Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Các Nước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Các Nước. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

GS luật Mỹ: ‘Áp dụng quyền im lặng không nhằm tránh oan sai'



Theo Giáo sư Anna C.Conley, chuyên gia pháp luật Mỹ, luật pháp nước này quy định "Quyền được im lặng" để bảo vệ công dân, quyền lợi của người yếu thế trong xã hội.
- Thưa bà, khi bắt nghi phạm, cảnh sát Mỹ thường thông báo, nghi phạm có quyền im lặng, mọi điều nghi phạm nói đều có thể làm bằng chứng chống lại chính họ. Bà có thể giải thích điều này theo quy định trong luật pháp Mỹ ?
- Theo luật Mỹ, người bị bắt phải được thông báo về việc có quyền im lặng. Nếu quên hay vì một lý do nào đó cảnh sát không thông báo thì cơ quan điều tra không được sử dụng thông tin và lời khai của nghi phạm sau đó.
Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng ghi âm, ghi hình tất cả quá trình lấy lời khai để sau này họ có thêm cơ sở, bằng chứng chắc chắn cho việc buộc tội. Nếu như quyền im lặng không được thông báo, những lời khai sau này coi như không có giá trị sử dụng.
- Theo bà quyền im lặng ảnh hưởng thế nào đến quá trình truy xét tội phạm của cảnh sát, đặc biệt trong những vụ án có đồng phạm?
- Quyền được giữ im lặng là quyền rất cơ bản của công dân Mỹ. Những nhà làm luật Mỹ không nhìn quyền im lặng dưới góc độ lợi ích của cơ quan tố tụng. Trên thực tế, có những vụ án mà nghi phạm im lặng, trong khi cơ quan điều tra không thể chứng minh họ có tội đã phải tuyên vô tội.
Quyền này có thể gây ra những cản trở nhất định cho cơ quan tố tụng nhưng đó không phải là lý do để đánh giá lại việc áp dụng. Họ phải được giữ im lặng bởi không thể chống lại chính bản thân mình.
Với vụ án có nhiều đồng phạm, việc im lặng của nghi phạm có thể sẽ cản trở quá trình điều tra của cơ quan tố tụng. Nhưng cơ quan điều tra không nhất thiết phải dựa vào lời khai của người bị bắt. Họ có thể giám sát những đồng phạm đó hoặc điều tra lấy thông tin, làm thế nào đó để nghi phạm khai ra. Đó là nghĩa vụ của cơ quan tố tụng và họ có nhiều công cụ để đảm bảo điều đó. 
giao-su-My-7215-1412924792.jpg
Giáo sư luật của Mỹ bà Anna  C. Conley trao đổi với báo chí tại Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP HCM. Ảnh: Hải Duyên
Ở một góc độ nào đó, quyền im lặng cũng có lợi cho cơ quan điều tra trong suốt quá trình tố tụng sau này. Khi áp dụng quyền im lặng, cơ quan điều tra sẽ phải nâng cao nghiệp vụ của mình bằng cách tăng cường kỹ thuật khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai từ nhân chứng, tìm kiếm các thông tin khác về nghi phạm để làm sao cáo buộc của cơ quan tố tụng chắc chắn hơn. Đây là điều sẽ làm cho hoạt động của cơ quan tố tụng tích cực hơn.  
- Theo bà có cho rằng xảy ra những vụ án oan sai là do không áp dụng đúng quyền im lặng?
- Trong lịch sử tố tụng Mỹ 15 năm qua có khoảng 250 vụ án mà công dân bị kết án oan hoặc bị xét xử sai. Nhưng dường như không có những vụ án oan kiểu do không áp dụng đúng quyền im lặng. Bởi, đó sẽ là lợi thế cho bị can, bị cáo vì họ sẽ tận dụng điều đó để bác bỏ những bằng chứng của bên buộc tội. Những vụ án oan ở Mỹ phần lớn là do công tố viên không cung cấp đủ thông tin của vụ án cho luật sư theo đúng quy định. Quyền im lặng không phải giải pháp kiềm chế oan sai. 
- Theo pháp luật Mỹ, những người bị kết án oan sai đó được bồi thường như thế nào? 
- Đối với những người bị kết án oan thì có quyền được khởi kiện các cơ quan tố tụng ra tòa bằng một vụ kiện dân sự để đòi bồi thường. Nhưng thực tế rất ít người có thể được bồi thường vì đa phần họ không khởi kiện đúng đối tượng hoặc oan do lỗi vô ý của cơ quan tố tụng. Đối với những người cố ý làm oan sai thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử tù và cấm hành nghề.  
- Hiện các cơ quan tố tụng Việt Nam vẫn còn phân vân chưa đưa quyền im lặng vào luật, theo bà đã đến lúc Việt Nam có nên áp dụng hay chưa?
- Quan điểm về quyền được im lặng ở Việt Nam có vẻ rất khác. Sự khác biệt này có thể liên quan đến yếu tố lịch sử, văn hóa và những nguyên lý khác. Tôi không hiểu nhiều về pháp luật và hiện trạng ở Việt Nam nên không thể khẳng định có cần hay không việc áp dụng quyền im lặng. Nhưng thực sự việc áp dụng quyền im lặng sẽ đảm bảo được những quyền lợi của cả những người yếu thế, người nghèo trong xã hội.
Quyền được giữ im lặng nếu được áp dụng sẽ khả thi khi cơ quan tố tụng đảm bảo được 2 yếu tố là phải thông báo cho nghi can biết quyền này và loại trừ những bằng chứng có được nếu không thông báo quyền đó.
Tháng 9, tại phiên họp Thường vụ thứ 31, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đặt vấn đề: "Việc chống ép cung, bức cung, nhục hình, bỏ lọt tội phạm có thực sự hiệu quả khi bị can, bị cáo không có quyền im lặng?". Ông cho rằng nghi can cần có quyền im lặng cho đến khi có mặt luật sư bảo vệ quyền lợi cho họ.
Quan điểm này nhận được sự đồng thuận rất cao, nhất là trong giới luật sư. Hiện nội dung này chưa đưa vào dự án luật sửa đổi.
Hải Duyên

Phân vân quyền im lặng của nghi can

Cho rằng quyền im lặng của bị can tại cơ quan điều tra khi chưa có luật sư là vấn đề lớn, có thể gây xung đột, VKSND Tối cao không đưa vào dự thảo luật Tổ chức VKSND sửa đổi.

Sáng 23/9, ngày làm việc thứ 2 của phiên họp thứ 31, Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) và Luật Tổ chức VKSND (sửa đổi).
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đặt vấn đề: "Khi xét xử mà không đảm bảo công tác tranh tụng thì đã đủ điều kiện việc mở phiên tòa chưa? Việc chống ép cung, bức cung, nhục hình, bỏ lọt tội phạm có thực sự hiệu quả khi bị can, bị cáo không có quyền im lặng?". Chủ tịch Quốc hội cho rằng nghi can có quyền im lặng cho đến khi có luật sư bảo vệ quyền lợi cho họ có mặt.
Nhấn mạnh quyền tự bào chữa, quyền nhờ người bào chữa của bị cáo và nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trước phiên tòa, ông Hùng phân vân: "Nếu quá trình công tố không đảm bảo điều kiện ấy thì có dừng phiên tòa không?”. Chủ tịch Quốc hội lo ngại khi nguyên tắc xét xử độc lập không được thực thi thì tòa không đảm bảo công lý.
Ông Trương Hòa Bình, Chánh án TAND Tối cao giải trình, yếu tố tranh tụng đã được cụ thể trong Bộ Luật tố tụng hình sự, dân sự, hành chính… Nếu thay đổi cần điều chỉnh các luật này.
Về quyền im lặng của nghi can, Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình nhận định đây là vấn đề lớn, nhiều nước đã áp dụng. Nếu thực hiện cần có định hướng nếu không sẽ gây xung đột với cơ quan điều tra. "Chúng tôi không dám đưa vấn đề này vào dự thảo”, Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình nói.
Theo ông, với quyền trên luật sư và nghi can "đương nhiên là thích".
Giải trình dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi), Chánh án Trương Hòa Bình đề xuất tòa án được kiểm tra toàn bộ quá trình điều tra, truy tố. Điều này tránh quyền con người, quyền công dân của người bị tình nghi phạm tội bị vi phạm mà tòa án không biết.
Tòa án cũng muốn quyền xác minh, điều tra bổ sung chứng cứ với những vụ án đang trong giai đoạn truy tố hoặc chờ xét xử nhằm tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm. Lý do của đề xuất này, theo ông Bình do có hiện tượng tòa trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng VKS không thêm được gì khiến tòa cũng "đành bó tay".
Không đồng tình với nội dung này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng tòa án chưa thể "vào" vụ án ngay từ đầu vì đó là việc của công an và VKS. "Quyền điều tra, truy tố phải độc lập", ông Hùng nhấn mạnh.
Trao đổi lại, Chánh án Trương Hòa Bình giải thích, một số vụ án hình sự nhiều lần trả hồ sơ song kết quả không có gì mới nên tòa đành mở phiên xử mà không đủ căn cứ. "Nếu đúng tinh thần hiến pháp mới, khi không đủ căn cứ, tòa tuyên nghi can không phạm tội. Thế nên mới đề nghị tòa có quyền tham gia vào quá trình điều tra, truy tố", ông Bình nói.
Đề xuất này của ngành tòa án khiến Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình băn khoăn: "Tòa mà đi điều tra vụ án ngay từ đầu thì có đủ lực lượng? Nếu có quyền này thì rõ ràng quyền lực của tòa rất cao”.
Tiếp tục bàn về thẩm quyền của tòa án, ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật, cho rằng chỉ nên tuyên án công khai với phiên tòa hình sự; còn dân sự, lao động liên quan đến đời tư của công dân thì không
Ông Lý cũng kiến nghị rà soát lại, hạn chế những vụ án hình sự do tòa quân sự xét xử. "Quân nhân phạm tội trong phạm vi thời gian thực thi nhiệm vụ quốc phòng mới do tòa quân sự xét xử chứ phạm tội ngoài phạm vi đó thì không", ông nói.
Trình bày dự thảo Luật Tổ chức VKSND (sửa đổi), giải thích đề xuất VKS được thực hiện quyền công tố sớm hơn, ngay từ khi có hành vi tội phạm xảy ra, Viện trưởng Bình cho hay tại một số vụ án khi bắt nghi can "đã xảy ra bức cung, dùng nhục hình dẫn đến chết người, oan, sai". Hơn nữa, việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm còn tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm.
"Trên thực tế, những việc này diễn ra trước khi khởi tố vụ án, nếu chỉ quy định VKSND thực hành quyền công tố từ khi khởi tố vụ án hoặc từ khi khởi tố bị can như hiện hành thì không đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và yêu cầu chống oan, sai, chống bỏ lọt tội phạm", ông Bình nói
Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc ông Ksor Phước cho rằng nên tùy vụ án cụ thể mà xác định giai đoạn tham gia công tố của VKS, vừa tránh bỏ lọt tội phạm, tránh gây oan sai lại tránh trùng công việc với cơ quan điều tra.
Phó chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng lo ngại: “Nếu VKS tham gia từ quá trình điều tra thì có “kham” nổi không?”. Trong khi đó người đồng cấp của bà là ông Uông Chu Lưu đồng ý với việc VKS tham gia công tố từ khi nhận tin báo tố giác tội phạm.
Trong phiên họp sáng nay, trước việc VKS đề nghị mở rộng thẩm quyền điều tra một số loại tội phạm vi phạm hoạt động tư pháp và tất cả các loại tội phạm tham nhũng, Thường vụ cho rằng cần cân nhắc kỹ, cụ thể hơn.
Chiều nay, Thường vụ tiếp tục phiên làm việc với phần cho ý kiến dự án Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.
Bảo Hà

Quyền im lặng của nghi can

Trong khi luật sư cho rằng quy định nghi can có quyền không khai báo để chờ luật sư bào chữa sẽ giảm bức cung, dùng nhục hình, có ý kiến quan ngại việc này bị lợi dụng gây cản trở quá trình phá án.



Tại phiên họp Thường vụ thứ 31, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đặt vấn đề: "Việc chống ép cung, bức cung, nhục hình, bỏ lọt tội phạm có thực sự hiệu quả khi bị can, bị cáo không có quyền im lặng?". Ông cho rằng nghi can được quyền im lặng cho đến khi luật sư bảo vệ quyền lợi cho họ có mặt. Tuy nhiên nội dung này hiện chưa đưa vào dự án luật sửa đổi, bởi theo giải thích của Viện trưởng VKSND Tối cao do lo ngại gây "xung đột" với hoạt động của cơ quan điều tra.
luat-su-vinh-JPG-6237-1411716627.jpg
Luật sư Vũ Tiến Vinh.
Trao đổi với VnExpress, luật sư Vũ Tiến Vinh (Giám đốc Công ty Luật Bảo An, Hà Nội) cho hay quyền chưa khai báo khi chưa có sự chứng kiến của luật sư đã được nhiều nước áp dụng. Đây không phải là quyền mới trong tố tụng hình sự của các nước, song ở Việt Nam nội dung này mới được đưa ra bàn thảo. Nếu được áp dụng, đây có thể là bước tiến về tư duy trong hoạt động lập pháp.
Theo luật sư Vinh, nếu đưa quyền này vào luật, "chắc chắn việc oan sai do mớm cung, bức cung, nhục hình sẽ giảm đáng kể, thậm chí không còn". Nó đặc biệt có ý nghĩa ở những bản khai đầu tiên thường được coi có giá trị chứng minh trong khi nghi can chưa chuẩn bị tâm lý khai báo.
Ông Vinh cho rằng các cơ quan tố tụng cần thay đổi quan niệm, xác định sự tham gia của luật sư từ quá trình điều tra giúp việc lấy cung được khách quan, tránh oan sai chứ không phải "gây khó khăn" cho công việc của nhà chức trách.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó chủ tịch Hội luật gia TP HCM cũng đồng tình, cho rằng người mới bị bắt thường mất bình tĩnh, tâm lý hoang mang nên sự có mặt của luật sư là cần thiết; giúp kiểm soát hoạt động của cơ quan điều tra… Từng có thân chủ cho ông biết vì bị “chọc nách” quá khi lấy cung nên phải nhận tội.
“Nếu quy định này không được đưa vào luật thì là một bước lùi của ngành tư pháp”, luật sư Hậu nêu ý kiến.
Nguyên chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, tiến sĩ Vũ Đức Khiển đánh giá nếu cho phép nghi can im lặng, khi lấy lời khai có sự chứng kiến của luật sư sẽ tạo thay đổi lớn trong hoạt động tố tụng. "Hạn chế được được án oai sai hay không thì chưa biết nhưng sẽ không còn việc bức cung, dùng nhục hình”, ông nói.
Ông Khiển cho hay khi còn công tác có người đến tố cáo việc biết một bị can nghiện thuốc lá nên trong quá trình lấy lời khai điều tra viên đã hút. Bị can thèm quá không chịu được xin một ké một hơi, điều tra viên nói khai đi rồi sẽ cho hút thuốc. "Giờ để tránh những việc ép nhận tội như thế này, việc lấy cung chỉ cần luật sư chứng kiến. Lúc đó có khi việc lắp camera giám sát quá trình lấy lời khai cũng không cần", nguyên chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật nói.
kien-6188-1411787205.jpg
Tiến sĩ Vũ Đức Khiển.
Luật sư Trần Chí Thanh (Đoàn luật sư Hà Nội) mong mỏi quy định này được thực hiện, coi đó cách đảm bảo quyền con người. "Bị can mới là đối tượng tình nghi chứ chưa có kết luận phạm tội. Họ im lặng chờ luật sư không có nghĩa là cản trở quá trình điều tra", ông Thanh nêu quan điểm.
Theo ông, Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định ngay khi bị bắt, người bị tạm giữ có quyền mời luật sư. Cơ quan điều tra giải thích quyền này cho họ và phải thông báo cho gia đình nếu họ có nhu cầu. Tuy nhiên với đánh giá của ông, việc này ít khi được thực thi.
Nếu có, thủ tục để luật sư tham gia từ giai đoạn đầu điều tra, theo ông Thanh là "rất lâu và phức tạp". Thông thường ít luật sư được tham gia vào các buổi lấy cung của thân chủ ở giai đoạn này. "Chỉ khi hồ sơ điều tra đã 'tròn trịa', luật sư mới được tiếp cận, lúc đó đã là giai đoạn cuối", ông nói.
Một điều tra viên kinh nghiệm hơn chục năm, khi trao đổi với VnExpress đã công nhận quyền im lặng của bị can, bị cáo là quyền tiến bộ, nhiều nước trên thế giới đã quy định. "Nếu họ im lặng để chờ luật sư, chúng tôi đồng tình", ông nói.
Tuy nhiên theo ông, do điều kiện về nhận thức, kinh tế của người dân còn thấp nên việc mời luật sư còn hạn chế. Hơn nữa thủ tục luật sư tham gia quá trình lấy cung khi thân chủ ở trong trại tạm giam rất rườm rà, khác với nhiều nước. “Bắt một nghi can đã khó. Nếu họ không khai báo để chờ luật sư thì chỉ cần nửa ngày thôi những kẻ đồng phạm đã chạy trốn hết”, điều tra viên chia sẻ.
Vị điều tra viên quan ngại nhiều nghi can sẽ lợi dụng việc chờ luật sư để trây ỳ gây khó khăn cho tiến trình điều tra phá án. Nếu nhà chức trách không có biện pháp thích hợp thì khó có thể xử lý. "Chúng ta phải hy sinh lợi ích nhỏ, bảo vệ lợi ích lớn chứ giờ chưa thể làm ngược lại”, ông nêu quan điểm.
Ông cho rằng chưa nên áp dụng ở thời điểm này, các nhà làm luật nên bàn bạc nhiều hơn để chọn phương án tối ưu. Việc xử lý điều tra viên có hành vi bức cung, dùng nhục hình đã được quy định trong Bộ luật hình sự. Do vậy, theo ông không nên lo ngại vì không áp dụng "quyền im lặng khi chưa có luật sư" mà nảy sinh các vụ án oan.
thanh-5662-1411787205.jpg
Luật sư Trần Chí Thanh.
Trao đổi với VnExpress, Chánh tòa Hình sự tỉnh Bắc Ninh Vũ Công Đồng đánh giá nếu thừa nhận quyền im lặng của bị can, cơ quan điều tra sẽ khó làm việc, VKS cũng gặp trở ngại. "Còn với tòa án thì thế nào cũng được", ông nói.
Chánh án Đồng quan ngại một khi quyền im lặng được áp dụng nghĩa là đi kèm với quy định bị can không đủ điều kiện kinh tế mời luật sư thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát phải chỉ định luật sư bảo vệ. “Nhưng luật hiện nay chỉ áp dụng với người bị truy tố ở khung hình phạt tử hình", ông nói.
Còn theo thẩm phán Nguyễn Minh Cảnh, tòa hình sự, TAND TP HCM, việc cho phép bị can, bị cáo được im lặng khi bị bắt cho đến có luật sư là quy định tốt đảm bảo quyền và lợi ích của họ và tốt cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Đặc biệt, vai trò của luật sư cũng được nâng cao, quan tâm hơn khi tham gia quá trình tố tụng.
Theo ông công tác đấu tranh phòng chống tội phạm luôn cần giáo dục, thuyết phục. Không cần thiết vụ án nào các bị can, bị cáo cũng im lặng chờ luật sư mà nên khuyến khích sự tự giác, khai báo thành khẩn. Trường hợp cho rằng có uẩn khúc, oan sai, các bị can, bị cáo có quyền im lặng. Việc có mặt của luật sư trong quá trình lấy lời khai sẽ giúp cơ quan điều tra làm tốt nhiệm vụ, quyền của nghi can được đảm bảo.
“Khi thấy điều đó cần thiết và tốt, tôi nghĩ nên thực hiện. Mọi quy định mới khi vào luật đều cần có lộ trình song cũng không nên để thời gian quá lâu”, thẩm phán Cảnh nêu ý kiến.
Bảo Hà - Hải Duyên

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

13/06/1966: Quyền Miranda ra đời

gunssspolice
Nguồn:The Miranda rights are established,” History.com (truy cập ngày 12/6/2015).
Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
Vào ngày này năm 1966, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ ra phán quyết về vụ Miranda kiện Arizona, thiết lập nên nguyên tắc là mọi nghi phạm hình sự phải được thông báo về các quyền của họ trước khi tiến hành thẩm vấn. “Anh có quyền giữ im lặng. Bất cứ điều gì anh nói có thể và sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa. Anh có quyền có luật sư. Nếu anh không thể tìm được luật sư, một luật sư sẽ được chỉ định cho anh,” thủ tục thông báo nội dung này của cảnh sát xuất hiện nhiều trên phim ảnh và truyền hình đến nỗi nó gần như trở nên sáo rỗng.
Nguồn gốc của phán quyết Miranda bắt đầu từ ngày mùng 2 tháng 3 năm 1963, khi một cô gái 18 tuổi ở Phoenix, Arizona đến báo cảnh sát rằng cô đã bị bắt cóc và cưỡng hiếp. Các thám tử điều tra vụ án đã tiến hành một bài kiểm tra nói dối đối với cô, nhưng không thể đưa ra được kết luận gì từ kết quả. Tuy nhiên, qua theo dõi biển số xe của một chiếc xe giống như cô mô tả, cảnh sát đã lần tới Ernesto Miranda, người từng có tiền sử nhìn trộm phụ nữ. Tuy nạn nhân không trực tiếp nhận diện ra Miranda, ông vẫn bị cảnh sát giam giữ và thẩm vấn. Những gì diễn ra sau đó gây tranh cãi, nhưng cảnh sát đã kết thúc thẩm vấn bằng một lời thú nhận mà sau này Miranda rút lại, không nhận thức được rằng lẽ ra ông không cần phải nói gì cả.
Lời thú nhận của Miranda rất ngắn và mâu thuẫn ở một số điểm so với lời khai của nạn nhân. Tuy nhiên, luật sư chỉ định của Miranda (được trả tổng cộng 100 đô la) lại không hề triệu tập bất cứ nhân chứng nào trong phiên tòa sau đó, và Miranda bị kết án. Trong khi Miranda bị giam trong nhà tù tiểu bang Arizona, Liên minh tự do dân sự Hoa Kỳ (ALCU) đã kêu gọi kháng án, cho rằng lời thú nhận của Miranda là sai lệch và bị cưỡng ép.
Tối cao Pháp viện đã hủy bỏ bản án của Miranda, nhưng dù sao thì ông cũng vẫn bị xét xử lại và bị kết tội vào tháng 10 năm 1966, bất chấp việc không có đủ bằng chứng chống lại ông. Miranda được thả tự do vào năm 1972, sau đó bị đâm chết trong nhà vệ sinh của một quán ba vào tháng 1 năm 1976. (Chính nghi can sát hại Miranda đã viện dẫn quyền Miranda để giữ im lặng khi bị cảnh sát bắt giữ.)
Sau phán quyết của Tối cao Pháp viện trong vụ Miranda kiện Arizona, mọi người đều phải được thông báo về những quyền hợp pháp của họ khi họ bị bắt giữ.

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Tại sao nhiều người châu Âu gọi Đức là “Đệ tứ đế chế”?

image-826593-breitwandaufmacher-vbce
Nguồn: Nikolaus Blome, Sven Böll, Katrin Kuntz, Dirk Kurbjuweit, Walter Mayr, Mathieu von Rohr, Christoph Scheuermann, Christoph Schult, “German Power in the age of the Euro crisis”, Spiegel Online International, 23/03/2015.
Biên dịch: Trần Tuấn Anh | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Ngày 30/5/1941 là ngày mà Manolis Glezos đã nhạo báng Adolf Hitler khi ông và một người bạn của mình lẻn lên nóc thành cổ Acropolis ở Athens, tháo xuống rồi xé toạc lá cờ “Chữ vạn ngược” được quân Đức Quốc Xã treo lên 4 tuần trước đó khi chúng chiếm đóng Hy Lạp. Hành động này đã làm ông và người đồng chí của mình trở thành những người hùng.
Vào thời điểm đó, Glezos là một chiến binh kháng chiến. Nhưng hôm nay, người đàn ông sắp bước sang tuổi 93 hiện đang là một nghị viên thuộc đảng cầm quyền Syriza đại diện cho Hy Lạp tại Nghị Viện Châu Âu. Ngồi ở văn phòng của mình trên tầng ba, tòa nhà Willy Brandt, Brussel, ông kể lại câu chuyện về cuộc chiến chống lại phát xít ngày xưa cũng như cuộc chiến với nước Đức hiện đại. Mái tóc bạc bù xù khiến nhiều người ví von ông giống như là Che Guevara lúc về già. Từng nếp nhăn trên khuôn mặt của người chiến sĩ một thời lột tả những thăng trầm của cả một thế kỷ trôi qua trên lục địa già.
Ban đầu, ông tham gia cuộc chiến chống phát xít Ý, sau đó cầm vũ khí chống lại Lực lượng vệ binh Đức Quốc xã, và rồi hòa mình vào cuộc đấu tranh lật đổ chế độ độc tài do quân đội Hy Lạp thiết lập. Từng đó đã đủ cho ông phải bị vào tù nhiều lần. Tổng cộng ông đã mất gần 12 năm trong đời đằng sau chấn song sắt, khoảng thời gian ông dùng để viết thơ. Tuy nhiên, ngay khi vừa được thả ra, ông lại tiếp tục tham gia vào những cuộc chiến còn đang dang dở. “Những giây phút ấy vẫn còn rất sống động ở trong tôi”, ông nói.
Glezos biết rõ điều gì sẽ xảy ra khi người Đức muốn thống trị cả Châu Âu và khẳng định rằng đó chính xác là điều đang diễn ra vào thời điểm này. Tuy nhiên, lần này không phải là những quân đoàn người Đức cai trị Hy Lạp, mà là những doanh nhân và các chính trị gia người Đức. “(Tuy) Tư bản Đức thống trị Châu Âu và kiếm lời trên sự bất hạnh của người Hy Lạp”, ông nói. “Nhưng chúng tôi không cần tiền của các người”. Trong mắt của ông, nước Đức hiện tại đang trực tiếp kế thừa quá khứ khủng khiếp của nó. Tuy vậy, ông cũng nhấn mạnh rằng, ông đang ám chỉ đến tầng lớp lãnh đạo, chứ không phải là toàn bộ người dân Đức. Ông nói, giới lãnh đạo nước này lại đang một lần nữa trở nên hung hăng khi mà “mối quan hệ giữa Đức với Hy Lạp có thể được ví như là mối quan hệ của một kẻ bạo chúa và những người nô lệ”.
Glezos nhớ đến bài viết của Joseph Goebbels, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Đức Quốc xã, mô tả một Châu Âu trong tương lai nằm dưới sự cai trị của người Đức với tiêu đề là “Năm 2000”. “Goebbels thực ra chỉ dự đoán sai có 10 năm”, ông nói thêm, khi mà phải đến tận năm 2010, lúc mà cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra, mới là thời điểm đánh dấu sự bá chủ của người Đức.
Đã từng có thời gian dài, chỉ có người Đức là bị ám ảnh bởi quá khứ man rợ thời phát xít của đất nước mình. Nhưng gần đây, nhiều nước châu Âu khác đã bắt đầu biểu hiện rõ sự đề phòng với cái quá khứ ấy. Thủ tướng Angela Merkel với hàm ria của Hitler, những cỗ xe tăng Đức đang tiến về phía nam: Những hình ảnh biếm họa ấy tràn ngập trên các phương tiện truyền thông ở Hy Lạp, Tây Ban Nha, Anh, Ba Lan, Italia và Bồ Đào Nha trong những năm gần đây. Và biểu tượng “Chữ vạn ngược” của chủ nghĩa phát xít trở thành biểu tượng đại diện cho nước Đức trong tất cả các cuộc biểu tình của người dân các nước, phản đối chính sách thắt lưng buộc bụng do chính phủ nước này đề xướng.
Người ta bắt đầu nói về “Đệ tứ đế chế” (Fourth Reich) như là một sự kế thừa từ thuật ngữ “Đệ tam đế chế” của Adolf Hitler. Điều này thoạt đầu nghe có vẻ phi lý, khi mà nước Đức ngày nay là một mô hình dân chủ thành công và chứa đựng trong nó không còn một chút tàn dư nào của chủ nghĩa “Quốc xã” – và dĩ nhiên không ai có thể đánh đồng các chính sách của Merkel là theo thiên hướng phát xít. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận hoàn toàn ý nghĩa của từ “đế chế” (Reich, tiếng Anh: empire) trong hoàn cảnh hiện tại, khi mà từ này được dùng để diễn tả sự thống trị, chi phối cuộc sống của một trung tâm quyền lực lên nhiều người, nhiều quốc gia khác. Vậy dựa vào định nghĩa trên, liệu có phải là sai khi nói rằng, đúng là có tồn tại sự thống trị của người Đức trên phương diện kinh tế hay không?
Chiếc bóng quá khứ ám ảnh hiện tại
Thủ tướng Hy Lạp Alexis Tsipras đương nhiên nhận thức rõ là ông không thể tự do lèo lái đất nước theo cách mà ông muốn. Hôm thứ hai ngày 23/3, ông lên đường đến Berlin để dự hội nghị với người đồng cấp phía Đức, mà trong hội nghị đó, chủ đề về quá khứ “Quốc-xã” của người Đức sẽ được ông đề cập đến. Hy Lạp đã yêu cầu Đức chi trả tiền chi phí sửa chữa những thiệt hại do Phát xít Đức gây ra cho đất nước này trong suốt chiến tranh thế giới lần thứ hai. Những yêu sách này, tất nhiên, liên quan nhiều hơn đến sự tuyệt vọng của chính phủ Hy Lạp, khi họ đang cố gắng điều hành đất nước bằng những chính sách a-ma-tơ của mình. Tuy nhiên, không thể nói rằng, quá khứ của nước Đức sẽ không bao giờ trở nên liên quan và đáng để nêu ra nữa. Trái lại, nó hiện đang được lặp đi lặp lại ở nhiều nơi như là một chiếc bóng của quá khứ ám ảnh lên cuộc sống hiện tại.
Những sự buộc tội từ phía Hy Lạp, Tây Ban Nha, Pháp hay kể cả từ Anh và Mỹ đối với Đức đang ngày càng trở nên gay gắt hơn. Như cách mà nhiều chính trị gia, kinh tế gia và cả giới truyền thông mô tả, cuộc khủng hoảng châu Âu đã cho phép người Đức chi phối và bóp chẹt các nước Nam Âu, nhằm ép buộc những nước này tuân theo những nguyên tắc cứng nhắc của nước Đức. Trong hoàn cảnh đó, chính sách xuất khẩu của Đức lại đem về cho nước này lợi nhuận khổng lồ khi so sánh với tất cả những nước còn lại trong khối Euro. Hình ảnh nước Đức hiện ra trong mắt của nhiều nước thành viên như là một bạo chúa kinh tế ích kỷ được vây quanh bởi những quốc gia nhỏ thịnh vượng và chia sẻ chung một kiểu mẫu về lợi ích ở Bắc Âu.
Những người chỉ trích và buộc tội mạnh mẽ nhất đến từ những quốc gia, nơi đã phải chứng kiến một tỷ lệ thất nghiệp khủng khiếp và sự tức giận cực độ từ công chúng nước mình trong nhiều năm. Họ nói rằng những con quỷ của nước Đức đã trở lại. Và vì thế không có gì là đáng ngạc nhiên khi mà nhiều chính phủ lại bỗng dưng bị bẽ mặt và đòi nước Đức phải thanh toán những món nợ nó gây ra trong quá khứ. Tội lỗi của người Đức trong thời kỳ phát xít giờ trở thành một vũ khí gây náo động hiệu quả của những chủ thể bất lực. Tuy trong nhiều cuộc thăm dò ở nước ngoài, Đức thực ra là một đất nước được nhiều người ngoại quốc kính nể. Nhưng với người dân Châu Âu hiện nay, họ sẽ buộc phải lôi lại chuyện cũ và gào thét khi mà những chính sách do người Đức đề xướng đang trở nên không mấy dễ chịu đối với họ.
Có một điều đáng lưu ý là, những cáo buộc đối với chính phủ Đức có một luận điệu kết hợp kỳ lạ rằng, nước Đức đang áp đảo, chứ không phải đang thực quyền lãnh đạo. Nó đang bá quyền, nhưng thực ra lại là một bá chủ yếu ớt. Điều này sẽ khiến nhiều người nhớ lại nội dung của cuốn sách “Từ Bismarck đến Hitler” được xuất bản vào năm 1987 của nhà sử học Sebastian Haffner, trong đó ông có viết rằng nước Đức tại thời điểm chuyển giao thế kỷ đang mang một kích thước thật kỳ lạ. Nó vừa quá lớn lại vừa quá nhỏ. Điều này có vẻ đang đúng một lần nữa.
Vậy vai trò của nước Đức ở lục địa già cụ thể là như thế nào khi được nhìn dưới lăng kính của cả người dân trong nước và người ngoại quốc?
Bóng dáng của những sư đoàn xe tăng Đức
Nằm cạnh sàn chứng khoáng Milan, nơi cách đó không xa có một tượng đá mang hình một bàn tay đang giơ ngón tay thối cao 11 mét như đang châm biếm cho sự thoái trào của nền tài chính thế giới, là tòa nhà trụ sở của nhật báo Il Giornale. Ngồi bên trong văn phòng mà khi xưa là của nhà báo nổi tiếng người Ý – Indro Montanelli, là một nhà báo kỳ cựu khác năm nay đã 71 tuổi – Vittorio Feltri. Ông đã tác nghiệp hơn một nửa thế kỷ tại nhật báo Corriere della Sera và một vài tờ báo khác. Vào năm ngoái, ông và một nhà báo nổi tiếng khác là Gennaro Sangiuliano, phó tổng biên tập cho kênh truyền hình quốc gia Rai 1, đã cùng hợp tác xuất bản một cuốn sách đáng chú ý với tựa đề: “Đệ tứ đế chế: Cách mà nước Đức khuất phục cả châu Âu”.
Nói thêm rằng, đây không đơn giản chỉ là suy nghĩ của một vài người cấp tiến tuyệt vọng cố tìm ra điểm giống nhau giữa hiện tại và quá khứ. Còn có nhiều học giả đáng kính và nhiều công dân ưu tú khác, những người mà không vướng bận bởi những lo lắng về cơm áo gạo tiền thường ngày, giống như Feltri và Sangiuliano, chia sẻ chung một quan điểm với họ.
Hai tác giả cho rằng, đồng euro chính là một phương tiện thống trị của người Đức và do đó phải được xếp ngang hàng với những sư đoàn xe tăng thiện chiến của Đức quốc xã ngày xưa. Đồng Euro chính là công cụ đảm bảo sự thống trị của người Đức. Và tòa án hiến pháp liên Bang Đức Bundesverfassungsgericht cũng nên được so sánh như là một thứ vũ khí phát xít. Đặc biệt, họ mô tả thủ tướng Đức, với tên châm biếm là Merkiavelli – được ghép từ tên của thủ tướng Merkel và cố học giả Machiavelli, với ý nghĩa mô tả sự láu cá, hai mang và thực dụng trong nghệ thuật quản lý nhà nước của Merkel – cùng với chính phủ tự phụ của mình đang cố hoàn thành cái kế hoạch mà Hitler ngày xưa còn làm dang dở. Cuốn sách, nói như Feltri, như một án văn luận chiến công kích “sự không thích hợp đến vô lý của việc sử dụng một đồng tiền chung, thứ mà duy nhất chỉ có nước Đức là được hưởng lợi từ nó”.
Một bộ phận lớn chính trị gia Ý chia sẻ cách nhìn của Feltri. Vào năm ngoái, thành viên Đảng dân chủ xã hội Romano Prodi, cựu chủ tịch của Hội đồng châu Âu, đã gây ngạc nhiên khi xuất bản một bài xã luận trên chuyên trang L’Espresso, trong đó có đoạn: “Ở Đức, những người theo chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa dân tộc thì được dạy dỗ và dẫn dắt bởi Merkel”, ông tiếp tục. “Tuy nhiên, ở Brussels trong những năm gần đây, lại chỉ có một quốc gia duy nhất xác định hướng đi của cả Liên minh; Đức thậm chí tự xem mình là đủ tư cách để dạy bảo những thành viên khác những bài học về đạo đức theo một cách không thể chấp nhận được”.
Trong khi thủ tướng Italia Matteo Renzi thì thận trọng khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gần Đức, những tiếng nói cực đoan từ phía cánh hữu đang ngày càng trở nên gay gắt hơn. Chuyên gia nghiên cứu về nước Đức, Luigi Reitani đã phát biểu trong một hội nghị vào cuối năm ngoái rằng một số người Ý đã bắt đầu vẽ ra “một đường gạch nối từ những cuộc xâm lược man rợ trong quá khứ của Bismarck và Hitler tới (những chính sách của) Merkel”.
Ở Pháp, những luận điệu tương tự thế này xuất hiện một cách thường xuyên. Vào năm 2011, Arnaud Montebourg, người sẽ nắm cương vị Bộ trưởng Kinh tế một khoảng thời gian sau đó, nói rằng “Bismarck đã liên kết những nguyên tắc kỷ luật đậm chất Đức để cai trị Châu Âu, đặc biệt là để cai trị Pháp. Tương tự một cách đáng nhạc nhiên, Angela Merkel đang cố gắng giải quyết các vấn đề trong nước bằng cách áp đặt những nguyên tắc kinh tế và tài chính được hậu thuẫn bởi những người bảo thủ trong nước lên phần còn lại của Châu Âu”. Theo một cách nói khác, những chính sách bành trướng của Đức đã hiện diện trở lại, ít nhất là trên địa hạt kinh tế.
Trả bằng máu của người dân chúng ta
Nỗi sợ hãi trước sự bá chủ của người Đức đối với châu Âu sẽ không ở đâu bằng được ở Pháp, nơi mà một phần lớn lãnh thổ từng bị người hàng xóm của mình chiếm đóng đến ba lần trong vòng 80 năm. Đặc biệt là trong những năm gần đây, phong trào bài Đức phát triển một cách mạnh mẽ trên địa hạt chính trị, từ Đảng cực hữu Mặt trận quốc gia đến những người tả khuynh trong Đảng Dân chủ cầm quyền. Tuy mục đích một phần của phong trào này là nhằm hướng sự chú ý của công chúng ra khỏi những thất bại chính trị của các nhà lãnh đạo nước này trong việc thực thi cải cách, nhưng ý nghĩa và tác động của nó vẫn đáng được xem xét một cách nghiêm túc.
Nhà trí thức cánh tả Emmanuel Todd cảnh báo rằng, nước Đức đang “đẩy nhanh việc theo đuổi chính sách khuếch đại quyền lực và giấu mình (vào châu Âu)”. Châu Âu hiện đang bị cai trị bởi một nước Đức mà trong quá khứ liên tục nhầm lẫn giữa tính hoang tưởng tự đại của mình với luận lý. Kể từ lúc thống nhất, Todd nói tiếp, nước Đức đã biến một phần lãnh thổ rộng lớn ở phía đông Châu Âu, khu vực mà một thời chịu sự ảnh hưởng của Liên Xô, đặt dưới sự kiểm soát của nó, nhằm thực hiện những mưu đồ kinh tế của mình.
Ở Athens, trong tòa nhà của Bộ Văn hóa, Nikos Xydakis, thứ trưởng Văn hóa của chính quyền Syriza, bày tỏ sự quan ngại của mình.
“Hoàn cảnh hiện nay giống như là đất nước chúng tôi đang phải hứng chịu hậu quả của một cuộc chiến tranh vậy”. Ông nói thêm rằng, chính sách cứu trợ của Châu Âu đã phá hủy Hy Lạp khi mà “nó đã khiến chúng tôi đánh mất một phần tư tổng sản phẩm quốc dân GDP và ép một phần tư dân số lâm vào cảnh thất nghiệp”. Hơn nữa, ông nhấn mạnh, Hy Lạp đã không đòi hỏi những khoản vay cứu trợ khẩn cấp, mà trái lại, Hy Lạp bị ép phải nhận chúng cùng với chương trình thắt lưng buộc bụng, thứ mà khiến “chúng tôi phải trả bằng chính máu của người dân nước mình”.
Theo lời của ông, nước Đức đã trở nên quá quyền lực ở Châu Âu. Nước này hiện là lãnh đạo duy nhất cả về mặt chính trị và kinh tế. “Nhưng nếu một quốc gia muốn trở thành lãnh đạo thì phải cư xử cho đúng với địa vị của mình”. Ông muốn nước Đức phải trở nên hào phóng hơn và dừng ngay việc coi những nước yếu hơn ở châu Âu như là những đất nước của kẻ hạ đẳng. Xydakis nói thêm rằng, ông đã phải bỏ tiền ra thuê lại văn phòng này vì nguyên cả tòa nhà công quyền đã bị bán đi để trả nợ. “Tôi cảm giác như là chúng tôi hiện đang ở Leipzig hay Dresden khi mà những thành phố này bị ném bom vậy”. Điểm khác biệt duy nhất theo ông chính là những quả bom ngày nay mang hình hài là những biện pháp cứu trợ.
Đối với ông và cũng như hầu hết những tiếng nói chỉ trích khác đối với chính sách của Đức, chỉ duy nhất một từ là trọng tâm trong những lời phàn nàn của họ: đó là austerity (thắt lưng buộc bụng). Nó mô tả chính sách tiết kiệm triệt để, một thuật ngữ được phổ biến và đón nhận một cách tích cực ở Đức. Nhưng đối với các quốc gia châu Âu chịu ảnh hưởng khủng khiếp từ cuộc khủng hoảng nợ công, thực thi chính sách này giống như là bị các thế lực bên ngoài tước đoạt đi phúc lợi của mình trong tuyệt vọng vậy. Đức ngày nay không còn đơn giản chỉ là một nước xuất khẩu hàng hóa, nó hiện còn đang xuất khẩu cả luật lệ ra bên ngoài biên giới của mình.
Chính sách trọng thương thái quá
Hàng hóa, tất nhiên là được trao đổi mà không có bất cứ một sự cưỡng ép nào. Người dân châu Âu ưa thích những hàng hóa được sản xuất từ Đức. Chính vì thế, chỉ riêng phần thặng dư thương mại trong năm 2014 đã chiếm hơn 7% tổng sản phẩm đầu ra của cả nền kinh tế nước này. Thặng dư thương mại chính là phần chênh lệch mà nước Đức thu được, khi nó xuất khẩu nhiều hàng hóa hơn là nhập khẩu từ các nước khác. Phần thặng dư này, tới phần nó lại thường chảy từ Đức ra bên ngoài dưới dạng xuất khẩu vốn. Nói một cách khác, những ngân hàng ở Đức sẽ cho những công ty ở nước ngoài vay tiền, để họ có thể, đến lượt mình, mua hàng hóa do Đức sản xuất.
Kể từ lúc thế giới bước qua thiên niên kỷ mới cho đến nay, phần thặng dư thương mại của Đức đã tăng gấp bốn và đạt mức 217 tỷ euro. Chỉ riêng giao dịch với Pháp đã tạo ra thặng dư thương mại lên tới 30 tỷ euro. Và dù cho khối lượng xuất khẩu của Đức tới các nước thành viên trong liên minh bị sụt giảm do ảnh hưởng của cuộc suy thoái, không có bất cứ quốc gia nào trên thế giới lại đạt được thặng dư thương mại lớn như Đức. Tại sao lại như vậy? Có phải bởi vì chính sách trọng thương thái quá của chính phủ Đức hay không?
Câu trả lời cho vấn đề này có thể được giải đáp bởi nhà kinh tế học người Đức Henrik Enderlein. Ông hiện đang là giáo sư kinh tế chính trị tại trường Hertie School of Governance tại Berlin. Ông từng theo học tại Pháp và Mỹ, từng làm việc tại ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) và có cơ hội giảng dạy tại Harvard. Hiện ông cũng đang là cố vấn kinh tế của Đảng Dân chủ xã hội của Đức và cha ông đã từng là một chính trị gia khuynh hướng tự do dân chủ và thân thiện với giới doanh nhân. Có thể nói rằng, ông có khả năng nhìn nhận các vấn đề quốc tế một cách bao quát hơn và không chỉ qua lăng kính của quốc gia mình. “Khi bàn đến việc nước Đức hiện đang có thặng dư thương mại lớn nhất thế giới thì đơn giản là chỉ có một nguyên nhân duy nhất lý giải điều này”, ông nói. “Đó là sau khi khu vực đồng Euro được thành lập, chúng tôi đã không có lựa chọn nào khác là phải trở nên cạnh tranh hơn. Nhưng thật là vô lý khi tin rằng nước Đức làm vậy với mục đích là để gây hại cho các nước khác trong khối”.
Enderlein tin rằng, nước Đức đã không chủ ý gây nên tình trạng khó khăn hiện nay, mà thực ra chính cấu trúc của khu vực đồng Euro là nguyên nhân chính cho điều đó. Ông cũng tin rằng, ECB phải chịu một phần trách nhiệm, bởi vì trong những năm đầu sau khi đồng Euro được dùng làm đồng tiền chung trong khu vực, thể chế này đã giữ cho lãi suất trên thị trường ở mức 3-4%/năm. Đối với những nước Nam Âu, lãi suất này là quá thấp và dẫn đến việc tạo ra những bong bóng giá cả và lương. Nhưng ngược lại đối với Đức, lãi suất này lại quá cao và những nhà sản xuất đã không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải trả lương thấp cho lao động, nhằm giữ cho sản phẩm của mình vẫn còn tính cạnh tranh. Nhìn sơ qua, sự ép lương nhân tạo này không mang tính thái quá một chút nào, nhưng các nước Nam Âu lại buộc tội nó nặng nề.
Việc chần chừ tăng lương của Đức đã đóng góp nhiều cho sự tăng trưởng, sự tự tin và tất nhiên là cả sự gia tăng quyền lực và vị thế của Đức. Khi Angela Merkel đến Brussels, bà hiện diện với tư cách là nhà lãnh đạo của nền kinh tế lớn nhất châu Âu. Và vì thế, nếu bà không đồng ý với chính sách nào thì chính sách đó chắc chắn sẽ không được thông qua. Quyền lực này không phải là điều xấu khi được sử dụng một cách khôn ngoan. Nhưng có thực là họ đã làm đúng như thế hay không?
Thực tế có phần là ngược lại khi mà đã bắt đầu xuất hiện một “giọng điệu” mới ở Đức. Thứ giọng điệu này không phải là sản phẩm của một chính sách ngoại giao mềm dẻo và hiệu quả. Những sự thì thầm, đề xuất và hướng dẫn truyền thống đã bị thay thế bởi những lối nói ba hoa và khoác lác.
“Giọng điệu” mới này được dễ dàng tìm thấy ở phát ngôn sau đây của bộ trưởng tài chính Đức Wolfgang Schäuble. Khi nói về Hy Lạp, ông quả quyết rằng “một quốc gia mà cả hàng thập kỷ nền kinh tế của nó đã bị tổn thương, nhưng người dân của quốc gia này lại sống phung phí, đó là do sự lãnh đạo tồi của giới tinh hoa nước này – không phải là vì châu Âu, không phải vì Brussels và tất nhiên không phải vì Berlin mà duy nhất là chỉ bởi vì vì sự thất bại của giới lãnh đạo nước này – và nay họ bị bắt buộc (bởi chúng ta để) quay trở lại mặt đất. Rồi khi mà những người chịu trách nhiệm xuyên tạc sự thật này với người dân nước họ, thì thật không có gì đáng ngạc nhiên khi mà công chúng lại cư xử như cách chúng ta thấy hiện nay”. Phát biểu này được ông đưa ra tại một sự kiện của Quỹ theo khuynh hướng trung hữu Konrad Adenauer.
Chủ nghĩa đắc ý (Triumphalism)
Một ngày trước phát biểu của Schäuble, bộ trưởng tài chính bang Bavaria của Đức, Markus Söder cũng đã diễn đạt một ý kiến tương tự trong một show truyền hình với bộ trường tài chính Hy Lạp Yanis Varoufakis. Ông cũng không bỏ qua cơ hội này để mà khoe khoang về sức mạnh kinh tế và tài chính của bang mình.
Volker Kauder, thủ lĩnh phe bảo thủ đa số trong quốc hội Đức, là một ví dụ điển hình của một người theo chủ nghĩa đắc ý, và là một đại biểu của “giọng điệu” mới. Quay trở lại năm 2011, tại một hội nghị của đảng Dân chủ thiên chúa giáo CDU của thủ tướng Merkel ở Leipzig, Kauder phát biểu rằng: “Đột nhiên, tiếng Đức lại được sử dụng rộng rãi ở châu Âu”. Mặc dù các đại biểu của đảng bảo thủ CDU thích câu nói này, nhưng bên ngoài lại có ác cảm với nó và điều đó đã khiến Kauder hứa rằng ông sẽ không bao giờ phát ngôn như thế một lần nữa.
Merkel, tất nhiên, là sẽ không bao giờ chấp nhận một giọng điệu như vậy, hay ít nhất là theo một cách công khai. Bà lúc nào cũng tỏ ra rất cẩn thận khi phát ngôn. Thậm chí nhiều lúc, những lời nói của bà mơ hồ đến mức dường nó không đủ để diễn đạt ý tứ mà bà muốn truyền tải. Trong một lần, bà nói trước những nghị viên đảng bảo thủ của bà ở Berlin rằng “nước Đức phải nên là một quốc gia không bỏ qua bất cứ một điều gì chưa thử làm trong việc tìm kiếm một tiến trình (giải pháp)”. Tiến trình ở đây, theo dụng ý của bà, là cho một nơi khác ngoài Đức, ví dụ như ở Hy Lạp.
Ở một khía cạnh khác, các kế hoạch của bà thủ tướng quá bao quát đến nỗi từng có nhiều người mỉa mai là mục đích của nó là để tạo ra một “Đế chế của Merkel”. Bà không hề tỏ ra mặn mà với ý tưởng châu Âu là chủ thể chính như người tiền nhiệm của mình, thủ tướng Helmut Kohl, người muốn được nhìn thấy nước Đức hòa tan vào trong Châu Âu. Trái lại, Merkel nghĩ nhiều hơn từ phương diện “quốc gia dân tộc”, nhưng bà cũng nhận ra rằng nước Đức đứng một mình thì sẽ có ít ảnh hưởng lên các vấn đề quốc tế. Các đất nước muốn có tiếng nói trên trường quốc tế thì phải sở hữu một dân số lớn và một nền kinh tế mạnh. Nước Đức có trong tay cái thứ hai, nhưng so với Trung Quốc hay Mỹ lại thiếu yếu tố đầu – đó là nguyên nhân vì sao nước Đức lại cần một Châu Âu đông dân. Tuy nhiên, đó cũng cần phải là một Châu Âu giàu sức cạnh tranh và sở hữu một nền kinh tế mạnh hơn, và đây chính xác là điều mà Merkel đang hướng tới.
Vào giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng đồng euro, bà triển khai một ý tưởng phân loại tên là benchmarking (đánh giá theo tiêu chuẩn). Ý tưởng này yêu cầu những quốc gia Châu Âu phải được phân loại theo từng phạm trù và phải được đánh giá xếp hạng dựa trên sự so sánh của từng quốc gia với đối tượng tốt nhất trên mỗi phạm trù cụ thể, và thường đối tượng này là Đức. Có thể hiểu, qua cách làm này, một Châu Âu cho người Đức sẽ được tạo ra.
Khi mà cả châu Âu đang vật lộn đối phó với cuộc khủng hoảng nợ tại Ireland, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Cyprus và Hy Lạp, đã có hai phương pháp tiếp cận khác nhau để giải quyết vấn đề được nêu ra. Các quốc gia Nam Âu thì muốn kích thích tăng trưởng thông qua sự gia tăng chi tiêu công với kỳ vọng rằng quốc gia của mình sẽ tiếp tục tiến lên phía trước. Đức và các nước Bắc Âu khác, ngược lại, lại lựa chọn biện pháp tiết giảm chi phí và thực hiện cải cách cấu trúc nền kinh tế.
Và nước Đức hùng mạnh đã tìm ra được một cách để áp đặt hướng đi này, ép các nước khác đi “trên đường ray” của nước Đức, bằng cách đưa Quỹ tiền tệ quốc tế IMF thay thế Đức đảm nhận vị trí là một giám sát viên nghiêm ngặt. Tuy nhiên, vẫn là Berlin giữ trọng trách chính trong mọi quá trình.
Vào thời điểm ban đầu trước khi kế hoạch được thông qua, những lãnh đạo châu Âu khác đã dám phản đối ý tưởng trên một cách công khai. Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk nói rằng ông có “những sự nghi ngờ nhất định đối với phương pháp này” và hỏi người đồng cấp Merkel tại một hội nghị của EU: “Tại sao bà lại cố gắng tạo ra sự ly gián này giữa chúng ta?”. Nhưng chưa đầy một năm sau đó, Merkel đã đạt được một thắng lợi quan trọng khi một hiệp ước tài khóa đậm chất Đức được thông qua ở cấp Châu Âu. Ngoài ra, các lãnh đạo EU cũng đồng ý thiết lập trần vay mượn của những thiết chế hiến pháp trong nước, và áp đặt những biện pháp trừng phạt đối với những quốc gia vi phạm trần vay mượn, cũng như thông qua những cải cách hệ thống mà nước Đức đã tự bản thân thực hiện từ năm 2003-2005. Như nhà xã hội học người Đức Ulrich Beck ví von, sức ép mà Berlin áp đặt lên toàn Châu Âu là bằng chứng của chủ nghĩa “Merkiavellismus”.
“Madame Non”(Quý bà nói Không)
Sự thay đổi trong cách tiếp cận của Đức trong việc giải quyết các vấn đề của Châu Âu đã thay đổi một cách ngoạn mục. Trong khi thủ tướng Helmut Kohl thì cố gắng né tránh sự cô lập có thể phát sinh khi bàn đến các thỏa thuận quan trọng bằng mọi giá, thì người kế nhiệm của ông, bà Merkel lại hoàn toàn bác bỏ cách làm này. “Tôi thà là bị cô lập trong EU còn hơn, nhưng tôi không quan tâm. Vì việc tôi làm là đúng”, bà đã phát biểu như vậy trong một cuộc thảo luận về vai trò của IMF tại châu Âu với một tổ các cố vấn. Sau đó, bà còn nhấn mạnh: “Vị thế của chúng ta trong châu Âu giống như vị thế của Mỹ trên trường quốc tế: đều là những lực lượng lãnh đạo không được yêu mến”.
Chủ tịch nghị viện Châu Âu Martin Schulz nói rằng khi ông vận động tranh cử ghế chủ tịch Hội đồng Châu Âu năm 2014 với tư cách là thủ lĩnh phe trung tả, thì thường bị hỏi rằng: “Bằng cách nào mà ông nghĩ ông có thể chạy đua cho chức chủ tịch Hội Đồng Châu Âu? Ông là người Đức mà”. Schulz được cho là thông thạo bốn ngoại ngữ và dành hầu hết thời gian trong sự nghiệp chính trị của mình cho công việc ở Brussels. Ông đã dành nhiều thời gian cho việc xây dựng một mối quan hệ hữu hảo giữa Đức và Pháp. “Tôi được xem như là một phần trong kế hoạch thống trị của người Đức”, ông nói. “Có một cảm giác chung là nước Đức đã trở nên quá quyền lực, nhưng khi bạn đề cập đến vấn đề này (với những người xung quanh) thì bạn sẽ không bao giờ nhận được một câu trả lời thật.”
Nhiều quan chức kỳ cựu tại phủ thủ tướng Đức đã tìm cách lý giải bằng cách nào mà nhiều người lại nhìn nhận vấn đề như vậy. Họ cho rằng, lý do chính là vì Đức đã đóng vai trò quá lớn trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng đồng Euro. Chỉ có những chính phủ quốc gia (ý nói Đức) là đủ khả năng để vận động tiền cứu trợ đủ nhanh để hỗ trợ những quốc gia trong khối khác. Ngoài ra, khi mà nền kinh tế của nước Pháp càng đình trệ, thì quyền lực của Đức lại càng gia tăng một cách rõ ràng.
Merkel nhiều lúc được mô tả là một “Madame Non”. Khi một trong những lãnh đạo EU kết thúc bài phát biểu của mình tại cuộc họp chung của liên minh châu Âu ở Brussel, mọi người thường ngay lập tức dò xét nét mặt của bà để đoán thái độ của bà trước bài phát biểu ấy.
Nhưng liệu có quá đáng khi vẽ biếm họa bà với bộ ria Hitler? Và mô tả nước Đức hiện nay là “Đệ tứ đế chế”?
Quay trở về một chút vào thời điểm mà những người phát xít tự gọi nước Đức của họ là “Đệ tam đế chế” trong một nỗ lực để khẳng định sự kế thừa của họ với hai kỷ nguyên cai trị Châu Âu trước đó của người Đức. Đệ nhất đế chế là Đế chế La Mã thần thánh vào thời trung cổ. Không chỉ là quốc gia của chỉ một dân tộc, đó là kỷ nguyên mà phần lớn lãnh thổ Châu Âu kéo dài tới tận Sicily được cai trị bởi hầu hết các hoàng đế người Đức. Thời kỳ này chỉ kết thúc vào năm 1806 khi mà Napoleon chinh phục nhiều vùng đất một thời thuộc đế chế này. Đệ nhị đế chế bắt đầu từ lúc mà Bismarck thành lập nên Kaiserreich vào năm 1871 sau khi chiến thắng Đan Mạch, Áo và Pháp. Nhiều tiểu bang khác của người Đức sau đó đã tự động gia nhập vào đế quốc Phổ. Đó là lý do vì sao Bismarck được coi như là người tạo nên bộ khung lãnh thổ của nước Đức đương đại. Ngày 1/4 năm nay là lễ kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông.
Nhưng sau khi sáng lập nên Kaiserreich, một thứ cảm xúc nguy hiểm bắt đầu lan rộng. Đó là sự tự cao, ngạo mạn của người Đức, một thứ cảm giác cho rằng dân tộc mình là tối thượng so với các chủng tộc khác. Nhưng thật ra, đây lại chính là một loại cảm xúc pha trộn giữa sự hèn nhát và cảm giác bị đe dọa.
Nhường lại sự thống trị cho những quốc gia khác
Đế chế của Bismarck, dưới thời Hoàng đế Wilhelm II từ năm 1888, có một kích cỡ rất bất tiện. Nó quá lớn theo nghĩa rằng nó là một quốc gia quyền lực nhất châu Âu, đe dọa Pháp, Anh và Nga cùng thời. Tuy nhiên nó vẫn còn quá nhỏ để có thể tự mình cai trị cả châu Âu. Người Đức rất kém trong việc thành lập liên minh với các quốc gia khác – và chính yếu tố này và yếu tố nội bộ là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đế chế Kaiserreich bị thua trong cuộc chiến này và kết quả là bị tan vỡ vào năm 1918.
Hitler tin rằng nước Đức vĩ đại của y là đã đủ lớn mạnh để cai trị Châu Âu, và tất nhiên y đã sai lầm nghiêm trọng. Ngay cả khi sử dụng những chiến lược quân sự láu cá và thi hành việc đàn áp tàn bạo, phát xít Đức vẫn không đủ sức đánh bại phe Đồng Minh. Sau sự sụp đổ của “Đệ tạm đế chế”, sự thống trị của người Đức trên lục địa già được coi là không bao giờ có khả năng xảy ra một lần nữa. Cả Tây Đức và Đông Đức lúc đó chỉ là những nhà nước thử nghiệm, và dù ít dù nhiều vẫn phải dựa dẫm vào những người “anh lớn” là Mỹ và Liên Xô. Thời điểm đó, họ nhường quyền lực cho những nước khác.
Tuy nhiên, Tây Đức lại sớm phát triển nên một công cụ kinh tế đầy quyền lực lúc bấy giờ: đồng Mark. Nền kinh tế Tây Đức sau đó phát triển rất nhanh và nợ quốc gia của nó quay trở về mức an toàn. Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương Đức Bundesbank bắt đầu có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch địch chính sách kinh tế và tài chính ở châu Âu trong những năm 1970 và 1980. Các chính phủ Pháp, Anh và Ý thời điểm nay rất chú ý đến những quyết định được đưa ra ở Frankfurt. Trước khi nước Đức thống nhất năm 1991, một quan chức cấp cao trong phủ tổng thống Pháp phát biểu rằng: “Chúng ta có thể có bom nguyên tử, nhưng người Đức họ lại có đồng Mark”.
François Mitterrand, tổng thống Pháp trong thời kỳ bức tường Berlin sụp đổ, không phải là người ủng hộ sự tái thống nhất nước Đức. Ông sợ rằng người khổng lồ ở trung tâm Châu Âu sẽ lại sớm tìm kiếm cảm giác thống trị một lần nữa. Thủ tướng Anh Margaret Thatcher cũng tin vào điều đó, và ngay cả những chính trị gia cánh tả của Đức cũng nghĩ như vậy. Nhà văn đạt giải Nobel văn học, Günter Grass tin rằng đất nước mình sẽ lại sớm tự mãn và thèm muốn cái cảm giác thượng đẳng của ngày xưa.
Xác nhận lại một lần nữa nỗi lo đó là cách mà huấn luyện viên đội tuyển bóng đá Đức Franz Beckenbauer phát biểu khi mà vào năm 1990, lúc bóng đá Đức đăng quang tại World Cup tổ chức ở Italia, ông tuyên bố rằng: “Chúng ta nay đã trở thành số một thế giới sau một thời gian dài là số một của Châu Âu. Lúc này, chúng ta lại được bổ sung thêm những tuyển thủ đến từ Đông Đức. Thật xin lỗi phần còn lại của thế giới, nhưng đội tuyển Đức sẽ không bao giờ bị đánh bại trong nhiều năm tiếp theo”.
Trong địa hạt chính trị cũng dễ tìm thấy biểu hiện của sự hoang tưởng tự mãn này. Thủ tướng Helmut Schmidt tự nhận mình là kinh tế gia xuất sắc nhất thế giới trong thời kỳ 1970-1980. Khi ông hội đàm với tổng thống Mỹ Jimmy Carter, ông không xem đây là một cuộc gặp gỡ giữa Đại đế quốc Mỹ và một nước Đức nhỏ bé, mà là một cuộc gặp gỡ giữa Schmidt lớn và tiểu Carter. Sau đó vào những năm 1990, xuất hiện Oskar Lafontaine, thành viên Đảng dân chủ xã hội. Khi đảm nhận chức bộ trường tài chính Đức từ năm 1998, Lafontaine thực hiện nỗ lực đầu tiên để xây dựng Châu Âu theo tầm nhìn của Đức. Ông muốn hòa hợp các thị trường tài chính ở châu Âu với nhau và nỗ lực để xây dựng ở đây một khu vực sử dụng đồng tiền chung. Tờ Sun của Anh lúc ấy đã tự hỏi rằng, liệu ông có phải là người đàn ông nguy hiểm nhất châu Âu hay không.
Vẫn quá nhỏ và chần chừ?
Nhưng cuối cùng, Lafontaine đã thất bại, và đội tuyển quốc gia Đức cũng đã phải trải qua nhiều lần thất bại khi cố gắng giành giật lại ngôi vương môn thể thao vua, ít nhất là cho tới năm 2014. Ngoài ra, nước Đức sau khi thống nhất lại thể hiện một vai trò rất khiêm tốn trên trường chính trị. Tuy nhiên sau đó mọi thứ dần thay đổi khi mà đồng euro được đem vào sử dụng, thứ mà tổng thống Pháp Mitterand hy vọng là sẽ phá hủy “quả bom nguyên tử” của Đức là đồng Mark. Đồng Euro thực ra được tạo ra với mục đích ban đầu là phá vỡ sự thống trị trong kinh tế của Đức, nhưng hóa ra nó lại phản tác dụng. Đồng tiền chung đã liên kết số phận của các quốc gia thành viên lại với nhau và trớ trêu thay, lại giao cho Đức một quyền lực vượt trội so với các nước khác.
Đó là lý do vì sao “những câu hỏi về nước Đức” lại quay trở lại. Liệu nước Đức hiện đại quá lớn và quá quyền lực so với các quốc gia EU khác hay nó vẫn còn quá nhỏ và chần chừ trong việc lãnh đạo EU?
Hans Kundnani là trưởng bộ phận nghiên cứu chính sách tại Trung tâm Châu Âu về các Vấn đề Đối ngoại, một think-tank về toàn Châu Âu đặt tại London. Trọng tâm nghiên cứu của ông là về các chính sách đối ngoại của Đức. Ông đã xuất bản một cuốn sách về Đức với tựa đề “Nghịch lý về sức mạnh của nước Đức”. Kundnani liên kết những câu hỏi kinh điển về nước Đức với những tranh cãi hiện tại về vai trò của Đức trong khu vực đồng tiền chung Euro. Theo ông, sức mạnh kinh tế hiện tại của Đức là tổng hợp các mối quan hệ tương hỗ giữa các quốc gia thành viên, và chính sức mạnh này đã gây nên một sự bất ổn kinh tế, thứ có hiệu ứng giống như hiệu ứng gây ra bởi sự bất ổn chính trị thời Bismarck.
Kundnani tin rằng, vấn đề không nằm ở chỗ Đức quá quyền lực và sẽ là chủ thể lãnh đạo châu Âu, mà là ở cách thực hiện nửa vời thứ quyền lực này như hiện nay. Có lẽ Đức quá yếu để có thể đảm đương vai trò nó đang cố thực hiện, mặc dù Đức đã tập trung toàn bộ sức lực hiện có của mình.
“Nước Đức hiện đại lại một lần nữa gặp phải một nghịch lý. Nó vừa yếu lại vừa mạnh cùng một lúc – điều này giống với khi được thống nhất vào thế kỷ 19, nước Đức được nhìn nhận từ bên ngoài là quá quyền lực, nhưng đối với người dân trong nước thì quốc gia thực ra lại rất dễ bị tổn thương”, Kundnani viết tiếp. “Đức ngày nay (đơn giản là) không hề có ý làm lãnh đạo và nó kiên quyết chống lại sự cơ cấu nợ (mà về bản chất chính là quá trình chuyển sự thanh toán những khoản nợ và nghĩa vụ của các quốc gia khác trong liên minh tới tay của người dân và chính phủ Đức), nhưng nó lại cũng đồng thời muốn tái lập nên một châu Âu theo ý chí của mình, nhằm làm cho liên minh này trở nên giàu sức cạnh tranh hơn”.
“Lãnh đạo” trong ngữ cảnh này đồng nghĩa với nghĩa vụ phải cứu giúp các quốc gia khác, đó là cách mà Varoufakis nhìn nhận vấn đề. Vị bộ trưởng tài chính Hy Lạp này muốn Merkel phải tạo ra một phiên bản mới của Kế hoạch Marshall, thứ mà nước Mỹ đã đề ra và thực thi trong quá khứ nhằm giúp các quốc gia châu Âu tự đứng dậy sau chiến tranh. Lý do là vì một hệ thống tương tự như hệ thống do Mỹ dẫn dắt không chỉ đơn giản là việc Mỹ tạo ra những luật lệ cho hệ thống đó một cách cứng nhắc. Ẩn chứa bên trong còn là những động lực, phần thưởng mà Mỹ dành cho các quốc gia khác để họ đủ sức là một phần của hệ thống đó. Để làm được điều đó, hệ thống này đã phải tìm đến sự thoả hiệp trong ngắn hạn giữa các quốc gia để bảo đảm những lợi ích dài hạn.
Ngày càng giống một đế chế
Nước Đức là quốc gia đã chống lưng cho hai gói cứu trợ của Hy Lạp, nhưng chúng được nhìn nhận là không đủ hiệu quả. Chính phủ mới của Hy Lạp muốn thay đổi những luật lệ cơ bản của khu vực đồng Euro bằng cách thúc đẩy việc cơ cấu, chuyển đổi lại các khoản nợ và phá bỏ những luật lệ do Đức áp đặt. Nhiều quốc gia thành viên khác cũng đồng ý với điều này. “Đây không phải một liên minh tiền tệ”, tờ Financial Times bình luận trên ấn bảng tháng 5/2012. “Nó giống như là một đế chế nhiều hơn”.
Nhà đầu tư George Soros cảnh báo châu Âu đang bị chia rẽ giữa một bên là các quốc gia, nơi đã đạt được thặng dư thương mại trong nhiều năm và ở phía bên kia là những nước với thâm hụt thương mại. Ông nhấn mạnh đây chính là hệ quả tất yếu của mô hình lấy Đức là đế chế trung tâm của cả Châu Âu và các nước khác chỉ là vùng ngoại biên của nó.
Thế giới ngày nay vốn dĩ là xoay quanh những vấn đề về kinh tế. Khái niệm “lực lượng thống trị” và “kẻ bị thống trị” đã nhường lại vị trí lịch sử của nó cho cặp đôi khái niệm mới: chủ nợ và con nợ. Đức là chủ nợ lớn nhất châu Âu. Về cơ bản, người cho vay tất nhiên là có nhiều quyền lực hơn con nợ. Họ chế ngự con nợ và thường vạch ra những viễn cảnh cụ thể về việc người đi vay nợ cần phải làm những gì để có thể trả lại khoản nợ mà mình đã vay. Và vì điều đó, chủ nợ thường không giành được nhiều thiện cảm từ phía con nợ.
Nguyên nhân mà các chủ nợ muốn kiểm soát và chế ngự con nợ của mình là bởi vì họ sợ. Sợ rằng họ sẽ không bao giờ nhìn thấy tiền của mình một lần nữa. Nước Đức có thể tạm chấp nhận việc Hy Lạp sẽ không trả nổi nợ, nhưng không thể chịu được điều tương tự với trường hợp của Ý và Tây Ban Nha.
Đức có thể đủ lớn mạnh để áp đặt luật lệ lên châu Âu, Kundnani viết, nhưng nó lại quá yếu để trở thành một bá chủ thực sự. Giống như trước Thế chiến thứ nhất, nước Đức hiện đại lại một lần nữa bị vây quanh bởi những nước nhỏ hơn mình. Một phần của nỗi sợ này được phản ánh trong nỗi lo rằng, ECB có thể bị điều khiển bởi những nước nhỏ ở Nam Âu và quyền lực to lớn của nó có thể rơi vào tay những quốc gia vay nợ. Nước Đức hành xử không giống như một bá chủ mà giống là một “bán bá chủ” (semi-hegemon) nhiều hơn. Đây là một cụm từ được viết ra bởi sử gia người Đức Ludwig Dehio, khi ông mô tả vị trí của nước Đức trong lòng châu Âu sau năm 1871. Cùng một hướng suy nghĩ như trên, cựu bộ trưởng ngoại giao của Ba Lan Radoslaw Sikorski đã phát biểu trong một diễn văn ở Berlin vào tháng 11 năm 2011 rằng, ông ít lo lắng về quyền lực quá lớn của nước Đức mà chủ yếu ông sợ về sự bàng quan không hành động của Đức nhiều hơn và do đó ông hối thúc nước này cần quyết đoán hơn trong việc dẫn dắt châu Âu.
Một thực tế khác mà Kundnani đã ghi nhận là một mầm mống chính trị mới trong lòng xã hội Đức khi người dân nước này tự coi mình mới chính là nạn nhân thực sự của cuộc khủng hoảng đồng Euro – một quan điểm đương nhiên là trái ngược với cách mà các quốc gia vay nợ nhìn nhận sự việc. Sự tự thương xót này chính là nguồn gốc cho sự xuất hiện một trào lưu chính trị mới ở Đức, và hệ quả của nó là sự buộc tội không ngừng đối với người dân Hy lạp là đã quá tham lam (và có phần vô kỷ luật).
Sự liên hệ sai với chủ nghĩa phát-xít
Trong khi nước Đức thống trị châu Âu về mặt kinh tế trong suốt cuộc khủng hoảng, vai trò của nó trong các chính sách đối ngoại Châu Âu vẫn còn rất hạn chế. Mà ví dụ điển hình nhất cho việc từ chối thực hiện một vai trò chính trị lớn hơn trên mặt trận ngoại giao là việc không tham gia cuộc bỏ phiếu trong phiên họp Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tháng 3/2011 về việc cho phép NATO can thiệp quân sự vào Libya. Các đối tác châu Âu của Đức như Pháp nhìn nhận sự bỏ cuộc này của nó như là một bước thụt lùi, vì trước đó nước này đã tham gia vào cuộc không kích Kosovo và cuộc chiến Afghanistan.
Việc kêu gọi Đức thể hiện sự lãnh đạo nhiều hơn nữa xuất phát từ những quốc gia Đông Âu trong những năm gần đây rõ ràng là đã đối nghịch với những lời phàn nàn về sự thống trị kinh tế của Đức. Nhưng hai xu hướng này rõ ràng là có liên quan đến nhau. Đức đơn giản là muốn trở thành một cường quốc kinh tế, chứ không phải là một cường quốc quân sự. Chủ nghĩa dân tộc của nó dựa trên sức mạnh của nền kinh tế quốc dân và những đồ thị xuất khẩu, chứ không phục vụ cho ham muốn trở thành một quyền lực địa chính trị. Sự nghịch lý của Đức có thể được nhìn thấy trong sự chần chừ của nước này khi xử lý cuộc khủng hoảng Ukraine.
Kundnani viết, nước Đức được mô tả như là một sự pha trộn kỳ lạ giữa sự quyết đoán trong kinh tế và sự lưỡng lự khi đối mặt với các vấn đề quân sự”. Chỉ riêng với lý do này, việc đánh đồng nước Đức hiện đại với quá khứ phát xít của nó là hoàn toàn không có cơ sở. Nước Đức ngày này không phải là một đất nước của nạn kỳ thị chủng tộc hay là một quốc gia dung dưỡng cho bạo lực. Tất cả mối quan tâm của Đức là về vấn đề tiền bạc. Và đó là điều khác biệt lớn nhất giữa hai thời kỳ, ngay cả khi những tranh chấp với các quốc gia khác trên địa hạt kinh tế có gay gắt đến mức nào đi chăng nữa.
Nhưng đúng là đang có dấu ấn của một đế chế, ít nhất trong lãnh địa kinh tế. Khu vực đồng tiền chung euro đúng là được lãnh đạo bởi Đức, nhưng sự thống trị cỉa Berlin không phải là không bị thách thức. Sự kháng cự lại Đức, trái lại là rất lớn khi nó là tiếng nói của hàng triệu người dân từ những quốc gia khác. Do đó, sở hữu một thứ quyền lực lớn như thế dĩ nhiên là phải đi kèm với một nghĩa vụ lớn tương đương. Tuy nhiên, chính phủ và những nhà hoạch định chính sách của Đức lại hành xử như thể họ đang vận hành một quốc gia nhỏ vậy.
Nói tóm lại, Đức thực tế là không đủ tiền và sức lực để giải quyết tất cả các vấn đề của các quốc gia khác. Nhưng vai trò của nó vẫn rất quan trọng và đáng lẽ ra là Đức đã có thể tạo nên nhiều thứ vĩ đại hơn, bằng cách đơn giản là thỉnh thoảng phô ra sự hào phóng của mình. Và tất nhiên nếu không có những tiếng nói phản đối từ Munich hay Berlin thì nhiều tiến trình ở châu Âu sẽ dễ dàng đạt được kết quả hơn. Đôi khi, quyền lực và sự vĩ đại của mình lại được thể hiện một cách rõ nét khi mà ta lơ đi những gán ghép khiêng cưỡng của các thế lực ngoại vi hoặc là bác bỏ nó một cách lịch thiệp.

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Pháp luật Trung Quốc với vấn đề giải quyết tranh chấp lao động


Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh, Trung Quốc. Ảnh: ST



Trong giai đoạn phát triển hiện nay, tranh chấp lao động trở thành vấn đề phức tạp đối với mọi nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trở nên phức tạp hơn rất nhiều một phần do sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài vốn quen với quan hệ lao động có nhiều khác biệt tại chính quốc gia họ, một phần từ ý thức ngày càng nâng cao của người lao động về các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Thực tế chứng minh số lượng các cuộc đình công - hậu quả trực tiếp từ tranh chấp lao động - tăng lên nhiều và nhanh trong các năm qua (1). Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra là phải xây dựng một cơ chế pháp lý vừa bảo đảm tốt nhất quyền lợi của người lao động - những người được coi là bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động, vừa không phải là rào cản ngăn trở nguồn lực đầu tư từ bên ngoài. Bài viết giới thiệu một trong những bước cải cách của Trung Quốc về các biện pháp giải quyết tranh chấp lao động.
1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động: tập trung biện pháp trọng tài
Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp lao động được quy định cụ thể và rõ ràng trong Luật Hòa giải và trọng tài đối với các tranh chấp lao động (sau đây gọi là Luật HG và TT)(2), là: hợp pháp, công bằng, đúng thời hạn và theo hướng hòa giải (3). Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong tên của Luật. Mặc dù là một luật bao quát điều chỉnh toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp lao động từ giai đoạn ban đầu (tham vấn, hòa giải) đến khi có được các bản án, phán quyết có giá trị pháp lý bắt buộc (xét xử tại Tòa án), tên của Luật HG và TT cũng chỉ bao gồm hai biện pháp được coi là chính yếu: hòa giải và trọng tài. Cơ cấu các điều khoản trong luật cũng cho thấy việc tập trung vào các biện pháp này của nhà lập pháp. Trong tổng số 54 điều luật, ngoài những điều khoản chung, có 7 điều khoản liên quan đến hoạt động hòa giải, còn lại các điều khoản đều tập trung vào việc thực hiện biện pháp trọng tài, bao gồm đầy đủ từ thẩm quyền, thành phần của Hội đồng, thủ tục tiến hành, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi bên và giá trị pháp lý của các phán quyết trọng tài. Tuy vẫn coi Tòa án là cơ quan cuối cùng giải quyết các tranh chấp trong trường hợp thủ tục giải quyết tại Hội đồng trọng tài có thiếu sót hoặc có hành vi vi phạm pháp luật của thành viên Hội đồng, nhưng trong những trường hợp thông thường, Tòa án chỉ còn được nhắc đến như một cơ quan bảo đảm giá trị pháp lý cho các phán quyết đó mà thôi.
Nội dung bao hàm nhất của nguyên tắc này là việc đề cao giai đoạn xem xét vụ việc tại Hội đồng trọng tài, đồng thời giảm nhẹ vai trò của Tòa án trong việc đưa ra phán quyết cuối cùng. Việc thay đổi này được đánh giá là có nhiều ưu điểm. Đầu tiên, biện pháp trọng tài có thể coi là phù hợp hơn với tâm lý của người á châu thích sự hòa giải ổn thỏa giữa các bên hơn là phải bắt buộc chấp nhận một bản án của Tòa án. Thực tế đã chứng minh, ngay cả khi người lao động có được xử thắng kiện trong một tranh chấp tại tòa, họ cũng khó có thể được chấp nhận vào làm lại công việc cũ mà không có bất kỳ sự phân biệt nào so với giai đoạn trước. Trong khi đó, mục đích của người lao động sau khi vụ tranh chấp được xem xét là quay trở lại làm việc với những điều chỉnh có lợi hơn về quyền hoặc lợi ích chứ không phải là mất việc. Ưu điểm thứ hai bao hàm trong nguyên tắc này là quá trình xem xét một vụ tranh chấp lao động thông thường sẽ chỉ dừng lại tại biện pháp trọng tài. Điều này có nghĩa là cả thời gian và chi phí để có được phán quyết cuối cùng sẽ giảm đáng kể khi giai đoạn xét xử tại tòa không còn được các bên hướng tới để mong có phán quyết có giá trị pháp lý bắt buộc nữa. Thực tế là các bên tranh chấp đều mong muốn sớm kết thúc tranh tụng để tập trung vào công việc của riêng mình. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, để biện pháp này đáp ứng được mong đợi của các bên, các nhà lập pháp cần các cơ chế bảo đảm tính chính xác của phán quyết.
Đối chiếu với các quy định liên quan trong pháp luật Việt Nam, có thể thấy rằng các bước giải quyết một tranh chấp lao động vẫn còn khá phức tạp với các giai đoạn bắt buộc từ hòa giải cấp cơ sở hoặc hòa giải viên đến cấp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện (đối với tranh chấp tập thể về quyền) hoặc biện pháp trọng tài (đối với tranh chấp tập thể về lợi ích) rồi mới đến tòa án. Như vậy, một vụ tranh chấp lao động thường kéo dài, ảnh hưởng đến cả quyền lợi của người lao động và lợi ích của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, việc xem xét, rút ngắn cần dựa trên cơ sở nâng cao hiệu quả của các giai đoạn đầu như tham vấn, trọng tài để bảo đảm tính đúng đắn của phán quyết.
2. Trách nhiệm cung cấp chứng cứ
Như trong các tranh chấp khác, các bên đều có nghĩa vụ cung cấp bằng chứng cho cơ quan giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động có những khác biệt khi rất nhiều giấy tờ liên quan chứng minh quan hệ lao động cũng những các yếu tố khác có khả năng dẫn tới tranh chấp nằm trong tay người sử dụng lao động như hợp đồng lao động, bảng lương (người sử dụng lao động nhận lương bằng tiền mặt), các giấy tờ liên quan đến mức bảo hiểm v.v.. Từ lý do trên, Luật HG và TT của Trung Quốc quy định cụ thể rằng, trong trường hợp các giấy tờ có liên quan đến vụ tranh chấp mà do người sử dụng lao động cầm thì người sử dụng lao động phải cung cấp cho cơ quan xét xử, trong trường hợp người sử dụng lao động từ chối cung cấp hoặc viện các lý do không chính đáng để không cung cấp, người sử dụng lao động có thể bị coi là bên vi phạm trong vụ tranh chấp đó (4). Việc quy định này giúp cho người lao động tránh được trường hợp các vụ tranh chấp bị trì hoãn vì thiếu các cơ sở pháp lý do người sử dụng lao động nắm giữ. Cũng cần nói thêm rằng, Luật Hợp đồng lao động của Trung Quốc ghi nhận, mọi quan hệ lao động phải được giao kết trên cơ sở hợp đồng, tại đó quy định các thỏa thuận liên quan đến quyền lợi của người lao động (5). Từ đó, các trọng tài viên có thể có được những bằng chứng xác thực về các yếu tố chính trong quan hệ lao động giữa các bên tranh chấp, làm cơ sở để đưa ra các phán quyết chính xác và phù hợp.
Quy định này không có trong các văn bản pháp lý liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động tại Việt Nam. Nội dung các điều khoản có quy định các bên có trách nhiệm cung cấp các tài liệu liên quan đến tranh chấp, nhưng chính trọng tài viên lại là người có trách nhiệm thu thập chứng cứ (6). Bên cạnh đó, không có bất kỳ chế tài nào được áp dụng trong trường hợp một trong các bên cố tình không cung cấp bằng chứng. Như vậy, nguy cơ phải chấm dứt việc xem xét vụ tranh chấp chỉ vì lý do thiếu cơ sở pháp lý sẽ cao hơn rất nhiều.
3. Thời hiệu nộp đơn tại Hội đồng Hoà giải
Trước đây, rất nhiều tranh chấp lao động không được giải quyết do các bên tham gia quan hệ lao động đã vượt quá thời hiệu chấp nhận đơn tại cơ quan xét xử. Lý do đôi khi rất thông thường như người lao động không ý thức được rằng quyền và lợi ích của mình đã bị vi phạm. Các quy định mới cho phép các bên tranh chấp có một năm thay vì sáu tháng kể từ ngày họ biết về việc vi phạm. Ngoài ra, thời hạn đó còn không bị ảnh hưởng trong các trường hợp các bên tham gia tranh chấp liên quan đến các vụ tranh tụng khác, phải thực hiện nghĩa vụ hoặc các trường hợp bất khả kháng và các lý do chính đáng khác. Ngoài ra, đối với các vụ tranh chấp liên quan đến tiền lương lao động, thì thời hiệu một năm nói trên không áp dụng (7), nghĩa là người lao động có thể bất kỳ lúc nào cũng có thể đưa đơn lên Hội đồng trọng tài. Việc kéo dài thời hạn so với luật cũ giúp cho các bên (chủ yếu là người lao động) có nhiều cơ hội để đưa những tranh chấp liên quan ra cơ quan xét xử, tránh những thiệt hại khi quyền lợi bị vi phạm mà không có bồi thường do vượt quá thời hiệu nộp đơn.
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp được quy định trong Luật sửa đổi bổ sung Bộ Luật Lao động của Việt Nam là một năm đối với tranh chấp lao động tập thể và từ sáu tháng đến ba năm đối với từng loại tranh chấp lao động cá nhân (8). Tuy thời hạn này là tương đối dài, nhưng do không loại trừ khả năng các bên tranh chấp không thể khiếu kiện như trường hợp bất khả kháng, nên vấn đề thời hiệu vẫn có thể cản trở quá trình giải quyết tranh chấp.
4. Giá trị pháp lý của phán quyết trọng tài
Việc nâng cao giá trị pháp lý của phán quyết trọng tài trong các vụ tranh chấp lao động được đánh giá là điều khoản bảo đảm tốt nhất để biện pháp này trở thành khâu quan trọng trong toàn bộ quá trình giải quyết. Trong Luật HG và TT quy định, trừ trường hợp có các quy định khác, các tranh chấp lao động liên quan đến tiền lương, các chi phí y tế đối với các tai nạn nghề nghiệp, các khoản bồi thường kinh tế, các thiệt hại mà số tiền không vượt quá mười hai tháng lương tối thiểu, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội theo các tiêu chuẩn lao động… sau khi được xem xét tại Hội đồng trọng tài thì phán quyết của Hội đồng trọng tài có giá trị pháp lý cuối cùng (9). Sau khi có phán quyết này, chỉ có người lao động mới có quyền khiếu nại lên Tòa án, còn người sử dụng lao động chỉ được quyền yêu cầu một tòa án lâm thời xem xét tính đúng đắn của phán quyết đó do có những sai sót cụ thể mà thôi.
Như vậy là các nhà lập pháp đã trao cho các trọng tài viên quyền xét xử tương đương với các thẩm phán tòa án, để phán quyết của họ có giá trị tương đương một phán quyết tại tòa. Thẩm quyền này giúp cho quá trình xem xét một vụ tranh chấp lao động có thể được rút ngắn hơn rất nhiều do tránh được khoảng thời gian xử tại tòa án. Bên cạnh đó, thời gian xem xét một vụ tranh chấp tại Hội đồng trọng tài được quy định là bốn mươi nhăm ngày, có thể kéo dài nhưng không quá mười lăm ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị hợp lệ của một bên tranh chấp (10). Với tổng thời gian sáu mươi ngày để có một phán quyết có giá trị pháp lý, vụ tranh chấp có thể được coi là giải quyết trong khoảng thời gian ngắn thích hợp.
Vấn đề thứ hai có thể nhìn thấy trong quy định này là sự khác biệt về quyền khiếu kiện đối với người lao động và người sử dụng lao động. Nếu như người lao động có thể khiếu kiện thì người sử dụng lao động chỉ có thể đệ đơn xin xem xét lại chính quyết định của Hội đồng trọng tài mà thôi. Cụ thể hơn, tòa án sẽ chỉ tiếp tục xem xét vụ tranh chấp nếu phán quyết của trọng tài gây bất lợi cho người lao động. Đối với người sử dụng lao động, họ không có quyền khiếu kiện lên cao mà chỉ có thể yêu cầu một tòa án lâm thời xem xét tính đúng đắn của phán quyết. Tuy nhiên, biện pháp này chỉ được áp dụng trong trường hợp có những dấu hiệu vi phạm của Hội đồng Trọng tài liên quan đến khả năng xảy ra tiêu cực, các hành vi gian lận tại Hội đồng, các thủ tục tiến hành có sai sót hoặc do mối quan hệ mật thiết giữa một thành viên Hội đồng với người lao động... (11) Vậy là, khả năng khiếu kiện của người sử dụng lao động bị giới hạn trong một phạm vi rất hẹp, có nghĩa rằng khả năng kéo dài vụ tranh chấp lao động theo hướng có lợi cho người sử dụng lao động cũng rất hẹp. Trong các trường hợp thông thường, các bên phải công nhận giá trị pháp lý cuối cùng của phán quyết trọng tài.
5. Các ưu điểm khác của biện pháp trọng tài
Để bảo đảm rằng, biện pháp trọng tài sẽ được sử dụng thường xuyên và thực sự hữu ích, các nhà lập pháp Trung Quốc đã có một số điều chỉnh trong cơ chế xem xét vụ việc tại Hội đồng Trọng tài. Đầu tiên là quy định về việc bảo vệ những bí mật thương mại, công nghệ và các vấn đề riêng tư của các bên liên quan được bảo mật trong toàn bộ quá trình (12). Điều khoản này rất được người sử dụng lao động coi trọng trong thời đại phát triển kinh tế có nhiều cạnh tranh mà chỉ đơn giản việc tiết lộ các bí mật thương mại cũng sẽ gây cho họ những tổn thất lớn. Điều khoản này được đánh giá là đã ghi nhận những quyền lợi chính đáng của người sử dụng lao động bên cạnh những điều khoản có lợi hơn cho người lao động như đã nêu trong phần trên.
Nội dung này chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật Việt Nam. Trong khi đây là một yêu cầu mới hiện nay, khi mà các doanh nghiệp cần một cơ chế bảo vệ những lợi ích hợp pháp ngay cả trong lúc giải quyết các tranh chấp. Quy định này sẽ giúp người sử dụng lao động có tinh thần hợp tác hơn, từ đó, việc giải quyết sẽ có cơ sở hoàn thành một cách thuận lợi hơn.
Một ưu điểm khác của biện pháp trọng tài là những quy định rất chặt chẽ về thành phần hội đồng trọng tài cũng như các điều kiện về năng lực và phẩm chất của trọng tài viên. Mặc dù thành viên của Hội đồng trọng tài bao gồm cả đại diện của cơ quan lao động, công đoàn và người sử dụng lao động (13) nhưng quyền quyết định phụ thuộc nhiều vào Chủ tịch Hội đồng - mà tiêu chuẩn của chức danh này đòi hỏi người đảm nhiệm phải đang nghiên cứu hoặc giảng dạy luật từ bậc trung trở lên, có kiến thức thực tế về quản lý nhân sự hoặc công đoàn trong ít nhất năm năm và thực hành nghề luật ít nhất ba năm (14). Những điều kiện trên sẽ góp phần bảo đảm cho vụ tranh chấp được đánh giá kỹ lưỡng và chính xác trên cơ sở không bỏ qua quan điểm riêng của từng bên liên quan.
Vấn đề năng lực của trọng tài viên đại diện của người sử dụng lao động, các sở lao động hoặc công đoàn chưa được ghi nhận trong các điều luật của nước ta. Quy định duy nhất về năng lực của trọng tài viên luật gia là “có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động ở địa phương, có uy tín và công tâm” (15). Thiết nghĩ, các quy định này vẫn còn quá chung chung và khó có thể sử dụng để làm tiêu chí đánh giá một luật gia có thể hoàn thành công việc của mình tại hội đồng trọng tài hay không
Theo Luật HG và TT, thủ tục trọng tài được khuyến khích sử dụng với quy định miễn mọi khoản chi phí cho các bên tham gia. Chi phí cho thủ tục hòa giải sẽ được lấy từ ngân sách Nhà nước (16). Quy định này sẽ giảm bớt rất nhiều gánh nặng cho người lao động vốn đã chịu sức ép khi mối quan hệ với người sử dụng lao động bị vi phạm và chịu thiệt thòi. Trong khi đó, liên quan đến mức chi phí, các văn bản pháp luật của nước ta chi nêu chung chung rằng “kinh phí hoạt động của Hội đồng trọng tài do ngân sách nhà nước bảo đảm và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của Sở Lao động - Thương binh và xã hội” (17). Nghị định 133/2007/NĐ-CP quy định “kinh phí cho hoạt động trọng tài do ngân sách nhà nước bảo đảm” (18). Tuy nhiên, khoản kinh phí đó chưa được đề cập rõ ràng có bao gồm các khoản lệ phí khác mà các bên tranh chấp phải đóng góp hay không, do đó, khó có thể ước lượng được tổn thất về tài chính mà họ có thể gặp phải. Đây cũng là một trong những lý do làm nản lòng các bên tranh chấp, đặc biệt là người lao động đang trong tình trạng khó khăn và sẽ dẫn đến việc họ chấp nhận thiệt thòi hơn là chi trả một khoản tiền mà không biết rằng sau đó kết quả xét xử có lợi cho họ hay không. Do vậy, ngay cả khi không thể áp dụng việc miễn phí xét xử tại Hội đồng trọng tài, cũng cần thiết có quy định rõ ràng về tổng mức chi phí mà các bên tranh chấp phải chi trả nhằm giảm bớt lo lắng không cần thiết cho các bên tham gia.
*
********* *
Từ những điểm mới trong Luật HG và TT của Trung Quốc, chúng ta có thể thấy rằng, các quy định liên quan của Việt Nam còn nhiều điểm chưa cụ thể, rõ ràng và hữu ích trong việc giải quyết nhanh các tranh chấp lao động theo hướng quan tâm đến quyền lợi của người lao động. Cần thiết phải xem xét, sửa đổi các nội dung liên quan đến lao động, góp phần tạo dựng cơ sở pháp lý cho một môi trường lao động công bằng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên.
(1) Theo Báo Tiền phong, số ra ngày 3/3/2009, tại cuộc Hội thảo Việt Nam - Đan Mạch về các vấn đề thị trường lao động, số lượng các vụ đình công tính đến tháng 12/2008 là 2624 vụ, trong đó riêng năm 2008 là 762 vụ.
(2) Có hiệu lực từ ngày 1/5/2008.
(3) Điều 3, Luật HG và TT.
(4) Điều 6, Luật HG và TT.
(5) Điều 11, Luật Hợp đồng lao động, thông qua tại kỳ họp Quốc hội thứ 10 của CHND Trung Hoa ngày 29/6/2007 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2008.
(6) Điều 5, Nghị định 133/2007/NĐ-CP ban hành ngày 8/8/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động.
(7) Điều 27, Luật HG và TT.
(8) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động của Quốc hội khóa 11, kỳ họp thứ 10 số 74/2006/QH11 ban hành ngày 29/11/2006.
(9) Điều 47, Luật HG và TT.
(10) Điều 43, Luật HG và TT.
(11) Điều 49, Luật HG và TT.
(12) Điều 26, Luật HG và TT.
(13) Điều 19, Luật HG và TT.
(14) Điều 10, Luật HG và TT.
(15) Điều 2, Mục 2, Thông tư 23/2007/TT-BLĐTB -XH ban hành ngày 23/10/2007 hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động.
(16) Điều 53, Luật HG và TT.
(17) Điều 11 (3) NĐ 133.
(18) Điều 11 (3), Nghị định 133/2007/NĐ-CP ban hành ngày 8/8/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động về giải quyết tranh chấp luật lao động.
Ths Nguyễn Lê Thu - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Đảng PAP và chính trị Singapore



Nguyễn Huy Vũ
Nguyễn Minh Thọ

1. Quá trình hình thành và nắm giữ quyền lực
của đảng Nhân dân Hành động (PAP) ở Singapore

     Khi thành lập vào năm 1954, đảng Nhân dân Hành động (People Action Party, viết tắt là PAP[1]) là một liên minh chính trị giữa các lãnh đạo công đoàn cánh tả và một nhóm chuyên gia được đào tạo từ nền giáo dục Anh (British-educated professionals). Liên minh này hoạt động dưới ngọn cờ chung (common banner) là chống thực dân.
     Nếu như động lực chống thực dân Anh của các lãnh đạo cánh tả là rõ ràng và dễ hiểu thì động cơ đó có vẻ ngược lại đối với nhóm chuyên gia. Nhóm chuyên gia này có thể hưởng được những đặc quyền, đặc lợi mà chính quyền thuộc địa dành cho giai cấp bản xứ.  Dựa theo khuôn mẫu Gramsci cổ điển (classic Gramscian fashion)[2] – trong việc chỉ ra các kinh nghiệm mà các nhóm hoạt động chính trị khác đã thành công trong việc chuyển đổi đường hướng và cách thức hoạt động chính trị  ̶  nhóm chuyên gia này đã chủ động rời bỏ tầng lớp và giai cấp thống trị để tham gia vào khuynh hướng xã hội chung của thời đại đang được nhiều người ủng hộ. Thay vì tiếp tục hưởng thụ những đặc quyền và đặc lợi có được nhờ việc thừa hưởng nền giáo dục của Anh và là con cưng của chính quyền, họ đã thấy được những nguyện vọng sâu xa của các tầng lớp nhân dân bên dưới: chống thực dân.
      Việc tập hợp lại với một khẩu hiệu như thế đã trở nên một mối quan tâm chính và một đồng thuận của xã hội, về mặt cảm tính, đã biến họ thành một tổ thức chính trị dành được vai trò lãnh đạo về ý thức hệ (ideological leadership). Tuy nhiên, để thu hút sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, nhóm chuyên gia phải hình thành một liên minh với các nghiệp đoàn và các tổ chức chính trị, xã hội cánh tả khác. Sự ủng hộ và quan tâm từ giới công nhân cũng như tầng lớp dân chúng chịu ảnh hưởng nền giáo dục Trung Hoa là rất quan trọng.
        Ngược lại, đối mặt với tình trạng bị đàn áp và sắp bị chính quyền thuộc địa Anh đặt ra ngoài vòng pháp luật vì các hoạt động cổ vũ cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, các tổ chức cánh tả Singapore cũng hoan nghênh việc liên minh với nhóm chuyên gia Anh học, với hy vọng là nhóm chuyên gia này sẽ đóng vai trò một tấm bình phong đứng đắn, ôn hòa, có thể được đa số chấp nhận cho tổ chức PAP và các hoạt động chính trị của họ. Do đó, liên minh này là một cuộc hôn phối vì lợi ích, mà mỗi bên có những các mục đích riêng của mình.
       Trong cuộc tổng tuyển cử năm 1959 để bầu một chính quyền bản xứ có quyền tự trị (có nhiều quyền, dù ngoại giao và quốc phòng vẫn nằm trong tay thực dân Anh), PAP đã tranh cử tất cả các ghế, và dành được 43 trên 51 ghế. Người đứng đầu nhóm chuyên gia, Lý Quang Diệu, được cử làm thủ tướng, sau khi các thành viên cánh tả của PAP bị bắt vì lý do chính trị trước đó, được thả ra.
       Tuy nhiên, các bất đồng sớm nổ ra giữa hai nhóm. Nhóm cánh tả đe dọa sẽ chuyển sự ủng hộ từ Lý Quang Diệu sang David Marshall (lãnh tụ đảng đối lập) nếu Lý Quang Diệu không có những cải cách đáng kể về tình trạng đàn áp (bao gồm: thiếu quyền tự do công dân, việc tiếp tục câu lưu và bắt giữ các nhân vật chính trị dưới luật Nội an của Hội đồng Nội an (Internal Security Council)), hạn chế quyền công dân của các nhân vật thuộc cánh tả, hạn chế các phong trào liên kết của các công đoàn thương mại có xu hướng xây dựng các cơ sở chính trị, và cuối cùng là sự mất dân chủ ngày càng lớn ngay trong đảng PAP.[3] Các bất đồng trong PAP không giải quyết được, dẫn đến sự ly khai, và sự thành lập của đảng Barisan Sosialis bởi các lãnh đạo nghiệp đoàn cánh tả và các thành viên ly khai (hay bị đuổi) khác của PAP.  Lý Quang Diệu vẫn tiếp tục nắm quyền với đảng PAP còn lại.
        Sau cuộc trưng cầu dân ý để sát nhập Singapore vào liên bang Malaysia vào năm 1962, PAP đã tăng cường vị trí độc tôn quyền lực bằng cách đàn áp các đảng đối lập. Tháng 2/1963, một chiến dịch mang tên Operation Cold Store bắt giữ hơn 100 nhân vật hoạt động chính trị cánh tả quan trọng hoặc nổi tiếng. Chiến dịch này được thực hiện bởi Hội đồng Nội an mà Malaysia nắm giữ một lá phiếu quyết định trong hội đồng gồm 7 người (có 3 từ chính phủ Singapore và 3 là các nhân viên người Anh). Do đó, mặc dù Lý Quang Diệu có mặt trong buổi họp quyết định bắt giữ, ông đã tránh được trách nhiệm của mình trong biến cố này.
       Ngay sau vụ bắt giữ và đàn áp, PAP tổ chức một cuộc bầu cử đột xuất. Kết quả là Barisan được 33,3% phiếu bầu và dành được 13 ghế, PAP dành được 46,9% phiều bầu và được 37 ghế. Khi quốc hội mới ra tuyên thệ, 3 dân biểu của Barisan đã bị bắt và 2 phải bỏ trốn ra nước ngoài. Tổng thư ký đảng Barisan đã tẩy chay vị trí đại biểu quốc hội của mình. Sau đó, việc 7 dân biểu Barisan còn lại lần lượt từ chức đã cho phép PAP nắm giữ thêm (hoàn toàn) ghế trong quốc hội và từ đó không còn những tiếng nói chính trị đối lập nào nữa.[4]

2. Nhu cầu về ý thức hệ thực dụng (pragmatism)
     Sau khi tách khỏi Malaysia năm 1965, chính quyền Singapore phải đương đầu với nhiều khó khăn. Trước hết, Singapore mất một thị trường đầy tiềm năng, đặt ra một nghi vấn về khả năng tồn tại của đảo quốc này. Sau đó, việc quân đội Anh rút đi vào đầu những năm 1970 đã làm cho sự suy giảm ngân sách quốc gia thêm trầm trọng. Thêm vào đó là thái độ thù nghịch của các nước láng giềng như Indonesia trong đầu thập niên 1960 (như có chiến dịch “the Indonesian Confrontation” chống lại liên bang Malaysia khi Singapore còn là một thành viên).
     Trong một khu vực mà người gốc Malay là đa số, một nước Singapore mà đa số là gốc Hoa đã bị các nước láng giềng nhìn với một thái độ nghi ngờ rằng đây là một nước Trung Hoa thứ 3 (ngoài Trung quốc đại lục và Đài Loan). Phải đến khi có sự thành lập và phát triển của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Singapore mới có một diễn đàn đối thoại trong khu vực và từ đó đã làm giảm đi các áp lực bên ngoài. Bên trong quốc gia, sự căng thẳng về sắc tộc và tôn giáo cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản là những đe dọa chính.[5]
        Để chống lại sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản, Lý Quang Diệu đã áp dụng triệt để luật Nội an. Luật này cho phép chính quyền bắt giữ mà không cần xét xử.  Đợt bắt giữ lớn và gần đây nhất là vào năm 1987. Lý Quang Diệu cho rằng “mức lương cho người lao động tăng lên cùng với năng suất, và khi người lao động hiểu rõ hơn vai trò của họ, và khi người lãnh đạo kinh tế tạo nên một vị trí vững chắc và an toàn thì những người cộng sản khó bề khai thác”. Theo ông, “kinh tế phát triển là điều cần thiết cho sự bền vững của hệ thống chính trị, và sự ổn định chính trị là điều cần thiết cho phát triển kinh tế.”
        Đối diện với một nền kinh tế kém phát triển và một xã hội phức tạp với nhiều sắc tộc và nhiều ngôn ngữ, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của Singapore là mối quan tâm hàng đầu của PAP. Từ đó, một ý thức hệ đã được khai sinh: “ý thức hệ sống còn” (ideology of survival). Khi nhắc đến ý thức hệ này, Lý Quang Diệu cho rằng, để một đất nước như Singapore có thể tồn tại, xã hội Singapore cần được tổ chức lại chặt chẽ hơn và người dân cần có kỷ luật hơn .Việc đầu tiên và quan trọng nhất là phải phát triển kinh tế trên bình diện quốc gia và nâng cao mức sống của mỗi người.  Để làm được điều đó, các tổ chức, đoàn thể tìm kiếm các lợi nhuận cho riêng các thành viên của đòan thể mình phải hi sinh các quyền lợi riêng tư mà đóng góp vì quyền lợi chung của quốc gia. Và vì mục tiêu đó, các tổ chức, đoàn thể… trong xã hội phải chịu sự chi phối và kiểm soát… của chính phủ.
         Chính vì phát triển kinh tế là mối quan tâm hàng đầu, các đóng góp để phát triển kinh tế lập tức và cấp thời đã được hiểu như là thực dụng và cần thiết cho quốc gia. Do đó, chủ nghĩa thực dụng (pragmatism) được xem như là một danh từ không chỉ về mặt kinh tế mà còn miêu tả ý thức hệ thống trị trong giai đoạn này (1968-1984).

3. Ý thức hệ thực dụng
     Mục tiêu trên hết của chủ nghĩa thực dụng là để bảo đảm một sự phát triển kinh tế liên tục. Mục tiêu này cũng đồng thời là tiêu chí duy nhất để phát động và đánh giá các hoạt động của chính phủ, theo hướng các hoạt động này có giúp tăng trưởng kinh tế hay không. Về nguyên tắc, dựa vào mục tiêu duy nhất này, không một lĩnh vực nào của đời sống xã hội, văn hóa, hay kinh tế, thậm chí mang tính chất đời sống riêng tư, mà không bị nhà nước can thiệp vào.
        Một ví dụ là các chính sách dân số - về mặt nguyên tắc đã xung đột với bản năng giới tính của con người. Khi thấy những phụ nữ tốt nghiệp đại học có xu hướng sinh con ít hơn và không quan tâm nhiều đến hôn nhân so với các phụ nữ ít giáo dục hơn, với niềm tin rằng 80% khả năng của mỗi người do gen quyết định và có được là nhờ thừa hưởng di truyền, Lý Quang Diệu đã cảnh báo rằng sự sút giảm nguồn gen tài năng này có thể là một điều cực kì tệ hại cho một đảo quốc mà nguồn lực quan trọng duy nhất là con người. Chính quyền đã nhanh chóng đưa ra một chính sách vào năm 1983 nhằm tăng nguồn lực tài năng. Theo đó, phụ nữ nào đã tốt nghiệp đại học và chưa lập gia đình thì được khuyến khích lập gia đình, còn phụ nữ nào đã lập gia đình và có hơn hai con thì được hưởng những khoản giảm thuế lớn và được ưu tiên chọn trường cho con cái. Những phụ nữ chưa tốt nghiệp đại học thì được khuyến khích nên có ít con, và nếu dừng ở hai con thì được số tiền hỗ trợ đến 10.000 đô la Singapore - số tiền này sẽ được trừ ra khi họ mua nhà của chính phủ. Chính sách này đã làm mất lòng nhiều cử tri khiến họ đã không ủng hộ PAP nữa. Chính sách này sau đó đã bị bãi bỏ. [6]
       Một ví dụ khác. Nếu một người nam Singapore muốn cưới một phụ nữ không phải là người Singapore, và nếu người nữ này được giáo dục và có bằng cấp chuyên môn cao (highly educated professional) – điều này được hiểu như là người phụ nữ sẽ đóng góp vào sự phát triển kinh tế - thì các thủ tục kết hôn không cần được chính quyền cho phép. Tuy nhiên, đối với những phụ nữ mà khả năng có thu nhập kém trong xã hội Singapore, điều này không dễ dàng – các cặp phải đợi một thời gian khá dài để nhận được chính quyền giấy cho giấy phép kết hôn.
        Khi mà tất cả các mặt của đời sống đều có thể bị chính quyền can thiệp, dưới danh nghĩa vì mục đích phát triển kinh tế, sự can thiệp của chính quyền vào các hoạt động của xã hội dựa vào những hoàn cảnh riêng biệt và không theo những nguyên tắc của một ý thức hệ chính trị. Sự thay đổi trong chính sách dân số là một ví dụ điển hình. Từ giới hạn mỗi gia đình chỉ nên có hai con đến chính sách người mẹ tốt nghiệp đại học, và đến chính sách khuyến khích người dân (ngoại trừ người nghèo) sinh thêm hiện nay. Trong trường hợp này, “hoàn cảnh” là nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm phát triển kinh tế.
        Sự can thiệp dựa vào “hoàn cảnh” này sinh ra nhiều hậu quả. Thứ nhất, mỗi sự can thiệp dựa vào một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội với mục tiêu duy nhất nhằm đạt hiệu quả trong lĩnh vực đó. Dưới mối quan tâm vì phát triển kinh tế chung chung, chính sách nguồn nhân lực và chính sách dân số được tách biệt và độc lập với nhau. Thứ hai, vì những sự can thiệp chỉ dựa vào “hoàn cảnh” và mang tính rời rạc, không liên tục với mục tiêu duy nhất là quyết tâm nhằm thay đổi một vấn đề xã hội (vốn đã được can thiệp trước đây) theo một hướng khác có chủ đích. Cách hành động này đôi khi cũng bị chỉ trích là không lường trước được những hậu quả sau này, khiến chính phủ phải có những biện pháp can thiệp mạnh mẽ mang tính sửa sai về sau. Trong quá khứ, chính sách lương bổng là một ví dụ điển hình. Ngay sau khi giá dầu tăng vào năm 1972, vì lo sợ rằng các nhà đầu tư công nghiệp có thể rút vốn khỏi Singapore nếu giá lương tăng, chính phủ (thông qua Ủy Ban Lương Bổng Quốc Gia – National Wage Council) áp dụng một mức tăng lương thấp tùy tiện trong vòng 4, 5 năm. Trong lúc đó, các nền công nghiệp ở Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc phản ứng bằng cách tăng năng suất thông qua cơ giới hóa. Mức tăng lương (tùy tiện thấp) đó sau đó tăng vọt trở lại vào năm 1978; trong vòng 3 năm, mức tăng lương đã lên gấp đôi. Điều này khiến cho nhiều lĩnh vực công nghiệp phải cơ giới hóa và sa thải bớt nhân công trong một thị trường vốn đã rất cạnh tranh. Điều này đã góp phần tạo nên một cơn suy thoái kinh tế nhẹ vào năm 1985. Chính phủ đã phải giảm mức lương 15% và giữ nguyên mức tăng lương trong vòng 2 năm kế tiếp.
        Và cuối cùng, với mục đích duy nhất là kinh tế, “chủ nghĩa thực dụng” chỉ chấp nhận những bằng chứng thấy được và mang tính quyết định thay vì những bằng chứng mang tính định chất, “mềm” (soft), hay những tranh luận về nguyên tắc (in principle) mang tính lý thuyết.
        Tất cả các đánh giá về sự thành công hay thất bại của một chính sách đều dựa vào các giá trị có tính định lượng. Để tự bảo vệ trước sự chỉ trích của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về chính sách dân số dựa vào di truyền – theo đó có sự phân biệt giữa những phụ nữ tôt nghiệp đaị học và phụ nữ chưa tốt nghiệp đại học – phát ngôn nhân của bộ giáo dục đã phản ứng bằng cách lặp đi lặp lại một danh sách dài những con số chứng minh rằng con cái của những phụ nữ đã tốt nghiệp đại học có thành tích học tập tốt hơn hẳn so với những phụ nữ chưa tốt nghiệp đại học. Những con số này được xem như là lời giải cho một cuộc tranh luận. Một cách đơn giản chuyển từ những kết quả định lượng sang những đánh giá mang tính định tính mà không có bất kỳ một “ý thức” nào về sự không tương thích mang tính triết học hay phương pháp luận.[7]
       Nhìn chung, lý tưởng thực dụng hoạt động trên một mục đích duy nhất vừa đồng thời đóng vai trò là một công cụ duy nhất nhằm đánh giá và thanh minh chính sách của chính phủ. Mặc khác, nó còn là một công cụ viện dẫn cho sự can thiệp của chính quyền khi cần thiết vào mọi mặt của đời sống. Các chính sách này được đưa ra và thực hiện tùy theo hoàn cảnh và mang tính giai đoạn (và do đó, nó không có tính đồng bộ lâu dài trong một lĩnh vực đời sống, xã hội….), tùy thuộc vào những mục đích đóng vai trò nào đó trong việc phát triển kinh tế. Nó không quan tâm đến những tranh cải mang tính nguyên tắc (in principle) hay lý thuyết, và thường bỏ ngoài tai những cuộc tranh luận như thế.
        Chủ nghĩa thực dụng được hình thành như một cơ cấu khái niệm có tính hệ thống được phát triển do những điều kiện vật chất và lịch sử tại thời điểm PAP tiếp nhận quyền lực. Nói một cách chính xác hơn, dựa trên nhu cầu vật chất tại thời điểm lịch sử (thập niên 1960, 1970) của Singapore, chủ nghĩa thực dụng, còn có thể xem là chủ nghĩa tiêu thụ - được xem như là một ý thức hệ - đã cho phép PAP lãnh đạo Singapore trong một thời gian dài (và cho đến nay).
         Những chính sách xuất phát từ ý thức hệ thực dụng được nhìn nhận là cần thiết, thực tế và mang tính hiển nhiên – điều này đúng với một ý của Các Mác:”quá trình chuyển đổi ý thức hệ là quá trình “hiển nhiên hóa” những mối quan tâm của các giai cấp thống trị (đặc biệt) tại một thời điểm lịch sử”.  Sự hợp pháp của cả hai – ý thức hệ thực dụng và vai trò lãnh đạo của PAP – đã được nâng lên do những thành công trong những chính sách của chính quyền nhằm đem lại một cuộc sống sung túc hơn về vật chất – điều quan trọng nhất mà người dân Singapore (những di dân vì kinh tế) mong mỏi.
         Sự thành công này cũng đã góp phần vào sự chấp nhận (hay thỏa hiệp) sự can thiệp hành chính một cách không dân chủ của chính quyền. Đảng PAP khống chế mọi sinh họat báo chí, văn hóa, giải trí…, những lãnh vực của tư duy… Giới trẻ không được đào tạo để có tư duy độc lập khác (mọi việc, mọi suy nghĩ khác… đã có PAP lo… thanh niên chỉ cần lo làm ăn kinh tế kiếm tiền!).
         Tuy nhiên, theo thời gian, những cá tính và trải nghiệm của công dân (cử tri) đã thay đổi đáng kể. Các công dân (và là cử tri) mới và trẻ không có bất kỳ một trải nghiệm nào về những khó khăn và hỗn loạn của thập niên 1950, 1960 – một điều đặt ra những khó khăn cho tính hợp lý của ý thức hệ thực dụng. Thế hệ trẻ này được giáo dục tốt hơn, có tư duy độc lập và nhất là cũng có mối quan tâm đến các vấn đề chính trị, xã hội hơn, đặc biệt là những “hệ quả của một xã hội bị chi phối”. Do đó, những chỉ trích đã được đưa ra một cách mạnh mẽ và thuyết phục hơn, điều này khiến chính phủ bắt đầu hướng sự can thiệp đến những mặt “ít nhận thấy được” trong các lãnh vực đời sống và xã hội. Chẳng hạn như các phụ nữ đã tốt nghiệp đại học chỉ trích rằng “chính sách người mẹ tốt nghiệp đại học” đã xâm phạm đời sống riêng tư và không cần thiết, mặc dầu họ được hưởng lợi từ chính sách đó[8], v.v.

4.  Đôi điều thêm về ý thức hệ: Giá trị châu Á
      Trong trường hợp của Singapore, quá trình đấu tranh được gọi là chính trị chỉ bắt đầu từ những năm 1950 kéo dài đến năm 1963 – khi mà các phe phái chính trị ở Singapore tranh giành ảnh hưởng và theo đuổi các ý thức hệ khác nhau (kể cả ý thức hệ cộng sản). Sau năm 1963, về mặt chính trị chỉ còn duy nhất là đảng PAP. Vấn đề kể từ lúc này trở đi, đối với PAP đó là việc xây dựng tính chính đáng trong vai trò của một đảng cầm quyền. Điều đó chỉ thực sự là hiển nhiên, nếu PAP có thể tạo dựng một tương lai tốt hơn cho người dân trên đảo Singapore cũng như tạo một tương lai mới cho đất nước non trẻ này. Nói cách khác, đối với PAP, vấn đề lúc này chỉ còn đơn thuần là kinh tế, và chừng nào PAP còn có khả năng phát triển kinh tế và không ngừng nâng cao mức sống của người dân và vị trí của Singapore thì PAP còn đứng vững. Điều này khá phù hợp với lý thuyết của Gramsci khi ông cho rằng sự đồng thuận không thể được duy trì chỉ duy nhất bằng các ý kiến hay lý tưởng, mà bắt buộc phải có các yếu tố mang tính kinh tế. Tính chính danh của một đảng cầm quyền chỉ có được khi nó có khả năng cải thiện đời sống vật chất của tầng lớp bị trị. Và một xã hội được cải thiện về mặt vật chất theo những qui chuẩn giá trị mới là một xã hội mà ở đó giới cầm quyền lãnh đạo bằng khả năng lãnh đạo về mặt tinh thần (moral leadership) với sự hỗ trợ bằng các hình thức bắt buộc cần thiết khác. Song, khi nền kinh tế đã phát triển thì chủ nghĩa thực dụng và tiêu thụ không còn là động lực và nền tảng của nền chính tri.[9]
        Trong suốt thời kì chiến tranh lạnh từ thập niên 1950 đến những năm 1980, châu Âu và Hoa Kỳ ủng hộ mạnh mẽ kinh tế các nước châu Á nhằm chống chủ nghĩa cộng sản, bất kể thành tích nhân quyền và dân chủ của các nước châu Á chống cộng này (Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Indonesia). Hậu quả là các nước châu Á này phát triển về kinh tế một cách nhanh chóng, song kèm theo nó là các “thành tích” về đàn áp nhân quyền, và trì hoãn việc thi hành dân chủ. 
      Cho đến những năm đầu của thập niên 1990, thì nguy cơ đe dọa về sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản không còn nữa. Lúc này bắt đầu nổi lên ý thức mới về tự do-tư bản và đi cùng với nó là nhân quyền. Điều này bắt đầu đặt câu hỏi về tính chính danh (legitimacy) của các lực lượng nắm quyền ở các quốc gia này. Trong suốt thời gian phát triển kinh tế và chịu ảnh hưởng ngày càng lớn của các nước phương Tây và Hoa Kỳ, các nước châu Á này bắt đầu chịu các áp lực bên ngoài và bên trong về vấn đề dân chủ và nhân quyền. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 đã đặt dấu hỏi về sự lũng đoạn kinh tế do việc can thiệp quá sâu mang màu sắc chính trị vào nền kinh tế của đất nước. Nó cũng khiến cho chính quyền yếu dần trong lối biện hộ đàn áp chính trị vì mục đích kinh tế. Để củng cố vị trí của mình, các đảng chính trị “sáng tạo” ra các lập luận chính trị gần giống với ý thức hệ chính trị nhằm tuyên truyền người dân về tính hợp pháp của chính quyền. Các lập luận này xoay quanh đặc tính văn hóa, xã hội và các thành tựu phát triển kinh tế.  Cốt yếu, lý thuyết các giá trị châu Á” (Asian values) là một lập luận chính trị nhằm mục đích ấy. “Các giá trị châu Á” được Lý Quang Diệu của Singapore và Mahathir của Malaysia (hai nước có nền kinh tế phát triển nhất Đông Nam Á vào thời kỳ đó) ủng hộ mạnh mẽ.
      Cơ bản, các giá trị Châu Á bao gồm: (i) có đạo đức cao trong công việc (high work ethics), (ii) thành đạt về học vấn (education attainment), và (ii) định hướng gia đình và nhóm (family and group orientation). Ngoài ra, tùy theo hoàn cảnh văn hóa, lịch sử, “giá trị châu Á” còn bao gồm vài yếu tố khác, chẳng hạn như “Khổng giáo” đối với Singapore, và “Hồi giáo” với Malaysia. Nhìn chung, các giá trị châu Á này có thể xem như một biến thể của chủ nghĩa cộng đồng (communitarism).
      Các học giả phương Tây là những người đầu tiên đưa ra lý giải rằng Khổng giáo là nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công kinh tế của các nước Đông Á. Các “công trình khảo cứu” này thực ra là liên quan nhiều hơn đến kinh tế phát triển chứ không phải về chính trị học. Tuy nhiên, sau đó một số chính trị gia châu Á lấy làm thích thú với ý tưởng này, và cải biên nó thành một lập luận về chính trị hướng đến các giá trị tập thể (collective orientation), điều này cũng được dùng để biện minh rằng các giá trị về dân chủ tự do (liberal democracy) là vắng bóng ở châu Á (vì người dân đã chịu ảnh hưởng về Khổng giáo và các giá trị châu Á); và các giá trị châu Á như vậy thích hợp với người châu Á vì đã tạo nên một sự thành công (về kinh tế) đối với các nước tư bản châu Á. Các giá trị châu Á mang giá trị tập thể này ngược với chủ nghĩa tự do của phương Tây và đặc biệt của Hoa Kỳ. Xin mỡ một dấu ngoặc là một điều đáng để ý là trước khi chọn các “giá trị châu Á”, Lý Quang Diệu đã nhờ sự cố vấn của các một số tu sĩ thiên chúa giáo Tây Âu giúp ông thiết lập một ý thức hệ thống trị. Song sự việc không thành, họ Lý đã lựa chọn “giá trị châu Á” và số phận các tu sĩ này vẫn còn là một “bí mật quốc gia”!
       Trong trường hợp Singapore, chủ trương ban đầu của PAP và của Lý Quang Diệu là dùng tiếng Anh như một ngôn ngữ cho thương mại và kỹ thuật, hay nói cách khác là dùng tiếng Anh như một công cụ kinh tế. Ông cho rằng chỉ có thể bằng tiếng Anh thì các sinh viên sau khi ra trường mới có thể nắm bắt được các kiến thức của thế giới và làm được việc. Tuy nhiên, theo thời gian, tiếng Anh đã dần dần thay thế tiếng mẹ đẻ và đã trở thành ngôn ngữ đầu tiên (first language). Các thế hệ sau này, không còn sõi tiếng mẹ đẻ và do đó, các văn hóa truyền thống bị dần dần thui chột. Mặc khác, thông qua tiếng Anh, họ đã tiếp cận với văn hóa phương Tây và dần chịu ảnh hưởng. Văn hóa Trung Hoa và Khổng giáo cũng chịu chung số phận. Kết quả là các “giá trị châu Á” thỉnh thoảng chỉ xuất hiện ở mức lập luận của các chính trị gia. Trong khi người dân chỉ quan tâm đến kinh tế. Nói thêm là ngôn ngữ của người Singapore thường dùng hiện nay gọi là Singlish: một thứ tiếng Anh pha lẫn tiếng Hoa cả về ngữ điệu và từ vựng. Chỉ trong những dịp trang trọng thì họ mới dùng tiếng Anh chuẩn về ngữ pháp. Có một sự “đánh giá cao” đối với những người nói tiếng Anh chuẩn. Và tiếng Hoa ở đây “có một giá trị bình dân hơn” so với tiếng Anh.

5. Các tổ chức “chính trị nhánh” được sự hỗ trợ của chính phủ
     Như đã nêu ở trên, tính chính danh lãnh đạo của PAP dược xác định và thể hiện ở sự thành công về mặt kinh tế của Singapore. Tuy nhiên, để có được một vị trí thống lĩnh và chi phối chính trường một cách tuyệt đối, PAP, từ những ngày đầu tham gia chính trường Singapore, đã dựa vào những cơ sở chính trị nhánh (parapolitical institutions) để củng cố vị trí. Bằng cách áp dụng chính sách “huy động và tham gia có điều khiển” (controlled mobilization and participation), những cơ sở chính trị nhánh này vừa có mục đích hướng dẫn những nhân tài và thu dụng họ cho các lĩnh vực khác nhau của chính phủ. Ngoài ra, nó còn đóng vai trò như một môi trường truyền thông kiến tạo một hệ thống thông tin giữa người dân và chính quyền. Một khi điều khiển được những kênh thông tin hiệu quả như vậy và ngăn không cho đối lập tiếp cận với các cơ sở chính trị nhánh này, PAP đã thành công trong việc góp phần cô lập các đảng đối lập.  
         Ba loại hình “cơ sở chính trị nhánh” chính là: Trung Tâm Cộng Đồng (Community Centre - CC), Trung Tâm Tư Vấn của Công Dân (Citizen’s Consultative Committees), và Ủy Ban Địa Phương (Town Council). Việc dựa vào các cở sở chính trị này để củng cố quyền lực bắt đầu nổi bật từ những năm đầu thập niên 1960s.
        Trong những năm đầu thập niên 1960s, sau khi bị chia tách trong đảng PAP giữa hai phe: phe cộng sản (Barisan Sosialis) và phe Tây học thân phương Tây (PAP). Đứng giữa tình thế khó có thể củng cố được lực lượng trong một khoảng thời gian ngắn (khi mà khả năng tiếp cận các nghiệp đoàn và các cộng đồng người Hoa nằm trong tay các lãnh tụ theo cánh tả) để thực thi một vai trò quyết định trong một giai đoạn lịch sử quan trọng, các lãnh đạo PAP đã dựa vào các CC để tuyên truyền và củng cố những ảnh hưởng tới những cơ sở ở các khu vực dân cư. Kinh nghiệm nhận được và sự thành công trong chiến lược này là một nguyên nhân để PAP thúc đẩy việc mở rộng một cách có kiểm soát các cơ sở “chính trị nhánh” tương tự sau này.[10]
5.1. Trung Tâm Cộng Đồng (Community Centres - CC)
Cho đến năm 1959, các CC vốn được thành lập từ dưới thời thuộc địa, đóng một vai trò bên lề trong xã hội Singapore và hoạt động giống như các trung tâm giải trí cộng đồng. Một số được quản lý độc lập bi các ủy ban địa phương, trong khi một số khác bởi Bộ Phúc Lợi Xã Hội (Social Welfare Department). Tuy nhiên, ảnh hưởng của các CC từ từ vượt quá chức năng ban đầu khi hình thành dưới thời thuộc địa. Các trung tâm này dần đóng vai trò tích cực hơn liên quan đến các chính sách như nhà cửa, trợ cấp xã hội, hoặc các trung tâm cứu tế sau khi quân đội Nhật đầu hàng. Vị trí ảnh hưởng chính trị của hệ thống các trung tâm này từ từ nổi lên và được nhìn nhận từ trước khi xảy ra sự kiện đổ vỡ trong PAP. Các trung tâm này có một vai trò tích cực trong việc truyền bá các chủ trương, chính sách của nhà nước và hỗ trợ trong nỗ lực hình thành một quốc gia. Ngoài ra, nó còn đóng vai trò trong việc củng cố quyền lực của PAP bằng cách tăng cường ảnh hưởng và sự hiện diện của PAP xuống tới các khu vực dân cư nghèo khó.
 5.2. Trung Tâm Tư Vấn của Công Dân (Citizen’s Consultative Committees - CCC)
       Các CCC được thành lập vào năm 1965 và là một phần trong cơ chế nhằm tìm kiếm và nuôi dưỡng những lãnh đạo không chính thức (informal leader). Một cách riêng biệt, các tổ chức này còn được nhìn nhận như là một cơ chế nhằm tăng cường việc xử lý những bất đồng nhỏ, và được làm theo mô hình trước đây khi quân đội Nhật chiếm đóng Singapore. Trong thời kì Nhật chiếm đóng, các hội đồng làng (village council) đã được dựng lên để ổn định trật tự và làm nhiệm vụ thông tin cho quân đội Nhật các tổ chức chống đối cơ sở. Sự khẩn cấp hình thành một cơ chế xử lý như vậy bắt nguồn từ kinh nghiệm cuộc xung đột sắc tộc xảy ra vào năm 1964; trong cuộc xung đột đó, các lãnh đạo phải viện đến các lãnh đạo không chính thức ở địa phương để hòa giải. Các CCC vừa truyền đạt thông tin hai chiều: các nguyện vọng và đề đạt từ nhân dân đến chính quyền và các chính sách từ chính quyền ngược trở lại. Mỗi đơn vị bầu cử có một CCC và thành viên của CCC do Nghị sĩ khu vực đề cử.
5.3. Ủy Ban Địa Phương (Town Council -TC)
       Mô hình các TC được đề xướng năm 1985 và được thí điểm lần đầu tiên vào năm 1986. Đây cũng là một nỗ lực của chính quyền trong việc duy trì cơ chế thông tin và ảnh hưởng tới các cơ sở địa phương. Mục tiêu ban đầu của các TC là tạo một cơ chế để các cư dân và các Nghị sĩ cùng nhau hợp tác nhằm quản lý các khu nhà chung cư (vốn hiện nay chiếm tới 90% nhà ở của người Singapore) và giữ gìn môi trường xung quanh. Sự thành công của các TC được đánh giá không chỉ ở khả năng quản lý các khu chung cư mà còn ở khả năng thúc đẩy sự hợp tác của người dân đóng góp những đề xuất trong việc quản lý. Các viên quản lý các khu TC thường là các vị lãnh đạo trong cộng đồng qua sự chọn lựa của các Nghị sĩ. Và chính vì vậy, khả năng của các Nghị sĩ được đánh giá một phần qua khả năng điều hành các khu TC và khả năng quản lý các quỹ được phân bổ về.

6. Tham nhũng ở Singapore
Theo Tổ chức Minh Bạch Thế Giới năm 2006,[11] Singapore xếp hạng thứ 5 trong bảng xếp hạng về đánh giá mức độ tham nhũng trên thế giới (Corruption Perception Index – CPI). Trong một đất nước mà do một đảng thống trị, chỉ số này còn phần nào phản ánh sự trong sạch của đảng lãnh đạo. Vụ án tham nhũng nổi bật nhất trong PAP xảy ra vào năm 1986. Bộ Trưởng Phát Triển Quốc Gia Teh Cheang Wan đã tự tử 12 ngày sau khi bị thẩm vấn trong vòng 16 giờ đồng hồ bởi hai nhân viên cục Điều Tra Hành Vi Tham Nhũng Singapore (Corrupt Practices Investigation Bureau - CPIB). Trong vụ này, Teh bị tố cáo bởi một nhà thầu xây dựng và bị buộc tội nhận khoản tiền lên đến một triệu đô la Singapore trong hai năm 1981 và 1982 từ hai nhà phát triển dự án để cho phép một trong hai người giữ lại phần đất vốn đã được thu lại bởi nhà nước, và giúp đỡ người kia trong việc mua lại phần đất của nhà nước để phát triển dự án cá nhân. Hệ quả của vụ án này là việc tu chỉnh lại luật tham nhũng vào năm 1989, theo đó cho phép sung công tài sản có đựợc liên quan đến tham nhũng. Dựa theo luật mới, trong khoảng thời gian sáu năm tình đến ngày người đã chết, bất cứ tài sản nào có được do liên quan đến hành vi tham nhũng thì sẽ được sung công quỹ. Những tài sản sung công quỹ bao gồm những khoản mà không chứng minh được thu nhập hợp pháp thỏa mãn những yêu cầu giải trình của tòa án.
      Ngoài ra, việc chống tham nhũng còn đóng vai trò như một cương lĩnh hoạt động, và nhận được nhiều ủng hộ của cử tri, góp phần tạo dựng nên vị trí chính trị cho PAP từ những ngày đầu tham gia chính trường. Hành động quyết tâm chống tham nhũng đóng một vai trò quan trọng dẫn đến thắng lợi của PAP của Singapore vào năm 1959. Sau khi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Ủy Ban Thành Phố (City Council) vào tháng 12 năm 1957 và trên cương lĩnh chống tham nhũng – vốn đã là một vấn đề nổi cộm có từ thời thuộc địa Anh – PAP khởi đầu chiến dịnh vận động tranh cử bằng cách tiết lộ Bộ Trưởng Giáo Dục của Mặt Trận Lao Động (Labour Front), Chew Swee Kee, đã nhận tiền hối lộ từ chính quyền Mỹ nhằm đánh bại PAP trong cuộc tổng tuyển cử. Thủ Tướng (Chief Minister), Lim Yew Hock, đã chỉ định một Ủy Ban Điều Tra, và Chew đã thừa nhận nhận tổng cộng bảy trăm ngàn đô la Singapore vào hai lần từ chính phủ Mỹ. Việc thừa nhận tham nhũng của Chew đã đánh dấu chấm hết cho số phận của đảng của ông, và PAP thắng cử lớn vào năm 1959.
        Trong những năm đầu lãnh đạo, vì không có khả năng để nâng lương cho các nhân viên công vụ, để chống tham nhũng PAP đã bắt đầu xiết chặt các luật vốn đã có để làm giảm cơ hội tham nhũng, đồng thời tăng mức hình phạt các hành vi tham nhũng. Các luật về chống tham nhũng lần lượt được ra đời và tu chỉnh theo thời gian (1963, 1966, 1981, 1989). Bên cạnh đó, CPIB được thành lập và được trao một quyền hành lớn hơn, chịu trách nhiệm theo dõi, điều tra các hành vi liên quan đến tham nhũng của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào và sẵn sàng bắt giữ nếu thấy cần thiết. Được đặt trong phủ thủ tướng, nên mặc dù với một số lượng nhân viên không nhiều (71 nhân viên, số liệu năm 1994), CPIB thực hiện được vai trò của mình bằng cách kết hợp với các cơ quan khác. Những năm sau này, khi nền kinh tế khởi sắc và quốc gia có một ngân khoản dồi dào hơn, chính phủ nâng lương công chức từ từ, một phần nhằm thu hút nhân tài nhằm tăng hiệu quả hoạt động của chính quyền, một phần giảm thiểu tham vọng tìm cơ hội tham nhũng của các công chức nhà nước .[12]
      Thành tích chống tham nhũng của Singapore có được trước hết là nhờ một ý chí chính trị mạnh mẽ và người cầm quyền đủ quyền lực và trong sạch để thực thi việc chống tham nhũng. Không thể nói đến chuyện chống tham nhũng khi mà chỉ có những “con cá nhỏ” bị đem ra xử trong khi những “con cá lớn” vẫn nhởn nhơ. Một cơ quan chống tham nhũng độc lập, không trực thuộc lực lượng cảnh sát (vốn thường rất tham nhũng), và có đủ quyền lực để thực thi những biện pháp dựa trên một bộ luật hợp lý mang tính răn đe là một điều kiện cần cho việc chống tham nhũng thành công. Một mức lương hấp dẫn để cho viên chức có thể sống được bằng cách tinh giản bớt bộ máy sẽ giúp cho giới công chức hạn chế được ý muốn tham nhũng bằng mọi cách. Việc tinh giản bộ máy nằm trong cơ chế tinh giản các thủ tục cũng sẽ đóng vai trò giảm bớt các cơ hội để tham nhũng. Và cuối cùng, nhờ vào điều kiện đặc thù của một đảo quốc nhỏ, Singapore dễ dàng quản lý và thực hiện các luật hơn. Trong khi cục chống tham nhũng của Hồng Kông có một cơ quan tuyên truyền và đưa ra các bản báo cáo thu chi tài chính hàng năm, thì CPIB của Singapore đã giữ một khoảng cách với dân chúng và có tính bí mật. Các chính sách của Singapore tập trung vào việc giảm cơ hội để tham nhũng và động lực để tham nhũng, thì Hong Kong chỉ tập trung vào việc giảm bớt cơ hội để tham nhũng.

7. Tạm kết luận
      Sự hiện diện của các viên chức nước ngoài trong một chế độ thuộc địa dù với bất kì một khẩu hiệu nào (kể cả khai sáng) ở vào thời điểm cuối của phong trào thuộc địa đã trở thành một hình ảnh không mấy thiện cảm đối với người dân địa phương. Đây cũng là thời điểm mà phong trào đòi độc lập của các nước thuộc địa dâng lên cao và lan tỏa. Nếu hiểu rằng chính trị là nghệ thuật dẫn dụ lòng người, thì việc thõa mãn những tâm tư, nguyện vọng thầm kín nhất của quần chúng là bước ban đầu. Không gì hay hơn trong thời điểm này là trương lên một khẩu hiệu xây dựng một đất nước độc lập tự chủ, dân chủ và một tương lai tươi sáng hơn cho những con người trên đất nước ấy. PAP đã dựa trên một quan điểm như vậy để tranh thủ một vị trí quyền lực lâu dài cho mình.
       Ở đây, một ý thức hệ rõ ràng chỉ được hình thành sau khi giới lãnh đạo nắm giữ được chính quyền. Và do đó, ý thức hệ chỉ đóng vai trò là một phương cớ nhằm thực hiện một trật tự xã hội mới, trong đó một đồng thuận xã hội mới được hình thành và dẫn dắt bởi các ý tưởng của giới lãnh đạo. Như trên đã đề cập, một cuộc cách mạng xã hội được xem là thành công và có ý nghĩa, trước hết, chỉ khi theo sau nó phải là một sự phát triển kinh tế trên bình diện quốc gia và sự nâng cao đời sống vật chất trên từng cá thể. Và khi mà đa số người dân không có nhiều thì giờ để tìm hiểu một cách tường tận một hệ thống ý thức hệ - vốn dĩ đã quá hàn lâm và thường được biết đến chủ yếu bởi một vài điểm nhấn – , thì sự nhìn nhận một ý thức hệ được gắn liền với sự thành công về mặt kinh tế là điều dễ hiểu. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra đối với một đảng cầm quyền trước hết là có hay không một giải pháp kinh tế phát triển quốc gia. Điều này được nhìn thấy rõ hơn khi các chế độ chính trị sau một thời gian dài ổn định đã sụp đổ khi mất khả năng kiểm soát hay phát triển nền kinh tế.
          Và cuối cùng, sự ủng hộ của các đảng chính trị đến từ người dân. Việc tạo ra một cơ chế nhằm phát hiện, tuyển dụng, và đào tạo những lãnh đạo tự nhiên và tài năng xuất thân từ những cơ sở quần chúng sẽ giúp cho các đảng chính trị củng cố được quyền lực nền tảng. Bên cạnh đó, một cơ chế như vậy cũng sẽ đóng vai trò như một kênh truyền thông hai chiều nhằm thông tin các chủ trương, chính sách của đảng chính trị đến người dân và thu nhận những góp ý từ phía ngược lại. Phương pháp này đã chứng minh sự hiệu quả trong việc giảm ảnh hưởng và quyền lực của đối lập bằng cách không cho đối lập tiếp xúc với những cơ chế như vậy.
      Sự thành công về kinh tế của Singapore trong suốt hơn 40 năm đã là một đề tài thường xuyên được nhắc đến và trích dẫn như một mô hình tham khảo về phát triển kinh tế đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là tại các nước mà mô hình độc đảng vẫn đang còn thống trị. Nó được đư ra như là một biện cứ nhằm bảo vệ cho lập luận rằng mô hình độc đảng vẫn có thể đưa đất nước đi lên về mặt kinh tế. Sẽ là một thiếu sót khi nhìn về sự phát triển của một đất nước thông qua duy nhất chỉ những con số về kinh tế và mức sống của người dân. Sự phát triển trên bình diện quốc gia còn nằm ở những thang giá trị về văn hóa và tinh thần – những giá trị mà khó có thể được cân đo bằng những con số, mà bằng chính sự cảm nhận thông qua trao đổi hay tiếp xúc, và những phát kiến mang tính sáng tạo. Những giá trị này đóng vai trò nòng cốt, nền tảng cho những hành động dẫn đến những đột phá trong kinh tế hay kĩ thuật, đặt biệt trong thời đại kinh tế tri thức, dựa vào khả năng tư duy độc lập và sáng tạo ngày nay. Ngoài ra, nó còn giúp kiến tạo nên một văn hóa đặc thù và giúp duy trì bẳn sắc văn hóa của một dân tộc.
     Trở lại trường hợp Singapore, việc dễ nhận thấy nhất thông qua tiếp xúcvới tầng lớp thanh niên đó là: mối quan tâm duy nhất của họ là kinh tế - có một mảnh bằng tốt, một công việc tốt và một cuộc sống sung túc về vật chất để thụ hưởng. Mọi vấn đề khác đã có chính phủ lo. Sự thờ ơ của tầng lớp có học thức này đối với đất nước đã được chính ông Lý Quang Diệu lên tiếng cảnh báo. Tuy nhiên, làm sao trách được họ khi mà PAP độc quyền đưa ra những chính sách và quan điểm; và giới trẻ có một cảm nhận họ đứng bên lề các tranh luận chính trị - một hệ quả của sự đàn áp các ý kiến chỉ trích những chính sách hay hành động của chính phủ và các thành viên vốn đã từng xảy ra trước đây. Các đề tài hay ý kiến mang tính chỉ trích hay phê phán chính phủ đã được hiểu là nhạy cảm.
          Một ví dụ khác đó là việc thiếu hẳn một văn hóa nghiên cứu và tinh thần khoa học ở các trường đại học lớn ở Singapore. Một môi trường văn hóa nghiên cứu (thường xuất hiện ở các trường đại học danh tiếng, nơi đào tạo ra các vị lãnh đạo của quốc gia) thường là nơi diễn ra những cuộc tranh luận về bất cứ những phát kiến hay ý tưởng mới mà hầu như không có đề tài cấm kỵ nào. Môi trường này là nơi để các trí thức trẻ trao đổi và trau dồi tư duy, tư tưởng. Việc thiếu một môi trường như thế khiến những trí thức trẻ của Singapore tốt nghiệp đại học trở thành những người “thợ cao casp của nền công nghiệp hóa” hơn là những trí thức có tư duy độc lập và phản biện, cũng như có mối quan tâm nhiều hơn về đất nước – lực lượng nòng cốt để đóng vai trò những lãnh đạo tương lai của đất nước.
       Để lập khoảng trống này, những sinh viên ưu tú sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học đã được tuyển lựa để đưa đi đào tạo tại chủ yếu là Anh và Hoa Kỳ. Những sinh viên này sau khi tốt nghiệp sẽ trở thành những người lãnh đạo tương lai của Singapore. Và một hệ quả khác bắt đầu: quá trình Tây hóa không cưỡng được bắt đầu từ chính những người lãnh đạo Tây học.
        Một câu hỏi được đặt ra đó là Singapore có thể làm mô hình (một đảng để phát triển đất nước) tại những quốc gia đang phát triển có diện tích và dân số lớn hơn gấp nhiều lần, và với một sự khác biệt về văn hóa, tư tưởng lớn. Một sự so sánh như thế khá khập khiểng và thường xảy ra nhiều tranh luận. Nhưng một vấn đề dễ nhận thấy đối với Singapore đó là sự can thiệp quá sâu và mọi sinh hoạt của đời sống người dân (theo cách này hay cách khác) và tầng lớp trí thức trẻ nằm ngoài PAP dường như không có ý kiến nào đối với hướng đi của đất nước. Một cảm giác giống như một “công dân nước ngoài”!

Chú thích 

[1]  PAP, viết tắt của People Action Party, đảng Nhân Dân Hành Động, nắm quyền ở Singapore từ khi nước này được thành lập cho đến nay. 
[2] Lý thuyết của Gramsci phát triển nhằm vạch ra các quá trình để xây dựng một vị trí lãnh đạo về tinh thần (moral leadership) thông qua quyền lãnh đạo ý thức hệ. Xem Antonio Gramsci, 1971, “Selections from the Prison Notebooks” Lawrence and Wishart. New York, trang 181-182.
[3] Beng Huat Chua, 1995,  “Communitarian Ideology and Democracy in Singapore” , London: Routledge,  trang 13.
[4] Beng Huat Chua (1995), trang 16-17. 
[5] Beng Huat Chua (1995), trang 48-50.
[6] Beng Huat Chua (1995), trang 64. 
[7] Beng Huat Chua (1995), trang 69-70  
[8] Beng Huat Chua (1995), trang 75. 
[9] Vài điều về vấn đề ý thức hệ: Thứ nhất, một ý thức hệ chính trị là một hệ thống khái niệm phức hợp, được tổ chức một cách lỏng lẻo, và nòng cốt bởi một vài khái niệm chính mà những người cầm quyền viện dẫn nó như là những giải pháp cho những vấn đề trong hệ thống chính trị. Việc phân tích các tác động của những khái niệm ý thức hệ phải tập trung vào tính hợp lý tùy theo hoàn cảnh lịch sử, thay vì các cấu trúc hệ thống của chúng. Chính vì thế mà khoảng cách giữa yêu cầu cho tính hệ thống và yêu cầu khi tập trung vào tính hợp lý theo hoàn cảnh lịch sử có thể bị khai thác như là một cơ sở cho những chỉ trích mang tính ý thức hệ.
     Thứ hai, sự đồng thuận (hay quyền lãnh đạo) về ý thức hệ cho phép hệ thống những ý tưởng của nhóm cầm quyền được chấp thuận một cách khá lỏng lẻo, được dần dần truyền bá bởi những giai cấp bị trị và được xem như là “điều thực tế hiển nhiên trong đời sống hằng ngày”.  Trong những điều kiện như vậy, “chính sách hóa” xã hội (do sự đồng thuận không bao giờ là tuyệt đối) được sử dụng như là bước cần thiết để duy trì lợi ích chung của xã hội theo yêu cầu của số đông. Trong đó, giới cầm quyền và giới bị trị là hai thực thể chính trị cùng chia sẻ những khái niệm ý thức hệ và cùng đóng góp xây dựng một trật tự xã hội vốn do giới cầm quyền đề xướng. Do đó, các thành viên của đảng cầm quyền không thể hiện diện như những kẻ cai trị mà thay vào đó là những lãnh đạo của nhân dân (,làm gương cho nhân dân). Ngược lại, khi không có sự đồng thuận về ý thức hệ, sự cưỡng bách hay dùng vũ lực là điều cần thiết để dập tắt những nhóm chống đối. Trong những trường hợp như vây, việc thể hiện quyền lực đóng vai trò chi phối. Điều này thường có nguy cơ dẫn đến sự khủng hoảng về tính chính danh của đảng cầm quyền. Do đó, các đảng cầm quyền luôn cố gắng  cầm quyền  bằng khả năng lãnh đạo (leadership) thay vì khả năng dùng vũ lực (naked force); và họ  thường cố gắng dùng một nguồn lực đáng kể nhằm duy trì một điều kiện đồng thuận về chính trị.
    Thứ ba, bởi vì những điều không tương đồng mang tính hệ thống giữa những khái niệm và sự hợp lý của những khái niệm này tùy vào điều kiện lịch sử, những khái niệm liên quan thường được viện dẫn để đưa ra những lối giải thích có tính thuyết phục hơn tới giai cấp mà nhóm cầm quyền muốn nhắm tới. Điều này đôi khi cũng tạo ra kẻ hở cho những chỉ trích. Tuy nhiên, dưới những điều kiện đồng thuận như vậy, các chỉ trích (thường có) không ảnh hưởng gì mấy đến tính “hợp pháp” của lối giải thích xuất phát từ những người cầm quyền, vốn đã nhận được sự ủng hộ mạng mẽ của một lực lượng trung thành đông đảo.
      Cuối cùng, vì sự đồng thuận ý thức hệ chính trị là một sự kiện có tính chung chung được phân tán trong toàn chính thể, nó không thể đạt được một cách giới hạn vào một lãnh vực đời sống cụ thể nào. Và do đó, đối với đa số quần chúng, vốn không có nhiều thời gian và kiên nhẫn để cố hiểu hết ý nghĩa của những khái niệm này, sự thăng tiến về các điều kiện sống và các thành tựu thấy được trên bình diện quốc gia và cá nhân là những câu trả lời của họ đối với một ý thức hệ.
      Bắt đầu là các dự án xây nhà, bán giá rẻ và trả góp cho người dân, chăm lo, nâng cao giáo dục, y tế, rồi nâng cao mức sống người dân, đến tạo một vị thế cho Singapore trên diễn đàn thế giới. Các chính sách liên tục thành công đã mặc nhiên tạo được một đồng thuận trong dân chúng về tính chính đáng của PAP trong lãnh đạo và ý thức hệ của nó. 
[10] Michael Hill và Lian Kwen Fee, 1995,  “The politics of national bulding and citizenship in Singapore”, London: Routledge, trang 170-187. 
[12] Jon S. T. Quah, 1995, “Controlling corruption in city-states: A Comparative Study of HongKong and Singapore”, Crime, Law & Social Change, Kluwer Academic Publishers.
Mức lương của các viên chức cao cấp trong chinh quyền Singapore hiện nay thuộc hàng cao. Trong lần điều chỉnh lương vào năm 1989, lương hàng tháng của nhân viên hạng năm (Staff Grade V) là S$42,000 (US$26,103). Tuy vậy, mức lương này vẫn được cho là còn khiêm tốn so với các lãnh đạo cao cấp trong các khu vực tư nhân.

Tham khảo chính
Beng Huat Chua, 1995, “Communitarian Ideology and Democracy in Singapore”, London: Routledge.
Beng Huat Chua, 2004, “Communitarian Politics in Asia”, London: Routledge. 
Gentile, Gentile, 2006, “Politics as Religion”, Princeton University Press, 2006
Gramsci, Antonio “Selections from the Prison Notebooks” Lawrence and Wishart. New York, 1971
Jorge Larrain,“The Concept of Ideology”, The University of Georgia Press, 1979
Jorge Larrain, “Marxism and Ideology”, The Macmillan Press Ltd,1983
John Clammer, “Singapore Ideology, Society, Culture”, Chopmen Publishers, 1985  
István Bessenyei, Jean-Pier Cotton, Wieland, et al. Rethinking Ideology: A Marxist Debate” International General/IMMRC, 1983.
Lucio Colletti “From Rousseau to Lenin – Studies in Ideology and Society”, Monthly Review Press, 1972
Michael Hill và Lian Kwen Fee “The politics of national bulding and citizenship in Singapore
Robert Porter, “Ideology – Contemporary, Social, Political and Cultural Theory”, University of Wales Press, 2006  
Sassoon Anne Showstack “Gramsci’s Politics”, Croom Helm, London 1980
Maker of Modern Social Science – Karl Marx” edited by Tom Bottomore, Prentice –Hall, Inc, 1973.
Singapore”, Wikipedia. Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Singapore
Communism Ideology”, Wikipedia.  Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Communism_Ideology
Waxman, Chaim I., 1968, “The End of Ideology Debate”, Funk & Wagnalls, A Division of Reader’s Digest Books, Inc.
                                                                                     


© Thời Đại Mới