Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2017

MAI ĐÌNH, NGƯỜI TÌNH CHUNG THUỶ CỦA HÀN MẶC TỬ


Nhà thơ của trăng, của gió, của sóng gào, của bệnh tật và bất hạnh ấy, trong đời đã có những mối tình thơ, những cái bóng tình nhân ảo mộng đã gợi cho chàng trăm thương ngàn nhớ, để dệt nên những bản tình ca bất hủ, vần điệu còn lưu dấu mãi trên thi đàn, không những thời tiền chiến, mà cả thời đương đại thơ Hàn Mặc Tử vẫn chiếm ngự trong trái tim hàng triệu người yêu thơ...

MAI ĐÌNH, NGƯỜI TÌNH CHUNG THUỶ CỦA HÀN MẶC TỬ

HOÀNG HƯƠNG TRANG

Nhà thơ của trăng, của gió, của sóng gào, của bệnh tật và bất hạnh ấy, trong đời đã có những mối tình thơ, những cái bóng tình nhân ảo mộng đã gợi cho chàng trăm thương ngàn nhớ, để dệt nên những bản tình ca bất hủ, vần điệu còn lưu dấu mãi trên thi đàn, không những thời tiền chiến, mà cả thời đương đại thơ Hàn Mặc Tử vẫn chiếm ngự trong trái tim hàng triệu người yêu thơ.

Đầu tiên là bóng giai nhân Hoàng Cúc, tức Hoàng Thị Kim Cúc, một cô nữ sinh Đồng Khánh Huế đoan trang dung hạnh, Hàn chỉ chiêm ngưỡng từ xa mà chẳng dám ngõ lời từ khi quen biết ở đất Qui Nhơn. Cho đến khi nàng theo cha về nghỉ hưu ở thôn Vĩ Dạ xứ Huế, Hàn mới thấy nhớ nhung mà dệt thành bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ bất hủ đề tặng nàng, "Sao anh không về thăm thôn Vỹ ?" chỉ là lời mời gọi trong thơ của hồn thơ tương tư nàng, Hoàng Cúc vẫn chỉ là cái bống thơ xa vời chưa một lần mời gọi.

Rồi Thương Thương bé bỏng, mà từ đất Qui Nhơn mộng về xứ Huế, Hàn cứ ngỡ là người tình mười tám, đôi mươi, cái bóng thơ trong trẻo Thương Thương đã để lại dấu ấn trong thơ Hàn khá đậm.

Rồi người tình đối diện bằng xương bằng thịt với Hàn, phải kể Mộng Cầm, hai người đã thề non hẹn nước, đã cùng nhau đi chơi bao thắng cảnh, Lầu Ông Hoàng đất Phan Thiết đã từng  in dấu chân hai người. Thế mà… đến lúc nghe tin Hàn vướng bệnh nan y, nàng đã vội lấy chồng, để lại cho chàng biết bao đớn đau tan nát.

Rồi một người con gái khác đã đến với Hàn, lấp đầy khoảng trống vừa qua. Nàng tha thiết, đậm đà, biết Hàn không yêu mình bằng Mộng Cầm, nhưng nàng vẫn yêu Hàn bằng trái tim bỏng cháy. Biết Hàn mắc bệnh nan y, ai cũng tránh xa, nhưng nàng vẫn yêu, vẫn đến giúp đỡ chàng tận tụy, chí tình. Trước đó nàng đang là một cô giáo dạy nữ công ở Sài Gòn, nghe tin Hàn bệnh, nàng đã bỏ tất cả để về Qui Nhơn gặp Hàn. Hơn thế nữa, thực lòng xin Hàn coi mình như một người vợ, một người tình, nàng giúp đỡ Hàn không tiếc công, không tiếc của, bất chấp tất cả lời can gián của gia đình. Hàn cảm vì ơn vì nghĩa nhiều hơn là vì tình, nàng vẫn chấp nhận, đó là Mai Đình, người tình cuối của Hàn.

Cho đến lúc Hàn qua đời, mãi lâu sau, Mai Đình mới "bước đi bước nữa" vì sự ép buộc của gia đình. Nhưng tận cùng trái tim yêu, Mai Đình vẫn tôn thờ Hàn Mặc Tử là người yêu lý tưởng, là người chồng trong mơ ước, là người bạn tình duy nhất của nàng.

Đã có nhiều người hỏi: "Bà đã lấy chồng, có con, có cháu, vẫn thờ người tình, vẫn treo ảnh người tình, thế có phải là ngoại tình không? Và ông nhà không ghen tức sao?".

Mai Đình đã thẳng thắn trả lời: "Lúc tôi lấy chồng đã có giao hẹn, không được ghen với Hàn, phải chấp nhận cho tôi lập bàn thờ Hàn, và phải ghi nhớ Hàn là người yêu lý tưởng của tôi. Có bằng lòng những điều kiện ấy tôi mới chịu lấy ông ta. Chồng tôi đã phóng khoáng, độ lượng chấp nhận, nên suốt mấy chục năm trời, chúng tôi vẫn sống êm thấm, không ai vi phạm lời đã hứa, tôi rất cảm ơn chồng tôi".

Sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975), nữ sĩ Mai Đình từ miền Bắc vào sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Việc đầu tiên là bà trở lại Qui Nhơn, lên tận trại phong Qui Hòa thăm lại nơi Hàn đã dưỡng bệnh, nơi phòng lưu niệm Hàn đã qua đời, thăm lại nơi ngôi mộ cũ của Hàn, và thăm ngôi mộ cải táng ở Gành Ráng (do nhà thơ Quách Tấn phụng lập). Đi đến đâu bà cũng khóc đến lả người. Bà thả bộ dưới những hàng cây trong trại Qui Hòa, thì thầm đọc thơ cho Hàn nghe, tưởng chừng ngày xưa bà đã cùng Hàn đi dạo dưới hàng cây. Bà đã đọc thơ trong hai hàng nước mắt đầm đìa trước mộ Hàn, tưởng chừng trong gió khơi Gành Ráng, Hàn đã bay về nghe thơ Mai Đình đọc trước mộ chàng.

Mai Đình chưa bao giờ che dấu tình cảm của mình với Hàn Mặc Tử. Với bất kỳ ai, ở bất cứ nơi đâu, bà cũng thẳng thắn xác nhận bà yêu Hàn và luôn luôn coi Hàn là người tình trong mộng của bà.
Xưa nay có lẽ hiếm có người tình chung thủy như thế. Ở một thế giới xa vời nào đó, dù đã cách biệt với thế gian, chắc chắn nhà thơ Hàn Mặc Tử cũng vui sướng, tự hào rằng mình đã có một người tình chung thủy là Mai Đình nữ sĩ.

Khoảng ba, bốn năm nay bà dần yếu sức, trí nhớ mất hẳn, bà không còn nhận ra người thân quen đến thăm bà, nói năng không còn kiểm soát được, tuy nhiên nhắc đến Hàn Mặc Tử thì đôi lúc bà như tỉnh táo lại, gọi tên Hàn rất âu yếm, và đọc thơ Hàn như đọc từ cõi tiềm thức xa xăm nào…

Bà qua đời ngày 16 /10/1999, bà ra đi nhẹ nhàng như một vần thơ, hưởng thọ tuổi 83. Người gần gũi nhất là người chồng bằng xương bằng thịt đã hết lòng chăm sóc bà trong những ngày đau yếu cuối đời. Tên thật của bà là Lê Thi Mai, quê gốc ở Thanh Hóa.

                   
Tan Rã
Tặng hương hồn Hàn Mặc Tử
Đã trót hai năm em cố quên
Một hình ảnh cũ một người quen
Mà em tự thấy đời không xứng
Để được cùng người kết lứa duyên

Nhưng em khổ quá vì em tiếc
Cuộc gặp gỡ nhau đã muộn màng
Em đã dấn thân trong gió bụi
Còn mong chi nữa kết uyên ương

Những lời em hứa lúc anh đau
Là giải cho anh bớt khổ sầu
Trong lúc đời anh không thể sống
Nửa hồn thì chết nửa hồn đau

Hôm nay bỗng được tin anh mất
Khắp cả thân em lạnh rồi
Anh chết là hồn em đã chết
Não nùng chi lắm hỡi anh ơi!

Em khấn cùng anh thấu nỗi lòng
Xem tình em có phụ anh không
Tình em đã chết muôn năm trước
Nào có còn đâu để ước mong

Thôi nhé từ đây miền cực lạc
Hồn anh theo với cảnh tiêu diêu
Xác anh vùi lấp trong muôn kiếp
Để lại cho người hận mến yêu

Còn có khi nào nhớ tới nhau
Hồn anh hãy kiếm buổi ban đầu
Một người sắp chết trong tăm tối
Giữa lúc bầu trời vẫn đêm thâu.
                                                            Mai Ðình – 1940
Tìm Kiếm

Ta sẽ nhập hồn ta trong bóng nguyệt
Để bay lên cho đến tận ngàn khơi
Tình cho ra một bóng hình đã chết
Kẻo não nùng đau khổ cả hồn tôi

Lệ Thanh hỡi, Chàng thấu tình chăng hỡi?
Nhớ tới chàng lòng thiếp khổ sầu thay
Buồn hơn nữa trong những đêm mộng mi.
Mộng tan rồi, hồn thiếp cũng xa bay

Khắp trung gian thiếp đã đi tìm kiếm
Mong gặp chàng cho thỏa nỗi nhớ mong
Nhưng chỉ khổ sầu  thêm cho lòng thiếp
Chẳng gặp chàng thiếp đành trở về không

Bao ngày tháng trôi qua rồi đi hẳn
Biết bao giờ chàng mới trở lại đây?
Thiếp chỉ đợi trong một đêm im lặng
Thiếp theo chàng cho thoát nợ trần ai

Bên cõi thế chàng đã yên phận số
Trong giờ này chàng còn nhớ thiếp chăng?
Thiếp đã chết bởi tấm lòng đau khồ
Hận chung tình muôn kiếp vẫn chưa tan

Thiếp nhớ chàng, thiếp nhớ chàng khôn ta
Dẫu muôn ngày thiếp còn ở thế gian
Không phút nào thiếp quên chàng được cả
Một thiên tài đã ngủ giấc bình an

Lời chàng hứa thuở chàng còn bên thiếp
Dẫu không thành nhưng thiếp chẳng hề quên
Thôi từ đây đành ngàn thu vĩnh biệt
Mà bóng chàng thiếp đã khắc trong tim!
Mai Đình - Tháng 6/1941
Ảnh Người Xưa

Tặng hương hồn Hàn Mặc Tử
Cảm đề một buổi chiều chơi biển Quy Nhơn

Ta chỉ yêu thương có một người
Bên bờ cát trắng giữa chơi vơi
Mà nơi ấy chỉ chôn sầu thảm
Đầy vẻ đau thương với ngậm ngùi

Cảnh vật hôm nay trông khác lạ
Mà hồn ta cũng thấy nao nao
À thôi,  người ngọc đà tan mất
Nào thấy yên chi ở chốn nào?

Ảo não ta nhìn tận chốn xa
Trời ơi! Điên một buổi Quy Hoà
Nơi chôn tất cả niềm tâm sự
Để lại cho lòng những thiết tha

Kìa nơi nhà ngói cao cao ngất
Bức tượng Giê-su vẻ thảm sầu
Ta cố tìm ra trên bãi cát
Nấm mồ tưởng tượng của thương đau

Này hỡi thuyền ai ở góc trời
Hãy xin ghé lại chở dùm tôi
Đến bên bãi cát bên hồ ấy
Thêm hộ dùm cho một bóng người     

Tôi đang điên chết vì đau khổ
Trời cướp của tôi một nửa hồn
Giấc mộng năm xưa nào trở lại
Nửa hồn đây nữa, gửi theo luôn

Này kẻ qua đường hãy đứng im
Đừng thêm bước nữa để tôi tìm
Đừng cho mây gió xôn xao quá
Mà bóng người yêu phải đắm chìm

Trong mây như dấu hình ai đó
Có phải hình người mất đã lâu?
Hơn một năm trời tôi vẫn kiếm
Nhưng chưa hề gặp phút nào đâu…

Này thôi mây gió
Rung chuyển đi nào
Hình người rơi xuống
Ta hớp hình vào trong đáy hồn ta
A ha! A ha!
Ta là Tiên Nga
Được thu tất cả sơn hà
Vào lòng vào mắt vào xa tận trời
Lệ Thanh ơi! Lệ Thanh ơi!
Anh đã chết rồi
Nhưng anh chỉ chết với người
Với em anh vẫn sống hoài ngàn năm!

6/9/1941- Mai Đình

TẬP THƠ CỦA HÀN MẶC TỬ & MAI ĐÌNH" ĐÔI HỒN "




Những bài thơ trong tác phẩm Đôi Hồn là những khúc "xướng hoa" riêng của hai tâm hồn thi sĩ, tuy sống giữa nghịch cảnh, vẫn ngụp lặn dưới những ngọn triều của tình yêu say đắm, hay đúng hơn, của một thiên diễm tình có một không hai trong giới thi nhân Việt Nam.

Bản thân tập thơ ĐÔI HỒN đã nói lên cái đặc trưng của tập thơ, đồng thời tình yêu đặc biệt giửa hai thi sĩ, Hàn Mặc Tử và Mai Đình.

Hàn Mặc Tử mắc phải căn bệnh hiểm nghèo đày mình vào "một vũng cô liêu vạn đời", nhà thơ lại càng khao khát yêu đến mức tuyệt vọng. Nhưng cuộc đời lại dành cho Hàn Mặc Tử một tính yêu huyền diệu và nóng bỏng mà hôm nay, đã
hơn nửa thế kỷ vẫn còn nung nấu trong lòng người mộ điệụ Mai Đình xuất hiện trong lòng Hàn Mặc Tử với dáng một thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp, tài hoa, lại đang ôm ấp một tình yêu đến dại khờ với nhà thơ kiệt xuất.

Mai Đình táo bạo vượt qua mọi ngăn trở trước mắt để đến bên cạnh người thi sĩ bất hạnh nàỵ Rốt cuộc chàng thi sĩ chẳng những không tài nào cách ly nổi nàng mà còn bị nàng chinh phục đến tận xương tủỵ

Thế nhưng căn bệnh quái ác đã chặn đứng bước chân tình yêu ấỵ HMT phải dùng tất cả nghị lực để đè nén nỗi yêu đương sôi sục, không dám đụng vào người Mai Đính, ví sợ lây bệnh cho người yêu.

Mai Đính kể: những phút ấy, mặt HMT đỏ rần lên rồi tím đi, còn Mai Đính cũng chết cả ruột gan, không biết phải xử trí làm sao....

Tính yêu của hai người đã đạt ttới mức chín mùi về cả lý trí lẫn tính cảm, nhưng lại bị cấm kỵ về mặt thể xác.

Độc giả thân mến!

ĐÔI HỒN là khúc hòa tấu tình yêu của hai giọng thơ nam-nữ tài hoa, hai âm sắc khác nhau nhưng hòa quyện và ứng đáp với nhau, tạo nên một âm hưởng chung, khi thiết tha nồng cháy, khi tê tái bi thương, khiến chðng ta xúc động và thương cảm. Đó chính là vẻ đẹp tuyệt vời mang đày tính bi kịch của một tình yêu cao cả cộng với tài năng, giữa một cảnh ngộ éo le nghiệt ngã.






ANH HỨA ĐI ANH
Mai Đình

Em đã yêu anh đến dại người,
Lòng em ngày tháng dễ nào nguôỉ
Yêu anh trên hết tình yêu mến,
Và sẽ yêu anh suốt một đờị

Yêu anh trong lúc anh lâm chung
Mới thấy tình em yêu lạ lùng,
Rải hết bầu trời e chưa lấp,
Mong anh lành mạnh mới đang công

Anh lành anh sẽ tặng em chỉ
Tặng cả đời anh, cả hồn thi
Với tất những gì anh ước vọng,
Cả hồn, cả xác, cả tình sị

Anh hứa đi anh, hứa thế nghe!
Cho em tưởng tượng, em say mê,
Em quên ngày tháng, đời đau khổ
Để đón hồn anh lúc tái tệ



BIẾT ANH
Mai Đình

Em nhớ lần đầu em biết anh
Nhờ vần thơ mới dệt thêu tình
Lòng em rung động từ hôm ấy
Trong những đêm trăng tưởng bóng hình.

Còn anh, em đã gặp anh đâủ
Chỉ cảm vần thơ có những câu
Âu yếm, say sưa, đầy mộng đẹp
Xui lòng tơ tưởng suốt đêm thâụ

Rồi buổi chiều kia em tới thăm
Thăm người thi sĩ chốn xa xăm
Mà vần thơ mới làm rung động
Xa gọi hồn em mau tới gần.

Kịp nghĩ miệng đời hay mỉa mai
Tảng lờ ngừng bước và im hơi
Mộng hồn em gửi theo chiều gió
Để được gần anh ngỏ ít lờị

Rồi liền hôm ấy em xa anh
Với nỗi nhớ nhung, với hận tình
Với cuốn thơ văn anh gửi tặng
Với lòng tưởng tượng ảnh hình anh


BIỆT LY
Mai Đình

Em theo mây gió anh ơi,
Em đi đi mãi vào nơi vô hình.
Yêu anh trên bước phiêu linh,
Để lòng bớt khổ, để tình bớt đaụ

Lòng anh là một con tầu
Đón em giữa bến u sầu phải chăng?
Gặp anh em nhớ hôm rằm,
Mất anh em bắt chị Hằng thường em!

Đời em như giấc cô miên,
Mất anh là mất cả niềm yêu thương.
Thơ em anh ướp đầy hương
Tính em anh giữ về phương nào rồỉ

Đời em còn một anh thôi,
Nếu ngày ly biệt là đời em tan!
Thương hoa chớ để hoa tàn,
Yêu ai chớ để đoạn tràng riêng ai!


ĐÀN NGỌC
Hàn Mặc Tử

Điện Hàm Chương, Mai Hoa còn rớt ngọc
Xiêm nghê nàng ven vén để hương laỵ
Nốc đi cho làn phấn điểm màu say,
Cho rung động toàn thân người rớm khóc!

Rồi muôn xuân đã mơ chiều thổn thức
Đều run lên như thể tấm hồn mơ
Ai gieo chi thương tiếc giữa đường tơ
Cho lỡ dở vang lên từng tiếng nấc?

Nguồn sáng láng lờ đi trong sự thật
Trong ảo huyền và trong cả mê lỵ
Ai nỡ nào cắt nghĩa tới hàng mi
Là ứ lại, là trào ra nước mắt?

Bằng trăm tiếng vẽ ra trăm màu sắc
Với đôi tay, nàng trút hết đê mệ
Dạ lan hương bừng mở cánh e dè
Trong khúc nhạc rên đều hơn gió tớt

Đàn ngọc đã rít lên chiều nả nớt
Tôi kêu rên van khóc, lạy nàng thôi
Hãy uống đi, cốc rượu ngấm đầy hơi
Chan chứa vị nồng say đêm hiệp cẩn!

Nàng! Lạy nàng! Hãy nghe tôi cầu khẩn.
Hãy khoan tay, cầm lại trí tương tư
Đang chờn vờn như nguồn sáng ngất ngư
Đang lướt mướt trong muôn màu hoa lệ!

Trên cung bậc, hãm mau niềm ngọc kể
Với lòng rung, ngưng hết cả thanh âm,
Cho lửng lơ chới với điệu phong cầm
Cho tôi bớt bồi hồi trong một phút!


ĐIỆU ĐÀN ÊM ÁI
Mai Đình

Đắm đuối say sưa điệu nhạc vàng
Bên người yêu, gảy khúc tình tang
ĐÔI HỒN hô hấp làn hơi thở
Và sẽ đi chung một nẻo đường.

Chưa có bao giờ ta thấy say
Cho lòng ngây ngất tuổi thơ ngây
Mà sao nay bỗng như điên dại
Bởi khúc người đàn gẩy qúa haỵ..

Thôi chết, vô tình tôi đã quên
Ôm hình ảnh ấy giấu trong tim.
Trời ơi! Đến lúc ta hay được
Thì cả hồn ta đã đắm chìm.

Dại qúa mà lòng chẳng chịu khôn,
Đi tìm đau khổ để mà chôn,
Từ đây có lẽ hồn ta đã
Bị Trái tim người chiếm hẳn luôn

Này chàng nhạc sĩ của ta ơi!
Chớ thấy hồn ta chiếm được rồi
Mà bỏ khúc đàn không gảy nữa,
Cho lòng ta chết, lệ ta rơi!

Đêm vắng lòng ta vẫn đợi chờ
Khúc đàn êm dịu tự xa mơ
Gởi hồn ta nhập trong đàn ấy
Thu lấy dư âm khắp bến bờ...

Ta ở, lòng chàng sẽ ngất ngây
Khi đàn nắn phím lúc lên dây,
Ta như cô bé đầy ngoan ngoãn
Tùy cái tay chàng điểm đắm saỵ..


ĐỢI CHỜ
Mai Đình

Lệ Thanh ơi! vắng anh trong hai tháng,
Sáu mươi ngày dằng dặc nỗi nhớ nhung.
Những đêm thâu em sẽ nấp dưới bóng tùng,
Để hấp thụ lấy hồn anh đương chới với,
Cùng hồn anh đi khắp hết cõi không trung,
Tìm cho ra những lạc thú, những máu hùng,
Thu hết cả vào lòng cho khoan khoáị


ĐÔI TA
Hàn Mặc Tử

...Mà anh hay em, trong tim đều rạn
Đều chôn sâu hình ảnh một người mơ
Bây giờ đây quấy quýt hiện bây giờ
Chỉ biết có đôi ta là đang sống
Đang cho nhau ngọt ngào và đang mộng
Cố làm lơ không biết đến thời gian
Đến những tình duyên chung quanh thất vọng
-Nhiều hành tinh tan đi vì đã lỏng
Ôi muôn năm! Giấc mộng đã đời chưả
Lúc ấy sóng triều rên rỉ chưa bưa
Cứ nhắm mắt, cứ yêu nhau như chết.
Cứ sảng sốt, tê mê và rũ liệt
Đừg nghe chi âm hưởng địa cầu đang
Vỡ toang ra từng mảnh, cả không gian
Cả thời gian, từ tạo thiên lập địa
Đều trộn trạo, điều hòa và xí xóa
Thành hư không như tình ái đôi ta


GHEN TRĂNG
Mai Đình

Hôm nay sáng tỏ cung Hằng
Khiến lòng em nhớ hôm rằm bên anh
Hãi hùng em sợ trăng thanh.
Vắng em, anh lại tự tình cùng trăng.
Hôm xưa, anh đã nói rằng
"Chị Hằng, hẳn chị đã bằng em chưả"
Vì em là một nàng thơ
Của chàng thi sĩ ước mơ mộng vàng.
Em có điệu nhạc du dương,
Có đôi mắt ngọc để chàng say mệ
Nếu anh quên hết lời thề,
Em đòi tất cả những gì của em!
Ví lòng em đã qúa ghen
Chị Hằng, sao chị lại thèm duyên tả
Những đêm u ám trăng mờ,
Em buồn em sợ như là mất anh.
Cớ sao trăng lại ẩn hình
Hay là trăng ở bên anh lúc nàỷ
Có chăng anh hãy tỏ bày
Để em bớt sợ những ngày còn xạ


GHEN VỚI LỆ KIỀU
Mai Đình

Anh thất vọng vì anh vô hy vọng
Với người yêu duy nhất của anh kia,
Lấy mộng lòng mong gửi tấm tình si
Anh cố gỡ nó càng thêm buộc chắc.

Em như kẻ tha phương cầu thực
Tìm tình yêu với chất đẹp vô song.
Được yêu rồi em giữ chặt trong cung
Khóa cửa lại ngoài đề "cung cấm".

Em ghen lắm anh ơi, em ghen lắm!
Anh liệu chừng đừng tưởng đến em chi!
Để đời em mưa gió lấp vùi đi,
Thà như vậy mà không đau đớn mấỵ

Anh không chịu em cũng xin van lạy
Tha cho em, đừng vương vấn vào yêu
Để cho anh được tưởng đến Lệ Kiều
Người anh đã phô bày trên mặt báọ

Nói hết ghen là thiệt em nói láo
Anh đừng tin và cứ tưởng em còn...
Vì hiện giờ em lại thấy ghen hơn
Tim còn đập, còn yêu, còn ghen mãi



HẠNH PHÚC
Mai Đình

Buổi đầu xuân giữa mùa hoa nở rộ.
Đúng hẹn kỳ, ta về với tân lang.
Ngày vu quy ta mừng vui hớn hở
Tối tân hôn chàng đẹp đến mê hồn!

Rượu quỳnh tương chàng dâng ta uống cạn,
Đàn ngọc trao, ta dạo khúc nghê thường.
Chàng nói khẽ: anh yêu em vô hạn,
Phút tương phùng anh dâng trọn niềm thương.

Ta đã ở bên chàng nơi cõi tục,
Quyết không về điện ngọc sống cô đơn.
Bốn bàn tay cùng chung xây hạnh phúc,
Túp lều tranh hơn cả cõi thiên đường.

***

Bỗng một hôm có chiếu trời ban xuống
Hết nợ rồi, đòi ta lại non tiên.
Nhưng hôm qua ta cùng chàng mới uống
Chén rượu thề: trần tục ở cho yên

Ta vội bảo sứ thần mau trở lại
Tâu Ngọc Hoàng: ta chẳng chịu về đâu
Ta đã hưởng biết bao điều êm ái,
Xa chốn này ta sẽ phải sầu đaụ

Vì Thượng đế ngày đã ra lệnh cấm
Không cho người được hưởng thú thương
yêụ
Nếu ta về, ta sẽ mang theo hận
Tiếc cõi trần hạnh phúc để cho tiêụ

Ta thử hỏi: tục, tiên, đâu hơn đã?
Tiên là gì mà chẳng được ái ân?
Ta gửi tấu trên Ngọc Hoàng lượng cả
Xét cho ta uất ức của muôn tiên.

Sứ đi rồi, chàng nhìn ta âu yếm:
- Em của anh thiệt đã hợp lòng anh!
Ngâm thơ đi, ngâm cho hồn tê điếng
Theo điệu đàn êm ái giữa thời xanh!


HƯƠNG THƠM
Mai Đ`nh

Ta là tiên, ta là tiên thượng giới
Xuống hồng trần để ban những hương thơm.
Nhưng không đâu, kẻ phàm phu đừng đợi,
Đừng yêu cầu, ta chẳng chút lòng thương!

Hương ta chỉ ban cho người khác thế,
Những trích tiên rực rỡ ánh ban mai,
Vì lầm lỗi một hôm chầu Thượng đế
Rơi chén vàng nên đọa xuống trần aị

Rẽ mây gió, ta đi tìm cho khắp,
Luyện mắt thần ta liếc khắp năm châụ
Kìa đây thôi! Kìa đây đang tụ tập
Mảnh hồn thơ lai láng biển u sầụ

Ta vội gọi tên một chàng thơ ấy,
Này Lệ Thanh, chàng còn nhớ ta chăng?
Thiếp cùng chàng có nợ duyên kia đấy!
Ngọc nữ đây, và đó chính là Kim Lang

Căn nợ trước bởi chúng ta tội lỗi
Nên Ngọc hoàng ngài giận mới đày đi
Bắt xa nhau để đền cho xong tội
Em trở về trong một buổi vu quị

Này bình hương trời ban riêng ta hưởng
Cất đi chàng, cất cho kín chàng ơi!
Ta sẽ chờ trong một ngày vui sướng
Mở hương ra cho bay khắp trần aị

Thôi từ giã vì ta chưa hết nợ,
Sáu mươi ngày ta hãy trả cho xong.
Chỉ đầu xuân trong một mùa hoa nở
Em trở về trong một tối đầy trăng...


LƯU LUYẾN
Hàn Mặc Tử

Chửa gặp nhau mà đã biệt ly
Hồn anh theo dõi bóng em đi
Hồn anh sẽ nhập trong luồng gió
Lưu luyến bên em chẳng nói gí.

Thơ em cũng giống lòng em vậy
Nghĩa là thơm tho như ánh trăng,
Mềm mại như là tơ liễu rũ
Âm thầm trong áng gió bâng khuâng.

Anh đã ngâm và đã thuộc làu
Cả người rung động bởi thương đau,
Bởi vì mê mẩn, víkhoan khoái
Anh cắn lời thơ để máu tràọ..

Lời thơ ngậm cứng không rên rỉ
Mà máu tim anh vọt láng lai!
Thơ ở trong lòng reo chẳng ngớt
Tiếng vọng thiết tha dội khắp nơị

Em đã nghe qua em đã hay
Tình anh sao phải chứng mê saỷ
Anh điên anh nói như người dại,
Van lạy không gian xóa những ngàỵ

Những ngày đau khổ nhuốm buồn thiu,
Những sóng mây lam uốn dập dìu,
Những mảnh nhạc vàng rơi lả tả,
Những niềm run rẩy của đêm yêụ

Anh đứng cách xa hai thế giới
Lặng nhìn trong mộng miệng em cười,
Em cười anh cũng cười theo dõi
Để nhắn hồn em đã tới nơị


NHỚ THƯƠNG
Hàn Mặc Tử

Trầm ngán nghê bay trong lãnh cung
Xuân thơm bối rối ngọt vô cùng
Ôi chao, Thánh thượng vô tâm qúa,
Lòng thiếp buồn như một tấm nhung!

Ở đây châu báu vô tri hết
Pho sách quần phương lộ ý nhiều
Hãy tìm cho được hoa cung cấm
Xem thử trong hoa có mỹ miềủ

Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưả
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Không có miền trăng và ý nhạc
Có người cung nữ nhớ thương vuạ

Đừng ai nhắc nhở đến xuân trong
Vô số là xuân chiếm mọi lòng
Mỗi người đều có xuân riêng cả
Thiếp viết xuân lên mảnh lụa hồng.

RƯỢU TRĂNG
Hàn Mặc Tử

A ha! Ta rượt theo trăng
(Ta rượt theo trăng)
Trăng bay lả tả ngã trên cành vàng
Tới đây (là nơi) tôi được gặp nàng
Rủ rê, (rủ rê) hai đứa đi vào rừng hoang
Tôi lượm lá trăng làm chiếu trải
Chúng tôi kề đầu lên khối sao băng
Chúng tôi nói chuyện bằng hơi thở
Dần dần hoa cỏ biến ra thơ
Chúng tôi lại là người của ước mơ
Không xác thịt chỉ có linh hồn đang mộng.
Chao ôi! Chúng tôi rú lên ví kinh động
Vì trăng ghen, trăng ngã, trăng rụng xuống mình
hai tôị

Hoảng lên xong lại cả cười
Tôi toan níu áo, nàng thời theo trăng.
A ha! Ta đuổi theo trăng
Ta đuổi theo trăng, trăng, trăng, trăng!
Thả nàng ra, hãy thả nàng ra!
Nàng là châu báu của ta trong đờị
Đố trăng: trăng chạy đường trời!
Ta rú một tiếng, trăng rơi tức thì!


TAN RÃ
Mai Đình

Trên đường vô định dẫn em đi
Đem lạị cho anh những mộng gì?
Đem lại cho em bao ý chết
Bao tình tuyệt vọng lúc chia lỵ

Anh chỉ như là mây gió thôi,
Em ghì sao được gió mây trôỉ
Ngậm ngùi nhìn cảnh đời hiu quạnh
Tê tái cõi lòng lệ ứa rơị

Em biết yêu anh đã muộn màng
Mà lòng sao vẫn thấy càng thương
Tim em ngừng đập từng cơn một
Khi cõi lòng em đã tỏ tường

Em trách sao anh chẳng thiệt tình
Để em xây đắp mộng yêu anh
Rồi anh lại phá bao nhiêu mộng
Em đã ví anh đắp mộng thành.

Thôi nhé, từ rày đã biệt ly
Trên đường hiu quạnh dẫn em đi,
Món qùa "cô độc" em nâng lấy
Tạo hóa ban kia nghĩ ngợi gì?

Một khi anh ở chốn xa xăm
Đã với người yêu đắp mộng vàng,
Nhìn cõi hư vô anh hãy nghĩ
Đời em đã chết, mộng em tan.

THAO THỨC
Ý thơ của Mai Đình,
lời Hàn Mặc Tử


Lạnh qúa ánh trăng không sáng mấy
Cho nên muôn dặm ở ngoài kia
Em đang mong mỏi, em đang nhớ
Bứt rứt lòng em muốn trở về.

Nhưng xa xôi qúa biết làm saỏ
Lấy trí tương tư đo được nàỏ
Em cứ vùng vằng, em thở dốc
Tình Thương trong dạ mãi xôn xaọ

Thôi em chán qúa, em buồn qúa
Anh của em giờ, cười với aỉ
Nói những gì đâủ Tức tối lạ!
Em hồ nghi mãi, giận không thôị

Lạnh qúa, ánh trăng không sáng mấy
Cho nên chăn chiếu vẫn so le
Nếu hay thương nhớ là thương nhớ
Em dại gì đâu, ngủ thiếp đị


TRƯỜNG TƯƠNG TƯ
Hàn Mặc Tử


Hiểu gì không, ý nghĩa của trời thơ,
Của hương hoa trong trăng nhờn nhợt bấy
Của lời câm muôn vì sao áy náy
Hiểu gì không, em hỡi hiểu gì không?

Anh ngâm nga để mở rộng cõi lòng
Cho trăng sao tràn trề say chới vớị
Cho nắng hường vấn vương muôn ngàn sợi
Cho em buồn trời đất ứa sương khuyạ

Để em buồn, để em nghiệm cho ra
Cái gì kết lại mà thành tinh tú?
Và uyên ương bởi đâu không đoàn tụ?
Và tình duyên, sao lại dở dang chi ?

Và vì đâu gió gọi giận lời đi ?
Lời đi qua một chiều trong kẽ lá.
Một mùi hương mới nửa chừng sa ngã
Anh nếm rồi ý vị của hồn mợ

Mai Đình ơi! Em còn giữ ý thơ
Trong đôi mắt mùa thu trong leo lẻo
Ở xa xôi lặng nhìn anh khô héo
Bên kia trời đang chụp cả hồn anh

Hãy van lơn ở dưới chân Bàn Thành
Cho yêu ma muôn năm vùng trỗi dậỵ
Náo không gian cho lửa lòng bùng cháy
Để làm cho rung động đến người tiên

Đang say sưa trong thế gới ảo huyền
Đang trửng giỡn ở trên sông Ngân biếc.
Anh biết trước sẽ có ngày cách biệt
Ngó như gần song vẫn thiệt xa khơị

Lau mắt đi đừng cho lệ đầy vơi,
Hãy mường tượng một người thơ đang sống
Trong im lìm, lẻ loi trong dẫy động
Cũng hình như, em hỡi, động Huyền Không

Mà đêm nghe tiếng nấc, ở đáy lòng
Ở trong phổi, trong tim, trong hồn nữạ
Em cố nghĩ ra một chiều vàng úa
Lá trên cành héo hắt gió ngừng ru

"Một mối tình nức nở giữa âm u
Một hồn đau rã lần theo hương khói
Một bài thơ cháy tan trong nắng rọi
Một lời run hoi hóp giữa không trung
Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng
Hóa thành vũng máu đào trong ác lặn".

Đấy là tất cả người anh tiêu tán
Cùng trăng sao bàng bạc xứ Say Mơ
Cùng tình em tha thiết như văn thơ
Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế.

(12-1939)


TUYÊN BỐ
Mai Đình

Tôi chẳng sợ cảnh nghèo hèn đói khó,
Tôi không kiêng thứ da thịt khác người,
Vì lòng tôi, tôi chỉ biết yêu thôi
Và thân thể có phải đâu châu ngọc?

Tôi yêu chàng đã khắc sâu vào tim óc,
Tôi thờ chàng như một vị thần linh,
Dẫu vì chàng đời tôi phải hy sinh
Tôi chấp nhận không so đo tính tóan.



SÁNG LÁNG
Hàn Mặc Tử

Sông Ngân đã im lìm không tiếng sóng,
Mà lòng anh rào rạt mãi không thôi!
Ở tầng cao khúc nghê thường đồng vọng,
Nghe gì đâu em hỡi, ráng mây trôi!

Anh đã thoát hồn anh ngoài xác thịt
Để chập chờn trong ánh sáng mông lung,
Để tìm em đưa hai tay ràng rịt,
Mảnh tình thiêng ngả ngốn giữa không trung.

Anh đã gặp hồn em đương chới với,
Bến Mê hà trên dải nước mênh mang,
Anh đã đón tình em bay phấp phới
Như hương trăng đằm thắm cõi không gian.

Chúng ta biến, em ơi, thành thanh khí,
Cho tan ra hoà hợp với tinh anh
Của trời đất, của muôn vàn ý nhị,
Và tình ta sáng láng như trăng thanh! 


:Hàn Mặc Tử:::
DUYÊN KỲ NGỘ



Tiếng Suối Reo

Đâu gió lên tầng mây che mắt lạ
Ta muôn năm len lỏi ở Đào Nguyên
Nước trong sáng lòng ta thơm vô giá
Sao không ai đi lạc tới non tiên?

Để ta dâng, ta mời ai giải khát
Nếm cho bưa mùi vị nước trường sinh
Ồ tiếng tiêu đâu bay ra man mác
Khiến nao nao nguồn thanh tịnh quanh mình.


Lời Chim Phụ Họa

Tiếng tiêu nao từ phương xa bay vẳng
Tiếng thanh thanh mà rất mực tương tư
Xuân đây rồi lan tràn như bóng nắng
Ta nên bay cho khỏi vướng sầu u.


Tiếng Tiêu

Vàng bay theovàng đuổi theo vàng bay
TIếng vàng này vừa mê vừa say
Dồn qua phương đông mặt trời chưa nóng
Dồn qua phương tây màu sắc hây hây

Ta là khúc Phượng Cầu Hoàng năm trước
Đem ân tình rải khắp cả trời duyên
Cho Quân Thụy lấy nàng Thôi thuyền quyên
Xuân vô cùng đến ngàn năm ơn phước.

Song le Nàng vẫn luôn luôn cách biệt
Bến Ô Giang lành lạnh khúc thầm thương
Ta vẫn còn ngân bao lời tha thiết
Trong nắng mai dìu dịu mối sầu vương.


Chàng

Mải vui tìm cành hoa trên cánh bướm
Ai đưa ta lạc đến nước non này
Mùi cỏ lạ thơm như mùi nhụy chớm
Cùng tiếng tiêu đồng hợp chất nồng say

Đến đây rồi ta mơ niềm hận cũ
Đã bao năm nào thấy bóng giai nhân
Hoa lá bỗng xôn xao tìm lấy thú
Trong khi này lừng lẫy nhạc tường vân.


Lời Suối Reo

Ồ sự lạ muôn đời thế kỷ
Đất Linh Sơn in dấu vết phàm nhân
Ta reo lên với đàn thông thủ thỉ
Cho lay bay tình ý ở xa xăm
Xin mời chàng tài hoa thi sĩ đó
Ngồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châu
Hai tay chàng thử vốc vào nước nọ
Mát tê đi như da thịt nàng dâu.


Lời Chim Hót

Ôi chàng kia, thực ra chiều phong vận
Hãy nghe ta cao hót khúc bình an
Này mặt nhựt tròn vo đương sáng láng
Gió đương lên vươn quyện tấm lòng ngây
Ta đã nghe danh chàng cao vời vợi
Như thơ ra đồng vọng cả thinh gian


Chàng

Nắng càng cao, lòng ta càng hừng hực
Thơ lên rồi bay quá dải nhàn vân
Mùi hương đâu trong lời ca sực nức
E hư vô rung động cả phong trần
Ôi chao, mê toàn thân như khoái cảm
Như đêm xuân uống phải rượu quỳnh tương
Không đâu mà, có điều chi vừa chạm
Đến tâm linh - để báo hiệu phi thường.
Ta hãy giấu tiếng tiêu trong cụm lá
Đừng cho ra nghe lờ lặng trời mây
Ta hãy ẩn mình ta trong kẹt lá
Để chờ xem sự lạ đến gần đây


Nàng (ra)

Mây bay theo với mây bay
Mình sao ra nước non này mà chơi
Sáo ơi, dìu dặt khơi vơi
Buông mau âm điệu để mời nhân gian
Nắng cao ý muốn lan tràn
Ở đây vắng vẻ cây ngàn suối reo
Chim ơi hót khúc tương giao
Có người thục nữ lần vào Thiên Thai
Không gặp ai, chửa gặp ai
Duyên còn ngậm kín, tình hoài miên man
Tiêu tao đến nỗi bẽ bàng
Đi trong hiu quạnh gặp toàn bơ vơ


Lời Suối Reo

Ở đây có suối đoàn viên
Có cây Phối hợp, có duyên Ngọc vàng
Nước ta trong trắng ơ Nàng
Đọ xem trinh tuyết có phần thanh cao
Cởi xiêm cởi áo ra nào
Xuống đây nàng tắm cho rạt rào thơ ...


Nàng

Ôi chao thơ ngầm bay theo dải nắng
Lộng vào trong xiêm áo mỏng mành sao!
Tiếng ai cười vang trong im lặng
Khiến lòng ta hồi hộp biết dường bao!


Chàng (ở lùm cây ra)

Tiếng tiêu vương vấn vào nhau mãi
Ta cho Nàng đây, gẫm lạ kỳ
Không duyên hồ dễ mong theo nắng
Xin dâng nàng nụ cười với đôi mi.


Nàng (kinh ngạc)

Ở đâu chàng ở đâu ra
Xem trong cốt cách mới ra tính tình
E khi mình chửa iết mình
Nói câu kỳ ngộ in hình hổ ngươi
Chàng ôi, thốt chẳng nên lời
Không quen sao lại lả lơi chuyện trò?


Chàng

Phải quên Nàng ở Đào Nguyên
Bởi chưng sắc đẹp lại thêm đa tình
Xuống đây tìm nợ ba sinh
Không hay trời khiến ta mình gặp nhau.


Nàng

Em là Trần Thương Thương
Ngụ ở bến Tầm Dương
Đi tìm chàng thi sĩ
Trong pho sách Kim Cương
Đi tới Tương tư xứ
Tìm không ra người thương


Chàng

Em là Trần Thương Thương
Anh là Hàn Mặc Tử
Không phải cách âm dương
Còn có khi hội ngộ
Em là hoa mười phương
Anh là mây tứ xứ
Gặp nhau ở cạnh đường
Nói sao cho bằng khóc.


Lời Chim Hót

Hỡi ôi người tục khách tình
Đến đây nhìn sững cho mình thêm ghen
Má ơi, má núm đồng tiền
Môi sao ướt đỏ ta thèm biết bao!
Nắng ơi, nắng có lên cao
Làm sao da thịt hồng hào thế kia?


Nàng

Người mộng hỡi từ nay ta mới biết
Sao thơ anh nhuộm toàn màu ly biệt?
Kêu không thôi, và nức nở cả ban đêm
Nhạc thanh bai hòa trong cung cầm nguyệt
Với bao màu sang sáng ửng duyên thơm
Em mê quá thi nhân Hàn Mặc Tử.
Người trai tơ thùy mị như tình duyên.


Chàng

Thương Thương em, trời cho ta kỳ ngộ
Nói cho ta thần điệu của vàng bay
Đôi nhụy thắm in trên màu rực rỡ
Đây đôi chim gù gật với niềm say
Anh van em cho anh quỳ san sát
Cho mùa xuân ngầm ngấm tận hồn anh
Thơ anh sẽ như trầm hương ngào ngạt
Tỏa lên cao lồng lộng giữa trời xanh.


Nàng

Tất cả em là trân châu vô giá
Dành cho anh rîêng hưởng hạnh phúc này
Em kết tinh ở bao thanh sắc lạ
Tòa thiên nhiên đúc sẵn để mê say
Sao trời hỡi không cho em nguyền ước
Em theo anh mà hứng lấy sao rơi
Vẻ đài các còn nguyên trong khăn, lược
Để làm chi, tình hỡi, khi xa xôi.


Chàng

Chỉ có em làm thơ anh mãnh liệt
Tình anh vang như luồng gió van lơn
Chỉ có em, lòng anh yêu tha thiết
Yêu điên cuồng không một phút nào hơn
Bây giờ đây khóc than niềm ly hận
Hỡi Thương Thương người ngọc của lòng anh
Ta nhìn em với bao lời ta thán
Khiến hoa chim nghe được cũng không đành.


Nàng

Tình quân hỡi, muôn năm em chỉ muốn
Sống bên anh cho thắm được tình yêu
Mùa xuân em sẽ rất nhiều hoa bướm
Bởi thơ anh tô điểm đẹp trăm chiều.


Chàng

Than ơi đời biệt ly chan chứa
Anh sắp đi với hai dòng lệ ứa
Cả đau thương dồn dập xót tâm bào
Khi xa em đã bao lần vọng tưởng
Mơ trong mơ làm hoảng hốt đêm trăng
Khi gần em tâm thần anh sửng sốt
Mùi yêu đương vương vít cả tâm hồn
Em ở đó sao anh không thề thốt
Bao dòng châu đem hiến tối tân hôn.


Nàng

Nói làm chi những câu mê sướng quá
Nói những câu khờ dại cả người em
Phải chăng anh tài hoa cao trọng lắm
Đã bao lần khét tiếng ở đền vua
Bao người ngọc đắm say lời ngọc thắm
Bao giai nhân hâm mộ tấm tình thơ!


Chàng

Anh chỉ ngó say em trong chốc lát
Để hồn thơ rời rạc với mây bay
Gần em luôn để hưởng bao khoái lạc
Thưa em không, anh đâu dám mê say!
Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương, anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy Nàng Tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm.


Nàng

Em quyết níu với bao tơ nắng dịu
Níu thơ anh và níu cả hồn anh
Hoa cỏ sẽ làm ơn theo chứng kiến
Biệt ly nào dứt được mối thâm tình?


Chàng

Thôi chào em giờ không trở lại
Anh đi rồi mà hương phấn vẫn theo luôn (chàng biến mất)


Tiếng Suối Reo

Xin đừng vầy bàn chân trong suối ngọc
Hỡi giai nhân người lụa bến Tầm Dương
Xin Nàng đợi để đêm khuya sẽ vọc
Bao nhiêu trăng sáng dịu giữa hơi sương. 



_Mai Đình_

Hôm ấy cùng chàng dạo bến mơ,
Bên tôi chàng hứa: chẳng bao giờ
Trong hồn anh vắng hình em được,
Dù phải xa nhau vẫn đợi chờ.

Nhưng bỗng hôm nay đã mất chàng,
Chàng đà yên giấc mộng Vu San,
Để tôi luống chịu bao đau khổ,
Mối hận chung tình khó nỗi tan.

Tê tái lòng tôi những tối trăng,
Lệ tình đã thấm ướt bao khăn.
Còn đâu giấc mộng năm xưa nữa,
Thêm hận đời tôi kiếp lỡ làng.

Tôi muốn gặp chàng những tối mơ
Để cùng nhau nối những đường tơ,
Nhưng hồn chàng bị hồn ai chiếm
Nên với tình tôi đã hững hờ.


 Tâm sự Mai Đình
Lưu Vĩnh Hạ


Nhớ lắm thuở nào tuổi mộng mơ
Bút nghiêng dang dở cũng vì thơ
Anh buồn nhiều lắm nhưng không nói
Chỉ có Mai Đình biết mà thôi

Cùng với nỗi sầu dưới bóng trăng
Nàng thơ anh đó một chị Hằng
Lả lơi theo gió trên cành liễu
Chán cảnh thiên cung lén xuống trần

Nhớ lắm những ngày thuở hàn vi
Chẳng có tiền mua giấy,bút ghi
Sợ những áng thơ anh sẽ cạn
Hy sinh đập ống có là gì......

Ngày đó vẫn còn chưa có danh
Thơ anh ca tụng ánh trăng vàng
Mai Đình vào độ đôi tám tuổi
Yêu chàng thi sĩ tên Lệ Thanh

Cứ thế dòng đời lặng lẽ trôi
Khi anh thành danh lại bao người
Yêu anh với tên Hàn Mặc Tử
Giấc mộng Mai Đình nước cuốn trôi

Mộng Cầm,Kim Cúc cả Hồng Sương
Đã gửi vào tim những yêu thương
Mai đình chỉ có Nguyễn Trọng Trí
Và một bài thơ trăng não nùng

Tạo hóa thật là quá trớ trêu
Hồn anh tan vỡ một buổi chiều
Nhìn ánh trăng khuya lòng tự hỏi
Tìm đâu chung thủy một tình yêu

Tuổi xanh dành hết cho người ta
Buồn tủi riêng anh bệnh trầm kha
Chỉ có Mai Đình luôn tận tụy
Với tấm chân tình luôn thiết tha

Trở về quê cũ,phế nhân rồi
Chẳng ai giành giựt nữa người ơi
Chẳng lẽ Mai Đình tình mãi khổ
Cuộc đời,phút cuối cũng thiệt thòi

Trăng vàng ai nở bẻ làm đôi
Mộng ước từ đâY tan vỡ rồi
Còn ai thương tiếc Hàn Mặc Tử
Chỉ một Mai Đình lệ tủi rơi


Đây không phải là bài thơ của Mai Đình. Nhưng FF vẫn xin post bài thơ này vào topic này. Theo FF thì bài thơ này đã khái quát được hết tình cảm thầm kín của cô hàng xóm Mai Đình dành cho thi sĩ Hàn Mặc Tử.

Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2017

CẦN BẢO TỒN CHỮ CỔ CỦA NGƯỜI PÀ THẺN

Nói đến người Pà Thẻn (còn gọi là Pà Hưng, Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Ðỏ, Bát Tiên tộc…) mọi người thường nhớ đến nghi lễ nhảy lửa độc đáo mang màu sắc tâm linh, mà không mấy người biết người Pà Thẻn còn có một hệ thống chữ viết độc đáo.
Trong bài: “Vài nét về người Pà Thẻn” công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng năm 2011, người viết bài này có đề cập đến chữ viết của người Pà Thẻn một cách khái quát. Trong bài này xin được giải trình một số nét cơ bản mang tính sâu sắc hơn.
Năm 1908 Bonyfacy, sĩ quan Pháp, công sứ Hà Giang 1911. Cộng tác viên của Viện Bác Cổ Viễn Đông (1902-1903) đã nghiên cứu về chữ viết của người Pà Thẻn. Bonyfacy đã chụp được ảnh con dấu của người Pà Thẻn ở vùng thượng lưu sông Lô, dùng trong những cuộc khởi nghĩa chống lại bọn thống trị địa phương và thực dân. Trên con dấu ngoài sáu chữ Hán (đây có lẽ là trường hợp ngoại lệ duy nhất), còn có hình vẽ những con vật bốn chân và hai chân, là chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn.
Pà Thẻn_bac vi
Trước năm 1960 giáo sư sử học Lê Trọng Khánh*, nguyên giảng viên trường Đại học Tổng hợp đã dày công điền dã, sưu tầm tại một số huyện của hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, nơi có đông người Pà Thẻn sinh sống. Giáo sư đã có những kết luận quan trọng về hệ thống chữ viết của người Pà Thẻn. Trước hết chữ viết của người Pà Thẻn là chữ viết hình vẽ không giống với chữ Hán, chữ Việt, chữ Thái… Người Pà Thẻn có truyền thuyết: “Xưa người Pà Thẻn có chữ, tất cả đàn ông đều có quyền học nhưng thiên tai địch họa liên tiếp sảy ra. Người Pà Thẻn phải dắt díu nhau đi tìm miền đất hứa. Trước khi đi mọi người đồng lòng đốt sách lấy than hòa vào nước chia cho mọi người uống và nguyền rằng không bao giờ dùng chữ nữa mà chỉ ghi nhớ”.
May thay, vì những lý do nào đó vào trước năm 1960 vẫn còn lại một số tài liệu về chữ viết trong dân gian ghi lại những bài cúng ma, một số thày mo cao tuổi vẫn đọc được một phần và giáo sư Lê Trọng Khánh sưu tầm được một tập tài liệu dày 64 trang ghi lại những bài cúng ở Thượng Minh, Chiêm Hóa, Tuyên Quang, một tập dày 32 trang ghi lại những bài cúng của đồng bào Bắc Vi, Bắc Quang, Hà Giang. Các chữ viết hình vẽ ở hai nơi trên có một số điểm khác nhau, ví dụ trong tập ở Thượng Minh hình người tay dính liền với đầu, còn ở tập tài liệu ở Bắc Vì, hình người tay đã xuống vai. Ở Thượng Minh hướng hành động của sự việc chen vào giữa các hình vẽ, tách các hình vẽ thành các khái niệm cụ thể, trong khi ở Bắc Vì hướng hành động của sự vật lại đưa xuống dưới các chữ viết hình vẽ.
Trong hệ thống chữ viết hình vẽ được tìm thấy, mỗi hình vẽ biểu thị một sự vật hay hiện tượng hầu hết có trong đời sống hàng ngày như: mặt trời, con người, rừng cây, đôi gánh, xa kéo sợi… một phần do trí tưởng tượng như ma, thiên đường… (những hình vẽ này cũng rất gần với hình dáng con người). Những sự vật giống nhau đều được biểu thị bằng những hình vẽ giống nhau. Khi biểu thị sự vật có khi chỉ dùng một hình vẽ nhưng cũng có khi tập hợp nhiều hình vẽ. Đặc biệt mỗi hình vẽ đều cách nhau bởi ký hiệu chỉ hướng của sự vật.
Pà Thẻn_thuong minh 1
Pà Thẻn_thuong minh 2
Chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn sắp xếp từ phải sang và cũng đọc từ phải sang trái. Trong tập tài liệu đã tìm được tuy mất một số trang song vẫn còn tới 538 lượt hình, trong đó có 290 hình biểu thị một sự vật, một hiện tượng. 81 hình tập hợp nhiều sự vật, 209 hình biểu thị một sự vật. Ví dụ: khi biểu thị chỗ chăn nuôi gà, vịt, lợn, ta thấy nhiều hình vẽ mô phỏng những con vật đó xếp liền nhau. Hoặc hình vẽ biểu thị chỗ rửa chân cho ma thiên đường (Người Pà Thẻn quan niệm có ma tốt và ma xấu) có một tập hợp hình vẽ liên tiếp những hình giống người và có danh giới giữa đất với trời… Còn với những hình vẽ biểu thị một sự vật thường đơn giản, mô phỏng thực tế sinh họat đời sống như: dấu X là đường rẽ, cối giã gạo, xa kéo sợi, bếp lửa… đều là những hình vẽ mô phỏng hình ảnh thực.
Trong tài liệu nghiên cứu của giáo sư Lê Trọng Khánh đã thống kê được tần xuất xuất hiện hình vẽ đã giải mã được một số gồm: chỗ thờ ma nhà xuất hiện 35 lần, Con người và hành động kèm theo xuất hiện 37 lần. Các loại cây khác nhau xuất hiện 20 lần. Đường rẽ xuất hiện 19 lần. Cổng ra vào xuất hiện 15 lần. Cửa nhà xuất hiện 15 lần. Cồng chào xuất hiện 15 lần. Gốc cây đa xuất hiẹn10 lần. Thùng nhuộn vải xuất hiện 3 lần. Xe xuất hiện 2 lần. Bếp lửa xuất hiện 2 lần. Bãi ra dớn xuất hiện 2 lần. Đường lên dốc xuất hiện 2 lần. Guồng quay sợi xuất hiện 2 lần. Ruộng bậc thang xuất hiện 7 lần. Còn chỗ nghỉ uống nước, chỗ cọp bắt người, bến đò, nhà mẹ mặt trời, chỗ rửa chân của ma, cái dần gạo, cái sàng gạo mỗi thứ xuất hiện 1 lần. Còn 267 hình chưa giải mã được.
Pà Thẻn_chu thuong minh 3
Pà Thẻn_thuong minh 4
Tuy số lượng hình vẽ giải mã được chưa nhiều nhưng có thể thấy những chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn không chỉ dùng để ghi lại đời sống sinh hoạt hàng ngày, những bài cúng mà còn có thể có sự giao thương với các vùng khác nhau. Thông qua những chữ viết hình vẽ giải mã được ta còn hiểu về quan niệm về vũ trụ, về ba tầng thế giới thông tỏ và giao cảm của người Pà Thẻn. Điều độc đáo trong hệ thống chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn là có nhiều hình vẽ biểu thị tính âm dương rõ dệt như: người có đôi nam nữ, con vật, hoa… cũng có đôi mang tính đực – cái (những chữ viết hình vẽ này còn được thể hiện trên trang phục của người Pà Thẻn như những hoa văn, họa tiết). Điều đó thể hiện khát vọng sinh sôi nẩy nở vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Điều đó cũng không khó lý giải khi ta biết người Pà Thẻn xưa sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy. Phương thức canh tác là phát đốt rồi chọc lỗ, tra hạt. Cây trồng gồm lúa, ngô và các loại rau, đậu, khoai sọ, khoai môn… Công cụ sản xuất là rìu, cuốc, dao, sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên, lại phải luôn đoàn kết chống lại kẻ thù hai chân và bốn chân.
Chữ viết ra đời là một trong những thành tựu lớn có được khi xã hội phát triển đến một trình độ văn minh nhất định, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, luật tục đã đạt một trình độ khá cao. Chữ viết ra đời đã làm xuất hiện nhiều bộ môn khoa học và nghệ thuật mới, làm cho nhiều người cùng tiếp cận, là một phương tiện truyền bá vô cùng tiện ích không gì so sánh được. Chữ viết ra đời tạo một bước nhảy xa hơn trong sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chữ viết hình vẽ của người Pà Thẻn tuy là hình thức tiền văn tự nhưng phản ánh được phong tục, tập quán và mọi mặt đời sống văn hóa, xã hội, tâm linh… giúp chúng ta hiểu thêm về một nền văn hóa đậm đà bản sắc còn ẩn sâu trong dân gian như trầm tích.
Ngày nay người Pà Thẻn học chữ phổ thông nhưng những chữ viết hình vẽ còn đó như một câu hỏi lớn với những cơ quan,bann ngành, những người làm công tác nghiên cứu trách nhiệm bảo tồn chữ viết, một trong những tinh hoa văn hóa của người Pà Thẻn, một tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam trong khi chưa quá muộn.
Hà Nội 5.2014
* Giáo sư Lê Trọng Khánh trú tại Hà Nội, đã trao toàn bộ công trình nghiên cứu về tiếng nói và chữ viết của người Pà Thẻn và cho phép người viết bài này xử dụng.
Trần Vân Hạc

Không gian cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – Một hướng tiếp cận mới


Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng qua khảo cổ, qua hệ thống đền thờ ở Trung Quốc… Trong bài này xin được giới thiệu một phần công trình của giáo sư Lê Trọng Khánh, qua lược đồ ngôn ngữ cổ để góp phần làm sáng tỏ thêm không gian rộng lớn cuộc khởi nghĩa của Hai Bà:
Vấn đề xác định không gian cuộc khởi nghĩa là rất quan trọng. Vì nó là cơ sở để nói lên tầm vóc to lớn của cuộc đấu tranh quật cường của người Lạc Việt dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng. Tài liệu thu được qua quá trình khảo sát điền dã, thư tịch cổ và bản đồ cho thấy phạm vi phân bố hệ thống địa danh có thành tố “Pu”, “Pù” (núi); “Tà” (sông nước) rất rộng.  Quá trình hình thành và phát triển địa danh, từ chỉ những giới tự nhiên: “Pù”, “Tà” xuất hiện sớm nhất vào thời đại văn hóa đồ đá mới.
Khi cuộc sống đã được định cư và sự giao lưu mở rộng, hệ thống địa danh khu vực Kẻ mới ra đời. Quãng cách thời gian giữa hai loại địa danh này rất lớn, Phải mấy nghìn năm lịch sử cho đến khi con người phát triển nghề luyện kim, đưa vào sản xuất và trồng lúa nước đã hình thành những cánh đồng rộng khắp, địa danh chỉ về đồng ruộng (Na) mới phát triển. Nhà nước được xây dựng vững mạnh, hệ thống chính quyền địa phương “kẻ” (Sách) ra đời, với cơ chế tổ chức xã hội được xác định ổn định – đó là chiều sâu sức mạnh truyền thống của người Việt cổ. Ở đây, chỉ liệt kê một số tài liệu thuộc địa danh  ngôn ngữ (toponymie) quen thuộc có từ tố “kẻ” (chỉ nơi cư trú):

Vùng Lưỡng Việt (tức Quảng Tây – Quảng Đông Trung Quốc ngày nay) địa danh có từ “kẻ” rất phổ biến: - Phiên Ngung có Kẻ Lâu Trường/ Thương Ngô có Kẻ Lãm/ Quế Bình có Kẻ Lăng/ Nam Hải có Kẻ Táo/ Quế Lâm có Kẻ Trúc/ Thương Lâm có Kể Lập/ Hạ Huyện có Kẻ Luân…
(Từ “kẻ” biến âm bạch ở vùng Lưỡng Việt thành “cổ”, cũng như ở Việt Nam hiện nay có Kẻ Loa. Kẻ Nhuế thành Cổ Loa, Cổ Nhuế…).
Trong phạm vi nước ta hiện nay, loại địa danh này tìm thấy dày đặc ở trung du đồng bằng sông Hồng và địa bàn người Mường, nhưng lại rất hiếm ở Việt Bắc và Tây Bắc (Địa bàn Tày Nùng – Thái).
Thanh Nghệ Tĩnh đất Cửu Chân xưa, tài liệu có thể thu thập khắp các huyện:
- Huyện Diễn Châu: Kẻ Trài (thôn Hương Dương)/ Kẻ Si/  Kẻ Vích (thôn Thanh Bích)/ Kẻ Vạn (Vạn Phần)/ Kẻ Dặm (Vân Tập)/ Kẻ Trùm (Vĩnh Bình)/ Kẻ Hốp (Xuân Dương)/ Kẻ Nhung (Xuân Viên)/ Kẻ Trong (Đan Trung)/ Kẻ Hòe (Phì Cam)/  Kẻ Hòe (Phì Cam)/  Kẻ Sụm (Phú Lâm)/  Kẻ Chượng (Bích Trận)/ Kẻ Đậu/ Kẻ Lứ
- Huyện Yên Thành: Kẻ Dòi/ Kẻ Vịnh (Vĩnh Tuy)/ Kẻ Giai (Văn Giai)/ Kẻ Dền/ Kẻ Sọt/ Kẻ Rộc (Kim Thành)/ Kẻ Gám (Xuân Thành)/ Kẻ Găng (Tăng Thành)
Nhưng cái mới ở đây, là ngoài vùng đồng bằng, còn tìm thấy có hệ thống, địa danh có từ “kẻ” ở phía tây: Huyện Thường Xuân (Mường): Kẻ Rây, Kẻ Toung, Kẻ Sông, Kẻ Trinh, Kẻ Quân, Kẻ Vu, Kẻ Quan, Kẻ Đăng, Kẻ Mãnh, Kẻ Gi, Kẻ Bộc, Kẻ Doanh, Kẻ Hào.
Huyện Quỳnh Châu (Kẻ Bọn): Kẻ Loa, Kẻ Giêng, Kẻ Thang, Kẻ Cong, Kẻ Tham, Kẻ Lô, Kẻ Lay, Kẻ Bục, Kẻ Chăm Trên, Kẻ Chăm Dưới, Kẻ Vãi, Kẻ Vân, Kẻ Vinh, Kẻ Chai, Kẻ Trọc, Kẻ Mo, Kẻ Kẻo, Kẻ Bua, Kẻ Số, Kẻ Trang, Kẻ Bản, Kẻ Căng, Kẻ Ba, Kẻ Ba Sách, Kẻ Sói Dưới, Kẻ Mùng, Kẻ Dinh.
Về phần đất Nhật Nam xưa, nếu có ý kiến còn khác nhau chăng là về ranh giới phía Nam, còn phía Bắc nói chung đều thống nhất là từ đèo Ngang trở vào thuộc quận Nhật Nam. Trên địa bàn này, một số người nghiên cứu đã cho rằng, không có hệ thống địa danh có từ “kẻ”. Vì lẽ đó, tôi thấy rất cần thiết cung cấp một lượng thông tin tương đối lớn về vấn đề này. Với khối tài liệu đã thu thập được hiện nay, có khả năng phục hồi lại từng địa danh có từ “kẻ”, tương đương với một làng có tên Hán Nôm, trên khắp các địa bàn huyện thuộc Bình Trị Thiên:
- Huyện Tuyên Hóa: Kẻ Má (xã Cao Trạch), Kẻ Càn (xã Kiêm Long, Kẻ Biểu (xã Biểu Lệ), Kẻ Đáy (xã Văn Phú), Kẻ Xả (xã Cảnh Dương), Kẻ Câu (phường Ngoại Hải), Kẻ Đại (thôn Nghĩa Nương), Kẻ Gián (thông Chánh Trực), Cả Cảng, Kẻ Lái (xã  Cương Gián).
-  Huyện Bố Trạch: Kẻ Chao (Gia Trịnh trang), Kẻ Giang (lang Cồn), Kẻ Hạ (Cao Lao hạ), Kẻ Chung (Cao Lao Trung), Kẻ Sô (Xuân Sơn Trang), Kẻ Nghen (xã Hoành Kinh), Kẻ Sen (Liên Phương Thượng), Kẻ Bàng (Liên Phương Trung), Kẻ Ngạn (Liên Phương Hạ), Kẻ Nấu (thôn Lý Nhân), Kẻ Rây (Hòa Duyệt Trang), Kẻ Láu (Vỏ Thuận Trang), Kẻ Nô (thôn Lộc Mỹ), Kẻ Đon (thôn Hoàn Lão), Kẻ Hạc (thôn Hoàn Phục), Kẻ Nâm (thôn Lộc Mỹ), Kẻ Đon (thôn Hoàn Lão), Kẻ Hạc (thôn Hoàn Phục), Kẻ Nâm (thôn Cự Nậm), Kẻ Đó Ôi (thôn Hỷ Duyệt), Kẻ Lái (thôn Lý Hòa).
- Huyện Quảng Ninh: Kẻ Thẹc (xã Thạch Bàn), Kẻ Trìa (xã Tân Lệ), Kẻ Rồng (xã Phúc Long), Kẻ Tùng (xã Lộc Long), Kẻ Bói (phường Bối Sơn).
- Huyện Lệ Thủy: Kẻ Liễu (Tréo), Kẻ Da (thôn Mỹ Duyệt), Kẻ Lê (xã Lê Xá), Kẻ Châu (xã Châu Xả).
- Quảng trị (cũ) địa danh có từ “kẻ” cũng dày đặc: Kẻ Tháp, Kẻ Bưu, Kẻ Lũy, Kẻ Thành, Kẻ Dòi, Kẻ Nai, Kẻ Sen, Kẻ Sơn…và ở Thừa Thiên (cũ) huyện nào cũng tìm thấy “kẻ”: Kẻ My (huyện Phú Vang), Kẻ Bi (huyện Phong Điền), Kẻ Loi (Tây Phú Lộc), Kẻ Tháp (huyện Quảng Điền), Kẻ Trại (Huế)…càng tập trung nhiều ở vùng biển phía Nam: Kẻ Vũ, Kẻ Sung (đông huyện Hương Thủy)…
Tình hình phân bố địa danh có từ “kẻ” ở Quảng Nam – Đà Nẵng và Nghĩa Bình cũng tương tự Bình Trị Thiên:
- Quảng Nam – Đà Nẵng: Kẻ Xuyên (huyện Thăng Bình), Kẻ Tam (huyện Tam Kỳ), Kẻ Kei (huyện Duy Xuyên), Kẻ Loi (huyện Hòa Vang), Kẻ Wang (Trung Phước), Kẻ Trài (thị xã Hội An)…
- Nghĩa Bình: Kẻ Bôn (chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành), Kẻ Lũy (cửa biển phía Đông thị xã Quảng Ngãi), Kẻ Hàn (thôn Du Quang, Xã Phổ Quang, huyện Đức Phổ, sông Trà Câu chảy qua đây cũng gọi là sông Kẻ Hàn), Kẻ Hoang (huyện Phù Cát), Kẻ Tân (Cầu Gành, ngã ba nơi tiếp giáp đường 19 và đường số 1), Kẻ Thử (cửa biển nam huyện Phù Cát, một thương cảng nổi tiếng xưa kia, còn nhiều di tích khảo cổ quan trọng, có đường sông nối liền với thành Đồ Bàn). Địa danh có từ “kẻ”, điểm cuối cùng tìm thấy ở huyện Tuy An ( thuộc Phú Yên cũ, phần bắc Phú Khánh). Và từ nam đèo Cả - Mũi Nậy trở vào, chưa tìm thấy một địa danh  nào có từ “kẻ”.
Trên địa bàn Nhật Nam, địa danh “kẻ” nằm gọn và phân bố rộng khắp giữa hai con sông. Con sông lớn: phía bắc – Tà Kroông Nậy (Rào Nậy hay sông Gianh; phía nam – Tà Kroông l’hon (sông cá sấu); người Hán gọi là Châu Bon Đà Lãng (chuyên âm đảo ngược Tà Kroông l’hon) – sông Đà Rằng.
Bằng phương pháp thống kê địa danh đã được thực hiện ở trên, có thể trình bày những địa danh có từ “Pu” (núi), “Tà” (sông), “Na” (ruộng đồng), mà mật độ phân bố rất dày và cũng trên một bình diện toàn bộ Lưỡng Việt đến mũi Nậy ở phía Nam.
Trong Hậu Hán thư, mục Nam Man truyện ghi về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng nội dung cơ bản như sau: … “Người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc, cùng với em gái là Trưng Nhị nổi dậy đánh phá quận huyện. Trưng Trắc vốn là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, là vợ Thi ( Chồng bà Trưng Trắc vốn tên Thi. Sách Thủy kinh chú viết: “Châu Diên lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh lạc tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê" - nghĩa là: ...Con trai của lạc tướng Châu Diên tên là Thi hỏi “sách” con gái lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ. Từ "sách" trong câu trên vốn có nghĩa là "hỏi". Do nhầm lẫn, người đời sau đã ghép từ "sách" đó với từ Thi thành tên Thi Sách) người Chu Diên. Trắc rất dũng mãnh, Thái Thú Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc, Trắc căm phẫn nên chống lại. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, người Man, Lý đều hưởng ứng. Trưng Trắc chiếm được 65 thành, tự lập làm vua. Thứ sử Giao Chỉ và các Thái Thú chỉ còn biết tự vệ. Quang Vũ đế xuống chiếu, ra lệnh cho Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chỉ chuẩn bị xe, thuyền, sửa chữa đường sá, cầu cống, khai thông các khe suối, tích trữ lương thực. Năm thứ 18, sai Phuc Ba tướng quân là Mã Viện, Lâu Thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem hơn một vạn quân ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô tới đánh”…
Nhà Hán sau khi đánh bại Lữ Gia, thôn tính Nam Việt, chia Nam Việt và những vùng bị ràng buộc vào Nam Việt thành chín quận. Theo sự ghi chép của Tiền Hán thư, các quận đó là :
1. Nam hải           (6 huyện)   có       94.253 người
2. Uất Lâm           (12 huyện) có       71.162 người
3. Thương Ngô     (10 huyện) có       146.160 người
4. Giao Chỉ           (10 huyện)           có       746.237 người
6. Cửu Chân           (7 huyện)      có      35.743 người
7. Nhật Nam           (5 huyện)      có      69.485 người
Theo tổ chức hành chính nhà Hán huyện có thành. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thu về 65 thành, tức là giải phóng toàn bộ 9 quận. Nhà Hán thành lập bộ Giao Chỉ (mang tên quận chủ đạo), thủ phủ đóng tại quận Giao Chỉ. Như thế trung tâm thống trị của nhà Hán đối với bộ Giao Chỉ đóng tại quận Giao Chỉ. Sự thống trị đó với các quận không hoàn toàn giống nhau. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bắt đầu từ huyện Mê Linh, thuộc quận Giao Chỉ - trên đất nước Việt Nam hiện nay. Như thế trung tâm cuộc khởi nghĩa là ở quận Giao Chỉ và cơ quan đầu não của bọn thống trị cũng bị đánh bại tại đây. Thủ phủ của bộ Giao Chỉ được giải phóng. Từ đó phong trào lan rộng ra các quận, tiến tới hoàn toàn giải phóng 65 thành. Địa bàn 65 thành (thuộc 9 quận) bao gồm từ Lưỡng Việt tới Mũi Nậy.
Phạm vi phân bố địa danh có từ tố “kẻ”, hoàn toàn phù hợp với địa bàn giải phóng 65 thành của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đó cũng là phạm vi không gian của cuộc khởi nghĩa, giải phóng độ 1,5 triệu người thoát khỏi ách thống trị của nhà Hán. Và đó cũng là phạm vi lãnh thổ của nhà nước và dân số dưới thời đại Hai Bà Trưng.
Từ những tư liệu đã trình bày trên, bước đầu xin có mấy ý kiến sau đây:
 – Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mang bản chất tiến bộ. Lần đầu tiên bằng tài liệu địa danh ngôn ngữ, kết hợp chừng mực nhất định với cứ liệu lịch sử, vẽ lại biên độ không gian cuộc khởi nghĩa ấy, rộng lớn hơn nhiều với quan điểm trước kia, càng có cơ sở mới để khắng định tầm vóc vĩ đại của cuộc đấu tranh đó.Phạm vi lãnh thổ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giải phóng, phải chăng cũng là lãnh thổ của Vương Quốc Văn Lang dưới thời đại Hùng Vương: Ra đời cùng thời với nước Sở ở Trường Giang. Nếu chúng ta trói chặt bằng biên giới hiện nay, chắc chắn không thể làm sáng tỏ được nhiều vấn đề lớn của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, cũng như không thể dựng lại đầy đủ cuộc kháng chiến vĩ đại của người Lạc Việt đã từng đánh bại 50 vạn quân của đế quốc Tần, mà chính sử của người Hán đã ghi lại và làm sao có thể giải thích được sự phân bố văn hóa đồ đồng Đông Sơn ở Lưỡng Việt – vốn thuộc Vương Quốc Văn Lang.
 –Từ Lưỡng Việt đến Mũi Nậy ở phía Nam là địa bàn của gốc của người Lạc Việt – có nguồn gốc và ngôn ngữ chung, nằm trong khối Bách Việt, đã thành lập Vương Quốc Văn Lang thời đại Hùng Vương.
Cư dân ở Nhật Nam tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cũng là người Lạc Việt, sau đó thành lập nhà nước Lâm Ấp, dần dần có sự hỗn hợp với cộng đồng người phía nam Mũi Nậy, nói tiếng Malayo (cuối triều đại Sinhapura – TK VII – IX). Đó là nguyên nhân đưa lại sự khác biệt nào đó giữa Việt và Chăm.
  
Trần Vân Hạc  

Vài nét về tiến trình của chữ Quốc ngữ


Trần Vân Hạc

07 tháng 11, 2009
Đã từ lâu, một câu hỏi lớn làm bao người Việt Nam trong và ngoài nước, cùng giới nghiên cứu quốc tế có tài và có tâm trăn trở: Dân tộc Việt Nam ta từ 3.000 năm trước đã chế tác được hàng loạt những trống đồng vô cùng tinh xảo, đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật, cũng như tinh hoa của một nền văn minh rực rỡ, làm kinh ngạc cả thế giới văn minh hiện đại. Vậy dân tộc ta thời ấy có chữ viết hay không, chữ ấy như thế nào, ai là người tạo nên bộ chữ Quốc ngữ, chữ Quốc ngữ được xây dựng trên cơ sở nào..?
Đôi điều về chữ Việt cổ:
Từ hàng nghìn năm qua, các nhà khoa học trong và ngoài nước, trước hết là Trung Quốc đều khẳng định: Việt Nam có chữ viết từ rất sớm, trước chữ Hán cả nghìn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu, Anh, Tiệp xác nhận: “Ngay từ trước công nguyên, người Việt đã có chữ tượng thanh - loại chữ ghép chữ cái thành từ”. Điều này được thể hiện trên các di chỉ khảo cổ đồ gốm, đồ đồng của thời kỳ Đông Sơn như: Lưỡi cày, lưỡi xéo, đặc biệt là trống đồng…cùng các hình vẽ chữ viết trên đá cổ Sa Pa, Xín Mần. Pá Màng… theo một hệ thống nhất quán, tất cả đều thể hiện đó là những chữ viết cổ từ thời kỳ tiền văn tự, phát triển và hoàn thiện dần thành bộ chữ “khoa đẩu”.
Hệ thống giáo dục của nước ta đã phát triển ngay từ thời Hùng Vương, An Dương Vương, thời Triệu, thời Hai Bà Trưng… ở khắp vùng giao Chỉ, Cửu Chân cũ, nay tài liệu còn lưu ở kho AE Viện Hán Nôm (qua cuộc khảo sát của Pháp năm 1938).
Ở Việt Nam, từ lâu, những nhà nghiên cứu như: Trương Vĩnh Ký, Vương Duy Trinh, Lê Huy Nghiệm, Lê Trọng Khánh, Hà Văn Tần, Trần Trọng Thêm, Phạm Ngọc Liễn, Đỗ Văn Xuyền… cùng đông đảo các nhà nghiên cứu Việt kiều đã có những thành công đáng kể. Tất cả đều đi đến cái đích chung, đó là những luận cứ khoa học chứng minh cho sự tồn tại của chữ Việt cổ - chữ “khoa đẩu” mà thuở xưa Hùng Quốc Vương cho khắc trên lưng rùa bản tóm tắt lịch sử nước ta tặng cho vua Nghiêu để tỏ tình hòa hiếu. Đó chính là bộ chữ ẩn trong bộ chữ “hỏa tự” do Tri châu Phạm Thận Duật tìm thấy ở Tây Bắc năm 1855 - 1856, cùng nhiều tài liệu khác có cùng cấu trúc đồng dạng. Bộ chữ này hình thành và phát triển đồng hành với dân tộc Lạc Việt cả về thời gian, không gian và quá trình lịch sử. Bộ chữ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt cổ trước công nguyên, tồn tại song hành cùng ngôn ngữ Việt, thích ứng với đặc điểm ngôn ngữ Việt.
Cũng chính vì tìm được cách giải mã chữ Việt cổ mà các nhà nghiên cứu hiện nay có thể đọc được dễ dàng những trang sách chữ Quốc ngữ có tuổi hàng mấy trăm năm, nay chỉ còn lưu giữ giải rác trong dân và trong thư viện Lisbon, Pari, Roma… mà đến thế kỷ 16 khi đạo thiên chúa truyền vào nước ta, một nhóm trí thức người Việt đã cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay. Đặc biệt theo: “Những tín hiệu thu được từ bản lược đồ địa danh ngôn ngữ Việt cổ” của giáo sư Lê Trọng Khánh, thì không gian phân bố của chữ Việt cổ vô cùng rộng lớn, góp phần vào việc vạch phương hướng tìm hiểu cương vực và nguồn gốc người Việt cổ.
Như vậy “Chữ viết đóng góp quyết định vào nền văn minh Việt cổ” và: “Sự đồng nhất ngôn ngữ trên chữ viết và địa danh cổ càng khẳng định tính chất bản địa của người Việt cổ có nguồn gốc Đông Sơn và rất gần với nhau. Vấn đề này có liên quan đến việc phân bố dân cư cổ đại có nguồn gốc chung trên một địa bàn. Sự đồng nhất ngôn ngữ trên chữ viết và địa danh cổ, tổ tiên trực tiếp của chúng ta ngày nay. Người Lạc Việt đã sáng tạo văn minh Đông Sơn, có ảnh hưởng rất lớn đối với các dân tộc khác trước công nguyên” - Lê Trọng Khánh. Cũng chính vì vậy mà bao năm Sỹ Nhiếp ra lệnh triệt phá, tàn sát, bộ chữ “khoa đẩu” của người Việt cổ vẫn có một sức sống bất diệt.
Chữ Quốc ngữ:
Khi nền văn minh phương tây tràn vào, một số trí thức Việt Nam đã phối hợp với các giáo sỹ phương tây tạo nên một văn tự mới trên cơ sở cấu trúc chữ Việt cổ, thay vào đó cái vỏ La Tinh, đơn giản và tiến bộ hơn chữ Việt cổ đã bị đóng băng hàng nghìn năm dưới ánh đô hộ, tàn sát của phong kiến phương bắc… mà công đầu và là người tiên phong thuộc về giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco de Pina. Trong một bức thư viết vào đầu năm 1623, Francisco de Pina đã viết: “Về phần tôi, tôi đã biên soạn một chuyên luận nhỏ về từ vựng và các thanh của ngôn ngữ này (tức tiếng Việt) và tôi đang bắt tay viết về ngữ pháp. Tuy nhiên, tôi cũng đã tập hợp được những cổ tích, thuộc nhiều loại khác nhau nhằm cung cấp các trích dẫn của các tác giả để xác minh nghĩa của các từ và các quy tắc của ngữ pháp, cho đến nay tôi có thể yêu cầu một người nào đó đọc để tôi phiên dịch sang các chữ Bồ Đào Nha (tức chữ La tinh)... Ngoài ra, tôi đã có ba bốn cuốn tập hợp các bài viết có lý luận trong số các bài viết hay nhất mà tôi tìm thấy được ở Vương quốc này”.
Đầu năm 1625, F.de Pina làm Cha bề trên ở Dinh trấn Thanh Chiêm mà A.de Rhodes là cấp dưới. Tiếp đó, ông thay mặt Giáo đoàn Đàng Trong ra Phủ Chúa yết kiến Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên về vấn đề truyền đạo, mang theo A.de Rhodes để dạy tiếng Việt. Ông bị tai nạn lật thuyền và mất ngày 15/12/1625 khi thay mặt các giáo sĩ ra một chiếc tàu đậu ở ngoài khơi Hội An để nhận hàng tiếp tế của Macao.
Sau khi người Thầy Francisco de Pina qua đời, các công trình Latinh hoá tiếng Việt đầu tiên của ông đã vào tay người học trò Alexandre de Rhodes và ông này đã mang theo khi ra Đàng ngoài năm 1627. Alexandre de Rhodes đã được giáo sĩ Bồ đào Nha Gaspar do Amral trao cho cuốn Từ điển Việt - Bồ do ông biên soạn tại Macao vào mùa đông 1645. Sau đó giáo sĩ này đã bị chết trong một vụ đắm tàu ngày 23/12/1645 trên đường đến Đàng ngoài.
ảnh http://wapedia.mobi/en/Alexandre_de_RhodesNhờ những công trình Latinh hoá tiếng Việt có sẵn của các đồng nghiệp nói trên, Alexandre de Rhodes về sau đã bổ sung thêm một ít tư liệu của mình để biên soạn cuốn Từ điển An Nam - Bồ Đào Nha - Latinh được Vatican xuất bản năm 1651. Trong “Cùng bạn đọc” của cuốn từ điển đó, chính Alexandre de Rhodes viết: “Ngay từ đầu, tôi đã học với Cha Francisco de Pina là người thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không cần phiên dịch. Tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một hội dòng, nhất là Cha Gaspan do Amaral và Cha Antonio Barbosa.Cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển, ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ, nhưng cả hai ông đều chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng Latinh theo lệnh các Hồng y đáng tôn kính...”.
Về việc người Việt có tham gia trong sự phát minh chữ Quốc ngữ, theo Roland Jacques - nhà nghiên cứu người Pháp đã viết gồm hai nhóm:
Thứ nhất là giới trí thức gồm có các thầy đồ, sư sãi, các trưởng tông phái (đạo Lão, đạo Khổng...), quan lại hưu trí và sĩ tử là những người giỏi tiếng mẹ đẻ, am hiểu nền văn hoá dân tộc.
Nhóm thứ hai gồm các phiên dịch là thanh niên giáo dân biết tiếng Bồ Đào Nha, La tinh giúp giáo sĩ truyền đạo. Và số người Việt này phải đông hơn gấp nhiều lần sơ với các giáo sĩ”, Bởi vậy Roland Jacques đã viết : “Chính cả Pina và các đồng nghiệp đã tập hợp được những người hợp tác có chất lượng mà nếu không có họ, mọi công trình ngôn ngữ học nghiêm túc sẽ không thể có được”.
Và ông đề nghị: “Cần thiết phải đặt đứng vị trí việc làm của cá nhân Alexandre de Rhodes trong một công trình tập thể mà ông chỉ là một trong số nghệ nhân cư yếu, trong đó người Bồ Đào Nha và những người cạnh tranh ngang hàng Việt Nam của họ đã giữ vai trò hàng đầu”. Điều này nhất quán với quan điểm của các nhà nghiên cứu chữ Việt cổ và thể hiện rõ trong cấu trúc đặc biệt của từ điển Việt - Bồ - La. Đó là việc sử dụng nhiều từ mang tính đặc thù của nhiều địa phương.
Có thể khẳng định nhóm trí thức địa phương đã góp cho từ điển Việt Bồ La một ngân hàng chữ rất lớn. Nếu một trí thức Việt Nam, dù ở trình độ nào cũng không đủ sức làm như vậy, chứ chưa nói đến các giáo sỹ phương tây, chưa thạo tiếng Việt lại không có điều kiện đi sâu vào các địa phương. Vì vậy năm 1868 khi người Pháp có ý định dùng chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán, đã phải hội thảo và đến năm 1886 lại tổ chức tiếp cuộc hội thảo nữa nhưng hoàn toàn bế tắc.
Đến năm 1902 phải lập một ban cải tiến chữ Quốc ngữ gồm nhiều học giả người Việt và người Pháp. Sau Cách mạng tháng Tám, ngày 21.9.1960 chúng ta đã tổ chức Hội nghị cải tiến chữ Quốc ngữ và có những thành công đáng kể. Từ đấy đến nay, chữ Quốc ngữ của chúng ta được hoàn thiện hơn rất nhiều, góp phần to lớn vào việc tôn vinh văn hóa dân tộc, nâng cao dân trí.
Thay lời kết:
Như vậy, chữ Quốc ngữ chúng ta dùng hiện nay có nguồn gốc từ chữ Việt cổ, một loại chữ tượng thanh phát triển không kém chữ La Tinh, nhưng không phát triển được do sự đô hộ, tàn sát của phong kiến phương bắc. Bộ chữ Quốc ngữ buổi đầu là sự hội nhập của hai nền văn hóa đông tây, mà công đầu là của hai giáo sỹ Bồ Đào Nha: Cha Gaspan do Amaral và Cha Antonio Barbosa cùng đội ngũ những trí thức người Việt, chính những trí thức người Việt đã giúp ích rất nhiều cho các giáo sỹ phương tây xây dựng nên bộ từ điển Việt-Bồ-La, nếu không có sự cộng tác đầy thiện ý này, các giáo sỹ phương tây không thể hoàn thành cuốn từ điển với chất lượng như vậy. Còn Alexandre de Rhodes chỉ có công hệ thống hóa và chỉnh lý như chính ông ta tự nhận.

* Trong bài có sử dụng và trích dẫn tư liệu của giáo sư Lê Trọng Khánh, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền và Nguyễn Phước Tư.

Trần Vân Hạc

Yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái


Vân Hạc

29 tháng 8, 2010
Tộc Thái là một trong 54 tộc người, trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có tiếng nói và chữ viết rất gần với người Việt. Đặc biệt trong ngôn ngữ Thái hiện nay còn giữ được rất nhiều yếu tố của ngôn ngữ Việt cổ. Ngoài do sự giao thoa giữa các nền văn hóa trong quá trình phát triển của những nhóm cư dân Việt Cổ phát triển lên thành người Kinh, thì chủ yếu là do tộc Thái với những yếu tố khách quan, giữ được nhiều tinh hoa của ngôn ngữ Việt cổ, phát triển hoàn thiện như bây giờ.
Chữ Việt cổ
Theo những nhà nghiên cứu chữ Việt cổ, dân tộc ta có chữ viết và hệ thống giáo dục phát triển từ thời Hùng Vương - (chữ khoa đẩu). Chữ Thái có nguồn gốc từ chữ khoa đẩu. Về mặt nhân chủng học, người Thái,Mường, Tày, Kinh... đều thuộc Mongoloid phương Nam. Đó là di duệ của người Việt cổ bản địa chủng Indonesian và cùng được chuyển hóa sang Mongoloid phương Nam. Cũng như tộc Kinh, tộc Thái là con cháu của Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ. Bởi “sự chuyển hóa từ Việt cổ (đa số Indonesian) sang Việt hiện đại (Mongoloid phương Nam) xảy ra khoảng sau 2600 năm TCN, khi nước Văn Lang thành lập. Tùy hàm lượng máu Mongoloid và sự phân bố địa lý mà người Việt chia ra tới 54 sắc tộc như hiện nay” - (Hà Văn Thùy). Do ở các vùng bán sơn địa, xa trung tâm đô hộ của giặc ngoại xâm, tộc Thái đã bảo tồn được ngôn ngữ Việt cổ trước sự tàn sát, đồng hóa dân tộc bao năm ròng của các thế lực thù địch. Trên cơ sở ngôn ngữ Việt cổ, ngôn ngữ Thái biến đổi hiện đại hóa như ngày nay phù hợp với tiến trình phát triển xã hội.
Địa danh cổ trên đất nước ta phân bố rất rộng, thuộc ngôn ngữ Lạc Việt. Yếu tố tiếng Thái còn tìm thấy khá đậm nét trong đấy. Ngôn ngữ Nam Á trong tiếng Việt cổ là có nguồn gốc chung từ rất xa từ văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn, khi nông nghiệp còn thuộc loại hình nương rẫy. Cơ tầng ngôn ngữ Thái rất gần với ngôn ngữ Việt cổ. Cơ chế ngôn ngữ Thái rất gần với ngôn ngữ Việt cổ… Tiếng Thái chính là tiếng Việt cổ phát triển vào một giai đoạn lịch sử muộn. Mối quan hệ giữa chữ viết Đông Sơn và chữ Thái cổ được xem xét dưới quan điểm nhất quán này. Chữ Thái, bao gồm tất cả hệ thống từ Tây Bắc – Thanh Hóa – Nghệ An và chữ viết trên sách ở người Mường (Thanh Hóa). Sách Mường là bảo lưu chữ viết Đông Sơn và chữ Thái không có thay đổi lớn, như chữ Ai Cập tồn tại 3.000 năm không có thay đổi gì mấy.” – (Lê Trọng Khánh).
Điều đó lý giải được lý do tại sao ở những vùng người Thái chưa bao giờ đặt chân đến, thì lại có rất nhiều tên địa danh, đơn vị hành chính… mang tên Thái và trong ngôn ngữ Thái mang nhiều yếu tố ngôn ngữ Việt cổ. Ở đây cần nói rõ, không gian địa danh ngôn ngữ Việt cổ vô cùng rộng lớn, chứ không bó hẹp trong địa bàn Việt Nam như bây giờ.
Trước hết trong lao động sản xuất, từ miền Bắc cho đến miền nam Trung bộ có rất nhiều địa danh mang tên: “Pu”, “Pù” – (núi), “Na”, “nà” – ruộng, “Tà” – bến nước mà trong công trình: “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình Khoa đẩu” của giáo sư Lê Trọng Khánh đã thống kê những địa danh đó kéo dài từ vùng Lưỡng Quảng, Hải Nam, đến Nam Á. “Chúng ta gặp rất phong phú ở vùng người Mường – Thái địa danh có thành tố “na”, “nà” (đồng ruộng).
Ở những vùng có sự giao thoa văn hóa như Hà Bắc và quanh đền Hùng lớp địa danh này khá dày đặc (Nà Lao, Nà Uy v.v…). Ở vùng người Việt Phú Thọ cũng nhiều nơi gọi ruộng là na” như ở Tứ Xã, Sơn Vi, Do Nghĩa, Hà Thạch, Thuỵ Vân. Làng Cao Xá có những khu đồng như: Nà Pheo, Nà Giũa, Nà Đỏ v.v... Một tấm bia trên Đền Hùng có 50% số địa danh được ghi là “na” như Na Hưu, Na Dầu, Na Hoàng v.v. Ở khu di tích Đền Hùng có 3 quả núi thiêng, “tam sơn cấm địa”. Trong đó có núi Nỏn, cạnh núi Nghĩa Lĩnh đặt tên theo ngữ hệ Tày – Thái: Nỏn là út vì thế quả núi còn tên nôm thuần Việt một âm tiết là núi Út… Những điều này có thể lý giải được vì dọc bờ hữu ngạn sông Thao – (Nặm Tao) xa xưa là địa vực cư trú của người Tày Thái cổ. Những dòng họ Ma gốc Tày cũng như nhiều họ gốc Mường: Đinh, Quách, Bạch, Hà... là những nhóm cư dân Việt cổ phát triển lên thành người Việt hiện nay. “Các truyền thuyết về Ma Khê và Tản Viên ở vùng Đất Tổ cũng nói đến sự hội nhập của hai nhóm Việt – Mường và Tày – Thái ở Phú Thọ. Tản Viên chính là người Mường. Dù Tản Viên đã được thần thoại hoá đến hoang đường nhưng bóc bỏ lớp huyền thoại ta vẫn tìm được lõi sự thật lịch sử. Ông là con một bà người Mường có tên là Đinh Thị Đen quê ở chân núi Thu Tinh, làng Yên Sơn. Bà lấy chồng rồi về sống, sinh đẻ Tản Viên ở Động Lăng Xương, làng Trung Nghĩa bên bờ sông Đà thuộc Phú Thọ. Ông được dân gian tôn sùng thành một thần tượng cộng đồng, vừa là anh hùng trận mạc vừa là anh hùng văn hoá. Ông đánh giặc tài lại có công chống lại Thuỷ Tinh biểu tượng của thiên tai lũ lụt. Ông là người anh linh nghĩa cử khước từ ngôi báu, khuyên vua cha nhường ngôi cho Thục Phán để muôn dân thái bình. Thục Phán cũng là gốc Tày – Thái quản lĩnh miền rừng núi phía trên nước Lạc Việt của các Vua Hùng” – (Nguyễn Hữu Nhàn).
Song ở những vùng các cư dân Tày, Thái, Mường chưa hề đặt chân đến cũng có rất nhiều địa danh “na”. Trên địa bàn Nhật Nam (thuộc Quảng Ngãi) có Nà Lau, Nà Klich, Nà Niêu (địa điểm Tỉnh ủy Quảng Ngãi họp quyết định đồng khởi Trà Bồng), và một điều rất lý thú người Chăm H’rê trong ngôn ngữ của họ cũng gọi “nà” là ruộng. Địa danh có thành tố “nà” vùng Chăm H’rê cũng phổ biến như ở vùng người Mường – Thái. Những từ chỉ phức hợp lúa nước có sự đồng nhất tương đối giữa các ngôn ngữ: Mường – Thái – Chăm H’rê và Việt (Khu IV cũ). Sử liệu này cho phép chúng ta nghĩ rằng từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Lưỡng Việt rất phổ biến địa danh có thành tố “na” (ruộng) người Việt cổ trồng lúa nước rất sớm; và có một lớp ngôn ngữ thống nhất chỉ về phức hệ lúa nước. Và cư dân Nhật Nam là người Việt cổ; phía Nam của họ là cộng đồng người nói tiếng Malayo” – (Lê Trọng Khánh).
Chỉ xin trích dẫn một số ví dụ: những từ như “mương”, “phai” chỉ những công trình dẫn thủy nhập điền cho đến nay vẫn phát âm đồng nhất. Có những từ đã biến âm đôi chút hoặc trở thành từ ghép Thái – Việt như “tông” – đồng, “đo đạc” – tạc, “đòn càn” - can, “mưa phùn”, “dao pha”, “cày” – tháy, “chạc” (dây thừng) – chược.
Tên địa danh cũng có rất nhiều từ tương đồng hoặc còn giữ nguyên bản như: “Chiềng” là vị trí trung tâm ở một mường lớn, (Chiềng là thủ phủ của một mường, nhiều nơi phát triển thành thành phố lớn hoặc thủ đô của quốc gia) - (tất nhiên trong lịch sử người Thái, ngoài “Chiềng” mang ý nghĩa như trên là phổ biến, nó cũng có ngoại lệ như là: Chiềng Pấc là tên một mường phìa của Châu Mường Muổi, Chiềng Cang là tên một mường phìa của Châu Mường Mụa; trong sử sách, người Thái gọi nước Lào là Chiềng Đông, Chiềng Tòng). Nay còn có nhiều thành tố “Chiềng” ở cả những nơi người Thái chưa bao giờ đặt chân đến như: Hà Nội có Chiềng Lôi (Cổ Loa). Hà Tây: Chiềng Vậy (Hoài Đức). Phú Thọ: Gò Chiềng (Lâm Thao), Chiềng Ninh (Phù Ninh). Hà Nam: Chợ Viềng (Phủ Giầy). Sơn Tây: Chiềng Tăng. Vùng nông thôn miền Bắc còn không ít địa danh có từ Chiềng. Nhưng thưa dần vào phía Nam: Chiềng Giang (O Lâu) Quảng Trị… “Hiện tượng phân bố địa danh có từ Chiềng ở trên, không còn nghi ngờ sự thiên di của một bộ người Việt cổ làm lúa nước, ở vùng bực thềm sông Hồng lên phía tây với văn hóa lúa nước và văn hóa đồ đồng Đông Sơn.” - (Lê Trọng Khánh).
Thành tố “Viềng” cũng rất phổ biến, “viềng” có nghĩa là thành luỹ quân sự, nơi bảo vệ “Chiềng” hoặc biên cương, đất nước. Trên viềng thường có các các vị trí quân sự giống như là lô cốt hay chòi canh gọi là “Che”. Ví dụ tại Viềng Lôi (thành Cổ Loa) có ba “che”, có tên là “Che noóc”, “Che tò” và “Che cuông” (tiếng Thái có nghĩa là “Che ngoài”, “Che nối tiếp” và “Che trong”). (“Che”: tiếng Thái cũng có nghĩa là góc, mà các “Che” quân sự này cũng đặt tại các góc như các đồn tiền tiêu). Danh từ “Chiềng”, “Viềng” phát triển rộng khắp ở nhiều nước Đông Nam Á. Như vậy “vào một thời kỳ lịch sử xa xưa, cộng đồng người phân bố rất rộng từ miền Nam Trung Quốc (chủ yếu Lưỡng Việt) đến Nam Đông Dương nói một ngôn ngữ có yếu tố cơ bản thống nhất (từ chỉ: núi, sông)” – (Lê Trọng Khánh).
Trong mọi mặt đời sống sinh hoạt, cũng có rất nhiều từ còn giữ nguyên bản, tương đồng hoặc trở thành từ ghép. Trước hết “Vua Hùng” là phiên âm của một từ Việt cổ:
Vua - Bua - Bô - Pô = (bố); Hùng - Khun = Cun = Thủ lĩnh. Vua Hùng = Bố của các thủ lĩnh = Thủ lĩnh tối cao. Danh hiệu Hùng Vương chỉ là một sự lắp ghép danh hiệu Bố cái đại vương (Bố cái = Vua lớn = Đại vương) để chỉ Vua Phùng Hưng sau này. Hoặc từ “Thục Phán” (tiếng Thái là Tục Pán) có nghĩa là chiếm đất, là mở mang bờ cõi…
Ta tạm chia những yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái ra một số nhóm: nhóm phiên âm trực tiếp, nhóm này chỉ liệt kê các từ thông dụng và không có từ khác thay thế; nhóm nguyên nghĩa đi kèm nhau; nhóm cận nguyên âm và vần; nhóm phụ cận vần và các nhóm khác.
Trước hết là nhóm phiên âm trực tiếp, là nhóm những từ thông dụng, không có các từ khác thay thế:
“bàn” (bạc) – ban, “bản” – bàn, “chọn” – chọn, “quen” – quẻn, “việc” – việc, “bể” (biển) – pể, “mương” – mương, “phai” – phai, “nàng” – nàng, “ngân” (tiền) – ngân, “an” – yên, “dệt” (vải) – dệt …
Những từ trong nhóm nguyên nghĩa đi kèm nhau (những từ này là từ ghép, một từ tiếng Thái với một từ Việt): “áo xống”, “béo múp”, “bừa phứa”, “chim chóc”, “chó má”, “đòn càn”, “hang thẳm”, “quát nạt”, “xin xỏ”, “xa lắc”, “súng ống”, “giá cả”, “mặt nạ”, “dao pha”, “tre pheo”, “chân thật”.…
Nhóm cận nguyên âm và vần, (gồm những từ có cách phát âm gần nhau về âm và vần):
 “Ánh” – xánh, “bánh” – pảnh, “bào” – pao, “bão” – pảo, “bắt” – pắt, “bè” - pe, “bóc” – pọc, “bón” – pòn, “bọt” – pọt, “bố” – pỏ, “bốc” – chốc, “chan” – chán, “cá” – pá, “lôi” – lối, “lo” – ló, “còng” – cỏng, “cây” – mạy, “gốc” – cốc, “han” – hán, “bắn” – bén, “nỏ” – nả, “bó” – pò, “bói” – pòi, “bón” – pòn, “bọt” – pọt, “bốc” – chốc, “gang” – khang, “bá” – pả, “vải” – phải, “mận” – mặn, “nhót” – lót, “bể” – biển, “chống” – chông, “đòi” – toi…
Nhóm phụ cận vần và các nhóm khác (nhóm này không tính về thanh điệu, gần nhau về âm và vần):
 “bát” – pẹt, “bắt” – chặp, “bơi’ – loi, “buộc” – phục, “buông” – vang, “cạp” – cọp, “chấm” – chẳm, “lống” –puống, “chạc” – chược, “đáp” – chắp, “chẻ” – phả, “chích chòe” – chí chọe, “chốn” – chòn, “chủ” – chảu, “đập” – tặp, “cục” – cọc, “dê” – bè, “cửu – càu, “đường” – tang, “giường” – chong, “gắp” – cạp, “buộc” – phục, “buông” – vang, “chẻ” – phả, “đến” – ten, “kẹp” – nịp, “căng” – kếnh, (chim) “cuốc” – cu vắc, “chốn” – chòn, “cổ” – co, “lưng” – lằng, “coi” – moi. “cũ” – cảu…
Có thể liệt kê rất nhiều những từ, ngữ mang yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái, bởi theo thống kê của các nhà nghiên cứu, có tới gần 30% vốn từ tiếng Việt cổ trong ngôn ngữ Thái. Nghiên cứu ngôn ngữ Thái ta sẽ tìm được phần nào ngôn ngữ Việt cổ, một dân tộc đa sắc tộc đã làm nên những trống đồng nổi tiếng và nền văn minh lúa nước và công nghiệp đá Hòa Bình phát triển sớm nhất thế giới, đó là sự thật mà khoa khảo cổ học thế giới chứng minh. Chúng ta tự hào vì “Văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới Văn hóa Bắc Sơn”. Chính sự hình thành và phát triển nhà nước từ rất sớm, cùng nền văn minh lúa nước, công nghiệp đá, đúc đồng, làm giấy… và hệ thống giao thương rộng khắp với nhiều vùng lãnh thổ đã thúc đẩy quá trình phát triển chữ Việt cổ.
Chúng ta vô cùng tự hào vì dân tộc ta là dân tộc duy nhất giữ gìn được con chữ của Bách Việt trước sự hủy diệt tàn bạo bao năm ròng của các thế lực thù địch, mà người Thái góp một phần không nhỏ. Đây cũng đang là một hướng tiếp cận của các nhà nghiên cứu chữ Việt cổ trong và ngoài nước và bước đầu đã thu được những thành công đáng khích lệ. Điều đó càng làm cho ta hiểu thêm về lịch sử dân tộc và tăng cường tình đoàn kết anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Trần Vân Hạc
Tài liệu tham khảo:
- “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu” của Lê Trọng Khánh.
- “Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt” của Hà Văn Thùy
- “Yếu Tố Việt-Mường và Tày-Thái trong nền tảng Văn Hóa Đất Tổ của” Nguyễn Hữu Nhàn.
- Cùng sự giúp đỡ của các nhà sưu tầm nghiên cứu văn hóa Thái: Sầm Văn BìnhCà Văn Chung.