp bị cho là vi hiến ra toà đòi phán quyết, một khi cơ quan công quyền vì lý do nào đó không chịu xét đến. Chỉ khi văn bản lập pháp bảo đảm nguyên lý hợp hiến bằng chế tài như vậy mới có thể nói đến nhà nước pháp quyền, uy tín pháp lý của một quốc gia, xã hội có thực sự đồng thuận trên nền tảng hiến pháp hay không.
Ngoài điều §13 đã phân tích, nếu chiểu theo nguyên lý hợp hiến, điều §2 và §31 LQT đều trái với Hiến pháp ta cũng như các nước hiện đại, vốn coi mọi công dân đều bình đằng ngang nhau không phân biệt đối xử, khi điều §2, điểm 1 LQT quy định, Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch, nhưng lại ngoại trừ trường hợp quy định tại điều §31 cho phép tước quốc tịch Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, và người Việt gốc ngoại quốc cư trú tại Việt Nam, nếu có hành vi gây phương hại nghiêm trọng… Nghĩa là cùng một hành vi gây phương hại nghiêm trọng, nhưng phân biệt đối xử, nếu là công dân huyết thống Việt và ở trong nước thì không sao, còn đã ra nước ngoài sống, hay gốc nước ngoài là bị tuyên phạt.
Về mặt đạo đức có thể so sánh với gia đình, nếu là con đẻ sống cùng gia đình thì không sao, nhưng nếu ra khỏi nhà phạm gia huy thì sẽ bị từ bỏ, và nếu là con nuôi thì đuổi ra khỏi nhà ! Có thể tham chiếu Luật quốc tịch Đức để rõ thêm. Điều luật tước quốc tịch chỉ áp dụng cho đối tượng chủ đích lừa đảo khi nhập quốc tịch nay mới bị phát hiện, hoặc đối với dạng 2 quốc tịch vi phạm luật quốc tịch họ. Ngay cả 2 trường hợp đó, vẫn được miễn trừ, nếu tước quốc tịch trở thành vô quốc tịch – bản chất nhân đạo của luật, không nhằm đày đoạ con người.
Muốn hoàn thiện nền phát luật, không thể không cải cách văn bản luật hiện có. Nhưng cải cách sẽ không bao giờ xảy ra, nếu không luôn phát hiện khuyết tật bất cứ văn bản nào, vào bất cứ giai đoạn nào và ở bất kỳ cấp độ nào. Nếu coi quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, thì nền luật pháp nước ta có được cải cách nhanh chóng cả về công nghệ làm luật lẫn lập toà án hiến pháp hay không, rốt cuộc hoàn toàn tùy thuộc trách nhiệm của quốc hội trước dân chúng đã tin cậy và ủy thác sinh mệnh chính trị của mình cho họ ! Không thể viện bất kỳ lỗi cơ chế nào, bởi cơ chế nào cũng từ cơ quan quyền lực cao nhất sinh ra, không bỗng dưng từ trên trời rơi xuống

LUẬT PHÁP VÀ NHÂN DÂN, NHÌN TỪ CƯỠNG CHẾ ĐẤT ĐAI

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, theo BVN
Vụ cưỡng chế thu hồi 5,8 ha đất của 166 hộ dân Xuân Quan, Văn Giang, sử dụng tới ngàn nhân viên công lực, tỷ lệ áp đảo 6-7 nhân viên công lực / 1 đối tượng cưỡng chế, kéo dài từ 7 giờ sáng tới 11 giờ trưa, được Phó Chủ tịch tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Khắc Hào báo cáo trước Thủ tướng là đã “hoàn thành” và “đúng luật”, mà không hề tự đặt ra bất cứ một câu hỏi nào day dứt về trách nhiệm chính quyền điạ phương đối với lợi ích, số phận sống còn, mưu sinh của 166 hộ dân bị cưỡng chế, vốn cũng là nhân dân; không thể không đặt ra câu hỏi: chẳng nhẽ chính quyền sinh ra cứ miễn hành xử đúng luật là xong? Hay 166 đối tượng cưỡng chế không thuộc nhân dân? Cách đây 22 năm, năm 1990, Helmut Kohl, Thủ tướng CHLB Đức lúc đó, long trọng cam kết, nước Đức tái thống nhất sẽ không có một người dân Đông Đức nào cuộc sống thấp hơn trước. Ngay sau đó, Ngân hàng Liên bang Đức đưa ra tỷ lệ đổi tiền, 2 Đông Đức mark ăn 1 Tây Đức mark, lập tức nhiều thành phố Đông Đức, hàng trăm ngàn người dân từng hừng hực biểu tình đòi thống nhất đất nước, đổ xuống đường phản đối tỷ lệ trên với khẩu hiệu: Chúng tôi cũng là nhân dân, chúng tôi không phải một nửa người Đức, buộc Dự thảo Hiệp ước Liên minh Tiền tệ hai nước Đức phải thay đổi. Vụ Văn Giang ở ta, 166 hộ bị cưỡng chế rõ ràng không nằm ngoài nhân dân, họ chống thu hồi, chỉ do bị thua thiệt quyền lợi so với Ecopark, mà lẽ ra chính quyền điạ phương của dân do dân vì dân, phải có bổn phận công bộc đứng về phiá họ bênh vực, tương tự như người dân Đông Đức biểu tình vì thấy mình bị thua thiệt một nửa so với Tây Đức hoàn toàn không nhằm chống phá hay lật đổ nhà nước vốn được chính họ vừa mới trước đó đấu tranh tạo dựng nên.
Cùng thời gian từ vụ cưỡng chế Tiên Lãng tới vụ cưỡng chế Tiên Lãng Văn Giang, đến nay ở Đức dư luận vẫn tiếp tục lên tiếng, đòi Bộ trưởng Nội vụ các Tiểu bang phải rút ra bài học cay đắng từ sự kiện Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang Niedersachsen ra lệnh cưỡng chế, trục xuất một gia đình người Việt 4 thành viên, nhưng sau 83 ngày, dưới áp lực chính trường, các tổ chức dân sự, hội đoàn, công luận, buộc phải đón trở lại, gánh chịu toàn bộ phí tổn trục xuất lẫn tái nhập cảnh, bảo đảm mọi điều kiện ăn, ở, đi lại, học hành, việc làm cho gia đình họ; mặc dù vụ trục xuất hoàn toàn đúng cả về văn bản pháp lý áp dụng, lẫn trình tự, thủ tục thi hành: Hai vợ chồng người Việt nhập cư bất hợp pháp vào Đức hai mươi năm trước, được chính quyền vận dụng mọi điều khoản Luật Tỵ nạn, Luật Ngoại kiều xét quyền ở lại, nhưng đều không đủ điều kiện; cho khiếu nại lên Quốc hội xem xét nhân đạo cũng bị từ chối, đệ đơn lên Ủy ban cứu xét các trường hợp đặc biệt cũng bị bác bỏ, với lý do người chồng đã vi phạm pháp luật trong quá khứ, từng 1 lần khai tên giả, 1 lần trốn sống lưu vong, 1 lần vào nhà Thờ tỵ nạn, để trốn tránh trục xuất. Khi mọi khả năng pháp lý cứu xét ở lại chấm hết, Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang vốn chịu trách nhiệm pháp lý về trục xuất, liền ký lệnh cưỡng chế. Tuy nhiên, tới thời điểm này, gia đình người Việt đã có 20 năm, tức 1/5 đời người gắn chặt với nước Đức, con cái sinh ra ở Đức đi học trường Đức, bố mẹ làm việc cho công ty Đức, đóng thuế, sinh hoạt cộng đồng với người Đức như người Đức, nay bỗng chốc bị trục xuất ra khỏi nước Đức làm dân xóm, các đảng phái, nghị sỹ các cấp, các tổ chức dân sự, công ty, trường học nơi gia đình người Việt làm việc, con cái theo học, tất cả đều cảm giác như nhà nước Đức đã đuổi một công dân Đức ra khỏi tổ quốc họ, lập tức đồng loạt lên tiếng bảo vệ, chỉ trích Bộ trưởng hành xử không nhân tính, dù đúng pháp luật, đòi dứt khoát phải đón trở lại. Bởi nhà nước dân chủ, thực chất chỉ là công cụ phục vụ người dân, chứ không phải ngược lại; pháp luật cũng vậy, do nhà nước đẻ ra, chứ không phải từ trên trời rơi xuống; nhà chức trách không thể như “thiên lôi”, pháp luật “chỉ đâu đánh đấy”, phải biết “dừng tay” một khi cuộc sống, mệnh hệ người dân bị đe doạ dù đó là văn bản pháp lý gì. Nguyên lý pháp luật phải vì dân nói trên, chắc chắn ở cấp Phó Chủ tịch tỉnh không thể không biết, nhưng báo cáo của ông Nguyễn Khắc Hào cho thấy một sự ngộ nhận trầm trọng khi áp dụng vào thực tế, cần được công luận làm sáng tỏ, nếu không muốn lặp lại làm dân chúng bất bình, chính quyền bị tai tiếng, châm ngòi cho mọi nguy cơ bất ổn xã hội bùng nổ, vốn trong thế giới hiện đại có khi chỉ từ một hiện tượng đơn lẻ bất ngờ như vụ tự thiêu ở Tunisia.
Dù đất đai thuộc sở hữu gì, thì bất cứ nhà nước nào cũng có quyền “thu hồi” để phục vụ lợi ích công cộng, không phải chỉ khi đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước mới có quyền đó, như nhiều ngộ nhận. Nhưng thu hồi đất ở Văn Giang hoàn toàn không phải để nhà nước sử dụng với mục đích công mà để giao lại cho Ecopark cũng là tư nhân, chủ tư bản đầu tư sử dụng. Do đó, vụ cưỡng chế, dù văn bản luật nào cho phép, thì thực chất vẫn là nhà nước áp dụng biện pháp hành chính để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất đai vì mục đích kinh tế chứ không phải mục đích công, vốn bình đẳng ngang nhau giữa một bên là 166 hộ dân và bên kia Ecopark; nhưng nhà nước lại đứng về phiá chủ tư bản Ecopark. Đây chính là bản chất, gốc rễ dẫn tới chống thu hồi, có thể xảy ra bất cứ đâu, không chỉ ở ta, mà bất kỳ quốc gia nào, trong thời đại nào, không phụ thuộc người dân là ai, cấp chính quyền nào hành xử, một khi thay vì lấy chuẩn mực công bằng làm thước đo giải quyết tranh chấp lợi ích để cả hai bên cùng thoả mãn, thì lại sử dụng cưỡng chế, vốn là một biện pháp hành chính, đồng nghĩa sử dụng bạo lực nhà nước nhắm vào người dân – chủ nhân của mình. Đó là ngọn nguồn của mọi bất ổn.
Để lý giải cưỡng chế là đúng đắn, báo cáo xuất phát từ quan điểm so sánh giữa lợi ích Ecopark sử dụng đạt “hiệu quả kinh tế cao” hơn để nguyên cho hộ nông dân sử dụng, dẫn tới ngộ nhận, thu hồi đất giao cho Ecopark (chủ tư bản) sử dụng là “chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”. Quan điểm này hoàn toàn mâu thuẫn với tôn chỉ mục đích của mọi đảng Cộng sản theo học thuyết Mác trên thế giới dù nước họ theo chế độ xã hội nào, được chính Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên cáo trong chuyến thăm Cuba vừa qua: “Quyền lực đó (của nhà nước tư bản) vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có, phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản”. Chính để tránh nguy cơ tiềm ẩn từ định đề trích kinh điển chủ nghĩa Mác trên, các nước công nghiệp hiện đại vốn thừa nhận, kích thích “hiệu quả kinh tế cao” của tư bản, đã không bao giờ đứng về phiá tư bản trong bất kỳ giải quyết tranh chấp quyền lợi nào với người dân. Ở Đức, đố ông chủ nhà nào dám đuổi lập tức người thuê nhà ra đường dù họ không trả tiền nhà, đố ông chủ doanh nghiệp nào dám thải hồi ngay người lao động mà họ không hề vi phạm pháp lý gì, đố ông chủ ngân hàng nào dám xiết nợ chỗ ở dùng thế chấp, một khi họ không chốn nương thân, đố ông chủ bệnh viện nào dám đuổi bệnh nhân ra khỏi bệnh viện dù họ không trả viện phí… Trong các trường hợp trên, để đảm bảo lợi ích cho nhà tư bản, nhà nước chỉ còn cách đứng ra bảo lãnh cuộc sống cho người dân, một khi họ không thể tự đảm đương nổi, chứ không phải đứng về phiá giới chủ cưỡng chế người dân, bất chấp vận mệnh của họ. Vụ cưỡng chế mang bản chất tranh chấp lợi ích giữa tư bản và nông dân như ở Văn Giang chưa và không bao giờ xảy ra ở Đức, tính từ Hiến pháp 1949. Quan điểm lấy “hiệu quả kinh tế” làm thước đo giải quyết tranh chấp quyền lợi có thể phân tích sâu xa hơn cả trên bình diện quốc tế, nếu biết rằng thực dân Pháp từng mang “lá cờ bình đẳng tự do bác ái”, “khai hoá văn minh” cho An Nam, để “cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”.
Từ ngộ nhận trên đã dẫn tới hàng loạt hệ lụy gây bức xúc dân chúng, công luận, đặt cho nhà nước nhiều vấn đề chính sách phải trả lời, nếu không muốn bất ổn đất đai tiếp tục. Trước hết chính quyền điạ phương vốn là cấp thi hành, nhưng hoàn toàn quan liêu, thiếu dẫn liệu, khi báo cáo với Thủ tướng, cưỡng chế “được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ [cụ thể bao nhiêu 51% hay 99% và họ là ai?]”, “không thể vì một số người chống đối [166 người là số nhiều hay số ít?] mà không triển khai thực hiện”, trong khi đó, mức độ chênh lệch lợi ích giữa hai bên tranh chấp, có thể định lượng được: Ecopark bán giá căn hộ trên dưới 20 triệu đồng/ m2, giá biệt thự và nhà phố trên dưới 45 triệu đồng/ m2, so với giá đền bù chỉ 135.000 đồng/m2, vốn quyết định tầm cấp tranh chấp lại không đề cập tới, để giải quyết. Ở Đức, với siêu bất bình đẳng lợi ích này, không cần công luận lên tiếng, nhà nước đã phải can thiệp, nếu xảy ra ở nước họ. Đến như xăng dầu hay thực phẩm, khi giá cả leo thang, lo ngại tư bản đầu cơ nâng giá gây thiệt hại người dân, luật pháp buộc chủ kinh doanh phải bạch hoá ngay với cơ quan chức năng, đầu vào, đầu ra, thậm chí quy định cả thời điểm nâng giá, để khống chế lợi nhuận đầu cơ (chứ không phải cưỡng chế, bởi kinh doanh thuộc quyền tự do).
Tranh chấp lợi ích giữa 166 hộ dân với Ecopark là tranh chấp dân sự, vì lợi ích kinh tế, nhưng để biện minh cho cưỡng chế hành chính, báo cáo đã chính trị hoá, không cần bằng chứng, đẩy lên thành tranh chấp đối kháng địch ta giữa “bọn phản động trong nước và nước ngoài” với đảng và nhà nước, lẫn hình sự hoá, quy kết người dân không chấp hành là “chống đảng và nhà nước”, “lợi dụng dân chủ”, “hùa theo” những “phần tử tiêu cực, bất mãn, phản động”. Một khi cưỡng chế được xác định chống lại “bọn phản động”, phải chiến thắng, thì nó sẽ tuân theo quy luật cuộc chiến; một số người dân, phóng viên tại hiện trường bị vô cớ bắt bớ đánh đập như đã xảy ra chính nằm trong quy luật đó. Hệ lụy chưa biết rồi sẽ tới đâu, khi báo cáo còn đề xuất: “xử lý được 9 người [cầm đầu] sẽ khắc phục được tình trạng tập trung đông người, kéo lên cơ quan Trung ương hiện nay”, mặc dù họ chỉ cùng nhau bảo vệ lợi ích mình, vốn dĩ bản năng của con người. Rốt cuộc, người thiệt hại không phải “bọn phản động” nào cả, mà chính 166 hộ dân không được nhà nước bảo vệ lợi ích so với Ecopark; bao ngưòi dân, lẫn nhà báo tại hiện trường bị hành hung, bắt giữ; những tiếng nói bảo vệ lợi ích cho người dân bị coi như “bọn phản động”. Về mặt chính trị xã hội, nếu đề xuất xử lý trên được thực hiện, tương lai người dân sẽ bị cô lập ở điạ phương, tiền đề cho một chính quyền cát cứ, đồng thời gây hội chứng đạo đức vô cảm trước nỗi khốn cùng của đồng loại, bởi ai muốn giúp đỡ bảo vệ, đều sợ liên lụy.
“Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, không chỉ Phó Chủ tịch Nguyễn Khắc Hào, mà chắc chắn bất cứ ai ngồi vào vị trí đó cũng có thể hành xử tương tự, khi báo cáo khẳng định, cưỡng chế “do chỉ đạo trực tiếp của Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, các cơ quan chức năng của tỉnh và sự hỗ trợ tích cực của Bộ Công an”, nghĩa là trách nhiệm thuộc toàn bộ hệ thống chính trị cả dọc lẫn ngang, nên ai ký lệnh cưỡng chế cũng vậy, dù hậu quả tới đâu, đều không phải chịu trách nhiệm pháp lý như trường hợp Bộ trưởng Nội vụ Niedersachsen Đức. Mối quan hệ đảng, các cấp ban ngành nhà nước, ở quốc gia nào cũng có, không một quyết định chính sách nhà nước nào theo chế độ dân chủ nghị viện không qua những rào cản như chính phủ, quốc hội, tổng thống, đảng họ, nhưng ở các quốc gia hiện đại, bất cứ quyết định chính trị, hành chính nào, người ký lệnh thi hành đều phải gánh trách nhiệm, chịu đào thải, bằng từ nhiệm hoặc miễn nhiệm, cho dù bao nhiêu cấp thông qua. Guido Westerwelle, người tiền nhiệm của Philipp Rösler Chủ tịch đảng FDP, Phó Thủ tướng Đức, gốc Việt hiện nay, từng phải từ chức, do mắc sai lầm bỏ phiếu trắng tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về Lybia bị công luận chính trường phản đối kịch liệt, mặc dù đó là quyết định của Chính phủ Đức, không phải chỉ cá nhân Westerwelle.
Lời cảnh báo của Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An ngay giữa nghị trường trước đây: “Đừng lôi Đảng vào!”, phản ảnh chính nguyên lý đào thải trên. Niềm tin vào đảng cầm quyền và nhà nước chính nhờ nguyên lý đó, bảo đảm cho người dân luôn yên tâm với chính sách luật pháp nhà nước, không bị biến thái bởi những nhân sự yếu kém của bộ máy nhà nước lấy uy danh đảng, nhà nước làm bình phong che chắn. Vì vậy, nguyên lý đào thải trên, ở ta cần được hiến định và luật hoá như các nước hiện đại, sử dụng chế tài điều chỉnh mọi hoạt động, chức danh, trong bộ máy chính quyền từ tổng thống trở xuống; trong đó dấu hiệu đặc biệt quan trọng quyết định niềm tin ở dân chính là tính trung thực của quan chức, chính khách; mỗi phát ngôn trước chính trường hay báo chí phải được coi là tuyên thệ, nghĩa là sai phải chịu đào thải. Chỉ khi đó, cơ quan dân cử mới đủ sức mạnh thực sự, thay mặt dân giám sát cơ quan công quyền cùng bộ máy nhân sự của nó. Cựu Tổng thống Đức buộc phải từ chức ngày 31.5.2010, chỉ bởi phát ngôn trước quân đội đồn trú Đức ở Afghanistan, sai đúng một câu: “Trường hợp khẩn cấp, can thiệp quân sự là cần thiết để bảo vệ lợi ích nước Đức, như tự do thương mại chẳng hạn”, bị chính trường chỉ trích kịch liệt, cáo buộc có tư tưởng sử dụng quân đội sai Hiến pháp. Tới ngày 17.2.2012, Tổng thống kế nhiệm Christian Wulf cũng buộc phải từ chức với nhiều lý do, trong đó có vụ xảy ra hồi còn làm Thủ hiến Tiểu bang Niedersachsen trả lời chất vấn Quốc hội Tiểu bang sai sự thực. Với câu hỏi có hay không mối quan hệ với doanh nhân Egon Geerkens khi vay ưu đãi tín dụng vợ ông ta để làm nhà, Wulf trả lời không, nhưng tới thời điểm trở thành Tổng thống bị dư luận phát hiện là có.
Là công cụ phục vụ lợi ích từng người dân (chứ không phải nhân dân chung chung), bất cứ văn bản luật nào một khi có nguy cơ đe doạ cuộc sống, mệnh hệ của họ đều buộc phải dừng lại. Chính thế, luật pháp phải luôn bổ sung, sửa đổi, thay thế, cải cách, bất cứ lúc nào lợi ích người dân đặt ra. Vậy liệu 70% vụ khiếu kiện nước ta thuộc về đất đai đã đủ gióng lên hồi chuông báo động đòi hỏi khẩn thiết sửa đổi luật đất đai hiện hành hay chưa? Nếu không, còn phải đợi tới tỷ lệ bao nhiêu nữa? Liệu tiếng nói tới 70% cử tri khiếu kiện vướng mắc về đất đai đó, có đến được những Đại biểu Quốc hội mà chính họ đã từng gửi gắm niềm tin bảo vệ quyền lợi cho bản thân mình nơi lá phiếu?
N. S. P.
___
Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

NHÀ NƯỚC VÌ DÂN NHƯ THẾ NÀO?

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo Tia Sáng
Thời đại ngày nay, bất cứ chính quyền nào do dân dựng lên đều vì dân cả, nhưng đó chỉ mới điều kiện cần, tức tiền đề, muốn biến thành hiện thực nhà nước đó phải có khả năng thực hiện, tức điều kiện đủ, vốn hoàn toàn tùy thuộc ý chí người dân cùng thiết chế bộ máy nhà nước đó.
Lúc 1 giờ sáng, ngày 17.6.2012, tại thành phố Leipzig, Đức, hàng xóm trong một chung cư phát hiện có mùi lạ nồng nặc từ căn hộ 2 phòng tầng trệt tràn ra cầu thang, liền gọi điện khẩn cho cảnh sát và cứu hoả tới. Phá cửa vào, đập vào mắt họ một thảm cảnh thương tâm, xác đứa con trai Kieron-Marcel 2 tuổi gục mặt vào xác người mẹ Christin F, 26 tuổi, nằm còng queo trên lối vào phòng khách, lâu ngày đang thối rữa. Cảnh sát lập tức phong toả hiện trường điều tra án mạng. Khám nghiệm pháp y sau đó cho thấy, Christin F chết vào khoảng từ ngày 7-10.6, do sốc ma túy Intoxikation, hỗn hợp pha trộn giữa Heroin và Kokain. Mẹ mất, bé trai đói khát, gào khóc bên cạnh xác mẹ suốt 1 tuần rồi lả dần đến chết. Kết quả giải phẫu tử thi còn phát hiện được người mẹ đang mang thai nhi tháng thứ 3. Ba mạng người bị chết bỏ mặc, chấn động nước Đức, đánh vào ý thức, lương tri con người, gây sốc dân chúng, hầu như không ngày nào không được truyền thông đưa tin, với hàng loạt câu hỏi, xoáy quanh vấn đề cốt lõi, trách nhiệm nhà nước trước thảm kịch. Tại sao không hàng xóm nào đoái hoài tới vận mệnh đồng loại mình, mặc đưá bé 2 tuổi gào khóc khản cổ đến chết bên xác người mẹ, và căn hộ 3 mẹ con có dấu hiệu bất thường suốt cả tuần, trong khi luật pháp chế tài mọi hành vi bỏ mặc nạn nhân? Ba nhân mạng cũng là 3 đồng chủ nhân, nhân dân, sinh ra nhà nước không nhằm mục đích nào khác ngoài phục vụ cho chính họ. Bộ máy của nó ăn lương từ tiền thuế họ đóng, không được phép để chủ nhân của mình bị chết thảm bỏ mặc. Vậy ai là người đại diện pháp lý cho nhà nước, chịu trách nhiệm đó ? Tương lai của một đất nước bình đẳng bác ái sẽ ra sao, khi đưá bé sinh ra từ thân phận xã hội thấp kém bị chết thảm bỏ mặc?
Một khi nhà nước thực sự vì dân, thì nhân sự bộ máy của nó không thể không lên tiếng trước bất kỳ câu hỏi bức bách nào của người dân, bất kể họ là ai, nếu không sẽ bị chính thiết chế nhà nước đó tự động đào thải thay thế. Cơ quan liên đới đầu tiên, Viện Kiểm sát Leipzig lập tức ra tuyên bố cho điều tra mọi hướng, xem nhà chức trách có hành vi sao nhãng trách nhiệm, bỏ mặc nạn nhân hay không? Cơ quan hành pháp từ Thủ hiến tới Bộ trưởng Xã hội tiểu bang, yêu cầu Sở Thanh thiếu niên trình báo cáo chi tiết, để hội đồng chuyên môn của bộ giám định, nếu do lỗ hổng pháp lý thì phải bổ khuyết, nếu lỗi từ trách nhiệm cá nhân thì phải xử lý. Cấp thành phố, Hội đồng nhân dân phải cho họp phiên điều trần; Thị trưởng thành phố, đứng đầu cơ quan hành chính, gửi lời chia buồn tới thân nhân người bị nạn, khẳng định “không ai có thể làm ngơ trước vụ chết thảm này“.
Thời đại ngày nay, bất cứ chính quyền nào do dân dựng lên đều vì dân cả, nhưng đó chỉ mới điều kiện cần, tức tiền đề, muốn biến thành hiện thực nhà nước đó phải có khả năng thực hiện, tức điều kiện đủ, vốn hoàn toàn tùy thuộc ý chí người dân cùng thiết chế bộ máy nhà nước đó.Thời đại ngày nay, bất cứ chính quyền nào do dân dựng lên đều vì dân cả, nhưng đó chỉ mới điều kiện cần, tức tiền đề, muốn biến thành hiện thực nhà nước đó phải có khả năng thực hiện, tức điều kiện đủ, vốn hoàn toàn tùy thuộc ý chí người dân cùng thiết chế bộ máy nhà nước đó.Thời đại ngày nay, bất cứ chính quyền nào do dân dựng lên đều vì dân cả, nhưng đó chỉ mới điều kiện cần, tức tiền đề, muốn biến thành hiện thực nhà nước đó phải có khả năng thực hiện, tức điều kiện đủ, vốn hoàn toàn tùy thuộc ý chí người dân cùng thiết chế bộ máy nhà nước đó.Sở Thanh thiếu niên, Sở Y tế, Đặc trách giúp đỡ người nghiện, và Tổ chức dịch vụ xã hội ASD là những cơ quan hành chính chịu trách nhiệm hành xử, buộc phải tập hợp hồ sơ tường trình vụ việc. Theo tường trình, Christin F nghiện chích từ năm 16 tuổi,  đủ các loại ma túy; thành phố hỗ trợ tới 6 khoá cai nghiện, cả 6 lần tái phát. Tới ngày 16.4.2010, bé trai Kieron-Marcel chào đời, trở thành niềm hy vọng, an ủi, chỗ dựa tinh thần cho Christin F bắt đầu cuộc đời mới; Christin F luôn thích thú mang theo con khoe khắp bạn bè, nối lại quan hệ với mẹ mình vốn đã cắt đứt từ ngày bỏ nhà đi “bụi“. Ai cũng nghĩ may cho Christin F, nhưng đâu biết tình trạng nghiện chích vẫn chưa buông tha nạn nhân, một khi tái phát càng nghiệm trọng hơn. Chưa đầy 2 tháng sau, cả mẹ của Christin F , lẫn chủ cho thuê nhà ở, người trông trẻ giúp, phải báo động nhà chức trách về mệnh hệ đưá con bị đe doạ, khi Christin F, cao 1,65 m, nặng chỉ còn 40 kg, tỏ ra bị quá sức, không thể tự mang con tới người trông trẻ, bỏ nó ở nhà vất vưởng. Là cơ quan có chức năng bảo vệ trẻ em, Sở Thanh thiếu niên cùng Đặc trách giúp đỡ người nghiện lập tức đưa 2 mẹ con vào trại chăm sóc giúp đỡ thanh thiếu niên kể từ ngày 8.6.2010, tiếp đó cho học thực hành chương trình chăm nuôi con kéo dài không thời hạn, do ASD chịu trách nhiệm. Nhưng rồi từ cuối năm 2011, Christin F tự động bỏ ngang, hủy mọi lịch hẹn thực hành, mặc cho các cơ quan chức năng liên tục tới gặp gỡ yêu cầu; bác sỹ xét nghiệm nước tiểu cho biết, Christin F vẫn tiếp tục nghiện ma túy. Dùng dằng đến ngày 10.4.2012, Christin F mang theo bạn trai mới, tới ASD trình bày không tham gia khoá học nữa, và thông báo cả nhà sẽ chuyển chỗ ở tới thành phố khác. Sau 1 tiếng rưỡi phỏng vấn, nhân viên ASD ghi vào biên bản nhận xét sức khỏe 2 mẹ con tốt, và xoá tên khỏi danh sách chăm sóc, đồng nghĩa Sở Thanh thiếu niên hết trách nhiệm.Giám đốc Sở Thanh thiếu niên cho họp báo tường trình vụ việc đã tổng hợp, rồi kết luận, Sở ông không hề vi phạm chuẩn mực chuyên môn và các văn bản luật, nghĩa là không chịu trách nhiệm. Lập tức bị công luận bất bình lên tiếng phản bác dữ dội, cáo buộc Sở Thanh thiếu niên giũ bỏ trách nhiệm, đặt ra hàng loạt câu hỏi xoáy vào ngày 10.4.2012. Tại sao mới nghe nạn nhân nghiện chích trình bày, đã kết luận đứa trẻ không còn bị đe doạ mệnh hệ, không cần giám hộ tiếp? Tại sao không kiểm tra nạn nhân chuyển chỗ ở thực hay không? Tại sao 8 tuần liền không một nhà chức trách nào liên hệ với nạn nhân vốn được bác sỹ giám định đang nghiện?
Giũ bỏ trách nhiệm không có nghĩa nó tự động mất. Người dân không thể chấp nhận một thảm kịch đã xảy ra ai cũng trông thấy, mà không nhà chức trách nào gánh chịu trách nhiệm. Một khi cấp hành xử khẳng định mình đúng luật, thì chỉ có thể văn bản lập quy hoặc lập pháp sai, tức người đứng đầu hành chính, hành pháp và lập pháp phải đối mặt. Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố lập tức công bố quyết định thành lập một hội đồng giám định độc lập bao gồm các nhà khoa học, các bác sỹ, các nhà tâm lý học. Còn Bộ trưởng Nội vụ Tiểu bang bị điều trần trước Quốc hội về trách nhiệm phía cảnh sát. Các biên bản công vụ cảnh sát cho thấy, mấy tháng liền trước vụ chết thảm, tổng cộng 6 lần nạn nhân bị cơn nghiện hành hạ đập phá nhà cửa ầm ĩ hàng xóm, kèm theo mệnh hệ đứa trẻ bị đe doạ, được cảnh sát và bác sỹ cấp cứu tới can thiệp, và luôn báo kịp thời cho ASD. Chiếc thòng lọng trách nhiệm pháp lý trước thảm kịch đối với Chủ tịch thành phố, Sở Thanh thiếu niên đang siết dần, hiện chỉ chờ kết luận của hội đồng giám định.
Truy cứu trách nhiệm nhà chức trách không thể trông chờ vào mỗi bộ máy nhà nước vốn không thể nói trước không bao giờ trục trặc. Trong thể chế pháp quyền, đó còn là quyền cơ bản, tự bảo vệ của công dân trước sai phạm của nhà nước, pháp luật phải bảo hộ, trong xét xử được coi là đồng nguyên cáo với công tố. Của đau con xót, mẹ của Christin F lập tức đệ đơn kiện Chủ tịch thành phố, Giám đốc Sở Thanh thiếu niên và ASD, với cáo buộc tội hình sự bỏ mặc, gây hậu qủa chết người. Bằng chứng được đưa ra là cả người mẹ, lẫn chủ nhà cho thuê, người trông trẻ đã trình báo tình trạng nghiện chích của người mẹ đe doạ vận mệnh đứa con, với nhà chức trách, nhưng đã bỏ mặc dẫn tới thảm kịch. Các bị đơn lập tức bị Viện Kiểm sát cho điều tra phục vụ  khởi tố, thu thập chứng cứ, triệu tập thẩm vấn, thu giữ tài liệu…
Tuy nhiên, truy cứu trách nhiệm nhà chức trách dù nghiêm khắc tới đâu cũng chỉ là biện pháp chế tài để bảo đảm nhà nước luôn tự động vì dân, nhưng một khi thiệt hại đã xảy ra, cái người dân cần ở nguyên lý nhà nước vì dân chính là được bồi thường thiệt hại. Nước Đức sôi sục suốt từ đầu năm tới nay bởi hậu quả củanhóm cực hữu, NSU, sát hại tới 9 doanh nhân nhập cư Đức, xảy ra từ tháng  9.2000 – 6.2006, nhưng  mãi tới tháng 11.2011 nhà chức trách mới phát hiện được thủ phạm. Họ bị buộc gánh chịu trách nhiệm, phải thôi chức gồm: Chủ tịch Mật vụ Liên bang, mật vụ 2 tiểu bang, cùng Chủ tịch Cảnh sát Liên bang. Trước trách nhiệm không bảo vệ nổi quyền được sống cho 9 người dân, Chính phủ Đức phải công khai xin lỗi và chi ngân sách tới 486.440 Euro bồi thường cho gia đình họ, 10.000 Euro/ người cho vợ chồng con cái, 5.000 Euro/người cho anh chị em ruột, để chia sẻ giảm thiểu phần nào nỗi đau mất mát của họ.
Thời đại ngày nay, bất cứ chính quyền nào do dân dựng lên đều vì dân cả, nhưng đó chỉ mới điều kiện cần, tức tiền đề, muốn biến thành hiện thực nhà nước đó phải có khả năng thực hiện, tức điều kiện đủ, vốn hoàn toàn tùy thuộc ý chí người dân cùng thiết chế bộ máy nhà nước đó. Cũng như họ, ở ta  nhà nước được hiến định của dân do dân vì dân; vậy thực tế thiết chế bộ máy nhà nước họ đặt trách nhiệm hiến định đó lên “ đầu“ nhà chức trách liệu có thể  tham khảo để khắc phục tình trạng nhân sự bộ máy công quyền ta hiện nay như Nghị quyết Trung ương 4,  đã nêu, “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc“. “Không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm“. “Tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân“.
_______
Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

BIỂU TÌNH LÀ Ý THỨC TỰ NHIÊN TRƯỚC ĐỒNG LOẠI

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo SGTT 
Ngày 17.11, khi thảo luận về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XIII, dù nằm trong danh mục “chương trình chuẩn bị” (chứ không phải chính thức), nhưng một số đại biểu đã tranh luận khá gay gắt về luật biểu tình, về nguồn gốc, bản chất của hoạt động này, nhu cầu xã hội hiện nay cần – không cần một luật điều chỉnh về nó. Sài Gòn Tiếp Thị xin giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Sỹ Phương, cung cấp những thông tin nền tảng về vấn đề này.
Biểu tình khác bạo động
Trước hết cần phân biệt khái niệm biểu tình với thực tế biểu tình muôn hình vạn trạng, nếu không, sẽ như thầy bói xem voi, sờ thực tế cái tai định nghĩa ngay voi là cái quạt. Ngoại diên của khái niệm biểu tình là nhiều người tập trung lại theo nghĩa tập họp, tụ tập. Nhưng khác với tụ tập để lao động trong nhà máy vì mưu sinh, hay hội hè để vui chơi, đám ma đám cưới chia sẻ tình cảm gia đình, bán buôn trong chợ búa kiếm lời, hoặc bị tống tù do phạm tội, tụ tập biểu tình có nội hàm: xuất phát từ tâm, cùng nhau biểu thị tình cảm (biểu tình), thái độ, quan điểm của mình.
Như vậy, có ba dấu hiệu để phân biệt biểu tình với các khái niệm khác có cùng ngoại diên tụ tập: 1- Biểu thị, 2- Tự nguyện, 3- Xuất phát từ tâm.
Căn cứ ba dấu hiệu trên, có thể xác định khi nào thì được gọi là biểu tình.
Nếu tụ tập nhưng có sử dụng bạo lực, hoặc có hành vi xâm phạm lợi ích người khác, thì đó là bạo động, chứ không phải biểu tình. Giải thích tại sao nhiều cuộc biểu tình ở các nước hiện đại, đoạn chót bị đàn áp, cưỡng chế giải tán, do bị biến thành bạo động; đàn áp lúc đó là đàn áp bạo động chứ không phải đàn áp biểu tình.
Nếu tụ tập là do được trả tiền, được thuê mướn, hoặc cưỡng bức người khác, nghĩa là không tự nguyện, không phải từ tâm, thì đó là bè đảng, hoặc hình sự, không phải biểu tình.
Biểu tình chỉ có thể biểu thị bằng hiện diện, hình ảnh, tiếng nói, vì vậy nếu nhằm mục đích “chống lại“, thì phải hiểu chống lại bằng cách biểu thị, tức phản đối, hoàn toàn khác với chống đối mang tính loại bỏ như bạo động.
Là quyền cơ bản, không phụ thuộc dân trí
Biểu tình xuất phát từ “ý thức tự nhiên trước đồng loại“. “Tự nhiên“ nghĩa là bản năng, không phụ thuộc bất cứ yếu tố bên ngoài nào. Còn “ ý thức“ chỉ có ở con người. Biểu tình, vì vậy, là một dấu hiệu thuộc tính riêng có của con người, phân biệt với thế giới sinh vật còn lại, hoàn toàn không phụ thuộc trình độ nhận thức. Do đó, biểu tình không như có ý kiến ngộ nhân tuỳ thuộc dân trí, để khẳng định nước nào biểu tình được, nước nào không thể. Ngay cả nếu thừa nhận điều đó, thì cũng mâu thuẫn với sử liệu thế giới, biểu tình được ghi lại từ thời La Mã cổ đại. Không quốc gia nào ngày nay thấp hơn dân trí Lã Mã thời đó cả.
Biểu tình ở các nước hiện đại gắn với cuộc sống thường nhật như ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, làm việc, diễn ra có khi chỉ bởi hiện tượng một đưá con bị cha mẹ lạm dụng khủng khiếp hay một người đi tàu bị kẻ xấu giết dã man gây bất bình dân chúng, hoặc bởi các chính sách nhà nước ảnh hưởng lợi ích của bộ phận, giai tầng nào đó, buộc họ phải phản đối, hay chính phủ, các cơ quan công quyền tỏ ra bất lực, họ phải thể hiện bất tín nhiệm, hoặc bởi nhân quyền ở các nước khác vi phạm làm họ xót xa phải chia sẻ. Vì vậy, không thể gán cho biểu tình chỉ mỗi “chống Chính phủ nước mình hay một chủ trương của Chính phủ nước mình“, và càng không thể hiểu chống theo nghĩa chống đối. Ngộ nhận đó tất yếu dẫn tới hành vi ứng xử với biểu tình cực đoan. Chính để khắc phục nguy hại đó, Luật tụ tập biểu tình Đức VersammlG cấm biểu tình đòi hủy bỏ quyền biểu tình!
Biểu tình cũng như ăn ở, đi lại, làm việc… là bản năng, thuộc tính con người, nên trở thành quyền cơ bản “tạo hoá ban cho họ“, chứ không phải nhà nước, hay tôn giáo, hay bất cứ thế lực nào. Một khi đã là quyền cơ bản, thì một mặt các quyền đó bình đẳng ngang nhau ở chỗ đều mang tính chất bản năng thuộc tính người, mặt khác chúng tự động trở thành đối tượng chi phối của luật pháp, nghĩa là thuộc chức năng trách nhiệm của chính quyền phải bảo đảm.
Vì vậy không thể đặt câu hỏi “Liệu cái gọi là quyền biểu tình ấy có lớn hơn quyền được kiếm sống của người dân…“, như đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước phát biểu, trong khi cả hai đều là bản năng như nhau. Còn trong thực tế, đúng là có những cuộc biểu tình “xâm hại quyền tự do đi lại của người dân, xâm hại quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của người dân, buôn gánh bán bưng“, cũng giống như quyền làm việc có khi gây ô nhiễm môi trường, quyền tự do ăn uống nhưng khi bị bệnh lại lây nhiễm sang người khác, quyền đi lại bằng xe cộ, lại dẫn tới tai nạn chết người, nhưng không vì thế mà cấm hết những quyền đó. Ngược lại, vì thế mà loài người bắt buộc phải sinh ra nhà nước, cũng để bảo đảm quyền nọ không triệt tiêu quyền kia. Các luật liên quan tới quyền cơ bản, như luật biểu tình, lưu trú, giao thông, vệ sinh thực phẩm, trở thành tất yếu khách quan là vậy.
Ứng xử với quyền biểu tình
Là đối tượng điều chỉnh của luật pháp, biểu tình được các nước chọn lựa cách giải quyết xưa nay như sau:
Thứ nhất, không đả động đến. Trong trường hợp đó, người dân biểu tình hay không, nhà nước cho phép hay đàn áp, đều hoàn toàn tự phát và tùy tiện xử lý, hậu quả là cả nhà nước và công dân đều thiệt hại. Cuối cùng vẫn buộc phải đề cập đến nó theo những cách thức dưới đây.
Thứ hai, không thừa nhận quyền biểu tình và cấm tuyệt đối nó, thường xảy ra ở những chế độ quân chủ độc tài. Lịch sử thế giới đã chứng minh sự sụp đổ tất yếu của nó, bởi không thể tước bỏ thuộc tính người vốn dĩ chỉ có ở con người.
Thứ ba, hiến định quyền biểu tình nhưng thiếu luật điều chỉnh. Nước Đức từng xảy ra như vậy trong bốn năm sau khi ban hành Hiến pháp năm 1949. Kết qủa, biểu tình vẫn được tổ chức như vốn có, không hề thay đổi, bởi đã được hiến định, nhà nước không thể cấm. Tuy nhiên, chính quyền không chủ động ngăn ngừa trước được thiệt hại hay biến thái thành bạo động có thể xảy ra, và khi xảy ra thì xử lý lúng túng, phải áp dụng luật dân sự hoặc luật hình sự phức tạp.
Thứ tư, hiến định quyền biểu tình, bảo đảm quyền này bằng toà Bảo hiến và ban hành văn bản lập pháp bảo đảm chắc chắn nó. Đó là lựa chọn duy nhất hiện nay ở các nước hiện đại. Hiến pháp và toà Bảo hiến buộc nhà nước phải bảo đảm thực thi quyền cơ bản của công dân trong đó có quyền biểu tình. Bởi nói nhà nước dân chủ, của dân, do dân, vì dân, rốt cuộc cũng chỉ nhằm bảo đảm quyền cơ bản cho họ, chứ không phải thay họ lo cho cuộc sống của họ, vốn chưa và không nhà nước nào làm nổi. Ngược lại, quyền cơ bản một khi được bảo đảm sẽ kích thích người dân không ỷ lại mà làm chủ nhà nước, sử dụng quyền đó để vừa tham gia vừa đòi hỏi các công bộc nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách sao cho phù hợp với nhu cầu của mình. Nhà nước không phải thánh, cái gì cũng đúng, vì vậy mọi chính sách của nó cần được thực tế kiểm nghiệm, không đâu chính xác hơn ngoài chính người dân chịu sự chi phối trực tiếp của chính sách, mà biểu tình là sự phản ảnh tập trung nhất. Điều này giải thích tại sao các nước hiện đại khuyến khích biểu tình, phản biện, trưng cầu dân ý, và bất cứ quyết định nào của cơ quan hành chính từ phạt xe chạy phạm luật đến mức thuế phải đóng, giải quyết các đơn từ, đều bắt buộc phải có phần hướng dẫn, ông bà có quyền chống lại quyết định này tại cơ quan nào, ở đâu, nếu vẫn không thoả mãn thì tại toà án nào. Nhờ có Luật biểu tình, những biến thái chuyển sang bạo động sẽ được tham chiếu với các quy phạm trong luật biểu tình để ngăn ngừa. Toà Bảo hiến sẽ bảo đảm cho luật hoặc văn bản dưới luật ban hành không thể vi hiến, nếu Chính phủ muốn “nhẹ gánh“ bằng cách ban hành luật hạn chế quyền biểu tình.
Thứ năm, hiến định quyền biểu tình, nhưng chưa có toà án hiến pháp bảo đảm và thiếu văn bản lập pháp điều chỉnh. Đó là trường hợp ở nước ta (xem điều 69 Hiến pháp 1992). Các cuộc biểu tình ở Thái Bình trước đây đã gây hậu quả thiệt hại cho cả người biểu tình lẫn nhà nước, xử lý rất phức tạp hay biểu tình ở Hà Nội vừa qua dẫn tới phiền lụy cho chính những người biểu tình “thể hiện lòng yêu nước“, lẫn chính quyền vì mất công sức xử lý nhưng thiếu văn bản lập pháp làm cơ sở, thấy hệ lụy tất yếu phải đến của cách chọn lựa trên. Nếu cứ để thế mãi chưa biết tình hình sẽ tiến triển tới đâu? Đề xuất cần có luật biểu tình của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp đó, là phản ứng cần thiết, kịp thời, thể hiện bản lĩnh chính trị cần có của người đứng đầu Chính phủ ở các quốc gia hiện đại trước bức xúc của dân chúng.
Câu hỏi đặt ra cho Quốc hội-có chức năng lập pháp- không còn là có cần ban hành luật biểu tình hay việc ban hành luật này có gây tổn hại gì. Câu hỏi bây giờ là luật biểu tình phải đặt ra những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự như thế nào cho cả chính quyền lẫn người biểu tình, để quyền hiến định này được thực thi và trong trường hợp bạo động xảy ra, sẽ chế tài kịp thời. Trả lời câu hỏi trên không qúa khó khăn, nếu nghiên cứu luật biểu tình các nước, cùng khảo sát thực tế biểu tình ở họ vốn diễn ra thường nhật. Đó chính là căn cứ thực tiễn thế giới để tham khảo xây dựng luật biểu tình.
___
Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

ĐẤT ĐAI, NGUYÊN LÝ VÀ THƯỚC ĐO THỰC TẾ


TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, trích từ basamnews
22-06-2012
Đất đai bất ổn tranh chấp chiếm tới 70% người dân khiếu kiện, lên đến đỉnh điểm đối đầu với chính quyền điạ phương như Văn Giang, Tiên Lãng, được Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông Nguyễn Bắc Son cho rằng: “Luật không sai mà tổ chức thực hiện sai“ có thể gây ngộ nhận, mọi trách nhiệm thuộc về cơ quan hành chính thực thi. Luật sinh ra không phải chỉ để chế tài người dân, mà quan trọng hơn, cả cơ quan công quyền tham gia vào mối quan hệ luật pháp đó, cả hai phải tuân thủ những quy phạm, chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự định sẵn, nhằm mục đích tối thượng bảo đảm lợi ích cho người dân vốn là chủ nhân đất nước. Vì vậy, chừng nào lợi ích đó chưa bảo đảm thì chừng đó, không riêng gì tổ chức thực hiện, toàn bộ quy trình từ soạn thảo, thông qua, ban hành, thực hiện, áp dụng, đều phải xem lại; thực trạng bất ổn tranh chấp đất đai tới mức hiện nay càng đặt ra đòi hỏi bức bách đó.
Nguyên thủy, đất đai trong nền kinh tế thị trường (KTTT) có chức năng vừa tạo ra giá trị gia tăng như mọi tư liệu sản xuất, đầu tư như vốn, dự trữ như vàng, trao đổi ngang giá như tiền, vừa là tư liệu tiêu dùng, nên không nằm ngoài bản chất nền kinh tế, tham gia quyết định trở lại nó. Chuyển sang nền  kinh tế quản lý tập trung (KTQLTT), phủ định sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, đất đai cũng không ngoại lệ, không còn quyền sở hữu pháp lý, chỉ còn đóng vai trò tư liệu tiêu dùng, tức quyền sử dụng; nhà nước đáp ứng nhu cầu sử dụng đó cho công dân, nên đất đai lẽ tự nhiên được coi là sở hữu toàn dân, hiểu theo nghĩa chính trị, nhà nước quản lý, phân bổ vì lợi ích toàn dân. Giải thích tại sao đất đai trong KTQLTT hiếm khi tranh chấp, càng không thể khủng hoảng như thường thấy trong nền KTTT, bởi nó không phải đối tượng kinh doanh, không thụôc phạm trù thị trường.
Cần phân định khái niệm sở hữu toàn dân“là của chung“, khác với khái niệm “quyền sở hữu pháp lý“ của riêng từng cá thể vốn chỉ được xác lập một khi bao hàm đầy đủ cả 3 quyền: chiếm hữu (xác lập chủ sở hữu đối với đối tượng sở hữu bằng văn bản pháp lý), định đoạt (mua bán tức thay đổi chủ sở hữu, thừa kế, cho tặng), và sử dụng. Với nội hàm “nhà nước quản lý phân bổ vì lợi ích toàn dân“, khái niệm sở hữu toàn dân không phải riêng có trong nền  KTQLTT mà được sử dụng mặc nhiên ở mọi quốc gia, thể chế. Bởi tất cả những gì, từ con người tới tài sản, vật chất, tinh thần… thuộc quốc gia nào đều sở hữu của quốc gia đó. Thực tế cả 2 nền KTQLTT và KTTT, ở mọi quốc gia, đất đai được dành cho phát triển cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông, điện, nước, các công trình công cộng, nhà trường, bệnh viện… bất cứ lúc nào cần, không hề phụ thuộc khái niệm sở hữu toàn dân được đặt ra hoặc hiến định hay không.  Sở hữu toàn dân, vì vậy, dù mặc định hay hiến định, bản chất vẫn là một khái niệm chính trị liên quan tới lợi ích chung toàn dân, quốc gia, không thể thay thế khái niệm sở hữu pháp lý dùng để phân biệt lợi ích cùng trách nhiệm pháp lý của từng người dân đối với tài sản của họ trong quốc gia đó.
Ở ta, đất đai tranh chấp giữa người dân lẫn nhau và với chính quyền tới mức đối đầu hiện nay chính do thiếu khái niệm sở hữu pháp lý về đất đai bắt buộc phải có trong KTTT, gây nên khoảng trống pháp lý trên thị trường đất đai. Thị trường được định nghĩa là nơi mua bán, chuyển quyền sở hữu pháp lý từ người bán sang người mua, ngang giá với số tiền người mua phải trả cho người bán theo thoả thuận. Vì vậy, một khi quyền sở hữu pháp lý, bất kỳ sở hữu gì, không được thiết lập, thị trường sẽ khó tránh khỏi “mua như cướp, bán như cho“, chính là bản chất tranh chấp, đối đầu về đất đai hiện nay, bởi xung khắc lợi ích giữa „cho“ và „cướp“, mà cưỡng chế Văn Giang hay Tiên Lãng là 1 điển hình. Để khắc phục khoảng trống pháp lý, nhằm tạo lập thị trường kinh doanh đất đai theo đòi hỏi bắt buộc của nền KTTT, nội hàm quyền sử dụng đất được luật pháp nước ta bổ sung thêm quyền mua bán, thừa kế, vốn thuộc nội hàm quyền định đoạt (mặc dù mâu thuẫn với hệ thống khoa học pháp lý thế giới, vi phạm nguyên lý logic học, hệ lụy không thể hội nhập với họ trong  phạm trù đất đai). Nhưng quyền chiếm hữu nằm trong quyền sở hữu pháp lý đất đai – yếu tố nhà nước xác nhận chủ sở hữu pháp lý (không liên quan tới chủ sở hữu chính trị đối với đất đai, của toàn dân do nhà nước đại diện, đã được hiến định), để bảo vệ trước tranh chấp và quy trách nhiệm chủ sở hữu đối với đối tượng sở hữu, hiện vẫn chưa được xác lập; đất đai vì vậy vẫn luôn trong tình trạng có thể xảy ra tranh chấp giữa người dân với nhau hoặc với nhà nước; bất cứ ai được quyền sử dụng nó đều bất an, kể cả cơ quan nhà nước, trong khi lại kích thích lòng tham lạm dụng hoặc chiếm đoạt đối với nhà chức trách hành xử.
Ở các quốc gia hiện đại, do đất được thừa nhận có chủ sở hữu pháp lý, chủ nhân có quyền chiếm hữu, định đoạt, sử dụng nó, nên được pháp luật bảo vệ chặt chẽ trước khả năng tranh chấp, hay chiếm đoạt; chủ sở hữu bị chế tài không để đất mình sở hữu gây thiệt hại lợi ích các bên liên quan. Ở Đức, hàng năm, chủ đất phải đóng phụ phí, như tiền  bảo hiểm đất để bồi thường những thiệt hại ngộ xảy ra trên thửa đất đó, phải đóng tiền thoát nước mưa nước thải, phải đóng thuế đất để nhà nước chi cho công việc quản lý lĩnh vực đất đai. Chỉ riêng tổng phụ phí, nếu một thửa đất không sinh lời, thì chỉ chừng dăm bảy chục năm sau sẽ ngang bằng trị giá đất khởi thuỷ; giải thích tại sao ở Đức không thiếu chủ đất hiến tặng đất cho nhà nước hay cho tổ chức, hội đoàn, hoặc bán giá 1 Euro.
Tới lượt mình, với chức năng quản lý tài nguyên đất đai, nhà nước họ đã tạo dựng được một hệ thống pháp lý và bộ máy quản lý hành chính đất đai chặt chẽ bảo đảm quyền sở hữu pháp lý đất đai vốn thuộc quyền cơ bản của con người được hiến định bất khả xâm phạm; nhờ đó, nhà  nước họ có đủ mọi căn cứ để giải quyết “thu hồi“ thoả đáng khi thực hiện quyền sở hữu toàn dân về mặt chính trị đặt ra; trên thực điạ, mọi thửa đất đều có cọc mốc chìm đóng chết phân định ranh giới với các thửa đất liền kề, với đường đi, không thể bị lấn chiếm hay thoái thác trách nhiệm khi gây thiệt hại; hồ sơ được lưu trữ tại Toà án, cùng mọi cơ quan chức năng liên quan. Mọi giao dịch mua bán, xây dựng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, “thu hồi“ (quốc hữu hoá)… đều được luật pháp quy định chi tiết, thể hiện trên các giấy tờ hồ sơ lưu trữ. Việc đất được nhà nước “thu hồi“ cho mục đích công, bao giờ cũng mang lại may mắn cho chủ sở hữu, lợi ích cao hơn bán nó, nên không thể xảy ra đối đầu; mua bán là giao dịch dân sự thuận mua vừa bán không thể tranh chấp, không liên quan gì tới nhà nước để can thiệp, ngoại trừ chính họ vi phạm hợp đồng 2 bên dẫn tới kiện cáo. Giá đất tại bất cứ thửa nào thuộc khu vực nào, muốn mua hoặc bán chỉ cần gọi điện tới cơ quan quản lý đất đai, lập tức nhận được ngay giá chính xác đúng thực tế trên thị trường tại thời điểm đó. Không thể rửa tiền tham nhũng hay lậu thuế bằng mua bán đất, bởi chủ sở hữu bao giờ cũng có tên trong danh sách đóng thuế đất, và với những giao dịch thanh toán vượt quá ngưỡng luật định đều được tự động chuyển qua cảnh sát kinh tế chịu trách nhiệm trước pháp luật thụ lý, khó có thể thoát. Còn bán giá thấp trên giấy tờ, tiền chênh lệch nhận ngoài sổ sách, sẽ gặp phải chế tài, nhà nước có quyền mua trước đối với bất cứ thửa đất nào lúc bán. Không như ở ta, giá bán trên hợp đồng có thể thấp tới 10 lần giá thị trường do nhà nước công bố; đất đai vì vậy không chỉ bất ổn tranh chấp, mà còn trở thành nền kinh tế ngầm, đầy thực ảo, không thể kiểm soát; đó mới là trách nhiệm quản lý kinh tế tài chính của nhà nước về đất đai đáng quan tâm nhất, nếu thực sự coi đất đai là tài sản vô giá sở hữu bởi và vì toàn dân.
Thực tế đất đai yên ổn của họ, chắc chắn cả người dân lẫn nhà chức trách nước ta đều mong muốn. Nhưng không một yên ổn nào có thể đạt tới, nếu không bắt đầu từ một  nền móng vững chắc; đất đai vì vậy phải cải cách từ nền tảng Hiến pháp tới mọi đạo luật liên quan, cùng bộ máy chuyên môn thực thi, một khi thực tế vốn là “thước đo của chân lý“ đã kiểm chứng, không thể bác bỏ.
N.S.P.
________
Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

HIẾN PHÁP VÀ QUYỀN CHẤT VẤN CHÍNH PHỦ

TS Nguyễn Sỹ Phương*, theo Tia Sáng
Đề án “tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Quốc hội“ với đề xuất, “Quốc hội sẽ tăng cường hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn“… may mắn ra đời đúng vào giai đoạn sửa đổi Hiến pháp. Bởi quyền và khả năng chất vấn chính phủ hoàn toàn do Hiến pháp định đoạt, một khi không giải quyết được từ nền tảng gốc rễ này, thì đề án có đặt ra mục tiêu cao cả, biện pháp thần kỳ tới mấy, cũng không thể vượt qua giới hạn Hiến pháp cho phép, tức không khả thi, giá trị chỉ như một bản luận án khoa học thuần túy.
Quyền chất vấn chính phủ được hiến định gián tiếp ở nhiều nước, hoặc trực tiếp như Hiến pháp nước ta năm 1992, điều 98 quy định: Đại biểu Quốc hội có “quyền” chất vấn tất cả, từ “Chủ tịch nước” tới cấp thấp nhất “các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang”. Phiá được chất vấn “phải“ trả lời. Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, điều 73 cũng tương tự, chỉ khác phạm vi hẹp hơn, giới hạn chỉ trong “phiên họp“ và chỉ nhắm vào chính phủ cùng các bộ và ủy ban (như thực tế các phiên chất vấn ở Quộc hội ta hiện nay). Hiến pháp Đức hiện hành, điều 43, còn đi xa hơn không chỉ nói mà cả hành động: “Quốc hội và các Ủy ban có thể đòi bất cứ thành viên nào của chính phủ hiện diện“.
Khác với người dân được phép làm tất cả chỉ trừ những gì luật pháp cấm, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp cho phép, do đó để thực hiện được quyền chất vấn hiến định cần đưa ra được những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự của một văn bản pháp lý buộc cả hai phiá chất vấn và bị chất vấn phải tự động thực hiện nếu không sẽ bị chế tài (điều kiện cần).
Có thể  nhận thấy điều kiện cần đó qua thiết chế cơ quan lập pháp Đức, về quyền chất vấn hiến định, Luật Hoạt động Quốc hội Đức quy định thi hành chi tiết, với những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự, chặt chẽ, không thể thực hiện khác đi theo động cơ hay nhận thức chủ quan cá nhân, hoặc bởi bất cứ áp lực nào. Phụ lục 4, Mục 1, Quyền chất vấn, quy định: Mỗi tuần họp Quốc hội đều có phiên chất vấn không quá 180 phút, mỗi nghị sỹ có quyền đặt tối đa 2 câu hỏi, mỗi câu không qúa 2 điểm, yêu cầu chính phủ trả lời miệng. Câu hỏi và trả lời phải ngắn, đi vào vụ việc cụ thể, không được nhận xét đánh giá chung chung. Người hỏi có quyền lục vấn tiếp người trả lời không qúa 2 câu. Người điều khiển phiên họp chỉ được phép cắt câu hỏi lục vấn khi không liên quan tới câu hỏi chính. Mục 2: Thủ tục đặt câu hỏi: Câu hỏi phải gửi Chủ tịch Quốc hội trước 10 giờ ngày thứ 6 của tuần họp trước , đồng gửi Chính phủ trước 12 giờ, và chỉ được đưa vào nghị trình khi thoả mãn đòi hỏi ở mục 1. Những câu hỏi khẩn cấp phải trình trước 12 giờ của ngày trước đó. Mục 3: Chủ tịch Quốc hội mời chất vấn theo số thứ tự câu hỏi và tên người hỏi. Những câu hỏi khẩn cấp sẽ ưu tiên trước. Câu hỏi chỉ được trả lời miệng khi có mặt người hỏi; nếu không, sẽ được trả lời bằng văn bản nếu người hỏi đề nghị trước phiên họp với Chủ tịch Quốc hội. Những câu hỏi hết thời gian trả lời, Chính phủ phải trả lời bằng văn bản, cũng được đưa vào biên bản cuộc họp. Mục 4: Câu hỏi bằng văn bản: Mỗi Nghị sỹ có quyền, mỗi tháng gửi Chính phủ tối đa 4 câu hỏi, và Chính phủ trả lời bằng văn bản sau khi nhận trong vòng 1 tuần. Nếu quá thời hạn trả lời, người hỏi có thể đòi phải trả lời miệng đầu tiên trong phiên chất vấn tiếp đó. Nếu Chính phủ trả lời kịp trước khi chất vấn, thì tại phiên chất vấn phải giải thích lý do chậm trễ. Phụ lục 7: Quyền tìm hiểu công việc Chính phủ, được quy định tiến hành vào thứ 4 tuần họp, từ 13 giờ – 13 giờ 30. Nghị sỹ được phép hỏi miệng không cần gửi câu hỏi trước như phiên chất vấn, để biết về những vấn đề bàn thảo trong cuộc họp định kỳ hàng tuần của Chính phủ trước đó. Trước khi bắt đầu, đại diện Chính phủ được nói lời mở đầu, nếu có người yêu cầu, không quá 5 phút.
Với những chuẩn mực pháp lý đong đo đếm được trên, trong năm 2011, nghị sỹ Đức đã chất vấn Chính phủ tới 6.545 câu hỏi, tính ra mỗi nghị sỹ chất vấn Chính phủ trên 10 câu trong 1 năm, chưa kể các câu lục vấn.
Quyền chất vấn được hiến định, luật hoá, chỉ mới là tiền đề, tức điều kiện cần, muốn thực hiện được phải có điều kiện đủ, tức Quốc hội phải đủ khả năng, thực lực thực hiện quyền chất vấn đó, nếu không sẽ “lực bất tòng tâm“. Muốn biết thực lực Quốc hội cỡ bao nhiểu là đủ so với quyền chất vấn đặt ra trong đề án “tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Quốc hội“, cần phải lượng hoá được điểm xuất phát thực lực Quốc hội ta hiện nay, trong các mối quan hệ so sánh.Khối lượng lập pháp 5 năm nhiệm kỳ trước, Quốc hội ta ban hành được 68 luật và 12 nghị quyết, tương đương 20 văn bản lập pháp / năm. Để hình dung độ lớn của nó, có thể tham khảo con số đó ở Đức tương đồng dân số và diện tích như nước ta. Cùng nhiệm kỳ đó, Quốc hội  họ thông qua tới 101 luật, gấp chừng 505 % nước ta. Để có kết qủa trên, họ phải họp 69 phiên toàn thể, bình quân mỗi tháng 5 phiên, mỗi tuần hơn 1 phiên với ít nhất 1 buổi chất vấn, chưa kể chất vấn tại các ủy ban; ở ta số phiên họp chỉ giới hạn trong 2 kỳ tập trung của 1 năm, với mỗi kỳ chỉ 1 phiên chất vấn, ước bằng khoảng 2/69 của họ.
Sự khác nhau về công sức bỏ ra và kết qủa đạt được ở trên, bắt nguồn trực tiếp từ tương quan so sánh thực lực 2 bên. Quốc hội ta chỉ có 494 đại biểu, trong đó lại chỉ có 100 đại biểu chuyên trách, nếu quy đổi thời lượng làm việc 2 kiêm nhiệm tối đa bằng 1 chuyên trách, thì thực tế chỉ còn 297 đại biểu, chưa bằng một nửa so với Đức 622 nghị sỹ. Nếu lấy lịch làm việc quy đổi, quốc hội Đức làm việc liên tục 11 tháng (trừ nghỉ phép 1 tháng), mỗi tháng 2,25 tuần họp liên tục, so với quốc hội ta chỉ làm việc tập trung 2 tháng x 4,5 tuần/tháng, thì thời lượng Quốc hội họ làm việc gấp gần 3 lần ta. Nếu cộng chung cả yếu tố chênh lệch số đại biểu, thì thời lượng quốc hội họ làm việc gấp tới 6 lần ta. Đã thế, mỗi nghị sỹ họ được cấp ngân sách đủ trả lương cho 3 trình độ đại học giúp việc / 1 nghị sỹ, nghĩa là qũy thời gian của 1 nghị sỹ họ gấp 4 lần ta chỉ mình đại biểu quốc hội “đơn thương độc mã“. Cộng tiếp yếu tố này, thời lượng họ làm việc nhiều gấp ta ước 24 lần.
Giả sử chất lượng văn bản luật ngang nhau, lấy số văn bản luật 2 bên đã hoàn thành chia cho tổng thời lượng thực hiện, để so sánh, thì năng suất họ chỉ bằng 20% ở ta, nghĩa là nghị sỹ ta nỗ lực gấp họ 4 lần. Ngược lại, nếu giả thiết 2 bên trình độ và nỗ lực ngang nhau, thì do thời lượng chi phí của họ gấp 24 lần ta, nên văn bản luật của họ không chỉ số lượng gấp ta hơn 5 lần, mà chất lượng cũng gấp ta tới 4 lần. Thực tế không thể định lượng tuyệt đối, nhưng chắc chắn tỷ lệ giữa 2 nước phải nằm trong khoảng 2 giới hạn giả định trên.
Nếu điều kiện cần cho đề án, có thể dễ dàng tham khảo chọn lọc văn bản luật pháp các nước tiên tiến, như đưa ra quy định số lượng, thời lượng, trách nhiệm chất vấn và trả lời chất vấn tương tự cách thức của Đức chẳng hạn, thì việc bảo đảm điều kiện đủ, tức để Quốc hội đủ khả năng thực hiện nó, khắc phục thực lực hiện nay như đã dẫn, lại đặt ra hàng loạt vấn đề cải cách thể chế, mà đối tượng đầu tiên chính là bản thân Quốc hội, và trước hết phải bắt đầu từ nền tảng các điều khoản Hiến pháp liên quan. Bởi chính Hiến pháp 1992 đã giới hạn khả năng chất vấn của Quốc hội cả về lực lượng lẫn thời gian. Về thời gian hoạt động của Quốc hội, điều 86 Hiến pháp đã giới hạn sẵn: Quốc hội mỗi năm 2 kỳ họp, vô hình trung đặt Quốc hội vào tình thế bất khả kháng, dù  năng lực ý chí cao tới đâu, cũng không thể chất vấn tầm cấp như Đức cần 11 tháng họp định kỳ. Về lực lượng, đã gọi là Đại biểu Quốc hội, thì họ chỉ đóng vai trò đại biểu, xuất phát từ  bầu cử, chứ không phải toàn những nhà thông thái “tài tử chính trị“, nên cần phải đầu tư công sức thời gian cật lực cho công việc, may ra mới hoàn thành được trọng trách cao cả nhất do cử tri giao phó, nhưng Điều 100 Hiến pháp không thể chế tài họ, mà chỉ có thể kêu gọi tinh thần: “Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu“, xuất phát từ thiết chế Quốc hội cơ cấu Đại biểu không chuyên nghiệp, tức không dùng 100% qũy thời gian làm việc, không sống bằng tiền lương nghị sỹ, làm sao đủ thời gian tâm huyết, để có thể chất vấn “đúng“ và “trúng“ ? Ở Đức lao động thời lượng như vậy được gọi lao động bán phần hay làm thêm. Họ không đủ khả năng và cũng không thể đòi họ đóng vai trò chuyên gia cho công việc đó !
——
* TS. CHLB Đức
___
Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

19 ĐIỀU VỀ QUYỀN CƠ BẢN - 19 YẾU TỐ CẤU THÀNH NỀN DÂN CHỦ BỀN VỮNG Ở ĐỨC



Tác giả bản dịch: Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn bản gốc Tiếng Đức: tại Website chính thức của
Bundeszentrale für politische Bildung (BPB), truy cập tại đây

Nội dung và cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản là linh hồn của bất kỳ một bản Hiến pháp nào. 
19 Điều đầu tiên của Luật cơ bản năm 1949 là 19 qui định về quyền cơ bản và cũng chính là 19 viên đá tảng gắn kết tạo dựng nên nền dân chủ bền vững ở Đức. 
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của những điều luật, tác giả xin trân trọng công bố và giới thiệu đến bạn đọc bản dịch tham khảo Tiếng Việt từ nguyên bản Tiếng Đức 19 quyền cơ bản trong Luật cơ bản (Grundgesetz) của CHLB Đức này.  
Bản dịch Tiếng Việt dưới đây cũng như những bản dịch khác đã giới thiệu trên trang blog cá nhân này chỉ mang tính chất tham khảo. Tác giả bản dịch hoàn toàn không chịu trách nhiệm pháp lý về bất cứ sự trùng lặp, sao chép hay suy luận nào khác đáng tiếc liên quan đến bản dịch này có thể xảy ra. Tác giả bản dịch rất mong nhận được các ý kiến đóng góp thiện chí của bạn đọc gửi về địa chỉ email nguyenminhtuan_hn@yahoo.com để hoàn thiện bản dịch này và các bản dịch văn bản pháp luật khác. (NMT)
 
I. CÁC QUYỀN CƠ BẢN (I. GRUNDRECHTE)

Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 1 
[Menschenwürde; 
Grundrechtsbindung der staatlichen Gewalt]
(1) Die Würde des Menschen ist unantastbar. Sie zu achten und zu schützen istVerpflichtung aller staatlichen Gewalt.
(2) Das Deutsche Volk bekennt sich darum zu unverletzlichen undunveräußerlichen Menschenrechten als Grundlage jeder menschlichen Gemeinschaft,des Friedens und der Gerechtigkeit in der Welt.
(3) Die nachfolgenden Grundrechte binden Gesetzgebung, vollziehende Gewalt undRechtsprechung als unmittelbar geltendes Recht.



Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 1
Bảo vệ nhân phẩm; 
Sự ràng buộc của quyền lực nhà nước 
bởi các quyền cơ bản
(1) Nhân phẩm là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ  nhân phẩm là nghĩa vụ của tất cả các nhánhquyền lực nhà nước.
(2) Nhân dân Đức vì thế thừa nhận việc nhân quyền (Menschenrechte) là bất khảxâm phạm và không thể bị lạm dụng như là nền tảng của cộng đồng, hoà bình vàcông lý trên toàn thế giới.
(3) Các quyền hạn cơ bản dưới đây ràng buộc trực tiếp cáccơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 2
[Allgemeine Handlungsfreiheit; 
Recht auf Leben; Körperliche Unversehrtheit, 
Freiheitder Person]
(1) Jeder hat das Recht auf die freie Entfaltung seiner Persönlichkeit, soweiter nicht die Rechte anderer verletzt und nicht gegen die verfassungsmäßigeOrdnung oder das Sittengesetz verstößt.
(2) Jeder hat das Recht auf Leben und körperliche Unversehrtheit. Die Freiheitder Person ist unverletzlich. In diese Rechte darf nur auf Grund eines Gesetzeseingegriffen werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 2
Quyền tự do hành động, 
quyền sống, quyền bất khả xâm phạm thân thể,
quyền tự do cá nhân.
(1). Mọi người đều có quyền  phát triển tính cách riêng của mình trong phạmvi mà người đó không xâm phạm đến quyền tự do của những người khác, không vi phạmtrật tự hợp hiến hay luân lý đạo đức.
(2) Mọi người đều có quyền sống và bất khả xâm phạm vềthân thể. Quyền tự do của con người là bất khả xâm phạm. Chỉ có dựa trên cơ sởcủa một đạo luật (Gesetz) mới có thể can thiệp (Eingriff) vào những quyền này.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 3
[Gleichheit vor dem Gesetz; 
Gleichberechtigung von Männern und Frauen; 
Diskriminierungsverbote]
(1) Alle Menschen sind vor dem Gesetz gleich.
(2) Männer und Frauen sind gleichberechtigt. Der Staat fördert die tatsächlicheDurchsezung der Gleichberechtigung von Frauen und Männern und wirkt auf dieBeseitigung bestehender Nachteile hin.
(3) Niemand darf wegen seines Geschlechtes, seiner Abstammung, seiner Rasse,seiner Sprache, seiner Heimat und Herkunft, seines Glaubens, seiner religiösenoder politischen Anschauungen benachteiligt oder bevorzugt werden.
Niemanddarf wegen seiner Behinderung benachteiligt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 3
Bình đẳng trước pháp luật; 
bình quyền giữa nam và nữ; 
cấm phân biệt đối xử
(1) Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
(2) Nam, nữ là bình quyền. Nhà nước thúc đẩy việc thựcthi quyền bình đẳng nam nữ và từng bước loại bỏ những hạn chế hiện còn đang tồntại.
(3) Không ai bị thiên vị hoặc bị phân biệt đối xử vìgiới tính, dòng dõi, chủng tộc, ngôn ngữ, quê quán và nguồn gốc, tôn giáo, tínngưỡng hoặc các quan điểm chính trị. Không ai bị phân biệt đối xử vì tàn tật.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 4
[Glaubens-, Gewissens- 
und Bekenntnisfreiheit]
(1) Die Freiheit des Glaubens, des Gewissens und die Freiheit des religiösenund weltanschaulichen Bekenntnisses sind unverletzlich.
(2) Die ungestörte Religionsausübung wird gewährleistet.
(3) Niemand darf gegen sein Gewissen zum Kriegsdienst mit der Waffe gezwungenwerden. Das Nähere regelt ein Bundesgesetz.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 4
Tự do tôn giáo, 
tự do nhận thức vàtự do tín ngưỡng
(1) Tự do về tín ngưỡng, nhận thức và tự do theo mộttôn giáo hoặc tự do theo một  thế giới quan nào đó là bất khả xâm phạm.
(2) Hoạt động tôn giáo một cách ôn hòa được bảo vệ.
(3) Không ai bị ép buộc cầm vũ khí phục vụ chiếntranh. Các điều khoản chi tiết do một đạo luật của liên bang qui định.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 5
[Meinungs-, Informations-, 
Pressefreiheit; Kunst und Wissenschaft]
(1) Jeder hat das Recht, seine Meinung in Wort, Schrift und Bild frei zu äußernund zu verbreiten und sich aus allgemein zugänglichen Quellen ungehindert zuunterrichten. Die Pressefreiheit und die Freiheit der Berichterstattung durchRundfunk und Film werden gewährleistet. Eine Zensur findet nicht statt.
(2) Diese Rechte finden ihre Schranken in den Vorschriften der allgemeinenGesetze, den gesetzlichen Bestimmungen zum Schutze der Jugend und in dem Rechtder persönlichen Ehre.
(3) Kunst und Wissenschaft, Forschung und Lehre sind frei. Die Freiheit derLehre entbindet nicht von der Treue zur Verfassung.


Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 5
Tự do ngôn luận, 
tự do thông tin, tự do báo chí; 
tự do nghệ thuật và tự do khoa học
(1) Mọi công dân đều có quyền tự do thể hiện suy nghĩ của mình bằng lời nói,chữ viết, hình ảnh, mở rộng và phổ biến nó qua các phương tiện chung không bị hạnchế. Tự do báo chí và tự do thông tin qua truyền thanh và phim ảnh được bảo đảm.Không có bất cứ sự kiểm duyệt nào.
(2) Những quyền này bị giới hạn trong những qui định củanhững đạo luật chung, trong các điều khoản luật bảo vệ thanh niên, và quyền tôntrọng danh dự cá nhân.
(3) Nghệ thuật và khoa học, nghiên cứu và giảng dạy đều được tự do. Tự do giảng dạy phải trung thành với Hiến pháp.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 6
[Ehe und Familie; 
nichteheliche Kinder]
(1) Ehe und Familie stehen unter dem besonderen Schutze der staatlichenOrdnung.
(2) Pflege und Erziehung der Kinder sind das natürliche Recht der Eltern unddie zuvörderst ihnen obliegende Pflicht. Über ihre Betätigung wacht diestaatliche Gemeinschaft.
(3) Gegen den Willen der Erziehungsberechtigten dürfen Kinder nur auf Grundeines Gesetzes von der Familie getrennt werden, wenn die Erziehungsberechtigtenversagen oder wenn die Kinder aus anderen Gründen zu verwahrlosen drohen.
(4) Jede Mutter hat Anspruch auf den Schutz und die Fürsorge der Gemeinschaft.
(5) Den unehelichen Kindern sind durch die Gesetzgebung die gleichenBedingungen für ihre leibliche und seelische Entwicklung und ihre Stellung inder Gesellschaft zu schaffen wie den ehelichen Kindern.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 6
Hôn nhân và gia đình; 
con ngoài giá thú
(1) Hôn nhân và gia đình được hưởng sự bảo vệ đặc biệtcủa nhà nước.
(2) Việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em là quyền tựnhiên của cha mẹ và là trách nhiệm ràng buộc của cha mẹ. Nhà nước giám sát chamẹ trong việc thực hiện trách nhiệm này.
(3) Trẻ em được tách khỏi gia đình mà không theo nguyệnvọng của cha mẹ hoặc người bảo hộ của chúng chỉ dựa trên cơ sở của một đạo luật,hoặc khi cha mẹ hay người giám hộ không thực hiện trách nhiệm của họ hoặc khi trẻem bị ngược đãi.
(4) Mọi bà mẹ đều có quyền yêu cầu sự chăm sóc và bảovệ của cộng đồng.
(5) Cơ quan lập pháp sẽ qui định để đảm bảo việc conngoài giá thú cũng giống như con trong giá thú đều được nhận những cơ hội để pháttriển thể chất và tinh thần và có vị trí xã hội.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 7
[Schulwesen]
(1) Das gesamte Schulwesen steht unter der Aufsicht des Staates.
(2) Die Erziehungsberechtigten haben das Recht, über die Teilnahme des Kindesam Religionsunterricht zu bestimmen.
(3) Der Religionsunterricht ist in den öffentlichen Schulen mit Ausnahme derbekenntnisfreien Schulen ordentliches Lehrfach. Unbeschadet des staatlichenAufsichtsrechtes wird der Religionsunterricht in Übereinstimmung mit den Grundsätzender Religionsgemeinschaften erteilt. Kein Lehrer darf gegen seinen Willenverpflichtet werden, Religionsunterricht zu erteilen.
(4) Das Recht zur Errichtung von privaten Schulen wird gewährleistet. PrivateSchulen als Ersatz für öffentliche Schulen bedürfen der Genehmigung des Staatesund unterstehen den Landesgesetzen. Die Genehmigung ist zu erteilen, wenn dieprivaten Schulen in ihren Lehrzielen und Einrichtungen sowie in derwissenschaftlichen Ausbildung ihrer Lehrkräfte nicht hinter den öffentlichenSchulen zurückstehen und eine Sonderung der Schüler nach denBesitzverhältnissen der Eltern nicht gefördert wird. Die Genehmigung ist zuversagen, wenn die wirtschaftliche und rechtliche Stellung der Lehrkräfte nichtgenügend gesichert ist.
(5) Eine private Volksschule ist nur zuzulassen, wenn die Unterrichtsverwaltungein besonderes pädagogisches Interesse anerkennt oder, auf Antrag vonErziehungsberechtigten, wenn sie als Gemeinschaftsschule, als Bekenntnis- oderWeltanschauungsschule errichtet werden soll und eine öffentliche Volksschuledieser Art in der Gemeinde nicht besteht.
(6) Vorschulen bleiben aufgehoben.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 7
Hệ thống giáo dục
(1) Toàn bộ hệ thống giáo dục đều chịu sự giám sát củanhà nước.
(2) Cha mẹ hoặc người giám hộ có quyền quyết định con họcó tham dự các bài giảng tôn giáo hay không.
(3) Các bài giảng tôn giáo là một phần trong chươngtrình học của các trường công lập, trừ các trường học không liên quan đến tôngiáo. Kiến thức tôn giáo được trang bị phù hợp với những nguyên lý của cộng đồngtôn giáo có liên quan, không định kiến hay mâu thuẫn với việc giám sát của nhànước. Giáo viên không bị ép buộc phải giảng dạy các kiến thức tôn giáo.
(4) Quyền xây dựng các trường tư thục được bảo vệ. Cáctrường tư thục ra đời thay thế các trường công lập phải được phép của Nhà nướcvà chịu sự qui định bởi luật của bang.  Nhànước sẽ cho phép thành lập các trường tư thục trong trường hợp trường tư thụckhông thua kém các trường công lập về mục tiêu giáo dục, cơ sở vật chất hoặc độingũ giáo viên được đào tạo chuyên nghiệp và học sinh không bị phân biệt đối xửtheo nguồn gốc của bố mẹ. Giấy phép hoạt động sẽ bị thu hồi nếu vị trí kinh tếvà pháp lý của đội ngũ giáo viên không được bảo đảm đầy đủ.
(5) Một trường tư thục được chấp thuận chỉ khi cơ quanquản lý giáo dục thấy được trường đó phục vụ lợi ích sư phạm đặc biệt hoặc theođề nghị của phụ huynh, khi trường đầy đủ điều kiện như trường công hoặcđược xây dựng dựa trên một triết lý riêng và khi không tồn tại trường công lập nàonhư vậy trong khu vực đó.
(6) Các trường dự bị bị xoá bỏ.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 8
[Versammlungsfreiheit]
(1) Alle Deutschen haben das Recht, sich ohne Anmeldung oder Erlaubnisfriedlich und ohne Waffen zu versammeln.
(2) Für Versammlungen unter freiem Himmel kann dieses Recht durch Gesetz oderauf Grund eines Gesetzes beschränkt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 8
Quyền tự do biểu tình
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền biểu tình một cáchhoà bình và không sử dụng vũ khí mà không phụ thuộc vào việc cấp phép của nhànước.
(2) Trong trường hợp biểu tình ngoài trời thì quyềnnày có thể bị giới hạn bởi đạo luật cụ thể hoặc trên căn cứ của một đạo luật.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 9
[Vereinigungsfreiheit, 
Verbot von Maßnahmen gegen Arbeitskämpfe]
(1) Alle Deutschen haben das Recht, Vereine und Gesellschaften zu bilden.
(2) Vereinigungen, deren Zwecke oder deren Tätigkeit den Strafgesetzenzuwiderlaufen oder die sich gegen die verfassungsmäßige Ordnung oder gegen denGedanken der Völkerverständigung richten, sind verboten.
(3) Das Recht, zur Wahrung und Förderung der Arbeits- undWirtschaftsbedingungen Vereinigungen zu bilden, ist für jedermann und für alleBerufe gewährleistet. Abreden, die dieses Recht einschränken oder zu behindernsuchen, sind nichtig, hierauf gerichtete Maßnahmen sind rechtswidrig. Maßnahmennach den Artikeln 12a, 35 Abs. 2 und 3, Artikel 87a Abs. 4 und Artikel 91dürfen sich nicht gegen Arbeitskämpfe richten, die zur Wahrung und Förderungder Arbeits- und Wirtschaftsbedingungen von Vereinigungen im Sinne des Satzes 1geführt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 9
Tự do lập hội, 
nghiêm cấm các biện pháp chống lại việc đình công
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền thành lập hội và cáctổ chức xã hội khác.
(2) Những hiệp hội, mà mục đích hoặc hoạt động vi phạmluật hình sự hoặc trực tiếp trái với trật tự hợp hiến hoặc làm tổn hại đến sự đoànkết dân tộc đều bị cấm.
(3) Quyền lập hội để bảo đảm và hỗ trợ các điều kiệnlàm việc và kinh tế được đảm bảo cho mọi cá nhân và mọi nghề nghiệp. Các thoả ướccó hạn chế hoặc làm giảm đi hiệu lực của quyền này đều bị tuyên vô hiệu và cácbiện pháp áp dụng bị tuyên là trái luật. Các biện pháp được thực hiện theo điều12a, các khoản 2 và 3 của điều 35, khoản 4 điều 87a, và điều 91 không đượcáp dụng nhằm chống  lại các cuộc đìnhcông để đảm bảo và cải thiện các điều kiện làm việc và kinh tế  của các hiệp hội trong nội dung của Câu 1 khoảnnày.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 10
[Brief-, Post- und Fernmeldegeheimnis]
(1) Das Briefgeheimnis sowie das Post- und Fernmeldegeheimnis sindunverletzlich.
(2) Beschränkungen dürfen nur auf Grund eines Gesetzes angeordnet werden. Dientdie Beschränkung dem Schutze der freiheitlichen demokratischen Grundordnungoder des Bestandes oder der Sicherung des Bundes oder eines Landes, so kann dasGesetz bestimmen, daß sie dem Betroffenen nicht mitgeteilt wird und daß an dieStelle des Rechtsweges die Nachprüfung durch von der Volksvertretung bestellteOrgane und Hilfsorgane tritt.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 10
Bí mật thư tín, điện tín và viễn thông
(1) Quyền bí mật riêng tư về thư từ cũng như điệntín, viễn thông (Fernmeldegeheimnis) là bất khả xâm phạm.
(2) Các giới hạn của quyền này chỉ trên cơ sở của mộtđạo luật. Nếu trong trường hợp đặc biệt, việc hạn chế nhằm bảo đảm trật tự tự dodân chủ cơ bản hoặc bảo vệ chứng cứ hoặc bảo vệ sự an toàn của liên bang hay củamột tiểu bang, thì một đạo luật riêng có thể quy định việc can thiệp của nhà nước mà người có quyền lợi liênquan sẽ không được thông báo trước và sau đó chứng cứ sẽ được chuyển đến Tòa án để xem xét và được giải quyết thông quacon đường tố tụng, có sự giám sát của cơ quan dân cử và tổ chức hỗ trợ khác.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 11
[Freizügigkeit]
(1) Alle Deutschen genießen Freizügigkeit im ganzen Bundesgebiet.
(2) Dieses Recht darf nur durch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzes und nurfür die Fälle eingeschränkt werden, in denen eine ausreichende Lebensgrundlagenicht vorhanden ist und der Allgemeinheit daraus besondere Lasten entstehenwürden oder in denen es zur Abwehr einer drohenden Gefahr für den Bestand oderdie freiheitliche demokratische Grundordnung des Bundes oder eines Landes, zurBekämpfung von Seuchengefahr, Naturkatastrophen oder besonders schwerenUnglücksfällen, zum Schutze der Jugend vor Verwahrlosung oder um strafbarenHandlungen vorzubeugen, erforderlich ist.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 11
Quyền tự do đi lại
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền tự do đi lại trêntoàn lãnh thổ liên bang.
(2) Quyền này bị hạn chế bởi một đạo luật hoặc trên cơsở một đạo luật tương ứng trong các trường hợp như khi điều kiện sống gặp nguycấp, không quyết định ngay sẽ dẫn đến một gánh nặng đặc biệt cho cộng đồng, hoặc trong các trường hợp cần thiết đểngăn chặn tai họa sắp xảy ra đối với cộng đồng hoặc xâm phạm trật tự tự do dânchủ cơ bản của liên bang hoặc của một tiểu bang, hoặc để chống lại nguy cơ dịchbệnh, đối phó với tai nạn nghiêm trọng hoặc thảm hoạ tự nhiên, để bảo vệ thanh thiếuniên khỏi kỳ thị hoặc để ngăn chặn những hành vi phạm tội.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 12
[Berufsfreiheit; 
Verbot derZwangsarbeit]
(1) Alle Deutschen haben das Recht, Beruf, Arbeitsplatz und Ausbildungsstättefrei zu wählen. Die Berufsausübung kann durch Gesetz oder auf Grund einesGesetzes geregelt werden.
(2) Niemand darf zu einer bestimmten Arbeit gezwungen werden, außer im Rahmeneiner herkömmlichen allgemeinen, für alle gleichen öffentlichenDienstleistungspflicht.
(3) Zwangsarbeit ist nur bei einer gerichtlich angeordneten Freiheitsentziehungzulässig.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 12
Quyền tự do nghề nghiệp; 
cấm lao động cưỡng bức
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền tự do lựa chọn ngànhnghề, nơi làm việc và nơi đào tạo. Việc hành nghề sẽ căn cứ vào một đạo luậtriêng hoặc trên cơ sở một đạo luật riêng.
(2) Không ai bị ép buộc thực hiện một loại công việc cụthể, trừ khi việc thực hiện lao động công ích là nghĩa vụ bình đẳng cho tất cảmọi người.
(3) Chỉ những người bị tước quyền tự do theo phán quyết củaToà án mới có thể bị lao động bắt buộc.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 12a
[Wehr- und Dienstpflicht]
(1) Männer können vom vollendeten achtzehnten Lebensjahr an zum Dienst in denStreitkräften, im Bundesgrenzschutz oder in einem Zivilschutzverbandverpflichtet werden.
(2) Wer aus Gewissensgründen den Kriegsdienst mit der Waffe verweigert, kann zueinem Ersatzdienst verpflichtet werden. Die Dauer des Ersatzdienstes darf dieDauer des Wehrdienstes nicht übersteigen. Das Nähere regelt ein Gesetz, das dieFreiheit der Gewissensentscheidung nicht beeinträchtigen darf und auch eineMöglichkeit des Ersatzdienstes vorsehen muß, die in keinem Zusammenhang mit denVerbänden der Streitkräfte und des Bundesgrenzschutzes steht.
(3) Wehrpflichtige, die nicht zu einem Dienst nach Absatz 1 oder 2 herangezogensind, können im Verteidigungsfalle durch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzeszu zivilen Dienstleistungen für Zwecke der Verteidigung einschließlich desSchutzes der Zivilbevölkerung in Arbeitsverhältnisse verpflichtet werden;Verpflichtungen in öffentlich-rechtliche Dienstverhältnisse sind nur zurWahrnehmung polizeilicher Aufgaben oder solcher hoheitlichen Aufgaben deröffentlichen Verwaltung, die nur in einem öffentlich-rechtlichenDienstverhältnis erfüllt werden können, zulässig. Arbeitsverhältnisse nach Satz1 können bei den Streitkräften, im Bereich ihrer Versorgung sowie bei deröffentlichen Verwaltung begründet werden; Verpflichtungen inArbeitsverhältnisse im Bereiche der Versorgung der Zivilbevölkerung sind nurzulässig, um ihren lebensnotwendigen Bedarf zu decken oder ihren Schutzsicherzustellen.
(4) Kann im Verteidigungsfalle der Bedarf an zivilen Dienstleistungen imzivilen Sanitäts- und Heilwesen sowie in der ortsfesten militärischenLazarettorganisation nicht auf freiwilliger Grundlage gedeckt werden, so könnenFrauen vom vollendeten achtzehnten bis zum vollendeten fünfundfünfzigsten Lebensjahrdurch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzes zu derartigen Dienstleistungenherangezogen werden. Sie dürfen auf keinen Fall zum Dienst mit der Waffeverpflichtet werden.
(5) Für die Zeit vor dem Verteidigungsfalle können Verpflichtungen nach Absatz3 nur nach Maßgabe des Artikels 80a Abs. 1 begründet werden. Zur Vorbereitungauf Dienstleistungen nach Absatz 3, für die besondere Kenntnisse oderFertigkeiten erforderlich sind, kann durch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzesdie Teilnahme an Ausbildungsveranstaltungen zur Pflicht gemacht werden. Satz 1findet insoweit keine Anwendung.
(6) Kann im Verteidigungsfalle der Bedarf an Arbeitskräften für die in Absatz 3Satz 2 genannten Bereiche auf freiwilliger Grundlage nicht gedeckt werden, sokann zur Sicherung dieses Bedarfs die Freiheit der Deutschen, die Ausübungeines Berufs oder den Arbeitsplatz aufzugeben, durch Gesetz oder auf Grundeines Gesetzes eingeschränkt werden. Vor Eintritt des Verteidigungsfalles giltAbsatz 5 Satz 1 entsprechend.


Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 12a
Nghĩa vụ quân sự 
và các nghĩa vụ công ích khác
(1) Nam giới đủ 18 tuổi có thể được yêu cầu phục vụtrong Lực lượng vũ trang, trong lực lượng cảnh sát liên bang, hoặc trong một tổchức dân quân tự vệ.
(2) Bất cứ ai vì lý do nhận thức cá nhân mà từ chối thựchiện nghĩa vụ quân sự liên quan đến việc dùng vũ khí thì sẽ phải thực hiệnnghĩa vụ lao động công ích. Khoảng thời gian thực hiện nghĩa vụ lao động côngích không vượt quá thời gian thực hịên nghĩa vụ quân sự. Các qui định chi tiếtđược quy định trong một đạo luật riêng, đạo luật này sẽ không xâm phạm đến quyềntự do quyết định theo lương tâm và quy định rõ khả năng thực hiện nghĩa vụ laođộng công ích thay thế nghĩa vụ quân sự không liên quan tới các đơn vị thuộc Lựclượng vũ trang hoặc Cảnh sát liên bang.
(3) Những người đến tuổi  tham gia nghĩa vụ quân sự mà không bị kêu gọiphục vụ nghĩa vụ theo Khoản 1 hay khoản 2 của điều này có thể được phân công làm việcliên quan đến dân quân tự vệ theo pháp luật vì các mục đích quốc phòngkhi tình trạng quốc phòng đang có hiệu lực; họ được phân công làm việc cho nhànước chỉ vì mục đích thực hiện các chức năng cảnh sát hoặc các chức năng tốicao khác trong việc quản lý nhà nước có thể được thực hiện bởi những người làmviệc cho nhà nước. Công việc được nói đến trong Câu đầu của khoản này bao gồmcác nghĩa vụ trong Lực lượng vũ trang, trong điều khoản về cung cấp quân sự, hoặccác cơ quan quản lý nhà nước; những nhiệm vụ đối với công việc liên quan đếncung cấp và phục vụ nhân dân cho phép đáp ứng các yêu cầu cơ bản  hoặc đểđảm bảo sự an toàn của họ.
(4) Trong tình trạng quốc phòng nếu có nhu cầu cần các dân quân tự vệ trong hệ thống sức khoẻ nhân dân hoặc trong các bệnh việnquân sự tại chỗ không thể được đáp ứng trên cơ sở tự nguyện, thì phụ nữ ở độ tuổitừ 18 đến 55 được kêu gọi phục vụ các nghĩa vụ ấy căn cứ theo pháp luật. Trongbất kỳ trường hợp nào thì họ cũng không làm công việc liên quan đến sử dụng vũkhí.
(5) Trước khi tồn tại tình trạng quốc phòng, các nhiệmvụ theo Khoản 3 của điều này được đưa ra chỉ nếu các yêu cầu Khoản 1 Điều 80ađược đáp ứng. Để chuẩn bị cho điều khoản về các nghĩa vụ theo Khoản 3 điềunày yêu cầu kiến thức đặc  biệt hoặc  các kỹ năng, thì việc tham gia vào các khoáđào  tạo được yêu cầu theo pháp luật.Trong trường hợp này điểm đầu tiên của khoản này không được áp dụng.
(6) Nếu như quốc phòng có nhu cầu về côngnhân trong các phạm vi được quy định tại Câu 2 khoản 3 điều này không đượcđáp ứng trên cơ sở tự nguyện, thì quyền từ bỏ nghề hoặc thay thế công việc củamọi công dân Đức bị giới hạn theo pháp luật để đáp ứng nhu cầu này. Trước khi gia nhập quân ngũ nhằm bảo vệ lợi ích quốc phòng thì áp dụng Khoản 5 Câu 1 của điều này.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 13 
[Unverletzlichkeit der Wohnung]
(1) Die Wohnung ist unverletzlich.
(2) Durchsuchungen dürfen nur durch den Richter, bei Gefahr im Verzuge auchdurch die in den Gesetzen vorgesehenen anderen Organe angeordnet und nur in derdort vorgeschriebenen Form durchgeführt werden.
(3) Begründen bestimmte Tatsachen den Verdacht, daß jemand eine durch Gesetzeinzeln bestimmte besonders schwere Straftat begangen hat, so dürfen zurVerfolgung der Tat auf Grund richterlicher Anordnung technische Mittel zurakustischen Überwachung von Wohnungen, in denen der Beschuldigte sichvermutlich aufhält, eingesetzt werden, wenn die Erforschung des Sachverhaltsauf andere Weise unverhältnismäßig erschwert oder aussichtslos wäre. DieMaßnahme ist zu befristen. Die Anordnung erfolgt durch einen mit drei Richternbesetzten Spruchkörper. Bei Gefahr im Verzuge kann sie auch durch eineneinzelnen Richter getroffen werden.
(4) Zur Abwehr dringender Gefahren für die öffentliche Sicherheit, insbesondereeiner gemeinen Gefahr oder einer Lebensgefahr, dürfen technische Mittel zurÜberwachung von Wohnungen nur auf Grund richterlicher Anordnung eingesetztwerden. Bei Gefahr im Verzuge kann die Maßnahme auch durch eine anderegesetzlich bestimmte Stelle angeordnet werden; eine richterliche Entscheidungist unverzüglich nachzuholen.
(5) Sind technische Mittel ausschließlich zum Schutze der bei einem Einsatz inWohnungen tätigen Personen vorgesehen, kann die Maßnahme durch eine gesetzlichbestimmte Stelle angeordnet werden. Eine anderweitige Verwertung der hierbeierlangten Erkenntnisse ist nur zum Zwecke der Strafverfolgung oder derGefahrenabwehr und nur zulässig, wenn zuvor die Rechtmäßigkeit der Maßnahmerichterlich festgestellt ist; bei Gefahr im Verzuge ist die richterlicheEntscheidung unverzüglich nachzuholen.
(6) Die Bundesregierung unterrichtet den Bundestag jährlich über den nachAbsatz 3 sowie über den im Zuständigkeitsbereich des Bundes nach Absatz 4 und,soweit richterlich überprüfungsbedürftig, nach Absatz 5 erfolgten Einsatztechnischer Mittel. Ein vom Bundestag gewähltes Gremium übt auf der Grundlagedieses Berichts die parlamentarische Kontrolle aus. Die Länder gewährleisteneine gleichwertige parlamentarische Kontrolle.
(7) Eingriffe und Beschränkungen dürfen im übrigen nur zur Abwehr einergemeinen Gefahr oder einer Lebensgefahr für einzelne Personen, auf Grund einesGesetzes auch zur Verhütung dringender Gefahren für die öffentliche Sicherheitund Ordnung, insbesondere zur Behebung der Raumnot, zur Bekämpfung vonSeuchengefahr oder zum Schutze gefährdeter Jugendlicher vorgenommen werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 13
Bất khả xâm phạm về chỗ ở
(1) Chỗ ở là bất khả xâm phạm.
(2) Việc khám xét chỗ ở chỉ được thực hiện khi có lệnh của Thẩm phán hoặctrong trường hợp khẩn cấp không thể trì hoãn bởi các cơ quan khác được pháp luật quy định và theo các  hình thức luật định nghiêm ngặt.
(3) Nếu có những cơ sở thực tế xác đáng từ sự nghi ngờ rằng ai đó phạm một tội đặc biệt nghiêm trọng cụ thể theo luật định, thì được phép áp dụng các biệnpháp nghiệp vụ về khám xét chỗ ở, căn cứtheo lệnh của toà án. Các biện pháp này chỉ có thời hạnnhất định. Quyết định khám xét được Tòa án thông qua bởi một Hội đồng gồm ba thẩm phán có hội thẩm tham gia.Trong trường hợp khẩn cấp không thể trì hoãn, lệnh có thể được ban hành bởi một thẩm phán.
(4) Để ngăn chặn các nguy hiểm nghiêm trọng đến trật tự công, đặc biệt là cácnguy hiểm đối với cuộc sống hoặc đối với dân chúng, thì các biện pháp nghiệp vụ kĩ thuật khám xét nhà ở có thể được thực hiện chỉ trên cơ sở lệnh toà án. Trong trường hợp nguy hiểm không thể trì hoãn, các biện pháp như vậy được ra lệnh bởi một cơ quan quyền lực kháctheo luật định; Quyết định của toà án sẽ được thực thi ngay không trì hoãn.
(5) Nếu các biện pháp nghiệp vụ được cân nhắc để bảovệ con người được triển khai chính thức ở một chỗ ở nào đó, thì các biện pháp này chỉ được thực thi tại những địa điểm mà luật cho phép. Do đó, thông tin thu được chỉ đượcsử dụng cho các mục đích truy tố tội phạm hay ngăn chặn sự nguy hiểm, và các biện pháp này phải được luật cho phép;trong thời điểm quan trọng khẩn cấp thì quyết định của toà án được thi hành ngay không trì hoãn.
(6) Chính phủ liên bang báo cáo Hạ viện liên banghàng năm về việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ theo khoản (3) cũng như về thẩm quyền xét xử của liên bang theo khoản 4 và trong phạm vi mà yêu cầu sự đồng ý củatoà án theo khoản (5) điều này. Một hội đồng do Hạ viện bầu ra trên cơ sở báo cáo này sẽ thực thi quyền giám sát của Nghị viện. Các tiểu bang cũng bảo vệ quyền giám sát Nghị viện tương ứng của mình.
(7) Những can thiệp và hạn chế khác chỉ được phép áp dụng đểngăn chặn tổn  hại đến cộng  đồng và cuộc sống của mỗi cá nhân, hoặc căn cứ theo một đạo luật để loại trừ tác hạinghiêm trọng đến trật tự và an toàn chung, đặc biệt là để làm giảm thiểu tình trạng thiếu nhà ở, chống  lại nguy cơ dịchbệnh hoặc để bảo vệ những thanh thiếu niên.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 14
[Eigentum, 
Erbrecht, Enteignung]
(1) Das Eigentum und das Erbrecht werden gewährleistet. Inhalt und Schrankenwerden durch die Gesetze bestimmt.
(2) Eigentum verpflichtet. Sein Gebrauch soll zugleich dem Wohle derAllgemeinheit dienen.
(3) Eine Enteignung ist nur zum Wohle der Allgemeinheit zulässig. Sie darf nurdurch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzes erfolgen, das Art und Ausmaß derEntschädigung regelt. Die Entschädigung ist unter gerechter Abwägung derInteressen der Allgemeinheit und der Beteiligten zu bestimmen. Wegen der Höheder Entschädigung steht im Streitfalle der Rechtsweg vor den ordentlichenGerichten offen.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 14
Quyền tài sản, 
quyền thừa kế, việc sung công
(1) Quyền tài sản và quyền thừa kế tài sản được bảo vệ. Nộidung và các giới hạn của quyền này được quy định rõ trong một đạo luật cụ thể.
(2) Tài sản cá nhân có thể được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Việc sử dụng tài sản cá nhân cũng nên đồng thời phụcvụ cho lợi ích chung của cộng đồng.
(3) Tịch thu tài sản sung công chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích chung. Cách thức bồi hoàn sẽ do một đạo luật riêng hoặc trên cơ sở của đạo luật riêng qui định. Việc bồi thường được thực hiện trên cơ sở cân nhắc lợi ích chung và lợi ích của các bên liên quan. Trong trường hợp có tranh chấp về mức tiền bồithường thì có thể cầu viện đến các toà án thường để giải quyết.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 15  
[Sozialisierung]
Grund und Boden, Naturschätze und Produktionsmittel können zum Zwecke derVergesellschaftung durch ein Gesetz, das Art und Ausmaß der Entschädigungregelt, in Gemeineigentum oder in andere Formen der Gemeinwirtschaft überführtwerden. Für die Entschädigung gilt Artikel 14 Absatz 3 Satz 3 und 4entsprechend.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 15
Vấn đề xã hội hoá
Thông qua một đạo luật cụ thể, đất đai, tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sảnxuất có thể được qui định vì mục đích xã hội hóa, đạo luật này sẽ qui định cách thức bồi hoàn, dựa trên cơ sở tính toán nguồn công quĩ hoặc các hình thức, công cụ khác của kinh tế công. Điều 14 Khoản 3 Câu 3 và câu 4 sẽ được áp dụng tương ứng cho việc bồi thường.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 16 
[Verbot der Ausbürgerung, 
Auslieferung]
(1) Die deutsche Staatsangehörigkeit darf nicht entzogen werden. Der Verlustder Staatsangehörigkeit darf nur auf Grund eines Gesetzes und gegen den Willendes Betroffenen nur dann eintreten, wenn der Betroffene dadurch nichtstaatenlos wird.
(2) Kein Deutscher darf an das Ausland ausgeliefert werden. Durch Gesetz kanneine abweichende Regelung für Auslieferungen an einen Mitgliedstaat derEuropäischen Union oder an einen internationalen Gerichtshof getroffen werden,soweit rechtsstaatliche Grundsätze gewahrt sind.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 16
Cấm tước quyền có quốc tịch; 
việc dẫn độ
(1) Quốc tịch Đức không được phép bị tước bỏ. Mất quốc tịch chỉ cóthể trên cơ sở một đạo luật cụ thể và khi người liên quan tự nguyện từ bỏ và người đó đã có một quốc tịch khác.
(2) Không một công dân Đức nào bị dẫn độ ra nướcngoài. Ngoại lệ dẫn độ sang nước thành viên trong Cộng đồng châu Âu hay đến mộtTòa án quốc tế có thể được thực hiện theo một đạo luật cụ thể, nếu như đạo luậtđó phù hợp với các nguyên tắc nhà nước pháp quyền.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 16a
[Asylrecht]
(1) Politisch Verfolgte genießen Asylrecht.
(2) Auf Absatz 1 kann sich nicht berufen, wer aus einem Mitgliedstaat derEuropäischen Gemeinschaften oder aus einem anderen Drittstaat einreist, in demdie Anwendung des Abkommens über die Rechtsstellung der Flüchtlinge und derKonvention zum Schutze der Menschenrechte und Grundfreiheiten sichergestelltist. Die Staaten außerhalb der Europäischen Gemeinschaften, auf die dieVoraussetzungen des Satzes 1 zutreffen, werden durch Gesetz, das der Zustimmungdes Bundesrates bedarf, bestimmt. In den Fällen des Satzes 1 könnenaufenthaltsbeendende Maßnahmen unabhängig von einem hiergegen eingelegten Rechtsbehelfvollzogen werden.
(3) Durch Gesetz, das der Zustimmung des Bundesrates bedarf, können Staatenbestimmt werden, bei denen auf Grund der Rechtslage, der Rechtsanwendung undder allgemeinen politischen Verhältnisse gewährleistet erscheint, daß dort wederpolitische Verfolgung noch unmenschliche oder erniedrigende Bestrafung oderBehandlung stattfindet. Es wird vermutet, daß ein Ausländer aus einem solchenStaat nicht verfolgt wird, solange er nicht Tatsachen vorträgt, die die Annahmebegründen, daß er entgegen dieser Vermutung politisch verfolgt wird.
(4) Die Vollziehung aufenthaltsbeendender Maßnahmen wird in den Fällen desAbsatzes 3 und in anderen Fällen, die offensichtlich unbegründet sind oder alsoffensichtlich unbegründet gelten, durch das Gericht nur ausgesetzt, wennernstliche Zweifel an der Rechtmäßigkeit der Maßnahme bestehen; derPrüfungsumfang kann eingeschränkt werden und verspätetes Vorbringenunberücksichtigt bleiben. Das Nähere ist durch Gesetz zu bestimmen.
(5) Die Absätze 1 bis 4 stehen völkerrechtlichen Verträgen von Mitgliedstaatender Europäischen Gemeinschaften untereinander und mit dritten Staaten nichtentgegen, die unter Beachtung der Verpflichtungen aus dem Abkommen über dieRechtsstellung der Flüchtlinge und der Konvention zum Schutze derMenschenrechte und Grundfreiheiten, deren Anwendung in den Vertragsstaatensichergestellt sein muß, Zuständigkeitsregelungen für die Prüfung vonAsylbegehren einschließlich der gegenseitigen Anerkennung vonAsylentscheidungen treffen.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 16a
Quyền tỵ nạn
(1) Những người bị ngược đãi về chính trị đều có quyềntỵ nạn.
(2) Khoản 1điều này không được viện  dẫn  áp dụng đối với người vào lãnh thổ liên bang từ mộtnước thành viên Cộng đồng Châu Âu hoặc từ nước thứ ba khác mà việc áp dụng hiệpđịnh liên quan đến tình trạng tỵ nạn và hiệp định về bảo vệ nhân quyền và cácquyền tự do cơ bản được bảo đảm. Các nước ngoài khối Cộng đồng Châu Âu theotiêu chí áp dụng  của Câu 1 khoản này đượcđịnh rõ bởi một đạo luật riêng, đạo luật đó cần phải có sự đồng ý phê chuẩn của Thượng nghị viện (Bundesrat). Trong các trườnghợp được quy định tại Câu 1 khoản này thì các biện pháp trục xuất người  tỵ nạn có thể được áp dụng bất cứ khi nào,không phụ thuộc vào bất cứ sự phản đối pháp lý nào.
(3) Một đạo luật cụ thể, trên cơ sở có sự đồng thuận của Thượng viện, có thể liệt kê các nhà nước, mà ở đó dựa trên hệ thống pháp luật, áp dụng pháp luật không có tình trạng khủng bố chính trị hoặc đối xử vô nhân đạo hay đối xử tàn ác. Có thể giả định rằng, một người nước ngoài từ một  nướcnhư vậy không bị ngược đãi theo dõi về chính trị, nếu người đó không có chứng cứ chứngminh cho kết luận người đó bị ngược đãi vì lý do chính trị.
(4) Việc áp dụng biện pháp trục xuất có hiệu lực đối với các trường hợp của khoản 3 và các trường hợp mà không thể có được bằng chứng xác thực thì việc thực hiệncác biện pháp để chấm dứt thời hạn ở lại của một người tỵ nạn có thể bị đình chỉbởi toà án chỉ khi có các nghi ngờ nghiêm trọng về tính hợp pháp; phạm vi xemxét có thể được giới hạn và những phản hồi chậm sẽ không được xem xét đến. Luậtquy định các điều khoản chi tiết.
(5) Các Khoản từ 1 đến 4 của điều này không ngăn cản các hiệp định quốc tế của các nước thành viên trong khối  Cộng  đồngChâu Âu với nhau hoặc  với các nước thứba để ý tới những nghĩa vụ phát sinh từ Hiệp định về tình trạng tỵ nạn và Hiệpđịnh về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản mà việc thi hành các hiệp địnhđó phải được đảm bảo trong các nước có ký kết thông qua các quy tắc thẩm quyền thực thi pháp luật để xem xét các đơn đăng ký tỵ nạn bao gồm việc côngnhận giữa các bên về các quyết định tỵ nạn.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 17
[Petitionsrecht]
Jedermann hat das Recht, sich einzeln oder in Gemeinschaft mit anderenschriftlich mit Bitten oder Beschwerden an die zuständigen Stellen und an dieVolksvertretung zu wenden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 17
Quyền kiến nghị
Mọi người đều có quyền tự mình hoặc cùng với những ngườikhác gửi các đề nghị cá nhân hoặc các đơn khiếu nại tới các cơ quan có thẩmquyền liên quan và đến cơ quan dân cử.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 17a 
[Grundrechtsbeschränkungen im Wehrbereich]
(1) Gesetze über Wehrdienst und Ersatzdienst können bestimmen, daß für dieAngehörigen der Streitkräfte und des Ersatzdienstes während der Zeit des Wehr-oder Ersatzdienstes das Grundrecht, seine Meinung in Wort, Schrift und Bildfrei zu äußern und zu verbreiten (Artikel 5 Absatz 1 Satz 1 erster Halbsatz),das Grundrecht der Versammlungsfreiheit (Artikel 8) und das Petitionsrecht(Artikel 17), soweit es das Recht gewährt, Bitten oder Beschwerden inGemeinschaft mit anderen vorzubringen, eingeschränkt werden.
(2) Gesetze, die der Verteidigung einschließlich des Schutzes derZivilbevölkerung dienen, können bestimmen, daß die Grundrechte derFreizügigkeit (Artikel 11) und der Unverletzlichkeit der Wohnung (Artikel 13)eingeschränkt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 17a
Giới hạn 
về các quyền cơ bản cụ thể
trong lĩnh vực an ninh
(1) Các đạo luật về nghĩa vụ quân sự và lao động côngích có thể quy định các giới hạn cụ thể quyền cơ bản của những người tham gia lực lượng vũ trang và lao động công ích trong thời gian phục vụ, như quyền được tự do ngôn luận thể hiện bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh (Điều 5 khoản1 câu 1), quyền biểu tình (Điều 8), và quyền kiến nghị (Điều 17) trong phạm vimà quyền này cho phép có thể đệ trình các kiến nghị tập thể.
(2) Các đạo luật, mà phục vụ lợi ích quốc phòng nhằm mục đích bảo vệ nhân dân, có thểquy định giới hạn các quyền cơ bản như quyền tự do đi lại (Điều 11) và bất khảxâm phạm nơi ở (Điều 13).
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 18
[Verwirkung 
von Grundrechten]
Wer die Freiheit der Meinungsäußerung, insbesondere die Pressefreiheit (Artikel5 Absatz 1), die Lehrfreiheit (Artikel 5 Absatz 3), die Versammlungsfreiheit(Artikel 8), die Vereinigungsfreiheit (Artikel 9), das Brief-, Post- und Fernmeldegeheimnis(Artikel 10), das Eigentum (Artikel 14) oder das Asylrecht (Artikel 16a) zumKampfe gegen die freiheitliche demokratische Grundordnung mißbraucht, verwirktdiese Grundrechte. Die Verwirkung und ihr Ausmaß werden durch dasBundesverfassungsgericht ausgesprochen.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 18
Tước các quyền cơ bản
Bất cứ ai lạm dụng quyền tự do ngôn luận, đặc biệt làtự do báo chí (Điều 5 khoản 1), tự do giảng dạy (Điều 5 khoản 3), tự do biểutình (Điều 8), tự do lập hội (Điều 9), quyền bí mật về thư tín, điện tín, viễnthông (Điều 10), quyền về tài sản (Điều 14) hoặc quyền tỵ nạn (Điều 16a) để chốnglại trật tự tự do dân chủ cơ bản, người đó sẽ bị tước những quyền cơ bản này.Việc tước quyền và phạm vi tước quyền sẽ được tuyên bởi Toà án Hiến pháp liênbang.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 19 
[Einschränkung von Grundrechten]
(1) Soweit nach diesem Grundgesetz ein Grundrecht durch Gesetz oder auf Grundeines Gesetzes eingeschränkt werden kann, muß das Gesetz allgemein und nichtnur für den Einzelfall gelten. Außerdem muß das Gesetz das Grundrecht unterAngabe des Artikels nennen.
(2) In keinem Falle darf ein Grundrecht in seinem Wesensgehalt angetastetwerden.
(3) Die Grundrechte gelten auch für inländische juristische Personen, soweitsie ihrem Wesen nach auf diese anwendbar sind.
(4) Wird jemand durch die öffentliche Gewalt in seinen Rechten verletzt, sosteht ihm der Rechtsweg offen. Soweit eine andere Zuständigkeit nicht begründetist, ist der ordentliche Rechtsweg gegeben.
Artikel 10 Abs. 2 Satz 2 bleibtunberührt.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 19
Giới hạn các quyền cơ bản
(1) Nếu một quyền cơ bản nào trong Luật cơ bản này bịgiới hạn bởi một đạo luật hoặc trên cơ sở một đạo luật nào cụ thể, thì đạo luật đó phải được áp dụng chung và không là ngoại lệdành riêng cho một trường hợp cá biệt nào. Ngoài ra, đạo luật đó phải trích dẫn rõ quyền cơbản với đầy đủ thông tin về điều khoản của Luật cơ bản này.
(2)  Trong mọitrường hợp một quyền cơ bản không được tự mâu thuẫn với chính nội dung bản chấtcủa quyền đó.
(3) Các quyền cơ bản cũng áp dụng cho những pháp nhân trongnước, trong phạm vi các quyền đó về bản chất cho phép được áp dụng.
(4) Bất cứ ai cho rằng quyền cơ bản của mình bị xâm phạmbởi công quyền, thì người đó có thể khởi kiện bằng con đường Toà án. Nếu khôngcó cơ quan xét xử nào phù hợp về mặt thẩm quyền, thì Toà án thường sẽ có thẩmquyền giải quyết. Điều 10 Khoản 2 Câu 2 không bị ảnh hưởng bởi khoản này.