Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Góc nhìn pháp luật và cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Góc nhìn pháp luật và cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

VŨ THÀNH TỰ ANH: "TẬN NHÂN LỰC, TRI THIÊN MỆNH"

"Nếu học sinh được phép tả cây bàng mùa đông đúng như chúng quan sát thì có thể chúng ta đã có một nền giáo dục khác." - Vũ Thành Tự Anh
Tôi cố gắng trở thành một nhà nghiên cứu kinh tế và nhà giáo, giúp kiến tạo ra nền tảng cho những thế hệ mai sau.
- Anh nói, nhà kinh tế thường không nói chuyện giấc mơ mà chỉ đặt ra những mục tiêu. Và trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, TS Vũ Thành Tự Anh luôn “chỉ chú trọng vào quá trình”, “tạo nên xu thế thay đổi”. Bởi theo anh, “về Việt Nam để góp phần tạo nên một nền móng, một bệ phóng cho các thế hệ sắp tới.”
LTS: Hiện là giảng viên kinh tế học, Giám đốc Nghiên cứu Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, TP.HCM và nhà nghiên cứu của Chương trình châu Á, Harvard Kennedy School, TS Vũ Thành Tự Anh thuộc lớp nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế học đầu tiên ở Mỹ sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Anh nói, ngay cả khi được thụ hưởng một trong những nền giáo dục tốt nhất VN vào thời điểm đó: chuyên toán Chu Văn An, rồi chuyên toán Hà Nội - Amsterdam nhưng "bước vào nền giáo dục của Mỹ, mà cụ thể tại trường Boston College, tôi thấy choáng ngợp, theo nghĩa trước kia mình chỉ là con cá quanh quẩn trong một cái hồ, giờ được lao mình vào đại dương tri thức. Trong một môi trường đại học đích thực, điều quan trọng nhất là đi tìm chân lý một cách độc lập và sáng tạo". Và khi về nước, anh trở thành giảng viên tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (Trường Fulbright), là chương trình hợp tác giữa ĐH Kinh tế TP.HCM và trường ĐH Harvard đào tạo thạc sỹ chính sách công.

Tại trường Kinh tế Fulbright, sinh viên ngồi cao hơn giáo viên. Tranh luận bình đẳng. Sinh viên có quyền nêu câu hỏi, thậm chí là phản biện và chất vấn giáo viên, và giáo viên là người đối thoại và hướng dẫn chứ không phải là truyền trao chân lý và khư khư bảo vệ ý kiến của mình.

Chúng tôi chọn Vũ Thành Tự Anh là một nhân vật trong tuyến bài này không phải chỉ do những gì mà cá nhân Vũ Thành Tự Anh và Trường Fulbright đã tư vấn cho chính phủ Việt Nam mà bởi cách họ đang dạy từng học viên, cách họ cố gắng tạo ra sự thay đổi, để tạo nền cho giáo dục Việt Nam hoàn thiện hơn.

Hai câu chuyện bắt bệnh nền giáo dục Việt Nam
TS Vũ Thành Tự Anh
TS Vũ Thành Tự Anh

"Sự khác khác biệt giữa nền giáo dục Việt Nam và của các nước tiên tiến nói một cách hình tượng có thể so sánh với khoảng cách từ Trái Đất lên Mặt Trăng chứ không phải sự khác biệt có thể thu hẹp lại trong một sớm một chiều".
Câu chuyện cũ, cô giáo bảo cây bàng mùa  đông lá phải màu đỏ
Tôi có một người quen. Vì cô giáo của con giao bài tập “Tả cây bàng mùa đông”, anh đã dẫn cháu đi ngắm một cây bàng thật sự. Dù đang mùa đông nhưng cây bàng lá vẫn xanh mơn mởn. Cháu bé về viết lại điều đó trong bài văn và bị 4 điểm. Lý do là theo đáp án của cô giáo, cây bàng mùa đông lá phải đỏ.

Khổng Tử cách đây hơn 2500 năm đã dạy học trò tinh thần “cách vật trí tri”, nghiên cứu sự vật để tìm ra tri thức, chứ không phải học thuộc lòng, rằng cái bàn này có bốn chân, cây bàng nhà em mùa đông ra lá đỏ. Không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc cho đến thế kỷ 15 vẫn là một quốc gia tiên phong trong nhiều lĩnh vực, sáng tạo ra la bàn, thuốc súng, có hải thuyền mạnh nhất thế giới. Tất nhiên sau đó Trung Quốc đã nhanh chóng tụt lại phía sau trong con đường tiến đến văn minh do chủ trương bế quan tỏa cảng, trong khi châu Âu đã sẵn sàng cho một phong trào khai phóng toàn diện và sâu sắc.

Nếu học sinh được phép tả cây bàng mùa đông đúng như chúng quan sát thì có thể chúng ta đã có một nền giáo dục khác.
Câu chuyện mới về việc nội địa hóa ô tô ở Việt Nam

Xét trên khía cạnh kinh tế, khi một công ty nước ngoài cân nhắc chuyện sản xuất ô tô ở một nước nào đó, họ sẽ xác định nước đó là thị trường tiêu thụ chính, bởi ô tô là một mặt hàng cồng kềnh, việc xuất nhập khẩu sẽ làm đội giá thành sản phẩm.

Thị  trường Việt Nam là thị trường nhỏ, lại có nhiều công ty cùng sản xuất nên thị phần càng bị chia nhỏ hơn. Vậy công ty sản xuất ô tô sẽ ứng xử thế nào? Đương nhiên họ không đầu tư vào Việt Nam với quy mô đủ lớn để có thể sản xuất tại đây, đơn giản chỉ là lắp ráp.

Kết quả là ở Việt Nam có hãng General Motor nổi tiếng ở Mỹ, có Toyota Nhật, có Huyndai Hàn Quốc... Như vậy, bài toán thu hút những hãng ô tô lớn của thế giới đã có một “lời giải đẹp đẽ”, nhưng hệ quả của lời giải này sau gần 20 năm, là tỷ lệ nội địa mới chỉ đạt khoảng 15%, tức là rất xa so với mục tiêu ban đầu.

Nếu như trong “câu chuyện cây bàng”, lời giải đúng với thực tế nhưng sai đáp án bị cho điểm kém thì  trong “câu chuyện ô tô” lời giải đẹp đẽ cho một bài toán bị đặt sai đề bài đã phải trả giá rất lớn về mặt hiệu quả kinh tế. Triết lý giáo dục tiên tiến giúp cho học sinh sáng tạo, đi tìm bài toán đúng chứ không chỉ dừng lại ở việc trau dồi kỹ năng giải bài toán. Ở Trường Fulbright, chúng tôi đang cố gắng dạy các học viên đi tìm bài toán đúng.

Đặt nền móng để “bước lên Mặt Trăng”
Được đào tạo tại một đại học danh tiếng ở Mỹ, trở về Việt Nam hài lòng với vai trò một giảng viên, cách lựa chọn của anh có vẻ  “không kinh tế”?
Mỗi khi phải ra quyết định, các nhà kinh tế chúng tôi thường cân nhắc tới “giá trị gia tăng”. Về phương diện nghề nghiệp, khi quyết định về Việt Nam, tôi đơn giản nghĩ rằng khả năng tạo giá trị gia tăng của mình ở Việt Nam cao hơn ở nước ngoài.

Việt Nam chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi nhằm thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển trên mọi phương diện, vì vậy những người muốn tham gia vào quá trình này sẽ có nhiều cơ hội cũng như tiềm tăng đóng góp cao hơn.

Hai câu chuyện anh vừa kể cũng dẫn đến một vấn đề đã được bàn đi bàn lại mà chưa thay đổi, triết lý giáo dục của Việt Nam hiện nay. Do chúng ta tác động chưa đúng đối tượng hay sao, thưa anh?

Nguyễn Trường Tộ ngày xưa đã chỉ nói cho vua quan nghe, nhưng rõ ràng như thế là chưa đủ. Nếu cả dân tộc Việt Nam trở nên thông minh và thức thời hơn thì có thể những nỗ lực của ông đã có nhiều khả năng thành công hơn. Để làm được điều này đòi hỏi một quá trình lâu dài, bắt đầu với việc giúp cho mọi người trong xã hội hiểu bản chất những gì đang xảy ra, từ đó thay đổi cách họ nghĩ, và qua đó ảnh hưởng tới cách họ ứng xử. Nhiều người cùng thay đổi theo hướng tích cực như vậy sẽ tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn.
Chủ tịch Harvard Summers và Thủ tướng thảo luận về đào tạo sau ĐH ở Việt Nam trong chuyến thăm do trường Kinh tế Fulbright phối hợp với ĐH Havard tổ chức năm 2005. Ảnh Fulbright
Thủ tướng Phan Văn Khải và Chủ tịch Harvard Summers thảo luận về đào tạo sau ĐH ở Việt Nam trong chuyến thăm do trường Kinh tế Fulbright phối hợp với ĐH Havard tổ chức năm 2005. Ảnh Fulbright

Tác  động khiến từng học viên tự  thay đổi, rồi những học viên  đó lại khiến một ai khác nữa thay đổi, đó là cách các anh cố gắng thay đổi triết lý giáo dục Việt Nam?

Cá nhân tôi chỉ cố gắng góp phần xây dựng một nền móng, một bệ phóng cho các thế hệ sắp tới, tất nhiên cũng không biết là sẽ cần bao nhiêu lâu. Từ nền móng đó, các thế hệ học viên sẽ tự phấn đấu để đạt được một đỉnh cao hơn. Chúng tôi cũng không nhất thiết phải chứng kiến ngày  nền móng đó được hoàn thành, chỉ cần thấy nền móng đó đang hình thành nghĩa là chúng tôi đang đi đúng hướng.

Dù chỉ hướng tới quá trình nhưng chắc các anh cũng đã đạt được một vài kết quả nào đó chứ?

Dưới phương diện quá trình, những công việc của trường chúng tôi đã tạo ra một số tác động tích cực.

Cuối năm 2007, đầu năm 2008, trường Fulbright có xuất bản một nghiên cứu với tên gọi “Lựa chọn thành công”. Thông điệp chính của bài viết là việc Việt Nam theo mô hình kinh tế nào, Đông Á hay Đông Nam Á, là sự lựa chọn của Việt Nam, Việt Nam có khả năng và có quyền được lựa chọn chứ không bị đẩy vào thế phải chấp nhận một cái nào đó như trước nữa.

Bài nghiên cứu tạo ra một dư luận trong giới nghiên cứu kinh tế và chính sách, góp phần tạo ra một khuôn khổ để thảo luận các vấn đề chính sách của VN trong bối cảnh rộng lớn hơn chứ không phải thuần túy là vấn đề có tính nội địa.

Đặt nền kinh tế vào bức tranh rộng hơn, bài toán sẽ rõ ràng hơn. Như tôi đã trình bày ở trên, đặt bài toán đúng là điều kiện tiên quyết để có thể giải quyết được bản chất của vấn đề. Sự lựa chọn chỉ còn phụ thuộc và quyết tâm chính trị và năng lực lãnh đạo của VN.

Như anh đã nói, các nhà kinh tế thường không có giấc mơ mà chỉ có mục tiêu. Vậy, mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của anh hiện nay là gì?
Mục tiêu của tôi trong năm nay là hoàn thành một cuốn sách viết về chính sách công nghiệp của VN với GS Dwight Perkins của ĐH Havard.

Mục tiêu trung hạn là cố gắng tiếp cận nghiên cứu nền kinh tế Trung Quốc một cách có hệ thống, một mặt vì bản thân Trung Quốc quá quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu, và mặt khác là vì những thách thức đối với Trung Quốc ngày hôm nay rất có thể sẽ là những thách thức Việt Nam phải đối diện ngày mai. Một lần nữa tôi chỉ hy vọng sẽ tạo ra một nền móng nào đó, bắt đầu cho một quá trình, làm thế nào để những nhà kinh tế VN hiểu Trung Quốc đầy đủ hơn, đúng hơn, toàn diện hơn.

Còn kế hoạch dài hạn của tôi, vẫn như những gì đã nói, là cố gắng trở thành một nhà nghiên cứu kinh tế và nhà giáo, giúp kiến tạo ra nền tảng cho những thế hệ mai sau. Một người bạn vong niên mà tôi luôn coi như một người thầy đã từng chia sẻ với tôi rằng phương châm sống và làm việc của anh ấy là “tận nhân lực, tri thiên mệnh”. Tôi cũng đang cố gắng để đạt được tới “cảnh giới” này (cười). 

Hoàng Hạnh (Thực hiện)

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

SẼ KHÔNG CÓ "BỮA ĐẠI TIỆC" CHO VIỆT NAM

Phỏng vấn ông Nguyễn Đình Lương,
Anh Phương (thực hiện),
Nguồn: Tuần Việt Nam,
đăng ngày 18/9/2013,
truy cập đường link gốc tại đây


Với BTA ta đã chấp nhận mở cửa cả những ngành dịch vụ như viễn thông, tài chính mà trước đó đã khoanh vùng là "đất của chúa" và đã rào thật kín "vì an ninh quốc gia". Việc tham gia TPP tới đây sẽ mở tiếp", ông Nguyễn Đình Lương nói.

LTS: Ông Nguyễn Đình Lương*, Nguyên trưởng đoàn đàm phán hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), từng được bạn đọc Tuần Việt Nam biết đến qua các bài phỏng vấn về đàm phán BTA, đàm phán WTO.
Tuần Việt Nam tiếp tục giới thiệu những nhận định của ông về đàm phán Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Không thể tiếp tục đi làm thuê mải kiếm mấy đồng tiền công
Thưa ông, các cuộc đàm phán TPP đang được tiến hành dồn dập để có thể kết thúc vào cuối năm nay. Ông thấy diễn biến mọi việc như thế nào? Việt Nam có vào TPP được không?
Tôi không có cảm giác lạc quan là cuộc đàm phán TPP sẽ kết thúc năm nay. Tôi hy vọng và mong Việt Nam sẽ trở thành thành viên TPP khi nó được ký kết vì rằng lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện quyết tâm, đã nói cho dân biết cũng như đã công khai trên các diễn đàn quốc tế.
Các nước tham gia đàm phán,  nhất là Hoa Kỳ, nước đang "cầm cái" đang "áp đặt luật chơi" trong cuộc đàm phán này cũng mong muốn và động viên Việt Nam cố gắng tham gia.
Các doanh nghiệp Việt Nam đang có những quan ngại, lo lắng cụ thể, ví dụ các doanh nghiệp dệt may, giầy dép... lo rằng: Trong TPP chỉ áp dụng thuế nhập khẩu bằng 0 cho hàng hóa có nguyên vật liệu sản xuất trong nước hoàn nhập khẩu từ các nước TPP, trong lúc lâu nay nguyên vật liệu, phụ kiện của ta chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc - là những nước chưa tham gia TPP. Ông có chia sẻ gì với những lo lắng này?
Không lo.
Kinh tế Việt Nam hôm nay cơ bản là kinh tế gia công lắp ráp. Ta đi làm thuê kiếm mấy đồng tiền công. Nguyên vật liệu cho hàng xuất khẩu lâu nay ở ta vốn nhập khẩu là chính. Có lẽ cũng còn phải lâu lâu nữa thì người Việt Nam mới tự sản xuất ra đủ những thứ này.
Việt Nam cứ vào TPP đi, tức khắc người Trung Quốc từ lục địa, từ Đài Loan, từ Hồng Kông, người Hàn và nhiều người khác sẽ vào. Họ sẽ mang tiền máy móc, thiết bị và cả người lao động nữa vào xây dựng xí nghiệp 100% vốn người nước ngoài, thuê lao động Việt Nam sản xuất cho Việt Nam đủ dùng.
Những nguyên vật liệu này hoàn toàn đủ tư cách "made in Việt Nam" để được hưởng thuế nhập khẩu bằng O. Họ đã bắt đầu khởi động rồi chỉ chờ Việt Nam "quyết" là họ vào liền.
Nhân đây tôi cũng muốn nói thêm rằng ở tầm chiến lược quốc gia ta không nên tính chuyện suốt đời đi gia công làm thuê, không nên xây dựng chiến lược để con cháu mình suốt đời đi đạp máy khâu, khâu váy, khâu quần, khâu dép ...Tại sao hội thảo TPP mãi chỉ toàn nghe chuyện may mặc, giầy dép? Có lẽ phải tính những bài toán lớn hơn thế?
Vả lại theo quy luật, hàng dệt may sẽ rời Việt Nam, khi đồng lương người thợ may ở đây cao, nó họ sẽ tự động chuyển dịch tới những vùng đất nghèo hơn, lao động rẻ hơn.
TPP, BTA, thương mại, Việt Mỹ, WTO
Ông Nguyễn Đình Lương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (Ảnh: Trần Đông)
Mở mở, kín kín, hở hở...
Hiện đã có một vài bình luận, phân tích về lợi ích của Việt Nam khi tham gia TPP. Có ý kiến cho rằng Việt Nam sẽ là nước gặt hái nhiều nhất, có người còn đưa ra con số cụ thể rằng là GDP Việt Nam sẽ tăng bao nhiêu tỷ đô. Ông có đồng tình với những phép tính này không?
Điều chắc chắn và đã rõ: Tham gia TPP là một thách thức lớn đối với Việt Nam.
Việt Nam sẽ là nước khó khăn trong cuộc đàm phán TPP này vì Việt Nam là nước có nền kinh tế kém nhất và hệ thống pháp luật " khập khiễng" nhất trong số các nước đang đàm phán. Không thể có chuyện như có người nói rằng TPP sẽ là một bữa "đại tiệc"của Việt Nam.
Về lợi ích kinh tế: Lợi ích nhiều hay ít còn phụ thuộc vào khả năng khai thác cơ hội. Biết khai thác cơ hội sẽ được nhiều, có khi được rất nhiều. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, thế giới đang đua tranh, nếu anh lập cập không biết làm ăn, anh chỉ được "ăn xái" vạch lưng ra cho người ta giẫm lên.
Thực tiễn tham gia WTO cho thấy rằng: khả năng thích ứng với kinh tế thị trường ở Việt Nam là rất kém, khả năng chủ động khai thác cơ hội là rất yếu. Làm ăn không bài bản, không chiến lược, không chiến thuật. Đánh trống bỏ dùi.
Khi tham gia WTO đã có người dự báo: Kinh tế Việt Nam sẽ như là một con tàu ra "biển lớn". Hôm nay có người bảo sau 5 năm tham gia WTO kinh tế Việt Nam sẽ trở về 0! Thậm chí có người nói: WTO đã gây ra những cú sốc cho nền kinh tế Việt Nam.
Không biết có phải vậy không? Cần phải có đánh giá, kiểm chứng và số liệu. Song nếu đúng như vậy thì cũng là hợp logic. Kinh tế WTO là kinh tế thị trường tự do. Vì vậy nó chỉ có thể vận hành và phát triển trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Từ sau khi tham gia WTO đến nay kinh tế Việt Nam chưa thực sự kiến tạo được một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Đúng hơn, cạnh tranh lành mạnh không được cổ vũ, khuyến khích và tạo dựng. Cộng thêm vào đó, văn hóa tham nhũng được phổ cập, tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích hoành hành, làm méo mó cả những quốc sách đúng, hay của Nhà nước.
Điều tôi  muốn nhấn mạnh ở đây, đó là những lợi ích về mặt kinh tế thì đúng là rất quan trọng và phải phấn đấu để đạt tới. Nhưng cũng chưa phải là mục tiêu quan trọng nhất...
Vậy cái lớn nhất ta được lần này là gì, thưa ông?
Cái được lớn nhất lúc này có thể là:
Với TPP ta tiến thêm một bước theo hướng tăng tốc mở cửa với thế giới, thiết lập một nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa, tạo dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh, để phát triển cùng thời đại.
Ông có thể nói cụ thể hơn?
Cuộc đàm phán chưa kết thúc, nhưng chắc chắn khung pháp lý TPP sẽ là khuôn mẫu cho việc vận hành kinh tế thế kỷ XXI, nghĩa là nó sẽ bao gồm  những quy phạm, những quy định cao hơn, toàn diện hơn. Có cả những quy định "ngoài kinh tế" hay "kinh tế chính trị".
Ví dụ: Thứ nhất, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Có thông tin nói rằng, những quy định trong TPP về lĩnh vực này sẽ cao hơn, chế tài mạnh hơn, rất khó cho Việt Nam.
Sở hữu trí tuệ (SHTT) là tiền, là lợi ích của doanh nghiệp và của quốc gia. Giá trị của quyền SHTT có lúc cao hơn nhiều quyền sử dụng đất. Thương hiệu một mặt hàng có giá đến hàng tỷ, hàng chục tỷ đô la, là cả một gia tài lớn, phải được bảo vệ chặt.
Bảo hộ sản phẩm trí tuệ là yêu cầu của mọi quốc gia trong thời đại kinh tế tri thức, trong lúc nạn ăn cắp trí tuệ đang tràn lan. Ở Việt Nam, nạn ăn cắp đó cũng đã vượt qua "báo động đỏ".
Không bảo vệ được sản phẩm trí tuệ, thì sẽ không có sản phẩm trí tuệ và rồi trí tuệ sẽ không phát triển. Trong nền kinh tế tri thức có thể coi tình trạng "chết lâm sàng"
Cả thế giới và cả Việt Nam đang cần những chế tài mạnh, thật mạnh để chặn đứng nạn ăn cắp sản phẩm trí tuệ, để cứu cả nền kinh tế và cả nền khoa học.
Chấp nhận những yêu cầu cao chế tài mạnh là bảo vệ mình hôm nay, ngày mai, là xây dựng môi trường cho trí tuệ phát triển và tạo cho Việt Nam một chỗ đứng đàng hoàng trong thế giới hiện đại.
Việt Nam sẽ có nhiều khó khăn nhất định trong quá trình thực thi, ta sẽ nhờ quốc tế hỗ trợ.
Thứ hai, vấn đề doanh nghiệp nhà nước, cạnh tranh, mua sắm công.
Sân chơi TPP vốn là sân chơi kinh tế thị trường. Những tiêu chí trên sân chơi: mở, thông thoáng, công khai, minh bạch, bình đẳng, không phân biệt đối thủ; là những tiêu chí bắt buộc nó sẽ giữ cho các nền kinh tế phát triển lành mạnh và bền vững.
Duy trì tình trạng đóng đóng mở mở, kín kín, hở hở rồi để cho các nhóm lợi ích khai thác không phải là của TPP.
Vào TPP chắc chắn phải chấp nhận xóa hết sự phân biệt đối xử, áp dụng luật chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, trên thị trường cũng như trong đấu thầu các khoản mua sắm công (trừ mua sắm cho an ninh quốc phòng). Mọi doanh nghiệp được bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực, tài nguyên, vốn, thị trường.
Nhà nước có quyền lập các doanh nghiệp nhà nước, lĩnh vực nào cũng được, to hay nhỏ nhiều hay ít... không ai can thiệp, nhưng kinh doanh phải công khai, minh bạch,  trên thị trường phải theo tiêu chí thị trường, phải bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.
Chấp nhận  những cam kết này rõ ràng chúng ta phải sửa đổi một số văn bản pháp luật hiện hành và cách điều hành kinh tế hiện nay.
Những yêu cầu này khi đàm phán BTA, phía Hoa Kỳ đã nêu ra, đã đòi ta chấp nhận. Nhưng ta chưa chấp nhận vì ta khó có thể ngay một lúc xử lý được tất cả mọi vấn đề.
Vả lại, ở thời điểm đó thời điểm đàm phán BTA cái chủ trương "quốc doanh chiếm vai trò chủ đạo" thông qua các tập đoàn hoạt động đa ngành chưa trở thành quốc sách, chỉ mới là ý tưởng ban đầu chứ chưa hình thành và kích hoạt thành những "bọc ung thư" như Vinashin, Vinalines..., chưa khê mùi "bức xúc" như hiện nay.
Ngoài ra?
Vấn đề thứ ba, đó là ta phải cam kết trao cho người lao động Việt Nam "quyền lập hội". Công nhân, người lao động tự tụ tập với nhau, tự lập hội để "nói chuyện" với giới chủ, để "cưu mang" nhau lúc khó khăn.
TPP, BTA, thương mại, Việt Mỹ, WTO 
Quyền lập hội là một trong những quyền "tạo hóa ban" cho những người có sức lao động, đi lao động để tự vệ. Đó là một trong những chuẩn mực quy định của  Tổ chức lao động quốc tế (ILO) mà Việt Nam là một thành viên. Đó cũng là một quy phạm phổ quát trong đời sống xã hội văn minh.
Trong cuộc đàm phán BTA với Hoa Kỳ trước đây, Việt Nam kiên trì đòi phía Hoa Kỳ dành cho phía Việt Nam Quy chế ưu đãi phổ cập (GSP) (áp dụng thuế bằng 0 đối với mấy ngàn mặt hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ chủ yếu là hàng thủ công nghiệp,  mây tre, cói ngô...)
Phía Hoa Kỳ kiên quyết không chấp nhận vì Luật GSP của Hoa Kỳ đòi đòi hỏi một số yêu cầu cao trong đó có quyền lập hội.
Tại vòng đàm phán cuối cùng, trong buổi gặp riêng hai trưởng đoàn, tôi bảo ông JOE Damond - Trưởng đoàn đàm phán Hoa Kỳ: ta cứ ghi vào BTA "phía Hoa Kỳ sẽ xem xét dành GSP cho Việt Nam" còn khi nào xem xét, được hay không ta sẽ bàn sau. Ông Damond thấy đề xuất hợp lý, đồng ý ghi vào.
Về nước tôi không dám khoe thành tích đó vì tôi hiểu đó chỉ là một cụm từ "làm đẹp" BTA cho "cả nhà đều vui" nhưng có người lại báo cáo rằng vòng đàm phán này ta đã giành thắng lợi, ta đã kiên trì đấu tranh đã bắt Mỹ dành cho ta GSP!
Nghe nói sau này, qua nhiều năm đàm phán, đến nay Hoa Kỳ vẫn chưa chấp nhận cho hàng Việt Nam được hưởng GSP vì Việt Nam chưa có điều kiện để thực thi quyền lập hội.
Kỳ này, muốn vào TPP, Việt Nam không thể tránh khỏi điều khoản này. Theo tôi, phía Hoa Kỳ và các nước khác có nhân nhượng thì cũng chỉ ở mức cho một thời hạn bảo lưu vài ba năm để Việt Nam xử lý những vấn đề thuộc cơ chế trong nước.
Chấp nhận "Quyền lập hội" cho người lao động thì công đoàn Việt Nam sẽ phải đổi mới cả về chức năng nhiệm vụ, cả về phương thức hoạt động, và sau đó có thể là các đoàn thể quần chúng khác cũng sẽ noi gương.
Và còn nhiều ví dụ nữa...
Mở cửa "đất của Chúa"
Trong lúc nền kinh tế đang khó khăn, xã hội đang có nhiều vấn đề, liệu ta có tìm được sự đồng thuận để tham gia TPP không, thưa ông?
Có Việt Nam hay không có Việt Nam, đoàn tàu TPP vẫn chạy theo lộ trình. Nhưng đứng trước những vấn đề phức tạp như vậy, ta phải có sự đồng thuận xã hội. Kinh nghiệm lịch sử Việt Nam là sự đồng thuận đó sẽ có khi mọi người đều đặt lợi ích phát triển đất nước lên trên hết.
Ba mươi năm qua, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng lãnh đạo và tiến hành, vì lợi ích phát triển đất nước vì nhận thức được rằng thời đại đó thay đổi, chúng ta đã gạch xóa đi khỏi cuốn kinh thánh bao nhiêu điều húy kỵ. Chúng ta đã đưa vào bức tranh đất nước bao nhiêu màu sáng, màu tươi. Đất nước đang thay đổi cùng thời đại.
Đổi mới 30 năm qua là một quá trình tiền tiến cùng với những bứt phá liên tục. BTA với Hoa Kỳ là 1 bứt phá. Ta cam kết chơi theo luật chơi mà thế giới tư bản đã chơi, ta chấp nhận chơi bình đẳng, bỏ phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa nước ngoài, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
Với BTA ta đã chấp nhận mở cửa cả những nghành dịch vụ như viễn thông, tài chính mà trước đó đã khoanh vùng là "đất của chúa" và đã rào thật kín "vì an ninh quốc gia".
Đó là những điều tưởng như không thể, nhưng rồi ta đã chấp nhận để mở đường cho đất nước phát triển.
Nhưng trong quá trình thực thi, do chưa đủ điều kiện để hoàn chỉnh hệ thống pháp luật cộng với sự níu kéo của cơ quan công quyền đã làm biến tướng môi trường kinh doanh, và dẫn đến những hệ lụy mà báo chí nói mãi.
TPP sẽ xử lý tiếp, TPP sẽ là một bứt phá mới nữa. Trên con đường đổi mới mà Đảng và Dân đã chọn.
Anh Phương (thực hiện)

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

TỪ NỀN ĐỘC LẬP NGHĨ VỀ VĂN HÓA HÒA BÌNH

Thứ hai, ngày 02 tháng chín năm 2013

“Máu ấy đỏ chung trên lá cờ của chúng ta, phấp phới như một mảnh hồn chung”. Ảnh: Trần Việt Đức
Phỏng vấn GS. Cao Huy Thuần,
Lê Ngọc Sơn (thực hiện),
Nguồn: Sài gòn Tiếp thị Online,
đăng ngày 2/9/2013,
truy cập đường link gốc tại đây
SGTT.VN - Từ Pháp, giáo sư Cao Huy Thuần chia sẻ những hoài niệm của chính ông, một nhân chứng lịch sử của thời khắc tháng 8. 1945. Ông có những trăn trở chân thành của mình đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Thưa Giáo sư, cảm xúc của Giáo sư là thế nào khi nghĩ về ngày độc lập 2.9 của đất nước?
Tôi nghĩ đến bao nhiêu xương máu đã đổ ra để giành lại độc lập và bảo vệ độc lập. Bài quốc ca của chúng ta có câu: "Đường vinh quang xây xác quân thù". Đúng vậy. Nhưng đường vinh quang cũng xây xác bao nhiêu chiến sĩ, bao nhiêu thường dân, bao nhiêu máu của cả dân tộc, không phân biệt. Máu ấy đỏ chung trên lá cờ của chúng ta, phất phới như một mảnh hồn chung, nhắc nhở chúng ta đừng quên: độc lập ấy là máu của cả dân tộc từ Bắc chí Nam, vinh quang ấy là vinh quang của cả dân tộc từ Nam chí Bắc.
Ngày độc lập có gắn với kỷ niệm nào của Giáo sư không?
Tôi thuộc thế hệ những người được sống với nền độc lập 1945. Năm ấy, tôi 8 tuổi, kỷ niệm đầy ắp. Là nhi đồng Cứu quốc trong đội văn hóa của huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, tôi đi hát lưu diễn từ huyện này qua huyện khác, có khi cả tuần không về nhà, ghẻ lở khắp lưng vì không tắm rửa, vì ngủ sau sân khấu, vì ăn toàn mắm với cơm độn khoai.
Thay mặt thiếu nhi, tôi được vinh dự nhảy lên bục, hô hào toàn quốc kháng chiến, "thưa đồng bào, quân Pháp đã đổ bộ lên Tân Gia Ba", chẳng biết Tân Gia Ba là cái gì, ở đâu. Quảng Ngãi là đất màu mỡ của cách mạng, nhiều anh học trò của cha tôi xung phong vào Nam ngay từ khi mở mặt trận và chết ngay trong những trận đầu tiên, tuổi chưa tròn mười tám. Tôi đã chảy nước mắt với chiếc khăn tang quấn trên đầu chị vợ chưa cưới của một anh trong số đó. Chị đẹp làm tôi não nùng. Hình ảnh đầu tiên về chiến tranh trong ký ức của tôi là như vậy: chị đẹp, anh trẻ, và chiếc khăn tang.

Chiến tranh là bạo lực, hòa bình là pháp luật. Chiến tranh là sa trường, hòa bình là nghị trường. Chiến tranh là lạnh lùng của bộ máy, hòa bình là nồng ấm của hơi thở con người...

Lãng mạn chăng? Đúng vậy. Nhưng tôi đang nói đến bối cảnh đặc biệt của 1945 và không khí tiểu tư sản trí thức chung quanh tôi. Kháng chiến thuở đầu nhuốm đầy phong vị lãng mạn vừa trí thức vừa anh hùng. Xung phong vào Nam, các anh coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. "Một lần đi là không trở về", thiếu nhi chúng tôi cũng hát như các anh, tất cả đều là Kinh Kha qua sông Dịch. Từ giã người yêu, chẳng ai nồng cháy một cái hôn, chỉ lạnh lùng để khỏi vương vấn: "lạnh lùng vung gươm ra sa trường". Sự thực, tôi chẳng thấy ai đeo gươm, chỉ đôi khi thầm phục trái lựu đạn cài bên hông. Mà lựu đạn ấy cũng biết lãng mạn: có trái không nổ. Tôi nghe nói có nhiều anh chết khi xung phong chỉ vì lựu đạn không nổ. Nhưng sá gì! Các anh chết với nụ cười và bài hát trên môi: "Quyết chiến sa trường. Sống thác coi thường. Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai..."
Kháng chiến khởi đầu không thể hào hùng đến thế nếu thiếu đi cái chất lãng mạn anh hùng ấy trong dòng máu thanh niên trí thức, nếu thiếu đi những bài thơ trữ tình yêu người yêu nước trong balô của anh bộ đội. Ít nhất là trong vòng các anh thanh niên mà tôi biết lúc đó, có hai dòng máu lãng mạn chảy trong huyết quản: một dòng bắt nguồn từ tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn, một dòng bắt nguồn từ câu thơ trong Chinh phụ ngâm: "Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt / Xếp bút nghiên theo việc đao cung". Tại sao tôi dám nói thế? Tại vì, từ huyện này qua huyện khác, tôi đã nghêu ngao một câu hát ấy mà về sau tôi không còn nghe ai hát nữa ngoài anh Trần Văn Khê: "Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu/ Xếp bút nghiên coi thường công danh như phù vân/ Sơn hà nguy biến, tiến ta tiến!/ Hèn thay đời nhàn cự, hèn thay vui yêu đương/ Lúc quê hương cần người, dứt đường tơ vương, giã nhà lên yên..."
Không Chinh phụ ngâm thì là gì? Tất cả là thơ. Kháng chiến là thơ. Mà làm gì anh bộ đội có những bài thơ hay thế trong ba lô nếu không có Tự Lực Văn Đoàn khai hoa nở nhụy cho thơ mới? Tất cả thanh niên trí thức chung quanh tôi thời ấy đều mang Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu trong hơi thở. Tất cả đều là tình nhân của cô Loan, cô Thoa.
Tôi muốn nói thêm: cái chất lãng mạn anh hùng của thời 45 ấy truyền thừa cho đến các anh chị sinh viên miền Nam chúng tôi thời 63 và sau đó. Giọt máu - và bây giờ giọt nước mắt - mà các anh chị thấm vào trang sử thời ấy, các anh chị thử ngửi xem, có phải nó thơm mùi thơ, mùi văn, hương đồng gió nội rất lãng mạn? Nếu không phải thì tại sao các anh thích hát Trăng mờ bên suối ở những dịp nghiêm trang? Tất cả các anh thanh niên trí thức thời 45, tất cả, hoặc gần như thế, các anh chị sinh viên thời Huế-Sài Gòn năm xửa năm xưa, tất cả đều là thi sĩ dù có làm thơ hay không, bởi vì tất cả đều mang chất thơ của văn hóa Việt Nam trong máu. Đừng quên rằng cái lãng mạn của Tự Lực Văn Đoàn cũng là cái lãng mạn phản kháng. Phản kháng một tư tưởng cổ hủ xiềng xích tự do của con người. Chất thơ văn trong máu các anh chị buộc các anh chị phải phản kháng, từ 45 cũng như từ 63. Trước bạo lực, cường quyền, bất công, các anh chị không khuất phục. Như thế hệ trí thức 45 đã không khuất phục. Ngày 2.9 năm nay, tôi hướng về cái chí khí thanh niên đó.
Theo Giáo sư, vì sao một dân tộc từng ngẩng cao đầu trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giữ nước, nhưng lại là một dân tộc quẩn quanh với mệt nhoài ở những chặng hòa bình tìm kế bứt phá vươn lên?
Chiến tranh có quy luật của chiến tranh. Hòa bình có quy luật của hòa bình. Trở về lại với bài quốc ca, năm 1945 chúng tôi hát: "Thề phanh thây uống máu quân thù" mà chẳng thấy gì ghê rợn. Bây giờ chúng ta hát: "Đường vinh quang..." Thế là "văn hóa" của chiến tranh đã khác với văn hóa của hòa bình rồi! "Mỗi ngày anh du kích giết được 3 thằng Tây, vậy 10 ngày anh giết được bao nhiêu thằng?", ấy là bài toán đố lớp tiểu học hồi 1950.
Bây giờ không ai ra toán kiểu đó nữa. Tuy vậy, chiến tranh vẫn chưa ra khỏi cái đầu và thực tế chính trị. Như một quán tính, chiến tranh vẫn đè nặng trên tư duy. Ta và địch vẫn mãi đánh nhau trong đầu óc, với căm thù, thủ đoạn và bạo lực, ngăn cản mọi suy nghĩ về sự cần thiết tất nhiên của cạnh tranh chung sống trong hòa bình. Có cần phải nhắc lại rằng chiến tranh không có văn hóa? Không ai nói "văn hóa chiến tranh". Chỉ có văn hóa hòa bình.
Đừng áp dụng quy luật của thời chiến vào giai đoạn của thời bình. Một bên là nước mặn, một bên là nước ngọt. Chiến tranh là chỉ huy, hòa bình là nghe ý kiến. Chiến tranh là mệnh lệnh, hòa bình là biện luận. Chiến tranh là đại bác, hòa bình là cây bút. Chiến tranh là sắt thép, hòa bình là tơ lụa. Chiến tranh là thù địch, hòa bình là đối thủ. Chiến tranh là cưỡng bức, hòa bình là thuyết phục. Chiến tranh là lý lịch, hòa bình là vua Trần xí xóa. Chiến tranh là bạo lực, hòa bình là pháp luật. Chiến tranh là sa trường, hòa bình là nghị trường. Chiến tranh là lạnh lùng của bộ máy, hòa bình là nồng ấm của hơi thở con người. Chiến tranh là nhất cực, hòa bình là đối trọng. Chiến tranh là con ó quắp mũi tên nơi móng, hòa bình là con bồ câu lông trắng, chân son, và mắt ôi là bồ câu.
Hòa bình mà cứ dùng khí giới của chiến tranh để đối thoại thì "văn hóa" ấy không phải là động lực của phát triển. Đó là cản trở phát triển. Cản trở về mọi mặt, mọi lĩnh vực.
Thách thức lớn nhất đối với việc phát triển đất nước hiện nay là gì, thưa Giáo sư?
Là chưa có tư duy hòa bình như tôi vừa nói.
Theo Giáo sư, trong giai đoạn hiện nay, cách thức nào hạn chế những thách thức đó để đưa dân tộc đi lên?
Chỉ có một phương thức duy nhất thôi là dân chủ. Ở đâu cũng vậy và ở thời nào cũng vậy, quyền lực lâu ngày của một chế độ sẽ hao mòn tính sắc bén với thời gian, người Pháp nói rõ hơn: le pouvoir s'use, ta có thể dịch là quyền lực bị lão hóa. Ngày xưa, khi mới đánh đuổi ngoại xâm và lên ngôi, ông vua thường là minh quân. Một đời, hai đời, vài đời, tính sắc sảo ban sơ dùi mòn đi, cuối cùng là hôn quân hắc ám. Giới tinh hoa quan chức không có động lực gì thúc đẩy để thay đổi, chỉ ham địa vị, cũng từ từ rữa nát theo ông. Tất cả chế độ chỉ dựa trên ông vua và hầu cận tả hữu mà vua thì hôn quân, quan thì nịnh thần, tất loạn, không Hồ Quý Ly thì Mạc Đăng Dung phải soán ngôi để thiết lập trật tự mới. Chế độ quân chủ ngày xưa không tìm ra được một nguyên tắc để ngăn cản tính lão hóa tất yếu của quyền lực, để quyền lực chuyển mình thay đổi trong hòa bình. Ngày nay, chính thể dân chủ có nguyên tắc, có kinh nghiệm để mài giũa lại quyền lực cho sắc bén, hữu hiệu, để quyền lực tự củng cố, tự sửa đổi. Ông Khổng Tử ngày xưa bảo thủ như vậy mà cũng nói: Học cũng như chèo thuyền nước ngược, không tiến tất thoái. Cai trị cũng vậy.
Nhân ngày độc lập, tôi cũng xin nói thêm, hay nói cho đúng, cũng xin hát thêm - hát những bài hát mà chúng tôi đã hát hồi 1945. Bài Bao chiến sĩ anh hùng tận cùng như thế này: "Thề phục quốc, tiến lên Việt Nam!/ Lập quyền dân, tiến lên Việt Nam!/ Đài hạnh phúc đắp xây tự do!/ Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm".
Triệu người Việt Nam như một đều đang nói: chúng ta đang gặp ngoại xâm. Triệu người Việt Nam như một đều đang thề: thề phục quốc. Triệu người Việt Nam như một đều đang hô to: lập quyền dân. Triệu người Việt Nam như một đều đang ước mơ tự do, hạnh phúc. Chúng ta đang sống năm 2013 hay năm 1945? 
Triết lý phát triển nào cho Việt Nam phù hợp với bối cảnh hiện nay, thưa GS?
Tôi xin mượn một chuyện khoa học để trả lời câu hỏi của anh. Hồi thế kỷ 18, nhiều nhà hóa học, nhất là Stahl, nghĩ rằng nếu cái bàn, cái ghế, bất cứ cái gì cũng có thể cháy được thì như vậy hẳn phải có một tố chất gì đó chung cho tất cả những vật thể có thể cháy ấy. Tìm tòi mãi mà không chiết ra được cái tố chất chung ấy, họ gọi cái chất hãy còn vô hình đó là phlogistique. Như thế cho đến Lavoisier. Lavoisier đảo ngược cách suy nghĩ. Chắc gì cái tố chất chung ấy nằm ở trong bản thề cáí bàn, cái ghế, mọi vật có thể cháy? Biết đâu nó nằm ở bên ngoài? Đảo ngược cách suy nghĩ như vậy, Lavoisier khám phá ra cái mà bây giờ trẻ con cũng biết: cái ấy là ôxy. Có ôxy thì cháy. Ôxy ở bên ngoài.
May mắn cho Lavoisier là rốt cục các nhà hóa học không còn kết án ông là diễn biến... khoa học. Không làm một cuộc đổi mới tư duy thì xin anh đừng nói phát triển.
Giáo sư có tin rằng mỗi dân tộc có một số mệnh riêng?
Tôi là Phật tử nên không tin ở số mệnh. Đạo Phật dạy tôi: tất cả đều do hành động của ta. Hành động tốt thì kết quả tốt, hành động xấu thì kết quả xấu. Các câu hỏi của anh là hành động. Trả lời của tôi là hành động. Nó nhỏ như hạt mưa. Nhưng triệu triệu hạt mưa thì chấm dứt hạn hán.
Lê Ngọc Sơn (thực hiện)