CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM
Từ Hiến Pháp Phi Dân Chủ Đến Chính Trị Phản Dân Quyền
Nguyễn Kha
04 tháng 12, 2010
Hiến pháp là văn kiện Luật pháp
cao nhất để định hướng và điều chế mọi sinh hoạt của một quốc gia. Từ
nội dung văn kiện đó, các nhà làm luật thiết kế một “hệ thống Luật và Nguyên tắc căn bản để quy định bản chất, các chức năng và những giới hạn của một chính phủ” [1]. Nghĩa là trên căn bản và trong khuôn khổ đó của Hiến pháp mà một hệ thống pháp luật “thực tế và tất nhiên”
được hình thành để điều hướng và làm trọng tài cho xã hội. Vì vừa quy
định “bản chất” lẫn “chức năng” nên khi ta phân tích và phê bình một
Hiến pháp thi chính là chúng ta đang phân tích và phê bình vừa bản chất chính trị vừa phần thể hiện chính trị
của một chế độ. Hiến pháp 1956 của Đệ nhất Cọng hòa là sản phẩm đầu tay
của chế độ Ngô Đình Diệm (chứ không phải là thừa kế liên tục từ một chế
độ khác) cho nên phê phán Hiến pháp 1956 chính là phê phán căn cước chính trị của chế độ
Đệ nhất Cọng hòa, dù ông Diệm có coi Hiến pháp không ra gì khi tuyên bố
một cách phản dân chủ trong cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963 rằng “sau lưng Hiến pháp còn có tôi”.
Hiến pháp, trên thực tế và nói cho cùng, còn là một khế ước
chính trị giữa người dân và chính quyền đã được các vị dân cử thảo luận
và biểu quyết tại Quốc hội. Tính “cưỡng hành” (enforcement) của Hiến
pháp có tính chính trị (nhiều hơn là Luật pháp) mà ở đây là quyền lực
chính trị. (Ví dụ điều 3 của Hiến pháp 1956 xác định “Tổng thống lãnh đạo Quốc gia” như điều 4 của Hiến pháp 1992 của Hà Nội xác định “Đảng Cộng sản Việt Nam,... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”). Vậy, phê bình chế độ chính trị của chính quyền Ngô Đình Diệm thì
không thể không đem Hiến pháp ra mà mổ xẻ. Và sau khi phê bình Hiến
pháp 1956, không thể không đối chiếu với thực tế chính trị, mà đó mới là
điều quan trọng, của chế độ nầy sau 7 năm cầm quyền kể từ ngày Hiến
pháp được ban hành (1956-1963).
* * *
Hiến pháp 1956 do Quốc hội biểu quyết ngày 20/10/1956 được
Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành ngày 26/10/1956, thành lập nền Đệ nhất
Cộng hòa. Hiến pháp gồm 98 điều, chia làm 8 thiên. Hiến pháp tuy là do
sự đóng góp của nhiều người [2],
kể cả đóng góp một cách gián tiếp của các chức sắc trong Giáo hội Công
giáo Việt Nam (như linh mục Bữu Dưỡng và nhóm Tinh Thần), nhưng nội
dung chính vẫn do ông Ngô Đình Nhu, người được cho là lý thuyết gia của
chế độ, duyệt xét chung quyết. Bản Hiến pháp này, ngoài một vài từ ngữ
mà trên mặt … tượng thanh có vẻ rút ra từ “chủ nghĩa” gọi là “Nhân Vị”
như “giá trị siêu việt”, “nhân vị”, “duy linh”, “Đấng tạo hóa”, ... còn nội dung thật sự của nó chỉ là một nỗ lực “đầu Ngô mình Sở” (từ của ông Đoàn Thêm trong Những Ngày Chưa Quên, Đại
Nam, 1969) của một ít thần học Thiên Chúa giáo Âu châu, pha trộn vài
điều của Tổng thống chế Mỹ và một ít triết lý Đông phương mà thôi. Tiếc
rằng nỗ lực đó hoàn toàn thất bại. Có hai lý do để giải thích sự thất
bại này: Thứ nhất là vì lúc bấy giờ (và sau đó tan dần không còn dấu vết
gì đáng kể theo sự sụp đổ của chế độ vào năm 1963) thuyết Nhân Vị của ông Nhu là tổng hợp trụy thai [3] còn hỗn tạp và còn ở dạng sơ khai nên không có những yếu tính đặc thù để tạo ra nét độc đáo riêng cho Hiến pháp; và thứ hai là vì nhu cầu quyền lực chính trị quá lớn
nên ông Nhu đã bất chấp nội dung “Nhân Vị” - dù còn mơ hồ chưa thành
hình - để đưa vào Hiến pháp những nguyên tắc chuyên chính độc tài, chà
đạp sinh hoạt dân chủ của quốc gia và quyền tự do của công dân, với mục
đích tập trung quyền hành vào một thiểu số thống trị. Nghĩa là áp đặt càng nhiều càng tốt tính độc tài trong bộ luật căn bản và cao cấp nhất của quốc gia.
Thật vậy, muốn xem một hiến pháp là dân chủ hay độc tài, hai đề mục cần được quan tâm nhất là: Quyền lực quốc gia, qua cơ cấu và cách vận hành bộ máy chính quyền, xem thuộc về ai; và Quyền hành của công dân được công nhận và quy định như thế nào?
Hiến pháp Đệ nhất Cộng hòa, trong thiên “Điều khoản Căn bản”, điều 2, viết rằng “Chủ quyền thuộc về toàn dân” nhưng ngay đoạn 3, điều 3 thì lại xác định “Tổng thống lãnh đạo quốc dân” [4],
nghĩa là tách rời hai ý niệm “chủ quyền” và “quyền lực” ra khỏi nhau.
Làm sao nhân dân có thể làm chủ được quốc gia khi Tổng thống - chứ không
phải họ - lãnh đạo quốc dân?, dù “quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử và nhiệm vụ lập pháp cho quốc hội cũng do dân cử” (điều 3, đoạn 1). Mà “ủy” theo bản dịch Pháp văn chính thức [5] lại
có nghĩa là “phong” (investir) tức là trao toàn quyền. Một cách thực
tế, cứ 5 năm, người dân cầm lá phiếu để “phong” một ông Tổng thống để
cai trị mình rồi trở về không còn tham dự gì vào quyền lực quốc gia nữa
(như dùng quyền truất phế - impeachment – Tổng thống thông qua người đại
diện của mình ở Quốc hội chẳng hạn …) . Như ta sẽ thấy rõ trong bản
Hiến pháp ở các mục sau, cũng như trên thực tế của 7 năm cai trị, Tổng thống Diệm tập trung trong tay những quyền hành “hợp hiến” to lớn mà Quốc hội chỉ là một bộ phận phụ thuộc được dùng để luật hóa các quyết định chính trị của hành pháp mà thôi.
Cũng do đó, tinh thần Tam quyền Phân lập cơ bản được đề ra trong Hiến
pháp chỉ còn là chiêu bài xảo trá để đánh bóng cho chế độ mà thôi.
Chủ quyền thuôc về toàn dân và Tổng thống lãnh đạo quốc dân nghe không khác gì Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ... của
Hiến pháp Cộng Sản 1992 hiện nay tại Việt Nam. Điểm khác biệt đáng nói
là Cộng Sản tập trung quyền lực vào một chính trị bộ 15 người còn hiến
pháp 1956 của đệ nhất Cọng hòa thì tập trung quyền lực vào một Tổng thống Diệm (hay một gia đình,
cho đúng với thực tế). Nguyên tắc chủ quyền đã bị chà đạp như thế, đến
quan niệm “toàn dân” thì lại càng mơ hồ hơn nữa. Bản dịch tiếng Pháp
đăng trên công báo là “Chủ quyền thuộc về toàn thể quốc dân” và chữ “quốc dân” này còn được dùng nhiều lần trong Hiến pháp.
“Quốc dân”, theo lý thuyết dân chủ Tây Âu mà hiến pháp 1956
mô phỏng (vì ông Nhu chịu nhiều ảnh hưởng của Tây hơn của Mỹ), là một
tập thể trừu tượng không những bao gồm thế hệ hiện tại mà còn cả các thế
hệ đã qua và sau này nữa, nó là một “pháp nhân khác biệt với những cá nhân hợp thành quốc gia” [6] và luật có thể ấn định những điều kiện để hành xử chức năng “quốc dân” đó như điều 18 đã quy định rằng “quyền bầu cử và ứng cử phải theo thể thức và điều kiện luật định” hoặc điều 50 xác định rằng phải hội “đủ các điều kiện khác dự liệu trong luật tuyển cử”.
Vì quốc dân (national Vietnamien, Vietnamese national) không phải là nhân dân
(peuple Vietnamien, Vietnamese people) nên ngay cả cái chủ quyền mà
người dân miền Nam được nắm giữ một cách trừu tượng ở phần đầu của Hiến
pháp thật ra cũng chỉ là một thứ chủ quyền lý thuyết trên giấy tờ mà
thôi.
Như vậy, hai nguyên lý căn bản nhất làm cơ sở chỉ đạo cho hiến pháp 1956 là Chủ quyền của ai và Ai lãnh đạo đã nói lên rất rõ ý đồ của ông Ngô Đình Nhu muốn tập trung quyền lực vào một cá nhân Tổng thống để có thể cai trị một cách độc tài, phản dân chủ.
Cho nên ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy quyền Hành pháp của Tổng
thống chẳng những đã lấn át quyền của Quốc hội mà có khi còn bao gồm cả
tính Lập pháp nữa.
Thật vậy, Tổng thống có quyền bổ nhiệm và cách chức tất cảcác
công chức dân và quân sự (điều 37), nghĩa là một vị quận trưởng hay một
trung úy đại đội trưởng cũng có thể bị ông Diệm, từ dinh Độc Lập, trực
tiếp ra lệng miệng cách chức mà không cần thông qua một quy trình của Bộ
Nội vụ hoặc bộ Quốc phòng; bổ nhiệm các sứ thần (điều 35), là tổng tư
lệnh tối cao của quân đội (điều 37); có quyền ân xá, ân giảm, hoán cải
hình phạt, huyền án (điều 37); ký kết, phê chuẩn các hiệp định quốc tế,
thay mặt quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc (điều 35), tuyên
chiến và ký kết hòa ước với sự thỏa thuận của chỉ một nửa túc số quốc
hội (điều 36); tuyên bố tình trạng khẩn cấp báo động, giới nghiêm (điều
44); tổ chức trưng cầu dân ý (điều 40). Và vì các vị thẩm phán tối cao
đều do Tổng thống bổ nhiệm (và, khác với Hiến pháp Mỹ, bị xem như một công chức nên có thể bị Tổng thống cách chức)
nên trên thực tế Tổng thống chẳng những đã trực tiếp nắm gần hết mọi cơ
cấu của Hành pháp từ cấp Bộ trưởng, Tướng lãnh cho đến nhân viên hốt
rác, anh binh nhì … mà còn có khả năng khuynh loát và điều động Tư pháp
nữa.
Quyền Lập pháp dù nói là thuộc về Quốc hội (điều 55) nhưng trên thực tế Tổng thống cũng có quyền làm luật. Tuy nhiên, trong
khi quyền làm luật của Tổng thống được bảo đảm là bất khả xâm phạm thì
ngược lại, quyền làm luật của Quốc Hội có thể bị Tổng thống khống chế.
Thật vậy, ngoài cái quyền đương nhiên được chuyển dự thảo ra Quốc hội
(để hầu hết) được phê chuẩn nhanh chóng (điều 56), hiến pháp 1956 còn
cho phép Tổng thống, vì lý do khẩn cấp, có quyền ban hành sắc luật giữa
hai khóa họp Quốc hội (điều 41), hoặc trong “tình trạng khẩn cấp, chiến
tranh, nổi loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính”, Tổng thống có thể
được Quốc hội ủy quyền ra sắc luật thường xuyên (điều 41). Điều khôi hài là chỉ có Tổng thống mới được nhận định và tuyên bố trong trường hợp nào thì tình trạng trở thành khẩn cấp (điều 44).
Vì ngân sách là sức mạnh huyết mạch của chế độ nên ông Ngô
Đình Nhu đã duy trì cho được điều 43 của Hiến pháp để đề phòng đối lập
có thể làm tê liệt chính quyền. Điều 43 viết rằng “trong trường hợp
ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở điều
60 thì Tổng thống có quyền ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau” và “nếu về sau Quốc hội có bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách thì Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi”. Thật chưa có một hiến pháp hiện đại nào có lối văn vừa cảnh cáo vừa đe dọa quốc hội (tức là người đại diện của dân) quái đản như điều 43 này!
Cũng trong hiến pháp này, về thể thức biểu quyết của Quốc hội, “một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ túc số 1/3 tổng số dân biểu”
(điều 69). Quy định “đa số 2/3 phục tùng thiểu số 1/3” phản dân chủ này
chỉ có thể giải thích bằng ý đồ chính trị đen tối của ông Nhu muốn đề
phòng trường hợp tổng số dân biểu gia nô của mình bị trở thành thiểu số
trong Quốc hội. Nhưng trong khi Quốc hội “dễ dãi” với Tổng thống như thế
thì ngược lại khi Tổng thống phủ quyết một đạo luật của lập pháp, Quốc
hội phải hội đủ túc số 3/4 khó khăn mới được tái thông qua. Mà 3/4 này phải “minh danh đầu phiếu” (điều 58) để Tổng thống điểm mặt xem ai đã dám chống lại quyền phủ quyết của mình!
Ngoài ra Tổng thống có quyền đình chỉ việc áp dụng một hoặc
nhiều đạo luật trong những vùng mà Tổng thống tuyên bố tình trạng khẩn
cấp (điều 44). Một viện Bảo hiến có được quy định để nghiên cứu và quyết
định xem các điều khoản có bất hợp hiến không, nhưng viện này gồm 9
người thì vị chủ tịch và 4 thẩm phán hay luật gia đã do Tổng thống bổ nhiệm rồi (điều 86). Cuối cùng, Tổng thống có quyền đề nghị sửa đổi hiến pháp (điều 90) và Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp phải “tham khảo ý kiến” không những của Viện Bảo hiến (bù nhìn) rồi mà còn của cả Tổng thống nữa (điều 91).
Tóm lại, theo Hiến pháp 1956 này, cái Hiến pháp đã làm bình phong dân chủ cho chế độ Ngô Đình Diệm suốt 7 năm, thì Tổng
thống có đầy đủ quyền lực để triệt tiêu hoặc làm tê liệt các đạo luật
nào mà mình không vừa ý cũng như để ban hành và thi hành các đạo luật
nào có lợi cho mình.
Nếu Tổng thống đã khống chế Quốc hội như vậy, thì ngược lại Quốc hội có quyền gì đối với Tổng thống không ? Tổng thống không bắt buộc phải điều trần trước Quốc hội, không chịu trách nhiệm trước Quốc hội và không
thể bị Quốc hội bất tín nhiệm để lật đổ. Tổng thống tiếp xúc với Quốc
hội “bằng thông điệp” và nếu muốn “có thể dự các phiên họp của Quốc
hội”, cũng như chỉ “khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết
tình hình Quốc gia” (điều 39).
Qua những điều kể trên, ta thấy rõ rằng khi thiết kế ra Hiến pháp này, quả thật ông Nhu đã muốn cho anh mình trở thành một thứ Đế vương phong kiến với những hình thức và ngôn ngữ có vẻ dân chủ tự do...
Chính ông Ngô Đình Diệm cũng đã công khai bày tỏ sự tán đồng nội dung
của bản Hiến pháp này trong bài phỏng vấn của nhật báo Pháp Le Figaro số ra ngày 23 và 24 tháng 3 năm 1959: “Cần
phải nhớ lại quá khứ của chúng tôi. Chế độ chính trị ở Việt Nam thời
nào cũng vậy, đã thành lập trên nguyên tắc điều khiển việc nước không phải do những đại biểu của quốc dân mà do những ông vua có những tể tướng sáng suốt phụ tá... Chúng tôi phải lập lại ở Việt Nam hệ thống luân lý như ngày xưa” [7] Ông Nhu đúng là vị “tể tướng sáng suốt” đã sơn son thếp vàng cho ông vua Ngô
Đình Diệm phong kiến của thời đại quân chủ lên làm nguyên thủ của nước
Việt Nam Cộng hòa theo Tổng thống chế, để xây dựng tự do dân chủ cho
miền Nam chống Cộng! Trách gì dân miền Nam chẳng rủ nhau theo Việt Cọng.
Le Roi (Bảo Đại) est mort. Vive le Roi (Ngô Đình Diệm) !
* * *
Quan niệm thứ nhì của Hiến pháp 1956 mà ta phải xét đến là
quyền hành của người dân được quy định như thế nào trong chương “Quyền
lợi và Nhiệm vụ của người dân”. Đây cũng là chương nói lên rõ ràng nhất
cái kỹ thuật lừa bịp tinh vi của ông Ngô Đình Nhu, cha đẻ của Hiến pháp
1956, phát xuất từ sự đánh giá sai lầm sức mạnh của một chế độ dân chủ
tự do, và sức mạnh vô địch của quần chúng trong cuộc chiến tranh chống
lại một kẻ thù như Cộng sản.
Phát xuất từ quan niệm cơ bản rằng chỉ cần một chính quyền
mạnh (trong nghĩa bạo lực quân sự hoặc bạo lực chính trị) là chế độ có
thể tồn tại vững bền, Hiến pháp 1956 đã nhân danh chủ nghĩa chống Cộng để kiểm soát và giới hạn tối đa mọi quyền tự do và dân chủ của người dân. Quan niệm này không
đếm xỉa đến nhân dân như là sức mạnh trụ cột và trường kỳ của miền Nam
Việt Nam, cũng như không đếm xỉa đến sinh hoạt dân chủ như là vũ khí hữu
hiệu nhất để đối kháng với kẻ thù.
Thật vậy, sau khi đã mở đầu Hiến pháp với một mớ từ ngữ ma
quái trong triết lý Duy linh và sau khi đã bắt buộc phải xác định một
cách không thể tránh được những nguyên lý căn bản mà Hiến pháp nào (kể
cả Hiến pháp Cộng sản) cũng phải đề ra như “quốc gia công nhận và bảo
đảm những quyền căn bản của con người” (điều 5), “mọi người dân đều có
quyền sinh sống tự do và an toàn” (điều 9), thì đến lúc đi vào từng chi
tiết cụ thể của từng sinh hoạt của người dân, mọi điều đưa ra cho có vẻ tự do dân chủ đều bị giới hạn lại ngay bằng một điều khác liền.
Hiến pháp xác định “quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình
công được công nhận” nhưng điều 25 ngay sau đó lại nói rằng việc sử dụng
các quyền này phải “theo những thể thức và điều kiện luật định”
(Luật định như Dụ số 23 về việc thành lập Nghiệp đoàn bắt phải nộp điều
lệ để chính quyền cứu xét và quyết định, nhưng Dụ này lại không
định ra một giới hạn nào cả về thời gian cứu xét). Hiến pháp cũng xác
định có quyền đình công nhưng cũng ngay trong điều 25 đó thì “quyền
đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các
ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng hoặc các nhu
cầu thiết yếu của đời sống tập thể” nhưng lại không có một văn kiện “luật định” nào giải thích rõ ràng các ngành đó cả mà chỉ do Tổng thống hoặc chính quyền xác định lấy.
Cũng vậy, nói rằng “tính cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm” nhưng lại thêm “trừ khi cần bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung” (điều 12); cho người dân có quyền “tự do đi lại và cư ngụ” rồi lại thêm ngoại trừ trường hợp “luật pháp ngăn cản vì duyên cớ vệ sinh hay an ninh công cộng”; xác định người dân có quyền “tự do xuất ngoại” nhưng trừ “trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh, quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng” (điều 13); nói rằng có quyền “tự do hội họp và lập hội” nhưng giới hạn “trong khuôn khổ luật định” (điều 15); Hiến pháp cũng công nhận là “chỉ có thể bắt giam người khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền” mà lại không
xác định “cơ quan có thẩm quyền” là những cơ quan nào cho nên sau này
có rất nhiều cơ quan mật vụ an ninh chìm nổi của ông Nhu, ông Cẩn, không nằm trong hệ thống của Bộ Tư pháp mà vẫn có quyền bắt người dù có hoặc không có trát tòa.
Nói chung, để kiểm soát và bóp nghẹt quyền của người dân,
Hiến pháp 1956 đã tung ra một mớ gươm Damoclès treo trên đầu người dân với những từ ngữ mà chính quyền muốn giải thích như thế nào cũng được như “điều kiện luật định, lý do quốc phòng, an ninh công cộng, an toàn chung, trật tự chung, lợi ích công cộng, đạo lý công cộng...” Và để bảo đảm tối đa sự kiểm soát này, Hiến pháp còn nâng chủ trương nầy lên thành nguyên tắc tổng quát trong điều 28: “quyền của mỗi người đều được xử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định”. Điều 28 quỷ quyệt này đóng
kín một cách hoàn toàn và vĩnh viễn tất cả mọi hy vọng của người dân về
một sinh hoạt dân chủ và an toàn cá nhân dưới chế độ, đồng thời trao
lại một cách hoàn toàn và vĩnh viễn quyền sinh sát vào tay một thiểu số
gia đình họ Ngô đang nắm quyền lực trong tay.
Theo Wikipedia thì :
“Về mặt pháp lý, bản Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 khẳng định việc phân chia quyền lực của chế độ là tam quyền phân lập và có mục tiêu để hai ngành lập pháp và hành pháp kiểm soát lẫn nhau. Về ngành tư pháp thì quyền lực kém hơn và không được độc lập hoàn toàn vì lệ thuộc vào Bộ Tư pháp và phủ Tổng thống bổ nhiệm và điều hành. So sánh với các quốc gia khác thì Hiến pháp 1956 dồn nhiều quyền lực vào ngành hành pháp hơn cả vì tổng thống có những đặc quyền trong những trường hợp nội loạn, chiến tranh hay khủng hoảng tài chánh.
Điều đáng ghi nhận là nền tảng của bản hiến pháp nêu
ra ba khía cạnh: "văn minh Việt Nam", "duy linh", và "giá trị con người"
như ghi rõ trong lời mở đầu. Vì văn bản ghi là dân tộc có "sứ mệnh" trước "Đấng Tạo hóa" nên có người cho rằng đây chứng minh sự thiên vị của chính quyền với Thiên Chúa giáo trong khi các tôn giáo khác không được đề cập đến.”
Ngoài một số nhà nghiên cứu Mỹ như Joseph Buttinger (trong Vietnam, a Political History, 1968), Stanley Karnow (trong Vietnam A History, 1983), Frances Fitzgeral (trong Fire in the Lake, 1972), Robert Shaplen (trong The Cult of Diem, 1972)
đã nặng lời chỉ trích Hiến pháp 1956 của Đệ nhất Cộng hòa, nhiều luật
gia Việt Nam tên tuổi cũng đã nghiêm khắc lên án Hiến pháp đó là thoái
hóa, kỳ thị và độc tài:
■ Luật gia Nguyễn Hữu Châu, giáo sư đại học Luật
khoa Paris, nguyên Bộ trưởng Bộ Phủ Thủ tướng năm 1957 và 1958 đã có
những phán xét không tốt đẹp gì cho Hiến pháp Nhân Vị 1956 của Đệ nhất
Cộng hòa. Trong Luận án Cao học Luật khoa (Mémoire DES, 1960) ông Nguyễn
Hữu Châu sau khi phân tách từng chương từng mục đã kết luận rằng:
“Xét đến lịch sử các cơ chế và tư tưởng chính trị của Việt Nam, thật khó mà không công nhân rằng hệ thống của Hiến pháp ngày 26-10-1956 quả là một sự thoái hóa so với hệ thống chính trị cổ truyền. Tại vì Hiến pháp 26-10-1956 đã giữ lại những gì kém tiến bộ nhất của chế độ xưa cũ, rồi bổ túc bằng những sự kiềm chế tân tiến nhất.
Do đó mà cái ý niệm về lãnh đạo (leadership) được
trình bày trong bản dịch chính thức của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
không có cái ý nghĩa mà các nhà Xã hội học Mỹ trao gửi lúc đầu” [8].
■ Giáo sư Thạc sĩ Luật Vũ Văn Mẫu, nguyên Bộ trưởng
Ngoại giao của chính phủ Ngô Đình Diệm, sau nầy, cũng đã tố cáo ý đồ
thiên vị Thiên Chúa giáo của bản Hiến pháp 1956 như sau:
Điều 17 của Hiến pháp Việt Nam 1956 đã được giáo sư
Bửu Hội chiếu dẫn trước tổ chức Liên Hiệp Quốc để chứng minh rằng tại
Việt Nam không có sự kỳ thi tôn giáo. Điều 17 này qui định như sau: “Mọi
người dân đều có tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo và tự do truyền
giáo, miễn là xử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ
tục.” Hiến pháp 26/10/1956 như vậy đã minh thị công nhận nguyên tắc tự do tín ngưỡng và bình đẵng giữa các tôn giáo.
Tuy nhiên trong phần “Mở đầu” của Hiến pháp, đã có một đoạn phản chiếu của một sự thiên vị Thiên Chúa giáo khá rõ rệt như sau:
“Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di
dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưỡng tiến bộ
để hoàn thành sứ mệnh trước Đấng Tạo Hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản và phát triễn con người toàn diện....”
Trong đoạn văn trích dẫn này, phần mở đầu của Hiến pháp 1956 đã đề cập đến sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa, tức là trước Đức Chúa trời trong Thiên Chúa giáo, mà không đề cập tới các tôn giáo khác.
Đoạn văn này đã đượm sắc thái thiên vị Thiên Chúa giáo. Vô tình hay cố ý, đoạn văn này đã tạo cho Thiên Chúa giáo một địa vị ưu đãi đặc biệt tại Việt Nam
vì Hiến pháp 1956 nói rõ là nhằm mục đích hoàn thành sứ mạng trước Chúa
tức là Đấng Tạo hóa đã tạo dựng ra trời đất và vạn vật theo như Thánh
kinh của Thiên Chúa giáo đã chép.[9]
■ Còn giáo sư Nguyễn Văn Bông, Thạc sĩ Công Pháp, Viện trưởng Viện Quốc gia Hành chánh thì trong đoạn kết của giáo trình năm thứ nhất Cử nhân Luật về môn “Luật Hiến pháp và Chính trị học” của Đại học Luật khoa Sài Gòn, 1966, đã viết rằng:
“Thật vậy, ngay ở điều khoản thứ ba, chúng ta nhận thấy “Tổng thống Lãnh đạo Quốc gia”. Tổng thống bổ nhiệm và cách chức các sứ thần cùng công chức cao cấp không cần ý kiến của Quốc hội. Trái với nguyên tắc phân nhiệm
mà điều 3 ghi rõ là “nguyên tắc phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp
phải rõ rệt”. Hiến pháp 1956 dành cho Tổng thống quyền ký sắc luật giữa
hai khóa họp Quốc hội, quyền ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp,
báo động hoặc giới nghiêm.
Một sự tập trung quá mức quyền hành cùng sự thủ tiêu đối lập và sự hiện diện của một chính đảng duy nhất đã đưa chế độ Ngô Đình Diệm lần lần đi đến một chế độ quyền hành cá nhân áp dụng những phương tiện chuyên chế mà tiếng súng ngày 1-11-1963 đã đưa vào dĩ vãng. ”
* * *
Hiến pháp là văn bản công khai và là nền tảng quy chiếu
luật pháp của quốc gia mà ngay từ những ngày đầu của chế độ Ngô Đình
Diệm, những người đẻ ra nó còn đưa vào đó một nội dung phi dân chủ và phản dân quyền
độc tài trắng trợn như thế thì trên thực tế, một thực tế đã được bưng
bít và che đậy bằng màng lưới công an mật vụ dày đặc, người dân còn chịu
thống khổ ngần nào, giá trị và vị thế con người còn có nghĩa gì trước
mặt kẻ cầm quyền !
Thật vậy, trừ vài năm đầu, lúc mà bộ máy của chế độ đang
trong giai đoạn cũng cố và người dân còn cọng tác để cùng ông Diệm xây
dựng miền Nam, còn kể từ năm 1959, khi những công cụ đàn áp khũng khiếp
như Đảng Cần Lao, Lực lượng Đặc biệt (của ông Ngô Đình Nhu do Lê Quang
Tung chỉ huy), Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung (của ông Ngô Đình Cẩn),
Sỡ Nghiện cứu Chính trị Xã hội (của bác sĩ Trần Kim Tuyến), và sáu cơ
quan an ninh, công an, mật vụ … đã được cũng cố như thiên la địa võng
chụp xuống miền Nam, thì Hiến pháp 1956 trở thành tờ giấy lộn và Quốc hội Lập pháp trở thành một bầy gia nô để “hợp pháp” hóa lệnh của phủ Tổng thống mà thôi . Từ đó, chế độ Diệm đã hiện hình trọn vẹn là một chế độ dộc tài.
Muốn biết một chế độ, bất kỳ chế độ có tên gọi là gì, có
độc tài hay không, ta chỉ cần đơn giản trả lời ba câu hỏi rất cụ thể, dễ
kiểm chứng, và bất khả phản bác sau đây:
1- Chế độ đó có khung pháp lý cho đối lập chính trị hay không ?
Nếu không có khung pháp lý đó, hay có đối lập mà bị đàn áp thủ tiêu, thì chế độ đó chắc chắn độc tài. Hiến pháp 1956 thiết định Quốc hội chỉ có một Viện, không có “Thượng Viện”, nơi định chế hóa sự có mặt của đảng phái [10]. Do đó, từ tiên quyết, chế độ Diệm đã không thừa nhận và khuyến khích một chế độ đa đảng, vì vậy mà khi đi vào thực tế sinh hoạt, xã hội miền Nam không phải là một xã hội đa nguyên.
Chế độ Diệm đã đàn áp các đảng phái quốc gia (đến nỗi Đại Việt Quốc Dân
đảng phải lập chiến khu Ba Lòng ở Quảng Trị để võ trang chống lại, còn
các đảng khác như Việt Quốc, Duy Dân, Dân Xã thì co cụm lại đi vào bí
mật để đối lập), đã thủ tiêu đối lập (Tạ Chí Diệp, Nguyễn Tấn Quê, Vũ
Tam Anh, Nguyễn Bảo Toàn, Ba Cụt Lê Thành Vinh, Trình Minh Thế, Hồ Hán
Sơn … Đó là chưa nói đến những Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Đắc Phương trong
vụ án gián điệp miền Trung [11].),
đã kết án rồi tìm cách giết các nhà đối lập chính trị thuộc nhóm
“Caravelle” (khi ra lệnh cho phi cơ của Không quân thả bom xuống Hải vận
hạm HQ401 khi chiến hạm nầy đang trên đường chở các nhà đối lập nầy ra
nhà tù Côn đảo), đã cưởng bức o ép đến nỗi ông Nguyễn Tường Tam (tức nhà
văn Nhất Linh) phải tự tử và để lại câu trối trăn tiền định: “Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất vào tay Cộng sản.
Tôi chống đối sự đó và tự hũy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức
tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.”

Kết án tử hình Tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh – Di tích Nhà tù “Chín Hầm” của Ngô Đình Cẩn tại Huế
Di bút tuyệt mệnh của văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
2- Trong nhà tù của chế độ có chính trị phạm hay không ?
Nếu có chính trị phạm, dù chỉ một người, thì chế độ đó chắc chắn độc tài. Chế độ Diệm, theo Avro Manhattan trong “Vietnam, Why Did We Go ?”,
đã bỏ tù hơn 300,000 người vì lý do chính trị. Theo ông Lê Nguyên Long,
một lãnh tụ Quốc Dân Đảng ở miền Trung, thì hàng ngàn cán bộ của đảng
ông đã bị nhóm “Cần Lao ác ôn” (như ông Quận trưởng tên Thái ở Điện Bàn,
Quảng Nam) vu cáo là Việt Cọng rồi bỏ tù theo luật 10/59. Trong Nam thì
đội Phước kéo lê máy chém đi hành hình không biết bao nhiêu người kháng
chiến yêu nước không-Cọng sản trong chiến dịch Tố Cọng của bộ trưởng Trần Chánh Thành. Ngoài ra còn hai nhà tù siêu chính phủ là “Chín hầm” ở Huế của ông Ngô Đình Cẩn không nằm trong hệ thống Tư pháp quốc gia , và trại biệt giam P42
của ông Ngô Đình Nhu, cũng bí mật không thuộc cơ quan nào của chính phủ
cả, ở gần Sở thú Sài Gòn, đã nhốt biết bao nhiêu người chiến sĩ yêu
nước nhưng không chịu được chế độ độc tài của Thục-Diệm-Nhu-Cẫn (như các
cụ Nguyễn Xuân Chử, Xuân Tùng, Trần Văn Hương, Phan Bá Cầm, Phan Quang
Đán, Nguyễn Văn Lực, Phan Khắc Sữu, …)
3- Trong sinh hoạt ngôn luận, có tự do báo chí hay không ?
Nếu không có tự do báo chí thì chế độ đó chắc chắn độc tài.
Chế độ Diệm có ông Bộ trưởng Thông tin cũng là Chủ tịch Phong trào Tố
Cọng toàn quốc, ký giả nói gì viết gì cũng phải trong cái khung tố Cọng,
dọa nhau thì lại chụp cho cái nón cối lên đầu. Lại có hệ thống Cấp bông
giấy (in báo) để khống chế quyền độc lập của chủ báo, và có gia nô của
chính phủ độc quyền hệ thống Phát hành thì làm sao nói đến tự do báo chí
nữa.
► Nhật báo Tự Do của các ông Nguyễn Hoạt (Hiếu
Chân), Lưu Đức Sinh (Mặc Thu), Lê Văn Tiến (Như Phong), Tam Lang (Vũ
Đình Chí) ... lúc đầu là diễn đàn chống Cọng sâu sắc và hiệu quả nhất
nhưng cuối cùng cũng không thể hợp tác được với chế độ Diệm. Số Xuân Tự Do
năm Canh Tý (1960), vì in hình bìa của họa sĩ Phạm Tăng vẽ 5 con chuột
(vừa tượng trưng cho tuổi Tý của ông Diệm vừa tiêu biểu cho 4 anh em Ngô
Đình và bà Nhu) đang gậm nhắm đục khoét trái dưa hấu (tượng trưng cho
miền Nam) nên báo bị đóng cửa và các ký giả thì đi tù.
► Nhà báo Vũ Bằng mô tả tình trạng làm báo dưới chế độ Diệm trong tác phẩm nổi tiếng “Bốn Mươi Năm Nói Láo” (Cơ sở Xuất Bản Sống Mới – Sài Gòn – 1969, trang 204 đến 263) như sau:
… nhà báo đối lập chẳng trước thì sau cũng bị lâm vào mấy cái thế sau đây: báo bị đóng cửa; chủ nhiệm, quản lý … bị đưa đi bí mật ban đêm; nếu
không thế thì một ngày đẹp trời nào đó tự nhiên cũng bị ghép vào tội gá
bạc, tống tiền, dỗ gái vị thành niên hay đi lừa đảo, đưa ra toà, gia
sản bị tịch biên, có bao nhiêu vốn liếng đi tiêu hết.
… ông Nhu và vợ đặt ở các văn phòng các đường phố một
số mật báo viên , có nhiệm vụ báo cáo những phần tử chỉ trích chánh phủ;
ngoài ra theo dõi hành động của các tờ báo khác, hồ thấy viết một câu
nào xa xôi, xách mé bóng gió thì đóng cửa vĩnh viễn, còn ký giả nào bướng bỉnh, không quy phục thì chụp cái nón cối Cọng sản lên đầu, cho xuống hầm tối để không bao giờ lên được đất liền nữa, hoặc có lên được cũng mù loà, què quặt, bán thân bất toại.
… Không khí làng báo lúc ấy thực đìu hiu, tẻ lạnh. Mỗi buổi sáng, người làm báo nhận được những cú điện thoại cho biết phải tránh những tin gì không được nói, những lời tuyên bố nào của ông Diệm, bà Nhu phải làm to;
thậm chí lại có khi buộc phải đưa câu nói này của bà Nhu lên làm vơ-đét
tám cột, diễn văn kia của ông Diệm năm cột và kèm theo thật nhiều tranh
ảnh.
… Báo nào mới ra đời cũng la thét ghê gớm lắm: nào dám
nói, dám làm, dám chửi; nào phục vụ nhân dân, đứng hẳn về phiá đối lập,
đòi công bằng xã hội, tranh đấu cho đồng bào có cơm no áo ấm; nào quét
sạch thối tha, nhơ bẩn, dám làm, dám chết…nhưng rút cục trong một
chính thể độc tài, nô lệ, dân chủ ngụy tạo như chính thể nhà Ngô, chẳng
có một tờ báo nào thoát được ra ngoài quỹ đạo của chế độ Ngô Đình Diệm.
► Còn ba nhà báo tên tuổi là Từ Chung (báo Chính Luận), Hiếu Chân (tên thật llà Nguyễn Hoạt làm báo Tự Do) và Chu Tử (tên thật là Chu Văn Bình làm báo Sống), ngay sau khi chế độ Diệm sụp đổ, trong “Lời Hiệu triệu các Nhà Văn Nhà Báo” đăng trên báo Ngôn Luận số ra ngày 4/11/1963, đã hối hận thú nhận rằng:
Mang danh là những người cầm bút chiến đấu cho Tự Do,
Dân Chủ, giải phóng con người vậy mà trong thời gian vừa qua, vì cơm áo,
khiếp nhược, đớn hèn, chúng ta đã nhắm mắt ăn dơ, đánh đĩ tâm hồn, phản bội sự thật, phản bội dân tộc, cam tâm làm gia nô cho bè lũ họ Ngô.
Dù chúng ta có viện bất cứ lẽ gì để bào chữa, chúng ta cũng không thể
chối cãi được tội lỗi của chúng ta đối với đồng bào, lịch sử...
Cách mạng 1/11/1963 là cơ hội duy nhất để chúng ta thoát khỏi cảnh huống bồi bút phi cầm phi thú,
cơ hội duy nhất để chúng ta trở lại làm người đã tới... Chúng tôi khẩn
thiết kêu gọi văn nghệ sĩ, bằng máu và nước mắt, mồ hôi mà trong chín năm qua bè lũ họ Ngô đã làm hoen ố...
* * *
Tóm lại, dưới nền Đệ Nhất Cọng hòa, dù Hiến Pháp 1956 đã
bộc lộ rõ ràng tính phi dân chủ của nó, nhưng thật ra, chính thực tế
sinh hoạt chính trị miền Nam trong những năm sau đó là đối lập chính trị bị đàn áp, nhà tù chất đầy chính trị phạm, và quyền tự do báo chí bị thủ tiêu, mới là những xác quyết không thể chối cải rằng chế độ Diệm là một chế độ phản dân quyền. Những thuộc tính nỗi tiếng khác của chế độ Diệm như Gia đình trị, Công an trị, Công giáo trị,… chỉ làm mạnh thêm và rõ thêm tính độc tài của gia đình cầm quyền họ Ngô mà thôi.
Chính vì chế độ độc tài đó đã kềm hảm, thậm chí còn tiêu
diệt, sức mạnh phát triển quốc gia để đối đầu với miền Bắc, lại chẳng
đem lại ấm no và tự do cho đồng bào miền Nam, nên chỉ trong 7 năm cầm
quyền (từ khi ông Diệm làm tổng thống vào tháng 10/1956 đến khi chế độ
của ông sụp đổ vào tháng 11/1963), người dân miền Nam đã 7 lần chống
đối lại chế độ của ông:
1- Tháng 2/1957, hàng giáo phẩm Cao Đài đã
ủng hộ cho một tín đồ tên là Hà Minh Trí mưu sát ông Diệm tại Hội chợ
Xuân Tây Nguyên ở thành phố Ban Mê Thuột, với lý do là để trả thù cho
tướng Trình Minh Thế và cho tín đồ Cao Đài bị đàn áp khiến Hộ pháp Phạm
Công Tắc phải tị nạn qua Cam Bốt. Súng bị két đạn, mưu sát không thành,
ông Hà Minh Trí bị cầm tù đến sau 1963 mới được thả ra. Nhưng cũng từ
sau vụ mưu sát đó, trong mỗi bài diễn văn, ông Diệm lại dùng câu “Xin Ơn Trên che chở cho chúng ta” [Que Dieu nous protège!] để kết bài.
Nhiều tài liệu và nhân chứng cho rằng ông Ngô Đình Nhu đã ra lệnh thủ tiêu Tướng Cao Đài Trình Minh Thế
|

Tín đồ Cao Đài Hà Minh Trí bị bắt tại Hội chợ Cao Nguyên năm 1957 sau vụ mưu sát ông Diệm |
2- Tháng 5/1957, không chịu được nền độc tài gia
đình trị và chính sách trả thù Quốc Dân đảng thông qua chiến dịch chống
Cọng bừa bải, Đai Việt Quốc Dân đảng “thành lập chiến khu Ba Lòng tại vùng rừng núi phía Tây tỉnh Quảng Trị nhằm mục đích chống lại chế độ gia đình trị của Nhu-Diệm, đồng thời cũng là cơ hội dẹp tan các âm mưu cố thủ của Cộng Sản tại nam vĩ tuyến 17.” [12]
Tuy nhiên, dưới sự điều động sắt máu của ông Cố vấn miền Trung Ngô Đình
Cẩn, quân đội đã dẹp được chiến khu nầy. Một phần lớn các đảng viên bị
bắt và tù đày. Từ đó, mâu thuẫn giữa đảng Đại Việt và chính quyền Ngô
Đình Diệm không những không hàn gắn được mà càng lúc càng sâu sắc thêm.
3- Tháng 4/1960, mười tám nhân vật tên tuổi của miền Nam [13]
họp tại một khách sạn ở trung tâm thủ đô Sài Gòn để công bố một Bản
Tuyên Ngôn chỉ trích và lên án ông Diệm đã không đem lại cho dân chúng
một cuộc sống tốt đẹp, tự do. Vì biết không thể xin họp công khai, những
nhân vật nầy đã bí mật mời một số thông tín viên ngoại quốc và vài ký
giả Việt Nam đến họp tại hội trường khách sạn Caravelle (vì vậy, nhóm
nầy còn được gọi là “nhóm Caravelle”). Bản Tuyên ngôn gồm phần mở
đầu và phần nhận định về 4 lãnh vực Chính trị, Chính quyền, Quân đội và
Kinh tế Xã hội. Họ thẳng thắn cho rằng Quốc hội chỉ là tay sai của
chính phủ, bầu cử chỉ là trò bịp bợm, tình trạng tham những bè phái khắp
nơi, các chính đảng quốc gia bị đàn áp, quân đội chỉ là một công cụ để
củng cố chính quyền chứ không được dùng để chống Cọng, lấy “sự trung thành với một đảng để tùng phục mù quáng những kẻ lãnh đạo đảng làm tiêu chuẩn thăng thưởng”…
Bản Tuyên Ngôn kết luận:
“Cho đến nay, chúng tôi đã giữ im lặng và để cho
chính quyền mặc ý hành động. Nhưng bây giờ đã đến lúc khẩn thiết, chúng
tôi cảm thấy rằng bổn phận của chúng tôi - và trong lúc nước nhà gặp
cảnh rối loạn thì ngay cả những kẻ hèn kém nhất cũng phải chia xẻ bổn
phận này - là phải nói lên sự thật, thức tỉnh dư luận, báo động với nhân
dân, và liên kết những kẻ đối lập, để cho thấy lối thoát.
Chúng tôi thỉnh cầu chính quyền gấp thay đổi chính sách để cứu vãn tình thế, bảo vệ chế độ Cộng Hòa và bảo vệ sự sống còn của quốc gia.
Chúng tôi giữ vững niềm hy vọng là dân tộc Việt Nam sẽ có một tương lai
sáng lạn để được hưởng thanh bình và thịnh vượng trong Tự Do và Tiến
Bộ”,
nhưng lời “thỉnh cầu” tâm huyết và cấp thiết nầy của 18
nhân vật ưu tú nhất của miền Nam lúc bấy giờ đã bị hai ông Diệm Nhu
không đếm xĩa đến. Dĩ nhiên sau đó, 18 nhân vật nầy đa số đều bị bắt bớ,
tra tấn, giam cầm.
4- Tháng 11/1960, chỉ 7 tháng sau “Tuyên ngôn
Caravelle”, trước những biện pháp chính trị thất nhân tâm của chính
quyền Diệm và trước tình hình an ninh miền Nam càng lúc càng tồi tệ (Đầu
năm 1960, sư đoàn 21 bị tấn công và thiệt hại nặng nề ở Tây Ninh, cuối
năm đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời), binh chũng Nhãy Dù (với
các sĩ quan chỉ huy như Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu
Hồng, Phan Trọng Chinh, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Huy Lợi …) cùng nhiều nhân
vật [14] đảng phái quốc gia tập họp trong Liên Minh Dân Chủ và Mặt trận Quốc gia Đoàn kết đã
phát động cuộc binh biến, đánh thẳng vào dinh Độc Lập, đòi ông Diệm cải
tổ toàn diện cơ cấu lãnh đạo quốc gia để xây dựng lại chính nghĩa và
nâng cao hiệu năng chiến đấu của quân dân miền Nam. Bị cô lập và bao vây
trong Dinh Độc Lập, ông Diệm hứa sẽ đáp ứng những đòi hỏi đó nhưng thật
ra ông chỉ kéo dài thời gian để chờ quân đội ở miền Tây về cứu ứng [15].
Tin vào lời hứa đó nên quân Nhãy Dù ngưng chiến, và sau đó trở tay
không kịp, bị thua nên cấp lãnh đạo cuộc binh biến một phần bị bắt đưa
ra Tòa án kết tội phản loạn, một phần phải trốn sang tị nạn chính trị
tại Cam Bốt. Binh chũng Nhãy Dù, từ đó, không được ông Diệm tin tưởng
nữa.
5- Tháng 2/1962, hơn một năm sau “Đảo chánh Nhãy dù”, hai sĩ quan của một binh chủng khác của quân đội lại hành động: Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử
đã bay 2 chiếc Skyrider A-1 ném bom Napalm và bắn rocket vào dinh Độc
Lập với mục đích tiêu diệt đầu não của chế độ ông Diệm (Ngoài ông bà Ngô
Đình Nhu ở và làm việc trong Dinh Độc Lập, hôm đó còn có TGM Ngô Đình
Thục nữa). Trung úy Quốc là giòng dõi của cụ Phạm Phú Thứ, một nhà cách
mạng khí khái ở Quảng Nam mà giòng họ Ngô Đình vừa ghen vừa ghét trong
thời Nam triều. Còn trung úy Cử là con của cụ Nguyễn Văn Lực, một lãnh
tụ của Đại Việt QuốcDân Đảng. Bom và phi tiển chỉ làm hư hại
cánh trái của Dinh Độc Lập mà thôi. Máy bay của Trung úy Quốc bị phòng
không Hải quân bắn hạ, ông nhảy dù và bị bắt. Còn Trung úy Cử thì bay
qua Cam bốt tị nạn. Sau 1963, hai ông trở về binh chủng Không quân và
tiếp tục thi hành các phi vụ oanh kích Việt Cọng trên chiến trường miền
Nam.
(trái) Cánh trái Dinh Độc Lập, khu cư trú của Ông bà Nhu, bị bom và phi tiển gây thiệt hại
(phải)Chiếc Skyrider A-1 của Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc bị bắn hạ trên sông Sài Gòn - được vớt lên sau vị ném bom Dinh Độc Lập 1962.
6- Một năm sau, vào tháng 5/1963, chính sách kỳ
thị Phật giáo của chế độ Diệm lên đến cao điểm với lệnh cấm treo Phật kỳ
trong lễ Phật đản tại Huế và sau đó nổ súng giết 8 Phật tử tại Đài Phát
thanh. Đây là giọt nước làm tràn sự bất công của chính sách tiêu diệt
Phật giáo một cách có hệ thống để Công giáo hóa miền Nam vốn bắt đầu từ năm 1956, khi lần đầu tiên Hoà thượng Trí Thủ gửi văn thư chính thức phản đối Linh mục Vàng, giảng sư của Trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long, đòi cắm cây thánh giá lên núi Ngũ Hành Sơn, nơi có chùa Non Nước ở Đà Nẵng.[16]
Kể từ năm 1956 đó cho đến suốt 7 năm còn lại, Phật giáo đã bị đối xử
phân biệt, áp lực đổi đạo, đày đọa đi các vùng dinh điền trên cao
nguyên, bị chụp mũ là Cọng sản, chùa chiền bị các cha xứ lấn chiếm tranh
dành, công chức quân nhân Phật tử bị trù dập.
Xin ghi lại đây ba tình trạng kỳ thị Phât giáo tiêu biểu và trắng trợn mà ở miến Nam lúc bấy giờ ai cũng biết là:
(a) Lễ Phật đản không được ghi trong danh sách
ngày nghĩ quốc gia trong khi lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh, … của Công
giáo thì lại được xem như quốc lễ. Mãi cho đến năm 1957, Hội chủ Phật
giáo phải làm đơn “xin”, chính phủ mới “cho” nghĩ ngày Phật Đản;
(b) Khi Phật tử bị ép buộc vào sống trong các khu
Trù mật., Dinh điền, Ấp Chiến lược của chính phủ, họ bị đủ mọi áp bức,
nhất là áp bức kinh tế để đổi đạo đến nỗi có câu vè thật ai oán rằng “theo đạo có gạo mà ăn”;
(c) Nhưng quan trọng hơn cả là chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn duy trì Dụ số 10
để khống chế Phật giáo trong quy chế của một Hội bình thường, trong khi
Công giáo thì không bị ràng buộc, muốn tự do điều hành và sinh hoạt sao
cũng được [17].
Ông Diệm đã truất phế vua Bảo Đại, đã thành lập nền Cọng hòa, đã thủ
tiêu tất cả luật lệ thời phong kiến thực dân Tây để lại, vậy tại sao lại
duy trì Dụ số 10 cực kỳ bất công và nham hiểm của phong kiến và
thực dân, nếu không phải là để đạp Phật giáo xuống cho Công giáo lên
ngôi vị độc tôn tại Việt Nam ?
Biến cố ở Huế sau đó trở thành cuộc đấu tranh cho nguyện
vọng 5 điểm đòi bình đẳng tôn giáo. Trước sự ngoan cố của chính phủ
Diệm, ngày 11/6 Hoà thương Thích Quảng Đức tự thiêu để “trân
trọng kính gởi lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ
bi đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để giữ
vững nước nhà muôn thủa” khiến cuộc đấu tranh của Phật giáo lan rộng
ra với sự hiện diện mạnh mẽ và đông đão của sinh viên, học sinh và đảng
phái. Ngày 7/7, văn hào Nhất Linh tự thiêu để cảnh báo chế độ Diệm đang làm “tội nặng mất vào tay Cọng sản”. Khuya 20/8, ông Nhu ra lệnh cho Cảnh sát dã chiến và Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung phát động chiến dịch Nước Lũ
ào ạt tấn công chùa Xá Lợi, Giác Minh, Ấn Quang, Từ Quang, Therevada ở
Sài Gòn và chùa chiền khắp toàn quốc, bắt Tăng Ni (riêng tại Sài Gòn là
1,400 vị) và Phật tử giam giữ, phản bội Thông cáo Chung và vu khống cho
Phật giáo là tay sai của Việt cọng. Hệ quả tức thời của chiến dịch Nước
Lũ là toàn bộ thành phần lãnh đạo Phật giáo bị triệt tiêu, phong trào
đấu tranh của Phật giáo gần như bị tê liệt, nhưng chính vì vậy mà phong
trào đã trở thành tiền đề văn hóa và sức bật chính trị cho ngày
1/11/1963 của Quân đội ba tháng sau đó.


Phật tử và Tăng Ni biểu tình đòi chính phủ Diệm chấm dứt đàn áp
và cho Phật giáo cùng những tôn giáo khác được bình đẳng với Thiên Chúa giáo
Sinh viên Sài Gòn biểu tình chống các biện pháp đàn áp của chế độ Diệm
bị Cảnh sát bắt đem nhốt vào quân trường
7- Trong ba tháng sau chiến dịch Nước Lũ để dứt
điểm Phật giáo, nhiều vị lãnh đạo trên thế giới, kể cả Đức Giáo hoàng
Paul VI và các tổ chức Công giáo, đã lên án chế độ Diệm. TGM Thục đến
Vatican nhưng không được Giáo hoàng tiếp, bà Nhu dẫn phái đoàn Quốc hội
đi “giải độc” trên thế giới bị chống đối. Cuối tháng 9/1963, Tồ chức
Liên Hiệp Quốc quyết định gửi phái đoàn đến Việt Nam để điều tra tình
hình đàn áp Phật giáo. Sinh viên học sinh và đông đảo đồng bào thay thế
Phật tử và Tăng Ni ào ạt xuống đường biểu tình … Những tin đồn về việc
ông Nhu sẽ tổ chức đảo chánh (kế hoạch “Bravo”) để thay ông Diệm,
nhất là tin về hai anh em ông Nhu-Diệm đang thỏa hiệp với chính quyền
Cọng sản miền Bắc được truyền đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Trường học đóng
cửa, quân nhân bị cắm trại 100%, nhu yếu phẩm bị đầu cơ tích trữ. Sài
Gòn như bốc lữa …
Ngày 1/11/1963, quân đội phát động cuộc binh biến lần thứ
ba để lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Và lần nầy họ thành công.
Ngày hôm sau, 2/11, hai anh em ông Nhu và Diệm bị bắn chết. Toàn quân
toàn dân trên 35 tỉnh thị miền Nam hân hoan vui mừng ngày Cách mạng.[18]
Ngày 1-11-1963: Đồng bào thủ đô Sài Gòn cổ vũ và chào mừng Quân đội thành công lật đổ chế độ Diệm
(trái) Tượng “Mẹ con bà Nhu” bị kéo sập -
(phải) Đồng bào hân hoan tụ họp tại bến Bạch Đằng để chào
đón Tù nhân chính trị của chế độ Diệm được Hải vận hạm Tiền Giang HQ405 chở từ nhà tù Côn Đảo vềlại Sài Gòn
Ba điều đặc biệt về biến cố nầy là:
(a) Thứ nhất, ngày 1/11 không tự nó là một kết quả riêng lẽ
đến từ chỉ một nguyên nhân, mà là cao điểm kết tụ của một chuổi liên
hoàn nhiều biến cố nối tiếp và gối đầu lên nhau trong thời gian (7 năm
bạo trị), cũng như là kết quả tất yếu kết tinh từ nhiều thành tố đan bện và kết hợp với nhau (như
kỳ thị Phật giáo, đàn áp đảng phái quốc gia, bất công tham những, mâu
thuẫn với Mỹ, bè phái gia đình trị, thoả hiệp với Hà Nội, …). Nói như lý
Duyên Sinh của nhà chùa: “Cái nầy có là vì (nhiều) cái kia có”.
Do đó, nói rằng chỉ quân đội bất mãn nên lật đổ ông Diệm là một cách
nói giản lược, phi lịch sử và thiếu tính hệ thống. Hoặc nói vì một ý đồ
chỉ để khen hay chê quân đội mà thôi.
(b) Thứ nhì, ngày 1/11 đã trình hiện rõ ràng tình trạng cô lập tuyệt đối của gia đình họ Ngô và các công cụ bạo lực của họ trước cao trào chống đối của quân dân miền Nam.
Đảng Cần Lao, Sở Nghiên cứu Chính trị, Lực lượng Đặc biệt, 4 cơ quan
Mật vụ Công an, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Thanh Niên Cọng hòa, Phụ
nữ Liên đớì, các xóm Đạo võ trang… tất cả đều tê liệt rồi tan rã không
một phản ứng vì tính phi chánh nghĩa, nặng bè phái và kém tổ chức của
bản thân từng tổ chức một. Chế độ đang tan, lãnh tụ đang bôn tẩu, cả
cấu trúc chính trị và bạo lực của nó sụp đổ trong 24 tiếng đồng hồ ! Chế độ Diệm đúng là một chế độ tồn tại như một ốc đảo trong dân, không gốc rễ trong dân.

(c) Và thứ ba, người Mỹ đã đóng
một vai trò vừa quan sát vừa tham dự vào biến cố 1/11 nầy vì sự sống còn
của “tiền đồn” mà họ đã đầu tư cả tài lực lẫn vốn liếng chính trị
trong chiến lược chống Cọng toàn cầu của họ. Chính ông Diệm chứ
không ai cả, đã là nguyên nhân, từ đầu, làm cho người Mỹ có được một vai
trò và thế lực đáng kể, can thiệp quá sâu vào sinh hoạt chính trị của
miền Nam sau nầy. Người Mỹ “nặn” ra ông, “bồng” ông về và “đặt” ông
lên ngôi Tổng thống. Rồi quân viện và kinh viện, nhân sự và tiền bạc đổ
vào miền Nam như thác đổ, từ viên đạn cho đến giọt xăng, từ lương tổng
thống cho đến đôi giày bốtđờxô của anh binh nhì … Nhưng khác với các
lãnh tụ cũng độc tài nhưng vì dân tộc và tổ quốc ở Đài Loan và Nam Hàn, ông độc tài vì gia đình và vì tôn giáo của ông chứ không vì nhân dân và lý tưởng chống Cọng.
Ông đã chấp nhận làm con cờ cho Mỹ, nhưng lại bất lực trong nhiệm vụ
làm con cờ, rồi lại thoả hiệp với Hà Nội, phản bội không những “người
nặn ra ông” mà còn cả cái Hiến pháp chống Cọng và quân dân miền Nam, thì
Mỹ phải đồng ý với và giúp đỡ cho quân dân miền Nam “dứt điểm” ông là
đúng rồi. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ tóm tắt trong một câu rất ngắn mà thật
tuyệt đối đúng: “Bảo là người Mỹ đã giết Diệm. Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác sống của y.” [19]
* * *
Làm tổng thống 7 năm mà bị 7 lần chống đối ! Chống đối càng
lúc càng mạnh, từ tuyên ngôn, đến biều tình, đến ám sát, đến chiến khu,
rồi đến 3 lần súng đạn…. Chống đối càng lúc càng sâu rộng, từ sinh viên
học sinh, đến tôn giáo và trí thức, đến đảng phái và báo chí, đến đồng
minh và công luận thế giới, đến quân đội…. Rõ ràng là có một điều gì căn
bản và trầm trọng khiến quân dân miền Nam không thể chấp nhận được chế
độ Ngô Đình Diệm. Điều không chấp nhận đó có thể tóm gọn trong 2 bản
chất cốt lõi của chế độ: Ngược lòng dân và Phản thời đại.
Chế độ Ngô Đình Diệm đã tiêu vong, để lại bao nhiêu máu lệ
cho dân tộc và ngang trái cho lịch sử. Tuy nhiên, phải thẳng thắn một
điều: Lịch sử hình thành và quá trình chấm dứt của chế độ đó vẫn còn có
thể đóng góp cho dân tộc ta. Đó là chế độ nầy sẽ được xem:
■ như mẫu mực của một chế độ chính trị phi dân tộc, độc tài, và thiếu khả năng. Do đó, mọi mầm mống và biểu hiện của một chế độ như thế sẽ không được phép tồn tại trên đất nước Việt Nam.
■ như một kính chiếu yêu để chúng ta điểm mặt nhận diện cái thành phần phi dân tộc và phản thời đại vẫn còn ngoan cố bóp méo lịch sử để bào chữa cho chế độ nầy, cho cái quá khứ oan nghiệt của thời kỳ họ ê a hai câu kinh “Ngô tổng thống, Ngô tổng thống muôn năm” và “Xin Thượng đế ban phước lành cho Người”.
Nguyễn Kha
Tháng 11 năm 2010
[1] The system of fundamental laws and principles
that prescribes the nature, functions, and limits of a government (The
American Heritage® Dictionary of the English Language, Fourth Edition,
copyright ©2000 by Houghton Mifflin Company)
[2] Sau cuộc Trưng cầu Dân ý ở phía Nam vĩ tuyến 17 vào tháng 10 năm 1955 với kết quả là Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế thì tân tổng thống Ngô Đình Diệm
cho nhóm họp Ủy ban Thảo hiến vào cuối năm 1955 gồm 11 thành viên để
soạn Hiến pháp cho quốc gia cộng hòa mới. Sang tháng 3 năm 1956 thì mở
cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến với 123 đại biểu để hoàn tất công việc
soạn thảo và thông qua bản hiến pháp. Chính Quốc hội cũng đề cử 15
người lập ra Ủy ban hiến pháp riêng, chủ tịch là Trần Chánh Thành [Bộ
trưởng bộ Thông Tin] để cùng hiệp soạn. Tháng 7 năm 1956 thì Quốc hội
bỏ phiếu thuận và đến 26 tháng 10,
sau khi một vài điểm dị biệt giữa hai ngành lập pháp và hành pháp được
giải quyết, thì tổng thống ký văn bản ban hành.(Theo Wikipedia)
[3] “Trụy thai” là nhóm chử của Linh mục Kim
Định dùng để đánh giá một cách diễu cợt hệ tư tưởng Duy Dân của ông Lý
Đông A. Thật ra thì Linh mục viết … nặng hơn nhiều, ngài dùng nhóm chử
“thiên tài trụy thai” để phê phán toàn bộ tư tưởng và hành động của cá nhân vị Thư ký trưởng đảng Duy Dân nầy. Người viết dùng lại nhóm chử nầy để “trả lại cho César những gì của César”.
[4] Điều 89 của Hiến Pháp trong mục tu chính còn quy định rằng không được xâm phạm hay tu sửa điều 3 này. Có nghĩa là Tổng thống lãnh đạo suốt đời như vua trong chế độ quân chủ vậy.
[5] Công báo Việt Nam Cọng Hòa (số 48 ngày 26-10-56). Phụ lục trang 2669.
[6] Vedel, G. Etudes des Constitutions, tr. 130 (“La nation est une personne juridique distincte des individus qui les composent”).
[7] Bản dịch của nhật báo Tự Do ngày 4-4-1959.
[8] Dans l’histoire des institutions et des idées
politiques du Vietnam, il sera difficile de ne pas reconnaitre que le
système de la constitution du 26 Octobre 1956 constitua une regression
par rapport au système politique traditionnel. Car il a repris de
l’ancien système ce qu’il a le moins progressiste pour le completer par
les moyens de contrainte les plus modernes. Ainsi cette notion de
Leadership qui figure dans la traduction officielle de la Constitution
de la République du Vietnam n’a pas le sens que les sociologues
Américains lui donnent originalement.
[9] Vũ Văn Mẫu, Sáu tháng Pháp nạn, in Ronéo trong nước năm 1984. Giao Điểm in lại, 2003, California
[10] Phải đợi đến sau 1963, khi thành lập Đệ nhị Cọng hòa
với Hiến pháp ban hành vào tháng 4 năm 1967, Quốc hội mới có hai viện
như Tổng thống chế kiểu Mỹ. Sau 3 năm xáo trộn vì sự trổi dậy của nhóm
Cần lao Công giáo, Thượng viện Đệ Nhị Cọng hòa nhiệm kỳ 1967-1973 gồm 6
liên danh đại diện cho đảng phái hoặc khuynh hường chính trị Công giáo
hoặc thân Công giáo khác nhau : Nông Công Binh (Quân đội), Bông Lúa (Đại Việt và Cao Đài), Công Ích và Công Bằng Xã Hội (Công giáo), Đại Đoàn Kết (Công giáo), Mặt Trời (Công giáo), Đoàn Kết Tiến Bộ (Công giáo).
[11] Oan hồn những người nầy bây giờ không biết
có được nhóm tàn dư Cần Lao Công giáo ở hải ngoại thắp cho nén hương
mỗi lần họ cúng ông Diệm vào ngày 1 tháng 11 không ? Và bạn bè, đồng
chí, bà con của họ nghĩ gì về những vọng ngôn xảo ngữ của những “sử
gia” hoài Ngô đang sơn phết lại “Ngô Tổng thống anh minh” để thực hiện
2 chuyện: bóp mép lịch sử và chia rẽ dân tộc.
[12] Trích từ Website chính thức của Đại Việt Quốc Dân Đảng: http://daivietquocdandang.org/2010/02/16/lichsudang-2/ , mục II.A.9
[13] Mười tám người đó là quý ông Lê
Ngọc Chấn, Trần Văn Văn, Trần Văn Đỗ, Trần Văn Tuyên, Trần Văn Lý, Trần
Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Nguyễn Tăng
Nguyên, Nguyễn Tiến Hỷ, Lê Quang Luật, Phạm Hữu Chương, Tạ Chương
Phùng, Trần Lê Chất, Lương Trọng Tường và linh mục Hồ Văn Vui. Điểm đặc
biệt là trong số 18 nhân vật kể trên thì có đến 10 người là cựu ân nhân, đồng chí, bạn thân và những Bộ trưởng đã từng hợp tác với ông Diệm thời ông chưa có quyền hành hay còn gặp khó khăn.
[14] Gồm các ông Lê Vinh (đảng Duy Dân), Phan
Bá Cầm, Nguyễn Bảo Toàn (Hòa Hảo), Vũ Hồng Khanh, Xuân Tùng (Việt
Quốc),... cầm đầu. Ngoài ra còn có “Mặt trận Quốc dân đoàn kết”
do văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và các ông Phan Khắc Sửu (Cao
Đài), Nguyễn Thành Vinh, Trương Bảo Sơn (Việt Quốc) lãnh đạo... Tất cả
có hàng trăm nhân vật chính trị dân sự đại diện cho các đảng phái trực
tiếp hay gián tiếp tham dự các cuộc đảo chánh của Nhảy Dù. “Mặt trận
Quốc gia Đoàn kết” của văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam còn liên lạc
với Đức cha Từ, Đức cha Hiền, các linh mục như Cha Oánh, Cha Vui, Cha
Lộc, Cha Phiên,...
[15] Học giả Nguyễn Hiến Lê ghi lại “...
khi tôi thấy cuộc Trưng Cầu Dân ý để lật đổ Bảo Đại có tính cách rõ
ràng là gian lận: ở Sài Gòn - Chợ Lớn chẳng hạn, kết quả cho biết có
605.025 người bầu cho ông Diệm trong khi số cử tri ghi tên chỉ có
450.000 người và kết quả là ông ta thắng với tỉ số … 98.2% thuận và
1.1% nghịch thì tôi đã đâm ngán. Bịp bợm trắng trợn như thế thì không phải là thông minh được.
Nhất là khi hay tin ông Diệm trước khi nhận chức Thủ tướng đã quỳ
trước mặt Bảo Đại, Hoàng hậu Nam Phương và vài người chứng kiến, thề sẽ
một mực trung thành với Bảo Đại “duy trì ngai vàng cho Hoàng tử Bảo Long”
mà bây giờ lại lật Bảo Đại như vậy, thì tôi ngạc nhiên không hiểu tại
sao có người khen ông là có tư cách cao, nhiễm sâu đạo Khổng. Tôi nghĩ
bụng “con người đó vô sở bất vi”. Quả nhiên sau này, trong vụ đảo chánh
hụt tháng 11 năm 1960, ông lại thất hứa và lường gạt phe đảo chánh và quốc dân lần nữa.
Ngày 12 tháng đó, ông long trọng tuyên bố sẽ giải tán nội các, thành
lập một chính thể chuyển tiếp mở rộng nội các cho các tướng và các nhà
cách mạng độc lập hợp tác “Quốc dân cứ bình tĩnh và tin ở lòng ái quốc và thương dân vô cùng của Tổng thống”, nhưng khi đạo quân trung thành của ông về kịp Sài Gòn, đánh bật phe đảo chánh thì ông nuốt lời hứa, không thay đổi nội các mà còn đàn áp dữ dội những người ngây thơ tin ở ông...” – (Nguyễn Hiến Lê, Con Đường Thiên Lý, Văn Nghệ, Hoa Kỳ, tr. 201-203).
[16] Vị Linh mục tên Vàng nầy, vào năm 1960, còn
nỗi tiếng về chuyện xúi dục con chiên Nhà thờ Phú Cam đòi lại chùa
Thiên Mụ ở Huế với lời giải thích quái đản rằng chùa Thiên Mụ là nơi “Mẹ của Trời”, tức Đức Mẹ Maria, giáng trần nên phải trả chùa nầy lại cho Công giáo ! – (Tâm Đức, Như Áng Mây Bay, USA 2010, trang 230.)
[17] Điều 1 của đạo dụ số 10 liệt mọi tôn giáo
(trừ Công giáo) vào loại hiệp hội thường như đua ngựa, đá banh,... Điều
7 cho phép chính quyền từ chối không cấp giấy phép hoạt động, hoặc cấp
rồi mà vẫn có thể rút lại không cần phải nói lý do. Điều 10 và 12 cho
phép bất cứ nhân viên hành pháp hay tư pháp nào cũng có quyền kiểm soát
các hiệp hội tôn giáo. Điều 14 và 28 giới hạn tài sản của một tôn giáo
ở mức nào đó mà thôi, và dĩ nhiên điều số 44 dành một chế độ đặc biệt sẽ quy định sau cho các Hội Truyền Giáo Thiên Chúa Giáo nhưng sau 9 năm cầm quyến, chính phủ Diệm cũng chẳng bao giờ quy định. – (Kiêm Đạt, Lịch Sử Tranh Đấu của Phật Giáo Việt Nam, tr.132)
[18] “Từ 7 giờ sáng ngày 2-11-1963, khi đài
phát thanh Sài Gòn báo tin dinh Gia Long bị quân đội chiếm thì già trẻ
lớn bé lũ lượt kéo nhau đi xem. Lời hò reo, tiếng cười vang với sắc
diện tươi vui của mọi người chứng tỏ sự giải thoát gông cùm kềm kẹp của độc tài đã bóp nghẹt lòng dân trong chín năm trời đăng đẳng” (Bác sĩ Dương Tấn Tươi, Cười - Nguyên nhân và Thực chất , Sài Gòn 1968, tr.44). Còn thi sĩ Đông Hồ thì: “Nỗi ức hiếp, nỗi căm hờn bị đè nén, bị vùi dập một cách tàn nhẫn bất công trong 9 năm trời,
một sớm được giải thoát, được cởi mở, mà phản ứng chỉ có chứng ấy thì
tưởng quần chúng nhân dân Việt Nam năm 1963 này cũng đã tỏ ra hiền lành
nhiều lắm, và cũng đã biết tự hạn chế, tự biết kềm hãm sức giận dữ hung
hãn của mình rồi đó.” (Nguyễn Hiến Lê, Tôi Tập Viết Tiếng Việt, 1988, tr. 21).
[19] Doãn Quốc Sỹ, Người Việt Đáng Yêu, (Lời Mở Đầu) Nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965. Đăng lại trên Tạp chí Việt Nam Hải Ngoại (của Luật sư Đinh Thạch Bích) số 8 ngày 15-9-1977, San Diego, Hoa Kỳ.