Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Marx- Lenin. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Marx- Lenin. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

Chân dung một Karl Marx đời thực

fd482c137fba5f5e01acb0e3d4f401ec
Nguồn: John Gray, “The Real Karl Marx“, New York Review of Books, 05/2013.
Biên dịch: Duy Đoàn | Hiệu đính:  Lê Hồng Hiệp
Jonathan Sperber cho rằng, theo nhiều cách, Marx là “một nhân vật nhìn về quá khứ”, người có tầm nhìn về tương lai được định khuôn theo những hoàn cảnh khác hoàn toàn so với bất kì hoàn cảnh nào phổ biến ngày nay:
Quan điểm của Marx trong vai trò một người có những ý tưởng định hình nên thế giới hiện đại giờ đã hoàn tất vai trò lịch sử của mình, và đã đến lúc cần một hiểu biết mới về ông như một khuôn mặt của một thời kì lịch sử trong quá khứ, một thời kì càng lúc càng cách xa chúng ta: thời đại của Cách mạng Pháp, của triết học Hegel, của những năm tháng đầu tiên của quá trình công nghiệp hoá tại Anh và của nền kinh tế chính trị bắt nguồn từ đó.

Mục tiêu của Sperber là trình bày Marx theo đúng con người thực sự của ông – một nhà tư tưởng thế kỉ 19 để hết tâm trí mình vào những ý tưởng và sự kiện của thời mình. Nếu bạn thấy Marx theo cách này, nhiều cuộc tranh cãi vốn đã tạo sóng gió quanh di sản của ông hồi thế kỉ trước dường như không mang lại lợi ích gì, thậm chí không liên quan gì. Nếu khẳng định Marx phần nào “chịu trách nhiệm về mặt trí thức” cho chủ nghĩa cộng sản thế kỉ 20, thì khẳng định đó có vẻ hết sức lầm lạc; nhưng chuyện tương tự cũng xảy ra đối với phe biện hộ Marx như một người theo dân chủ cấp tiến, bởi vì cả hai quan điểm đều “phóng chiếu ngược vào những tranh luận hồi thế kỉ 19 những quan điểm của những thời đại sau đó”.
Chắc chắn Marx hiểu những đặc tính cốt yếu của chủ nghĩa tư bản; nhưng đó là “những đặc tính của chủ nghĩa tư bản hiện hữu hồi những thập niên đầu của thế kỉ 19”, chứ không phải chủ nghĩa tư bản rất khác biệt hiện hữu hồi đầu thế kỉ 21. Một lần nữa, mặc dù ông hướng đến một dạng xã hội mới cho loài người vốn sẽ xuất hiện sau khi chủ nghĩa tư bản sụp đổ, nhưng Marx lại không có một khái niệm ổn thoả nào về hình hài của một xã hội như vậy. Đối với Sperber, dựa vào ông để tìm cái nhìn về tương lai của chúng ta là một cách làm sai lầm giống như việc đổ lỗi cho ông về những việc trong quá khứ của chúng ta.
Bằng cách dùng các ấn bản mới công bố về những trước tác của Marx và Engels – thường được biết với tên viết tắt MEGA trong tiếng Đức – làm một trong những nguồn tham khảo chính của mình, Sperber đã xây dựng nên một bức tranh về chính kiến của Marx vốn có những khác biệt giúp mở mang nhiều điều so với những cách nhìn trong các tài liệu thông thường lâu nay. Những lập trường mà Marx đi theo hiếm khi bị chi phối bởi những cam kết lí thuyết sẵn có từ trước liên quan đến chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa cộng sản. Thường thì chúng phản ánh thái độ của ông đối với giới cầm quyền đang cai trị châu Âu và những xung đột của giới này, cũng như phản ánh những mưu đồ và những cuộc đối đầu mà ông tham dự trong vai trò một người hoạt động chính trị.
Đôi khi thái độ thù địch của Marx dành cho các chế độ phản động của châu Âu đã khiến ông có những tư tưởng cực đoan lạ kì. Là một người chống đối mạnh mẽ chế độ chuyên quyền của nước Nga, và là người tham gia chiến dịch ủng hộ cuộc chiến tranh cách mạng chống lại nước Nga hồi năm 1848-1849, ông trở nên thất vọng trước cách xử lí thiếu quyết đoán của người Anh đối với Chiến tranh Crimea. Khi chỉ trích việc giới cấp tiến hàng đầu Anh quốc chống lại cuộc chiến, Marx tiếp tục khẳng định rằng những chính sách ngoại giao yếu kém của Anh là do thủ tướng Lord Palmerston là một điệp viên ăn tiền của Sa hoàng, một trong nhiều kẻ phản bội tiếp nối nhau chiếm lĩnh các vị trí quyền lực ở Anh quốc trong hơn một thế kỉ – một lời buộc tội mà ông nhắc lại trong nhiều năm bằng một loạt những bài báo liên tiếp nhau vốn được cô con gái Eleanor in lại thành cuốn The Secret Diplomatic History of the Eighteenth Century (Lịch sử Ngoại giao Bí mật Thế kỷ 18).
Tương tự, cuộc tranh đấu của ông chống lại kình địch người Nga Mikhail Bakunin trong việc kiểm soát Hiệp hội Công nhân Quốc tế (International Working Men’s Association – IWMA) đã phản ánh mối thù hằn của Marx đối với chế độ quân chủ Phổ và mối nghi ngờ của ông rằng Bakunin là một tay ủng hộ thống nhất khối Slavơ với những liên kết bí mật với Sa hoàng, hơn là phản ánh thái độ thù địch của ông dành cho tư tưởng vô chính phủ theo kiểu chuyên chế của Bakunin. Cái định hình nên đời sống chính trị của Marx chính là những xúc cảm mạnh mẽ và lòng hận thù của thế kỉ 19 chứ không phải những xung đột về ý thức hệ theo kiểu cách quen thuộc của thời kì Chiến tranh Lạnh.
Quan điểm xét lại tinh tế của Sperber đã mở rộng đến cái thường được cho là những cam kết ý thức hệ nền tảng của Marx. Ngày nay cũng như xuyên suốt thế kỉ 20, Marx là nhân tố không thể tách rời khỏi ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản, nhưng ông không phải lúc nào cũng gắn bó với ý tưởng đó. Khi viết cho tờ Rhineland News vào năm 1842 trong chính bài viết đầu tiên của mình sau khi đảm chức biên tập, Marx đã khởi xướng một cuộc bút chiến sắc bén chống lại tờ báo hàng đầu nước Đức, tờ Augsburg General News, do đã xuất bản những bài viết cổ xuý chủ nghĩa cộng sản. Ông không công kích lại bất kì luận cứ nào cho rằng chủ nghĩa cộng sản là không thực tế, mà ông công kích ngay chính ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản. Khi than vãn rằng “những thành phố thương mại một thời phồn vinh đã không còn hưng thịnh nữa”, ông tuyên bố rằng sự lan truyền của của các ý tưởng cộng sản chủ nghĩa sẽ “hạ bệ trí năng của chúng ta, chế ngự tình cảm của chúng ta”, một tiến trình âm ỉ mà không có phương thuốc chữa trị rõ ràng. Ngược lại, bất kì nỗ lực nào để hiện thực hoá chủ nghĩa cộng sản sẽ dễ dàng bị chặn đứng ngay bằng vũ lực: “những nỗ lực thực tế [nhằm du nhập chủ nghĩa cộng sản], thậm chí nhiều nỗ lực cùng lúc, có thể được đáp lại bằng những khẩu đại bác”. Như Sperber viết, “Người mà sẽ viết Tuyên ngôn Cộng sản chỉ 5 năm sau đó lại cổ xuý việc dùng quân đội để đàn áp cuộc nổi dậy của giới công nhân theo chủ nghĩa cộng sản!”
Đây cũng không phải là một chuyện bất thường đơn lẻ. Trong bài nói chuyện trước Hội Dân chủ Köln (Köln Demokratische Gesellschaft – Cologne Democratic Society) vào tháng Tám năm 1848, Marx đã bác bỏ chế độ độc tài cách mạng do một tầng lớp duy nhất cầm quyền và gọi đó là “vớ vẩn” (nonsense) – một ý mâu thuẫn đến mức sửng sốt đối với quan điểm mà Marx đã phát biểu chỉ 6 tháng trước đó trong Tuyên ngôn Cộng sản, điều khiến những tay biên tập những bài phát biểu của ông sau này đã bác bỏ tính xác thực của nó một cách sai lầm. Và hơn 20 năm sau, lúc nổ ra cuộc chiến Pháp-Phổ, Marx còn coi mọi ý niệm về Công xã Paris là “vớ vẩn”.
Marx – kẻ chống Cộng sản – là một khuôn mặt lạ lẫm; nhưng rõ ràng có những thời điểm mà ông chia sẻ cùng quan điểm với những người tự do thời bấy giờ và sau này, mà theo đó chủ nghĩa cộng sản (cứ cho là có thể đạt được bất kì điều gì giống vậy) sẽ gây hại cho bước tiến của nhân loại. Đây chỉ là một ví dụ về một sự thật tổng quát hơn. Bất chấp khát vọng của chính ông và những nỗ lực của hàng bao thế hệ môn đồ của ông từ Engel trở đi, các ý tưởng của Marx chưa bao giờ hình thành một hệ thống thống nhất. Một nguyên do cho điều này là cuộc đời làm việc của Marx thường bị ngắt quãng. Mặc dù chúng ta nghĩ đến Marx như một lí thuyết gia náu mình trong thư viện của Viện bảo tàng Anh quốc, nhưng việc viết lý luận chỉ là một trong những thú tiêu khiển của ông và hiếm khi trở thành một việc làm chính yếu:
Thông thường, những theo đuổi về lí thuyết của Marx lép vế so với những hoạt động tốn thời giờ hơn nhiều: xử lý chuyện đi lại – di cư, làm báo, IWMA, trốn tránh mấy tay chủ nợ, và những căn bệnh nghiêm trọng hay chí tử vốn đang gây khổ sở cho con cái và vợ ông, và cho chính bản thân ông sau khi bắt đầu mắc bệnh về da vào năm 1863. Những công việc lí luận của Marx thường xuyên bị gián đoạn mỗi lần hàng tháng trời hoặc chỉ được thực hiện vào những buổi đêm khuya.
Nhưng nếu hoàn cảnh cuộc đời của Marx khó lòng thích hợp cho việc lao động liên tục vốn cần thiết để xây dựng hệ thống (lý luận), thì tính chất chiết trung trong lối tư duy của ông lại là một trở ngại lớn hơn nữa. Việc ông vay mượn ý tưởng từ nhiều nguồn là chuyện quen thuộc với giới học giả. Sperber còn bổ sung cho hiểu biết thông thường của chúng ta về tính chiết trung của Marx bằng cách nghiên cứu sự xung đột giữa việc Marx duy trì lòng trung thành với niềm tin của Hegel rằng lịch sử có một logic cố hữu về sự phát triển, với việc tôn thờ khoa học, điều Marx thụ đắc được từ phong trào thực chứng [thời bấy giờ, với ngọn cờ đầu là Auguste Comte – ND].
Bằng cách chỉ ra vai trò học thuật có tính chất định hình của chủ nghĩa thực chứng vào giữa thế kỉ 19, Sperber tự chứng tỏ bản thân là một người dẫn đường am hiểu vào thế giới ý tưởng của Marx. Một phần hiển nhiên vì giờ đây trong một số khía cạnh thì chủ nghĩa thực chứng dường như là một lĩnh vực phản động đáng xấu hổ nên nó đã bị giới sử gia nghiên cứu sự phát triển của tri thức lơ là. Tuy vậy nó lại sản sinh được những ý tưởng gây ảnh hưởng ghê gớm. Bắt nguồn với nhà xã hội chủ nghĩa Pháp Henri de Saint-Simon (1760-1825) nhưng được phát triển hoàn chỉnh bởi Auguste Comte (1798-1857), một trong những người khai sinh ra ngành xã hội học, chủ nghĩa thực chứng đề xướng một cái nhìn về tương lai vốn vẫn còn phổ biến và có tiếng nói mạnh mẽ ngày nay. Khi khẳng quyết rằng khoa học là mô hình cho mọi loại hình tri thức đích thực, Comte hướng đến một thời đại nơi mà các tôn giáo truyền thống đã mất dạng, những tầng lớp xã hội của quá khứ đã bị thay thế, và chế độ công nghiệp (industrialism, một thuật ngữ do Saint-Simon nặn ra) được tổ chức lại dựa trên cơ sở lí tính và hài hoà – một sự biến đổi sẽ xảy ra trong một chuỗi các giai đoạn tiến hoá tương tự với các giai đoạn mà giới khoa học tìm thấy trong thế giới tự nhiên.
Sperber bảo chúng ta rằng Marx mô tả những hệ thống triết lí của Comte là “thứ cứt mang mùi thực chứng chủ nghĩa”; nhưng lại có nhiều điểm tương đồng giữa quan điểm của Marx về xã hội và lịch sử với những quan điểm của giới thực chứng:
Dẫu cho Marx giữ cách biệt với những học thuyết [thực chứng] này, nhưng các yếu tố thực chứng lại nằm hiển hiện trong chính hình dung của ông về sự tiến bộ thông qua những giai đoạn khác nhau của sự phát triển lịch sử và sự phân chia lịch sử nhân loại thành hai thời kỳ, một kỉ nguyên phi lí tính thuở ban đầu và một kỉ nguyên công nghiệp và khoa học thuở sau.
Một cách sắc sảo, Sperber thấy được hai nét tương đồng căn bản giữa mô tả của Marx về sự phát triển nhân loại với mô tả của Herbert Spencer (1820-1903), người mà (chứ không phải Darwin) đã nghĩ ra cụm từ “sự sống sót của loài thích nghi nhất” (survival of the fittest) và dùng nó để biện hộ cho chủ nghĩa tư bản laissez-faire [tự do]. Chịu ảnh hưởng từ Comte, Spencer chia xã hội loài người thành hai loại, “loại ‘bạo lực’ (militant) và loại ‘công nghiệp’ (industrial), với loại đầu tiên định rõ toàn bộ phần quá khứ tiền công nghiệp, tiền khoa học, và loại thứ nhì đánh dấu một thời đại mới trong lịch sử thế giới”.
Thế giới mới của Spencer là một phiên bản lí tưởng hoá của chủ nghĩa tư bản thời Victoria thuở ban đầu, trong khi thế giới của Marx được cho là sẽ xuất hiện chỉ khi nào chủ nghĩa tư bản bị lật đổ; nhưng hai nhà tư tưởng này cùng gặp nhau tại một điểm khi cùng kì vọng “một kỉ nguyên mới thiên về khoa học, một kỉ nguyên khác về căn bản so với quá khứ của loài người”. Như Sperber đã kết luận: “Ngày nay, khách viếng thăm Nghĩa trang Highgate tại Bắc London có thể thấy ngôi mộ của Karl Marx và Herbert Spencer nằm đối diện nhau – mặc cho những khác biệt về tư tưởng giữa hai người, sự kề cạnh này không hẳn là một sắp đặt không thích hợp”.
Bài viết trích từ bài điểm cuốn sách Karl Marx: A Nineteenth-Century Life, của Jonathan Sperber, Liveright, 648 trang, $35.00, đăng trên New York Review of Books.

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Karl Marx dẫn đầu cuộc nổi dậy chống lại chủ nghĩa tư bản (Phần 2)

marx_engels2
Nguồn: Mark Skousen (2007). “Karl Marx Leads a Revolt Against Capitalism”, in M. Skousen, The Big Three in Economics: Adam Smith, Karl Marx, And John Maynard Keynes (New York: M.E.Sharpe), pp. 64-104 (Ch. 3).
Biên dịch: Bùi Thu Thảo | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Marx trong đời thường: Một thất bại buồn thảm
Engels đã phải chờ cho tới thế kỷ 20 trước khi những tác động của Marx có ảnh hưởng. Năm 1883, nó mới chỉ là sự hoang tưởng tự đại. Tại thời điểm ông qua đời, Marx gần như là một người bị lãng quên. Chỉ có chưa đến hai mươi người tới dự đám tang của ông. Ông đã không nhận được sự tiếc thương từ những người công nhân thợ mỏ ở Siberia, như Engels từng nói, chỉ một số ít người còn nhớ Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, chứ chưa nói gì đến Tư bản. John Stuart Mill còn chưa từng nghe nói về ông. Vào lúc cuối đời, có thể Marx đã nhớ lại với sự đồng tình những lời trong Kinh thánh, “Vì di chúc chỉ có hiệu lực khi người ta chết đi, nên nó chẳng có hiệu lực gì khi người ấy còn sống” (Heb. 9: 17).
Số phận gia đình ông thật đáng buồn khi nghĩ tới. Nó là một cơn ác mộng. Trước khi qua đời Marx chỉ có hai người con gái và một người con trai ngoài giá thú. Năm 1898, Eleanor Marx con gái của ông, được biết đến với tên Tussy và là một nhà cách mạng có tư chất mạnh mẽ giống cha, đã tự vẫn sau khi biết tin Freddy là con trai ngoài giá thú của cha bà, và người chồng, nhà cách mạng người Ireland đầy hoài nghi của bà, đã có một người vợ nữa. Năm 1911, người con gái còn sống của Marx, Laura, một diễn giả hùng hồn với nhan sắc nổi bật cũng đã tự sát cùng chồng là một nhà xã hội người Pháp. Tóm lại, có rất ít tin vui trong những năm cuối đời của Marx và Jenny Marx cũng như con cháu của họ. Engels, còn được gọi là “Tướng quân” (General), đã chết vì ung thư vào năm 1895.
Mô hình của Marx về sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản
Giờ hãy cùng nhìn lại những đóng góp của Marx đối với kinh tế học và xác định rõ những gì là tác động lâu dài và những gì đã bị loại bỏ.
Trong tác phẩm Tư bản, xuất bản năm 1867, Karl Marx đã cố gắng giới thiệu một mô hình thay thế mô hình kinh tế học cổ điển của Adam Smith. Hệ thống này đã thông qua những định luật “khoa học” bất biến để chứng minh rằng chế độ tư bản chủ nghĩa có những lỗ hổng chết người, chỉ làm lợi cho những nhà tư bản và doanh nghiệp lớn, rằng nó bóc lột công nhân, lao động bị hạ cấp chỉ như một thứ hàng hóa có giá cả mà không có linh hồn, và rằng nó luôn có xu hướng khủng hoảng khiến cho chủ nghĩa tư bản chắc hẳn sẽ tự diệt vong. Theo nhiều cách, mô hình của chủ nghĩa Marx đã hợp lý hóa niềm tin của nhà tạo lập ra nó rằng chế độ tư bản chủ nghĩa phải bị lật đổ và thay thế bởi chủ nghĩa cộng sản.
Thuyết giá trị lao động
Marx đã phát hiện ra rằng hệ thống của Ricardo phù hợp hoàn toàn với mô hình bóc lột của ông. Bằng nhiều cách, David Ricardo chính là người dẫn dắt Marx trong kinh tế học. Như đã đề cập trong Chương 2, Ricardo tập trung vào sản lượng và phương thức phân phối nó giữa các giai cấp chính – địa chủ, công nhân và tư sản. Ricardo và người nối nghiệp của ông, John Stuart Mill, đã nỗ lực phân tích nền kinh tế theo giai cấp hơn là theo hoạt động của các cá nhân.
Say và trường phái tự do kinh tế (Chương 2) đã chú trọng vào lợi ích chủ quan của các cá nhân, nhưng Marx đã chối bỏ Say và đi theo Ricardo bằng cách tập trung vào việc sản xuất của một thứ “hàng hóa” đồng nhất và cách phân phối thu nhập từ sản xuất này cho các giai cấp.
Trong hệ thống giai cấp của Ricardo, lao động đóng vai trò then chốt trong việc xác định giá trị. Đầu tiên là Ricardo và sau đó là Marx đã cho rằng lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị. Giá trị của một “hàng hóa” phải tương ứng với số giờ lao động bình quân được sử dụng để làm ra hàng hóa đó.
Học thuyết giá trị thặng dư
Nếu lao động đúng là yếu tố quyết định giá trị duy nhất thì lợi nhuận và lợi tức nằm ở đâu? Marx đã gọi lợi nhuận và lợi tức là “giá trị thặng dư”. Đó chỉ là một bước logic ngắn gọn để đi đến kết luận rằng do đó các nhà tư sản và địa chủ là những kẻ bóc lột lao động. Nếu mọi giá trị thật sự là sản phẩm của lao động thì mọi lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được và lợi tức các địa chủ có được phải là “giá trị thặng dư”, được bòn rút bất chính từ thu nhập chân chính của giai cấp lao động.
Marx đã phát triển một công thức toán học cho học thuyết giá trị thặng dư của mình. Tỷ lệ lợi  nhuận (p) hay tỷ lệ bóc lột bằng giá trị thặng dư (s) chia cho giá trị sản phẩm cuối cùng (r). Do vậy:
p = s/r
Ví dụ, giả sử nhà sản xuất quần áo thuê công nhân sản xuất váy. Nhà tư sản bán những bộ váy với giá 100USD mỗi sản phẩm, nhưng lao động chỉ có giá 70USD cho mỗi bộ váy. Do đó, tỷ lệ lợi nhuận hay tỷ lệ bóc lột sẽ là:
p = 30/100 = 0,3, hay 30%
Marx đã chia giá trị sản phẩm cuối cùng thành hai dạng tư bản là tư bản bất biến (C) và tư bản khả biến (V). Tư bản bất biến đại diện cho nhà máy và thiết bị. Tư bản khả biến là chi phí nhân công. Do vậy, phương trình tỷ lệ lợi nhuận được viết thành:
p = s/[v +c]
Marx cho rằng lợi nhuận và sự bóc lột được tăng lên bằng cách kéo dài ngày làm việc của công nhân, và bằng cách thuê phụ nữ và trẻ em với mức lương thấp hơn đàn ông. Hơn thế, Marx còn cho rằng, máy móc và công nghệ tiên tiến mang lại lợi ích cho nhà tư sản chứ không phải công nhân. Ví dụ, máy móc cho phép nhà tư sản thuê phụ nữ và trẻ em để vận hành. Kết quả chỉ có thể là bóc lột nhiều hơn.
Những người chỉ trích đáp trả rằng tư bản là năng suất và xứng đáng với một khoản lợi nhuận hợp lý, nhưng Marx đã phản biện lại rằng tư bản chỉ là lao động “bị đóng băng” và do đó tiền lương phải chiếm toàn bộ tiền thu được từ sản xuất. Các nhà kinh tế học cổ điển đã không có phản hồi nào đối với Marx, ít nhất là vào thời điểm ban đầu. Và vậy nên Marx đã thắng lợi bằng cách sử dụng những lập luận không thể chối cãi để “chứng minh” rằng chủ nghĩa tư bản đã gây ra sự “đấu tranh giai cấp”  khổng lồ giữa công nhân, tư sản và địa chủ – và các nhà tư sản và địa chủ có một lợi thế không công bằng. Murray Rothbard nhận xét, “Khi thế kỷ 19 đã trôi qua nửa chặng đường, khiếm khuyết của kinh tế học Ricardo đã trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Kinh tế học đã đi đến sự diệt vong của chính nó” (Rothbard 1980, 237). Mãi cho đến nghiên cứu của Philip Wicksteed, một tu sĩ người Anh, và Eugen von Bohm-Bawerk, một nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng tại Áo, Marx mới thực sự được trả lời, với sự tập trung vào vấn đề chấp nhận rủi ro và lợi ích tiên phong mà các nhà tư sản mang lại. Nhưng chủ đề này phải chờ tới Chương 4.
Lợi nhuận giảm dần và sự tích lũy tư bản
Marx có một quan điểm bảo thủ về máy móc và công nghệ. Sự tích lũy tư bản không ngừng tăng lên nhằm đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và làm cho chi phí nhân công giảm. Marx từng phát biểu trong Tư bản rằng, “Tích lũy, tích lũy! Đó là Moses và các nhà tiên tri!… Vì vậy, tiết kiệm, tiết kiệm, cụ thể là tái biến đổi phần lớn nhất có thể của giá trị thặng dư, hay sản phẩm thặng dư thành tư bản!” (1976 [1867], 742).
Nhưng điều này đã dẫn tới rắc rối, một cuộc khủng hoảng trong chủ nghĩa tư bản, tất cả là do “quy luật lợi suất giảm dần.” Bởi theo công thức về lợi suất của Marx, s/[v + c], chúng ta có thể thấy rằng tăng thêm máy móc sẽ làm tăng c và do vậy làm giảm lợi nhuận. Các công ty lớn trở nên tập trung hơn bởi các doạnh nghiệp lớn hơn sản xuất rẻ hơn, điều “luôn luôn dẫn tới sự phá sản của nhiều nhà tư bản nhỏ.” Trong khi đó, tất cả công nhân trở nên cực khổ hơn, ngày càng có ít tiền hơn để mua hàng hóa tiêu dùng. Ngày càng nhiều công nhân bị đuổi việc, gia tăng thất nghiệp trong một “đội quân dự bị công nghiệp” vốn chỉ kiếm được một mức lương vừa đủ sống.
Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản
Chi phí hạ, lợi nhuận giảm, sức mạnh độc quyền, tiêu dùng dưới mức, thất nghiệp hàng loạt của giai cấp vô sản – tất cả những điều kiện này dẫn tới “những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hơn và trên phạm vi rộng hơn” và sự suy thoái của của chế độ tư bản chủ nghĩa (Marx và Engels 1964 [1848], 13). Và tất cả những điều này bắt nguồn từ thuyết giá trị về lao động!
Marx đã chối bỏ định luật về thị trường của Say, thứ bị ông gán cái tên là “tiếng bập bẹ trẻ con… lời bốc phét… trò bịp bợm” (Buchholz 1999, 133). Không hề có sự ổn định trong chủ nghĩa tư bản, không có xu hướng hướng tới trạng thái cân bằng và toàn dụng lao động. Marx đã nhấn mạnh bản chất của cả sự bùng nổ và sụp đổ của chế độ tư bản chủ nghĩa, và rằng sự cáo chung sau cùng của nó là điều tất yếu.
Chủ nghĩa đế quốc của chủ nghĩa tư bản tiền tệ
Marx bị ấn tượng mạnh mẽ bởi năng lực của các nhà tư bản trong việc tích lũy vốn và tạo ra các thị trường mới, cả ở trong và ngoài nước. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã mô tả hiện tượng này trong một trích đoạn nổi tiếng: “Giai cấp tư sản, trong suốt thời kỳ thống trị hiếm hoi một trăm năm của mình, đã tạo ra lực lượng sản xuất đồ sộ và khổng lồ hơn tất cả các thời kỳ trước gộp lại.” Các nhà tư bản luôn bị gắn với sự hỗn độn “bởi sự xâm chiếm các thị trường mới, và bởi sự bóc lột ngày càng triệt để các thị trường đã có” (Marx và Engels 1964 [1848], 12-13).
Sau đó các nhà Marxist luôn mô tả chủ nghĩa tư bản và các công ty lớn là những “tên đế quốc” cố hữu, bóc lột công nhân nước ngoài và khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên của nước họ. Học thuyết về chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân được phát triển chủ yếu bởi J.A. Hobson và V.I. Lenin. Rất nhiều trong số những thái độ chống Mỹ và bài ngoại của các nước đang phát triển trong suốt thế kỉ 20 có nguồn gốc từ chủ nghĩa Marx, và kết quả của quan điểm chống tư bản này đã và đang tàn phá, dẫn tới sự tăng trưởng chậm và thậm chí là âm tại rất nhiều khu vực của châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Vậy chủ nghĩa tư bản tiến về đâu? Marx bị ảnh hưởng sâu sắc bởi George Wilhelm Hegel trong việc phát triển tiến trình quyết định luận kinh tế của mình. Chính đề cơ bản của Hegel là “Mâu thuẫn (về bản chất) là gốc rễ của mọi sự vận động và sự sống.” Hegel đã mô tả mâu thuẫn này theo phép biện chứng, các lực lượng chống đối nhau cuối cùng sẽ tạo ra một lực lượng mới. Một “chính đề” được hình thành sẽ tạo ra một “phản đề” phát triển theo hướng ngược lại, đến lượt nó rốt cuộc sẽ tạo ra một “hợp đề” mới. Hợp đề này sau đó trở thành một “chính đề” và quá trình lại lặp lại theo sự tiến bộ của văn minh.
Biểu đồ trong Hình 3.1 phản ánh phép biện chứng trên của Hegel. Marx đã áp dụng phép biện chứng của Hegel vào quan điểm quyết định luận về lịch sử của mình. Do vậy, tiến trình lịch sử có thể được mô tả bằng cách sử dụng khái niệm của Hegel – từ chế độ chiếm hữu nô lệ tới chủ nghĩa tư bản rồi đến chủ nghĩa cộng sản.
Theo thuyết này, nô lệ được xem như phương tiện sản xuất chính hay một chính đề trong suốt thời kì Hy – La. Chế độ phong kiến đã trở thành phản đề chính của nó trong thời Trung Cổ. Hợp đề đã trở thành chủ nghĩa tư bản, điều trở thành chính đề mới sau thời đại Khai sáng. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã phải đối mặt với phản đề của chính nó – mối đe dọa tăng lên từ chủ nghĩa xã hội. Sau cùng, cuộc đấu tranh này sẽ dẫn tới hệ thống sản xuất tối hậu, chủ nghĩa cộng sản. Với cách lập luận này, Marx luôn là một người lạc quan. Ông tin chắc rằng mọi quá trình lịch sử đều hướng tới các hình thái xã hội cao hơn, đỉnh cao là chủ nghĩa cộng sản.
Hình 3.1 Phép biện chứng của Hegel được sử dụng để mô tả tiến trình lịch sử
(vui lòng download file để xem hình)
Giải pháp của Marx: Chủ nghĩa xã hội cách mạng
Nhưng trong khi chủ nghĩa cộng sản được cho là điều tất yếu thì Marx lại thấy rằng cách mạng là cần thiết để đạt được nó. Đầu tiên và trên hết, Marx là người đề xuất dùng bạo lực (“mạnh mẽ”) để lật đổ chính quyền và thiết lập chủ nghĩa xã hội cách mạng. Ông thích thú với bạo lực. Marx đã thôi thúc cách mạng diễn ra trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848, Quốc tế thứ nhất năm 1860 và tại Công xã Paris năm 1871. Dù nhà cách mạng Đức đã không tiết lộ cụ thể kế hoạch của ông nhưng Tuyên ngôn của Đảng cộng sản mang một cương lĩnh gồm mười điều sau (Marx và Engels 1964 [1848], 40):
  1. Xóa bỏ sở hữu (tư nhân) đối với đất đai và đưa toàn bộ đất đai phục vụ cho mục đích công.
  2. Thuế thu nhập theo mức hoặc lũy tiến bậc cao.
  3. Xóa bỏ mọi quyền thừa kế.
  4. Tịch thu tài sản của toàn bộ người di dân và phiến loạn.
  5. Tập trung tín dụng trong tay nhà nước bằng một ngân hàng quốc gia với vốn nhà nước và độc quyền duy nhất.
  6. Tập trung các phương thức truyền thông và vận tải trong tay nhà nước.
  7. Mở rộng các nhà máy và công cụ sản xuất thuộc sở hữu nhà nước; khai hoang đất trống và cải tạo đất nói chung phù hợp với kế hoạch chung.
  8. Nghĩa vụ lao động ngang nhau đối với tất cả mọi người. Thành lập các đội quân ngành, đặc biệt là trong nông nghiệp.
  9. Kết hợp nông nghiệp với các ngành sản xuất; từng bước xóa bỏ sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn bằng sự phân bổ dân số đồng đều hơn trên cả nước.
  10. Giáo dục miễn phí cho toàn bộ trẻ em tại các trường công. Xóa bỏ việc sử dụng lao động trẻ em trong các nhà máy hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất công nghiệp, v.v…
Thật khó mà tưởng tượng việc thúc đẩy một vài trong số các biện pháp trên mà không cần đến bạo lực. Nhưng chưa dừng lại ở đó. Marx cũng tán thành “nền chuyên chính vô sản” độc tài. Ông ủng hộ việc xóa bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân, dựa trên học thuyết của ông cho rằng sở hữu tư nhân là căn nguyên của xung đột, đấu tranh giai cấp và là một hình thái nô lệ (1964 [1848], 27). Ông đồng tình với Proudhon cho rằng “sở hữu là trộm cắp.” Không có sở hữu tư nhân sẽ không cần tới trao đổi, không có mua bán, và do đó Marx và Engels tán thành việc triệt tiêu tiền tệ (30). Sản xuất và tiêu dùng sẽ tiếp diễn và thậm chí là phát triển thịnh vượng thông qua kế hoạch tập trung mà không cần trao đổi hay tiền tệ.
Marx và Engels cũng yêu cầu xóa bỏ gia đình truyền thống trong một nỗ lực nhằm “ngăn chặn hiện tượng cha mẹ bóc lột con cái” và “hình thành một cộng đồng phụ nữ.” Những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản ủng hộ một chương trình giáo dục giới trẻ vốn sẽ “phá hủy những mối quan hệ tôn kính nhất” và “thay thế giáo dục gia đình bởi giáo dục xã hội” (33 – 35).
Vậy còn tôn giáo thì sao? Marx cho rằng “tôn giáo là thứ thuốc phiện của con người.” “Chủ nghĩa cộng sản thủ tiêu những chân lý bất diệt, nó thủ tiêu mọi tôn giáo và đạo lý thay vì cấu thành chúng theo một nền tảng mới; do vậy, nó đi ngược lại toàn bộ kinh nghiệm lịch sử trước đây” (38).
Marx đã đoán trước rằng chủ nghĩa xã hội cách mạng sẽ lần đầu tiên cho phép con người có sự biểu đạt đầy đủ về sự tồn tại và hạnh phúc. Mục tiêu “vạn vật giàu có” mà Adam Smith theo đuổi cuối cùng sẽ đạt được dưới chế độ chủ nghĩa cộng sản đích thực. Trong tâm can, Marx là một con người theo đuổi hòa bình, thịnh vượng phổ quát. Thiên đường có để đạt được trên cõi trần. Rốt cuộc nền chuyên chính vô sản sẽ được thay thế bởi một xã hội không giai cấp, không nhà nước. Con người của chủ nghĩa Marx sẽ là một con người mới!
Lời tiên tri của Marx không thành hiện thực
Nhưng tất cả điều này đã không xảy ra. Lời tiên tri của Marx đã bị sai lệch, dù không phải là ngay lập tức. Đến tận năm 1937, Wassily Leontief, một người Nga lưu vong mà sau này đã đạt giải Nobel cho phân tích đầu vào – đầu ra (input – output analysis), đã tuyên bố rằng ghi chép của Marx là “ấn tượng” và “chính xác” (Leontief 1938, 5, 8). Nhưng lời ngợi ca của Leontief đã quá vội vàng. Kể từ đó, như Leszek Kolakowski, cựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Ba Lan đã tuyên bố, “Tất cả những lời tiên tri quan trọng của Marx hóa ra đều sai lầm” (Denby 1996, 339). Một số vấn đề cần xem xét lại:
  1. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, tỷ lệ lợi nhuận không hề giảm, ngay cả khi ngày càng nhiều vốn được tích lũy qua hàng thế kỷ.
  2. Giai cấp lao động không hề rơi vào cảnh ngày càng bần cùng. Mức lương về căn bản đã tăng hơn mức đủ sống. Mức sống trung bình của công nhân tăng dần tại các nước công nghiệp. Tầng lớp trung lưu không hề biến mất mà còn tăng lên. Như Paul Samuelson kết luận, “Sự bần cùng hóa của giai cấp lao động… chỉ đơn giản là chẳng bao giờ diễn ra. Là một nhà triên tri, Marx đã vô cùng không may mắn và hệ thống của ông cũng chẳng đem lại kết quả gì” (1967, 622).
  3. Có rất ít bằng chứng về sự tập trung công nghiệp tăng lên trong các xã hội tư bản tiên tiến, đặc biệt là khi có sự cạnh tranh toàn cầu.
  4. Các xã hội xã hội chủ nghĩa không tưởng không hề nảy nở, và cũng không có cuộc cách mạng vô sản tất yếu nào xảy ra.
  5. Bất chấp các chu kỳ kinh doanh và thậm chí đôi khi xảy ra các cuộc suy thoái lớn, chủ nghĩa tư bản dường như vẫn phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết.
Cập nhật: Những nhà Marxist là những nhà tiên tri dự báo ngày tận thế thời hiện đại
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Marx và Engels đã cảnh báo, “Chỉ cần đề cập là đã đủ rằng các cuộc khủng hoảng thương nghiệp diễn ra theo chu kỳ đã thử thách sự tồn tại của toàn bộ xã hội tư sản, mỗi lần một đe dọa hơn” (1964 [1848], 11 – 12).
Theo chân người lãnh đạo của mình, các nhà Marxist hiện đại tiếp tục dự đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản, để rồi bị bác bỏ, cứ lặp đi lặp lại như vậy. Năm 1976, vào giữa cuộc khủng hoảng năng lượng và sự suy thoái do lạm phát, nhà xã hội Michael Harrington đã xuất bản cuốn sách với tựa đề Buổi hoàng hôn của chủ nghĩa tư bản (The Twilight of Capitalism) để dành tặng Karl Marx. Ông đã dự đoán rằng cuộc khủng hoảng vào những năm 1970 sẽ là cái kết của chủ nghĩa tư bản.
Cũng trong năm đó, nhà Marxist Ernest Mandel đã viết lời tựa cho tác phẩm Tư bản, tuyên bố hùng hồn rằng “Chủ nghĩa tư bản sẽ chẳng thể tồn tại qua nửa thế kỷ nữa với các cuộc khủng hoảng (quân sự, chính trị, xã hội, tiền tệ, văn hóa) diễn ra không ngừng suốt từ năm 1914” (Mandel 1976 [1867], 86).
Paul M. Sweezy, giáo sư Marxist tại đại học Harvard, là một người bi quan lâu năm. Từ những năm 1930, ông đã dự đoán rằng chủ nghĩa tư bản đang suy yếu, và rằng chủ nghĩa xã hội, vốn giúp nâng mức sống lên cao hơn, sẽ tiến lên nhanh chóng (Sweezy 1942, 362). Ông là đồng tác giả của một cuốn sách với tiêu đề Cái kết của sự phồn vinh (The End of Prosperity) in năm 1977.
Tuy nhiên, sang thế kỷ mới, chủ nghĩa tư bản thậm chí còn năng động hơn bao giờ hết. Các nhà Marxist hiện đại, luôn là những người bi quan, một lần nữa lại bị chứng tỏ là đã sai lầm.
Trường hợp kì lạ của Nikolai Kondratieff
Một nhà kinh tế nổi tiếng người Nga đã phủ nhận dự đoán của các nhà Marxist về cái kết tất yếu của chủ nghĩa tư bản là Nikolai Kondratieff (1892 – 1938). Năm 1926, ông đã gửi một bài luận văn tới Viện Kinh tế có uy tín ở Moscow, đưa ra trường hợp về một chu kỳ kinh doanh 50 – 60 năm. Dựa trên các xu hướng về giá và sản lượng từ những năm 1780, Kondratieff đã mô tả các chu kỳ “sóng dài” 2,5 lên xuống của sự thịnh vượng và suy thoái. Kondratieff không tìm ra bằng chứng về sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản mà thay vào đó lại là một sự hồi phục mạnh mẽ tiếp sau suy thoái.
Năm 1928, Kondratieff đã bị cách chức khỏi vị trí đứng đầu Viện Điều kiện Kinh doanh của Moscow và chính đề của ông đã bị phản bác trong cuốn Bách khoa toàn thư Liên Xô chính thức (Solomou 1987, 60). Ông nhanh chóng bị bắt giữ vì bị cáo buộc là lãnh đạo của Đảng Nông dân Lao động vốn thực tế không hề tồn tại và bị trục xuất tới Siberia vào năm 1930. Ngày 17 tháng 10 năm 1938, trong suốt giai đoạn thanh trừng diện rộng dưới thời Stalin, ông bị xét xử lần thứ hai và bị kết án tù mười năm và không được quyền thư từ liên lạc với thế giới bên ngoài; tuy nhiên, Kondratieff đã bị xử bắn vào đúng ngày phán quyết được ban hành. Vào thời điểm bị giết, ông mới 46 tuổi.[1]
Những phê phán đối với Marx
Tại sao Marx lại sai lầm tệ hại sau khi thiết lập thứ ông gọi là định luật “khoa học” của kinh tế học?
Trước tiên, thuyết giá trị về lao động của ông có những khiếm khuyết. Khi bác bỏ quy luật về thị trường của Say, ông cũng đã phủ nhận thuyết giá trị có căn cứ của Say. Say đã nói đúng rằng giá trị của hàng hóa và dịch vụ rốt cuộc sẽ được xác định bằng lợi ích. Nếu các cá nhân không có nhu cầu hoặc không cần tới một sản phẩm thì không cần biết có bao nhiêu lao động và nỗ lực được đặt vào đó, sản phẩm đó vẫn là không có giá trị.
Nhà sử học Jacques Barzum cho rằng “Ngọc trai không phải có giá trị vì con người lặn tìm nó mà con người lặn tìm ngọc trai vì nó có giá trị” (Barzum 1958, 152). Và Philip Wicksteed, người viết bài phê bình khoa học đầu tiên về thuyết giá trị của Marx vào năm 1884, đã nhận định “Một cái áo choàng không đáng giá 8 lần so với một cái mũ bởi thời gian làm ra nó lâu gấp 8 lần… Mà mọi người sẵn sàng dành 8 lần thời gian để làm ra một chiếc áo choàng bởi vì nó đáng giá 8 lần cái mũ” (Wicksteed 1933, vii).[2]
Và còn tất cả những thứ đáng giá vốn liên tục tăng giá trị ngay cả khi chúng yêu cầu rất ít hoặc không cần tới lao động, ví dụ như nghệ thuật và đất đai thì sao? Marx đã nhận ra đây là những ngoại lệ trong học thuyết của mình nhưng vẫn coi chúng không quan trọng đối với vấn đề căn bản về sức lao động.
Vấn đề chuyển đổi
Marx cũng đã phải đối mặt với một vấn đề lưỡng nan được xem là “vấn đề chuyển đổi”, vấn đề về tỷ suất lợi nhuận và giá trị. Một xung đột nổi lên dưới hệ thống của Marx do có một số ngành cần nhiều nhân công và các ngành khác lại cần nhiều vốn. (Trong ngôn ngữ Marxist, chúng có kết cấu hữu cơ về tư bản cao hơn.) Trong tập 1 của tác phẩm Tư bản, Marx đã khẳng định rằng giá biến động hoàn toàn theo thời gian lao động, do đó kết luận rằng các ngành cần nhiều vốn sẽ ít có khả năng sinh lời hơn là các ngành cần nhiều lao động. Nhưng chứng cớ dường như lại chỉ ra khả năng sinh lời tương đương nhau ở tất cả các ngành trong dài hạn, do vốn và các khoản đầu tư có thể di chuyển từ các ngành có khả năng sinh lời thấp tới các ngành có khả năng sinh lời cao hơn. Marx không bao giờ có thể giải quyết được vấn đề hóc búa này, điều mà Rothbard gọi là “lỗ hổng rõ ràng nhất trong mô hình của Marx” (Rothbard 1995b, 413).
Marx đã vật lộn với vấn đề chuyển đổi này trong suốt cuộc đời của ông, hứa hẹn một câu trả lời trong các tập sắp tới của Tư bản. Trong lời giới thiệu về tập 2 của Tư bản, Engels đã trao giải thưởng cho một cuộc thi viết luận về cách giải quyết vấn đề lưỡng nan của Marx. Trong chín năm sau đó, một số lớn các nhà kinh tế học đã cố gẳng giải quyết nó, nhưng lúc xuất bản tập 3 của Tư bản, Engels đã thông báo rằng không có ai chiến thắng[3] (Rothbard 1995b, 413). Eugen Bohm-Bawerk đã công kích kịch liệt sai lầm này trong kinh tế học này của Marx; như lời của Paul Samuelson thì, “rõ ràng Bohm-Bawerk hoàn toàn đúng khi khẳng định rằng tập 3 của Tư bản không bao giờ có khả năng thực hiện được lời hứa giải quyết được các mâu thuẫn hư cấu” (Samuelson 1967, 620).
Vai trò thiết yếu của các nhà tư bản và các nhà doanh nghiệp
Thứ hai, Marx mắc sai lầm khi đánh giá thấp kiến thức và công việc của các nhà tư bản và nhà doanh nghiệp. Như chúng ta sẽ xem xét trong chương tới, Bohm-Bawerk, Alfred Marshall và các nhà kinh tế học vĩ đại khác đã nhận ra đóng góp khổng lồ của các nhà tư bản và nhà doanh nghiệp trong vấn đề chấp nhận rủi ro và cung cấp vốn (sự tiết kiệm) cần thiết và kỹ năng quản lý cần có để vận hành một doanh nghiệp có khả năng sinh lời.


[1] Việc Kondratieff bị hành hạ bởi chính quyền Liên Xô không có nghĩa rằng lý thuyết của ông về việc chủ nghĩa tư bản tự động trải qua chu kỳ 50 – 60 năm là đúng. Niềm tin vào thứ gọi là chu kỳ sóng dài Kondratieff vẫn tồn tại trong một số nhà kinh tế, nhà sử học và nhà phân tích tài chính, những người thường dự đoán một cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế khác. Tuy nhiên, giờ đã gần 80 năm kể từ cuộc suy thoái toàn cầu cuối cùng. Như Victor Zarnowitz kết luận mới đây, “Có nhiều ý kiến không tán thành về sự tồn tại thực sự của một vài sóng dài thậm chí cả ở những người ủng hộ khái niệm này, và càng nhiều quan điểm bất đồng về thời điểm của sóng và các giai đoạn của chúng” (Zarnowitz 1992, 238).
[2] Chính bài báo này, xuất hiện trên tờ nguyệt san Ngày nay (Today) của các nhà xã hội chủ nghĩa vào tháng 10 năm 1884, đã thuyết phục George Bernard Shaw và Sidney Webb rằng thuyết giá trị về lao động là không thể trụ vững được và do vậy sẽ kéo toàn bộ lâu đài của chủ nghĩa Marx xuống đống đổ nát (Lichtheim 1970, 192 – 93).
[3] Bản tóm tắt đầy đủ về cuộc tranh luận về sự chuyển đổi giữa các nhà Marxist có thể được tìm thấy trong tài liệu của Howard và King (1989, 21 – 59).
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/05/22/marx-chong-lai-chu-nghia-tu-ban-p2/#sthash.WOZpn5My.dpuf

Karl Marx dẫn đầu cuộc nổi dậy chống lại chủ nghĩa tư bản (Phần 1)

Nguồn: Mark Skousen (2007). “Karl Marx Leads a Revolt Against Capitalism”, in M. Skousen, The Big Three in Economics: Adam Smith, Karl Marx, And John Maynard Keynes (New York: M.E.Sharpe), pp. 64-104 (Ch. 3).
Biên dịch: Bùi Thu Thảo | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp


Jenny! Nếu linh hồn của chúng ta có thể hòa quyện cùng nhau, thì anh có thể bất chấp mà đấm thẳng vào bộ mặt của thế gian, rồi sải bước qua đống đổ nát như một đấng tạo hóa!
Karl Marx nói với hôn thê của mình (Wilson 1940)
Karl Marx sở hữu tố chất thiên tài đầy ma lực để biến đổi thế giới hiện đại.
Saul K. Padover (1978)
Nếu nghiên cứu của Adam Smith là khởi thủy của kinh tế học hiện đại thì Karl Marx là nơi kết thúc của nó. Nếu triết gia người Scotland là nhà sáng lập vĩ đại của tự do kinh tế, thì nhà cách mạng Đức là người hủy diệt vĩ đại của nó. Nhà Marxist John E. Roemer cũng thừa nhận như vậy. Theo ông, “sự khác biệt căn bản” giữa Smith và Marx được miêu tả như sau: “Smith cho rằng mưu cầu tư lợi của cá nhân sẽ đưa đến kết quả lợi ích cho tất cả, trong khi đó Marx lại lý luận rằng mưu cầu tư lợi sẽ dẫn tới tình trạng vô chính phủ, khủng hoảng và sự tự tan rã của chế độ tư hữu. Smith đã chứng tỏ rằng có một bàn tay vô hình dẫn dắt các cá nhân và tác nhân tư lợi có những hành động giúp đưa đến sự tối ưu xã hội dù họ không quan tâm tới kết quả này; đối với những người theo chủ nghĩa Marx thì sự ví von tương tự là bàn tay sắt của sự cạnh tranh sẽ nghiền nát những người lao động và khiến họ trở nên khốn đốn hơn so với trong một chế độ khả dĩ khác, cụ thể là một chế độ dựa trên sở hữu xã hội hoặc công cộng (Roemer 1988, 2-3).
Bất chấp tất cả những nỗi kinh hoàng được thực hiện nhân danh Marx, trong hơn một thế kỷ, triết gia người Đức đã truyền nguồn cảm hứng to lớn cho những người lao động và trí thức bị tước đi quyền công dân của chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Malthus và Ricardo có thể đã gieo mầm cho những mối bất đồng nhưng chính Marx (1818 – 83) đã đập tan những xiềng xích của chủ nghĩa tư bản và xé tan những cơ sở của hệ thống tự do tự nhiên của Adam Smith. Hệ thống thương mại không còn được xem là “vô hại” (Montesquieu), “cùng có lợi” (Smith) hay “hài hòa tự nhiên” (Say và Bastiat). Giờ đây, theo Marx, nó được khắc họa là một thứ xa lạ, mang tính bóc lột và tự hủy diệt. Theo ý kiến của Marx, sự giải phóng xảy ra khi mọi người rời khỏi mô hình của Adam Smith.
Dấu ấn của ông đối với thế giới là không thể xóa nhòa và là minh chứng của một trí tuệ xuất chúng. Marx là một thiên tài, điều đó không có gì phải bàn cãi – ông có học vị tiến sĩ về triết học Hy Lạp; nói được tiếng Pháp, Đức và Anh thành thạo; am hiểu sâu rộng về khoa học, văn học, nghệ thuật, toán học và triết học; và đã viết nên một cuốn sách kinh điển vốn tạo ra một mẫu hình mới đầy sức mạnh về tư duy kinh tế. Và cũng đừng bận tâm rằng ông không thể cân bằng sổ séc hoặc giữ được một việc làm. Một nhà viết tiểu sử không theo chủ nghĩa Marx đã gọi ông là “một con người tài năng phi thường, uyên bác và xuất chúng” (Padover 1978: xvi). Martin Bronfenbrenner thì cho rằng Marx là “nhà khoa học xã hội vĩ đại nhất mọi thời đại” (1967: 624).[1]
Marx và Chủ nghĩa cộng sản
Tuy nhiên, cũng giống như Cain trong Kinh thánh, Marx bị nguyền rủa là vết nhơ của lịch sử. Tên tuổi của ông sẽ mãi mãi bị gắn liền với mặt trái của chủ nghĩa cộng sản. Có một bóng ma luôn đeo đuổi Karl Marx – lịch sử về Lenin, Stalin, Mao và Pol Pot và hàng triệu người chết và bị đầy đọa bởi “đế quốc xấu xa”, như theo cách gọi của Ronald Reagan. Các nhà biện minh cho rằng Marx không thể chịu trách nhiệm về sự tàn bạo của những người đi theo chủ nghĩa cộng sản của ông và thậm chí còn cho rằng Marx chắc sẽ là một trong những người đầu tiên bị hành quyết và gửi tới các trại lao động. Có thể như vậy. Có một điều là trong suốt sự nghiệp của mình, ông luôn phản đối kịch liệt việc kiểm duyệt báo chí, xuất bản. Nhưng nếu không có Marx, liệu có sự trấn áp và cách mạng bạo lực này không? Phải chăng Marx đã không ủng hộ sự “cai trị bằng khủng bố” đối với giai cấp tư sản? Như một nhà phê bình cục đoan từng nói: “Nhân danh sự tiến bộ của con người, Marx đã gây ra sự chết chóc, bất hạnh, suy đồi và tuyệt vọng nhiều hơn bất cứ một ai từng sống” (Downs 1983, 299).
Marx gây ra sự cuồng tín của thanh niên
Trong các trường phái tư tưởng, không có nhà kinh tế hay triết gia nào mang lại niềm say mê và cơn sốt sùng đạo như Marx. Hơn hết thảy, Marx là một người nhìn xa trông rộng và là một thần tượng cách mạng chứ không chỉ là một nhà kinh tế. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (The Communist Manisfesto) ra đời hơn 150 năm trước, ta không thể không cảm thấy nội lực đầy say mê, ngòi bút sắc sảo và sự giản dị đến lạ lùng trong những ngôn từ của Marx và Engels (1968 [1848]).
Những môn đồ trẻ tuổi trờ thành những tín đồ thật sự và thường mất nhiều năm để họ không còn say mê với chủ nghĩa Marx. Điều này đã xảy ra với Robert Heilbroner, Mark Blaug, Whittaker Chambers và David Horowitz. Tôi thậm chí đã thấy điều này trong những sinh viên của tôi tại Đại học Rollins, một thập kỉ sau khi chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô sụp đổ và chủ nghĩa Marx bị coi như đã tàn lụi. Trong khóa học “Tìm hiểu các nhà kinh tế vĩ đại” mà tôi giảng dạy, tôi đã yêu cầu các sinh viên đọc một cuốn sách được viết bởi một nhà kinh tế. Một sinh viên đã chọn Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Sau khi đọc nó, cậu ấy đã tới chỗ tôi và thốt lên đầy xúc động khi chỉ vào bản copy được đánh dấu chi tiết của mình, “Thật không thể tin được! Em phải làm một bài tường thuật về cuốn sách này!” Thật là kì lạ. Trong giờ giảng của mình, tôi cố hết sức để phản biện lại học thuyết của Marx song điều này không còn ý nghĩa nữa. Cậu ấy đã bị thay đổi chính kiến.
Tôi có thể dễ dàng nhận ra cách một nhà cách mạng trẻ tuổi có thể bị lay động bởi những dòng bút chiến không thể nào quên trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản:
Một bóng ma đang đeo đuổi châu Âu – bóng ma của Chủ nghĩa cộng sản…. Lịch sử của mọi xã hội tồn tại từ trước tới nay là lịch sử của các cuộc đấu tranh giai cấp…. Giai cấp tư sản đã thẳng tay phá tan các mối quan hệ phong kiến đa dạng, ràng buộc con người vào “các bậc bề trên tự nhiên” của mình và không để lại mối quan hệ giữa người với người nào khác ngoài sự tư lợi trần trụi hay lối “tiền mặt trao tay” đầy vô cảm…. Được che đậy bởi tấm màn tôn giáo và chính trị, nó đã thay thế sự bóc lột tàn bạo, trắng trợn, vô liêm sỉ và trần trụi… Hãy để các giai cấp cầm quyền phải run sợ trước cuộc cách mạng cộng sản. Những người vô sản không có gì để mất ngoài những xiềng xích mà họ phải chịu đựng. Họ có phần thưởng là cả thế giới này để giành lấy. VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC, ĐOÀN KẾT LẠI! (1964 [1848]).
Một thời gian lâu sau khi chủ nghĩa Marx tồn tại ở New York, Marshall Berman kể lại cái cách mà ông, một người trẻ tuổi, bắt gặp một cuốn sách khác của Marx, Các bản thảo kinh tế và triết học năm 1844 (Economic and Philosophical Manuscripts of 1844). Cuốn sách này cũng đã mang đến một niềm nhiệt huyết cuồng nhiệt. “Đột nhiên tôi vã mồ hôi, ướt đẫm, cởi bỏ quần áo và tuôn trào nước mắt, chợt cảm thấy nóng lạnh từng đợt” (Berman 1999, 7) – không phải do những ngôi sao trong tạp chí Playboy hay lần đầu giao dịch cổ phiếu giá rẻ, mà là do tác phẩm của Marx.
Về nhiều phương diện, chủ nghĩa Marx đã gần như trở thành một thứ tôn giáo, với các khẩu hiệu, biểu tượng, ngọn cờ đỏ, thánh ca, tư cách thành viên của đảng, các vị tông đồ, những người tử vì đạo, kinh thánh và chân lý cuối cùng. “Marx có sự tự tin của một nhà tiên tri đã từng nói chuyện với Chúa…. Ông là một nhà thơ, nhà tiên tri, nhà luân lý học nói chuyện như một nhà triết gia và nhà kinh tế học; học thuyết của ông không được kiểm chứng một cách thực tế nhưng lại được tiếp nhận như là chân lý đạo đức. Marx đã dẫn đường cho những Người Được Chúa Chọn thoát ra khỏi ách nô lệ để đến với Jerusalem Mới… Trở thành một người theo chủ nghĩa Marx hoặc một người Cộng sản giống như việc chìm dắm trong tình yêu, một thứ xúc cảm thiết yếu” (Wesson 1976, 29–30, 158). Một cuốn cẩm nang của tuổi trẻ đã được xuất bản vào năm 1935 với tiêu đề Những giáo huấn của Marx cho nam nữ thanh niên (Teachings of Marx for Girls and Boys) được viết bởi mục sư Tin lành William Montgomery Brown, được làm nổi bật trên trang bìa với hình ảnh những “môn đồ xuất sắc nhất” của Marx là Lenin và Stalin.
Những đóng góp của Marx đối với kinh tế học
Ít có nhà kinh tế học nào đã thâm nhập vào các ngành học khác như Marx đã từng làm. Marx vừa là một triết gia, một nhà sử học, vừa là nhà khoa học chính trị, nhà xã hội học và nhà phê bình văn học. Ông viết nhiều và viết gần như không ngừng nghỉ về mọi lĩnh vực. Thậm chí ngày nay, bộ tài liệu sưu tập tất cả các công trình của Marx và đồng sự của ông – Friedrich Engels vẫn chưa được hoàn thành. Các bình luận về Marx và các chủ đề liên quan khổng lồ đến mức phải gộp thành các tuyển tập. (Trên Internet, trang Amazon.com đã liệt kê hơn 4000 đề mục về Marx và chủ nghĩa cộng sản, chỉ xếp thứ hai sau Chúa Jesus và Thiên chúa giáo.) Do đó, chương này về Marx của chúng tôi buộc phải tập trung chủ yếu vào những đóng góp của ông đối với lĩnh vực kinh tế. Ngay cả vậy, Marx với tư cách một nhà kinh tế học cũng không phải là một đề tài đơn giản.
Marx chính là nhà kinh tế học lớn đầu tiên thiết lập ra trường phái tư tưởng của riêng mình, với một phương pháp luận riêng và thứ ngôn ngữ đặc thù. Khi tạo dựng nên trường phải tư tưởng của chính mình trong tác phẩm kinh điển, Tư bản (1976 [1867]), ông đã đối chiếu cơ chế của mình với cơ chế tự do kinh tế – cơ chế được tán thành bởi Adam Smith, J.-B. Say, David Ricardo và nhiều người khác. Marx đã gọi tự do kinh tế với cái tên “trường phái cổ điển”. Khi phát triển cách tiếp cận kinh tế học theo chủ nghĩa Marx, ông đã tạo ra những thuật ngữ của riêng mình: giá trị thặng dư, tái sản xuất, tư sản và vô sản, chủ nghĩa duy vật lịch sử, nền kinh tế tầm thường, chủ nghĩa tư bản độc quyền, vv…. Ông đã sáng tạo ra thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản.”[2] Từ thời của Marx, kinh tế học không còn giống như trước. Ngày nay, không có mô hình kinh tế nào được chấp nhận rộng khắp như các mô hình trong vật lý và toán học – chỉ có những trường phái kinh tế học đối lập nhau.
Học vấn thuở ban đầu: Các mâu thuẫn tồn tại trong Marx
Triết gia người Đức là ai? Ai đã mang lại niềm đam mê, sự sùng đạo, một mô hình kinh tế mới đầy sức mạnh có thể thách thức mô hình cổ điểm của Adam Smith?
Karl Heinrich Marx sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm 1818 trong một ngôi nhà tuyệt đẹp ở Trier thuộc tỉnh Rhine thuộc Phổ. Trier là thành phố lâu đời nhất tại Đức. Từ khi chào đời cho đến lúc lìa trần, con người Marx luôn chứa đựng đầy những mâu thuẫn. Ông công kích những người tiểu tư sản, nhưng lại lớn lên trong một gia đình thuộc giai cấp tư sản. Ông đã sống nhiều năm của cuộc đời thành niên trong cảnh khốn cùng tuyệt vọng dù ông có dòng dõi tương đối khá giả. Ông tán dương các tiến bộ về vật chất và công nghệ của chủ nghĩa tư bản, song lại chỉ trích xã hội tư bản. Ông đồng cảm sâu sắc với những người công nhân, nhưng lại chưa từng có một công việc ổn định hay từng tới thăm một nhà máy nào trong suốt cuộc đời thành niên của mình. Mẹ ông từng phàn nàn rằng, “Giá mà Karl làm ra được tiền, thay vì chỉ viết về nó!” (Padover 1978, 344).
Marx ném những lời chỉ trích bài Do Thái vào những người chống đối ông, dù ông mang dòng máu Do Thái từ cả hai phía gia đình. Trong một bài tiểu luận công bố năm 1843, “Về vấn đề Do Thái”, Marx đã thể hiện thái độ bài Do Thái rất phổ biến tại châu Âu thời điểm đó. Ngôn ngữ của ông không hề khoan nhượng: “Sự sùng bái cá nhân của người Do Thái là gì? Lừa đảo. Đức Chúa trời của anh ta là gì? Tiền!… Tiền là vị thần đố kị của Isarel mà trước mặt vị thần đó không vị thần nào khác có thể tồn tại. Tiền làm thoái hóa mọi vị thần của nhân loại – và biến họ thành các loại hàng hóa… Những gì chứa đựng một cách trừu tượng trong tín ngưỡng Do Thái – đó là sự khinh miệt đối với các học thuyết, nghệ thuật và lịch sử” (Padover 1978, 169). Sự phỉ báng mang tính phân biệt chủng tộc của Marx không bao giờ dịu lại. Ông không bao giờ rút lại những lời phỉ báng năm 1843 của mình về người Do Thái. “Ngược lại”, nhà tiểu sử Saul Padover viết, “ông đã nuôi dưỡng sự thù địch đối với họ suốt đời… Những lá thư của ông chứa đầy những bình phẩm, châm biếm, và những biệt danh cay nghiệt bài trừ người Do Thái: “cái mũi Do Thái của Levy” (Levy’s Jewish nose), “kẻ cho vay nặng lãi” (usurers), “thằng nhóc Do Thái” (Jew-boy), “kẻ Do Thái mọi rợ” (nigger-Jew), vv…. Nguyên nhân có thể được lý giải bởi quan niệm Selbsthass (sự tự căm thù bản thân) trong tiếng Đức, việc Marx căm ghét người Do Thái giống như một căn bệnh xấu xa mà thời gian hay kinh nghiệm đều không thể xóa bỏ khỏi tâm hồn của ông” (Padover 1978, 171).
Tuy nhiên, những nhà Marxist lỗi lạc đã phủ nhận tư tưởng bài trừ Do Thái của Marx. Cuốn Từ điển về tư tưởng Marx (A Dictionary of Marxian Thought) khẳng định, “Mặc dù chúng ta biết rằng Marx không phản đối việc sử dụng những từ thô tục xúc phạm một số người Do Thái nhưng không có một căn cứ nào để coi ông là một người bài Do Thái” (Bottomore 1991, 275). Gareth Stedman Jones viết rằng, “Cáo buộc Marx là người theo chủ nghĩa bài Do Thái…là không thể hiểu được trừ khi đặt nó trong bối cảnh lòng căm thù của ông đối với mọi dạng chủ nghĩa đặc thù về quốc gia và dân tộc” (Blumenberg 1998 [1962], x).
Marx đã trải qua nhiều mâu thuẫn trong suốt cuộc đời của mình. Ông yêu thương những đứa con, nhưng lại chứng kiến chúng chết yểu bởi sự suy dinh dưỡng và bệnh tật hoặc tự tử. Marx chống lại những con quỷ của sự bóc lột trong hệ thống tư bản, nhưng theo một nhà tiểu sử thì ông đã “bóc lột tất cả những người xung quanh mình – vợ ông, các con ông, người giúp việc nhà của ông và những người bạn của ông – với một sự nhẫn tâm và ngày càng khủng khiếp hơn vì nó là cố ý và có tính toán” (Payne 1968, 12). Paul Samuelson nói thêm rằng, “Marx là một người cha và người chồng hiền lành; nhưng ông cũng rất dễ nổi nóng, cục cằn, lỗ mãng” (Samuelson 1967b, 616). Tóm lại, Marx công kích những mâu thuẫn bên trong chủ nghĩa tư bản, nhưng chính ông cũng luôn bị vây quanh bởi những mâu thuẫn trong chính con người mình.
Niềm tin vào Thiên Chúa của Marx
Sự trớ trêu đáng ngạc nhiên nhất là Karl Marx – người được xem là một trong những kẻ thù lớn nhất của tôn giáo – lại được nuôi dưỡng bởi một người theo đạo Thiên Chúa dù nhiều tổ tiên của ông là những chức sắc Do Thái giáo.
Cha của ông, Heinrich Marx, đã vượt qua những chướng ngại tưởng chừng như vô vọng để trở thành một luật sư Do Thái khá giả. Khi ông phải đối mặt với một đạo luật mới của Phổ vào năm 1816 cấm những người Do Thái hành nghề luật sư, ông đã chuyển từ đạo Do Thái sang đạo Cơ Đốc dòng Luther. Mẹ ông, Henrietta Pressborch, là con gái của một chức sắc Do Thái giáo, nhưng bà cũng đã nhận thấy các giá trị xã hội trong việc chuyển sang đạo Thiên Chúa.
Karl, người con trai sống sót lớn nhất trong gia đình có chín người con, đã được rửa tội để trở thành một con chiên và đã viết một vài bài luận về cuộc sống của người theo đạo Thiên Chúa khi đang trong trường trung học. Khi là học sinh năm cuối trong trường trung học, Karl đã viết một bài luận với tiêu đề “Liên hiệp những người theo đạo Thiên Chúa” nói về sự cách ly, một nỗi sợ bị Chúa chối bỏ. Ông bị mê hoặc bởi những câu chuyện về một thiên đường hòa bình trong Sáng thế ký (Genesis – sách mở đầu của Kinh thánh – NHĐ) và sự tận thế kinh hoàng trong sách Khải huyền (Revelation – sách cuối cùng của Kinh Tân Ước – NHĐ) của Thánh John. Sau đó, những quyển sách đầu và cuối trong Kinh Thánh này đã giúp hình thành những học thuyết của Marx về sự cách ly, đấu tranh giai cấp, sự lật đổ xã hội tư sản mang tính cách mạng và sự huy hoàng của một kỉ nguyên hòa bình và hưng thịnh không giai cấp, không nhà nước. Tầm nhìn của ông về thắng lợi của những người vô sản đến từ những bài học thuở ban đầu về lòng tin vào Chúa cứu thế. Đầu tiên và trước hết Marx là một người cộng sản của thiên niên kỷ (millennial communist – trong Kinh thánh “thiên niên kỷ” đề cập tới thời kỳ nghìn năm hòa bình, thịnh trị khi Chúa và các môn đồ của ông cai trị thế gian – NHĐ).
Nhiều giáo điều của Marx không phải do ông nghĩ ra. Chúng đến từ Kinh Thánh nhưng đã được ông pha chế và biến đổi cho phù hợp với mục đích của mình. Như nhà viết tiểu sử Robert Payne từng viết, “khi ông ấy (Marx) quay lưng lại Thiên Chúa giáo, ông đã mang vào những ý tưởng của mình về công bằng xã hội một niềm đau đáu về sự chuộc lỗi và nỗi sợ hãi bị cách ly (như trong Kinh Thánh)” (1968, 42).
Marx trở thành một nhà cấp tiến trong trường đại học
Đức tin của Marx đã bị thách thức gần như ngay lập tức khi bước chân vào Đại học Bonn, nơi ông, giống như bao sinh viên năm đầu khác, tốn nhiều thời gian vào việc uống rượu và nhậu nhẹt hơn là học tập. Ông chất đống hóa đơn, tham gia vào một nhóm cách mạng bí mật, và bị thương trong một cuộc đấu tay đôi. Sau đó ông bị bắt giữ vì mang súng lục và bị giam vì tội gây rối trật tự.
Cha ông hy vọng rằng có thể sửa đổi người con trai cả của mình bằng cách chuyển ông sang trường Đại học Berlin danh tiếng, nơi Marx trải qua năm năm tiếp theo. Nhưng lối sống vô kỉ luật của ông vẫn tiếp diễn. Ông đọc ngấu nghiến rất nhiều sách và sống một cuộc đời khác người. Ông cho mình là một nhà thơ, biên dịch những vở kịch Hy Lạp và ghi đầy trong sổ những vở bi kịch tối tăm và thi ca lãng mạn. Ông tham gia câu lạc bộ của các tiến sĩ (Doktorklub), một nhóm nhỏ các nhà cấp tiến trẻ tuổi theo thuyết Hegel.
Các bạn học mô tả ông là người có trí tuệ khác thường và ngoan cố bảo thủ, đôi mắt đen đầy kích động nhìn chằm chằm thách thức. Ông nổi bật với bộ râu đen và mái tóc dày, chất giọng chói tai, tính khí mạnh mẽ. Ông có nước da sẫm màu khác thường đến mức gia đình và bạn bè gọi ông là “Mohr” hay “Moor” (người gốc Ả-rập Bắc Phi – NHĐ). Trong suốt những năm đại học, ông được mô tả rất sinh động qua một bài thơ ngắn (Payne 1968, 81; Padover 1978, 116).
Ai đang xông vào, mạnh mẽ và hoang dại –
Anh chàng ngăm đen từ Trier đang nổi khùng phải không?
Không bước không nhảy, mà là vồ lấy con mồi
Trong cơn thịnh nộ dữ dội, như đang nhảy ra chồm lấy
Những khoảng trời rộng lớn và kéo chúng xuống đất
Vươn cách tay rộng lên ôm lấy khoảng trời kia.
Nắm tay ma quỷ siết chặt, anh gầm lên vô tận
Như thể hàng vạn quỷ dữ đang túm tóc mình.[3]
Ảnh hưởng của các triết gia cấp tiến Đức
Hai triết gia cấp tiến ảnh hưởng mạnh mẽ tới Marx trong suốt những năm tháng đại học và sau này là: G.W.F. Hegel (1770-1831) và người đồng nghiệp Ludwig Feuerbach (1804-72). Từ Hegel, Marx đã nâng tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của “chủ nghĩa duy vật biện chứng” – rằng mọi sự tiến bộ đều đạt được thông qua xung đột. Từ Bản chất của Thiên Chúa giáo (The Essence of Christianity) (1841) của Feuerbach, Marx đã hợp lý hóa quan điểm cho rằng tôn giáo là hoang đường và chối bỏ Thiên Chúa giáo. Chúa không tạo ra con người; chính con người đã tạo ra Chúa! Engels đã mô tả tác động giải phóng mà cuốn sách của Feuerbach đã tạo ra: “Chỉ trong một chốc lát…nó đã đưa chủ nghĩa duy vật lên ngôi… Lời nguyền đã bị phá bỏ… Khí thế lan tỏa khắp trời: Tất cả chúng ta là những người theo tư tưởng Feuerbach vào lúc này” (Padover 1978, 136).
Cha mẹ của Marx đã phát ốm khi đứa con tiêu hoang của họ muốn trở thành một nhà văn và nhà phê bình thay vì một luật sư. Những bức thư của ông đã cho thấy những cuộc trò chuyện gay gắt giữa ông và cha mẹ mình. Cha của ông, Heinrich, là một người theo chủ nghĩa tự do kinh điển và là một nhà biện hộ cho nền văn hóa tư sản, vì vậy người ta có thể mường tượng ra ông đã thất vọng về con trai mình đến thế nào. Những bức thư của ông đã chỉ trích Karl là “một đứa mọi rợ nhếch nhác, một kẻ chống đối xã hội, thằng con khốn nạn, một người anh vô tâm, một người tình ích kỉ, đứa học sinh vô trách nhiệm và một kẻ lãng phí thiếu suy nghĩ”, tất cả những lời buộc tội xác đáng đó đã ám ảnh Marx trong suốt cuộc sống trưởng thành. Heinrich Marx đã mắng nhiếc, “Chúa giúp chúng con! Sự hỗn loạn, học đòi mê muội mọi ngành khoa học, những suy nghĩ u mê trong ánh đèn dầu tăm tối; sự bất quy tắc trong chiếc áo choàng và mái tóc rối của một học giả (Padover 1978, 106–07). Trong một lá thư khác, ông cáo buộc Karl bị ám ảnh bởi một “linh hồn của quỷ” đã “làm cho trái tim con trở nên xa lạ với những cảm xúc tốt đẹp” (Berman 1999, 25). Tuy nhiên, lá thư này không phải là lần duy nhất mà Karl bị cha chỉ trích về những hành động bất trị.
Những vần thơ quỷ quái của Marx
Một trong những khía cạnh ác mộng nhất về cuộc đời của Marx là niềm đam mê của ông đối với tác phẩm Faust của Goethe, câu chuyện về một người đàn ông trẻ tuổi đấu tranh giữa cái thiện và cái ác của chính mình và kí giao kèo với quỷ Satan. Faust đã đánh đổi linh hồn của mình (cho quỷ Mephistopheles) để có một cuộc sống mơ ước và khả năng điều khiển thế giới thông qua đám đông lao động được tổ chức. Tác phẩm Faust của Goethe là một cuốn kinh thánh suốt đời đối với Marx. Ông nằm lòng mọi lời nói của Mephistopheles và có thể thuật lại những đoạn dài cho những đứa con của mình. (Ông đồng thời cũng yêu thích Shakespeare, người có những câu nói mà ông thường xuyên trích dẫn.)
Khi còn là một sinh viên tại trường Đại học Berlin năm 1837, Marx đã viết nên những vần thơ lãng mạn dành tặng vị hôn thê của mình, Jenny von Westphalen. Một trong những bài thơ này, “Người nghệ sĩ”, đã được đăng trên tạp chí văn học Đức, Athenaeum năm 1841 (tái bản trong Pane 1971, 59). Nó miêu tả một nghệ sĩ vĩ cầm khơi gợi lên sức mạnh của bóng tối. Người nghệ sĩ, trong hình tượng Lucifer (quỷ Satan) hoặc Mephistopheles, đã tuyên bố táo bạo:
Nhìn đây, ta sẽ đâm thanh kiếm nhuốm máu đen
Chuẩn xác vào tâm hồn ngươi.
Chúa chẳng biết và cũng chẳng tán dương nghệ thuật.
Địa ngục bốc hơi và lấp đầy trí não.
Cho tới khi ta phát điên và trái tim hoàn toàn thay đổi.
Nhìn thanh kiếm này – Hoàng tử Bóng đêm đã bán nó cho ta.
Vì ta người gõ nhịp và ra tín hiệu.
Càng liều lĩnh hơn, ta nhảy vũ điệu tử thần.[4]
Marx sáng tác một bi kịch Hy Lạp
Giao kèo với quỷ là chủ đề chính trong Oulanem, một vở kịch thơ mà Marx viết năm 1839. Ông chỉ hoàn thành được màn đầu tiên, nhưng nó hé lộ một số nhân vật lập dị và bạo lực. Tên nhân vật chính, Oulanem, là phép đảo chữ của từ Manuelo, nghĩa là Immanuel hoặc Thiên Chúa (Payne 1971, 57-97). Trong một đoạn độc thoại kiểu Hamlet, Oulanem đã tự hỏi liệu mình có phải phá hủy thế giới hay không.
Sự ám ảnh của Marx đối với hành vi tự hủy hoại là phổ biến trong suốt cuộc đời ông. Ông thậm chí còn viết và xuất bản nguyên một cuốn sách về vấn đề tự sát khi đang sống lưu vong ở Bỉ năm 1835. Ông cũng dịch tác phẩm của Jacques Peuchet miêu tả chi tiết câu chuyện của bốn vụ tự sát, trong đó ba vụ là của ba phụ nữ trẻ. Trọng tâm của cuốn sách là nhằm vào hệ thống công nghiệp vốn khuyến khích hành vi tự tử (Plaut and Anderson 1999).
Marx kết hôn và chuyển tới Paris
Marx rốt cuộc đã rời khỏi Berlin với lý do ban giám hiệu trường đại học được tiếp quản bởi những người theo phái chống Hegel. Lo sợ rằng luận án tiến sĩ về triết học Hy Lạp của mình có thể bị từ chối, ông đã nộp nó lên trường Đại học Jena, nơi đã chấp nhận nó mà không cần yêu cầu Marx dự học. Năm 1842, ông đã làm việc trong một thời gian ngắn với vai trò biên tập viên của một tờ báo Đức, đồng thời mạnh mẽ bảo vệ tự do ngôn luận. Ông đã thôi việc khi những nhà kiểm duyệt khiến ông không thể tiếp tục.
Năm 1843, Marx kết hôn với người yêu thời niên thiếu và cũng là hàng xóm của mình, Jenny von Westphalen, bất chấp sự phản đối của cả hai gia đình. Jenny, hơn Marx bốn tuổi, là con gái của Nam tước Johann Ludwig von Westphalen, một quý tộc giàu có đại diện cho chính quyền Phổ trong hội đồng thành phố. Sau khi nhà quý tộc qua đời, gia đình Marx sống nhờ vào sự hào phóng của phu nhân nam tước. Jenny đã hết lòng tận tình đối với Marx và lý tưởng cách mạng của ông. Trong phần còn lại của cuộc đời, họ không bao giờ bị chia lìa dù lúc đói nghèo, bệnh tật hay thất bại. Tình yêu của họ sâu đậm và vững vàng, dù không phải không có rắc rối và phiền muộn. Họ gửi cho nhau vô số bức thư tình. Họ có cùng nhau 6 người con, dù chỉ có 2 cô con gái là sống sót.
Chưa đầy một năm sau, Karl và vợ mới cưới chuyển tới Paris, nơi ông đã làm biên tập viên cho một tờ nguyệt san tiếng Đức. Karl và Jenny Marx yêu Paris và văn hóa Pháp. Tại đây Marx ít quan tâm tới việc giao lưu với Bastiat và trường phái tự do kinh tế Pháp – sau này ông đã gọi Bastiat là người biện hộ “thiển cận” nhất của “nền kinh tế tầm thường” (Padover 1978, 369). Tuy nhiên ông lại là một trong những thành viên theo phong trào chủ nghĩa xã hội cấp tiến của Pháp cùng với Pierre Proudhon và Louis Blanc. Ông đắm mình vào đại dương sách và thường ba, bốn ngày liền không ngủ (Padover 1978, 189). Trực tiếp chứng kiến cảnh đấu tranh giai cấp, ông đã viết về sự chia tách (giai cấp) và những khổ đau mà người lao động phải chịu đựng dưới chủ nghĩa tư bản theo một cách đầy sức thuyết phục trong Các bản thảo kinh tế và triết học năm 1844, một cuốn tài liệu sưu tập các bài báo không được công bố cho đến năm 1932.


[1] Tôi nghĩ nhà xã hội học người Đức Max Weber xứng đáng nhận được sự tôn vình này. Xem thêm Skousen (2001), chương 10.
[2] Frank H. Knight và các nhà kinh tế học thiên hướng thị trường khác thích dùng thuật ngữ “tự do kinh doanh” hơn là “chủ nghĩa tư bản” khi mô tả nền kinh tế thị trường. XemKnight (1982 [1947], 448).
[3] Nguyên văn:
Who comes rushing in, impetuous and wild—
Dark fellow from Trier, in fury raging?
Nor walks nor skips, but leaps upon his prey
In tearing rage, as one who leaps to grasp
Broad spaces in the sky and drags them down to earth,
Stretching his arms wide open to the heavens.
His evil fist is clenched, he roars interminably
As though ten thousand devils had him by the hair.
[4] Nguyên văn:
Look now, my blood-dark sword shall stab
Unerringly within thy soul.
God neither knows nor honors art.
The hellish vapors rise and fill the brain.
Til I go mad and my heart is utterly changed.
See this sword—the Prince of Darkness sold it to me.
For me he beats the time and gives the signs.
Ever more boldly I play the dance of death.
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/05/20/marx-chong-lai-chu-nghia-tu-ban-p1/#sthash.DUvjuboP.dpuf

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Về điều bí ẩn trong “thế giới hàng hoá” của Marx


Lữ Phương
   
Bộ Tư bản của Karl Marx[*] mở đầu bằng câu: “Trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải biểu hiện ra là một “đống hàng hoá khổng lồ”, còn từng hàng hoá một thì biểu hiện ra là hình thái nguyên tố của của cải ấy. Vì vậy, công cuộc của chúng ta bắt đầu bằng việc phân tích hàng hoá” (TBI/1 tr. 51). Một câu khởi đầu đơn giản, tưởng không có gì quan trọng, nhưng ai đã đọc Marx nhiều lần đều nhận thấy tiềm ẩn ở đây một bản nội dung rút gọn của lý luận mácxít về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng với số phận lịch sử của nó.
Nhân cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lần này, khi đọc lại Marx, tôi muốn dừng lại câu dẫn trên đây để tìm hiểu rõ hơn thực chất của cái vật thể được ông gọi là “hình thái nguyên tố của của cải” tạo dựng nên xã hội tư bản, qua đó tập trung làm sáng tỏ vấn nạn cần được nêu ra ngay từ đầu để mọi thảo luận về học thuyết Marx có thể đi xa hơn: trong một thế giới tràn ngập hàng hoá, với mọi người, hàng hóa chỉ là những vật thể hữu dụng “tự nhiên” trong đời sống hàng ngày, nhưng qua phân tích và sự diễn tả của Marx, tại sao cái vật thể tầm thường ấy lại hiện ra với rất nhiều điều “khó hiểu”, “kỳ quái”, đến độ có thể gọi là “bí ẩn”, “siêu hình”?
Câu hỏi này không thể không dẫn đến một câu hỏi khác: trong lý giải của Marx, đâu là nguồn gốc sâu xa gây ra sự “khó hiểu” của vật thể được gọi là “hình thái nguyên tố” làm nên sự giàu có về mặt vật chất cho xã hội tư bản? Khai triển ý nghĩa của vấn nạn ấy người ta phải hiểu như thế nào về cái gọi là tính đặc trưng mácxít của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với tư cách là một hình thái lịch sử đặc thù? Và qua vấn nạn mácxít về sự bí ẩn của hàng hoá trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đó, chúng ta có thể hiểu thêm được gì về những “bí ẩn” nằm ngay trong chính bản thân sự suy tưởng của Marx về lịch sử, về bản chất xã hội của con người, những điều mà Marx đã gợi ra cách đây hơn cả một thể kỷ rưỡi, nay vẫn còn gây ra tranh cãi?

Giá trị, đại lượng giá trị, thời gian lao động xã hội cần thiết, sức sản xuất 
Để bắt đầu tìm hiểu những vấn đề phức tạp nói trên, chúng ta hãy cùng với Marx hình dung trước mặt mình có hai món hàng do hai người làm ra và dự định đem trao đổi với nhau. Trước khi trao đổi chúng ta được cho biết rằng theo quan điểm kinh tế cổ điển của Adam Smith, hàng hoá là do lao động khổ nhọc tạo ra, và ở Marx thì điều này hàm nghĩa đó là một hình thái lao động sản xuất trực tiếp, thứ lao động tạo ra những sản phẩm vật chất có thể cảm nhận bằng giác quan, đối tượng nghiên cứu của kinh tế học. Trừ những trường hợp riêng biệt, nguyên tắc của trao đổi là ngang giá, hai bên đều có lợi, mình cần cái mình không có mà không bị thiệt thòi. Muốn như vậy thì phải tìm ra một chuẩn mực chung giữa hai hàng hoá để làm cơ sở cho cuộc trao đổi đó. 
Chuẩn mực chung đó là gì? Trong trao đổi đơn giản, Marx cho rằng nếu đó là sự chi phí sức lao động tính bằng độ lâu (durée) về thời gian của các loại lao động riêng biệt thì trong xã hội mà sự trao đổi hàng hoá đã trở thành hiện tượng “chi phối”, phổ biến, sự chi phí về sức lao động đó đã biểu hiện như một hình thái đồng nhất, trừu tượng mang ý nghĩa của một bản thể xã hội gọi là giá trị. Không có cái bản thể chung quy định cho hình thái giá trị này làm cơ sở thì việc trao đổi hàng hoá sẽ trở nên tuỳ tiện, không thể bảo đảm được nguyên tắc ngang giá, có lợi cho các đối tác trên phạm vi toàn xã hội. 
Trong một xã hội của sản xuất và trao đổi hàng hoá, giá trị có thể xem như là một thứ linh hồn, vô hình, không ai thấy được, nhưng lại có khả năng điều khiển mọi chuyển động của cái hình thái xã hội ấy. Từ cách nhìn sự vật ở những dáng vẻ bên ngoài của nó, người ta cho rằng khái niệm giá trị là viễn vông, không giúp gì cho việc tính toán sản xuất (vì trong thực tế chỉ có giá cả), nhưng với Marx điều đó không đúng: không ai có thể thấy linh hồn của người bên cạnh mình, nhưng người ta vẫn có thể thông qua những biểu hiện hành vi, ứng xử để lần dò. Marx cho đó chính mới là công việc của những người làm khoa học: từ những biểu hiện của sự vật, người ta có thể tìm ra yếu tính của nó (đi từ giá cả để hiểu giá trị).
Vấn đề đặt ra ở đây là hãy xét xem thực thể của giá trị là gì? Với Marx khái niệm đó không phải là cái ý nghĩa tâm lý mưu cầu lợi ích của từng cá nhân (trong sản xuất lẫn tiêu thụ) mà, từ sự cấu tạo của nó, nó là một bản thể xã hội, là một hình thái lao động trừu tượng đã chưng cất lên từ tất cả các loại lao động dị biệt, dù khéo léo hay đơn giản, được tổng hợp, trung bình hoá thành một hình thái đồng nhất, hình thành “trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, với một trình độ thành thạo trung bình, một cường độ lao động trung bình” (TBI/1, tr. 56), kết tinh lại trong hàng hoá dưới hình thái “lượng thời gian lao động” và được gọi là “thời gian lao động xã hội cần thiết”.
Một tính chất khác cũng đã được Marx nhấn mạnh để làm rõ hơn nội dung của cái có thể gọi là “sức lao động xã hội” này: nó hoàn toàn tuỳ thuộc vào sức sản xuất của mỗi xã hội cụ thể, diễn ra trong các điều kiện về phát triển nhất định nào đó của sự phát triển về sản xuất xã hội (ta có thể hiểu đó là trình độ khoa học, kỹ thuật, quản lý, sáng tạo, phát minh, tổ chức điều hành…) mà mang chất lượng khác nhau. Qua sự trình bày của Marx thì sức sản xuất của lao động của một xã hội càng lớn thì thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một vật phẩm nào đó sẽ càng nhỏ, sức lao động bỏ ra càng ít, trái lại nếu sức sản xuất của xã hội đó càng yếu, thì khối lượng lao động kết tinh trong vật phẩm càng lớn, giá trị của nó càng lớn, sức lao động bỏ ra càng nhiều.
Giá trị là một khái niệm nền móng trong học thuyết Marx về sự vận động của lao động trong xã hội tư bản, không khởi đầu từ thực thể này, thì không thể lĩnh hội được bản chất của chế độ tư bản thông qua những phạm trù kinh tế học thường nghiệm của nó.

Giá trị và giá trị sử dụng trong hàng hoá
Ai có chú ý đến vấn đề giá trị lao động trong lý luận của Adam Smith đều biết tuy có nhắc đến khái niệm giá trị sử dụng, nhưng khái niệm này đã bị bỏ qua để chỉ nhấn mạnh khái niệm giá trị trao đổi trong quan hệ hàng hoá. Marx cũng tập trung tìm hiểu khái niệm đó (và cho đó là hình thái biểu hiện của giá trị) nhưng lại cho rằng người ta không thể hiểu được thực chất của giá trị nếu tách rời khỏi khái niệm đi chung với nó là giá trị sử dụng, cả hai cùng tồn tại và cần được phân tích để bổ sung cho nhau: trong khi hình thái giá trị trong hàng hoá được xem là trừu tượng, phi tự nhiên thì giá trị sử dụng lại chính là hình thái tự nhiên, cụ thể của nó, là mục đích cuối cùng trong chu kỳ lưu chuyển của hàng hoá.
Trong phân tích của Marx, hai hình thái gíá trị nói trên cùng tồn tại trong hàng hoá nhưng trong quá trình trao đổi, hình thái giá trị sử dụng đã bị tạm thời gạt hẳn sang một bên để giá trị trồi lên làm tròn chức năng trao đổi ngang giá của nó với những món hàng khác, và trong khi tập trung làm tròn chức năng này, theo cách nói của Marx, hàng hoá đã không còn giữ được “một nguyên tử nào về giá trị sử dụng” cả (TBI/1, tr.55). Giá trị bây giờ đã trở thành một thực thể hoàn toàn trừu tượng trong vận động, một hình thái phi vật thể, không bị ràng buộc gì với cái gánh nặng vật chất của giá trị sử dụng đã kéo trì nó xuống mặt đất. Nó tự tạo ra một con đường đi độc lập cho nó.
Nhưng cũng chính từ sự thoát ly của giá trị trong trao đổi mà Marx ghi nhận tính chất mâu thuẫn nội tại trong bản thân sự tồn tại của hàng hoá: sự mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị (biểu hiện thành giá trị trao đổi). Sự mâu thuẫn này chính là sự mâu thuẫn giữa tính chất trừu tượng, đồng nhất, phi tự nhiên của giá trị trong trao đổi hàng hoá với tính chất tự nhiên, cụ thể, muôn màu muôn vẻ của giá trị sử dụng chứa đựng trong bản thân nó. Người ta đổi hàng hoá để khai thác giá trị sử dụng có ích của nó, nhưng người ta không thể nào có được giá trị sử dụng ấy nếu không thông qua giá trị. (Không có mua qua bán lại thì không có hàng để tiêu dùng).
Hình thái ngang giá trong trao đổi giữa các hàng hoá như vậy đã tạo ra một sự đối lập từ nguồn gốc: giá trị sử dụng đã trở thành hình thái biểu hiện của cái đối lập với nó là giá trị. Ngoài ra còn là một hình thái đối lập thống nhất khác nữa: lao động cụ thể (hình thành trên giá trị sử dụng) đã biểu hiện trong cái đối lập với nó là lao động trừu tượng (kết tinh trong giá trị). Cần phải lưu ý đặc biệt những mâu thuẫn nội tại nói trên trong hàng hoá, những mâu thuẫn này đã bị những nhà kinh tế cổ điển bỏ qua, không đếm xỉa gì tới thì đối với Marx đã được khai thác triệt để trong phân tích làm tiền đề giải thích toàn bộ những mâu thuẫn đối kháng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong Tư bản, những mâu thuẫn đó đã được Marx ghi nhận tiên khởi như “tính chất hai mặt của hàng hoá”, từ đó sau khi phân tích đã dẫn đến một nhận xét rất đáng lưu ý sau đây: đó là tính chất mà ông gọi là “tính chất bí ẩn của hình thái ngang giá” khi các hàng hoá được trao đổi với nhau – nhận xét này sẽ giúp chúng ta hiểu hiện tượng mà Marx sẽ gọi là “tính bái vật giáo của hàng hoá”. Hàng hoá là một vật, bản thân của nó là một giá trị, giá trị này chỉ có được trong trao đổi với một hàng hoá khác, nhưng một cách biểu kiến người ta không thấy được đó là kết quả do mối quan hệ trao đổi tạo ra mà chỉ thấy giá trị ấy tự bộc lộ trong mối quan hệ đó nên tưởng rằng cái hàng hoá được trao đổi đó tự nhiên có được một hình thái ngang giá, có thể trao đổi trực tiếp được.
Nói một cách khác, người ta không thấy được cái bản thể chung về lao động xã hội, trừu tượng của hàng hoá, căn cứ vào đó để trao đổi mà lại chỉ dựa vào hàng hoá với tư cách là một vật thể biểu hiện để cho rằng bản thân vật thể ấy tự nhiên có được cái thuộc tính có thể trao đổi trực tiếp. Marx cho rằng trầm trọng hơn khi cái bí mật của hình thái ngang giá này đã bị coi như không còn được chú ý nữa khi giá trị của hàng hoá đã xuất hiện ra dưới hình thái hoàn chỉnh của nó là tiền – hình thái ngang giá phổ biến của hàng hoá đã đạt đến cấp độ trừu tượng mang tính chất thuần ý niệm, có thể tự thân vận động độc lập với sản xuất trong lưu thông.

Lao động tư nhân và quan hệ sản xuất
Qua hình thái giá trị nội tại trong hàng hoá, với tư cách là một hình thái vật thể hoá giá trị, một câu hỏi đặt ra: tại sao các vật phẩm tiêu dùng bao hàm giá trị sử dụng lại trở thành hàng hoá? Câu trả lời của Marx là: “chỉ vì chúng là sản phẩm của những lao động tư nhân được tiến hành một cách độc lập với nhau” (TBI/1, tr. 98). Như vậy xét về mặt quan hệ xã hội giữa những người sản xuất ra hàng hoá thì một xã hội bao gồm những tư nhân độc lập với nhau đã là điều kiện tiên quyết để hình thành xã hội hàng hoá.
Trong xã hội trao đổi hàng hoá phổ biến, những tư nhân này đã không còn là những người đem hàng hoá dư thừa của mình trao đổi lấy hàng hoá khác để tiêu dùng mà đã trở thành những nhà chuyên làm hàng hoá để trao đổi, cũng vì đó tính chất giá trị của hàng hoá đã được coi là mục đích ngay từ đầu. Tính có ích của hàng hoá vẫn tồn tại nhưng đã trở thành sự có ích cho người khác, chứ không phải cho người sản xuất ra sản phẩm. Tính có ích cụ thể này cũng bị gạt hẳn sang bên trong quá trình trao đổi cho nên hình thái giá trị trừu tượng trong hàng hoá đã có thể vận động theo một đường đi phi vật thể, chuyển vận khắp nơi theo cái sức đẩy tự thân của nó.
Tách rời khỏi sự ràng buộc của giá trị sử dụng, tách rời khỏi những giao tiếp cụ thể của những người làm ra sản phẩm để tiêu dùng, hàng hoá vật thể hoá của giá trị đã trở thành đại diện cho những người sản xuất, và những người sản xuất bấy giờ chỉ cần quan hệ với nhau thông qua những hàng hoá-vật thể ấy như những đại biểu cho mình. Khái niệm “quan hệ xã hội về sản xuất” trong kho từ vị của Marx đã xuất hiện theo một ý nghĩa rất đặc biệt trong xã hội hàng hoá: nó chỉ mối quan hệ của những tư nhân sản xuất độc lập với nhau và chỉ quan hệ với nhau dưới hình thái của một “quan hệ xã hội của những sản phẩm lao động”. Trong xã hội hàng hoá đó
“Tính bình đẳng của các loại lao động của con người mang hình thái giá trị của những sản phẩm lao động; thước đo những lao động cá thể bằng thời gian mang hình thái đại lượng giá trị những sản phẩm lao động; cuối cùng những quan hệ của các người sản xuất, ở đó những tính cách xã hội của lao động của họ tự bộc lộ, mang hình thái một quan hệ xã hội của những sản phẩm của lao động” (TBI/1, tr. 97).
Ý nghĩa câu dẫn trên là gì?
“Những quan hệ của những người sản xuất ở đó tính chất xã hội của lao động của họ tự bộc lộ”: ở đây là quan hệ giữa những người sản xuất trong hình thái xã hội mà ta có thể hiểu theo lôgích ngược lại, một hình thái xã hội phi hàng hoá, trong hình thái này tính chất xã hội của họ bộc lộ ra một cách tự nhiên; điều đó có nghĩa bất cứ lao động nào cũng mang tính chất xã hội, tính chất xã hội này đã biểu hiện một cách trực tiếp nơi những chủ thể sản xuất. Ý nghĩa: yếu tính lao động xã hội biểu hiện trực tiếp nơi những chủ thể lao động cá biệt.
Những quan hệ sản xuất nói trên, trong xã hội hàng hoá đã “mang hình thái một quan hệ xã hội của những sản phẩm của lao động”. Nếu trong xã hội phi hàng hoá, sản phẩm phụ thuộc vào con người để khi giao tiếp đối mặt trực tiếp với nhau thì trong xã hội hàng hoá, sản phẩm đã trở thành một vật thể trung gian qua đó con người quan hệ với nhau không cần biết nhau là ai. Mối quan hệ sản xuất cụ thể giữa người và người trước đó nay đã thay bằng mối quan hệ gián tiếp của những sản phẩm. Ý nghĩa: yếu tính lao động xã hội biểu hiện thông qua những vật thể trung gian giữa những nguời sản xuất cá biệt.
Tính chất đặc biệt của mối quan hệ sản xuất này có được vì được đặt trên hai điều kiện:
1)   Tính bình đẳng của các loại lao động của con người mang hình thái giá trị của những sản phẩm lao động: Hình thái tự nhiên của lao động của con người biểu hiện ra ở những chi phí khác nhau về sức lao động trong các loại lao động khác nhau – trong xã hội hàng hoá tất cả đã được quy về một bản thể chung, một thứ lao động đồng nhất, trừu tượng, biểu hiện thành hình thái giá trị. Vì trừu tượng, giá trị không thể trông thấy được nhưng đã quy định mọi lưu thông vận động của hàng hoá.
2)   Thước đo những lao động cá thể bằng thời gian mang hình thái đại lượng giá trị những sản phẩm lao động: Các hình thái lao động khác nhau về chất có thể đo bằng thời gian lao động cụ thể, tức là độ dài riêng biệt của sự chi phí sức lao động làm cho những sản phẩm khác nhau về chất thì trong xã hội hàng hoá, thước đo ấy đã biểu hiện thành một hình thái đại lượng giá trị, tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết (trung bình, tuỳ theo sức sản xuất…) để tạo ra sản phẩm trao đổi.

Những quy định xã hội khác nhau
Qua những gì đã phân tích, chúng ta thấy những mâu thuẫn trong hàng hoá chính là mâu thuẫn giữa hình thái tự nhiên và cụ thể (trong giá trị sử dụng) với cái hình thái phi tự nhiên và trừu tuợng của nó biểu hiện trong giá trị (dưới hình thái giá trị trao đổi). Những mâu thuẫn ấy quy cho cùng có thể hiểu chính là sự mâu thuẫn giữa xã hội hàng hoá mang tính đặc thù, lịch sử với cái hình thái xã hội phi hàng hoá mang tính tự nhiên của loài người. Nội dung nhu cầu căn bản của sự sống con người, một trao đổi về chất của con người với tự nhiên, một thứ lao động có ích, căn bản cho sự tồn tại của con người đã được Marx nhắc đi nhắc lại nhiều lần ngay trong Tư bản:
“Ở đâu mà nhu cầu buộc người ta phải có quần áo thì ở đấy người ta đã may quần áo trong suốt mấy nghìn năm trước khi có người trở thành thợ may. Nhưng dù đó là áo hay vải, hay nói chung bất cứ một thứ yếu tố nào của cái vật chất không có sẵn trong thiên nhiên, thì bao giờ nó cũng do một thứ sản xuất đặc biệt, có mục đich tạo nên bằng cách làm cho những vật chất khác nhau trong thiên nhiên thích ứng với những nhu cầu nhất định của con người. Do đó, với tư cách là kẻ sáng tạo ra giá trị sử dụng, là lao động có ích, thì lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người” (TBI/1, tr.61)
Tính chất phổ quát của lao động mang tính nhân loại ấy đã được Marx mô tả rõ hơn về mặt nội dung:
“Đầu tiên, dù các loại lao động có ích có khác nhau như thế nào, đó là một hiện tượng sinh lý nghĩa là chúng là chức năng của cơ thể con người, mỗi chức năng dù bản chất và hình thái thế nào, chủ yếu là sự tiêu phí về não, thần kinh, cơ bắp…Thứ hai, đối với cái tạo ra cơ sở cho sự quy định có tính định lượng về giá trị, tức là sự kéo dài của sự chi phí đó, hoặc đại lượng của lao động thì đã có sự khác biệt rõ ràng giữa đại lượng và chất lượng của nó. Trong mọi trạng thái xã hội, thời gian lao động chi phí để sản xuất ra các phương tiện sinh sống tất yếu buộc phải là một vật thể có ích cho con người dù không có ý nghĩa như nhau trong các quá trình phát triển khác nhau. Và cuối cùng, từ lúc con người lao động qua lại với nhau thì lao động của họ đã đảm nhận một hình thái xã hội.” (TBI/1, tr. 97)
Rõ ràng là trong quy định xã hội cần thiết “cho bản thân sự sống của con người”, “không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào”, con người chỉ sản xuất ra những sản phẩm tiêu dùng trực tiếp cho nhau chứ không sản xuất ra hàng hoá như một vật thể chỉ với mục đích trao đổi bởi vì những giá trị sử dụng không thể đối diện với nhau như hàng hoá. Trong sự quy định xã hội ấy vẫn có phân công lao động nhưng, như trong xã hội thời cổ, sản phẩm không trở thành hàng hoá. Chỉ trong xã hội hàng hoá có sự khác nhau về chất giữa các lao động độc lập với nhau, giữa những chủ thể sản xuất độc lập với nhau mới phát triển thành một hệ thống phân công lao động xã hội nhiều ngành ở đó những sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập với nhau và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như những hàng hoá (TBI/1, tr.61).
Xét về mặt lập luận của Marx, chúng ta cần ghi nhận điều sau đây: tất cả những thuộc tính phổ quát về lao động nói trên đều có thể tìm thấy trong hình thái sản xuất hàng hoá như một hình thái biểu hiện đặc thù, nhưng do hình thái sản xuất này là một hình thái đặc thù cho nên tính chất phổ quát ấy cũng đã biểu hiện ở đó dưới một hình thái đặc thù – cái biểu hiện bên ngoài đã trở thành đối lập với cái yếu tính bên trong của nó. Cũng chính vì vậy mà Marx đã phát hiện ra hình thái mâu thuẫn khác tiềm ẩn trong trao đổi hàng hoá: “lao động của những tư nhân mang hình thái của cái đối lập với nó là lao động mang hình thái xã hội trực tiếp”. Nói cách khác mối quan hệ giữa những tư nhân độc lập trong xã hội hàng hoá thực chất cũng là mối quan hệ xã hội do cái xã hội hàng hoá ấy quy định: hình thái biểu hiện tư nhân trong lao động ở đây vẫn mang nội dung xã hội của lao động nhưng dưới hình thái đối lập.

Quy luật giá trị, tiền và tư bản
Tất cả những tính chất trừu tuợng và mâu thuẫn chứa đựng trong sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá trong xã hội hàng hoá, khi đi vào chu kỳ lưu thông trên thị trường tư bản chủ nghĩa đã được Marx cô đọng lại trong một quy luật nền móng và gọi là “quy luật giá trị”: từ hình thái trừu tượng trong trao đổi, lưu thông, giá trị khi biểu hiện thành hình thái cụ thể của nó là đại lượng giá trị thì chính đại lượng giá trị ấy sẽ điều tiết quan hệ trao đổi hàng hoá đó, chứ không phải là ngược lại (TbI/1, tr. 87). Tính chất trừu tượng, tự động của giá trị dưới hình thái đại lượng giá trị đã giữ vai trò chi phối thị trường.
Điều này bộc lộ khá rõ rệt khi giá trị biểu hiện thành hình thái tiền tệ. Theo sự phân tích của Marx, từ hình thái giá trị kết tinh của lao động trong trao đổi đơn giản, bước sang những hình thái trao đổi mở rộng, một hàng hoá nào đó có thể xuất hiện đại diện cho một hình thái ngang giá chung, hình thái này từ chỗ tìm được một chất liệu thích hợp quý hiếm để đại diện (vàng, bạc…) về sau có thể vượt lên trên mọi vật thể cụ thể để trở thành hình thái tiền trên danh nghĩa, tiền trên ý niệm (tiền giấy, tín dụng…).
Dưới hình thái thuần tuý ý niệm này, trong lưu thông, tiền với tư cách là đại diện cho giá trị, đã có điều kiện để tách khỏi mọi ràng buộc với những quy trình sản xuất để chuyển từ hình thái này sang hình thái khác “nhưng không bao giờ mất đi trong cuộc vận động ấy, và như vậy là nó biến thành một chủ thể tự động.” [TBI/1, tr. 201]. Tự động, đó cũng là một khái niệm mà Marx đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần để chỉ định tính chất tự bành trướng, tự vận động, thoát khỏi mọi toan tính chủ quan của con người, nhất là khi tiền đã được tập trung vào tay những chủ thể tư nhân để biến thành tư bản, sử dụng trong việc đầu tư để sản xuất và tái sản xuất.
Trong trường hợp này với tư cách là tư bản, tiền đã lưu thông như một mục đích “tự nó” trong cuộc vận động không ngừng để làm tăng thêm giá trị cho tư bản và như vậy đã làm cho sự vận động của tư bản trở thành sự vận động “không giới hạn” (TBI/1, tr. 199). Đoạn văn sau đây của Trần Hải Hạc đã mô tả tính chất tự thân vận động của tiền như sau:
“Với sự phát triển của tư bản cổ phần hoá và sự hình thành của thị trường chứng khoán, tư bản tách đôi và tồn tại dưới hai mặt: một mặt là “tư bản thật” là tư bản đầu tư trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá ; mặt kia là “tư bản giả” là tư bản biểu hiện trong chứng khoán có giá, tức cổ phiếu và trái phiếu. Về danh nghĩa, tư bản giả là “bản sao” của tư bản thật, song giá trị của tư bản giả không tuỳ thuộc vào giá danh nghĩa của chứng khoán, mà vào giá mua bán của nó trên thị trường. Thị trường chứng khoán này mang tính chất đầu cơ theo nghĩa nó phản ánh những dự đoán về biến đổi lên xuống của tỷ suất lợi tức và mức cổ tức có thể thu được trong tương lai : thị giá chứng khoán hình thành từ hoạt động mua bán của những người tìm kiếm chênh lệch thị giá. Cho nên tổng số tư bản giả có thể lớn hơn hay thấp hơn nhiều lần tổng số tư bản thật. Tư bản giả có tuần hoàn riêng, không phụ thuộc vào tuần hoàn của tư bản thật, và hình như có thuộc tính tự nhiên tăng giá trị một cách độc lập với quá trình thật tạo ra giá trị thặng dư. Từ đó mà chủ nghĩa tư bản hình thành một nền kinh tế ảo tách rời hoàn toàn nền kinh tế thực, và – ngoài những thời điểm “bong bóng xà phòng” vỡ tung – tư bản chứng khoán trở nên vật thần bí được xã hội sùng bái nhất [Trần Hải Hạc: “Học thuyết Marx, Đảng Cộng sản Việt Nam và vấn đề bóc lột””, Thời Đại Mới số 8, 2003 ].
Phải nói về khái niệm giá trị thặng dư rất quan trọng được nhắc đến, bởi vì thực chất đó chỉ là sự phát triển lôgích của khái niệm “giá trị” hàng hoá đã phân tích ở trên khi từ những quy định xã hội của hình thái sản xuất vật phẩm tiêu dùng chuyển sang hình thái sản xuất hàng hoá để trao đổi. Trong những hình thái xã hội trước tư bản chủ nghĩa vẫn có tình trạng bóc lột lao động thặng dư của một lớp người này với những lớp người khác, nhưng sự bóc lột ấy đã diễn ra theo phương thức tước đoạt sản phẩm cụ thể hoặc thời gian tiêu phí sức lao động cụ thể chứ không diễn ra dưới hình thái giá trị trừu tượng như trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong xã hội này, sức lao động của con người đã trở thành một thứ hàng hoá có thể mua được trên thị trường (gọi là thị trường lao động) mà những đơn vị tư nhân sản xuất (cá thể hoặc tập đoàn) kết hợp với tư bản (biểu hiện ở đây là tư liệu sản xuất) để tạo ra lao động thặng dư dưới hình thái giá trị. Ở đây không phải chỗ để chúng ta đi sâu vào những phương thức khai thác lao động thặng dư (tuyệt đối và tương đối) mà chỉ muốn nhấn mạnh đến tính chất tước đoạt dưới hình thái trừu tượng đã phân tích: đó là sự bòn rút sức lao động mà những chủ thể sản xuất đã mua và sử dụng như một sức chi phí đồng nhất, để làm tăng lên một cách “tự động” và “không giới hạn” đại lượng giá trị đã vật thể hoá trong tư bản. Và đó chính là phương thức bóc lột lao động theo “quy luật giá trị” riêng biệt của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Những tính chất cốt tử của chủ nghĩa tư bản
Những tính chất ấy bây giờ đã có thể bộc lộ tổng hợp qua những gì Marx đã trình bày về khái niệm “quan hệ xã hội”, thể hiện trong cơ chế sản xuất đặc thù về hàng hoá và mối quan hệ của cơ chế ấy với những chủ thể sản xuất gắn liền với nó.
Có thể khẳng định cơ chế sản xuất ấy chính là sự mô tả đảo ngược lại về mặt ý nghĩa cái ẩn dụ bàn tay vô hình mà những nhà kinh tế cổ điển đã coi là hiệu nghiệm để tăng của cải tổng thể hàng năm cho một dân tộc. Cơ chế đó đã vận hành theo những quy luật của riêng nó, tự động tạo ra động lực, tự động tăng trưởng không cần đến sự can thiệp bằng ý chí chủ quan của con người. Marx đã khai triển tính chất đặc biệt đó của cơ chế thị trường để nhắc đi nhắc lại không ngớt những hành vi “không ý thức” của những chủ thể sản xuất suốt trong quy trình sản xuất hàng hoá.
Điều này biểu hiện ngay trong công việc trao đổi giản đơn khi những người sản xuất tư nhân không hề nhận thức được – nhưng trong thực tế thì vẫn hành động như vậy – rằng “những sản phẩm của họ là ngang hàng với nhau với tư cách là những giá trị, nên họ coi những lao động khác nhau của họ là ngang hàng với nhau với tư cách là lao động của con người” (TBI/1, tr.100). Giá trị ở đây như vậy đã được thừa nhận một cách vô ý thức để làm cơ sở cho hành động trao đổi. Ngay cả khi tính chất giá trị của sản phẩm được khẳng định qua những đại lượng giá trị, những đại lượng này thay đổi không ngừng cũng đưa đến hậu quả tương tự: không tuỳ thuộc vào nguyện vọng, dự kiến và hoạt động của những người trao đổi sản phẩm, điều đó đã khiến họ xem những “ hành vi xã hội của bản thân họ mang hình thái hành vi của những vật thể, chúng điều khiển họ thay vì bị họ điều khiển” (TBI/1, tr. 101).
Những chủ thể sản xuất với tư cách là những con người xã hội, bằng lao động, khách thể hoá sức sáng tạo của bản thân, tự biểu hiện trong những sản phẩm do mình làm ra, những con người đó trong cơ chế hàng hoá đã trở thành những đinh ốc của một guồng máy không những không cần con người điều khiển mà còn điều khiển lại con người. Sự cân bằng tự động của thị trường mà những nhà kinh tế cổ điển coi như một tiền đề mang đến hiệu quả không cần đến mọi hình thức can thiệp bên ngoài, đối với Marx thực tế chỉ là tác dụng của những cuộc cạnh tranh thông qua sự cọ xát nội tại của quy luật giá trị, kết quả đưa đến sự cân bằng xảy ra với những người đảm nhiệm sản xuất “như một thứ quy luật tự nhiên mù quáng”, tự nó tìm được cách triệt tiêu những sai lệch và đi xuyên qua những biến động ngẫu nhiên của nền sản xuất vô chính phủ (TBIII/2, tr. 512).
Quyền lực của nhà tư bản trong cơ chế đó không phải là quyền lực của con người mà là quyền lực của một hiện thân nhân cách (personnification) của tư bản. Là sản phẩm của quan hệ hàng hoá tư bản chủ nghĩa, họ đã bị cơ chế sản xuất ấy tước hết nhân cách để trở thành một hình thái vật thể mang dáng vẻ nhân cách. Họ đã mất đi hoàn toàn những hào quang trước đây của những người chủ xã hội mang mặt nạ những lãnh chúa chính trị và thần quyền thời tiền tư bản chủ nghĩa để trở thành những đại biểu vật thể hoá cho một hình thái xã hội vô danh, mù quáng chạy theo giá trị trừu tượng, tự thân (tiền) để định nghĩa vị trí thống trị của mình.
Vấn đề vai trò của những cá nhân với tư cách là con người đã mang ý nghĩa của những sinh thể lệ thuộc vào những quy định xã hội một cách hoàn toàn vô ý thức. Trong xã hội phi hàng hoá, cá nhân là biểu hiện của xã hội một cách trực tiếp, nên không tách rời cái cuống rún xã hội của nó. Trong xã hội tư sản cá nhân bị tách khỏi cộng đồng, trở thành những cá nhân biệt lập, tự trị, sản xuất ra hàng hoá, qua trao đổi hàng hoá xác lập mối quan hệ xã hội với nhau. Hàng hoá cùng với cái định chế sản xuất hàng hoá đã trở thành một thứ trung gian ngăn cản mối quan hệ trực tiếp giữa những cá nhân. Tính chủ thể của những tư nhân độc lập, có ý thức và tự do để chọn lựa ý nghĩa cho hành động của mình, trong cơ chế ấy chỉ là ảo tưởng.

Những mâu thuẫn sinh tử trong chế độ tư bản
Những mâu thuẫn trong phương thức sản xuất hàng hoá đã chứa đựng trong chính cái tế bào tạo nên xã hội hàng hoá. Bản thân hàng hoá đã là biểu tượng của một hình thái xã hội lịch sử đặc thù. Tính chất bình đẳng về lao động chứa đựng trong nó chính là dấu tích của một thời kỳ mà khái niệm bình đẳng giữa người và người đã trở thành bình thường “đối với định kiến của nhân dân”. Nó ra đời trong thời kỳ quan hệ trao đổi của con người đã mở rộng khỏi những khu biệt của các địa phương tự trị. Nó cũng chứa đựng tiềm năng của một sức sản xuất (bao hàm trình độ khoa học, phát minh) đã bước qua các phương thức thủ công để trở nên một nền sản xuất cơ giới hùng mạnh, có điều kiện thuận lợi tích tụ vốn liếng để đưa sản xuất lên mức phát triển phổ biến.
Nhưng cũng trong hình thái đặc biệt đó, hàng hoá đã chứa đựng những mặt đối lập tiềm tàng để dẫn tới những cơn co giật, khủng hoảng định kỳ. Ngoài những so le về thời gian giữa mua và bán, sự thiếu đồng bộ, cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ (đưa tới sản xuất thừa), ngoài sự thoát ly khỏi thực tế dưới hình thái “tiền tệ-ý niệm” để giá trị bay vào những cuộc đầu tư hư ảo (kinh tế “bong bóng”), Marx đã khai thác một cách triệt để cái mâu thuẫn đối lập giữa giá trị sử dụng với giá trị, biểu hiện cho sự mâu thuẫn đối lập giữa lao động cụ thể với lao động trừu tượng, để phát triển thành sự mâu thuẫn giữa lao động với điều kiện lao động, trong đó con người chỉ đóng vai trò những đại biểu nhân cách cho những mâu thuẫn đối lập của lao động với tư bản.
Xét trên tổng thể của cơ chế hàng hoá thì sự đối lập này mới đóng vai trò quyết định đối với sự tồn vong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vì nó đụng chạm trực tiếp đến sự tồn tại của đời sống con người. Từ sự trao đổi giản đơn dẫn đến sự hình thành nên cái cơ chế sản xuất hàng hoá trừu tượng, tự động bành trướng xảy ra bên ngoài ý thức con người, biểu hiện trong mối quan hệ xã hội tư bản chủ nghĩa, với Marx, là sự phát triển của cái cơ chế sản xuất đi ngược lại tất cả những tiền đề về bản chất con người với tư cách là những chủ thể của những sản phẩm tự mình sáng tạo ra, sự mâu thuẫn trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chính là sự mâu thuẫn giữa cụ thể và trừu tượng, giữa cá nhân và xã hội, giữa máy và người, giữa cái biểu hiện hư ảo và cái yếu tính đích thực. Đó chính là mối quan tâm xuyên suốt quá trình suy tưởng của Marx về lịch sử của con người.
Trong cái cơ chế sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa ấy, không có ai còn được là người vì tất cả đều đã trở thành những cái máy cục bộ phục vụ cho một cái máy tổng thể. Nhưng dù sao thì trong guồng máy ấy, những nhà tư sản với tư cách là hiện thân của tư bản, tuy chỉ là những cá nhân độc lập hư ảo, tồn tại bấp bênh trong cạnh tranh (có thể phá sản), họ vẫn đứng về phía hưởng lợi vì giữ được vị trí ông chủ của toàn bộ quy trình sản xuất. Trái hẳn với những công nhân đảm nhiệm công việc sản xuất trực tiếp: trong guồng máy sản xuất đó, sức lao động thặng dư của họ đã bị khai thác dưới hình thái giá trị trừu tượng, làm phình ra một cách “vô giới hạn” cho tư bản vốn cũng là thành quả lao động của bản thân họ, cho nên trong cơ chế sản xuất đó, tính chất người của họ đã bị triệt tiêu, dù mức sống của họ có được nâng cao đến thế nào đi nữa – trong bất cứ tình trạng sức sản xuất nào, bất cứ sự thắng lợi nào trong đấu tranh mà họ đã giành được từ chủ tư bản.
Với lý luận về giá trị thặng dư của Marx, công nhân là đại biểu nhân cách cho lao động làm ra tất cả của cải cho chế độ tư bản, nhưng vai trò của họ trong guồng máy sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bị hạ xuống những nô lệ mới cho một hình thái bóc lột của thời đại cơ giới, một thời đại bị bao phủ khắp nơi bởi tính chất lạnh lùng phi nhân tính của nó. Công nhân được nuôi sống chỉ để duy trì sự tồn tại của mình giống như việc nhà tư bản cho cỗ máy của họ ăn dầu, ăn mỡ để có thể vận hành. Cùng một ý đó, Marx diễn tả bằng một hình ảnh khác cũng gây ấn tượng như vậy:
“Bằng việc mua sức lao động, nhà tư bản đã kết hợp bản thân lao động với tư cách là một chất men sống vào những yếu tố chết cấu thành sản phẩm, cũng thuộc về hắn ta. Theo quan điểm của hắn, quá trình lao động chỉ là việc tiêu dùng thứ hàng hoá mà hắn đã mua, tức là sức lao động, nhưng hắn chỉ có thể tiêu dùng được sức lao động đó với điều kiện là đem các thứ tư liệu sản xuất kết hợp với sức lao động ấy. Quá trình lao động là một quá trình diễn ra giữa những vật mà nhà tư bản đã mua, giữa những vật thuộc về hắn. Vì vậy, sản phẩm của quá trình đó thuộc về hắn, hoàn toàn cũng giống như sản phẩm của quá trình lên men trong hầm rượu nho của hắn” (TBI/1, tr. 240).
Trong xã hội hàng hoá tư bản chủ nghĩa, bản thể giá trị trong hàng hoá như vậy đã bao hàm những mâu thuẫn gay gắt giữa lao động và tư bản. Tất cả những biện luận của Marx về chủ nghĩa tư bản tổng thể đều xoay quanh mối quan hệ giữa C ( tư bản) và v (sức lao động) – dù cho mối quan hệ ấy diễn ra là C=c+v (Tư bản ban đầu=tư liệu sản xuất+chi phí cho sức lao động) hoặc hoặc C’=c+v+m (Tư bản sau khi lưu thông=tư liệu sản xuất+chi phí cho sức lao động+giá trị thặng dư). Có thể cho rằng tất cả cuộc vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự vận động đối nghịch, thống nhất giữa C v. Chính từ mối quan hệ C v ấy Marx đã đưa ra rất nhiều biện luận về những chuyển hoá, những biểu hiện khác nhau trong quá trình vận động của tư bản (giá trị thặng dư chuyển hoá thành lợi nhuận…), từ đó giả định hàng loạt những bất ổn dẫn đến chỗ tự huỷ (thí dụ như quy luật gọi là “tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống”).
Nhưng cũng chính vì vậy mà tất cả đều dồn hết vào cái mâu thuẫn căn bản mà chúng ta đã biết là mâu thuẫn về mặt con người trong một cơ chế sản xuất máy móc, phi nhân tính: con người cụ thể trong lao động cụ thể, lao động sáng tạo những sản phẩm có ích cho bản thân đời sống, hiện thân nơi những công nhân với tư cách là con người, sẽ vùng lên đòi lại những gì mà phương thức sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã lấy mất của mình, sau đó sẽ thừa kế tất cả những thành tựu của phương thức sản xuất ấy để tạo ra một hình thái xã hội mới, ở đó sẽ không còn có sự đối lập giữa tư bản và lao động, những quy định xã hội không còn sản sinh ra cơ chế hàng hoá cản trở mối quan hệ trực tiếp giữa những con người với tư cách là những chủ thể sản xuất nữa. Cái chìa khoá lịch sử trong lập luận của Marx vì thế cũng chính là cái khả năng chuyển hoá của xã hội hàng hoá với tư cách là một hình thái lịch sử.
Một hình thái xã hội sinh thành sau đó có mang tính hiện thực hay không, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có sụp đổ từ những nền móng của nó hay không, giai cấp xã hội hiện thân cho lao động có tập hợp lại giải thoát những điều kiện lao động phi nhân tính hay không, ở đây không phải chỗ để chúng ta bàn luận mà qua đó chỉ muốn làm hiển lộ cái lôgích mà Marx đã sử dụng để đi tới những giả định về sự giải phóng chung cuộc của lao động đối với sự thống trị của tư bản: tất cả đã bắt đầu trong sự mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị, nội tại trong bản thân hàng hoá, mâu thuẫn ấy cũng chính là mâu thuẫn giữa các quy định xã hội khác nhau về lao động: lao động với tư cách là thuộc tính của con người chủ thể của sản phẩm mình làm ra đối lập với hình thái lao động biểu hiện cho sự đánh mất tính chủ thể của con người đối với sản phẩm trong điều kiện phương thức sản xuất hàng hoá đã giữ vai trò “chi phối” quá trình phát triển của lịch sử.

Bái vật giáo hàng hoá
Sự mô tả cái lôgích của xã hội hàng hoá tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của Marx cũng bao hàm ý nghĩa là sự phê phán của ông từ nền móng đối với sự tồn tại của những quy định xã hội đã nâng đỡ cho xã hội hàng hoá, và sự phê phán ấy cũng đương nhiên nhắm vào những thứ lý luận tư sản biện hộ cho hình thái xã hội hàng hoá đó.
Đối với những ý kiến về giá trị lao động của những nhà kinh tế cổ điển Marx xem đó là “khoa học”, vì họ đã nhìn ra được rằng “quy định đại lượng giá trị bằng thời gian lao động là sự vận động ẩn dấu sau sự vận động biểu kiến của giá trị tương đối của các hàng hoá”. Marx cho rằng đó là một bước tiến về lý luận nhưng đẩy vấn đề đi tới nữa là không dễ dàng vì theo ông, trong khi lưu thông, hàng hoá đã tạo ra tính chất vững chắc mang hình thái tự nhiên, bất di bất dịch của nó. Muốn phân tích khoa học thì phải đi từ hiện tượng biểu hiện truy ra yếu tính. Nghĩa là phải từ phân tích giá cả hàng hoá dẫn đến xác định đại lượng của giá trị, từ biểu hiện chung bằng tiền của hàng hoá dẫn đến chỗ cố định được tính chất giá trị của hàng hoá.
Nhưng cũng chính từ những khó khăn đó, Marx đã nêu ra tính chất nửa vời trong phát kiến nói trên của những nhà kinh tế cổ điển: do “tuyệt nhiên không phá tan được cái vỏ vật thể bên ngoài của tính vật chất xã hội của lao động” ( TBI/1, tr. 100), nên những nhà kinh tế cổ điển đã không thể nào vượt qua khỏi những khó khăn khi đối diện với cái hình thái hoàn chỉnh của thế giới hàng hoá biểu hiện thành tiền, nó đã “ che giấu tính chất xã hội của các lao động tư nhân vào đằng sau lưng các vật, và do đó che giấu cả những quan hệ xã hội của những người lao động tư nhân” trong khi đó thì đáng lẽ ra cần “phải bóc trần những quan hệ ấy” (TBI/1, tr.102).
Điều bí mật mà Marx gợi ra ở đây và cho rằng kinh tế cổ điển không khám phá được chính là “cái tính chất xã hội đặc thù của lao động xuất hiện như là tính chất vật thể của bản thân các sản phẩm” mà nội dung không có gì khác hơn là “mối quan hệ xã hội của các lao động tư nhân tiến hành một cách độc lập” đàng sau giá trị của hàng hoá. Nhưng dù bị giới hạn kinh tế cổ điển vẫn mang ý nghĩa một tiến bộ về nhận thức, điều đó không giống với tình hình của đông đảo những người đảm nhiệm sản xuất trong xã hội hàng hoá, trong xã hội này, mối quan hệ xã hội tư nhân mà ta đang nói tới là do chính họ làm ra, nhưng lại xuất hiện trong ý thức của họ như “một hình thái kỳ ảo của các vật”, tức là hình thái của những cái ảo mà sự múa may tự động của chúng đã làm cho người ta tưởng là thực.
Marx đã nói đến “tính chất bái vật giáo của hàng hoá” để chỉ tình trạng ấy và chúng ta thấy ông đã sử dụng hàng loạt những thuộc tính đi kèm lặp đi lặp lại nhiều lần như: thần bí, kỳ lạ, siêu hình, bóng ma, kỳ quái, đám mây mù v.v… đầy ấn tượng để diễn tả. Ý nghĩa của những khái niệm ấy là gì trong lập luận của Marx về xã hội hàng hoá? Để làm sáng tỏ điều này Marx viết:
“Muốn tìm được một sự tương đồng, chúng ta buộc phải nhờ đến những vùng sương phủ của thế giới tôn giáo. Trong cái thế giới này, những sản phẩm của bộ óc con người xuất hiện như những thực thể được ban cho sự sống, chúng thiết lập quan hệ giữa chúng với nhau lẫn với loài người. Cũng giống như vậy trong thế giới của hàng hoá với những sản phẩm do bàn tay con người tạo ra. Tôi gọi đó là tính chất bái vật giáo nó gắn kết bản thân nó với sản phẩm của lao động, ngay khi những sản phẩm này được sản xuất ra như những hàng hoá và như vậy là không tách rời khỏi sự sản xuất ra hàng hoá” (TBI/1, tr. 98).
Qua sự so sánh trên đây, chúng ta có thể hình dung cái vật thể vật chất hoá cho mối quan hệ xã hội sản xuất hàng hoá chính là một vật thể không có sinh mệnh tự thân mà chỉ là sự hiện thể hư ảo của một thực thể khác, tuy không thấy được nhưng lại mang ý nghĩa một bản thể mà chúng ta đã biết: đó chính là cái quan hệ xã hội có nội dung đặc biệt là “mối quan hệ xã hội của các lao động tư nhân tiến hành một cách độc lập đàng sau giá trị của hàng hoá”. Những nguời sản xuất trong xã hội hàng hoá, bằng gíác quan của mình, chỉ thấy được hình thái hàng hoá tự trị vận động như một thực thể tự nhiên đại biểu cho toàn bộ thế giới hàng hoá, không cần biết (vì không thấy được) cái đàng sau, cái yếu tính của nó là gì.
Với hình ảnh cái màn sương phủ trong tôn giáo diễn đạt tính chất bái vật giáo của hàng hoá, Marx đã nêu lên tính chất nghịch lý hàm chứa trong cái bí ẩn, siêu hình của hàng hoá: là một vật thể cụ thể, lĩnh hội được bằng giác quan nhưng thực tế đó chỉ là sự biểu hiện huyễn hoặc của một thực thể trừu tượng không thấy được nhưng mang tính bản chất là mối quan hệ xã hội tư nhân trong sản xuất và trao đổi: tính chất cụ thể có thể thấy được của hàng hoá vì vậy chỉ là sự cụ thể hư ảo vì đã bị trừu tượng hoá khỏi cái yếu tính có ý nghĩa tổng thể về xã hội dựa trên đó nó mới biểu hiện được như một cụ thể đích thực. Chúng ta hiểu tại sao trong điều kiện bị tuyệt đối hoá đó, hàng hoá đã trở thành một bái vật, có sức mạnh ma thuật tác động và sai khiến lại con người.
Làm sao để giải thoát ra khỏi cái “đám mây mù” che phủ lên cái bái vật ấy khiến cho nó phải bộc lộ bản chất đích thực trước ý thức của chúng ta ? Để làm được công việc giải hoặc này, Marx đề nghị chúng ta rời khỏi mảnh đất xã hội hàng hoá để chuyển sang một số hình thái sản xuất khác trong đó có hai hình thái đã xuất hiện trong quá khứ có thể quan sát được:
Một là hình thái xã hội thời trung cổ ở đó lao động là diêu dịch (corvée, compulsory labor). Trong xã hội này “mối quan hệ lệ thuộc cá nhân cấu thành cơ sở xã hội, nên lao động và sản phẩm không phải mang một hình thái hư ảo khác với sự tồn tại hiện thực của chúng” (TBI/1, tr. 104). “Ở đây hình thái xã hội trực tiếp của lao động chính là hình tháí tự nhiên của nó, là tính đặc trưng của nó, chứ không phải là tính phổ biến của nó như trong một xã hội dựa trên cơ sở sản xuất hàng hoá” (TBI/1, tr. 104). Thời gian lao động sản xuất ra sản phẩm là sự chi phí một lượng lao động nhất định sức lao động của cá nhân. “Dù cho những cái mặt nạ đặc trưng mà con người thời trung cổ đã mang trong khi quan hệ với nhau được đánh giá như thế nào, các quan hệ xã hội giữa người và người trong trong lao động vẫn cứ biểu hiện ra ở đây như là những quan hệ cá nhân của bản thân họ, chứ không phải nguỵ trang thành những quan hệ xã hội của các vật của các sản phẩm lao động” (TBI/1, tr. 104).
Một hình thái sản xuất khác là nền sản xuất gia trưởng nông thôn. Ở đây, những sản phẩm khác nhau là kết quả của lao động gia đình chứ không phải hàng hoá. Có sự phân công tự phát để thực hiện những công việc tự nhiên và sự tiêu phí lao động cá nhân ở đây được đo bằng thời gian thể hiện tính quy định xã hội của các công việc: lao động cá nhân được quan niệm như những khí quan của một sức lao động chung trong một hình thái lao động được xã hội hoá một cách trực tiếp (TBI/1, tr.105). Trong những hình thái sản xuất này, cá nhân vẫn là những đơn vị đặc thù nhưng là những cá nhân mang tính xã hội, một thành phần của một tổng thể xã hội chứ không phải là những cá nhân độc lập không có thực chất, quan hệ với nhau qua các vật thể trung gian để thể hiện tính xã hội của mình.
Ngoài một số hình thái thuộc về quá khứ, Marx cũng hình dung ra một hình thái sản xuất giả định và gọi đó là “liên minh những người tự do”, ở đây những cá nhân mang tính cộng đồng, từ đầu góp phần lao động riêng vào một sức lao động xã hội duy nhất, qua hoạt động đó khẳng định vị trí cá nhân của mình.
Trong hình thái xã hội này, tư liệu sản xuất là của chung, những cá nhân tiêu phí sức lao động cá nhân một cách tự giác, coi đó là một sức lao động xã hội duy nhất. Lao động cá nhân diễn ra theo tính quy định trên quy mô xã hội chứ không phải quy mô cá nhân.Tất cả những gì của cá nhân đều thuộc cá nhân, được quyền tiêu dùng trực tiếp những sản phẩm làm ra. Nhưng do toàn bộ các sản phẩm cá nhân làm ra từ bản chất là sản phẩm xã hội, cho nên ngoài phần trích ra làm tư liệu sản xuất, phần còn lại sẽ chia cho cộng đồng như tư liệu sinh hoạt. Sự phân chia này thay đổi tuỳ theo cơ cấu sản xuất xã hội, tuỳ theo trình độ phát triển, nhưng theo nguyên tắc lấy thời gian lao động làm tiêu chuẩn. Việc phân phối thời gian này sẽ theo một kế hoạch xã hội “quy định một cách đúng đắn giữa các chức năng lao động khác nhau và các nhu cầu khác nhau”. Mặt khác, thời gian lao động sẽ là chuẩn mực để đo phần tham gia của cá nhân vào lao động chung, căn cứ vào đó thu nhận sản phẩm tiêu dùng (TBI/1, tr. 106).
Tính chất trực tiếp của mối quan hệ giữa người sản xuất trong những hình thái xã hội kể trên đã biểu hiện thật rõ ràng và tất cả đều có thể xem như những xã hội phi hàng hoá – không thể nào hiểu nào khác đi về mặt lôgích của văn bản –, trong những hình thái xã hội này, quan hệ lao động nào cũng mang tính xã hội, nhưng quan hệ lao động trong xã hội phi hàng hoá là quan hệ xã hội trực tiếp giữa bản thân họ chứ không phải nguỵ trang qua những quan hệ xã hội của các vật do họ làm ra. Tính chất độc lập của những cá nhân ở đây chính là sự biểu hiện trực tiếp cho yếu tính xã hội vì đó cũng đã mang ý nghĩa của cái đặc thù biểu hiện trực tiếp cái phổ quát, không phải thông qua những hình thái biểu hiện bị trừu tượng hoá làm thành một hình thái trung gian che dấu ý nghĩa đích thực và cụ thể về tính chất độc lập của những cá nhân ấy.

Khoa học hay triết học?
Chủ nghĩa Marx có phải là một khoa học? Qua những gì mà chúng ta đã phân tích thì khó có thể coi chủ nghĩa Marx là một khoa học hiểu theo nghĩa là kết quả nghiên cứu về mối liên hệ thực nghiệm của những hiện tượng, ở đây là những hiện tượng xã hội, trong đó những sự kiện kinh tế đã được đưa lên hàng chính diện như Marx đã thể hiện trong Tư bản: việc phê phán lý luận kinh tế chính trị (cổ điển và tầm thường) và phê phán xã hội hàng hoá tư sản đã bao hàm mục đích lật ngược lại cái lôgích về sự tự thân vận động và phát triển của nó từ đó suy ra một số luận điểm định hướng khả dĩ thay thế nó một cách triệt để về mặt lịch sử.
Xét về mặt phương pháp, thực chất của cái định hướng thay thế ấy hoàn toàn chỉ là những suy lý lôgích về những tiềm thể có thể trở thành hiện thực, không tự thân tồn tại mà đòi hỏi hàng loạt những điều kiện giả định về vận động và thời gian. Nếu chủ nghĩa tư bản cứ lầm lũi dấn mình vào cái quy luật giá trị mang tính chất cơ giới như đã giả định thì tất yếu cái đà dẫn tới chung cuộc như Marx đã vạch ra cho nó là không tránh khỏi. Nếu việc khai thác lao động thặng dư của công nhân cứ diễn ra như cách những ông chủ hiện thân của tư bản đã tiến hành theo kiểu vắt cạn sức lao động của công nhân vô độ như đối với những robot thì tất yếu điều đó sẽ làm trỗi dậy ý thức về nhân phẩm trong bản thân công nhân với tư cách là con người để họ vùng dậy phá tan bộ máy xã hội hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã biến họ thành máy như có thời họ đã từng phá những cỗ máy mà các ông chủ tư bản đã giao cho họ vận hành.
Có thể nói cái cách đề cập, phê phán, dự báo của Marx về những hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị trong xã hội hàng hoá tư sản đã vượt khỏi ngưỡng cửa của những hiện tượng thường nghiệm để đi vào những cái vĩ mô và ở đây chính là những hình thái kinh tế-xã hội (đã và sẽ) thay thế nhau diễn ra trong lịch sử. Về mặt này người ta có thể tìm thấy ở Marx nhiều điểm tương đồng với công việc của những nhà thiên văn khi thiết lập những mô hình vũ trụ: dù mô hình nào thì tất cả đều khởi đầu từ một số hiện tượng quan sát được để giả lập ra những hình thái chuyển hoá hoặc vận động (thí dụ như mối liên hệ giữa hiệu ứng Doppler với lý thuyết Big Bang nguyên sơ…) nhưng không hề mang nội dung tất định hoặc được xem đã thành chân lý.
Thật ra sự so sánh ấy có phần không thích hợp lắm vì phương pháp tư duy của Marx rất khác xa với phương pháp của những nhà thiên văn học: ông cố tìm một nguyên lý trừu tượng nào đó xuyên qua những sự kiện quan sát hơn là từ những sự kiện đưa ra những giả thuyết. Đối tượng quan sát của ông lại là thế giới con người, là cái thế giới ông sống với nó, thấm đẫm những yêu ghét, phẫn nộ, bất bình, hy vọng… Trong từng dòng chữ của ông, chỗ nào cũng toát ra những điều cần phải có cho xã hội con người, để con người được sinh tồn trong một thế giới mang tính nhân văn. Những gì mà ông phản bác lại cái thế giới hiện tồn không phải cái gì khác là sự lật ngược để đi tìm một thế giới bên kia hàng hoá, một xã hội hậu kì của thời “tiền sử”, nơi đó con người có điều kiện để trở về được với bản chất của mình, khẳng định mình như chủ thể của những vật thể mình sáng tạo ra.
Sự suy tưởng về một hình thái xã hội cần có cho con người đó đã bộc lộ thật rõ khi Marx phê phán lý luận của kinh tế tư bản chủ nghĩa trong hai chương cuối cùng của bộ Tư bản của ông. Trong những chương sách này, ông đã tập trung vào việc phê phán lý luận kinh tế tư sản gọi là “những yếu tố sản xuất” (tư bản–lợi tức, ruộng đất–địa tô, lao động–tiền công) để khẳng định một lần nữa thật minh bạch quan điểm của ông về lao động tạo ra thế giới con người.
Marx cho rằng “tư bản” không phải là một vật mà là một quan hệ xã hội được biểu hiện trong một vật và đem lại cho vật đó một tính chất xã hội đặc thù. Đó là những tư liệu lao động đã chuyển hoá thành tư bản, những sản phẩm kết quả của hình thái khai thác lao động thặng dư bị độc chiếm. Tư bản là một hình thái xã hội nhất định bị thần bí hoá. “Đất” là giới “tự nhiên vô cơ”, không thể tạo ra giá trị thặng dư mà chỉ tạo ra giá trị sử dụng. Cũng như lao động, đất nằm trong quá trình lao động chung đối với mọi phương thức sản xuất và là yếu tố vật chất của mọi quá trình sản xuất không có liên quan gì với hình thái xã hội của mọi quá trình sản xuất. Đất trở thành tư hữu cũng chỉ là kết quả của độc chiếm mang tính chính trị, quyền lực.
Còn “lao động”, điểm then chốt trong lý luận của Marx đã được lập lại và nói rõ là “sự hoạt động sản xuất của con người nói chung, nhờ nó mà con người thực hiện sự trao đổi chất với giới tự nhiên; sự hoạt động đó không những không mang một hình thái xã hội nào và bất cứ một tính quy định nào, mà đơn thuần thể hiện ra trong sự tồn tại tự nhiên của nó, độc lập với xã hội, đứng ngoài xã hội; và với tư cách là biểu hiện của sự sống và khẳng định của sự sống, nó là chung với cả con người, chưa phải là con người xã hội, lẫn con người đã có được một tính quy định xã hội nào đó” (TBIII/2, tr. 432, Chương XLVIII, “Công thức tam vị nhất thể ”). Quan niệm lao động “biểu hiện sự sống” này, Marx nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và cũng căn cứ vào đó nhiều lần để phê phán xã hội hàng hoá phi tự nhiên biến sức lao động thành công cụ cơ giới là hết sức rõ ràng.

Tha hoá hay không tha hoá?
Với sự tổng kết trên đây thì câu hỏi chủ nghĩa Marx có phải là một triết học về lao động hay không có lẽ cũng đã có cơ sở để trả lời. Qua chính những gì Marx đã trình bày. Lao động là bản chất của con người, con người định nghĩa mình bằng lao động, lao động tạo ra xã hội, điều đó con người có được từ buổi sơ khai, khi thoát khỏi thế giới tự nhiên để hình thành nên thế giới văn hoá. Trong xã hội hàng hoá tư bản chủ nghĩa, lao động cũng tiếp tục công việc vĩnh cửu đó nhưng lại diễn ra trong những điều kiện lao động đặc thù ở đó lao động bị biến thành một thứ nô lệ của thời đại cơ giới, bị khai thác như một công cụ phát triển vũ bão về lực lượng sản xuất nhưng lại biến cả xã hội thành một guồng máy, ở đó con người và quan hệ giữa những con người đã bị hạ trật xuống hàng vật thể.
Có thể gọi đó là một thế giới mà lao động của con người đã bị “tha hoá” kéo theo sự “tha hoá” của bản thân con người hay không? Câu hỏi này đã được giới nghiên cứu về Marx, bao gồm các quan điểm khác nhau (marxien, marxiste, marxisant, marxologue … đủ loại) tranh luận từ bao lâu rồi đến nay vẫn chưa ngã ngũ, xoay quanh tiêu điểm nêu ra là: mối quan hệ giữa Marx “trẻ” với Marx “già” là thế nào, liệu có thể lấy những gì trong Marx trẻ để làm nên cái cốt tuỷ cho chủ nghĩa Marx hay là tạo ra một thứ lý luận gọi là đoạn tuyệt hoàn toàn giữa Marx trẻ với Marx già và coi Marx già mới thật sự là Marx, một thứ Marx đã trưởng thành, chín chắn, hoàn toàn cắt đứt với quá khứ duy tâm để trở thành thật sự “duy vật” và “khoa học” v.v… ?
Về mặt học thuật, vấn đề cực kỳ phức tạp, tôi không có ý gợi ra để bàn luận mà chỉ nhân đó đưa ra những gì đã suy nghĩ được trong tìm hiểu để trả lời cho những câu hỏi đã nêu ở trên. Tôi cho rằng dù Tư bản tiêu biểu cho sự phát triển chín muồi của Marx về chủ đề phê phán chế độ tư bản, với những khái niệm mới, những cách diễn đạt mới, nhưng không hề có sự “đoạn tuyệt mang tính khoa học luận” với những gì Marx đã suy nghĩ từ thời còn trẻ vào những năm 1843-1844 (đặc biệt với Bản thảo kinh tế chính trị 1844): trước sau giữa hai thời kỳ suy tưởng vẫn có một sự tiếp nối liên tục về nguồn cảm hứng lẫn dự phóng căn bản. Rõ rệt là trong Tư bản vào năm 1867 và sau đó, Marx đã loại trừ hầu hết cái cách lập luận tư biện cũ, không trực tiếp sử dụng khái niệm “tha hoá” để diễn giải sự kiện công nhân bị vật thể hoá trong cơ chế sản xuất hàng hoá, nhưng điều đó cũng hoàn toàn không có nghĩa là nội dung của khái niệm “tha hoá” không còn chi phối một cách quyết định những sự kiện kinh tế mà Marx đã tập trung mô tả và diễn giải ý nghĩa của chúng.
Ý nghĩa ấy đã bộc lộ trong cái cách thức Marx phê phán những phạm trù kinh tế tư bản chủ nghĩa, quanh co nhưng theo dấu vết của nó chúng ta vẫn có thể nhận ra những cơ sở tiềm ẩn, dàn trải khắp nơi, khởi nguồn từ cái biện chứng tinh thần mà Marx đã thừa kế của Hegel và đã bị dựng đứng lại (TBI/1, tr. 28) theo hướng thực tiễn để giải thích tình trạng lao động bị vong thân thành máy, thành vật trong hình thái sản xuất hàng hoá vận hành theo quy luật giá trị. Để hiểu được điều này, cần phải nhớ rằng Marx đã nhiều lần minh định: chỉ có từ một hình thái xã hội khác, đối lập với xã hội hàng hoá chúng ta mới giải mã được cái “chữ tượng hình” của vật thể bị sùng bái, để sau đó mới có thể nhận ra được tình trạng lao động bị điều kiện lao động “chống lại” như thế nào (TBIII/2, tr. 513) và trong điều kiện lao động ấy, dưới con mắt của những cá nhân độc lập hư ảo, mọi thứ mới có thể trở thành “tự nhiên” như thế nào.
Chính cái biện chứng tinh thần của Hegel đã giúp Marx tìm ra một điểm tựa nguồn cội mang tính “vĩnh cửu” tự thân của con người [in itself / An-sich] để lao động có ý thức, khi đi ra khỏi bản thân tự thể hiện [out of itself / Anderssein], gặp điều kiện biến lao động thành hàng hoá, thì mới có thể thức tỉnh ra tình trạng bị tha hoá, để từ đó có thể hồi tưởng lại cái tiềm thể nội tại của mình, theo đó lần ra được dấu vết của quê hương cũ để trở về [in and for itself / An-und-für-sich]: nếu không có một tiêu điểm, một cái nôi xuất phát quy chiếu cố định mang tính bản chất để làm nền, ở đây là một hình thái xã hội chưa thành hàng hoá, phi hàng hoá thể hiện trong một quy định xã hội chưa làm con người tha hoá thì cuộc dấn thân của lao động vào thế giới hàng hoá sẽ là vong thân vĩnh viễn, con người sẽ đánh mất bản chất của mình vĩnh viễn.
Ngay trong cái xã hội tha hoá này, mối quan hệ giữa yếu tính (hoặc bản chất/essence) và biểu hiện (hoặc hiện tượng/apparence) trong biện chứng của Hegel đã giúp Marx thăm dò đến tận được chiều sâu của mối tương quan quy định giữa giá trị và những biểu hiện của nó: giá trị được xem là yếu tính của quan hệ trao đổi, yếu tính đó sẽ biểu hiện ra những hình thái khác nhau tuỳ theo những bước đi trong diễn trình vận động của nó (giá trị trao đổi, đại lượng giá trị, giá cả, tiền, giá trị thặng dư…). Cái phương pháp truy tìm yếu tính (bản chất) qua những biểu hiện để lý giải ý nghĩa rốt ráo về yếu tính của hiện tượng, Marx nói rõ là ông đã lấy lại của người thầy của ông là Hegel (TBI/1, tr. 28), hoàn toàn ngược lại với cách tiếp cận mô tả và tìm ra những mối quan hệ thường hằng giữa các hiện tượng trong các khoa học hiện tượng và thực chứng.
Tuy vậy cái biện chứng của Hegel đã bộc lộ rõ hơn hết trong cách đặt và lý giải của ông về lý do xuất hiện của xã hội hàng hoá trong quá trình “trở thành” của lịch sử: từ sự tự do đơn giản ở thời bán khai, kinh qua tình trạng nô lệ thời chuyên chế, văn minh, cuối cùng trở về thời kỳ khởi thuỷ với nội dung của một nền tự do đích thực, hoàn thiện, nâng cao hơn. Hiển nhiên với Marx, đó không phải là cái biện chứng của Tinh thần tuyệt đối tự phóng thể ra thế giới hiện thực như một cuộc phiêu lưu để rồi sau đó sẽ thu về trong tình trạng viên mãn, trưởng thành. Marx tuyên bố ông đã thanh toán cái lương tri triết học của mình với Hegel, nhưng đó không phải là sự phủ nhận hư vô mà chỉ là sự đảo ngược lại để mang cho biện chứng ấy một nội dung thực tiễn, biểu hiện trong lao động của con người với những cuộc đi ra khỏi bản thân mà chúng ta đã biết: con người định nghĩa mình bằng lao động, nhưng trong sự phóng thể, làm ra sản phẩm trong cơ chế hàng hoá, sản phẩm của lao động đã trở nên xa lạ và thống trị lại con người, làm cho con người trở thành đồ vật – và trước tình trạng ấy muốn thu hồi lại bản chất của mình, con người không thể trông cậy vào sự tự giác của Tinh thần mà phải tiến hành một cuộc cách mạng tiêu diệt cái điều kiện lao động đã làm cho lao động trở thành nô lệ.
Rõ ràng với Marx bây giờ, Hegel không còn là ảnh hưởng của thời 1843-1844, nhưng cái cảm hứng về một thứ bản thể nguồn cội tự trở về với mình sau một cuộc hành trình đi ra thế giới hiện thực, vẫn còn là của Hegel, chứ không phải ở đâu khác. Không thể diễn giải cách nào khác đi những điều rất hiển nhiên Marx đã trình bày ngay trong Tư bản của ông.

Số phận thăng trầm
Đọc lại Marx lần này, tập trung vào việc phân tích cái tế bào hàng hoá cấu tạo nên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, qua những khái niệm, những phạm trù biện luận của ông, tôi vẫn thấy không có sai biệt nhiều so với những gì tôi đã suy nghĩ cách đây hơn 15 năm.
Những gì Marx mô tả trong những tác phẩm của ông về đối tượng mà ông nghiên cứu vẫn là những biểu hiện cố hữu của chủ nghĩa tư bản từ lúc phát sinh cho đến ngày nay: sự phát triển vũ bão của lực lượng sản xuất, của cải vật chất dồi dào, khoa học kỹ thuật đột phá vượt bậc, các quy trình liên lạc, thông tin mở rộng, nhất thể hoá mối quan hệ giữa các địa phương, dân tộc, sự hình thành những đô thị lớn cắt đứt với xã hội cổ truyền, cơ chế thị trường tự động vận hành đi chung với quyền tư hữu tài sản, sự cạnh tranh sinh tồn cực kỳ gay gắt, triết lý đồng tiền chi phối đời sống, chủ nghĩa vật chất thực dụng, quyền lực và tài sản tập trung vào một thiểu số những cá nhân hoặc tập đoàn chóp bu giàu xụ chi phối xã hội, thao túng nhà nước, bên dưới là đông đảo những người làm công, những từng lớp lao động không có tư liệu sản xuất, cuộc sống tuỳ thuộc, bấp bênh, bất an… tất cả hợp lại là một thứ chủ nghĩa tư bản vận động qua những chu kỳ xen nhau giữa phát triển và suy thoái, khủng hoảng.
Một thứ chủ nghĩa tư bản với tính chất như vậy không thể không cần được cải tiến, thay đổi, nhất là đối với những từng lớp lao động phải chịu thiệt thòi nhiều nhất. Không phải bằng những khẩu hiệu ảo tưởng về “đạo đức” mà là một cấu trúc mới cho nó về mặt hình thái.
Nhưng qua những biểu hiện hiện thực gay gắt trên trên đây, Marx đã thổi vào một biện chứng vận động mới làm cho thứ chủ nghĩa tư bản đó mang một sinh mệnh được quy định theo cái viễn cảnh triết học tổng hợp của ông: một phương thức nô lệ hoá lao động dưới hình thái trừu tượng, vận hành như một cỗ máy vô tri giác, thu hút lao động con người như thu gom vật liệu, chạy theo sự tăng trưởng của cải vật chất một cách vô độ, mù quáng. Phương thức sản xuất đó chứa đựng tất cả những thuộc tính của chủ nghĩa tư bản, nhưng là một thứ chủ nghĩa tư bản đã được cấu trúc lại xung quanh khái niệm giá trị, tượng hình thành vật thể hàng hoá, biểu tượng của lao động bị tha hoá thông qua hình thái giá trị thặng dư bị tước đoạt một cách “tự động” và “không giới hạn”.
Trong phân tích của Marx, hàng hoá do đó đã hàm chứa tất cả yếu tính huyễn hoặc và trừu tượng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Một mặt là kết quả của lao động phổ biến của con người, hàng hoá mang lại những tiện ích, sự giàu sang cho xã hội nhưng mặt khác là kết quả của lao động bị tha hoá, nó là hiện thân cho một guồng máy xã hội trong đó những người sản xuất trực tiếp đã trở thành những nô lệ của thời hiện đại. Vì thế có thể hình dung sự vận động của cái đống hàng hoá tràn ngập xã hội tư bản như là biểu hiện vật thể sự vận động của lao động bị tha hoá: sự dồi dào về của cải trong xã hội chỉ mang ý nghĩa của một thứ chủ nghĩa vật chất trống rỗng về nhân tính. Đó là tính đặc trưng nhưng cũng lại là tính lịch sử của hình thái xã hội hàng hoá tư bản chủ nghĩa: sự phát triển tột bậc về vật chất của nó cũng chính là sự đối lập tột bậc của nó với tính chủ thể xã hội của con người.
Viễn cảnh giải phóng những người lao động từ đó tất yếu cũng bao hàm nội dung giải phóng toàn nhân loại mà sinh mệnh đã bị cột chặt vào một quy trình sản xuất biến mọi quan hệ xã hội thành những quan hệ vật thể. Và đó cũng là triết học của Marx về tính lịch sử của xã hội hàng hoá tư bản chủ nghĩa, giả định sự phát triển của xã hội hàng hoá đã đạt tới đỉnh điểm tất yếu phải chuyển hoá về chất. Trước sự khai thác lao động tàn khốc vào giai đoạn ban đầu của chủ nghĩa tư bản, do tin tưởng vào dự đoán của Marx về sự diệt vong cận kề của hình thái kinh tế xã hội này, và cũng do những bức xúc về lý luận cần thiết cho các cuộc đấu tranh thực tiễn, trong phong trào chống tư bản đã xuất hiện những thể nghiệm đem tư tưởng của Marx vào thực hành, nhầm lẫn những giả định lôgích trong hệ thống của ông với những định luật tự nhiên, có thể dàn ra thành một cương lĩnh phát triển, coi đó như “cẩm nang” hành động, cố làm cho được bất chấp sự mù mịt của thời gian, những hy sinh vì ảo tưởng, cuối cùng không dẫn đến đâu ngoài sự sụp đổ như một ngôi nhà cao tầng không có chân móng.
Trước tình thế ấy, chủ nghĩa Marx đã bị đưa ra trước toà án tư tưởng và bị coi là tội phạm gây ra mọi sai lầm, đặc biệt là về chính sách bạo lực chuyên chính do chế độ toàn trị nhân danh Marx thực hiện. Với những nạn nhân trực tiếp của chế độ đó thì nội dung của sự phản ứng là tiếng nói “không” khẩn thiết với đói nghèo và thiếu tự do, vì vậy trước mắt họ con đuờng duy nhất cần chọn lựa chỉ có thể là cái ngược lại với những gì mà chế độ toàn trị đã nhân danh Marx để thực hiện, và điều đó cũng có nghĩa là khi phủ nhận Marx thì đương nhiên phải trở về với chủ nghĩa tư bản, bất kể thứ chủ nghĩa tư bản nào. Hoàn toàn không khó giải thích khi trong thực tế đã nẩy sinh xu hướng vồ vập, săn đón vô điều kiện các thứ chủ nghĩa tự do cực đoan, xưa nay quyết liệt chống Marx bằng cách dựa vào những thứ lý lẽ thời Chiến tranh Lạnh, đồng hoá Marx với các chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa hiện thực” nhân danh Marx nói trên.
Với xu hướng thực dụng này, nội dung thực sự trong học thuyết Marx không được đặt ra để phê phán nghiêm chỉnh về mặt văn bản, phương pháp tư duy, những luận điểm dự báo giả định về sự vận động của lịch sử, những ý hướng tich cực và hợp lý còn có thể giữ lại… vì vậy những bài học về sự tiếp thu ý thức hệ vội vã và giáo điều trong quá khứ với những hậu quả tai hại của nó đã không được quan tâm và bị bỏ qua thật dễ dàng, từ đó mở đường cho việc lặp lại những sai lầm cũ về mặt chọn lựa tư tưởng hệ theo chiều đảo ngược cũng khá dễ dàng: một thứ chủ nghĩa tự do cực đoan được giới thiệu ồn ào, cổ vũ cho sự ra đời một mô hình thị trường rừng rú, biện minh cho một cung cách làm ăn chụp giật, vô trách nhiệm… tràn lan vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống…
Về phần những người theo chủ nghĩa tự do cực đoan thì sau một thoáng hả hê vì loại bỏ được kẻ thù không mấy khó khăn, sau đó là một thoáng lo ngại về nguy cơ có thể rơi vào tình thế một con chó lười biếng nằm phơi nắng ở một vĩa hè nào đó do không còn đối tượng chiến đấu, họ liền nhanh chóng nắm lấy thời cơ, mở một cuộc phản công chiến lược, giành quyền thống trị về mặt nhà nước qua đó thao túng tư tưởng và xã hội, thực hiện một đường lối phiêu lưu theo hình mẫu bá quyền cũ bằng chiến tranh và bạo lực, theo đuổi chính sách bong bóng tiền tệ buông thả, bất chấp những thành quả mà những chủ trương kềm chế thị trường, những chính sách xã hội đã đạt được suốt một thời kỳ dài đã qua...
Nhưng tình hình không diễn ra theo mong mỏi: chỉ một thời gian không lâu, nó đã đưa nền kinh tế toàn cầu rơi lại vào một cơn khủng hoảng tổng thể, quy mô và cường độ không kém những năm 30 của thế kỷ trước.
 
Marx có thể giúp gì cho chúng ta hôm nay?
Sau nhiều lần bị xua đuổi, trừ tà, bóng ma của Marx bỗng được triệu hồi, bộ Tư bản được tái bản ở nhiều nước, những trang sách của ông lại được mở ra, dò tìm một số câu chữ nào đó có thể phụ giúp chủ nghĩa tư bản vượt qua những cơn co giật. Thật sự thì xu hướng khai thác Marx một cách thực dụng này không phải là mới mẻ lắm. Trước đây một số tác giả không theo Marx nhưng vẫn nhìn ra được trong trước tác của ông những phê phán mang tính xã hội học, dựa vào đó chủ nghĩa tư bản có thể nhận thức lại bản thân. Chúng ta hẳn còn nhớ một số khái niệm xuất hiện một thời, ảnh hưởng một cách nào đó từ Marx, gián tiếp hay trực tiếp, nhưng gần đây đã bị sự tấn công của các xu hướng tân bảo thủ lùa vào một góc nào đó của ký ức, như thị trường-xã hội, chủ nghĩa tư bản-nhà nước, chủ nghĩa tư bản-tham gia, chủ nghĩa tư bản-nhân dân, nhà nước phúc lợi, dân chủ xã hội, chủ nghĩa xã hội dân chủ v.v…
Tuy thế khi nhìn vấn đề từ điểm phát sinh, nội dung của những khái niệm nói trên không hẳn đều ảnh hưởng từ Marx; ít nhiều chúng đã bao hàm ngay trong tư duy của những người khai sinh ra lý luận cho chủ nghĩa tư bản hiện đại từ những ngày khởi đầu: không thể để cho bàn tay vô hình lộng hành như một cỗ máy vô chủ thể, chỉ có thể coi thị trường như thị trường về mặt kinh tế chứ không cho phép mở rộng thị trường thành thị trường về mặt xã hội, có nghĩa là không thể biến thị trường thành một cơ chế văn hoá khiến con người trở thành những hiện thân nhân cách cho cỗ máy làm tiền mù quáng – điều mà Marx đã chứng minh bằng cách đẩy đến tận cùng hậu quả nhân sinh theo quan điểm riêng biệt của ông. Xét về mặt này, người ta vẫn có thể rút ra từ hệ thống phản biện của ông nhiều gợi mở điều chỉnh quan trọng.
Việc khai thác Marx theo chiều hướng trái ngược cũng đã diễn ra. Ở đây không cần nói đến hiện tượng một số chính quyền độc tài từng mạo danh Marx nay cũng nhân cơ hội này lợi dụng Marx một lần nữa để theo đuổi con đường gọi là “tiến lên” của họ. Điều đáng quan tâm hơn chính là thái độ của những nạn nhân của cơn khủng hoảng lần này: họ muốn tìm đến những trang sách của Marx, nhờ giải thích hộ những điều “khó hiểu” mà họ vẫn phải chịu đựng hết thế hệ này đến thế hệ khác. Những lớp trí thức thiên tả nay lại có cơ hội tính đến việc phục hồi một phong trào chống tư bản rộng rãi – như một khẩu hiệu được dương lên: Capitalism Doesn’t Work! ; những mộng tưởng về một xã hội phi hàng hoá, đưa con người ra khỏi tình trạng vong thân, đây đó cũng được khơi lại không kém phần hào hứng. Những hiện tượng nói trên là dễ hiểu: nội dung gây tranh cãi trong sách vở của Marx không quan trọng bằng việc Marx mở ra cho mọi người hy vọng về một “thế giới khác” vượt qua được những khắc nghiệt trong sự kiếm sống hàng ngày.
Điều đó không thể không dẫn chúng ta đến câu hỏi rốt ráo sau đây: xét về phương diện thực tiễn, học thuyết Marx có thể làm gì trước khát vọng thay đổi của thời đại ngày nay? Nếu gạt sang một bên những cách khai thác thực dụng hoặc cảm tính để đi sâu vào cơ sở lý luận của Marx về mặt triết học, không ai có thể trông chờ vào bất cứ một sự dễ dàng, đơn giản nào như trước đây cho những câu trả lời có thể có. Nếu chỉ căn cứ vào những nhận xét đây đó của Marx trong Tư bản về việc tập hợp những người công nhân tiến hành những cuộc “đấu tranh giai cấp” đòi giảm giờ làm việc, cải thiện đời sống thì việc đó không cần đến học thuyết của ông. Còn nếu mục đích của sự tập hợp ấy được xem là phương tiện để hình thành một giai cấp hiện thân cho lao động chống lại tư bản, tạo dựng nên một “tương lai hợp nhất con người” thì đó vẫn chỉ là suy lý lôgích. Đẩy vấn đề đi đến cùng thì những luận giải của Marx về cái gọi “bí ẩn”, “siêu hình” ẩn chứa trong hình thái vật thể hoá cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã không xé toang được màn sương phủ lên cái xã hội hàng hoá mà chỉ làm cho nó trở nên dày đặc hơn vì những tư biện về bản chất con người và lịch sử của ông.
Trong khi đó thì cái phương thức sản xuất tạo ra của cải xã hội mà ông phê phán vẫn đang tồn tại một cách “tự nhiên” với những bất toàn cố hữu của nó. Lý luận của Marx đã tô thật đậm nhu cầu phải thay đổi chủ nghĩa tư bản về mặt hình thái, nhưng cái vương quốc của lao động đặc trưng nhân loại mà ông cho là có thể phục hồi để thay thế thế giới hàng hoá, ở đó sẽ có sự hoà giải vĩnh viễn cho cá nhân và xã hội, không còn sự phân liệt giữa thực tại và lý tưởng, giữa biểu hiện và yếu tính, xét từ cái gốc tư duy hình thành nên nó, thực sự chỉ là một giấc mơ triết học đơn thuần. Trong cuộc đấu tranh gian nan của những người lao động để khẳng định quyền sống của mình, tích cực nhất thiết tưởng chỉ nên coi những suy tưởng mácxít đó như một ý hướng nhân bản để vươn tới nhiều hơn là những nguyên lý căn cứ vào đó phấn đấu thực hiện như một cương lĩnh kinh tế chính trị cụ thể. Điều có thể chắt lọc lại được trong hệ thống tư tưởng của Marx sau hơn một thế kỷ thử thách với thực tiễn có lẽ chính là ở đó.
 
Tháng 5-2009
L.P

Chú thích
[*] Bộ Tư bản sử dụng trong bài viết này là bản tiếng Việt, được cho biết đã chuyển từ bản tiếng Đức (Berlin, 1962), gồm 3 tập, do Nhà xuất bản Tiến bộ (Matxcơva) và nhà Nhà xuất bản Sự thật (Hà nội) ấn hành. Tập thứ nhất, gồm 2 phần (1 và 2), xuất bản năm 1984, dẫn trong bài sẽ được ghi chú trong ngoặc đơn: (TB I/1 hoặc 2, tr…). Tập thứ hai, xuất bản 1985. Tập thứ ba, gồm 2 phần (1 và 2), xuất bản năm 1986, 1987, dẫn trong bài sẽ được chú trong ngoặc đơn: (TB III/1 hoặc 2, tr…). Những trích dẫn từ bộ Tư bản nói trên, đã được tác giả bài viết này đối chiếu với một số bản tiếng Anh và tiếng Pháp trên mạng (như Library Economics Liberty, Marxits.org…), khi gặp một số chữ hoặc câu không rõ nghĩa hoặc bị nghi ngờ không chính xác, đã được sửa chữa hoặc dịch lại. Một số khái niệm hoặc thành phần câu được viện dẫn cũng đã được tác giả nhấn mạnh (bằng chữ in nghiêng không có trong nguyên bản) mục đích chỉ để lưu ý tầm quan trọng của chúng với người đọc.


Một số tài liệu tham khảo cập nhật chọn lọc

Raymond Aron: Le marxisme de Marx [những bài giảng của Aron về chủ nghĩa Marx, chủ yếu ở Đại học Sorbonne vào năm 1962, do Jean-Claude Casanova và Christian Bachelier tập hợp, chú thích], Editions De Fallois, Paris, 2002
Ian Bremmer: “State Capitalism Comes of Age, The End of the Free Market?”, Foreign Affairs May/June 2009 http://www.viet-studies.info/kinhte/state_capitalism_comes_of_age.htm

Congrès Marx International: Cent ans de marxisme – Bilan critique et prospectives, Presses Universitaires de France, Paris, 1996
Trần Hữu Dũng: “Thử đoán chính sách kinh tế của Barack Obama”, Diễn Đàn 5-1-2009, http://www.viet-studies.info/THDung/THDung_ThuTuMy_ChinhSachObama.htm
Francis Fukuyama: La fin de l'histoire et le dernier homme, Paris, Flammarion, 1992, (nguyên bản The End of History and the Last Man, The Free Press, New York, 1992)
Francis Fukuyama: “Thinking about the Future of American Capitalism”, American Interest 13 March 2009 http://www.viet-studies.info/kinhte/thinking_about_the_future_of_capitalism.htm
Alex Grant: “ Why Capitalism Does Not Work”, Youth for International Socialism, December 30, 2001, http://www.newyouth.com/archives/editorials/capitalism_doesnt_work.asp
Bernard Guerrien: Dictionnaire d’Analyse Economique – microéconomie, macroéconomie, théorie des jeux, etc, La Découverte, 2002, Nguyễn Đôn Phước dịch: Từ điển Phân tích Kinh tế, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, 2007
Tran Hai Hac: Relire “le Capital”, Editions Page deux, Tome I &Tome II, 2003
Trần Hải Hạc: “Học thuyết Marx, Đảng Cộng sản Việt Nam và vấn đề bóc lột”, Thời Đại Mới số 8, 2003 http://www.tapchithoidai.org/TD8_THHac.pdf
F. A. Hayek: The Road to Serfdom (1944); Phạm Nguyên Trường dịch: Đường về nô lệ, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, 2008; Đinh Tuấn Minh hiệu đính và giới thiệu; Lữ Phương viết thay lời bạt: “Vấn đề tri thức trong ‘trật tự tự phát’ của Hayek”, sửa chữa và bổ sung bài đã đăng trên tạp chí Thời Đại Mới số 14, tháng 7 năm 2008 (http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai14/200814_LuPhuong.htm)
G.W.F. Hegel: Bách khoa thư các khoa học triết học I – Khoa học lôgíc (tiếng Đức 1830), Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Nxb Tri thức, Hà nội, 2008
Karen Horn: “Why Adam Smith Still Matters”, Standpoint.online, April 2009. http://www.standpointmag.co.uk/node/1069/full
Michel Husson : “Pourquoi une théorie de la valeur?”, Cahiers de critique communiste, 2004,

Hussian/ Bajani : “Marx's Theory of Value – Two Rival Interpretations”, http://www.arasite.org/mxval.htm
Tamela Ice : “Alienation and Estrangement in Hegel’s”, http://journal.ilovephilosophy.com
Leszek Kolakowski: Histoire du marxisme, Tome I, [Olivier Masson dịch từ tiếng Đức], Fayard, 1987
Leszek Kolakowski: “Althusser’s Marx”, http://thesocialistregister.com/index.php/srv/article/view/5334
Geoff Mulgan: “After Capitalism”, Prospect April 2009, http://www.viet-studies.info/kinhte/after_capitalism.htm
Leo Panitch: “ Thoroughly Modern Marx”, Foreign policy, May /June 2009, http://www.foreignpolicy.com/story/cms.php?story_id=4856
Hendrik Patroons: “Aliénation, chosification et fétichisme”, http://www.lcrlagauche.be/cm/index.php?com_sectionnav&view=article&Itemid=53&id=490
Pierre Salama – Tran Hai Hac: Introduction à l’économie de Marx, La Découverte, Paris, 1992
Robert J. Samuelson: “ American Capitalism Besieged, Washingtonpost.com, Monday, March 23, 2009, http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2009/03/22/AR2009032201507.html
Lucien Sève: “Marx contre-attaque”, Le monde diplomatique, Décembre 2008, http://www.monde-diplomatique.fr/2008/12/SEVE/16612
Wikipedia: “Labor Theory of Value”, http://en.wikipedia.org/wiki/Labour_theory_of_value
Wikipedia: “Hegelianism”, http://en.wikipedia.org/wiki/Hegelianism
: “Obama vs. Marx”, The New Republic, April 01, 2009, http://www.tnr.com/politics/story.html?id=e050da85-7d49-46da-80fc-d9168c0faec7
Matt Yglesias: “When it comes to Marx, there’s no time like the present”, http://books.foreignpolicy.com/posts/2009/05/04/when_it_comes_to_marx_theres_no_time_like_the_present


© Thời Đại Mới