Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công Việc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công Việc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

" Chính trị" nơi công sở.



Trước tiên ta phải hiểu “chính trị” nơi công sở là gì.
“Chính trị” nơi công sở là những chiến lược được dùng để tạo lợi thế cho bản thân hoặc cho một mục đích nào đó. Thuật ngữ này thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực là những chiến lược nhằm tìm kiếm những lợi ích bằng việc lợi dụng hoặc “chơi xấu” và vì thế tác động tiêu cực đến môi trường làm việc, các mối quan hệ trong công sở.
"Chính trị" nơi công sở có rất nhiều mặt tích cực, và nếu bạn biết sử dụng “chính trị” nơi công sở một cách tích cực thì bạn sẽ gặp thuận lợi hơn trong công việc và cũng dễ thành công hơn.
Bạn có muốn hay không thì “chính trị” nơi công sở vẫn tồn tại mỗi ngày, vậy thì hãy đón nhận và sử dụng “chính trị” nơi công sở một cách tích cực bạn sẽ có được những thành quả đáng kể…
Để tận dụng “chính trị” nơi công sở một cách tích cực, trước tiên bạn cần chấp nhận sự thật rằng đây là một phần không thể thiếu trong môi trường làm việc. Bạn cần vạch ra những chiến lược giúp giải quyết những biểu hiện “chính trị” diễn ra xung quanh.



1/ Hiểu các mối tương quan nơi công sở
  • Những người có tầm ảnh hưởng thật sự là ai?
  • Người nào thường được mọi người kính nể?
  • Người nào thường bênh vực hoặc hỗ trợ những người khác?
  • Những người nào thường chơi thân với nhau?
  • Trong công ty có “bè phái” nào không?
  • Ai thường bị người khác không ưa?
  • Tầm ảnh hưởng giữa các “nhóm” với nhau như thế nào?
2/ Xây dựng các mối quan hệ
Chúng ta thường có khuynh hướng kết thân với những người mình thích, những người “hợp gu” trong công sở, tuy nhiên điều này cũng dễ dẫn đến “kết bè”… Khi bạn đã hiểu rõ các mối tương quan nơi công sở hãy bắt đầu mở rộng mối quan hệ của mình. Đừng e sợ những người có quyền lực trong công ty, hãy tìm cách hiểu họ.

  • Với những người có quyền lực, bạn đừng quá e ngại hay sợ mà “né” họ, hãy bắt đầu tìm hiểu họ và tạo mối quan hệ tốt đẹp
  • Hãy tạo thái độ thân thiện, hòa đồng với tất cả mọi người, đừng chỉ gắn mình với một nhóm nào đó
  • Xây dựng mối quan hệ rộng hơn trong công ty và đây cũng là cách giúp bạn nắm rõ được các thông tin trong công ty
 3/Lắng nghe
Hãy lắng nghe nhiều hơn. Khi bạn càng dành nhiều thời gian để lắng nghe thì bạn càng hạn chế nói ra điều gì đó “lỡ miệng” có thể gây hại cho bạn. Và dĩ nhiên, ai cũng thích được người khác lắng nghe mình.

Biết “điều phối” các mối quan hệ
Việc hiểu rõ các mối tương quan nơi công sở sẽ giúp bạn biết xây dựng các mối quan hệ tích cực và mặt khác cũng giúp bạn xác định được những người có khuynh hướng lợi dụng người khác vì mục đích riêng. Chắc chắn bạn luôn muốn tránh xa những người này, tuy nhiên nếu bạn không chọn cách tránh né họ thì bạn có thể ứng phó tốt với “chính trị” nơi công sở cho dù “chính trị” mang tính tiêu cực, cũng giống như câu nói “Hãy giữ bạn bè ở gần bạn và giữ kẻ thù ở gần hơn nữa”. Như vậy với đối tượng này bạn hãy:

  • Hãy tìm cách hiểu họ và thể hiện sự lịch sự, chuyên nghiệp. Tuy nhiên, hãy cẩn thận với những thông tin bạn trao đổi với họ
  • Tìm hiểu những động lực thúc đẩy họ, mục tiêu của họ là gì và tìm cách tránh những tác động “chính trị” tiêu cực của họ
  • Hãy nhớ rằng những người này không quan tâm đến năng lực của họ và đó là lí do họ dựa vào “chính trị” để tiến thân
4/ Ứng xử phù hợp
Qua quan sát, bạn sẽ nhận ra cách làm việc nào phù hợp với văn hóa công ty bạn. Hãy quan sát mọi người xung quanh và xác định những hành vi nào bạn có thể học hỏi để thành công. Để ngăn chặn “chính trị” tiêu cực nơi công sở, bạn hãy nhớ một số điều sau khi quan sát:

  • Đừng lan truyền những câu chuyện “tám”, những tin đồn… Khi bạn nghe điều gì đó, hãy dành thời gian để đánh giá mức độ đáng tin của nó
  • Giải quyết khéo léo mâu thuẫn giữa các cá nhân, tránh “sa lầy” vào việc cãi vã
  • Giữ vững tính chính trực, luôn duy trì tác phong chuyên nghiệp và luôn hướng đến mục tiêu chung của công ty
  • Duy trì thái độ tích cực, tránh than vãn
  • Tự tin, khẳng khái (assertive) mà không nóng giận (aggressive)
  • Khi lên tiếng phản đối hay chỉ trích, hãy nhớ đứng trên quan điểm của tập thể chứ không phải quan điểm cá nhân
  • Đừng tin tưởng vào sự bảo mật, bởi lẽ “cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra” vì thế hãy quyết định những gì bạn nên tiết lộ cho phù hợp
  • Hãy làm gương cho nhóm của bạn về tính chính trực và loại bỏ “chính trị” tiêu cực trong nhóm
Dù là tích cực hay tiêu cực thì bạn cũng không thể phủ nhận rằng “chính trị” nơi công sở luôn tồn tại. Tận dụng khéo léo “chính trị” nơi công sở sẽ giúp bạn đạt được những gì mình muốn mà không phải thỏa hiệp với người khác. Hãy học cách sử dụng “sức mạnh” của nó một cách tích cực.

Sưu tầm

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Cách thể hiện sự tự tin qua ngôn ngữ cơ thể



10 bí quyết sau sẽ cho bạn thấy sự tự tin được được cắt nghĩa qua cách biểu lộ cơ thể như thế nào:
1. Tránh bỏ tay vào túi quần

Về mặt bản năng, chúng ta có khuynh hướng che dấu đôi tay của mình khi chúng ta thiếu tự tin. Đưa đôi bàn tay ra ngoài hàm ý là bạn đang rất tự tin và không có gì để che dấu cả. Một mẹo cho đôi tay nếu bạn cảm thấy hơi thừa thải: thử đặt chúng lên hông. Đây được cắt nghĩa là một cử chỉ biểu lộ sự tự tin.

2. Đừng tỏ vẻ bồn chồn lo lắng
Bạn không giữ yên được có nghĩa rằng bạn đang căng thẳng. Đôi tay của bạn trong trường hợp này sẽ tố cáo bạn đấy. Hãy giữ yên chúng. Dĩ nhiên, bạn có thể sử dụng bàn tay trong khi trò chuyện, nhưng các cử động nên bình tĩnh và kiểm soát tốt. Tương tự, khi ngồi, chớ rung đùi.

3. Nhìn thẳng

Nhìn thẳng là một trong những biểu hiện tích cực nhất chứng tỏ mức độ tự tin của bạn. Khi bạn rảo bộ một mình, bạn có khuynh hướng hơi cúi đầu và nhìn xuống đôi bàn chân. Tư thế đó truyền tải thông điệp đến những người xung quanh rằng bạn không muốh tham gia vào cuộc nói chuyện hay không muốn tương tác. Nếu không cẩn thận, có thể bạn sẽ rơi vào tư thế đó mọi lúc. Mẹo: Hãy giữ thẳng cằm và nhìn thẳng dù bạn đang bước bộ một mình.

4. Đứng thẳng, vai hơi ngửa về phía sau
Đứng thẳng cũng là một trong những biểu hiện tốt nhất truyền đạt sự tự tin của bạn. Mẹo: nghiêng vai về phía sau một chút khi đi đứng. Thử tập tư thế này khi đi đứng trước gương, bạn sẽ thấy sự thay đổi đáng kể.

5. Sải bước rộng
Hãy sải bước rộng. Đó là cách chứng tỏ bạn là người quả quyết và bình thản. Sự tự tin từ đó mà ra.

6. Bắt tay thật chặt
Nếu phải bắt tay một người đã quen, thậm chí bạn có thể bắt bằng cả 2 tay: bàn tay còn lại hãy nắm lấy khuỷu tay của người kia nhằm tỏ rõ them sự nhiệt thành. Một điều cần ghi nhớ: bắt tay không phải là một cuộc đọ sức. Tuyệt đối không xiết hay giữ tay người kia quá lâu.

7. Ăn mặc đúng cách
Ăn mặc đúng cách là một trong những thành tố cơ bản để biểu đạt sự tự tin thông qua ngôn ngữ cơ thể. Bạn muốn mái tóc, khuôn mặt, thậm chí mùi cơ thể sẽ thể hiện được chính bạn? Đừng ngại thử nghiệm với một số sản phẩm mới trước khi tìm ra loại phù hợp nhất cho mình.

8. Mỉm cười
Người tự tin mỉm cười vì họ nhận thấy chẳng có gì phải lo lắng. Hãy thử một thí nghiệm sau: Hãy thử mỉm cười với một người mà bạn bắt gặp khi đi trên phố hay khi rảo bước quanh văn phòng. Sẽ là những cơ hội thật tuyệt nếu họ mỉm cười đáp trả. Bạn có muốn tự mình đem hiệu ứng đó cho mọi người không?

9. Đừng khoanh tay khi đang giao tiếp với mọi người
Khoanh tay sẽ được hiểu là một tư thế tự vệ khi chúng ta cảm thấy lạnh, bồn chồn hay đang thủ thế. Tư thế đó trong giao tiếp mọi người sẽ hiểu là bạn đang không muốn thỏa hiệp với bât kỳ ai. Vì thế, hãy thả lỏng và đừng khoanh tay nhé!

10. Một cái vỗ vào lưng để bày tỏ sự cảm kích
Dường như đây là một nghệ thuật đang bị lãng quên. Đừng ngại làm điều này với bạn bè người quen khi họ cần sự đồng cảm. Bạn sẽ thấy sự nhiệm màu của nó.

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Gian lận thương mại dưới góc nhìn của tâm l‎‎ý‎ học



Trong năm nay, nước Mỹ xảy ra liên tiếp những vụ xét xử nhiều chủ tịch, giám đốc điều hành của các tập đoàn lớn trên thế giới với các tội danh tham nhũng, ăn cắp tiền công, cố tình lừa đảo nhà đầu tư và cơ quan chức năng để trục lợi cá nhân…Trong bài viết này, Brendan Hewson, biên tập viên trong lĩnh vực gian lận tài chính của tờ báo điện tử Gtnews đã xem xét các vụ việc trên dưới góc độ tâm lý và phân tích lý do dẫn đến những sự phạm tội này.

Đi liền với sự phát triển và lớn mạnh của một công ty hay tổ chức là những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định. Những chuẩn mực tưởng chừng như đơn giản này chính là nền tảng của mọi hoạt động kinh doanh thành công, trung thực và đáng được trân trọng. Điều này còn được thể hiện qua tư cách đạo đức của những người làm việc trong công ty, đặc biệt những người nắm giữ những vị trí quản lý hoặc có quyền lực cao. Điều gì sẽ xảy ra khi họ dính líu đến các hoạt động gian lận tài chính? Và nguyên nhân nào dẫn đến hành động này?

Một trong những người như thế là cựu giám đốc điều hành tập đoàn năng lượng Enron của Mỹ - Jefrey Skilling. Ông Skilling đã bị tuyên phạt 24 năm 4 tháng tù trong vụ lừa đảo dẫn đến sự sụp đổ của tập đoàn Enron. Theo các công tố viên tại phiên tòa xét xử ở Houston, Texas vào ngày 24/11/2006 vừa qua, ông và cựu chủ tịch tập đoàn này là Kenneth Lay bị kết tội lừa gạt ngân hàng và cố tình giấu nhẹm nợ nần của công ty. (Tuy nhiên việc buộc tội cựu chủ tịch Kenneth Lay đã bị hủy bỏ sau cái chết của ông ta vào tháng Bảy).

Hành vi lừa gạt này đã đẩy Enron, từng là tập đoàn lớn thứ bảy của Mỹ đến chỗ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2001 với khoản nợ lên đến hàng chục tỷ đô-la và khiến hàng ngàn nhân viên mất việc. Bản án dành cho ông Skilling đã làm cho các nhân viên của Enron bị mất tiền lương hưu hài lòng. Song Skilling vẫn tuyên bố là mình vô tội và sẽ kháng án.

Vậy điều gì đã khiến tập đoàn chỉ mới thành lập năm 1986 đã nhanh chóng trở thành một trong những công ty năng lượng lớn nhất thế giới? Đáng tiếc, đây cũng chính là phép màu đẩy Enron đến chỗ diệt vong. Đó là câu chuyện về công ty mẹ-con.

Một công ty có thể mở ra một hay nhiều công ty con “dưới bóng” của mình. Công ty con dựa vào uy tín của công ty mẹ để được vay vốn, để thắng thầu, để xây dựng thương hiệu. Công ty mẹ sử dụng công ty con để huy động vốn, để hứng chịu những hợp đồng đầy rủi ro, để giấu bớt sự nợ nần của mình để làm cho các báo cáo tài chính ‘đẹp đẽ” hơn… Ngay cả những hợp đồng mua đi bán lại giữa mẹ và con cũng tạo ra doanh thu và lợi nhuận để báo cáo.

Nếu mọi chuyện chỉ dừng lại ở mức độ 2-3 công ty con, thì chắc sẽ chẳng có gì xảy ra. Vấn đề là Enron đã tạo ra hơn 900 công ty con, chủ yếu nằm ở những nước còn dễ dãi nhất về luật kế toán. Xây dựng hệ thống nhằm che giấu lỗ lãi và rủi ro, trong khi đó lại phóng đại lợi nhuận và tài sản. Hệ thống này được thiết kế bởi các chuyên gia tài chính tài giỏi, được bảo đảm bởi một trong năm công ty kiểm toán lớn nhất thế giới - Arthur Andersen.

Cho đến khi câu chuyện vỡ lở, thì hóa ra lợi nhuận chẳng là bao và tài sản chẳng nhiều như báo cáo. Và câu chuyện đằng sau những hành vi lừa gạt và gian lận kiểu như thế này là gì?

Sự gian lận diễn ra hàng ngày trong kinh doanh

Chúng ta đang sống trên một thế giới toàn cầu hóa, và tất nhiên mọi người đều quan tâm đến những tội ác và sự tàn phá ảnh hưởng đến xã hội chung của chúng ta. Ai cũng mong đợi ở những nhà chính trị và các doanh nhân có thể đưa ra phương hướng và thực thi những biện pháp nhằm hạn chế gian lận trong kinh doanh dẫn đến sự mất ổn định xã hội.

Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta phát hiện ra rằng rất nhiều kẻ lừa đảo là những người đứng đầu các tập đoàn hay các nhà chính trị do chính chúng ta bầu ra. Sự lừa đảo và gian lận ngày nay được thừa nhận như là một phần trong hoạt động kinh doanh và đời sống chính trị. Hàng ngày, trên các báo chí đều thấy những tít nổi bật về những vụ việc như thế này.

Theo báo cáo gần đây của Control Risks Group, các công ty làm ăn chân chính đang bị mất dần lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh không trung thực ngày càng phát triển trên một diện rộng và ảnh hưởng đến mọi mặt của nền kinh tế. Đặc biệt những vụ tham nhũng hay xảy ra trong các ngành công nghiệp xây dựng, khai khoáng, khí đốt và dầu mỏ. Vì đó là nơi có các dự án giá trị lớn. Bản nghiên cứu này cũng cho thấy hối lộ đã trở thành một “vấn nạn lớn trên thế giới”.

Có nhiều yếu tố cấu thành nên sự gian lận, song có thể nói phần lớn nó xuất phát từ bản năng cơ bản của con người. Đó là lòng tham. Đối với nhiều người, để có quyền lực, sự thăng tiến, giàu sang hay một cuộc sống tốt đẹp hơn, họ phải trả bằng sự cố gắng và làm việc chăm chỉ. Song có một số người khác lại không đi theo cách này, khi nhu cầu không được đáp ứng và họ muốn phải được thỏa mãn ngay lập tức bằng bất cứ giá nào.

Ông Sam Currin, một cựu luật sư Mỹ, thẩm phán và chủ tịch đảng Cộng hòa Bắc Carolina, hiện nay đang đứng trước bản án bốn mươi ba năm tù sau khi thú nhận phạm tội chuyển tiền trái phép, gian lận thuế và gây cản trở việc thi hành pháp luật. Tờ báo Người quan sát Charlotte đã tường thuật lại vụ việc này như sau: ông Currin đã chiếm đoạt 1,45 triệu đô-la trong số tiền thu được từ hoạt động mà những người công tố viên gọi là “một kế hoạch gian lận cổ phần/chứng khoán lớn”. Ông ta cũng bị buộc tội cản trở quá trình điều tra của đoàn hội thẩm và bị vạch trần âm mưu chuyển tiền từ một công ty nước ngoài tới cục thuế Nội địa (Internal Revenue Service).

Một trong những khách hàng của ông Currin đã “tạo ra” hàng chục triệu đô-la bằng mánh khóe bán cổ phiếu qua hộp thư, fax công cộng và các phương tiện khác. Currin đã giúp chuyển tiền kiếm được bằng cách bất chính qua tài khoản tin cậy của hãng luật do ông ta đứng đầu và đút túi 240.000 đô-la. Sự việc bị phát hiện qua việc hoàn thuế thu nhập năm 2004. Sau đó, ông Currin còn có âm mưu giấu giếm những tài liệu và đưa ra những lời khai man trước tòa.

Bốn mươi ba năm tù là một khoảng thời gian dài trong đời bất cứ người nào, đặc biệt là một người đã từng là một công tố viên, một vị quan tòa và là một nhà chính trị cấp cao. Một cuộc đời bị giam giữ theo những quy định khắc nghiệt, không có tự do. Có phải lòng tham vô độ đã làm mù mắt và đưa con người ta đến phạm tội gian lận và lừa đảo hay không?

Suy nghĩ của kẻ gian lận thương mại

Chúng ta hiểu gì về diễn biến tâm lý bên trong những hành vi của Currin hay Skilling để nhằm mục đích ngăn chặn những hành vi này?

David Wolfe, người sáng lập ra tập đoàn Glasgow Forensic Group và Dana Hermanson, một nhà nghiên cứu thuộc trung tâm Corporate Governance, giảng viên trường đại học Tennessee đã xây dựng thuyết gọi là “Bốn yếu tố liên quan đến sự gian lận”. Ông cho rằng chính yếu tố thứ tư – năng lực của cá nhân đóng vai trò chính, làm xuất hiện hành động gian lận ở con người.

Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi số tiền gian lận lên tới hàng tỷ đô-la, nếu không phải là người có quyền lực hay năng lực thật sự thì khó lòng thực hiện được.

Chúng ta hãy xem xét bốn yếu tố dẫn đến hành động gian lận để có thể hiểu được diễn biến suy nghĩ của những người có hành vi này:

1. Đông cơ: tôi muốn, tôi phải có thứ này – dẫn đến gian lận.
2. Cơ hội: Có một điểm yếu nào đó ở trong hệ thống mà người có quyền lực có thể khai thác, từ đó sự gian lận có thể xảy ra.
3. Sự hợp lý hóa: tôi tin chắc rằng cái giá phải trả cho hành vi gian lận này chỉ là sự rủi ro.
4. Năng lực: tôi có những điều kiện cần thiết, khả năng và quyền lực để thực hiện điều này. Tôi nhận ra cơ hội để thực hiện hành vi gian lận này và biến nó thành hiện thực.

Bốn nhân tố này đan xen nhau, nhưng tác nhân đầu tiên và cơ bản cho hành vi gian lận là năng lực. Theo quan điểm này, việc xem xét hành động gian lận không chỉ dựa vào yếu tố cơ hội do tình thế và môi trường đem đến – cách xem xét theo truyền thống trước đây.

Bốn nhân tố này tập trung kích thích phản xạ của con người. Ví dụ, khởi đầu của quá trình kích thích có thể là ý nghĩ đến lợi nhuận hoặc phớt lờ những yếu tố phương hại đến sự kinh doanh chân chính. Hãy xem xét một kịch bản sau đây. Một luật sư đến gặp một chủ ngân hàng chuyên về kinh doanh cổ phiếu và đầu tư ở một đất nước rất xa nơi mình sống và yêu cầu mở một tài khoản khởi đầu cho một mối quan hệ.

Câu hỏi đặt ra tại sao anh ta lại chọn đúng ngân hàng này? Anh ta tuyên bố rằng cha mẹ anh ta trước đây đã từng sử dụng tài khoản ở đây. Câu trả lời cứ cho là chấp nhận được đi. Ba ngày sau đó khách hàng gọi điện đến ngân hàng và nói rằng anh ta vừa được trả một khoản tiền trong một vụ kiện tại một nước khác cách xa hàng nghìn dặm. Giá trị của lượng tiền này không quá lớn. Chính vì số tiền không quá lớn nên việc ai chuyển tiền vào tài khoản của vị luật sư không được để ý đến.

Trên thực tế, ngân hàng biết rất ít về vị khách hàng luật sư. Anh ta, sau tất cả các cuộc gặp gỡ mang tính chất cá nhân, là một người có nghề nghiệp (ít ra là trong các vi-dít của anh ta nói lên điều đó); gia đình anh ta có mối liên quan đến ngân hàng và được nhìn nhận như là một khách hàng lớn trong tương lai. Tại sao vậy? Vì số lượng tiền trong tài khoản tăng lên sẽ góp phần làm hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển, vậy mục tiêu chi phối tất cả các ma thuật này chính là lợi nhuận.

Bi kịch của câu chuyện nằm ở chỗ chủ ngân hàng đã không có ý định tìm hiểu bản chất của các khoản tiền mờ ám khi thiết lập một mối quan hệ mới và phớt lờ đi hoặc là không quan tâm đến các dấu hiệu nguy hiểm được báo trước.

Động lực là thu được càng nhiều lợi nhuận từ kinh doanh càng tốt, thậm chí kể cả việc có thể hoạt động kinh doanh không tồn tại. Khi những ý nghĩ về đồng tiền xâm chiếm trong đầu, thì những cảm giác thông thường bị ném ra ngoài cửa sổ.

Diễn biến tâm lý đằng sau hành vi gian lận

Các phản xạ có điều kiện thông thường được phát triển thông qua việc dạy đỗ, đào tạo. Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy sự sai lạc của các phản xạ có điều kiện này có thể xảy ra đối với bất kỳ ai. Vậy điều gì khiến chúng ta bị rơi vào sự sai lạc này?

Các chuyên gia tâm l‎ý cho rằng, trong mỗi chúng ta đều có một bộ phận cấu thành tâm lý. Đó là khả năng phân biệt để lựa chọn. Chúng ta có khả năng quyết định hành vi của bản thân mình thông qua việc phân biệt được trường hợp nào, dấu hiệu nào, triệu chứng nào là nguy hiểm. Lựa chọn để tránh những các dấu hiệu nguy hiểm mà chúng ta cảm nhận được. Lợi nhuận hay lợi ích mà chúng ta thu được một cách không chính đáng qua con đường gian lận là lựa chọn sai lạc, không phù hợp với phản xạ tự nhiên của con người, vì chúng ta đã lựa chọn sự nguy hiểm.

Quay trở lại với câu chuyện đã đưa ra, chúng ta thử xem lựa chọn sai lạc dẫn đến hành vi gian lận ở đây là gì? Ông chủ ngân hàng khi tiếp xúc với khách hàng tiềm năng, người có mục đích mờ ám được che đậy bằng các thuật ngữ hoặc những lời văn cầu kỳ mà ông trước đây chưa từng biết đến hoặc không hiểu được. Song ông ta vẫn tiếp tục thương thuyết vì sợ rằng mình bị chê là một người không có kinh nghiệm, hoặc tồi tệ hơn nữa là không thông thạo trong lĩnh vực ngân hàng.

Sự sai lạc trong hành vi hay sự lựa chọn của ông ta ở đây là gì? Các phản xạ hành vi thông thường đã bị lấn át bởi suy nghĩ sợ bị nhận ra là một người thiếu tự tin hoặc sợ bị phát hiện là ngớ ngẩn hay không có kinh nghiệm. Đây chính là một sự sai lạc của các phản xạ có điều kiện có thể xảy ra ở bất cứ cá nhân nào và khi đó những tiêu chuẩn hành vi thông thường không được xem xét đến.

Hành vi thông thường ở đây là gì? Thông thường các ông chủ ngân hàng để phòng ngừa bất trắc sẽ kiểm tra thông tin qua các đồng nghiệp để đảm bảo chắc chắn rằng quyết định của mình là đúng đắn. Và như vậy, rất có thể ông ta sẽ nhận được ở các đồng nghiệp lời khuyên không nên tiếp tục thương thuyết và theo đuổi mối quan hệ này.

Qua câu chuyện này, có thể rút ra một điều là hầu hết những hiện tượng khác thường xảy ra khi xuất hiện sự đe dọa bị mất mát lợi nhuận, hoặc sợ bị cấp trên phát hiện ra, dẫn đến sự thay đổi diễn ra bên trong ý nghĩ của ông chủ ngân hàng – “một sự chuyển hướng niềm tin” mà có thể so sánh với “hội chứng Stockholm”.

Thuật ngữ này xuất hiện sau khi vụ cướp nhà băng Kredibanker xảy ra tại Normalmstorg, Stockholm. Tại đó các tên cướp ngân hàng đã bắt giữ các nhân viên làm con tin từ ngày 23 -28/08/1973. Trong vụ cướp này, các nạn nhân đã rất gắn bó với những kẻ đã bắt giữ họ, thậm chí đã bào chữa cho những tên cướp ngân hàng khi họ được giải thoát và trả lại tự do sau 6 ngày bị giam giữ. Thuật ngữ này được đưa ra bởi một nhà tội phạm và tâm lý học - Nils Bejerot, người đã giúp đỡ lực lượng cảnh sát trong suốt quá trình diễn ra vụ cướp.

Hội chứng Stockholm là thuật ngữ mô tả một trạng thái tâm lý, trong đó người bị bắt cóc lâu ngày chuyển từ sợ hãi và căm ghét sang thông cảm và quý mến chính kẻ bắt cóc mình. Theo các nhà tâm lý, đó là cơ chế tự vệ tự giác hoặc tự phát của người bị bắt cóc – lựa theo và hòa nhập hẳn vào tâm l‎ý của kẻ bắt cóc - nhằm thích nghi với tình huống và tránh nguy hiểm.

Đem câu chuyện này so sánh với câu chuyện quản lý của ông chủ ngân hàng – người đã “chuyển hướng niềm tin” từ các đồng nghiệp của mình sang kẻ lừa đảo. Lòng tin đối với một kẻ lạ mặt, người sẽ tiến hành kinh doanh với mình trong một thời gian dài, hoàn toàn không dựa trên một cơ sở thực tế nào cả. Ông chủ ngân hàng tin người khách mập mờ kia có thể mang lại lợi ích cho mình được xem như là một phản xạ có điều kiện sai lạc mà tác nhân của nó là lòng tham và sự kiêu ngạo.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn và những hành vi lừa dối trong kinh doanh vẫn tiếp tục xảy ra, song việc nhìn ra bản chất và diễn biến tâm lý bên trong những suy nghĩ của kẻ gian lận cũng là một cách để chúng ta ngăn chặn và kìm chế sự phát triển của chúng.

Tuấn Anh
(Dịch từ The gtnews)
Theo Bwportal

Nhà quản lý nghĩ gì tới “khách hàng” của mình



"Khi được hỏi “khách hàng của bạn là ai?” không ít các nhân viên, cán bộ, lãnh đạo quản trị nhân sự đã bị lúng túng. Xác định được “Khách hàng” của công việc mình làm chính là “mẹo” nhỏ tạo sự thành công cho mỗi người, đặc biệt là trong công tác Quản trị nhân sự, một công việc vốn được coi là “làm dâu trăm họ”
Để giúp tổ chức mình khai thác được nguồn tài nguyên quý giá - nguồn nhân lực, vai trò của các nhà Quản trị nhân sự là hết sức quan trọng. Bởi lẽ, Quản trị nhân sự là quá trình thoả mãn nhu cầu của các tổ chức và người lao động; mọi hoạt động của quá trình quản lý ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tổ chức và người lao động đều thuộc phạm vi Quản trị nhân sự.

Thực tế công tác Quản trị nhân sự ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam cho thấy: Cán bộ quản lý trực tiếp không lĩnh trách nhiệm quản lý nhân sự; Cán bộ nhân sự chủ yếu thực hiện các công việc hành chính về nhân sự, và thực hiện chúng một cách bị động; Quá trình tham gia của người lao động vào công tác Quản lý nhân sự còn hạn chế; Hệ thống chính sách quản lý trong tổ chức không rõ ràng và không đầy đủ; Thiếu sự thống nhất của các chính sách với mục tiêu phát triển chung…

Lý do cơ bản cho những tồn tại trên được nhìn nhận ở một số yếu tố sau: Cách hiểu không thống nhất về Quản trị nhân sự; Thiếu sự ủng hộ của quản lý cấp cao bao gồm cả sự trợ giúp trực tiếp và tạo cơ chế hỗ trợ; Quan điểm, thái độ và trình độ về Quản trị nhân sự của các cán bộ quản lý trực tiếp; Năng lực của cán bộ nhân sự .

Để làm tốt và phát triển được công việc của mình, các Nhà quản trị nhân sự phải hiểu được vai trò, chức năng của công việc mình làm, biết được những tồn tại và những khó khăn khách quan của công việc này trong các tổ chức, doanh nghiệp hiện nay tại Việt Nam. Ngoài ra, họ cần phải biết rằng, Quản trị nhân sự không đơn thuần là một công việc có giáo trình bất biến bởi Quản trị nhân sự là một nghệ thuật hơn là một khoa học. Ngay cả việc tưởng như là đơn giản: xác định “khách hàng” của công tác Quản trị nhân sự cũng sẽ là một trong những nghệ thuật để áp dụng thành công cho công việc của mỗi người làm Nghề quản trị.


Câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý cũng rất đơn giản:

- Bạn làm để phục vụ ai hay phục vụ cái gì? Liệu có phải bạn làm để phục vụ cho việc tạo ra các sản phẩn tốt nhất, rẻ nhất đến tay khách hàng, liệu có phải bạn làm để phục vụ sự hài lòng của khách hàng cũng như các sếp bên trên bạn và liệu có phải bạn đã làm để chính bạn được hài lòng và đáp ứng nhu cầu của chính bản thân bạn?

- Bạn làm nhằm phục vụ mục đích gì? Trong câu hỏi này luôn tồn tại nhiều mục đích, bạn phải đạt được trước hết là phục vụ mục đích của doanh nghiệp mà bạn đang làm, tiếp theo mới đến mục đích của riêng bạn. Mục đích của doanh nghiệp đặt ra ngay trong bản hợp đồng của bạn với doanh nghiệp đó, còn mục đích của bạn thì vô cùng nhưng có thể liệt kê một số như tạo uy tín cho bạn nhiều hơn, phục vụ lợi ích riêng, tạo mức thu nhập mà bạn mong muốn. . .

- Sự hài lòng về công việc của bạn? Sự hài lòng ở đây không phải là bạn hài lòng với chính mình, xin hãy gác nó sang một bên. Trước hết bạn phải làm hài lòng về sản phẩm bạn đang làm có được khách hàng đón nhận không, có nồng nhiệt không. . . Nhân viên dưới bạn có hài lòng về bạn không. Sếp trên bạn có hài lòng về bạn không và bạn mang lại những lợi ích gì từ những hành động của bạn đem lại cho nhân viên dưới bạn và các sếp trên bạn. Nếu sự hài lòng tử 3 yếu tố (khách hàng, nhân viên, sếp) càng cao chứng tỏ bạn càng có khả năng làm quản trị tốt. Và cuối cùng mới nói đến sự hài lòng của bản thân bạn đến các yếu tố khác (sản phẩm, khách hàng, nhân viên, sếp. . .)


Theo: Vanthuc.com

Sơ lược về tâm lý học marketing và hiệu ứng lan tỏa


Marketing và tâm lý học có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu xem tâm lý học là “nghiên cứu mang tính hệ thống về hành vi con người” thì marketing có thể được gọi là “nghiên cứu mang tính hệ thống về hành vi con người trên thị trường”.
Trước tiên, hãy xem một vài con số về iPod. Sau một chiến dịch marketing rầm rộ chỉ tập trung vào một sản phẩm duy nhất – iPod doanh số trong năm tài khóa 2005 của Apple tăng đến 68%, lợi nhuận trên 384% và cổ phiếu tăng vọt đến 177%.

Hiệu ứng lan tỏa (halo effect)

Bạn có thấy rằng những người có vẻ ngoài chỉnh chu, đẹp đẽ thường được xem là thông minh hơn, thành công và nổi tiếng hơn? Đây chính là hiệu ứng lan tỏa trong tâm lý học, nói một cách nôm na là hiệu ứng từ một ấn tượng tốt.

Hiệu ứng lan tỏa cũng hữu hiệu khi ứng dụng vào marketing. Bí mật đằng sau thành công phi thường của Apple Computer? Tóm gọn trong 1 từ, đó là iPod.

Năm tài khóa 2005, doanh thu của Apple Computer tăng 68% so với năm trước. Lợi nhuận cũng tăng 384%, và cổ phiếu trên 177%. Tỉ suất lợi nhuận ròng nhảy từ 3.3% lên 9.6%, một thành tích đáng nể.

Thành công rực rỡ của Apple Computer không chỉ đến từ iPod. Thực tế, trong năm tài khóa 2005, cả iPod và iTunes cộng lại chỉ chiếm khoảng 39% doanh số của Apple. 61% đến từ tất cả những sản phẩm còn lại (máy tính, phần mềm và dịch vụ). Máy tính Apple và các dịch vụ liên quan khác đều tăng 27% trong năm tài khóa 2005 so với năm trước. Theo các báo cáo trong ngành, Apple đã gia tăng thị phần máy tính cá nhân từ 3% lên 4%. Đây chính là hiệu ứng lan tỏa trong marketing.

73.9% thị phần
Trong năm này, Apple liên tục “dội bom” công chúng với quảng cáo TV, báo và billboards chào hàng máy nghe nhạc iPod. Và kết quả rất đáng khâm phục. Apple chiếm 73.9% thị phần nhạc số. Thương hiệu iPod mạnh đến nỗi hầu như không ai nhớ ra thương hiệu thứ 2 sau iPod là gì. (Xin thưa chính là iRiver với 4.8% thị phần nhỏ nhoi.) Thế những hoạt động marketing hỗ trợ cho dòng sản phẩm máy tính cá nhân của Apple là gì? Không đáng kể vì hầu như chẳng nhớ được có quảng cáo nào cho Macintosh trong năm ấy hay không. Đây chính là mấu chốt. Apple đã dồn mọi ngân sách marketing cho iPod, tạo ra hiệu ứng lan tỏa bao phủ cho mọi dòng sản phẩm khác. Motorola cũng làm điều tương tự khi chỉ tập trung ca tụng dòng điện thoại Razr. Chỉ trong quý 3/2005, hãng này đã chuyển đi 38.7 triệu điện thoại. Doanh thu của quý tăng 26%. Nhưng trong số đó, chỉ có 6.5 triệu máy tương đương 17% – thuộc dòng Razr. Rõ ràng ấn tượng Razr đã lan rộng sang dòng sản phẩm còn lại.

O bế sản phẩm tốt nhất
Tập trung mọi thông điệp marketing vào một từ hoặc một ý tưởng duy nhất từ lâu đã là tôn chỉ sáng suốt trong tiếp thị. Nhưng đưa ý tưởng đi xa hơn 1 bước có thể mang lại hiệu quả đáng kể. Để phá vỡ rào cản trong xã hội quá tải bởi truyền thông ngày nay, nên đặt ngân sách tiếp thị vào sản phẩm tốt nhất bạn có.Rồi sau đó để hiệu ứng từ đây lan tỏa sang cả dòng sản phẩm còn lại. Đây không phải là một ý tưởng dễ thuyết phục với ban giám đốc. “Tại sao lại dồn hết tiền vào một sản phẩm chỉ chiếm 39% doanh số?” (Phản ứng này hẳn còn gay gắt hơn trên thực tế, bởi vì ngân sách tiếp thị của năm 2005 của Apple phải được hoạch định từ năm 2004, khi doanh số của iPod và iTunes cộng lại chỉ chiếm khoảng 19%.)

Một ví dụ rõ ràng hơn về hiệu ứng lan tỏa là Sirius Satellite Radio và Howard Stern. Sirius có tổng cộng 120 kênh phát thanh, nhưng họ chỉ tập trung quảng bá cho “cây hề” Stern. Kết quả thu được hết sức ấn tượng. Ngày Sirius công bố ký hợp đồng với Stern năm 2004, đài này chỉ có 660,000 thính giả đăng ký nghe. Đến năm 2006, con số này là 3.3 triệu người.

Tất nhiên, Stern không phải là “gu” của tất cả mọi bạn nghe đài. Có thể hơn một nửa người đăng ký Sirius không buồn nghe kênh của Stern. Nhưng việc tập trung quảng bá cho Stern đã mang về khối lượng PR khổng lồ và tạo hiệu ứng lan tỏa trong toàn bộ hệ thống phát thanh vệ tinh. (Tương tự như tác động của series phim truyền hình The Sopranos lên đài HBO.)

Hiệu ứng lan tỏa trong lịch sử marketing
Hiệu ứng lan tỏa có lịch sử lâu dài trong marketing. Từ năm 1930, khi Michael Kullen tạo ra chuỗi siêu thị đầu tiên mang tên King Kullen. Ý tưởng đột phá của ông chính là ở phương pháp định giá. Ông quyết định bán 300 mặt hàng ở mức giá gốc. 300 mặt hàng khác chỉ nhỉnh hơn giá gốc một tí, và 600 mặt hàng còn lại với mức lời kha khá.

Kullen quyết định quảng cáo cho nhóm hàng thứ nhất nhóm bán ở mức giá gốc. Những gì bạn quảng cáo và những gì mang lại lợi nhuận thật sự có thể là 2 thứ hoàn toàn khác biệt. Hầu như mọi nguyên tắc tâm lý học đều có một ứng dụng trong marketing, ví như nguyên lý “khắc ghi dấu ấn” chẳng hạn. Thương hiệu đầu tiên trong mọi ngành sản phẩm/dịch vụ sẽ khắc ghi một ấn tượng sâu đậm trong tâm trí người tiêu dùng như thương hiệu gốc, nguyên thủy, đích thực. Như Kleenex với khăn giấy, Hertz với xe hơi cho thuê, và Heinz với ketchup. Việc học hỏi marketing, vì thế, nên bắt đầu từ học hiểu tâm lý.

(Sem Vietnam – Theo DNA Branding)

Những điều kiện để thành công


NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ THÀNH CÔNG


Như chúng ta đã rõ, trí tuệ có ba thành phần: trí nhớ, trí tưởng tượng và óc phán đoán. Ai cũng biết muốn thành công trên đời này cần phải đủ óc thông minh, tức là phải có đủ ba yếu tố cấu thành nên trí tuệ. Nhưng thực ra chỉ có óc phán đoán là cần thiết.

Đôi khi cũng nên đề phòng cái trí tuệ:

Lắm khi chúng ta cũng nên đề phòng cái trí tuệ ấy. Có những người rất thông minh, tức là có đủ ba bẩm chất nói trên ở mức độ khá cao, văn hóa cũng không thiếu nhưng lại thất bại liên miên. Chúng ta có thể hiểu vì đâu:

Người thông minh, văn hóa cao có thể hiểu mọi vấn đề một cách nhanh chóng. Họ có thể ước lượng ngay phương diện tốt và xấu của sự vật, có thể chỉ định bao nhiêu yêu tố mà người thông phàm không thể nhận định. Tuy nhiên họ khó lòng mà nhận định những phản ứng của hạng người thuộc bậc trung bởi họ lầm nghĩ rằng những người ấy cũng thông minh như họ. Cũng như lão hà tiện không bao giờ “biết” rằng mình keo kiệt, hoặc người hoạt động không thể “nhận” rằng người ta có thể ở không, một người thông minh có thể nhận rằng có lắm người đần độn. Đối vợi họ việc gì cũng dễ dàng, do đó họ lại tưởng rằng đối với người khác nó cũng phải dễ dàng như thế. Mà phần nhiều những công cuộc tranh thương lại đặt nền móng trên sự phản ứng của quần chúng mà trình độ trung bình rất thấp. (Một anh bạn tôi, vốn là họa sĩ vẽ quảng cáo, kể lại rằng trước khi ông cho đăng báo một tranh quảng cáo hoặc cho in một bích chương do anh sáng tạo ra, luôn luôn anh hỏi ý kiến của mụ gác cửa nhà, để xem mụ ta có hiểu qua ý nghĩa của những quảng cáo ấy chăng).

Người thông minh rất có thể phạm những lỗi lầm, hoặc giả họ chủ trương một cuộc làm ăn mà họ đinh ninh rằng đa số quần chúng sẽ biết tán thưởng, hoặc giả họ gác bỏ những công cuộc kinh doanh mà họ nghĩ rằng quần chúng sẽ không quan tâm đến.

Người quá thông minh cũng đâm ra ngở vực. Người hiểu quá nhiều sẽ không tin tưởng điều gì cả mà đức tin lại rất cần thiết cho người hoạt động. Nếu họ không tin tưởng những gì ở những gì họ chủ trương thì làm sao họ có thể làm cho người khác tin tưởng?

Chính đó là bí quyết sự thành công của nhiều nhân vật. Họ biết tạo ra chung quanh họ một thuần thuyết. Lòng tin mà họ truyền ra, tạo nên một không khí tín ngưỡng mà dù họ đã bị sụp đổ rồi vẫn còn lắm tín đồ sùng bái.

Một óc phán đoán tốt:

Chính óc phán đoán mới là điều kiện cần thiết để thành công. Trước một bài toán nêu ra người biết phán đoán tự nhiên sẽ cho giải pháp hay nhất.

Óc phán đoán là cơ sở của “tinh thần ước lượng sự vật” với tinh thần này người ta có thể chỉ dùng trí mà ước lượng với bao nhiêu đơn vị trong một đại lượng có thể đo lường. Đó là sự tinh mắt.

Thí dụ khi viếng sơ qua một xưởng may, người tinh mắt rất có thể độ biết, lẽ dĩ nhiên chỉ phỏng độ: xưởng may ấy chiếm bao nhiêu thước đất, dùng bao nhiêu nhiên liệu, có bao nhiêu máy móc và số thương vụ hàng năm là bao nhiêu.

Sự tinh mắt ấy giúp cho viên thư ký tòa soạn ngồi trước đống bài vở có thể ước lượng, biết phải đưa bao nhiêu bài vở cho thợ xếp chữ mới đủ một khuôn báo, giúp cho nhà buôn chỉ nhìn vào số khách ra vào có thể biết độ món tiền thâu trong ngày, giúp cho viên đốc công biết liệu phải dùng bao nhiêu kíp thợ là đủ dùng để hoàn thành một công việc trong một thời hạn nhất định v.v…

Cái tinh mắt ấy không ăn chịu với sự hiểu biết về toán học, bởi nó do một bẩm chất thiên nhiên của chúng ta: óc phán đoán. Lắm viên kỹ sư không đặng cái tinh mắt ấy, họ không thể làm một bài toán nhỏ nào mà không rút cây thước dùng để tính ở trong túi ra.

Trái lại, phép tính nhẩm mà mọi người đều cần biết, có thích giúp ích chúng ta nhiều.

Óc phán đoán vốn là một đức tính thiên nhiên do đó chúng ta mới có thể giải thích vì sao có nhiều người kém nhưng lại thành công rực rỡ trên đời: óc phán đoán của họ tốt.

Điều nữa, óc phán đoán giúp chúng ta biết áp dụng những quy tắc của tâm lý học. Một người biết phán đoán tiến bộ rất nhanh trong việc tìm hiểu người đồng loại và chính mình.

Có thể nào chúng ta cải thiện óc phán đoán chăng? Về cái giá trị của nó lẽ dĩ nhiên là không thể thay đổi, tuy nhiên sự học vấn, những trí thức nói chung và văn hóa có thể giúp chúng ta biết cách sử dụng óc phán đoán một cách đúng đắn và ích lợi. Người có học tự nhiên sẽ biết nhận định ngay họ phán đoán sai hay đúng và sai nhiều hay ít. Nếu họ nhận thấy đã phán đoán sai, sau đó họ sẽ biết tìm cách sửa lại, hoặc để kiểm điểm lại những nhận xét của họ.

Vì thế một người hoạt động cần bồi bổ sở học phổ thông của mình, nên tò mò tìm hiểu mọi điều, dù là những điều không dính dáng đến nghề nghiệp của mình. Sự học hỏi không có bờ bến. Càng đi sâu vào việc học họ càng thêm đặng đà tiến.

Phải có ít nhiều trí tưởng tượng:

Muốn hoạt động phải có ít nhiều trí tưởng tượng. Làm việc, không những là hành động mà còn phải biết tiên liệu. Trước khi bắt tay vào việc chúng ta phải biết rõ những gì mình phải làm và xếp đặt trước một chương trình hành động, bằng không những cố gắng chúng ta sẽ bị tản mác và do đó năng suất cũng sẽ kém đi.

Nếu công cuộc hoạt động của chúng ta không thuộc phạm vi sáng tác, thì trí tưởng tượng quá dồi dào sẽ làm hại hơn là giúp ích chúng ta, bởi nó sẽ đưa đến những ảo vọng, điều tối kỵ trong doanh nghiệp.

Người có óc tưởng tượng quá dồi dào có thể nhờ óc phán đoán để kềm hãm “mụ điên trong nhà” ấy. Cũng có thể nhờ giáo dục, học vấn, để cải biến trí tưởng tượng quá kém hoặc để hãm bớt một trí tưởng tượng quá sung mãn.

Trí nhớ:

Trí nhớ dai là một khí cụ hữu ích nhưng không cần thiết.

Nếu trí nhớ kém chúng ta có thể bồi bổ nó một cách gián tiếp bằng cách dùng những kỹ thuật luyện trí nhớ hoặc giả dùng một cuốn sổ tay ghi chú những gì cần nhớ.

Có cách hay để sử dụng một trí nhớ kém là gạt bỏ ra khỏi trí óc những gì không hữu ích cho đời sống hằng ngày và chỉ tập nhỡ kỹ những điều cần biết.

Nếu chúng ta không có trí nhớ về những con số thì cần gì phải mệt trí để nhớ số điện thoại của những người quen biết? Khi cần dùng, chỉ lật quyển niên giám hay quyển sổ tay ra cũng đủ.

Cảm xúc tính:

Trong trường đời cũng như trong doanh nghiệp, người kém cảm xúc tính có lợi hơn người đa cảm. Người có tính điềm nhiên ít bị khổ hơn và cũng tự chủ hơn dù gặp bất cứ hoàn cảnh nào. Tập đặng đức tự chủ mà người Anh gọi lầ “self control” là đã nắm đặng một ưu thế. Đành rằng người có nhiều cảm xúc thì đời sống bên trong của họ cũng đặng phong phú hơn, nồng nhiệt hơn. Nếu họ dễ bị đau khổ thì họ cũng để thưởng thức những thú vui mà người có tính điềm nhiên không thể hưởng.

Nhưng, ở đây chúng ta đứng về mặt thực tiễn mà xét, chúng ta có thể khuyên những người đa cảm xúc nên kiềm hãm bớt những bồng bột của con tim. Vả lại, tập tự chủ không có nghĩa là hủy diệt mọi cảm xúc mà chỉ là ngăn ngừa đừng để bộc lộ quá rõ rệt. Nhưng đó là công việc của giáo dục, của văn hóa.

Nên nói thêm: điềm nhiên thái quá cũng là một tật xấu. người không biết cảm xúc gì cả tự nhiên sẽ có một thái độ trung lập trong những hoàn cảnh đòi hỏi sự hành động, thành thử họ đâm ra bất lực.

Cần nhiều hoạt động tính:

Lẽ di nhiên, thuốc thành công không thể thiếu hoạt động tính. Ở những chương trước chúng tôi đã nói rõ về những thứ tính tình có chịu ảnh hưởng của hoạt động tính nhất là về một thứ tính tình rất đặc biệt: tính bất định.

Xét về phương diện hoạt động tính chúng ta có thể xếp thành mấy hạng người sau đây: hạng bạc nhược, người lừ đừ, người kích thích, người ẩu tả, người hoạt động. Lại có những người tính bất định, khi thì họ hăng hái vui vẻ làm việc rất hăng, lúc thì dã dượi, rầu rầu, nằm co để rồi sau đó lại hoạt động mạnh.

Tính bất định vốn là một bẩm chất tùy thuộc cá tính thiên nhiên nên khó mà cải biến. Tuy nhiên nếu tính bất định ấy chỉ ở mức độ vừa phải nó không phương hại gì đến năng suất của một người. Có khác chăng là ở tiết điệu làm việc của họ. Trong giai đoạn kích thích người có tính bất định sẽ làm việc gấp đôi để bù trừ lại những lúc họ ngồi khoanh tay rế.

Không ai lại khiển trách một người có tính bất định vì như thế chẳng khác nào quở trách một người mù mắt hay một anh què chân. Bộ thần kinh của người có tính bất định đã bi lệch lạc, hay dao động, thăng trầm dù có quở trách họ đến đâu cũng không sửa đổi đặng phần nào. Tuy thế người ta vẫn có thể giảm bớt những hậu quả của bẩm chất thiên nhiên ấy.

Trước hết phải “săn sóc những dây thần kinh” như người ta thường nói. Song về điều này nói thì dễ mà làm thì rất khó. Cho đến ngày nay y học chưa tìm ra một phương pháp chắc chắn nào có thể điều hòa bộ thần kinh bị lệch lạc.

Khi tính bất định còn ở trạng thái nhẹ, gặp hồi thần kinh suy, tinh thần con bệnh đang xuống dốc, người ta có thể tạm chữa bằng cách cho họ thay đổi cảnh sống hoặc cho họ giải trí, đôi khi chỉ cần một vài người bạn vui tính gây ra một không khí vui vẻ là họ có thể chống lại cơn khủng hoảng ấy dễ dàng.

Song ở trạng thái trầm trọng thật khó lòng mà giúp người đỡ bệnh. Vả lại chính họ cũng không mấy rõ về trạng thái của họ. Lúc họ bị những tư tưởng đen tối ám ảnh họ ngờ rằng sẽ bị nó xâm chiếm mãi mãi không bao giờ “trời có thể sáng trở lại” mặc dù họ vẫn còn nhớ mang máng rằng vừa rồi mới trải qua một giai đoạn vui tươi.

Trong lúc này những người xung quanh họ phải hành động một cách kín đáo, nhất là đừng bao giờ lý luận hoặc quở trách họ. Như thế chỉ làm cho họ thêm bi quan. Tốt hơn là để họ ở yên và làm ngơ như không biết về tình trạng của họ.

Cơn suy nhược của người tính bất định không sớm thì muộn rồi cũng sẽ chấm dứt, song chúng ta có thể giúp cơn khủng hoảng ấy chóng qua bằng cách thay đổi nhịp sống của con bệnh, bằng cách đưa họ đi du lịch, để họ giải trí, chơi thể thao, nói tóm lại dùng những phương tiện nào có thể giải thoát họ khỏi cái không khí, cái hoàn cảnh đã làm cho họ ưu tư. Và ở đây cũng nên dè dặt, đừng bao giờ cho họ biết rõ ý định chúng ta bắt họ thay đổi lối sống như thế cốt giúp họ diệt trừ “những ý tưởng đen tối đang ám ảnh họ”, bởi như thế họ sẽ chống đối ngay.

Y học cũng có thể giúp họ phần nào với những thứ thuốc chỉ thống. Giấc ngủ, dù là giấc ngủ giả tạo vẫn còn là một thứ thuốc hay. Nhưng cũng đừng quá tin tưởng ở thuốc men và sự công hiệu chỉ là tạm bợ, nhất thời.

Óc hợp đoàn và lòng nhân:

Óc hợp đoàn và lòng nhân chỉ cần thiết trong một phần nhỏ. Người muốn thành công phải biết tự tạo những dịp may hiển nhiên mà chúng tôi đã nói ở một phần trước. Những dịp may ấy mà do những bẩm chất phức tạp mà ra: tính hòa nhã là do sự pha trộn của óc hợp đoàn và lòng nhân; tính hay giúp đỡ là do sự phối hợp của óc hợp đoàn và hoạt động tính.

Người thiếu óc hợp đoàn khó mà thành công. Không một ai có thể làm việc một cách đơn thương độc mã mà dựng nên nghiệp lớn. Tất cả những công cuộc làm ăn đều đòi hỏi sự hợp tác của nhiều người. Có thể nào chúng ta làm nên khi chúng ta thù ghét người đồng loại? Ít ra chúng ta phải biết chịu đựng họ.

Một lòng “tham muốn” vừa phải:

Tham muốn là một động lực cần thiết cho những ai muốn thành công trên đời. Vả lại thành công là gì? Phải chăng là đặt ra một mục đích và cố gắng đạt lấy mục đích ấy. Người thiếu bẩm chất tham muốn làm gì có mục đích?

Phải biết dùng cá tính tập thành, sự giáo dục để khích động bẩm chất tham muốn nếu nó quá kém cỏi, hoặc hãm bớt nó lại nếu nó quá sung mãn, để nó phát triển vừa đủ hầu nuôi nấng một ảo vọng chính đáng.

Tính kiên nhẫn và tính lạc quan:

Kiên nhẫn là sức chú ý đặng kéo dài ra một cách bền bỉ. Chúng ta cũng đã biết sức chú ý chỉ là một áp dụng của óc phán đoán. Đây là một đức tính rất hữu ích gần như cần thiết.

Người hoạt động có quyền và có bổn phận suy nghĩ thật lâu, thật kỹ một khi đã quyết định thì phải ra tay hành động ngay và nhất là hành động một cách bền bỉ.

Nhà hiền triết Hy Lạp Bias nói: “Lúc mưu toan thì phải trầm tĩnh mà khi hành động thì phải nhiệt tâm và kiên chí”.

Tính lạc quan là do ảnh hưởng của hoạt động tính và của toàn thân cảm giác. Nó là một yếu tố của đức kiên nhẫn giúp chúng ta san bằng mọi trở ngại.

Lạc quan không phải là nhìn thấy ở đời cái gì cũng tốt đẹp cũng dễ dàng. Lạc quan là nhận định rõ những nỗi khó khăn có thể xảy ra trên đường đời song tin chắc rằng chúng ta sẽ lướt thắng.

Nhưng dù lạc quan đến đâu cũng phải có một giới hạn: khi sự thất bại đã quá hiển nhiên. Cũng như trong lúc hành động chúng ta phải biết quyết định thật nhanh thì khi phải đương đầu với những trở ngại chúng ta biết chắc không thể lướt qua, chúng ta cũng biết ngừng lại ngay, đừng cố lì một cách vô ích.

Lắm lúc, thật là một khổ tâm khi phải quyết định cách tiêu cực như nói trên. Gặp trường hợp này chúng ta phải nhờ óc phán đoán, xét lại mọi khía cạnh của tình trạng hiện hữu, cân nhắc tất cả chỗ lợi hại, đo lường những nguy cơ, những thua lỗ cũng như một ít dịp may còn sót lại, sau khi cân nhắc kỹ chúng ta phải quyết định chọn lấy giải pháp nào ít hại nhất. Kinh doanh cũng như kiện tụng, khi còn trong vòng tranh chấp nếu thấy rõ mình bất lợi thì tốt hơn nên điều đình. Sự cố lỳ là tật xấu nguy hại nhất cho nhà doanh nghiệp.

Vả lại trên đời này có mấy ai là người chỉ thành công mà không thất bại? Khi trù liệu một công cuộc làm ăn chúng ta phải tiên liệu cái ngày ảm đạm ấy. Vị đại tướng tài danh nhất lắm khi cũng nếm mùi thất bại. Bại trạng cũng chưa sao, điều nên tránh là một cuộc đại bại toàn diện như Napoléon ở trận Waterloo.

Nguồn: Sách Biết Người - Philippe Girardet
Dịch giả: Phạm Cao Tùng

Triết lý quản lý Kaizen!!!



Kaizen được ghép từ hai từ tiếng Nhật: Kai - "Thay đổi” và Zen - "Tốt hơn", nghĩa là "Thay đổi để tốt hơn" hoặc "Cải tiến liên tục". Xuất phát tù suy nghĩ rằng "trục trặc" có thể nảy sinh liên tục ở bất kỳ thời điểm nào, bộ phận nào của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, người Nhật đề ra triết lý quản lý Kaizen với nội dung 5S (năm nguyên tắc bắt đầu bằng chữ S trong tiếng Nhật) để khắc phục các "trục trặc" này:Seiri - Sàng lọc (Sort - tiếng Anh): Nhằm loại bỏ tất cả mọi thứ không cần thiết, không có giá trị ra khỏi công việc, nhà xưởng, tổ chức...
Seiton - Sắp xếp (Simply - tiếng Anh): Phần loại, hệ thống hoá để bất cứ thứ gì cũng có thể "dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm tra, dễ trả lại".

Seiso - Sạch sẽ (Shine - tiếng Anh): Thực chất là lau chùi, quét dọn, vệ sinh, kiểm tra xem mọi thứ có được sắp xếp đúng nơi quy định.

(Ba nguyên tắc nêu trên thực chất chỉ là việc sàng lọc, sắp xếp phân loại khoa học hệ thống nhà xưởng, máy móc, công cụ sản xuất và tổng vệ sinh doanh nghiệp).

Hai nguyên tắc tiếp theo:

Seiketsu - Săn sóc (Standardize - tiếng Anh): Nhằm "Tiêu chuẩn hoá", "quy trình hoá" những gì đã đạt dược với ba nguyên tắc nêu trên đề mọi thành viên của doanh nghiệp tuân theo một cách bài bản, hệ thống.

Shitsuke - Sẵn sàng (Sustain - tiếng Anh): Giáo dục, duy trì và cải tiến bốn nguyên tắc nêu trên trong bất kỳ mọi hoàn cảnh nào và trong suất quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Các bước thực hiện và yêu cầu:

Giống các công cụ quản lý chất lượng ISO, TQM... hoạt động Kaizen cũng dược triển khai trên cơ sở vòng lặp xoáy ốc PDCA (P - Kế hoạch) - D (Thực hiện) - C (Kiểm tra) - A (Hành động, Cải tiến). Tám bước thực hiện Kaizen được tiêu chuẩn hoá bao gồm:
Bước 1: Lựa chọn chủ đề (công việc, bộ phận...) (P)

Bước 2: Tìm hiểu hiện trạng và xác định mục tiêu (P)

Bước 3: Phân tích dữ kiện thu thập để xác định nguyên nhân (P)

Bước 4: Xác định biện pháp thực hiện trên cơ sở phân tích dữ liệu (P)

Bước 5: Thực hiện biện pháp (D)

Bước 6: Xác nhận kết quả thực hiện (C)

Bước 7: Xây dựng hoặc sứa đổi các tiêu chuẩn để phòng ngừa tái diễn (A)

Bước 8: Xem xét các quá trình trên và xác định dự án tiếp theo (A)

Lưu ý rằng Kaizen không phải là một công cụ, không phải là một kỹ thuật mà là triết lý quản lý. Khi zen không đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng yêu cầu sự cam kết và nỗ lực ở mọi cấp của doanh nghiệp (đặc biệt là cấp lãnh đạo). Các yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động Kaizen và 5S bao gồm: Cam kết của lãnh dạo cao nhất, vai trò của cán bộ quản lý các phòng ban, tổ, nhóm, sự nỗ lực tham gia của mọi người, việc triển khai cải tiến được thực hiện liên tục, hàng ngày.

Lợi ích áp dụng:
Kaizen lúc đầu được Hãng xe hơi Toyota (Japan) áp dụng để nâng cao năng lực sản xuất, giảm giá thành, tăng lợi nhuận... Sau thành công của Toyota, Kaizen và 5S đã được nhiều nước trên thế giới, kể cả Việt Nam học tập và vận dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Trong doanh nghiệp, áp dụng Kaizen và 5S sẽ làm tăng năng suất, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ giảm thiểu những lãng phí như:

1. Sản xuất dư thừa:
Làm tăng rủi ro lỗi mốt, sản xuất sai chủng loại sản phẩm dẫn tới nguy cơ phải bán với giá chiết khấu hay bó đi dưới dạng phế liệu.

2. Khuyết tật:
Gồm các khuyết tật sản phẩm làm tăng chi phí sản xuất, hàng bán, cũng bao gồm sai sót giấy tờ và thông tin về sản phẩm, chậm giao hàng, sản xuất sai quy cách, lãng phí nguyên vật liệu...

3. Tôn kho:

Hậu quả là chi phí tồn kho và báo quản cao, lãng phí không gian, giảm quay vòng vốn hiệu quả ...

4. Di chuyển bất hợp lý:
Gây lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức, nguyên nhiên vật liệu, mặt bằng, đường sá, nhà xưởng

5. Chờ đợi:
Là thời gian nhân lực hay máy móc nhàn rỗi bởi sự tắc nghẽn hay luồng sản xuất trong hệ thống sản xuất kém hiệu quả.

6. Thao tác thừa của công nhân, máy móc thiết bị:
Ảnh hưởng đến năng suất lao động, định mức nguyên nhiên vật liệu, tăng giá thành sản phẩm...

7. Sửa sai:
Do lần gia công đầu không đạt chất lượng, gây lãng phí sức lao động, sử dụng thiết bị kém hiệu quả, làm gián đoạn, ách tắc, đình trệ trong sản xuất...

Bên cạnh những lợi ích hữu hình về kinh tế, vệ sinh môi trường, an toàn lao động, Kaizen còn mang lại những lợi ích vô hình như: lòng tự hào về doanh nghiệp, động lực phát huy sáng kiến, kỷ luật lao động cao, môi trường văn hoá doanh nghiệp lành mạnh giúp các các thành viên của doanh nghiệp đoàn kết và gắn bó trong mái nhà chung.

Trong cuộc sống đời thường, các cá nhân và gia đình cũng có thể áp dụng Kaizen – 5S để tiết kiệm thời gian, tiền bạc, công sức, giảm thiểu những quyết định, lựa chọn bất hợp lý gây căng thẳng mất đồng bộ để cuộc sống nhẹ nhàng hiệu quá và hạnh phúc hơn. Với "Seiri", Kaizen sẽ giúp giải phóng ngôi nhà ta ở khỏi những vật dụng "hầm bà lằng", "bỏ thì thương, vương thì tội" như đồ gỗ, đồ điện hỏng, quần áo cũ, chai lọ, túi lilon, hộp carton... Không gian sống sẽ rộng hơn, thoáng hơn và biết đâu những thứ này lại trở thành vật hữu ích cho nhiều người khác... Với "Seiton", Kaizen giúp ta không lãng phí thời gian tìm kiếm cuốn sách, cây bút bi, đôi giày, máy di động, chùm chìa khoá, tập tài liệu ... bị ta đã quăng một cách vô thức như trước. Với "Seiso", Kaizen giúp ngôi nhà ta luôn gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, thoáng mát...

Biết bao lợi ích mà Kaizen có thể mang lại. Hãy làm quen với Kaizen và áp dụng nó vào doanh nghiệp cũng như trong cuộc sống hàng ngày.


Theo Tạp chí Nhà quản lý

Người bốc đồng dễ thành chủ doanh nghiệp giỏi


NGƯỜI BỐC ĐỒNG DỄ THÀNH CHỦ DOANH NGHIỆP GIỎI


Sự kết hợp giữa tính cách bốc đồng và tư duy linh hoạt giúp các chủ doanh nghiệp thành đạt nắm bắt cơ hội, ngay cả khi họ phải chịu áp lực trong quá trình suy nghĩ.

Các nhà tâm lý thường coi chấp nhận mạo hiểm, bốc đồng là hành vi bất thường và liên quan tới các rối loạn như nghiện ma túy, cuồng loạn hay gàn dở. Nhưng các chuyên gia của Đại học Cambridge (Anh), khẳng định các chủ doanh nghiệp giỏi có cách chấp nhận mạo hiểm đặc biệt và hành vi đó giúp họ nắm được các cơ hội trong mọi tình huống.

Chủ doanh nghiệp là những người tự lập công ty để kinh doanh thay vì làm thuê cho một công ty có sẵn. Họ có thể đặt tiền bạc, thời gian, sức lực, danh tiếng và thậm chí danh dự của cả gia đình vào công việc kinh doanh với hy vọng tạo ra lợi nhuận.

Theo giáo sư Barbara Sahakian, trưởng nhóm nghiên cứu, dám mạo hiểm là yếu tố khiến chủ doanh nghiệp khác biệt so với nhiều tầng lớp khác trong xã hội. Kết luận của nhóm nghiên cứu được đưa ra sau khi họ tiến hành các bài kiểm tra về nhận thức đối với 15 chủ doanh nghiệp và 17 nhà quản lý lâu năm, đến từ các công ty công nghệ cao có trụ sở gần Đại học Cambridge.

Các bài kiểm tra cho thấy, đối với những vấn đề “nguội” (lập kế hoạch kinh doanh, tuyển nhân viên) các nhà quản lý và chủ doanh nghiệp có quyết định tương đối giống nhau. Nhưng với các vấn đề “nóng”, như đầu tư vào một ngành mới đầy tiềm năng nhưng ẩn chứa nhiều bất trắc, sự khác biệt bắt đầu xuất hiện. Cả hai đối tượng đều ra những quyết định hợp lý, nhưng chủ doanh nghiệp tỏ ra mạo hiểm hơn. Họ cũng có lối tư duy linh hoạt và mức độ bốc đồng cao hơn.

“Bốc đồng là một trạng thái tâm lý liên quan tới sự gia tăng chất truyền dẫn thần kinh dopamine trong não. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không phải tất cả quyết định mạo hiểm đều dẫn tới rủi ro, đặc biệt là khi chúng được kết hợp với khả năng tư duy linh hoạt trong giải quyết vấn đề”, Barbara phát biểu.

Nhóm nghiên cứu cho rằng ra quyết định là một phần không thể thiếu trong quá trình điều hành doanh nghiệp hay tổ chức. Mọi người đều có thể học các phương pháp để có thể ra quyết định mạo hiểm ở mức độ hợp lý, đặc biệt là những người có khả năng tư duy linh hoạt. Nhưng để có ý chí tự thành lập doanh nghiệp, chúng ta cần một chút bốc đồng. Do bốc đồng có liên quan tới dopamine nên có thể sản xuất thuốc để điều chỉnh hàm lượng hóa chất này.

“Các nghiên cứu trước đây chứng minh rằng một số hóa chất có thể làm thay đổi lượng dopamine, dẫn tới những khác biệt trong quá trình ra quyết định. Như vậy, về mặt lý thuyết, chúng ta có thể tạo ra ý chí tự kinh doanh trong một con người bất kỳ bằng dược phẩm”, Barbara khẳng định.

Theo: VnExpress

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Kỹ năng lập kế hoạch: Khái niệm, ý nghĩa và phương pháp


1. Khái niệm

Hoạch định là một quá trình ấn định những mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó.

Nó liên hệ với những phương tiện cũng như với những mục đích. Tất cả những người quản lý đều làm công việc hoạch định.

2. Ý nghĩa

- Tư duy có hệ thống để tiên liệu các tình huống quản lý
- Phối hợp mọi nguồn lực của tổ chức hữu hiệu hơn.
- Tập trung vào các mục tiêu và chính sách của tổ chức.
- Nắm vững các nhiệm vụ cơ bản của tổ chức để phối hợp với các quản lý viên khác.
- Sẵn sàng ứng phó và đối phó với những thay đổi của môi trường bên ngoài
- Phát triển hữu hiệu các tiêu chuẩn kiểm tra.

3. Làm thế nào xác định công việc?

Khi bắt đầu một công việc mới, làm thế nào để triển khai công việc đó hoàn hảo?

Nếu bạn không có phương pháp để xác định đầy đủ các yếu tố, bạn có thể bỏ sót nhiều nội dung công việc. Đó chính là một lỗ hổng trong hoạch định công việc

Phương pháp xác định nội dung công việc (5W H 2C 5M)

- Xác định mục tiêu, yêu cầu công việc 1W (why)
- Xác định nội dung công việc 1W (what)
- Xác định 3W: where, when, who

- Xác định cách thức thực hiện 1H (how)

- Xác định phương pháp kiểm soát – 1C (control)
- Xác định phương pháp kiểm tra – 1C (check)

- Xác định nguồn lực thực hiện 5M

3.1 Xác định mục tiêu yêu cầu (Why)

Khi phải làm một công việc, điều đầu tiên mà bạn phải quan tâm là:
- Tại sao bạn phải làm công việc này?
- Nó có ý nghĩa như thế nào với tổ chức, bộ phận của bạn?
- Hậu quả nếu bạn không thực hiện chúng?

Why (tại sao?) là 1W trong 5W. Khi bạn thực hiện một công việc thì điều đầu tiên bạn nên xem xét đó chính là why với nội dung như trên.

Xác định được yêu cầu, mục tiêu giúp bạn luôn hướng trọng tâm các công việc vào mục tiêu và đánh giá hiệu quả cuối cùng.

3.2 Xác định nội dung công việc (What?)

1W = what? Nội dung công việc đó là gi?

Hãy chỉ ra các bước để thực hiện công việc được giao.

Bạn hãy chắc rằng, bước sau là khách hàng của bước công việc trước.

3.3 Xác định 3W

Where: ở đâu, có thể bao gồm các câu hỏi sau:

- Công việc đó thực hiện tại đâu?
- Giao hàng tại địa điểm nào?
- Kiểm tra tại bộ phận nào?
- Testing những công đoạn nào?…

When: Công việc đó thực hiện khi nào, khi nào thì giao, khi nào kết thúc…

- Để xác định được thời hạn phải làm công việc, bạn cần xác định được mức độ khẩn cấp và mức độ quan trọng của từng công việc.
- Có 4 loại công việc khác nhau:
+ Công việc quan trọng và khẩn cấp,
+ Công việc không quan trọng nhưng khẩn cấp,
+ Công việc quan trọng nhưng không khẩn cấp,
+ Công việc không quan trọng và không khẩn cấp.
Bạn phải thực hiện công việc quan trọng và khẩn cấp trước.

Who: Ai, bao gồm các khía cạnh sau:

- Ai làm việc đó
- Ai kiểm tra
- Ai hổ trợ.
- Ai chịu trách nhiệm…

3.4 Xác định phương pháp 1h

H là how, nghĩa là như thế nào? Nó bao gồm các nội dung:

- Tài liệu hướng dẫn thực hiện là gì (cách thức thực hiện từng công việc)?
- Tiêu chuẩn là gì?
- Nếu có máy móc thì cách thức vận hành như thế nào?

3.5 Xác định phương pháp kiểm soát (Control)

Cách thức kiểm soát (control) sẽ liên quan đến:

- Công việc đó có đặc tính gì?
- Làm thế nào để đo lường đặc tính đó?
- Đo lường bằng dụng cụ, máy móc như thế nào?
- Có bao nhiêu điểm kiểm soát và điểm kiểm soát trọng yếu
(Xem chi tiết qua tài liệu về MBP – phương pháp quản lý theo quá trình)

3.6 Xác định phương pháp kiểm tra (check)

Phương pháp kiểm tra (check) liên quan đến các nội dung sau:

- Có những bước công việc nào cần phải kiểm tra. Thông thường thì có bao nhiêu công việc thì cũng cần số lượng tương tự các bước phải kiểm tra.
- Tần suất kiểm tra như thế nào? Việc kiểm tra đó thực hiện 1 lần hay thường xuyên (nếu vậy thì bao lâu một lần?).
- Ai tiến hành kiểm tra?
- Những điểm kiểm tra nào là trọng yếu?
- Trong DN không thể có đầy đủ các nguồn lực để tiến hành kiểm tra hết tất cả các công đoạn, do vậy chúng ta chỉ tiến hành kiểm tra những điểm trọng yếu (quan trọng nhất).
- Điểm kiểm tra trọng yếu tuân theo nguyên tắc Pareto (20/80), tức là những điểm kiểm tra này chỉ chiếm 20 % số lượng nhưng chiếm đến 80 % khối lượng sai sót.

3.7 Xác định nguồn lực (5M)

Nhiều kế hoạch thường chỉ chú trọng đến công việc mà lại không chú trọng đến các nguồn lực, mà chỉ có nguồn lực mới đảm bảo cho kế hoạch được khả thi.

Nguồn lực bao gồm các yếu tố:

- Man = nguồn nhân lực.
- Money = Tiền bạc.
- Material = nguyên vật liệu/hệ thống cung ứng.
- Machine = máy móc/công nghệ.
- Method = phương pháp làm việc.

a. Man, bao gồm các nội dung:

- Những ai sẽ thực hiện công việc, họ có đủ trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng, phẩm chất, tính cách phù hợp?
- Ai hỗ trợ?
- Ai kiểm tra?
- Nếu cần nguồn phòng ngừa thì có đủ nguồn lực con người để hỗ trợ không?

b. Material = nguyên vật liệu/hệ thống cung ứng, bao gồm các yếu tố:

- Xác định tiêu chuẩn NVL.
- Tiêu chuẩn nhà cung ứng.
- Xác định phương pháp giao hàng
- Thời hạn giao hàng.

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

Điều kiện trở thành kế toán trưởng


Luật Kế toán đã được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2003 và có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2004 đã quy định tiêu chuẩn đối với kế toán trưởng là phải có trình độ đại học về chuyên môn, nghiệp vụ kế toán và 2 năm kinh nghiệm, hoặc trình độ trung cấp và 3 năm kinh nghiệm (trước đây quy định cùng là 3 năm kinh nghiệm); đơn vị kế toán bắt buộc phải bố trí người làm kế toán trưởng hoặc thuê người làm kế toán trưởng

Kế toán trưởng phụ trách tất cả các nhân viên kế toán như kế toán tài chính, kế toán quản trị, kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết. Nhiều công ty hiện không bổ nhiệm kế toán trưởng.

Quy định chung về Kế toán trưởng

Ðiều 52 của Luật kế toán quy định về Kế toán trưởng như sau:

1. Kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán trong đơn vị kế toán theo quy định tại Ðiều 5 của Luật này.

2. Kế toán trưởng của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và doanh nghiệp nhà nước ngoài nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Ðiều này còn có nhiệm vụ giúp người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán giám sát tài chính tại đơn vị kế toán.

3. Kế toán trưởng chịu sự lãnh đạo của người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán; trường hợp có đơn vị kế toán cấp trên thì đồng thời chịu sự chỉ đạo và kiểm tra của kế toán trưởng cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ.

4. Trường hợp đơn vị kế toán cử người phụ trách kế toán thay kế toán trưởng thì người phụ trách kế toán phải có các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Ðiều 50 của Luật này và phải thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền quy định cho kế toán trưởng.

Tiêu chuẩn và điều kiện của kế toán trưởng

Các quy định về Tiêu chuẩn và điều kiện của kế toán trưởng được quy định chi tiết trong Ðiều 53 của Luật kế toán như sau:

1. Kế toán trưởng phải có các tiêu chuẩn sau đây:

a) Các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Ðiều 50 của Luật này;

b) Có chuyên môn, nghiệp vụ về kế toán từ bậc trung cấp trở lên;

c) Thời gian công tác thực tế về kế toán ít nhất là hai năm đối với người có chuyên môn, nghiệp vụ về kế toán từ trình độ đại học trở lên và thời gian công tác thực tế về kế toán ít nhất là ba năm đối với người có chuyên môn, nghiệp vụ về kế toán bậc trung cấp.

2. Người làm kế toán trưởng phải có chứng chỉ qua lớp bồi dưỡng kế toán trưởng.

3. Chính phủ quy định cụ thể tiêu chuẩn và điều kiện của kế toán trưởng phù hợp với từng loại đơn vị kế toán.

Trách nhiệm và quyền của kế toán trưởng

Các trách nhiệm và quyền của kế toán trưởng (Ðiều 54, Luật Kế toán) gồm:

1. Kế toán trưởng có trách nhiệm:

a) Thực hiện các quy định của pháp luật về kế toán, tài chính trong đơn vị kế toán;

b) Tổ chức điều hành bộ máy kế toán theo quy định của Luật này;

c) Lập báo cáo tài chính.

2. Kế toán trưởng có quyền độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ kế toán.

3. Kế toán trưởng của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, ngoài các quyền đã quy định tại khoản 2 Ðiều này còn có quyền:

a) Có ý kiến bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán về việc tuyển dụng, thuyên chuyển, tăng lương, khen thưởng, kỷ luật người làm kế toán, thủ kho, thủ quỹ;

b) Yêu cầu các bộ phận liên quan trong đơn vị kế toán cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu liên quan đến công việc kế toán và giám sát tài chính của kế toán trưởng;

c) Bảo lưu ý kiến chuyên môn bằng văn bản khi có ý kiến khác với ý kiến của người ra quyết định;

d) Báo cáo bằng văn bản cho người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán khi phát hiện các vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán trong đơn vị; trường hợp vẫn phải chấp hành quyết định thì báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người đã ra quyết định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không phải chịu trách nhiệm về hậu qu của việc thi hành quyết định đó.

Công việc của một kế toán tổng hợp

Ở một công ty có hệ thống kế toán đầy đủ thường bao gồm các phần hành kế toán như  sau:

- Kế toán trưởng

- Kế toán tổng hợp

- Kế toán các phần hành: kế toán thanh toán, kế toán kho, kế toán công nợ, kế toán giá thành, kế toán tiền mặt…

- Thủ quỹ, thủ kho

Trong một công ty nhỏ có từ 1-2 kế toán, thì có thể kế toán trưởng kiêm luôn nhiệm vụ của kế toán tổng hợp.

Vậy, công việc của một kế toán tổng hợp bao gồm những gì, bạn có hình dung được không?

Để đảm đương được vị trí kế toán tổng hợp đương nhiên bạn phải am hiểu sâu sắc hầu hết các nghiệp vụ kế toán, đặc biệt là kỹ năng đối chiếu, phân tích, tính toán giá thành và các giải pháp kế toán tối ưu. Ngoài ra còn phải biết vận dụng luật (luật về thuế, kế toán, lao động, bảo hiểm,…). Để có được những kỹ năng này đòi hỏi bạn phải có kinh nghiệm nhiều năm. Tuy nhiên bạn cũng đừng quá lo ngại khi bạn đến với một công ty có quy mô và mức độ phức tạp của công việc ở tầm thường thường, hoặc công ty đang có một kế toán trưởng giỏi.Không có công thức chung nhất về các công việc cụ thể cho kế toán tổng hợp, vì thực tế phải tùy thuộc vào quy mô và đặc thù kinh doanh của mỗi công ty; cụ thể là phụ thuộc vào việc tổ chức bộ máy kế toán và người kế toán trưởng giao công việc cho từng nhân viên kế toán đến đâu. Ví dụ như  sau:-  Công ty có 2 – 3 nhân viên kế toán thì phần việc của mỗi người chắc chắn sẽ nhiều hơn; Kế toán trưởng phải làm luôn công việc của kế toán tổng hợp.-  Công ty có 6 – 7 nhân viên kế toán, mỗi người phụ trách một phần hành thì phần việc / phần hành của kế toán tổng hợp sẽ ít hơn nhưng bù lại khối lượng công việc tổng hợp nhiều hơn và đòi hỏi chuyên môn cao hơn.

-  Còn công ty chỉ có một kế toán, khi đó bạn phải là kế toán trưởng và làm từ A đến Z.

Có thể đôi lúc bạn có cảm giác rằng, vai trò của kế toán tổng hợp hình như giống vai trò của kế toán trưởng ? điều đó cũng có thể. Thường thì công việc của kế toán trưởng là tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức hệ thống tài khoản, điều phối, xử lý các mối quan hệ, hoạch định, xử lý tài chính, vay vốn, tham dự các cuộc họp về quản trị,…Đặc biệt, kế toán trưởng là người chịu trách nhiệm cao theo quy định pháp luật về kế toán và thuế.

Kế toán mô phỏng xin chia sẻ cùng bạn công việc “quan trọng / thường làm nhất” của kế toán tổng hợp là:

-  Tính giá thành, các bút toán về giá thành.

-  Xử lý các bút toán kết chuyển thuộc các tài khoản từ loại 4 đến loại 9.

-  Kiểm tra, đối chiếu lại tất cả các số liệu.

-  Lập báo cáo tài chính.

Một cách tổng quát hơn, công việc của kế toán tổng hợp như sau:

-  Kiểm tra toàn bộ các định khoản, các nghiệp vụ phát sinh.

-  Kiểm tra, đối chiếu giữa số liệu chi tiết và số liệu tổng hợp.

-  Kiểm tra số dư cuối kỳ có hợp lý và đúng với thực tế không.

-  Xác định và đề xuất lập dự phòng hoặc xử lý công nợ phải thu khó đòi.

-  Tính giá thành, định khoản các nghiệp vụ về giá thành.

-  Kết chuyển doanh thu, chi phí, lãi lỗ.

-  In sổ kế toán.

-  Lập báo cáo tài chính, báo cáo quản trị, báo cáo thống kê,…

-  Lập các báo cáo thuế.

-  Cùng kế toán trưởng giải trình, cung cấp tài liệu, số liệu cho các cơ quan như: thuế, kiểm toán, các đoàn thanh tra kiểm tra khi có yêu cầu.

-  Kiến nghị và đề xuất các biện pháp khắc phục cải tiến

Thành công – Con đường nào để đi đến nó?



Chuyên gia nghề nghiệp Cavil Coodidge chia sẻ: “Nếu tôi phải chọn 3 tiêu chí quan trọng quyết định đến thành công của một người thì niềm tin, hành động và kỷ luật là sự lựa chọn của tôi,…”.

Thành công   Con đường nào để đi đến nó?
Niềm tin
“Không thể phủ nhận rằng quyết định đến thành công của bạn có sự góp mặt của nhiều yếu tố, tuy nhiên nếu mang ra đong đếm tôi cho rằng niềm tin là yếu tố quan trọng đầu tiên quyết định bạn thành công hay thất bại”, Calvin chia sẻ. Bạn cần phải tin vào bản thân mình rằng bạn có thể đạt được điều bạn mong muốn. Niềm tin chính là mũi tên chỉ đường để bạn đi đến thành công. Bạn biết không một khi tâm trí của bạn bị thuyết phục rằng bạn có thể làm được thì không có gì là không thể vì niềm tin là sự cộng hưởng của tâm trí và trái tim.
Hành động
Một khi bạn đã xây dựng được cho mình một niềm tin vững chắc, bước tiếp theo bạn nên làm đó là vật chất hóa niềm tin, biến niềm tin thành hành động. Nếu như bạn chỉ tin thôi thì bạn sẽ thành công, nhưng đó là thành công ảo, thành công trong tâm tưởng và liệu nó có đem lại cho bạn điều gì hay không? Bạn cần lên kế hoạch cụ thể cho sự nghiệp của mình và luôn làm việc (hành động) hết lòng. Khi bạn hàng động theo những gì bạn tin tưởng bạn sẽ luôn tập trung cao độ và điều này sẽ cung cấp cho bạn một nguồn năng lượng dồi dào. Đó giống như một chiếc đòn bẩy đưa bạn đến gần với thành công mà bạn mong đợi.
Một điều cần chú ý là hành động cần được kết hợp cả với tư duy, bạn cần xác định rõ phương hướng hành động của mình, có bước tiến thì cũng cần có bước lui cộng thêm các phương án dự trù. Một kế hoạch hành động thành công là một kế hoạch đúng hướng. Những yếu tố cần và đủ trong kế hoạch của bạn đó là phát triển kỹ năng, thể hiện năng lực, xây dựng mối quan hệ hài hòa với các đồng nghiệp dựa trên tinh thần tôn trọng, bình đẳng và đoàn kết,…
Kỷ luật
Hành động không thôi không chắc chắn bạn thành công nhưng hành động kỷ luật sẽ làm được điều đó. Một trong những lý do chính giải thích tại sao nhiều người đã hành động nhưng không thành công vì họ không có kỷ luật trong hành động. Kỷ luật trong hành động nghĩa là bạn không chỉ cố gắng thực hiện theo từng bước trong kế hoạch đã định mà nhiều khi bạn còn cần phải hy sinh những nhu cầu cá nhân để có thể đạt được thành công nhất định trong sự nghiệp của mình. Bạn có thể sẽ phải hy sinh thời gian cá nhân để làm việc và để tạo ra các sáng kiến. Sự hy sinh đó là có kỷ luật. Kỷ luật cần phải liên tục và nhiều khi kỷ luật luôn đi cùng với thách thức. Trong khó khăn, bạn vẫn giữ vững được lập trường bản thân, vẫn luôn tôn thờ “niềm tin, hành động, kỷ luật” thì không có lẽ nào bạn thất bại. Cũng theo Cavil Coodidge: “Không có gì trên thế giới có thể thay thế sự bền bỉ kể cả tài năng…vì vậy bên cạnh niềm tin, hành động và kỷ luật bạn cũng cần phải kiên nhẫn, con đường dẫn đến thành công là một con đường dài với nhiều ngã rẽ. Niềm tin là động lực giúp bạn sẵn sàng đối mặt với thử thách, hành động kỷ luật giúp bạn định hướng đúng đường đi và kiên nhẫn giúp bạn thêm mạnh mẽ để vững bước đi đến đoạn đường cuối cùng của thành công”.

Các kỹ năng vàng để trở thành kế toán trưởng


Kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán tài chính là những vị trí đáng mong ước không chỉ của những bạn trẻ đang còn học trên giảng đường mà còn là mơ ước của những người đang làm kế toán.
Bạn cần phải có những kỹ năng gì để có thể có được vị trí này? Dưới đây là 6 kỹ năng vàng rèn luyện để bạn có thể có vị trí mong ước của mình.
Các kỹ năng vàng để trở thành kế toán trưởng
1. Có năng lực chuyên môn cao
 Đây là những vị trí khá cao trong doanh nghiệp, ngân hàng, hay tổ chức tài chính nên điều trước tiên bạn cần phải có là năng lực chuyên môn cao. Điều này dễ nhìn thấy nhất thông qua tấm bằng tốt nghiệp cao đẳng hoặc đai học chuyên ngành tài chính kế toán. Trải qua quá trình học tập và sau này đi làm tích lũy thêm, bạn phải có những kiến thức, kinh nghiệm, có khả năng lập báo cáo và trình bày báo cáo kế toán, khả năng thống kê, phân tích tài chính, khả năng lập và phân tích báo cáo kế toán cũng như quản trị tài chính doanh nghiệp…
2. Thành thạo máy tính và tiếng Anh
 Đây là hai chìa khoá vàng cùa mọi ngành nghề chứ không riêng gì nghề kế toán. Để đạt được những vị trí cao trong nghề kế toán như trên, bạn càng cần phải thoả mãn hai điều kiện này. Bạn phải thành thạo các phần mềm vi tính văn phòng đặc biệt là Excel dùng để tính toán, Power Point để thuyết trình và các phần mềm chuyên về kế toán. Tiếng Anh của bạn cũng phải đủ để có thể giao tiếp với các đối tác hay thành viên trong công ty là người nước ngoài và đọc các tài liệu, viết các báo cáo tài chính kế toán.
3. Khả năng tư duy tốt
 Nhất là tư duy toán học, tư duy logic vì kế toán là một công việc luôn luôn phải tiếp xúc với những con số, những bảng biểu và những phép tính phức tạp.
4. Cẩn thận và trung thực
 Vì công việc của kế toán là xử lý các con số liên quan đến tiền bạc nên chỉ cần sai xót một chút thôi là bạn có thể gây ra những hậu quả khôn lường cho doanh nghiệp của mình. Vậy nên, khi làm việc, bạn phải luôn nhẩm trong đầu câu khẩu hiệu: “Cẩn thận! Cẩn thận! Cẩn thận!”. Cẩn thận từ các bước tính toán cho đến những chi tiết nhỏ như viết số rõ ràng, dễ đọc. Dấu “chấm” và dấu “phẩy” đảo chỗ cho nhau trong một con số là giá trị của nó đã thay đổi rất nhiều rồi. Nhưng hậu quả của việc bất cẩn gây ra còn không nghiêm trọng bằng hậu quả của sự cố tình làm sai hòng mưu cầu lợi ích riêng. Vì vậy, để có thể phát triển trong nghề kế toán thì bạn phải là người rất trung thực.
5. Chịu được áp lực công việc cao, biết cánh quản lý thời gian
 Công việc kế toán trưởng, kế toán tài chính, kế toán tổng hợp là những công việc luôn chân luôn tay luôn đầu óc, nhất là vào gần cuối tháng hay cuối năm, khi mà công ty phải tổng kết thu tiêu, lương bổng cho nhân viên… thì họ càng phải vắt chân lên cổ mà chạy thì mới kịp công việc. Vậy nên, bạn phải có sức khỏe và tinh thần tốt để có thể theo được công việc này. Bên cạnh đó, bạn phải biết cách sắp xếp thời gian hợp lý để có thể hoàn thành công việc đúng tiến độ mà không hao tổn sức lực nhiều, không để có những khoảng thời gian vô ích.
6. Khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo
 Có được khả năng này thì bạn sẽ dễ dàng hòa đồng với mọi người trong công ty hơn, có thể hợp tác tốt với các thành viên trong phòng, ban của bạn và tạo thiện cảm và có thể là thuyết phục được các đối tác kinh doanh. Kỹ năng này sẽ giúp bạn tiến xa hơn trên con đường thăng tiến.