Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Chánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Chánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2016

Trung Quốc – cường quốc tài chính thế giới?

Việc tập đoàn nhà nước Trung Quốc Dongfeng mua lại một phần vốn của tập đoàn ôtô PSA (Pháp); tập đoàn Fosun mua lại nhà bảo hiểm hàng đầu Bồ Đào Nha hay tập đoàn Lenovo mua lại Motorola và hệ thống máy chủ cấp thấp của tập đoàn IBM đánh dấu sự phô trương của các nhà đầu tư Trung Quốc trong năm 2014. Người ta còn biết đến cơn khát của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như vai trò trung tâm của Trung Quốc, chủ nợ hàng đầu của Mỹ, trong việc cơ cấu lại nguồn tiền tiết kiệm trên bình diện thế giới. Hiện thế giới cũng chứng kiến quy mô quốc tế hóa của các doanh nghiệp Trung Quốc.
Trung Quốc, với lượng dự trữ ngoại tệ hiện đã cao hơn GDP hàng năm của Đức, không chỉ xuất khẩu hàng hóa, máy móc trang thiết bị, mà còn cả vốn. Một nửa lượng dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc không những có thể đủ để hoàn trả nợ cho Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland, Tây Ban Nha cộng lại, mà còn có thể góp vốn cho các tập đoàn Google, Apple, Microsoft, IBM và các công ty tài chính ở khu Mahattan (Mỹ). Là cường quốc công nghiệp và là nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới, liệu Trung Quốc sẽ giành thêm một danh hiệu mới và từng bước chứng tỏ là cường quốc tài chính của thế giới hay không? Việc tăng cường đầu tư của Trung Quốc ra nước ngoài có thể khiến người ta nghĩ đó là một sự bành trướng tài chính gây sốc. Tuy nhiên, tính đến thực trạng của hệ thống tài chính và vai trò rất khiêm tốn của đồng nhân dân tệ trên bình diện quốc tế, con đường với Trung Quốc sẽ còn dài để họ có thể đạt được vị thế tài chính như vậy.
Tiết kiệm, nguồn tài chính gia tăng của Trung Quốc
Sự gia tăng nguồn tài chính của Trung Quốc xuất phát từ nguồn lực tiết kiệm đặc biệt của nước này, chiếm 30% tổng lượng tiết kiệm của thế giới. “Đất nước giàu, người dân nghèo”, đó là nghịch lý của Trung Quốc hiện nay: trong khi thu nhập bình quân đầu người hàng năm không đạt tới mức 7000 USD, thì người khổng lồ Trung Quốc lại là chủ nợ bù đắp cho mức thâm hụt tài chính của Mỹ hay châu Âu, nắm giữ một lượng tài sản ở nước ngoài tương đương với GDP của Canada và đầu tư hàng tỉ USD để mua lại các công ty hay sở hữu các nguồn tài nguyên ở khắp nơi trên thế giới. Trung bình, các hộ gia đình Trung Quốc tiết kiệm 27% nguồn thu nhập của họ, cao gấp hai đến ba lần so với phần còn lại của thế giới. Nhờ vào việc cải thiện nguồn tiền lương, tỉ lệ tiết kiệm này đã không ngừng tăng theo thời gian, tuy mức tiêu dùng vẫn còn hạn chế. Rõ ràng các hộ gia đình Trung Quốc ít có sự lựa chọn. Họ phải có một nguồn tiết kiệm dự phòng quan trọng – và do vậy đã dẫn đến việc hạn chế tiêu dùng – nhằm đối mặt với hai vấn đề cơ bản: nguồn trợ cấp an sinh xã hội suy giảm và giá bất động sản tăng mạnh. Đối với các doanh nghiệp, nhìn chung rất có lãi, họ chuyển hầu như toàn bộ nguồn lợi nhuận của mình vào quỹ dự phòng, nhờ vậy góp phần tích lũy, tiết kiệm một lượng vốn đáng kể. Về phần mình, nhà nước Trung Quốc đã từ bỏ từ những năm 1980 hệ thống bao cấp thời Mao Trạch Đông vốn đảm bảo việc làm, chăm sóc y tế và chế độ hưu trí, và vẫn chưa có một hệ thống trợ cấp xã hội phổ biến nào thay thế nó. Sau cùng, các doanh nghiệp và hệ thống Đảng – Nhà nước được xem là những chủ thể thắng lớn từ sự tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc: nguồn dự trữ tiết kiệm của họ tăng gây bất lợi cho thu nhập của các hộ gia đình, vì lương không tăng theo lợi nhuận thu được từ sản xuất. Nguồn tiết kiệm chung của các chủ thể kinh tế góp phần vào sự giàu có của nước này, tuy nhiên lại gây thiệt hại cho mức sống của nhân dân. Chính nguồn tiết kiệm chiếm một nửa GDP này đã tạo nên sức mạnh tài chính của Trung Quốc: Nó không chỉ giúp phát  triển kinh tế Trung Quốc, mà còn giúp giải phóng năng lượng vốn thặng dư đã khiến cho “ông chủ ngân hàng toàn cầu” mở rộng tầm ảnh hưởng quốc tế. Là “ông chủ ngân hàng”, Trung Quốc đã khoác lên mình một chiếc áo hai lớp. Trước hết là một chủ thể cho vay: Với lượng tiền dồi dào, Trung Quốc mua lại các khoản nợ công của các nước phát triển, và đặt mình vào vị thế như một dạng “Ngân hàng thế giới phẩy” tài trợ cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên, nước này cũng là một ngân hàng đầu tư khổng lồ thông qua các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các doanh nghiệp Trung Quốc, nhằm tìm kiếm những nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn công nghệ và các thị trường mới.
Với nguồn dự trữ ngoại tệ khổng lồ: ưu tiên cho Mỹ
Lượng dự trữ ngoại tệ khổng lồ của Trung Quốc, 3820 tỷ USD vào cuối năm 2013, vừa là một át chủ bài chính yếu của Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng là một bài toán thực sự đau đầu. Việc quản lý nguồn dự trữ này cũng đặt ra vấn đề đối với giới chức chính quyền, muốn cân bằng giữa hai đòi hỏi khó tìm thấy sự tương thích: lợi nhuận tốt nhất có thể và duy trì ổn định giá trị của đồng nhân dân tệ, dù xu hướng tăng giá đồng nhân dân tệ bị xem nhẹ. Chiến lược đầu tư của Trung Quốc đòi hỏi sự thận trọng rất lớn: Nó ưu tiên sự an toàn và tính thanh khoản của lượng vốn đầu tư. Vậy nên Trung Quốc hướng ưu tiên đầu tư nhằm vào thị trường Mỹ. Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc có tới 70% bằng đồng USD, chủ yếu nằm ở phần đầu tư vào trái phiếu kho bạc Mỹ, với tổng số tiền lên đến 1269 tỷ USD vào cuối năm 2013. Do vậy, Trung Quốc là chủ nợ nước ngoài hàng đầu của Mỹ chiếm 23% tổng nợ nước ngoài của nước này; tiếp đến là chủ nợ Nhật Bản, nắm giữ 20% nợ nước ngoài của Mỹ. Nói cách khác, trung bình mỗi người dân Trung Quốc nắm khoản nợ 940 USD của Mỹ và mỗi người dân Mỹ nợ Trung Quốc 4000 USD. Trung tâm nghiên cứu Hội đồng quan hệ đối ngoại Mỹ kết luận “chưa bao giờ trong lịch sử một nước nghèo lại cho một nước giàu vay đến vậy”. Vậy phải giải thích như thế nào khi đất nước mới nổi này trong một thập kỷ đã trở thành chủ nợ chính của nền kinh tế hàng đầu thế giới? Lý do của sự không bình thường này thực sự đơn giản: Trung Quốc tiết kiệm rất nhiều, Mỹ thì không như vậy và do đó phải trông cậy vào các nguồn tiết kiệm dự trữ của nước ngoài, trong đó Trung Quốc đứng đầu. Sự mất cân bằng này phản ánh mối liên hệ ràng buộc cân bằng giữa hai nền kinh tế: Mỹ cần vốn tiết kiệm của Trung Quốc, Trung Quốc cần thị trường Mỹ để tiêu thụ sản phẩm của họ. Cả hai đều là “con tin” của nhau trong một dạng quan hệ cộng sinh cần thiết để duy trì sức tăng trưởng của mỗi bên. Cộng đồng lợi ích này đem lại cho hai đối tác một mối quan hệ rất khác biệt so với mối quan hệ lệ thuộc thường gắn giữa con nợ với chủ nợ. Ai trong số hai chủ thể này dễ bị tổn thương nhất? Thật khó nói. Nghịch lý là, chủ thể dễ bị tổn thương hơn có thể là Bắc Kinh, với việc đồng nhân dân tệ sẽ phải định giá lại. Hơn nữa, nếu giá trị của đồng USD giảm dưới sức ép của gánh nặng nợ nần, thì việc giảm giá trị lượng vốn của Trung Quốc bằng đồng USD có thể sẽ còn tăng mạnh hơn. Chưa kể lỗi mang tính kỹ thuật đối với khoản nợ của Mỹ không bị loại trừ, tiếp nối một sự phong tỏa kéo dài ở Quốc hội về việc tăng trần nợ công hàng năm. Dù khả năng thấp, song đó là một nguy cơ hiện hữu. Dù sao, giả thuyết đôi khi được nêu ra về cuộc chiến tiền tệ được Bắc Kinh phát động trong trường hợp tranh chấp thương mại hay chính trị chủ yếu. Sự phụ thuộc lẫn nhau của hai đối tác khiến cho kịch bản này ít trở nên tin cậy hơn, theo đó Bắc Kinh có thể sẽ thanh lý một phần quan trọng lượng trái phiếu trong số nợ công của Mỹ để tỏ rõ quan điểm của họ đối với Washington. Một sáng kiến như vậy có thể sẽ gây ra sự hỗn loạn trên thị trường tiền tệ, theo đó những hậu quả có thể sẽ rất khốc liệt đối với tăng trưởng của thế giới, bắt đầu là tăng trưởng của Trung Quốc. Các thị trường ở Mỹ vẫn không thể là những thị trường duy nhất hấp thụ nguồn tiền khổng lồ này, dù họ vẫn là những thị trường quan trọng nhất và có khả năng thanh khoản nhất thế giới so với các thị trường châu Âu và nhất là các thị trường châu Á quá nhỏ bé và phân tầng. Trong một chừng mực nào đó, Trung Quốc là “tù nhân” đối với lượng trái phiếu Mỹ, đặc biệt là trái phiếu kho bạc Mỹ, mà họ đã tích lũy. Mặt khác, lượng dự trữ quốc tế của họ tiếp tục tăng hàng năm và họ phải đa dạng hóa các địa chỉ cho vay vốn để hạn chế những rủi ro gắn với những biến động của đồng USD. Đó chính là con đường Trung Quốc đang theo đuổi, với sự thận trọng lớn, bằng cách hướng sang thị trường châu Âu.
Bắc Kinh, thần hộ vệ của châu Âu
Người ta đánh giá rằng Trung Quốc nắm 7% số nợ của châu Âu (khoảng 700 tỷ euro), chủ yếu là trái phiếu kho bạc Đức và Pháp. Trong cuộc khủng hoảng đồng euro, Trung Quốc đã hỗ trợ các nước mất ổn định nhất; đặc biệt trong năm 2010 và 2011, Trung Quốc đã cho Tây Ban Nha vay 6 tỷ euro và cũng số tiền như vậy đối với Hy Lạp và Bồ Đào Nha. Ngoài việc số tiền cho vay này có thể mang lại lợi nhuận cao, thì sự hỗ trợ tài chính này của Trung Quốc cũng đem lại cho họ những lợi ích kinh tế. Thực vậy, Bắc Kinh cần một đồng euro mạnh và một châu Âu phồn vinh – một châu Âu trong nhiều năm là thị trường xuất khẩu đứng thứ nhất hoặc thứ hai  của Trung Quốc. Họ cũng hy vọng nhờ đó mà có được các lợi ích chính trị, đạt được quy chế “kinh tế thị trường” và khiến châu Âu hủy bỏ lệnh cấm vận buôn bán vũ khí với Trung Quốc, điều mà cho đến nay họ vẫn chưa đạt được. Việc đa dạng hóa các địa chỉ đầu tư của Trung Quốc đối với các khoản nợ công châu Âu gắn với đồng euro có thể sẽ tiếp tục được duy trì nhằm giảm thiểu những tác động từ “cái bẫy đồng USD” mà hiện họ đang vướng phải. Tuy nhiên, khoảng cách biệt với nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc ở Mỹ sẽ không sớm bị lấp đầy. Từ cách nhìn này, Mỹ ở vị thế tốt hơn châu Âu: cả hai đều thâm hụt thương mại trầm trọng với Trung Quốc, song với Mỹ ít ra còn được hưởng lợi từ nguồn tiền dự trữ của Trung Quốc.
Trung Quốc, “một dạng Ngân hàng thế giới phẩy”
Là chủ nợ lớn của Mỹ và trong một chừng mực thấp hơn là đối với châu Âu, Trung Quốc cũng tỏ rõ uy thế và sức mạnh tài chính đối với các nước đang phát triển trong khuôn khổ “hợp tác Nam – Nam” được Trung Quốc tán dương. Trung Quốc đã trở thành “một dạng Ngân hàng thế giới phẩy”, không chỉ dựa vào viện trợ phát triển chính thức (ODA) mà còn thông qua các khoản cho vay được thỏa thuận với hai ngân hàng nhà nước: Ngân hàng xuất nhập khẩu Eximbank và Ngân hàng phát triển Trung Quốc (CDB). Nguồn vốn ODA của Trung Quốc ít được minh bạch. Chính phủ không công bố các số liệu chính xác và toàn diện vốn vẫn được xem là bí mật của nhà nước. Cuốn Sách Trắng đầu tiên, được công bố năm 2011, cung cấp những thông tin rất hạn chế. Người ta biết rằng tổng lượng vốn ODA của Trung Quốc trong giai đoạn 1950 – 2009 đạt khoảng 39 tỷ USD, trong đó 46% dành cho châu Phi và 23% dành cho châu Á.
Tuy nhiên, ODA của Trung Quốc về nguyên tắc chỉ chiếm một phần nhỏ trong các khoản hỗ trợ tài chính của Trung Quốc. Phần chủ yếu đến từ các nguồn tài chính do Eximbank và CDB tài trợ cho các nước châu Phi và Mỹ Latinh giàu có nguồn tài nguyên thiên nhiên. Những khoản cho vay tích lũy của CDB và Eximbank trong giai đoạn 2009 – 2010 lên đến 110 tỷ USD hơn cả các khoản cho vay cùng kỳ của Ngân hàng Thế giới. Trường hợp của Angola phản ánh rõ nét chiến lược của Bắc Kinh. Ngay khi kết thúc cuộc nội chiến năm 2002, các khoản cho vay của Eximbank đã được thực hiện dưới hình thức “đổi dầu lấy khoản vay”. Có khả năng hoàn vốn, họ đã tài trợ cho các dự án khai thác dầu khí cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng (bệnh viện, đường sá, trường học…) do các doanh nghiệp quốc doanh Trung Quốc thực hiện. Các khoản cho vay này hiện khoảng 15 tỷ USD trong khi Angola đang là nhà cung cấp dầu khí đứng thứ hai cho Bắc Kinh sau Saudi Arabia. Mô hình “đổi tài nguyên lấy các khoản vay” đã được sử dụng thêm ở nhiều nước khác, đặc biệt ở Venezuela, đã tiếp nhận 39 tỷ USD, chiếm gần một nửa trong tổng số các khoản vay của Trung Quốc đối với khu vực Mỹ Latinh kể từ năm 2005. Kết quả của sự hỗ trợ tài chính khổng lồ này: xuất khẩu dầu lửa của Venezuela sang Trung Quốc đã tăng gấp 12 lần chỉ trong vòng 7 năm và hợp tác hai nước không ngừng phát triển, kể cả trên bình diện chính trị và quân sự. Bắc Kinh đã nhận thấy ở Caracas một đồng minh giá trị chống lại chủ nghĩa bá quyền của Mỹ trong khu vực và đã nhận được nhiều sự ưu ái từ đất nước có trữ lượng dầu khí hàng đầu thế giới này, trước cả Saudi Arabia.
Gia tăng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Là “chủ ngân hàng toàn cầu”, Trung Quốc cũng đồng thời là một nhà đầu tư. Từ đầu những năm 2000 và đặc biệt từ năm 2005, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc đã bùng nổ lên tới mức gần 500 tỷ USD tính đến cuối năm 2013. Trung Quốc đã nhích lên, xếp thứ ba thế giới về lượng vốn FDI, song còn xếp sau xa so với Mỹ và Nhật Bản, chỉ chiếm 6% tổng lượng vốn FDI toàn cầu. Tuy nhiên, từ nay đến năm 2020, con số này có thể sẽ tăng từ ba đến bốn lần. Trái với hình ảnh người ta thường thấy ở phương Tây, bước đi của Trung Quốc không để nhằm tìm kiếm quyền lực hay quyết tâm áp đặt sự thống trị. Từng bước và thực dụng, Trung Quốc có mục đích chủ yếu là tìm cách khắc phục những phần khiếm khuyết cơ bản của nền kinh tế nước này vốn đang rất phụ thuộc vào nước ngoài.
Điểm yếu đầu tiên liên quan đến việc cung ứng nguồn nguyên liệu. Nguồn tài nguyên quan trọng của nước này còn thiếu hụt trầm trọng để có thể đáp ứng sự tăng trưởng nhanh và còn chưa thực sự tiết kiệm của Trung Quốc. Đặc biệt nhu cầu về năng lượng rất lớn: chiếm gần 12% GDP toàn cầu, Trung Quốc hấp thụ 21% nguồn năng lượng được sản xuất, và tỷ lệ này có thể tăng gấp đôi từ nay đến năm 2030. Một điểm yếu khác là sự phụ thuộc về công nghệ: Sử dụng công nghệ nước ngoài chiếm hơn 60% công nghệ ứng dụng ở Trung Quốc. Điểm yếu thứ ba là đất nước này phụ thuộc nhiều vào nhu cầu của thế giới: khi các thị trường xuất khẩu chính suy giảm, tăng trưởng của Trung Quốc cũng “hụt hơi”. Vì thế, người khổng lồ Trung Quốc buộc phải đầu tư ra ngoài đường biên giới để duy trì cỗ máy công nghiệp thèm khát nguyên liệu, thúc đẩy tăng hàm lượng công nghệ và tìm kiếm những thị trường mới. Những chủ thể nào đóng vai trò mở cửa hướng ra thế giới của Trung Quốc? Hệ thống Đảng – Nhà nước đóng vai trò trung tâm vừa là chủ thể tâm chiến lược, vừa là chủ thể can dự trực tiếp. Họ định hướng các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vào những ngành chiến lược và tác động trực tiếp thông qua các doanh nghiệp nhà nước mà Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) kiểm soát chặt chẽ. Các doanh nghiệp lớn quan trọng nhất của nước này – những nhà vô địch quốc gia hưởng lợi từ sự độc quyền hầu như hoàn toàn trong những ngành chiến lược. Họ là hiện thân của chiến lược quốc tế hóa do nhà nước điều hành, triển khai ¾ lượng vốn đầu tư ra nước ngoài. Các khoản tín dụng cần thiết được họ cho vay không hạn chế thông qua các ngân hàng thương mại lớn của nhà nước, trong đó các thành viên lãnh đạo là đảng viên ưu tú của đảng. Các doanh nghiệp nhà nước và hai ngân hàng thuộc chính phủ – Eximbank và CDB – là những chủ thể chủ chốt của nhà nước nhằm thực hiện chiến lược mở cửa ra thế giới. Cuộc tấn công theo quy mô lớn này có thể đã được tính toán kỹ và hoàn toàn có tổ chức. Dĩ nhiên, đường hướng chính rõ ràng đã được chính phủ xác định, song trên thực tế các chủ thể của Trung Quốc mới chỉ bắt đầu giai đoạn mở rộng ra nước ngoài của họ. Việc các chủ thể Trung Quốc còn thiếu kinh nghiệm quốc tế đã dẫn đến nhiều thất bại, hoặc do một số thương vụ đầu tư gặp thất bại thảm họa, hoặc do một số thương vụ khi triển khai gặp phải sự từ chối của các nước sở tại. Các doanh nghiệp Trung Quốc muốn đầu tư ra nước ngoài nhìn chung đều bị ngờ vực. Chính quyền các nước nhận đầu tư nghi ngờ về động cơ, mục đích, và cách thức quản trị của doanh nghiệp Trung Quốc, lo ngại hệ thống Đảng – Nhà nước chỉ sử dụng chúng như một công cụ để thúc đẩy các lợi ích kinh tế và địa chính trị. Sự thiếu tin tưởng này càng gia tăng khi đầu tư tác động đến các lĩnh vực nhạy cảm như an ninh kinh tế hay lợi ích quốc gia. Có lúc các giới chức kiểm soát đóng băng các giao dịch. Liên quan đến các lĩnh vực, việc tiếp cận nguồn nguyên liệu thu hút nhiều nhất nguồn vốn FDI của Trung Quốc. Trái ngược với trào lưu, Trung Quốc không đầu tư dàn trải, mà chỉ chọn đầu tư những gì họ còn thiếu, ưu tiên việc sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc bị ám ảnh bởi nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng hay khoáng sản. Thực vậy, hai lĩnh vực này chiếm hơn 2/3 tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc trong vòng 10 năm qua (71% trong đó 48% đầu tư, kiểm soát các nguồn năng lượng và 23% cho việc đầu tư, mua các loại khoáng sản). Nguồn tài chính huy động cho lĩnh vực này chiếm 10% ngành công nghiệp và xây dựng các công trình công cộng, mỗi ngành chiếm 6%, vận tải 4% và nông nghiệp chỉ 3%. Dù nhận được tiếng vang rất lớn trong lĩnh vực truyền thông, lĩnh vực công nhệ còn chiếm tỉ trọng tương đối thấp; tuy nhiên, tình trạng này sẽ sớm được cải thiện, vì việc mong muốn sở hữu các công nghệ tiên tiến giờ đây là một đòi hỏi cấp thiết nhằm gia tăng hàm lượng giá trị trong ngành công nghiệp Trung Quốc. Các điểm đến đầu tư của Trung Quốc dựa vào các ưu tiên hàng đầu về tiếp cận nguồn năng lượng và khoáng sản. Khu vực Bắc Mỹ và châu Á (kể cả Nga) đứng đầu với mỗi bên chiếm 18% tổng lượng đầu tư của Trung Quốc. Tiếp đến là khu vực Mỹ Latinh và châu Đại Dương (mỗi bên chiếm 17%). Châu Phi xếp vị trí thứ năm (12%), tiếp đến là châu Âu (10%) và Trung Đông (9%). Thứ hạng thấp nhất về đầu tư Trung Quốc ở Trung Đông lý giải rằng sự tiếp cận của Trung Quốc bị các chủ thể chính của phương Tây tìm mọi cách ngăn chặn.
Vậy làm thế nào để đánh giá tác động của luồng vốn đầu tư Trung Quốc tại các nước tiếp nhận? Tình hình khác nhau phụ thuộc việc đó là nước đang phát triển hay nước phát triển. Trong trường hợp các nước đang phát triển, các tiếng nói gia tăng như ở châu Phi để tố cáo chủ nghĩa thực dân mới của một nước Trung Quốc “săn mồi”, song núp dưới chiếc mũ “hợp tác đôi bên cùng có lợi”, nhằm tận vét nguồn tài nguyên của những nước nghèo. Một số lập luận ủng hộ luận thuyết này đã được đưa ra. Sự bất bình đẳng về cơ cấu những trao đổi – trao đổi nguyên liệu lấy các sản phẩm sản xuất giá rẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho một nền kinh tế thu lợi nhuận và đe dọa các ngành công nghiệp của nước sở tại, phải đương đầu với sự cạnh tranh của các sản phẩm giá cực rẻ. Quá tập trung vào việc tiếp cận, khai thác nguồn nguyên liệu, lượng vốn đầu tư của Trung Quốc ít góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp và tạo thêm việc là ở các nước sở tại, khi mà các doanh nghiệp Trung Quốc thường đưa lao động trực tiếp của họ đến các thị trường này. Tuy nhiên, sự bành trướng của Trung Quốc không phải chỉ có những bất lợi. Việc giá nguyên liệu thế giới tăng xuất phát từ nhu cầu của Trung Quốc cũng giúp cho một số nước đang phát triển tăng trưởng mạnh mẽ trong suốt thập niên qua. Hơn nữa, Trung Quốc đã đầu tư hàng chục tỷ USD, đặc biệt ở châu Phi, để xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển. Trong những nước phát triển, vốn đầu tư của Trung Quốc đa dạng hơn. Như mọi nguồn vốn đầu tư nước ngoài, chúng có thể có những hiệu quả tích cực, nhất là việc góp phần tăng thêm nguồn vốn góp và tạo thêm công ăn việc làm. Việc gần đây tập đoàn Dongfeng góp 800 triệu euro vào tập đoàn ôtô PSA (Pháp) cho phép nhà sản xuất này củng cố cơ cấu tài chính và theo đuổi các kế hoạch đầu tư chiến lược. Về vấn đề việc làm, tổng kết về hiệu quả vốn đầu tư của Trung Quốc còn khá khiêm tốn: người ta đánh giá hiện có khoảng 27000 nhân viên đang làm việc trong các doanh nghiệp Trung Quốc ở Mỹ (chiếm gần 1% nhân viên sở tại làm việc trong các doanh nghiệp nước ngoài) và 45000 nhân viên sở tại làm việc trong các doanh nghiệp Trung Quốc ở châu Âu. Những kết quả đáng khích lệ này không che đậy những nguy cơ kinh tế tiềm tàng đối với những nước tiếp cận vốn đầu tư Trung Quốc: sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp sở tại với các doanh nghiệp Trung Quốc, nhất là khi các doanh nghiệp này thuộc sở hữu nhà nước; việc du nhập các tiêu chuẩn xã hội dẫn đến việc làm suy giảm các điều kiện làm việc; và nhất là việc mất đi một át chủ bài chiến lược khi chuyển giao công nghệ. Nếu việc chuyển giao hướng tới những công nghệ tiên tiến, thì nguy cơ đối với doanh nghiệp phương Tây rất lớn, có thể khiến họ bị loại dần từng bước khỏi thị trường nội địa Trung Quốc và phải đối mặt với một đối thủ cạnh tranh đáng ngờ trên thị trường xuất khẩu; các ví dụ về hạt nhân, tàu cao tốc TGV hay hàng không cho thấy điều đó. Sự thận trọng có thể được tính đến để không phải nhượng bộ hay chia sẻ công nghệ mới nhất, song có thể chỉ là những công nhệ bình thường. Từ quan điểm này, việc chia sẻ công nghệ được quy định trong Thảo thuận PSA – Dongfeng thể hiện chút dè dặt. Một lĩnh vực khác mà luồng vốn đầu tư của Trung Quốc có thể đặt ra vấn đề: an ninh quốc gia. Mối nguy hiểm là hiện thực khi nói đến các công nghệ nhạy cảm, ví dụ các công nghệ sử dụng cho mục đích dân sự và quân sự, hay việc kiểm soát các cơ sở chiến lược. Trong lĩnh vực này, sự cảnh giác là rất cao.
Vượt qua những nguy cơ này, chính phủ các nước phương Tây nghi ngờ về chính sách được thực hiện mang tính tương hỗ. Ngoài những trường hợp được dự liệu trong luật chống độc quyền và những ngoại lệ liên quan đến an ninh quốc gia, chính phủ các nước Mỹ và châu âu mở rộng cửa cho đầu tư nước ngoài. Điều này không giống với thị trường Trung Quốc nơi các nhà đầu tư nước ngoài luôn phải chịu nhiều quy định chặt chẽ. Từ năm 2014, các cuộc thương lượng đã được tiến hành hướng tới một hiệp định tự do hóa luồng vốn đầu tư giữa Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc. Các cuộc thương lượng gặp khó khăn khi vấn đề động chạm đến chính sách công nghiệp của nhà nước và sự kiểm soát tập trung nền kinh tế, khiến Bắc Kinh phải thay đổi thái độ.
Thủ đoạn thống kê lớn khác tại châu Á xuất hiện trong mối quan hệ với việc niên yết phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO). Không ở đâu hơn tại châu Á việc phát hành cổ phiếu thường bị niêm yết quá mức bởi những bội số lố bịch. Thông thường điều này xảy ra bởi các quỹ hưu trí của chính phủ chiếm một số lớn cổ phần, chỉ một số ít dành cho các nhà đầu tư thể chế và phát hành cho công chúng. Nhưng cách thức chính mà việc IPO trở nên bị đăng ký quá mức là bởi vì hiếm khi ở châu Á có hơn 25% số công ty cổ phần được thả nổi tự do trên thị trường chứng khoán. Lấy trường hợp Ngân hàng Mandiri của Chính phủ Indonesia, ngân hàng lớn nhất của Indonesia và cho đến nay thuộc sở hữu nhà nước. Khó mà nghĩ một ngân hàng nào với lịch sử điều hành sai lầm lớn hơn. Nó được thành lập theo sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á bằng sự sáp nhập nhiều ngân hàng quốc doanh vỡ nợ trên quy mô lớn và tham nhũng của Indonesia thành một thực thể. Nhưng thành thật mà nói, gia cố những mảnh vụn thành một đống chẳng thể thay đổi những đặc tính nền tảng của các thành phần của cái đống đó, mặc dù nó tạo thành một bối cảnh trật tự hơn.
Vậy chuyện gì đã xảy ra với việc IPO ngân hàng Mandiri vào giữa năm 2003? Nó đã được đăng ký quá mức gấp ba lần. Sự phấn khích không thể kiểm soát được vượt quá giá trị của công ty? Không phải vậy. Thực tế là việc IPO chỉ dành cho 10% tổng số cổ phần của ngân hàng. 90% còn lại được chính phủ giữ lại. Các nhà đầu tư thể chế theo đuổi Thị trường Chứng khoán Jakarta bị buộc phải giành được cổ phiếu, khi Ngân hàng Mandiri không thể tránh được sẽ được tính vào trong chỉ số giao dịch phức hợp. Với việc phát hành hẹp như vậy, làm thế nào để có thể không bị đăng ký quá mức?
Những vụ đầu tư lướt sóng là nguồn bóp méo khác. Việc chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Indonesia dâng tràn trong quý đầu của năm 2003. Nó dường như là một kết quả tuyệt vời; một dấu hiệu rằng nhà đầu tư có lẽ tin tưởng và quay trở lại Indonesia? Không thực sự như vậy. Trong quý đó, 41,9% giá trị của công ty điện thoại sở hữu nhà nước Indosat đã được bán cho Công ty Công nghệ Telemedia của Singapore, một công ty có dính líu tới chính phủ Singapore. Tổng giá trị được chấp thuận là 1,1 tỷ USD. Trừ đi con số này khỏi con số đầu tư FDI được chấp thuận tại Indonesia thì cho thấy nó đã bị rớt xuống chỉ còn 45% so với con số thống kê có bao hàm.
Những bịa đặt từ vương quốc trung tâm
Khi mà nói đến vấn đề thống kê, thì Trung Quốc là nơi dẫn đầu theo cách này. Trung Quốc là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới. Nó xuất khẩu hàng hóa chế tạo, giá rẻ với những con số gia tăng chưa từng có. Mặt khác, nó xuất khẩu một số lượng lớn là sự lừa dối.
IMF nói trong Triển vọng Kinh tế Thế giới vào Tháng Mười Hai 1998 rằng “chất lượng thống kê của Trung Quốc vẫn là một khó khăn lớn cho những người ra chính sách và các nhà phân tích bên ngoài, cả trong tài khoản quốc gia và ở những lĩnh vực khác”. Đó là một cách nói ngoại giao về cái mà IMF nghĩ rằng số liệu thống kê của Trung Quốc là một thứ không có giá trị.
Trung Quốc có một lịch sử lâu dài về việc dối trá các số liệu thống kê. Các viên chức cấp thấp ở mọi nơi tại Trung Quốc nói sai một chút về sản xuất trong lĩnh vực của họ và trên tổng thể những điều này phối hợp thành một sự dối trá lớn. Guan chu shuzi, shuzi chu guan (nhân viên tạo ra con số, con số tạo ra nhân viên) được nói tới tại Trung Quốc tóm lược đầy đủ tình hình. Báo cáo các loại thống kê mà cấp trên muốn nghe bạn sẽ được thăng chức.
Thomas Rawski, một giáo sư kinh tế tại Đại học Pittsburg, đã viết một bài báo năm 2001 với tựa đề, “Điều gì đang xảy ra với số liệu thống kê GDP của Trung Quốc?”. Ông đã chỉ ra rằng chính phủ Trung Quốc đã ước tính cho thấy rằng giữa năm 1997 và 2000, GDP thực đã tăng 24,7%. Cho đến nay mọi việc đều tốt đẹp. Nhưng trong cùng thời kỳ ba năm đó, tiêu thụ năng được đã ghi nhận mức giảm 12,8%. Và điều đó ngụ ý rằng một sự giảm đi trong tiêu thụ năng lượng với mỗi đơn vị sản xuất rất lớn 30% trong ba năm. Việc này, Rawski đã nói với một sự giảm nhẹ lịch sự, “dường như có vẻ không hợp lý”.
Ông sau đó xem xét dữ liệu đặc biệt trong giai đoạn 97 – 98. Một lần nữa, ông thấy đã tìm thấy nhiều mâu thuẫn hơn nữa. “Cái gì có thể tạo ra sự gia tăng tất cả trong một tỉnh mà nó bị lũ lụt được xếp vào một trong mười thảm họa hàng đầu của Trung Quốc trong thế kỷ 21?” ông đặt câu hỏi. “Ngành công nghiệp có thể gia tăng 10,75% mặc dù chỉ 14 trong 94 sản phẩm chính đạt được tăng trưởng hai con số và 53 trong số đó chịu sự suy giảm tự nhiên về sản lượng? Tiêu dùng có thể vượt lên 13,9% mặc dù tiêu thụ thép và sản lượng xi măng tăng thấp hơn 5%? Rawski sau đó xem xét các chỉ số tiêu dùng trong các năm 1998 – 2001. Với một trường hợp ngoại lệ, các chỉ quốc gia về bán lẻ tăng trưởng nhanh hơn chỉ số tiêu dùng đầu người được mô tả trong các chỉ số tiêu dùng gia đình. Sự khác nhau quá lớn được tính toán bởi tỷ lệ tăng trưởng dân số trong suốt thời kỳ này đã giải thích được nguyên nhân. Một cách rõ ràng, những con số tăng trưởng chính thức được giáo sư Rawski xem xét đến là những con số không có giá trị. Rawski đã chứng minh một cách rõ ràng những gì từ lâu đã bị nghi ngờ: các số liệu thống kê tại Trung Quốc buộc phải đưa vào trong đó những nỗ lực tuyên truyền của quốc gia này.
Trung Quốc không công bố các dữ liệu GDP hàng quý, chỉ công bố các dữ liệu hàng năm. Điều đó cũng có nghĩa chính phủ có thể điều chỉnh những con số cao xuống thấp và thấp lên cao để cân bằng các dữ liệu đầu ra và đế tránh các sự tăng đột biến và các cuộc phá sản. Thực tiễn đưa đến nhiều sự gian dối hơn: Nền kinh tế Trung Quốc kém ổn định hơn chính phủ tiết lộ.
Cơ quan thống kê quốc gia Trung Quốc (NBS) đã ngừng sử dụng dữ liệu của các tỉnh cho dữ liệu tăng trưởng kinh tế quốc gia từ năm 1998. Họ thấy chúng quá thiếu tin cậy được. Từ đó, NBS đã phải thiết lập một mạng lưới thu thập dữ liệu thống kê mà nó bỏ qua chính quyền các tỉnh và địa phương. Nó dường như là một sự phát triển tích cực. Nhưng nguồn lực để duy trì là một vấn đề và sự can thiệp từ các nhân viên cấp thấp là khó thể tránh được. NBS cũng có vấn đề về sự minh bạch đối với dữ liệu của mình. Từ 1998, nó đã không giải thích làm thế nào nó nhận được những số liệu dùng để đánh giá chính thức tăng trưởng của Trung Quốc. Giáo sư Rawski nói rằng áp lực để xác nhận các mục tiêu tăng trưởng chính thức đã lấn át các cơ quan thống kê tỉnh và địa phương và cũng dường như rằng NBS cũng không thể chống lại áp lực. Khu vực tư nhân có thể được dựa vào để tạo ra điều gì tốt hơn chăng? Có lẽ không. Thậm chí các ngân hàng đầu tư quốc tế khao khát có được thị phần của mình trong hoạt động thương mại Trung Quốc có một sự khuyến khích xác nhận các dự báo chính thức hơn là đặt vấn đề hay phủ nhận lại chúng.
Và kết quả là? Hàng tỷ đôla đã đổ vào nền kinh tế Trung Quốc dựa trên căn bản những dự báo tăng trưởng ngoạn mục và những kết quả tăng trưởng cũng ngoạn mục như vậy. Nhưng sự hồi đáp ở đâu? Một số nhà đầu tư nước ngoài đã kiếm được cái họ kỳ vọng kiếm được. Giai cấp trung lưu tăng mạnh với thu nhập sẵn có tăng mạnh tồn tại nhưng không nhiều như nhiều người đã nghĩ. Điển hình, các nhà đầu tư nước ngoài kết luận rằng Trung Quốc có lẽ chỉ “quá mạnh mẽ”, họ đã không có sự hòa nhập sản phẩm đúng đắn hay thông điệp của họ tới khách hàng đã không hiệu quả. Nhưng cũng có thể là mặc dù nền kinh tế Trung Quốc đang vận hành tốt, nó đã không vận hành tốt việc đó; họ đã bị lừa và đổ hàng tỷ đôla vào nền kinh tế Trung Quốc mà đáng lẽ ra họ không nên đổ vào.
Sự ưa thích khắp cả nước đối với việc sửa chữa mọi thứ cho tốt hơn với cái nó thực sự là đã tiêm nhiễm vào bản chất của các doanh nghiệp Trung Quốc. Bộ Tài chính Trung Quốc đã xem xét sổ sách của 192 công ty niêm yết tại Trung Quốc năm 2002 thấy rằng 103 hay 54% đã báo cáo sai lợi nhuận 10% hay hơn nữa. Nhưng rồi những báo cáo sai lệch như vậy không là duy nhất ở Trung Quốc hay châu Á. Nhiều chọn lựa cổ phần ưu đãi lớn cho các nhà điều hành phương Tây là một sự khuyến khích cho sự lừa dối về tất cả mọi thứ có thể làm tăng giá cổ phiếu của họ.
Dịch SARS năm 2003 đã cho một ví dụ khác về nền kinh tế Trung Quốc bằng sự thật. Trong một thời gian dài, chính phủ Trung Quốc đã từ chối nhìn nhận là họ có vấn đề. Họ đã xem xét lại, nhưng vấn đề không nghiêm trọng. Rồi họ quyết định là vấn đề có thể nghiêm trọng hơn một chút. Nhưng vào lúc đó người dân tại Hồng Kông, Canada, Đài Loan, Singapore và các nơi khác đã bị nhiễm bệnh và tử vong – ở một mức độ lớn, vì Trung Quốc đã không nói thật. Nếu họ có nói, thì các quốc gia và khu vực lân cận đã có thể chuẩn bị tốt hơn để đối phó với bệnh dịch.
Trung Quốc thường nhầm lẫn việc thông tin với tuyên truyền. Họ có một trong những hệ thống toàn diện nhất về những nguyên tắc và quy định trên thế giới nhắm đến việc giữ bí mật sự thật. Nhiều số liệu thống kê và dữ liệu khác đã được coi là bí mật quốc gia và những ai để lộ chúng ra sẽ bị bắt giữ. Như trường hợp Tiến Sĩ Wan Yanhai, một viên chức của Bộ Y tế Trung Quốc đã bị bắt giữ năm 2002. Wan đã bị sa thải khỏi bộ sau khi ông va chạm với những viên chức khác trong bộ về cách làm thế nào để cảnh bảo người dân về những hậu quả về hành vi rủi ro cao khi nói tới việc truyền nhiễm HIV.
Tháng Tám 2002, ông đã bị bắt giữ bởi Cơ quan An ninh Quốc gia Trung Quốc vì đã công bố một tài liệu nội bộ của chính phủ về hai nhóm trao đổi trên mạng. Tài liệu cho thấy rằng những người có thẩm quyền về y tế Trung Quốc đã biết rõ về mức độ nghiêm trọng của vấn đề HIV tại tỉnh Hồ Nam vào giữa những năm 90 và vẫn tiếp tục thực hiện các hoạt động thu thập máu không an toàn giữa những năm 1994 và 1997. Một cách kỳ lạ, các hành động của Wan bị quy là “tiết lộ bí mật quốc gia” theo luật Trung Quốc.
Việc bắt giữ ông ta đã gặp phải sự phản đối kịch liệt của quốc tế và vì vậy, sau một tháng, Wan đã đột nhiên được thả ra mà không bị kết tội. Nhưng không bởi vì ông đã không vi phạm luật pháp, mà vì nhà cầm quyết đã quyết định khoan dung đối với trường hợp này.
Nhà báo đại lục Wu Shishen cũng đã không may mắn. Ông bị kết án tù chung thân năm 1993 vì đã gửi tài liệu được cho là bí mật quốc gia đến cho một bạn đồng nghiệp tại Hồng Kông. Bí mật đó là gì? Một bản sao đưa trước của một bài diễn văn của chủ tịch Giang Trạch Dân lúc đó được cho là sẽ đọc tại Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 14. Wu vẫn còn ngồi tù.
Thông tin là vàng trong kinh doanh. Tại phần lớn các nước châu Á, thông tin từ các nguồn chính thức là vàng của người bị lừa phỉnh – nó giống như là việc thật nhưng không phải là việc thật. Trở thành một người nằm vùng tại châu Á hàm ý phân biệt sự khác nhau giữa hai việc này, hay ít nhất học cách nhận thức các số liệu thống kê do chính phủ cung cấp.
TH: T.Giang – SCDRC
Nguồn tham khảo: Micheal Backman – Những kẻ giấu mặt trong nền kinh tế châu Á – NXB TN 2005 và Micheal Backman – The Asian Insider – Palgrave 2004.

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Lắm chuyện với nợ xấu: Sự thật 17% đến 2,9%

Lắm chuyện với nợ xấu: Sự thật 17% đến 2,9%

Nợ xấu cao được công bố trên 17% vào tháng 9/2012. Mới đây, Thủ tướng cho biết, nợ xấu xuống còn 2,9% vào tháng 9/2015. Với người trong giới ngân hàng, bỏ qua những tranh cãi con số thì nợ xấu là một khối nguy cơ, là một quá trình tích lũy cách đây 5 – 10 năm và việc xử lý nó cũng là lộ trình đầy trả giá.


Ba năm, những con số
Những năm trước, số liệu nợ xấu vẫn còn bí ẩn. Gần đây, nó đã dần được ‘giải mật’ khá chi tiết. Nhìn vào con số khủng khiếp ngày đầu bắt tay Đề án xử lý nợ xấu để hiểu sự thận trọng cần thiết và con số, còn cập nhật xử lý nợ xấu đến nay để thấy sự tự tin và minh bạch trong vấn đề nhạy cảm này.
Số liệu nợ xấu mà NHNN làm cơ sở cho Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD đã được Bộ Chính trị và Chính phủ thông qua cho thấy Nợ xấu đến cuối 9/2012 theo báo cáo của các TCTD là 133.060 tỷ, tương đương 4,93%. Tuy nhiên, đánh giá qua giám sát của NHNN và tính đủ thêm các khoản nợ khác thì nợ xấu gần 465 tỷ đồng, tương đương 17,21%.
Giải thích sự chênh lệch hai con trên, chuyên gia thanh tra, giám sát NHNN nói thẳng, khoảng cách 3 – 4% của TCTD so với con số 17% của NHNN là thực tế chất lượng tín dụng mà chúng ta phải đối mặt. Ở đây, không phải có sự đột biến nào về số liệu nợ xấu mà chẳng qua nó được đánh giá một cách khắt khe và xác thực nhất trong mắt nhà quản lý.
Chính vì thế, trước một vài ý kiến còn tranh cãi quanh con số này, một chuyên gia tài chính độc lập đang tư vấn cho nhiều NH thương mại cho rằng, dám thừa nhận con số 17% đã là một hành động dám đương đầu.
“Với dân trong nghề, con số đó chắc cũng không quá bất ngờ. Tất cả đều biết, khối nợ xấu này đã có quá trình tích lũy từ 5 – 10 năm trước. Vấn đề là chúng ta dám nhìn thật về nó mà thôi”.
Từ thực tế trên, các chuyên gia ngân hàng lâu năm như ông Lê Xuân Nghĩa đã nhiều lần cho biết, trước 2012, NHNN còn thiếu hệ thống giám sát chất lượng tín dụng hữu hiệu. Vì vậy, rất khó khăn để có thể đưa ra con số nợ xấu sát với thực và NHNN không thấy được nợ xấu tiềm ẩn, chất lượng tín dụng thực tế mà chủ yếu là dựa vào số liệu báo cáo của TCTD nên cơ bản không có sự khác biệt đáng kể về nợ xấu của TCTD với số liệu của NHNN. Thực tế, chính các NH vẫn tung hoành sử dụng các chiêu trò, thủ thuật giấu nợ xấu.
Từ năm 2012 trở lại đây, khi NHNN áp dụng cơ chế giám sát, kiểm soát chặt để buộc TCTD phải minh bạch hơn thực chất nợ xấu.
Con số từ NHNN cho thấy, đến cuối 2014, hệ thống đã xử lý được 311 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tương đương 67% tổng số nợ xấu tính đến tháng 9/2012. Cụ thể: xử lý thông qua sử dụng dự phòng rủi ro là 131 nghìn tỷ đồng; bán nợ cho VAMC là 119 nghìn tỷ đồng; xử lý thông qua các hình thức khác 61 nghìn tỷ đồng.
Nợ xấu theo báo cáo của các TCTD đến cuối 2014 là 145,2 nghìn tỷ đồng, tương đương 3,25%; nợ xấu theo số liệu giám sát của NHNN là 214,9 nghìn tỷ đồng tương đương 4,83%.
Với những con số đó thì bằng những suy luận đơn giản cũng có thể khẳng định tỷ lệ nợ xấu thời điểm 2011-2012 không thể là 3-4% và con số trên 17% và một sự thật phải thừa nhận.
Để xóa dần khoảng cách nghịch lý về nợ xấu trên đây, NHNN đã có hàng loạt quy định về quản lý rủi ro theo hướng chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế khiến các NH ngày càng khó ‘báo cáo sai’ nên chênh lệch về số nợ xấu giữa báo cáo của TCTD và giám sát của NHNN ngay càng thu hẹp.
Cụ thể, tháng 12/2013, chênh lệch 2,05% (5,66% so với 3,61%); đến tháng 6/2014, chênh lệch 1,67% (5,84% so với 4,17%); tháng 12/2014, chênh lệch 1,58% (4,83% so với 3,25%).
Lộ chuyện chẳng hay ho gì
Theo ông Lê Xuân Nghĩa, trong số 4 cấu phần của đề án tái cơ cấu hệ thống các TCTD thì cấu phần quan trọng nhất và chủ chốt nhất chính là xử lý nợ xấu. Không những chỉ tập trung xử lý để đưa nợ xấu về mức an toàn, ngành ngân hàng đã triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa nợ xấu, kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng góp phần ngăn chặn nợ xấu gia tăng trong tương lai và minh bạch hơn chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng.
“Chỉ khi xử lý nợ xấu tốt mới thúc đẩy mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, giảm mạnh mặt bằng lãi suất, qua đó tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”, ông Nghĩa nhấn mạnh.
Theo quy luật, nợ xấu luôn tăng nhanh khi sản xuất kinh doanh khó khăn, kinh tế vĩ mô bất ổn và tăng trưởng kinh tế thấp, trì trệ.
Trong một thời kỳ dài, tín dụng của NH cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, 30%/năm,thậm chí có năm tăng trên 50%. 2006-2007, kinh tế tăng trưởng lần lượt đạt 8,23% và 8,48%; kèm theo đó tín dụng tăng trưởng nhanh. Đặc biệt năm 2007 dư nợ tín dụng tăng 51,54% song nợ xấu giảm ở mức 1,55%.
Từ năm 2008, do tác động khủng hoảng tài chính toàn cầu kinh tế Việt Nam bắt đầu suy giảm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm thấp còn trên 5%, tăng trưởng tín dụng chậm lại. Hậu quả là, nợ xấu tăng nhanh và tăng nhanh hơn cả tốc độ tăng dư nợ tín dụng, dẫn đến nợ xấu có chiều hướng tăng, đặc biệt mạnh vào 2011 với mức tăng gần 61%.
Tuy nhiên, nếu nợ xấu chỉ nhìn từ báo cáo của các TCTD thì mới chỉ thấy phần nổi của tảng băng lớn. Một phần lớn nợ xấu được TCTD che giấu, chưa ghi nhận trên báo cáo tài chính.
Một chuyên gia tài chính nói thẳng: Sự thật và nguy hiểm của nợ xấu xin đừng lắm lời cãi nhau nữa. Bởi vì, nếu nợ xấu chỉ ở mức khoảng 3% thì ngân hàng Việt Nam tốt rồi, hệ thống ngân hàng không phải đối mặt với những khó khăn như khả năng sinh lời sụt giảm, thậm chí lỗ, khó khăn về thanh khoản như thời gian qua.
Nếu nợ xấu thực sự chỉ ở mức khoảng 3% thì chắc cũng không cần phải có một chương trình xử lý nợ xấu khắt khe như vừa qua. Nhưng nợ xấu không phải như TCTD báo cáo. Qua thanh tra, giám sát cho thấy, có những ngân hàng báo cáo tỷ lệ nợ xấu dưới 3% nhưng kết quả thanh tra cho thấy tỷ lệ nợ xấu cao gấp nhiều lần số báo cáo, thậm chí có TCTD gấp hàng chục lần.
Nợ xấu tăng có nghĩa là TCTD phải trích lập nhiều dự phòng rủi ro hơn, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và cổ tức. Đó là lý do TCTD luôn tìm cách né tránh và che dấu nợ xấu. Nhưng, giấu nợ xấu là giấu bệnh có thể dẫn đến ung thư và cái chết của ngân hàng.
Mọi câu chuyện, tranh cãi có lẽ cũng chỉ bắt đầu từ đó nhưng nếu chỉ có thể thì rất dễ thống nhất vì không thể cứ cãi nhau, không bắt tay vào làm để hệ thống NH ngày càng bi đát?
Theo Lê Hà
Vietnamnet
Từ khóa

Lợi nhuận hàng loạt doanh nghiệp chứng khoán lao dốc!

Một số công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh quý 3 nhưng phần lớn các công ty này đều ghi nhận kết quả kinh doanh không mấy khả quan.


Lợi nhuận lao dốc
Điểm sáng về kết quả kinh doanh của nhóm này thuộc về CTCK Sài Gòn (SSI) và CTCK VNDirect (VND) tuy nhiên lợi nhuận quý 3/2015 của 2 doanh nghiệp này cũng chỉ tăng với con số rất khiêm tốn, lần lượt 10% và 6% so với cùng kỳ.
Cụ thể, SSI ghi nhận mức lợi nhuận trước thuế 267,55 tỷ đồng, và mức lợi nhuận trước thuế của VND là 58,195 tỷ đồng.
Ngoài 2 doanh nghiệp chứng khoán trên được giới đầu tư đánh giá "điểm sáng", còn lại hàng loạt các công ty chứng khoán khác như: CTCK VietinbankSC (CTG), CTCK Thành phố Hồ Chí Minh (HCM), CTCK Vietcombank (VCSC), CTCK Bảo Việt (BVS), CTCK FPT (FPTS), CTCK Sài Gòn – Hà Nội (SHS)... mặc dù vẫn có lợi nhuận ở mức dương nhưng đều sụt giảm tương đối mạnh.
Cụ thể, lợi nhuận sau thuế của HCM đạt 45,3 tỷ đồng, giảm quá nửa so với con số 105 tỷ đồng của cùng kỳ năm 2014. Kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm của HCM cũng không sáng sủa hơn với lợi nhuận sau thuế đạt 144 tỷ đồng, giảm 55% so với 9 tháng đầu năm 2014.
Trong khi đó, CTG đạt 15,52 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong quý 3, gần như không thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái.
Thậm chí, với BVS, lợi nhuận giảm nhiều. Quý 3/2015, BVS cũng chỉ ghi nhận lợi nhuận sau thuế 16,95 tỷ đồng, giảm 41% so với quý 3/2014. Lũy kế 9 tháng, BVS ghi nhận doanh thu 211,96 tỷ đồng, LNST 84,21 tỷ đồng, giảm lần lượt 3% và 6% so với cùng kỳ 2014.
Tương tự, lợi nhuận của FPTS cũng giảm 25% so với cùng kỳ, đạt 27,8 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng lãi 93,3 tỷ đồng, giảm 10% so với cùng kỳ.
Đặc biệt, trường hợp của SHS ghi nhận mức lợi nhuận sau thuế quý 3/2015 chỉ hơn 13,5 tỷ đồng, giảm 79% so với cùng kỳ 2014. Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận SHS đạt hơn 42,3 tỷ đồng.
Cá biệt, các trường hợp như CTCK Kim Long (KLS), CTCK Ngân hàng Agribank (AGR)... ghi nhận mức lỗ lần lượt 45 tỷ đồng và 26 tỷ đồng, chủ yếu do tăng trích lập dự phòng dẫn đến chi phí hoạt động tăng.
Vì đâu nên nỗi?
Theo giải trình của các công ty, nguyên nhân thua lỗ hoặc lợi nhuận sụt giảm chủ yếu đến từ việc thị trường chứng khoán ảm đạm, công ty phải trích lập dự phòng rủi ro lớn, mảng tự doanh của nhiều công ty cũng không đạt như kỳ vọng.
Theo giải trình của CTCK HCM, sự sụt giảm mạnh mẽ doanh thu môi giới và tư vấn khiến doanh thu và lợi nhuận giảm sâu.
Trường hợp của KLS, mặc dù doanh thu cải thiện, tuy nhiên chi phí trích lập dự phòng đầu tư chứng khoán tăng mạnh khiến KLS lỗ lớn trong quý 3/2015.
Còn theo AGR, mặc dù doanh thu tư vấn, doanh thu lưu ký có sự tăng trưởng trong kỳ nhưng doanh thu môi giới giảm 40% xuống còn 7,38 tỷ đồng; doanh thu khác giảm mạnh 58% còn 15,53 tỷ đồng đã khiến doanh thu toàn quý sụt giảm đáng kể. Cùng với đó, các chi phí phát sinh trong kỳ như chi phí hoạt động, chi phí quản lý đều tăng so với quý 3/2014 đã khiến công ty thua lỗ.
Không bị sụt giảm trong doanh thu mảng tư vấn, nhưng CTG lại bị sụt giảm mạnh doanh thu các mảng môi giới và tự doanh.
Đối với trường hợp của BVS, sự sụt giảm của doanh thu môi giới (-27%), doanh thu tự doanh (-33%) đã khiến cho doanh thu quý 3 giảm 15% so với cùng kỳ 2014.
Ngoài yếu tố thị trường không thuận lợi, theo giải trình của SHS, do còn phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán (16,5 tỷ đồng) khiến lợi nhuận quý 3 giảm sút.
Theo nhận định của BVS, với diễn biến khá tiêu cực của TTCK trong quý 3, kết quả kinh doanh của các công ty chứng khoán không gây nhiều bất ngờ cho nhà đầu tư.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp: Ngân hàng đã âm vốn, ai dám mua với giá 1 đồng?

Ông Đinh Trung Tụng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, việc NHNN mua 3 ngân hàng trong diện bị kiểm soát đặc biệt với giá 0 đồng là hoàn toàn hợp pháp, đủ cơ sở pháp lý, đủ thẩm quyền và đúng trình tự pháp luật.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng
Đã là kinh doanh thì phải có lúc được, lúc thua
Xung quanh việc NHNN mua lại ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng, Thứ trưởng Đinh Trung Tụng khẳng định, trong tình hình hiện nay, để xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, giải pháp mua lại ngân hàng yếu với giá 0 đồng mà NHNN đưa ra hợp pháp, đúng quy định pháp luật, đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục và đã giúp giải quyết được tình thế rất khó khăn của hệ thống ngân hàng. Nhờ đó, đã bảo vệ được quyền lợi người gửi tiền, quan trọng hơn là đã ổn định được thị trường tài chính tiền tệ, không để những ngân hàng yếu gây ra diễn biến xấu, rối loạn thị trường, làm mất ổn định xã hội.
Cũng theo Thứ trưởng Bộ Tư pháp, trong trường hợp 3 ngân hàng 0 đồng trên, giải pháp tái cơ cấu bằng cách chia tách, hợp nhất, chuyển đổi hình thức pháp lý… không thực hiện được do đã thua lỗ, âm vốn. Tương tự, giải
pháp giải thể cũng không thể tiến hành bởi theo quy định của Bộ luật Dân sự, trước khi giải thể, doanh nghiệp phải thanh toán hết tất cả các nghĩa vụ nhưng cả ba ngân hàng trên đều âm vốn, nợ nhiều hơn có, không còn khả năng thanh toán. Chỉ còn 2 giải pháp duy nhất: phá sản hoặc NHNN mua lại 0 đồng. Trong tình hình hiện nay, giải pháp phá sản có thể gây ra những hệ lụy không tốt, do đó NHNN áp dụng giải pháp mua cổ phần bắt buộc khi ngân hàng đang trong trạng thái âm vốn.
"Đã âm vốn thì không thể mua 1 đồng được, chỉ có 0 đồng thôi", Thứ trưởng Đinh Trung Tụng nói.
Giải thích thêm về lý do NHNN mua ngân hàng với giá 0 đồng, đại biểu Trần Du Lịch đưa ra ví dụ tương tự: cách đây 10 năm, một ngân hàng lớn đã 200 tuổi của Anh được rao bán 1 đồng nhưng không ai mua, trong bối cảnh đó Ngân hàng Trung ương Anh đã đứng ra mua lại 1 đồng. Tại Việt Nam, quy định pháp lý chưa cho phép mang ngân hàng ra bán đấu giá nhưng với vốn điều lệ âm, chắc hẳn không nhà đầu tư nào dám mua. Hơn nữa, với một ngân hàng, việc "sống" hay chết là người dân có tin tưởng gửi tiền hay không. Trong tình hình Việt Nam hiện nay, không nhà đầu tư nào đủ uy tín để tạo niềm tin với người gửi tiền, ngoại trừ NHNN, bởi chỉ NHNN mới đủ tiền để tái cấp vốn, tạo thanh khoản, "hà hơi" cho các ngân hàng này phục hồi.
Liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông nhỏ, lãnh đạo Bộ Tư pháp khẳng định, dù cổ đông lớn hay cổ đông nhỏ thì đều giống nhau ở điểm: mang vốn của mình ra kinh doanh, mà kinh doanh thì phải chấp nhận có lúc được lúc thua.
"Việc mua ngân hàng với giá 0 đồng của NHNN thời gian qua hoàn toàn hợp pháp, đủ cơ sở pháp lý, đủ thẩm quyền và đúng trình tự pháp luật. Hiện cả ba ngân hàng được mua 0 đồng đều đã giữ được ổn định và đang dần phục hồi. Tôi cho rằng, đây là giải độc đáo và rất sáng tạo trong bối cảnh nước ta hiện nay", Thứ trưởng nhận xét.
Phải có hệ thống cảnh báo với ngân hàng thua lỗ
Dù khẳng định giải pháp mua ngân hàng 0 đồng của NHNN là hợp pháp, đủ cơ sở pháp lỹ vững chắc và là giải pháp sáng tạo, cần thiết trong bối cảnh hiện nay, song đại diện Bộ Tư pháp cho rằng, đây cũng chỉ là giải pháp bất đắc dĩ. Theo Thứ trưởng Đinh Trung Tụng, trong tương lai, NHNN cần phải tăng cường giám sát và phải có hệ thống cảnh báo, báo động đối với các tổ chức tín dụng làm ăn thua lỗ để kịp thời chấn chỉnh ngân hàng, cảnh báo nhà đầu tư.
Về những vướng mắc pháp lý đang nảy sinh xung quanh vấn đề tái cơ cấu,xử lý nợ xấu ngân hàng, Thứ trưởng Đinh Trung Tụng khẳng định, hiện Chính phủ đang tiếp tục rà soát, hoàn thiện các văn bản pháp luật.
Riêng về VAMC, lãnh đạo Bộ Tư pháp thừa nhận, VAMC thời gian qua đã làm được nhiều việc nhưng pháp lý còn nhiều vấn đề vướng mắc. Đơn cử, Bộ luật Dân sự quy định chỉ ủy quyền cho cá nhân tham gia tố tụng, trong khi VAMC lại là pháp nhân. Vì vậy, Bộ luật Dân sự sửa đổi đã bổ sung quy định, người được ủy uyền là pháp nhân và cá nhân.
Một quy định khác là về đấu giá tài sản. Theo quy định hiện hành, chỉ có tổ chức được giao nhiệm vụ đấu giá và phải có đấu giá viên chuyên nghiệp thì mới được tổ chức đấu giá. VAMC không có đấu giá viên chuyên nghiệp, phải thông qua các tổ chức đầu giá khi muốn đấu giá tài sản đảm bảo nợ xấu, vì vậy đã làm chậm quá trình mua bán nợ. Quy định này cũng sẽ được đưa vào Luật bán đấu giá tài sản sẽ xin ý kiến Quốc hội kỳ họp này.
"VAMC đang gặp nhiều khó khăn do rào cản là quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp", Thứ trưởng Bộ Tư Pháp thừa nhận.

Tái cấu trúc ngân hàng có cả máu, nước mắt và tù tội

TS Lê Xuân Nghĩa:

Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng có thể là cuộc chiến cam go nhất, trong đó có cả máu, nước mắt, và tù tội.
OceanBank là một trong ba ngân hàng bị mua lại với giá 0 đồng. Ảnh: NT
Với vai trò đồng chủ tọa tại Tọa đàm “Nhu cầu hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, xử lý nợ xấu và đáp ứng yêu cầu hội nhập” diễn ra chiều tối hôm qua (26/10/2015) nhằm lấy ý kiến góp ý từ các Đại biểu Quốc hội, TS Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh, cho rằng: "Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng có thể là cuộc chiến cam go nhất, trong đó có cả máu, nước mắt, và tù tội".
Công cuộc tái cấu trúc này sẽ tạo tiền đề cho giai đoạn tiếp theo là hiện đại hóa hệ thống ngân hàng. Cho đến nay, không chỉ các ngân hàng yếu kém, một số ngân hàng lớn, hoạt động lành mạnh cũng đã tiến hành tái cấu trúc và hiện đại hóa.
Ngàn cân treo sợi tóc
Nhìn lại thời điểm những năm 2011-2012 trong vai trò là thành viên của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, ông Lê Xuân Nghĩa cho biết, công cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng gồm 3 mục tiêu được đặt ra ngay từ đầu.
Với mục đích làm lành mạnh hóa hoạt động và tài chính của các ngân hàng thương mại (NHTM), thiết lập lại sự an toàn của hệ thống ngân hàng, và thiết lập lại kỷ cương, trật tự và nguyên tắc thị trường trong hệ thống ngân hàng.
“Năm 2011, trước khi tiến hành tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, lạm phát đang ở mức rất cao, khoảng 20%, lãi suất cho vay lên tới 26%. Điều kỳ lạ là lãi suất liên ngân hàng có thời điểm lên tới 35%. Hệ thống NHTM rơi vào nguy cơ mất thanh khoản, không chỉ đối với các ngân hàng nhỏ,” ông Lê Xuân Nghĩa nói.
Các NHTM đua nhau tăng lãi suất, doanh nghiệp và người dân hằng ngày chỉ lo đi rút tiền gửi từ ngân hàng này chuyển sang ngân hàng khác. Lãi suất ngắn hạn lại cao hơn lãi suất dài hạn, khiến cho đường cong chuẩn về lãi suất của hệ thống NHTM sụp đổ tan tành. Hầu hết các NHTM đều rơi vào tình trạng vô kỷ luật khi lao vào cuộc chạy đua lãi suất”.
Đó là thực tế những gì đã xảy ra với thị trường tiền tệ và cả nền kinh tế. Tại thời điểm đó, giá vàng biến động khó lường, có thể dao động hàng chục lần trong một ngày. Các NHTM đổ xô đi kinh doanh vàng gây nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn của cả hệ thống khi ngân hàng phải trả giá vì vàng.
Thời điểm đó, tỷ giá hối đoái tăng tới 15%, dự trữ ngoại tệ từ 25 tỷ USD sụt xuống chỉ còn 7 tỷ USD. IMF cảnh báo Việt Nam có khả năng rơi vào tình trạng mất thanh khoản quốc tế, điều này gây lo ngại đối với các chủ nợ cho Việt Nam vay và các nhà đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, doanh nghiệp phá sản hàng loạt, nợ xấu tăng lên từ 17-20% GDP, thậm chí có thể cao hơn,” ông Lê Xuân Nghĩa cho hay.
Bức tranh chung của nền kinh tế càng ảm đạm hơn khi thị trường bất động sản và chứng khoán sụp đổ, tín dụng ngân hàng cũng sụp đổ theo khiến tín dụng đen được dịp nổi hoành hành. Chính vì vậy, NHNN không chỉ tập trung xử lý nợ xấu của hệ thống nợ chính thức mà còn phải đối mặt với vấn nạn nợ xấu từ thị trường tín dụng phi chính thức, hay còn gọi là tín dụng đen. Xã hội đen trang bị dao búa đi đòi nợ từ khắp các vùng thành thị đến nông thôn.
Kết quả là gì?
Mặc dù gặp nhiều khó khăn song NHNN buộc phải vừa tiến hành tái cấu trúc vừa phải đảm bảo, củng cố thanh khoản để lấy lại niềm tin của người gửi tiền, đồng thời xử lý ngay lập tức các ngân hàng yếu kém và xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa các NHTM nhằm chấn chỉnh quản trị rủi ro, chấn chỉnh kỷ cương kỷ luật trên thị trường tài chính.
Nhìn lại kết quả đạt được, theo ông Lê Xuân Nghĩa, việc đầu tiên và quan trọng nhất là NHNN đã kiểm soát được lạm phát. Đây được xem là một trong những tiền đề không chỉ ngăn ngừa được một cuộc khủng hoảng tài chính mà còn ngăn ngừa được một cuộc khủng hoảng kinh tế; không chỉ giúp lấy lại lòng tin trong dân và các nhà đầu tư quốc tế mà còn lấy lại uy tín cho quốc gia.
NHNN đồng thời cũng đã kéo lãi suất xuống mức rất thấp, ổn định thị trường vàng, loại bỏ được hoàn toàn vàng ra khỏi ngân hàng, chấm dứt tình trạng đầu cơ vàng và chấm dứt tình trạng vàng hóa nền kinh tế.
Chúng ta cũng đã giữ ổn định tỷ giá hối đoái, nhưng điều quan trọng nhất theo ông Lê Xuân Nghĩa là đã tăng dự trữ ngoại tệ từ 8 tỷ lên 38 tỷ USD.
Đó có thể coi là những cú hích vô cùng quan trọng để củng cố uy tín quốc gia và thanh khoản của Việt Nam,” ông Lê Xuân Nghĩa nhận xét.
NHNN cũng đã xử lý dứt điểm 11 ngân hàng yếu kém, trong đó có 3 ngân hàng mua lại với giá 0 đồng, xử lý khoảng 10 chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động yếu kém trên lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời quyết liệt với tình trạng sở hữu chéo, cho vay sân sau, gây lũng đoạn hệ thống ngân hàng.
Về xử lý nợ xấu, theo báo cáo gần nhất của NHNN, đã xử lý được 450 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó 58% xử lý bằng dự phòng rủi ro và thu hồi nợ của các ngân hàng, 42% được xử lý qua Công ty mua bán nợ VAMC. Tuy nhiên, việc xử lý nợ của VAMC vẫn chưa triệt để khi các khoản nợ xấu dù đã được đưa ra khỏi bảng cân đối tài chính của các NHTM nhưng nó vẫn còn đó bởi chúng ta thiếu khung pháp lý. Do vậy, cần phải có một khung pháp lý đặc biệt để VAMC xử lý nợ xấu.
Theo nhận xét của ông Lê Xuân Nghĩa, hàng loạt các động thái trên của NHNN đều được áp dụng một cách nhuần nhuyễn, tránh được sự đổ vỡ của toàn hệ thống. Tuy nhiên, thị trường nợ vẫn hoạt động rất yếu kém, thanh khoản thấp nên nợ vẫn chưa bán được, hoặc bán được rất ít, khoảng 15 nghìn tỷ đồng. Nhưng dù sao cách làm này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế, đó là khoanh nợ lại sau đó bán dần, vừa bán vừa tạo lập thị trường.

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

“Xếp hạng tín nhiệm quốc tế là thước đo sức khỏe ngân hàng”

Càng ngày Việt Nam càng có nhiều ngân hàng được xếp hạng tín nhiệm quốc tế chứng tỏ sự phát triển về chất lượng tài sản, năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng...

“Xếp hạng tín nhiệm quốc tế là thước đo sức khỏe ngân hàng”
Ông Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia.
“Càng ngày Việt Nam càng có nhiều ngân hàng được xếp hạng tín nhiệm quốc tế chứng tỏ sự phát triển về chất lượng tài sản, năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Đây là thành tựu đáng khích lệ và xu hướng khu vực cũng như thế giới cho thấy, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp và cả khách hàng cá nhân sẽ chọn, sử dụng dịch vụ của những ngân hàng được xếp hạng tín nhiệm cao”, ông Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, nhận xét. 
Lâu nay Ngân hàng Nhà nước vẫn thường xếp hạng A, B, C cho các ngân hàng Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về các hình thức xếp hạng này so với chuẩn đánh giá của các tổ chức quốc tế như Moody’s, Fitch Rating, thưa ông?
Các ngân hàng thương mại có nghĩa vụ bắt buộc tự đánh giá về mình theo chuẩn Camel, sau đó gửi lên Ngân hàng trung ương. Cơ quan thanh tra Ngân hàng Nhà nước sẽ kiểm tra lại, xác nhận những đánh giá đó là chuẩn hay phải thay đổi. Đây là một trong những cơ sở để Ngân hàng Nhà nước xếp hạng các ngân hàng, đó cũng là tiêu chí để khẳng định trách nhiệm giám sát từ xa của ngân hàng Nhà nước.

Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Moody’s thường có chuẩn đánh giá khắt khe hơn vì họ dựa nhiều vào chuẩn mực có tính quốc tế cả về quản trị hoạt động và quản trị rủi ro. Đánh giá của họ thường thấp hơn tự đánh giá của ngân hàng nội địa và đánh giá theo Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn.

Chẳng hạn, nhiều ngân hàng của Việt Nam được ngân hàng Nhà nước xếp nhóm A nhưng Moody’s chưa bao giờ đánh giá một ngân hàng nào của Việt Nam đạt chuẩn A. Điều này cho thấy họ đánh giá rất nghiêm túc và khắt khe.

Sức khỏe của các ngân hàng cũng được thể hiện qua các báo cáo tài chính được kiểm toán, vậy theo ông kết quả xếp hạng tín nhiệm đo lường sức khỏe ngân hàng khác với tổ chức kiểm toán như thế nào?
Các tổ chức đánh giá tín nhiệm thường sử dụng nhiều tài liệu để đánh giá ngân hàng, trong đó báo cáo tài chính đã kiểm toán là một công cụ. Tuy nhiên, họ còn “soi” kỹ nhiều khía cạnh khác như chiến lược kinh doanh, báo cáo thực hiện các chiến lược ấy, phân tích chuỗi báo cáo tài chính nhiều năm liên tục… để từ đó ra được kết luận về sức khỏe của ngân hàng.

Với những chỉ số đã được phân tích, họ sẽ chỉ ra được thực trạng và dự báo tương lai ngân hàng một cách tương đối chính xác.

Nói một cách nôm na, kiểm toán chỉ đo lường và so sánh các con số về hoạt động ngân hàng xem có đúng với chuẩn mực kế toán không, còn xếp hạng tín nhiệm là kiểm tra sức khỏe ngân hàng thực sự và ra kết luận dựa trên những căn cứ họ thu thập được.

Vừa qua Moody’s đã công bố báo cáo xếp hạng tín nhiệm 10 ngân hàng Việt Nam, ông có thể phân tích đánh giá của họ dành cho các ngân hàng qua một số trường hợp cụ thể?
Trong các ngân hàng được Moody’s xếp hạng tín nhiệm năm nay, tôi chú ý đến ABBank với 2 lý do: lần đầu tiên ABBank tham gia xếp hạng tín nhiệm quốc tế và đạt kết quả nằm trong nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có chỉ số tín nhiệm đứng đầu hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.

Xét về sức mạnh tài chính cơ sở, ABBank có hệ số an toàn vốn tối thiểu trên 10%, chất lượng tín dụng tốt với nợ xấu thấp 1,76% thuộc nhóm lý tưởng, đồng thời đã trích lập dự phòng đầy đủ cả dự phòng chung và dự phòng cụ thể.

Thanh khoản của ABBank theo đánh giá của Moody’s là khá tốt, tỷ lệ cho vay/tổng tiền gửi đạt 79%.

Đặc biệt, có sự tham gia của các cổ đông chiến lược nước ngoài như Maybank, IFC, ABBank đã cải thiện hệ thống quản trị theo các chuẩn mực quốc tế như phân biệt rõ vai trò giám sát của hội đồng quản trị, có các tiêu chí minh bạch, bảo vệ cổ đông thiểu số.

Chiến lược cho vay thận trọng, linh hoạt hướng vào doanh nghiệp vừa và nhỏ, đi theo mô hình ngân hàng bán lẻ… là phù hợp với xu hướng và thực tiễn vận động của thị trường.

Quan trọng nhất, bình luận của Moody’s về triển vọng của ABBank là ổn định cho thấy ngân hàng có sức khỏe tốt, phát triển bền vững và có khả năng duy trì tăng trưởng trong tương lai.

Việc yêu cầu Moody’s đánh giá và xếp hạng tín nhiệm cũng cho thấy sự tự tin và quyết tâm theo đuổi chiến lược phát triển ngân hàng lành mạnh và minh bạch của ABBank.

Ở các thị trường tài chính khu vực, kết quả xếp hạng tín nhiệm thường có những tác động như thế nào đến hoạt động của ngân hàng thưa ông?
Các nước có thị trường tài chính phát triển như Thái Lan, Singaporre, Malaysia, hầu hết các ngân hàng đều thực hiện xếp hạng tín nhiệm quốc tế. Các nhà đầu tư, người gửi tiền, mua trái phiếu do ngân hàng phát hành thường nhìn vào đánh giá này, đó là cơ sở quan trọng để củng cố lòng tin của họ vào ngân hàng vì thực tế họ ít có cơ hội tìm hiểu sâu nguồn vốn, cấu trúc tài sản của ngân hàng.

Các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp thường tin cậy vào các đánh giá này là chính và tham khảo chúng trước khi ra quyết định hợp tác với một ngân hàng.

Tại Việt Nam, thị trường tài chính mới ở quy mô nhỏ và đang trong giai đoạn tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, bởi vậy nhiều ngân hàng e ngại và thận trọng trong việc đăng ký xếp hạng tín nhiệm quốc tế.

Tuy nhiên, tôi tin rằng những ngân hàng thực sự hoạt động bài bản và đạt chỉ số tín nhiệm cao từ các tổ chức xếp hạng uy tín trên thế giới sẽ duy trì được sự phát triển bền vững và đạt kết quả kinh doanh tốt, tận dụng được các cơ hội khi nền kinh tế hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới.
Theo VnEconomy

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

TS. Lê Thẩm Dương: “Phải 'cứng' mới dám mua ngân hàng bằng 0 đồng”


07:58 24/10/2015

  "Ngân hàng Nhà nước cam kết không dùng vốn ngân sách tái cơ cấu ngân hàng. Mua ngân hàng bằng 0 đồng, dám làm như vậy chứng tỏ chuyên môn cứng", TS. Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Tài chính (Đại học Ngân hàng TP.HCM) chia sẻ.

TS. Lê Thẩm Dương: “Phải 'cứng' mới dám mua ngân hàng bằng 0 đồng”
TS. Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Tài chính (Đại học Ngân hàng TP.HCM). Ảnh: BizLIVE
Tại cuộc hội thảo "Định vị hệ thống ngân hàng sau tái cơ cấu" do Viện Kinh tế Việt Nam và BizLIVE tổ chức sáng 23/10, ông Dương chia sẻ quan điểm về tái cấu trúc dưới góc độ quản trị.
"Chúng ta cứ loay hoay tổng kết trong khi nhà đầu tư đã đổ máu đầy sàn. Để tái cấu trúc thành công theo kinh nghiệm quản trị của thế giới chỉ cần làm thiếu 3 việc chúng ta thua cả trận", ông Dương cho hay.
Theo đó, việc đầu tiên được chỉ ra là chọn vấn đề, thứ hai là thời gian chuẩn bị tái cơ cấu và thứ ba hành vi tái.
Ông Dương chia sẻ, trước đây ông đã từng lên tiếng phản đối cách chọn vấn đề tái cơ cấu nhưng dần dà, từ phản đối đã chuyển sang cảm phục.
"Phải chọn cái bức xúc nhất để lấy được nguyên nhân tái. Chọn xong sẽ rung tới các biến khác. Vừa rồi Ngân hàng Nhà nước được sự chấp thuận của Chính phủ trong Đề án 254 đã chọn vấn đề để tái quá trúng", ông Dương nhấn mạnh.
Cũng theo chia sẻ của ông kinh nghiệm của thế giới cho thấy, có hai nguyên tắc để chọn vấn đề tái: vấn đề tái chắc chắn sai nếu được chọn bởi người lãnh đạo hoặc chuyên gia kinh tế do đó người chọn vấn đề phải là người trực tiếp làm. "Giống như căn bếp, muốn sửa chữa, mua mới người làm tốt nhất là người đầu bếp chỉ ra", ông Dương so sánh.
Vị chuyên gia cũng chỉ ra một thực tế, nhiều người ảo tưởng rằng tái sẽ tốt hơn sau khi tái nhưng không phải, không tái thì chắc chắn chết đó là quy luật của sự vận động nhưng tái mà không đúng cách thì còn chết sớm hơn nhiều.
Nêu quan điểm về thời gian chuẩn bị cho hoạt động tái cơ cấu, ông Dương cho rằng, 3/4 thời gian dành cho việc chuẩn bị là chuyện bình thường. "Để tái cấu trúc phong cách của vợ có lúc tôi cũng phải mất đến 8 năm mới thay đổi được, đâu phải 3 năm đòi thay đổi. Riêng chuẩn bị tái chiếm 3/4 là bình thường", ông Dương so sánh.
Để chuẩn bị cho quá trình tái cơ cấu, ông Dương cho rằng người lãnh đạo pháp nhân phải hội tụ đủ 3 quyền là người được trao quyền để chi phối, phải làm cho kẻ bị tái tâm phục khẩu phục và cá nhân người lãnh đạo phải đại diện cho sự minh bạch, đàng hoàng.
Ở điểm này, ông Dương đặc biệt nhấn mạnh, thời gian vừa qua, khi xử lý Ngân hàng Nhà nước biết kết hợp nguyên lý của nghề với yếu tố dân tộc, không mang mô hình của nước ngoài về và "dập khuôn" vào Việt Nam.
"Trong bối cảnh tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn, lãi suất cực cao, thị trường tài chính nhốn nháo, ngân sách không có, Ngân hàng Nhà nước lại cam kết không dùng đến vốn ngân sách mua ngân hàng bằng 0 đồng. Dám làm như vậy chứng tỏ chuyên môn cứng", ông Dương nhận xét.
Về hành động tái, ông Dương cho biết, đầu tiên, phải tập trung vào những hành vi có kết quả, bỏ qua những hành vi đơn thuần mang tính bao cấp. Đó là tăng kiểm tra, tăng kiểm soát, đẩy mạnh M&A…
Thứ hai là không tái nhiều vấn đề cùng một lúc. Cần chọn đúng điểm để tái, có lúc tập trung vào vốn, lúc tập trung vào thanh khoản, lúc tỷ giá,. Sau khi có kết quả, lập tức pháp lý hóa ngay. Nếu không sẽ quay về trạng thái ban đầu.
N.THẢO - L.PHƯƠNG

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

Câu hỏi lãi suất và nỗi thất vọng của Fed

Câu hỏi lãi suất và nỗi thất vọng của FedSau gần 7 năm giữ lãi suất ở mức gần 0, các nhà hoạch định chính sách phải thừa nhận lãi suất thấp và các chương trình nới lỏng định lượng đã không thể giúp nền kinh tế lớn nhất thế giới hồi phục mạnh mẽ như họ đã kỳ vọng.


Trong một thế giới có đặc trưng là tăng trưởng ì ạch, Mỹ đang trở thành đầu tàu kéo các nền kinh tế ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương thoát khỏi cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ sau thế chiến thứ hai. Để có thể bứt phá như hiện nay, có lẽ nguyên nhân lớn nhất là Mỹ đã sớm áp dụng những chính sách kích thích tiền tệ với quy mô lớn chưa từng có.
Tuy nhiên, sau gần 7 năm giữ lãi suất ở mức gần 0, các nhà hoạch định chính sách trong đội phản ứng với khủng hoảng của Cục dự trữ liên bang (Fed) giờ đây cho rằng lãi suất thấp và các chương trình nới lỏng định lượng đã không thể giúp nền kinh tế lớn nhất thế giới hồi phục mạnh mẽ như họ đã kỳ vọng.
Tỷ lệ lạm phát của Mỹ vẫn ở dưới mức mục tiêu, bất chấp nền kinh tế đã chạm đến mốc mà Fed tin rằng thị trường lao động đã đạt trạng thái toàn dụng. Điều này khiến câu hỏi có nên nâng lãi suất càng trở nên hóc búa hơn. Trong khi đó, các thị trường tài chính đang dần nóng lên với sự góp sức của các khoản vay giá rẻ. Mô hình kinh tế mà các NHTW vẫn dựa vào giờ đây đang bị thách thức.
Donald Kohn, người từng là Phó Chủ tịch Hội đồng Thống đốc của Fed khi khủng hoảng lên đến đỉnh điểm và là một trong những quan chức đã định hình nên phản ứng của Fed, cho rằng đà hồi phục của kinh tế Mỹ không gây được chút ấn tượng nào. 6 năm qua, kinh tế Mỹ tăng trưởng trung bình 2,2%.
“Tôi đã dự đoán về một sự hồi phục chậm chạp, nhưng từng nghĩ rằng lãi suất thấp sẽ tác động mạnh hơn đến chi tiêu”, Kohn nói. “Đây là một sự hồi phục đáng thất vọng”.
Xét trên một vài khía cạnh, Mỹ đang làm khá tốt. Tỷ lệ thất nghiệp chỉ ở mức 5,1%. Quý II, kinh tế Mỹ tăng trưởng 3,7%, cao hơn khá nhiều so với xu hướng trong lịch sử. Tuy nhiên, bức tranh có quá nhiều mảng sáng tối lẫn lộn. Tiền lương chỉ tăng trưởng 2,2% mỗi năm (thấp hơn dự báo) và tỷ lệ người trong độ tuổi lao động tham gia vào thị trường lao động đang ở mức thấp nhất kể từ những năm 1970. Một phần nguyên nhân là do nhiều người trong thế hệ baby boomers* đã bước vào tuổi nghỉ hưu. Tuy nhiên, rất nhiều lao động có tiềm năng vẫn đang trong quá trình tìm kiếm một việc làm.
Có rất nhiều nguyên nhân khiến kinh tế Mỹ gây thất vọng, trong đó có việc chính sách tài khóa bị thắt chặt, khủng hoảng nợ ở châu Âu, các điều kiện cho vay bị thắt chặt và sản lượng tăng trưởng yếu.
Theo giáo sư ĐH Harvard Kenneth Rogoff, theo chu kỳ thông thường thì Fed đáng ra phải nâng lãi suất từ 6 tháng trước, khi thị trường lao động có những tín hiệu thể hiện sự khỏe mạnh. “Tuy nhiên, đây không phải là một chu kỳ bình thường. Fed không tự tin vào các mô hình cho thấy lạm phát đang tồn tại ở đâu đó. Sản lượng đã tăng, nhưng sau 7 năm lạm phát chỉ nhích thêm một chút chỉ là vấn đề nhỏ so với nguy cơ đẩy nền kinh tế quay trở lại với suy thoái”.
Điều khiến bức tranh phức tạp hơn là dù rất nhiều người Mỹ than phiền về sự hồi phục chậm chạp, có những điểm nóng đang nổi lên. Ví dụ nổi bật nhất là mảng bất động sản thương mại, nơi giá cả đã phục hồi và thậm chí cao hơn cả mức trước khủng hoảng. Bất động sản chính là nơi đã reo rắc “mầm mống” của cuộc khủng hoảng trước.
Thị trường nợ của doanh nghiệp cũng là một điểm nóng khác. Kể từ đầu năm đến nay các công ty Mỹ đã phát hành 568 tỷ USD trái phiếu. Họ đang cố gắng tận dụng mức lãi suất thấp để huy động vốn trước khi Fed tăng lãi suất, tài trợ cho các thương vụ M&A khổng lồ. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng đã có hơn 211 tỷ USD trái phiếu rác được bán ra kể từ đầu năm đến nay, cao hơn so với các năm trước. Kể cả năm 2007, khi bong bóng tín dụng lên đến đỉnh điểm, cũng chỉ có 115 tỷ USD trái phiếu rác được phát hành trong cùng kỳ.
Jeremy Stein, cựu Thống đốc một chi nhánh của Fed và giờ đang công tác tại ĐH Harvard, lại cho rằng Ủy ban thị trường mở - cơ quan triển khai chính sách tiền tệ của Fed - đã đúng khi theo đuổi chính sách lãi suất siêu thấp tại thời điểm tỷ lệ thất nghiệp ở mức hơn 8%.
“Tuy nhiên, chính sách này không phải không có rủi ro. Khi bạn đẩy giá tài sản lên cao và kìm nén các loại chênh lệch tín dụng, rủi ro đe dọa sự ổn định của thị trường tài chính sẽ giảm xuống. Tuy nhiên đến một điểm nào đó rủi ro sẽ bật tăng trở lại và điều này rất nguy hiểm”.
Thời gian gần đây, các thị trường tài chính đã biến động mạnh vì những lo lắng về tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc. Một số người cho rằng điều này có thể khiến Fed phải trì hoãn nâng lãi suất trong cuộc họp sắc tới. Charles Plosser, cựu Chủ tịch Fed Philadelphia Fed, cho rằng Fed cần phải chắc chắn rằng họ không quá phụ thuộc vào các thị trường tài chính.
“FOMC và Chủ tịch Janet Yellen càng nói nhiều về giá tài sản, họ càng tạo ấn tượng rằng giá tài sản là điều mà họ quan tâm và sẽ phản ứng lại. Đây là điều không tốt”, ông nói.
Bình luận của Plosser phản ánh một vấn đề nghiêm trọng hơn. 8 năm sau khi khủng hoảng tài chính kéo kinh tế thế giới đến bên bờ sụp đổ, buộc các Chính phủ phải ném hàng tỷ USD vào các ngân hàng để ngăn chúng “nổ tung”, lãnh đạo các NHTW vẫn không tỏ ra khôn ngoan hơn trong việc kết hợp chính sách tiền tệ, tài khóa và các luật lệ quản lý thị trường tài chính. Họ chưa tìm ra công thức tối ưu nhất để đảm bảo tăng trưởng ổn định trong dài hạn.
Cách tiếp cận cũ kỹ là sử dụng lạm phát mục tiêu đã thất bại trong nhiều năm, một phần là vì nó bỏ qua lạm phát giá tài sản. Tuy nhiên, ngày nay, mức lạm phát thấp trên thị trường hàng hóa đang khuyến khích các nhà hoạch định chính sách trì hoãn nâng lãi suất bất chấp giá của một số tài sản đang ở mức quá cao.
Những ký ức về việc cựu Chủ tịch Fed Paul Volcker đã làm thế nào để khiến kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái trong những năm 1980 trong cuộc chiến chống lại lạm phát vẫn còn mới nguyên. Một lần nữa, số phận của kinh tế toàn cầu lại phụ thuộc vào đánh giá của một vài cá nhân không được dẫn dắt bởi bất kỳ mô hình kinh tế đáng tin cậy nào.
Thu Hương
Theo Trí thức trẻ/FT

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

Khi ngân sách phải đi vay để chi tiêu


d
Bội chi ngân sách 7 tháng đầu năm,  theo bộ tài chính, đã lên tới hơn 100.000  tỉ đồng, tức khoảng hơn 4,5 tỉ usd. Theo  bộ này, trong khi tổng chi 7 tháng đầu  năm là trên 645 ngàn tỉ đồng, tăng  8,1% so với cùng kỳ năm ngoái thì tổng  thu ngân sách 7 tháng đầu năm, dù  tăng 6,6% so với cùng kỳ, ước chỉ đạt  545 ngàn tỉ đồng. Nói chính xác, bội chi  ngân sách ước tính lên tới 106,8 ngàn tỉ  đồng, xấp xỉ 44,5% dự toán năm.
BỘI CHI HƠN 100.000 TỈ, NGÂN SÁCH PHẢI ĐI VAY 30.000 TỈ
Mặc dù tổng thu ngân sách có tăng 6,6% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó thu nội địa đạt trên 404 ngàn tỉ đồng, nhưng thu từ dầu thô ước chỉ đạt trên 42 ngàn tỉ đồng, giảm gần 34% so với cùng kỳ 2014. Một trong những nguyên nhân dẫn đến bội chi là do dự toán thu chi ngân sách năm 2015 đã được xây dựng dựa trên dự báo giá dầu thô là 100 USD/thùng trong khi hiện tại giá dầu thô chỉ ở mức 50 – 60 USD/thùng và vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc trở lại. Theo các chuyên gia, nguồn thu từ dầu thô trước đây chiếm 10% thì nay có thể chỉ còn chiếm 5% số thu ngân sách.
Tuy nhiên, ngoài nguyên nhân giá dầu sụt giảm, nguồn thu của Việt Nam không ổn định, theo Ngân hàng Thế giới, còn do việc thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo các Hiệp định thương mại đã ký kết, trong khi Việt Nam lại nới lỏng chính sách tài khóa nên dẫn tới thâm hụt ngân sách lớn. Theo VinaCapital, nếu như năm 2009, thu ngân sách của Việt Nam bằng 26,3% GDP thì đến năm 2014 chỉ còn bằng 20,1% GDP. Vấn đề bội chi ngân sách năm 2012 là 5,2% GDP, qua năm 2013 tăng lên 6,6% GDP, đến năm 2014 khống chế còn 5,3% và năm nay dự kiến ở mức 5% GDP.
Chính trong điều kiện khó khăn, thâm hụt như vậy mà Bộ Tài chính đã phải đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho ngân sách vay hoặc tạm ứng 30.000 tỉ đồng. Về mặt kỹ thuật và tính hợp pháp, luật pháp cho phép trong điều kiện có sự lệch pha tạm thời giữa dòng tiền thu và chi ngân sách, Bộ Tài chính có thể đi vay Ngân hàng Nhà nước để bù đắp khoản thiếu hụt trước mắt với điều kiện phải hoàn trả ngay trong năm tài khóa chẳng hạn, nhưng xét về tính bền vững của ngân sách thì không thể xem nhẹ điều này.
Điều đáng nói là về cơ cấu chi, chi thường xuyên vẫn chiếm tỉ trọng lớn với 69% và chi trả nợ, viện trợ chiếm gần 15% tổng chi ngân sách. Đồng thời, chi trả lãi nợ cũng đang chiếm gần toàn bộ phần tăng trưởng của thu ngân sách. Một chuyên gia kinh tế cho hay chi trả lãi chiếm gần 7% thu ngân sách. Tiến sỹ Phạm Thế Anh, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, trả lời phỏng vấn của TBKTSG, cho rằng: “(Ngân sách phải đi vay) Do thâm hụt, mà nguyên nhân chính là chi quá nhiều. Tới gần 70% ngân sách là chi thường xuyên thì quá lớn, chưa kể trả lãi vay cũng gần 10%. Chi cho đầu tư phát triển còn lại rất ít (…). Quan trọng nhất là phải giảm bộ máy. Bộ máy Nhà nước quá cồng kềnh, trùng lắp. Ngoài ra, có những hoạt động như vui chơi, giải trí, lễ hội, thể thao thì ngân sách không nên chi. Hiện nay có tình trạng các tỉnh thi nhau xây dựng các công trình như tượng đài, bảo tàng. Những công trình này làm ngân sách thêm khó khăn (…). Lẽ ra phải cơ cấu lại chi, thì tôi thấy động thái tăng thêm các loại phí, tạo khó khăn cho người dân và doanh nghiệp”.
TRONG KHI ĐÓ NGÂN SÁCH VẪN ỨNG TRẢ NỢ THAY CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HƠN 1 TỈ USD
Theo Vietnamnet (6/6/2015), báo cáo mới nhất của Bộ Tài chính gửi Quốc hội về tình hình sử dụng vốn vay của Chính phủ cho thấy, năm 2014, Chính phủ đã đứng ra bảo lãnh 2,44 tỉ USD nợ nước ngoài, tăng 22%, đẩy số nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh lên 234.939 tỉ đồng, bằng 52% tổng nợ bảo lãnh của Chính phủ và chiếm 10% tổng số nợ công.
Tám dự án được nhận ưu đãi bảo lãnh tiền vay thì có 6 dự án trọng điểm về điện như: nhiệt điện Thái Bình 2 do Tập đoàn Dầu khí (PVN) làm chủ đầu tư được bảo lãnh tới 937 triệu USD, là khoản vay nặng ký nhất, dự án Thuỷ điện Lai Châu của Tập đoàn Điện lực (EVN) được bảo lãnh 300 triệu USD… Hai dự án còn lại là dự án alumin Nhân Cơ của Tập đoàn Than – Khoáng sản (TKV) và dự án mua 2 chiếc máy bay A321 của Vietnam Airlines. Bộ Tài chính khẳng định, các lĩnh vực này đều thuộc danh mục ưu tiên xem xét cấp bảo lãnh của Chính phủ để thực hiện các công trình trọng điểm, cấp bách, công trình hạ tầng cần vốn lớn, và đó là một hoạt động bình thường. Tuy vậy, khi xảy ra rủi ro, Bộ Tài chính lại phải ứng từ Quỹ tích lũy trả nợ ra để trả thay.
Bằng chứng là trong kết quả kiểm toán ngân sách năm 2013, chuyên đề nợ công được công bố mới đây, Kiểm toán Nhà nước đã cảnh báo, Quỹ tích lũy trả nợ phải ứng trả nợ thay lớn và có nguy cơ biến thành nghĩa vụ trực tiếp của ngân sách nhà nước. Thông tin từ cơ quan Kiểm toán cho biết, riêng năm 2013, Quỹ này đã phải ứng trả nợ thay cho 6 dự án số tiền là 992 tỉ đồng tương đương 47 triệu USD. Đến 31/12/2013, số còn phải thu về Quỹ tích lũy trả nợ đối với số tiền ứng trả nợ thay cho các dự án là 3.956 tỉ đồng (tương đương 188 triệu USD), bằng 2,1% tổng dư nợ được Chính phủ bảo lãnh. Năm 2014, Bộ Tài chính rút thêm 1.728 tỉ đồng từ Quỹ tích lũy trả nợ để ứng trả nợ thay, nâng tổng số dư vay Quỹ này lên tới 23.442 tỉ đồng, bằng 5,3% tổng nợ được Chính phủ bảo lãnh. Con số này tương đương hơn 1 tỉ USD.
Đối tượng được trả nợ thay hầu hết là DNNN triển khai dự án thua lỗ, như Tổng Công ty Cơ khí xây dựng, Tổng Công ty Giấy Việt Nam, Tổng Công ty xây dựng Công nghiệp Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà, Tổng công ty xi măng Việt Nam… Kết quả kiểm toán ngân sách chuyên đề nợ công của Kiểm toán Nhà nước vừa công bố nêu rõ, nhiều dự án nhận bảo lãnh nợ nước ngoài khi xây dựng, thẩm định và phê duyệt dự án đã không sát thực tế, đầu tư không đồng bộ, dự án triển khai chậm, phải điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần. Nhiều vi phạm đã được phát hiện, như không thực hiện đúng cơ chế quản lý cấp bảo lãnh các dự án khoản nợ nước ngoài. Cụ thể như việc góp đủ vốn đối ứng 20% tổng vốn đầu tư chỉ được chủ đầu tư cam kết trên giấy và khi thực hiện, bị hầu hết các chủ dự án làm lơ. Năm 2013, kiểm toán phát hiện cả 38 dự án được Chính phủ bảo lãnh vay nước ngoài đều chưa đăng ký tài sản thế chấp đảm bảo dù đã hoàn thành rút vốn và nghiệm thu quá 6 tháng. Đó là chưa kể, cơ quan kiểm toán còn phát hiện 36 dự án chậm nộp phí bảo lãnh và 10 dự án đã bị phạt chậm trả 129 triệu đồng, 13 dự án đã không thanh toán phí bảo lãnh năm 2013 đúng quy định với số tiền nợ phí là 103,68 tỉ đồng. Sáu dự án đến năm 2014 cũng vẫn chưa thanh toán phí bảo lãnh (gồm 0,74 triệu USD; 0,63 triệu EUR; 22,89 triệu JPY).
Vài tuần trước, Ngân hàng Thế giới đã công bố số nợ công của Việt Nam (không tính nợ của DNNN) là gần 120 tỉ USD. Nếu nhìn tổng thể bức tranh thu chi ngân sách và nợ công (nếu tính cả nợ DNNN mà Chính phủ bảo lãnh) thì tình hình rõ ràng không mấy sáng sủa và tiềm ẩn không ít rủi ro. Ngoài rủi ro do cơ cấu chi không hợp lý, đầu tư thiếu hiệu quả thì rủi ro lớn nhất chính là những khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh của các DNNN làm ăn thua lỗ mà ngân sách nhà nước cuối cùng cũng phải gánh, và những khoản chi cho các công trình, dự án hoành tráng nhằm thỏa mãn bệnh hình thức trong khi hiệu quả mang lại không bao nhiêu như các công trình bảo tàng, nhà hát, tượng đài… Trong điều kiện đó, những hoài nghi, bức xúc của dư luận trước thông tin về những dự án ngàn tỉ, nhiều ngàn tỉ từ ngân sách là không có gì khó hiểu.
Đoàn Khắc Xuyên /

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Argentina trong cuộc đấu không khoan nhượng với “quỹ kền kền”

Argentina trong cuộc đấu không khoan nhượng với “quỹ kền kền”Một bức tường ở Buenos Aires, Argentina, dán đầy ápphích có hình ảnh của Thẩm phán Mỹ Thomas Griesa. (Nguồn: AP)


Argentina trước sau vẫn dành ưu tiên cho các chủ nợ đã tham gia tái cơ cấu nợ, trong lúc kiên quyết không nhượng bộ và tìm kiếm các biện pháp pháp lý để đối phó với các “quỹ kền kền.”


Sau vụ vỡ nợ được cho là lớn nhất trong lịch sử tài chính thế giới vào năm 2001, Argentina đã tiến hành hai lần tái cơ cấu nợ và từ đó đến nay đã nỗ lực thanh toán cho đa số chủ nợ chấp nhận những thiệt hại lớn, tham gia các đợt tái cơ cấu nợ này.
Tuy vậy, đối với nước này, sự phiền toái đến từ số ít chủ nợ không đồng ý hoán đổi nợ mà đòi được thanh toán trái phiếu theo mệnh giá. Nhưng Argentina trước sau vẫn dành ưu tiên cho các chủ nợ đã tham gia tái cơ cấu nợ, trong lúc kiên quyết không nhượng bộ và tìm kiếm các biện pháp pháp lý để đối phó với các “quỹ kền kền.”
Vụ vỡ nợ kỳ lạ
Argentina vỡ nợ tổng cộng tám lần trong lịch sử 200 năm qua. Nhưng lần vỡ nợ gần đây nhất vào cuối tháng Bảy năm ngoái chắc chắn là kỳ lạ nhất.
Argentina không vỡ nợ vì không trả được nợ mà vì một thẩm phán của Tòa án liên bang Mỹ tại New York ngăn cản việc thanh toán. Argentina đã không thanh toán đúng hạn khoản lãi trái phiếu trị giá 539 triệu USD cho số trái chủ tham gia hai chương trình tái cơ cấu nợ của Chính phủ trong năm 2005 và 2010.
Số tiền này bị Tòa án New York “phong tỏa” vì Argentina không tuân thủ phán quyết của Tòa án này vào năm 2012 rằng Argentina phải thanh toán toàn bộ khoản nợ 1,3 tỷ USD, cộng tiền lãi, cho hai quỹ đầu tư của Mỹ là NML Capital và Aurelius Capital Management. Hai quỹ đầu tư này, còn gọi là hai “quỹ kền kền," là lớn nhất trong số các chủ nợ không tham gia chương trình tái cơ cấu nợ kể trên để đòi được thanh toán 100% giá trị khoản nợ cộng lãi.
Sau vụ vỡ nợ 100 tỷ USD vào năm 2001, Argentina đã nỗ lực thực hiện trách nhiệm của họ khi đưa ra đề nghị vào năm 2005 và 2010 với những người nắm giữ số nợ đã không được hoàn trả, khi đó vẫn đang được giao dịch với giá trị rất thấp, về trái phiếu hoán đổi, với số tiền được trả là 35 cent cho mỗi USD giá trị trái phiếu gốc. Đó là đề nghị không thể từ chối, bởi nếu nhà đầu tư không chấp nhận, họ sẽ trắng tay và họ cũng không thể buộc Argentina trả thêm.
Và đã có 92,4% số chủ nợ cũ chấp nhận vụ hoán đổi này. Số 7,6% còn lại thì sao? Hầu hết trong số này là các quỹ đầu cơ đã mua lại nợ trước đây của Argentina với giá rẻ mạt và cho rằng có thể kiện để có một thỏa thuận tốt hơn. Họ lập luận rằng điều khoản pari passu buộc Argentina phải trả cho họ đúng theo mệnh giá trái phiếu nếu thanh toán toàn bộ số trái phiếu hoán đổi, có nghĩa là “đối xử công bằng.”
Điều khoản pari passu chỉ nói rằng người đi vay phải đối xử với tất cả các chủ nợ như nhau, không thể trả cho một số người mà không trả cho những người khác.
Cuối cùng, các quỹ đầu tư đã có thể tìm được chỗ bấu víu để buộc Argentina phải đáp ứng yêu cầu của mình: một thẩm phán ở New York.
Năm 2012, thẩm phán Thomas Griesa ra phán quyết đứng về phía các quỹ đầu tư, nói rằng Argentina không thể thanh toán trái phiếu hoán đổi mà không trả số nợ không được tái cơ cấu.
Chưa hết, ông Griesa cũng tuyên bố nếu Argentina không bắt đầu thanh toán cho các quỹ đầu cơ, bất kỳ thiết chế tài chính nào giúp nước này thanh toán trái phiếu hoán đổi là không tuân thủ phán quyết, hay nói cách khác ông sẽ không cho phép Argentina thanh toán cho bất kỳ chủ nợ nào. Điều này đặt Argentina trước lựa chọn hoặc trả cho các quỹ đầu cơ, hoặc vỡ nợ trái phiếu hoán đổi, mặc dù có thể và sẵn sàng thanh toán cho họ.
Và Argentina đã chọn vỡ nợ. Có rất nhiều lý do cho sự lựa chọn đó. Nước này nợ tất cả các chủ nợ không tham gia tái cơ cấu khoảng 15 tỷ USD, và việc trả số nợ này có thể làm phát sinh hàng trăm nghĩa vụ mới. Đó là bởi trái phiếu hoán đổi gắn với điều khoản RUFO (tức là các quyền dựa trên các đề nghị trong tương lai), theo đó các chủ nợ nắm trái phiếu này sẽ nhận được bất cứ điều gì mà các chủ nợ không tham gia tái cơ cấu nhận được. Đó là tình huống mà các bên đều thất bại. Cả chủ nợ không tham gia tái cơ cấu nợ cùng người nắm trái phiếu hoán đổi đều không vui, bởi chẳng nhận được đồng tiền nào, còn Argentina cũng không vui bởi bị buộc vỡ nợ, dù không muốn.
Có hai cách để kết thúc câu chuyện này: một là thỏa thuận với chủ nợ không chấp nhận tái cơ cấu nợ và hai là thỏa thuận với chủ nợ đồng ý hoán đổi trái phiếu. Trong trường hợp thứ nhất, chủ nợ không tái cơ cấu nợ sẽ chấp nhận một hình thức thanh toán và chủ nợ đồng ý hoán đổi trái phiếu chấp nhận từ bỏ quyền RUFO.
Trong trường hợp thứ hai, chủ nợ không tái cơ cấu nợ sẽ không nhận được gì và những người nắm trái phiếu hoán đổi sẽ đồng ý hoán đổi một lần nữa để lấy trái phiếu phát hành riêng tại Argentina và khi đó, cánh tay của thẩm phán Griesa sẽ không thể vươn tới.
Và cuộc chiến giằng dai
Đầu tháng Sáu vừa qua, Tòa án New York một lần nữa lại ra phán quyết yêu cầu Chính phủ Argentina phải thanh toán cho thêm cho 500 chủ nợ tổng số tiền 5,4 tỷ USD. Với hai phán quyết của Tòa án New York, số tiền nợ của Argentina đối với các quỹ đầu cơ lên tới 7 tỷ USD. Cũng như với phán quyết năm 2012, Chính phủ Argentina đã bác bỏ hoàn toàn phán quyết vô lý này của Tòa án New York.
Cuối năm ngoái, Chính phủ Argentina thông báo nước này sẽ trả trước các trái phiếu đến hạn thanh toán vào tháng 10/2015 với tổng trị giá 6,7 tỷ USD, nhằm chứng tỏ khả năng và quyết tâm trả nợ, đồng thời ngăn chặn các hành động đầu cơ nhằm vào nền kinh tế lớn thứ ba Mỹ Latinh này.
Ngày 18/7, Ngân hàng trung ương Argentina (BCRA) khẳng định bất chấp các phán quyết của Tòa án New York, Argentina sẽ tiếp tục thực thi cam kết trả nợ với các nhà đầu tư.
Trong thông báo gửi cơ quan tư pháp Mỹ, BCRA cũng nhấn mạnh sẽ không thực thi phán quyết của thẩm phán Griesa yêu cầu nước này trả nợ cho các “quỹ kền kền” cũng như các quyết định ngăn cản Chính phủ Argentina trả nợ cho 92,4% số chủ nợ đã đồng ý hoán đổi nợ.
Tuy nhiên, nỗ lực thanh toán nợ của Argentina thông qua ngân hàng Citibank, chi nhánh của Citigroup (Mỹ) tại Argentina, đã bị Tòa án New York cản trở. Ngân hàng Citibank, bên được ủy thác thanh toán các trái phiếu nợ tại Argentina, đã thực hiện hai đợt thanh toán trái phiếu hồi tháng 9 và tháng 12/2014 trong thời gian chờ đợi quyết định cuối cùng từ tòa án.
Ngày 22/3, Citibank thông báo vào ngày 31/3, họ sẽ thực hiện nhiệm vụ thanh toán cho các trái chủ của các trái phiếu mà Chính phủ Argentina đã phát hành. Thẩm phán Griesa trước đó đã ra phán quyết không cho phép Citibank thanh toán cho các trái chủ của các trái phiếu Chính phủ Argentina, trừ phi các chủ nợ Mỹ cũng được hoàn trả số tiền mà họ đang yêu cầu. Trước phán quyết này, Citigroup đã để ngỏ khả năng chấm dứt hoàn toàn hoặc chuyển nhượng vai trò ủy thác cho một bên khác.
Ủy ban Chứng khoán quốc gia Argentina (CNV) đã đình chỉ tạm thời hoạt động thị trường vốn của ngân hàng Citibank. Thông cáo của CNV cho biết Citibank đã không tuân thủ luật pháp nước sở tại sau khi ký thỏa thuận với NML Capital, theo đó sẽ không tiếp tục thực hiện vai trò là bên ủy thác tại Argentina sau tháng Sáu.
Theo CNV, việc làm của Citibank rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm đối với các trái chủ đã tái cơ cấu nợ bởi ngân hàng này không hoàn tất việc thanh toán như đã cam kết theo luật Argentina. Ngân hàng này cũng không tham vấn trước với các cơ quan chức năng Argentina về khả năng sẽ từ bỏ vai trò là bên ủy thác thanh toán nợ, gây lo ngại cho các trái chủ.
Chính phủ Argentina cũng từng tuyên bố sẽ đưa vấn đề “quỹ kền kền” ra Liên hợp quốc nhằm thiết lập khuôn khổ ngăn chặn các quỹ đầu cơ phá hoại nền kinh tế các nước. Tổng thống Argentina Cristina Fernandez khẳng định sẽ theo đuổi việc thiết lập khung pháp chế đa phương để bảo vệ các thỏa thuận và tiến trình tái cơ cấu nợ của các nước trên thế giới.
Bộ trưởng Ngoại giao Argentina Hector Timerman thì nhấn mạnh hơn bao giờ hết, cần thiết lập một cơ chế pháp lý đa phương để có thể tái cơ cấu nợ một cách có hệ thống, hiệu quả và đảm bảo việc trả nợ đúng hạn, bởi các thỏa thuận giữa chủ nợ và các quốc gia sẽ không còn giá trị nếu các quỹ đầu cơ tiếp tục can thiệp một cách dễ dàng như những gì đang diễn ra ở Argentina.
Và trong khi bị "chặn cửa" tiếp cận thị trường vốn toàn cầu, Buenos Aires đã đi đường vòng bằng cách chào bán trực tiếp trái phiếu mà không qua cơ quan bảo lãnh phát hành.
Hồi tháng Tư vừa qua, Chính phủ Argentina đã phát hành trái phiếu Bonar 24 và thu về 1,4 tỷ USD, cao gần gấp ba lần so với dự kiến ban đầu là 500 triệu USD.
Bộ trưởng Kicillof nhận định: “Hoạt động này cho thấy không cần phải đem tương lai của Argentina làm vật thế chấp qua việc trả nợ cho các “quỹ kền kền” để có nguồn tài chính bằng đồng USD.” Ngoài ra, phản ứng của thị trường cũng phát đi một tín hiệu rất rõ ràng là Argentina không ngại các “quỹ kền kền”.
Theo Lê Minh