Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Quyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

Nhân quyền là gì?

ỦY BAN NHÂN QUYỀN VIỆT NAM TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU ẤN PHẨM “TÓM LƯỢC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI” CỦA CHƯƠNG TRÌNH THÔNG TIN QUỐC TẾ BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ THÁNG 3/2008.
TÓM LƯỢC VỀ
QUYỀN CON NGƯỜI
Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế,
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 3/2008
TÓM TẮT PHỔ QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Sâu thẳm trong tư duy và tâm hồn của nhân loại là niềm tin chắc chắn rằng mỗi người và tất cả mọi người đều có các quyền, trong đó có quyền tự do không bị áp bức, quyền tự do lựa chọn và không phải chịu những hành vi tàn bạo. Theo bản năng, hầu hết mọi người đều cảm nhận như vậy, ngay cả khi họ không tin là có thể dễ dàng giành được những quyền đó. Trong suốt chiều dài lịch sử, hầu hết các xã hội chỉ trao những quyền đó cho một số ít người may mắn. Châu Âu thế kỷ XVIII xuất hiện khái niệm “luật tự nhiên” – dựa trên một trật tự chung – trao những quyền đó cho tất cả mọi người. Triết lý đó có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, và những khái niệm

Triết gia người Anh John
Locke là đại diện cho Phong
trào Khai sáng của thế kỷ
XVII. (© Print Collector/
Heritage-Imagestate, UK)
trong Hiến pháp Mỹ, một văn kiện cho đến nay vẫn điều chỉnh mọi bộ luật của Mỹ. Tất cả các quốc gia văn minh đều nỗ lực xác định và ủng hộ nhân quyền. Ở đâu cũng vậy, cốt lõi của khái niệm này là giống nhau, đó là: nhân quyền là các quyền mà mỗi con người đều có đơn giản là vì họ là con người. Nhân quyền là của mọi người và bình đẳng cho mọi người. Nhân quyền cũng là những quyền bất khả xâm phạm. Các quyền này có thể bị trì hoãn – một cách chính đáng hay sai trái, ở nhiều nơi nhiều lúc – song ý tưởng về các quyền cố hữu không thể bị phủ nhận. Nếu mất đi những quyền này, con người sẽ không còn là con người nữa.
TIẾN BỘ QUA CÁC THẾ KỶ
Theo truyền thống, tất cả các nhóm người từ các bộ lạc sinh sống nơi núi rừng tới người dân thành thị đều có các quan niệm về công lý, sự bình đẳng, phẩm giá và sự tôn trọng. Tuy nhiên, quan niệm rằng con người – đơn giản bởi vì họ là con người – có những quyền bất khả xâm phạm nhất định, có thể dùng để bảo vệ bản thân họ trong xã hội và trước những kẻ cai trị vẫn là quan niệm của thiểu số trong kỷ nguyên trước năm 1500. Nhiều xã hội tiền hiện đại cho rằng người cai trị có nghĩa vụ cai quản một cách hợp lý và vì lợi ích của mọi người. Tuy nhiên, người ta cho rằng nghĩa vụ này xuất phát từ mệnh lệnh của Đấng Tối cao hoặc xuất phát từ truyền thống, chứ không dựa trên khái niệm các quyền của cá nhân mà người dân thường có thể dựa vào để bảo vệ bản thân trước những kẻ cai trị bất công.
Lý thuyết dành cho một số người
Người đầu tiên được cho là đã phát triển một lý thuyết toàn diện về nhân quyền là triết gia người Anh John Locke (1632-1704). Locke cho rằng người dân hình thành nên các xã hội, các xã hội hình thành nên các chính phủ để đảm bảo quyền được hưởng các quyền “tự nhiên”. Locke định nghĩa chính phủ là một “khế ước xã hội” giữa kẻ cai trị và người bị trị. Ông cho rằng công dân chỉ có nghĩa vụ trung thành với những chính phủ bảo vệ các quyền của họ. Thậm chí những quyền này có thể được ưu tiên hơn so với những đòi hỏi và lợi ích khác của chính phủ. Tính hợp pháp của chính phủ chỉ có được nếu tôn trọng và bảo vệ một cách có hệ thống các quyền của công dân.
Tuy nhiên, lý thuyết của Locke cũng có những hạn chế. Mặc dù cách viết của ông hàm ý các quyền này có tính phổ quát, nhưng thực ra ông không xét tới quyền của tất cả mọi người. Trọng tâm thực sự của ông là bảo vệ quyền của nam giới châu Âu, những người có sở hữu tài sản. Trong khi đó, phụ nữ, những người bản địa, người hầu, lao động được trả lương không được công nhận là những người được hưởng đầy đủ các quyền. Dù vậy, những tư tưởng của Locke và những người khác cùng thời với ông là một bước đột phá quan trọng.
Mở rộng các quyền con người
Rất nhiều cuộc đấu tranh chính trị lớn trong hai thế kỷ qua liên quan đến việc mở rộng một loạt quyền được bảo vệ. Xu hướng này bao gồm mở rộng quyền bầu cử cho mọi công dân, cho phép người lao động được đấu tranh đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc, và xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử vì giới tính và chủng tộc. Trong tất cả các cuộc đấu tranh này, các nhóm bị áp bức đã sử dụng các quyền tự do hạn chế của họ để đấu tranh đòi sự công nhận pháp lý đối với các quyền cơ bản vẫn bị phủ nhận. Trong mỗi cuộc đấu tranh, cốt lõi của lập luận đưa ra là “chúng ta” chứ không chỉ “các anh” mới là con người. Điều đó có nghĩa là tất cả chúng ta đều có các quyền cơ bản giống nhau, được nhà nước tôn trọng và quan tâm như nhau. Việc những lập luận này được chấp nhận đã dẫn tới những thay đổi chính trị xã hội cấp tiến trên toàn thế giới.
Trên toàn cầu, chế độ nào phủ nhận các quyền con người cơ bản của công dân, chế độ đó sẽ không ổn định lâu dài. Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô chính là công dân ở khối các nước cộng sản càng ngày càng không thể chấp nhận thực tế là các quyền con người được quốc tế công nhận bị phủ nhận một cách có hệ thống. Ở Nam và Trung Mỹ, các chính quyền quân sự áp bức đã sụp đổ trong những năm 1980. Ở châu Á và châu Phi, tự do hóa và dân chủ hóa diễn ra không suôn sẻ nhưng đó là một thực tế. Ví dụ Hàn Quốc và Nam Phi là hai quốc gia điển hình đã đạt được những tiến bộ về nhân quyền. Bài học trong thời gian qua cho thấy ở đâu người dân có cơ hội lựa chọn, ở đó họ chọn các quyền con người được quốc tế công nhận. Mặc dù còn khó khăn, trở ngại, nhưng chúng ta đang sống trong một thế giới mà ngày càng ít các chính phủ dám tước bỏ của người dân quyền tự do lựa chọn đó.
NHÂN QUYỀN LÀ MỘT VẤN ĐỀ QUỐC TẾ
Ngày nay, hầu hết các quốc gia ở mọi khu vực trên thế giới, ở mọi trình độ phát triển, đều khẳng định cam kết về nhân quyền. Chính phủ nào liên tục gây ra các vụ vi phạm nhân quyền trắng trợn đều bị coi là bất hợp pháp.

Eleanor Roosevelt, góa phụ của Tổng thống Franklin
D. Roosevelt, đang cầm trên tay Tuyên ngôn Nhân
quyền Toàn cầu của Liên Hợp Quốc. (Ảnh của UN)
Nhưng không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy. Tiến bộ hay thiếu tiến bộ về nhân quyền của một quốc gia mới trở thành một chủ đề quan hệ quốc tế trong khoảng một nửa thế kỷ nay. Trước Chiến tranh Thế giới Thứ hai, phản ứng trước những vụ tàn sát các nhóm thiểu số trong phạm vi một quốc gia chỉ được thể hiện dưới hình thức các tuyên bố lịch sự là không ủng hộ. Thậm chí những vụ vi phạm bớt trắng trợn hơn không được coi là chủ đề thích hợp để  có thể đối thoại ngoại giao. Việc một chính phủ đối xử như thế nào với công dân trong phạm vi lãnh thổ của họ được coi là vấn đề thuộc chủ quyền – nghĩa là quyền lực tối cao của chính phủ đó đối với các vấn đề nội bộ. Trên thực tế, các nước khác và cộng đồng quốc tế được cho là có nghĩa vụ pháp lý quốc tế không can thiệp vào các vấn đề đó.
Cú sốc của cuộc tàn sát người Do Thái
Trong cuộc thảm sát người Do Thái hồi Chiến tranh Thế giới Thứ hai, phátxít Đức và những kẻ đồng lõa đã giết hại một cách có hệ thống hàng triệu người – người Do Thái châu Âu, người La Mã, những người đồng tính – bao gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Ý thức trách nhiệm trước cuộc thảm sát người Do Thái đã dẫn đến cam kết rằng những hành vi tàn bạo của cuộc thảm sát sẽ không được phép tái diễn. Nhân quyền đã trở thành dòng chảy chính của quan hệ quốc tế. Trước khi xảy ra cuộc thảm sát người Do Thái một số nước biện minh rằng việc nhà nước đối xử như thế nào đối với công dân của họ là vấn đề nội bộ. Do vậy, việc tàn sát công dân của một nước không phải là một tội danh được quy định theo luật pháp quốc tế. Tòa án Xét xử Tội phạm Chiến tranh Nuremberg năm 1945 đã giúp thay đổi thực tiễn này. Các phiên tòa xét xử – trong đó những tướng lĩnh phát-xít cấp cao đã phải chịu bản án vì những hành vi của mình – đã cho ra đời khái niệm về tội ác chống lại nhân loại. Lần đầu tiên, các quan chức phải chịu trách nhiệm pháp lý trước cộng đồng quốc tế về những tội danh chống lại cá nhân công dân. Tuy nhiên, tại Liên Hợp Quốc, nhân quyền mới thực sự trở thành một chủ đề của quan hệ quốc tế. Nhân quyền chiếm một vị trí nổi trội trong Hiến chương Liên Hợp Quốc đưa ra năm 1945. Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu. Tuyên ngôn này khẳng định cách thức các nhà nước đối xử với công dân họ là vấn đề quốc tế chính đáng cần quan tâm và phải tuân theo các chuẩn mực quốc tế.
Tác động của Chiến tranh Lạnh
Tuy nhiên, không phải mọi việc đều diễn ra suôn sẻ. Trong những năm sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, một cuộc chiến ý thức hệ căng thẳng đã nổ ra giữa các nước cộng sản và các nước tư bản có tác động tới toàn thế giới.
“Chiến tranh Lạnh” kéo dài cho đến khi Liên Xô sụp đổ năm 1991. Giống như Mỹ đôi lúc sẵn sàng bỏ qua những vụ vi phạm nhân quyền ở các chế độ chống cộng sản “thân thiện” thì Liên Xô sẵn sàng sử dụng vũ lực khi cần thiết để đảm bảo các chế độ độc tài “thân thiện” ở trong vòng ảnh hưởng của mình. Hơn thế nữa, một số quốc gia sẵn sàng chấp nhận sự kiểm soát đa phương đối với các thực tiễn nhân quyền của họ, nói gì đến việc thực thi nhân quyền ở cấp quốc tế. Liên Hợp Quốc không phải là một chính phủ thế giới. Tổ chức này không thể làm gì nếu thành viên của nó – các quốc gia có chủ quyền – không cho phép. Rốt cuộc thì trong hai thập kỷ đầu của Chiến tranh Lạnh, không khối nước nào sẵn sàng cho phép Liên Hợp Quốc được làm gì nhiều trong lĩnh vực nhân quyền. Tuy nhiên, vào giữa những năm 1960 khối Á-Phi đã trở thành nhóm lớn nhất tại Liên Hợp Quốc. Những nước này – từng chịu sự cai trị của chế độ thực dân – có mối quan tâm đặc biệt về nhân quyền. Họ nhận thấy sự cảm thông từ khối các nước Xô-viết, một số nước ở châu Âu và châu Mỹ, trong đó có Mỹ. Do vậy, Mỹ lại một lần nữa bắt đầu chú ý tới nhân quyền.
Điều quan trọng nhất là thực tế này đã dẫn đến sự hoàn thành các Công ước Quốc tế về Nhân quyền vào năm 1966. Cùng với Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu, những công ước này là sự khẳng định mạnh mẽ nhất về các quyền con người được quốc tế công nhận. Tuy nhiên, tính toàn diện của các Công ước đòi hỏi Liên Hợp Quốc phải chuyển hoạt động vì nhân quyền của tổ chức này từ việc định ra các tiêu chuẩn sang giám sát việc các quốc gia tuân thủ những tiêu chuẩn này như thế nào. Đây là lĩnh vực mà Liên Hợp Quốc đã không đạt được tiến bộ nào trong hai thập kỷ đầu tiên. Mặc dù những khái niệm trụ cột về các chuẩn mực nhân quyền đã được làm rõ vào giữa những năm 1960, nhưng việc thực hiện những chuẩn mực này về cơ bản vẫn phụ thuộc vào thiện chí của từng chính phủ.
Sự hồi sinh của nhân quyền dưới thời Carter
Khi Jimmy Carter trở thành Tổng thống Mỹ năm 1977, ông đã đưa nhân quyền trở thành một vấn đề quốc tế. Carter đã biến các quyền phổ quát trở thành một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ, và khuyến khích những người ủng hộ nhân quyền trên toàn thế giới. Carter cố gắng tách nhân quyền quốc tế khỏi nền chính trị Đông-Tây của Chiến tranh Lạnh và cuộc tranh luận Bắc-Nam giữa các nước công nghiệp và các nước phi công nghiệp về các vấn đề kinh tế. Cố gắng này đã mang đến động lực mới và làm gia tăng tính hợp pháp của các tổ chức nhân quyền ở khắp mọi nơi.
Tiến trình Helsinki
Thời kỳ giữa thập kỷ 1970 chứng kiến việc đưa nhân quyền trở thành nội dung chính trong chính sách đối ngoại song phương và đa phương. Mỹ và các nước châu Âu bắt đầu xem xét các thực tiễn nhân quyền trong các chính sách viện trợ của họ. Và Đạo luật Cuối cùng Helsinki năm 1975 công khai đưa nhân quyền vào nội dung quan hệ Mỹ-Liên Xô. Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu (CSCE) bắt đầu vào đầu những năm 1970 với một loạt đàm phán trong đó có sự tham gia của Mỹ, Ca-na-đa, Liên Xô và hầu hết các nước châu Âu. Các cuộc bàn thảo tập trung vào việc giải quyết các vấn đề giữa phương Đông Cộng sản và phương Tây dân chủ. Đạo luật cuối cùng của CSCE, đạt được năm 1975 tại Helsinki, Phần Lan và được 35 nước ký kết được gọi là Thỏa ước Helsinki. Thỏa ước này nêu ra 10 nguyên tắc cụ thể, trong đó có tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản như tự do tư tưởng, tự do lương tri, tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Nhiều chuyên gia cho rằng tiến trình Helsinki khiến các chế độ độc tài cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.  Cuối những năm 1980, Chiến tranh Lạnh kết thúc và ngày 25/12/1991 không còn lá cờ Xô Viết tại điện Kremlin. CSCE ở thời điểm đó tổ chức các hội nghị và hội thảo, nhưng giờ đây đã có vai trò lớn hơn đó là quản lý những thay đổi lịch sử đang diễn ra ở châu Âu. Tên của nó được đổi thành Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE). Hiện nay OSCE là tổ chức an ninh khu vực lớn nhất trên thế giới, với 56 nước thành viên ở châu Âu, Trung Á và Bắc Mỹ. Tổ chức này cũng có các đối tác ở châu Á và khu vực Địa Trung Hải. Nhiều người coi OSCE là điển hình cho các nỗ lực hợp tác ở các khu vực khác nhằm thúc đẩy sự tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới. Tuyên bố Copenhagen và những Nguyên tắc Paris của OSCE có ảnh hưởng lớn bởi chúng là thước đo thực hiện nhân quyền, trong đó có thành tích của các quốc gia dân chủ. Trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc, Ủy ban Nhân quyền được hồi sinh, đứng đầu là Ca-na-đa, Hà Lan và các nước khác, đã xây dựng những công ước mới về Quyền Phụ nữ (1979), công ước Chống tra tấn (1984) và công ước về Quyền Trẻ em (1989). Các chuyên gia đã được chỉ định để nghiên cứu và báo cáo về các vụ vi phạm nhân quyền ở ngày càng nhiều quốc gia. Vào giữa những năm 1980, hầu hết các nước phương Tây nhất trí rằng nhân quyền phải là ưu tiên trong chính sách đối ngoại, và hướng tới vấn đề giám sát và thực thi nhân quyền.
Thập kỷ 1970 là giai đoạn trong đó các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoạt động trên lĩnh vực nhân quyền xuất hiện với tư cách là một lực lượng chính trị quốc tế nổi bật. Điển hình là giải thưởng Nobel Hòa bình dành cho Tổ chức Ân xá Quốc tế năm 1977 vì đã giúp đỡ các tù nhân chính trị. Năm 1980, có khoảng 200 tổ chức phi chính phủ ở Mỹ hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền và ở Anh cũng có số lượng như vậy. Sự xuất hiện của các tổ chức phi chính phủ ở các nước châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh cũng là một diễn biến quan trọng không kém. Những tổ chức này, bên cạnh việc ủng hộ nạn nhân các vụ lạm dụng nhân quyền, còn có ảnh hưởng quan trọng đối với các chính sách nhân quyền quốc gia và quốc tế.
Môi trường hậu Chiến tranh Lạnh
Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nỗ lực quốc tế thúc đẩy nhân quyền được tăng cường hơn nữa mà điển hình là sự ra đời của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhằm tăng cường hoạt động giám sát quốc tế. Ở hầu hết các nước, bản chất và giới hạn của nhân quyền thể hiện rõ hơn trong chương trình nghị sự quốc gia. Cũng như những ý tưởng tự do kinh tế lan rộng thông qua quá trình toàn cầu hóa, các ý tưởng khác cũng vậy. Các tổ chức nhân quyền phi chính phủ và những người ủng hộ cho nhân quyền ngày càng có ảnh hưởng trên toàn thế giới.
Chắc chắn, việc nêu ra các vấn đề nhân quyền đôi khi vẫn bị các nước phản ứng, điển hình là mối quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại lớn của nước này trong những năm sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989. Hầu hết các nước vẫn không giải quyết hiệu quả các mối quan ngại nhân quyền quốc tế theo yêu cầu của các tổ chức nhân quyền phi chính phủ.
Vẫn còn các chế độ cầm quyền – ở Cuba, Bắc Triều Tiên, và những nơi khác – tiếp tục vi phạm có hệ thống các quyền con người được quốc tế công nhận. Như trong các báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ và rất nhiều tổ chức phi chính phủ, hầu hết các nước trên thế giới vẫn có những vấn đề nhân quyền nghiêm trọng. Tuy nhiên, cộng đồng quốc tế đã sẵn sàng giải quyết các vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Đáng tiếc là năm 1994 Liên Hợp Quốc đã không can thiệp quân sự để chặn đứng được cuộc diệt chủng ở Ru-an-đa. Tuy nhiên ở El Salvador, các nhà giám sát nhân quyền của Liên Hợp Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được một giải pháp chính trị và phi quân sự hóa quốc gia này sau một thập kỷ nội chiến. Ở Sô-ma-li, khi quốc gia này bị rơi vào cuộc chính biến, các lực lượng quân sự đa phương đã can thiệp để cứu hàng nghìn dân khỏi bị nạn đói. Ở Căm-pu-chia, lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc đã giúp đẩy lui lực lượng Việt Nam và kiềm chế Khơ-me Đỏ, thúc đẩy việc hình thành một chính phủ được bầu lên tự do. Ở Bosnia, cộng đồng quốc tế dưới sự lãnh đạo của Mỹ, đã sử dụng sức mạnh quân sự để chấm dứt cuộc nội chiến đẫm máu khiến 200.000 người bị giết hại và đẩy hai triệu người khác vào cảnh nhà tan bằng cuộc “thanh lọc sắc tộc” có hệ thống.
Bất chấp tầm quan trọng của nhân quyền và nền chính trị nhân đạo, những năm đầu thế kỷ 21, cộng đồng quốc tế đang đấu tranh để ngăn chặn cuộc xung đột sắc tộc kéo dài ở tỉnh miền tây Darfur của Su-đăng. Cuộc xung đột này mà Liên Hợp Quốc và các tổ chức nhân quyền coi là diệt chủng đã cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người và đẩy hơn hai triệu người khác phải sống trong các trại tị nạn. Lực lượng của Liên minh châu Phi không thể ngăn chặn được tình trạng giết chóc, cưỡng hiếp tùy tiện và Mỹ đã phải kêu gọi Liên Hợp Quốc triển khai một lực lượng gìn giữ hòa bình lớn ở nước này. Đồng thời, cộng đồng quốc tế, trong đó có các tổ chức nhân quyền phi chính phủ, đã tham gia đối phó với phong trào khủng bố quốc tế tăng mạnh điển hình là các cuộc tấn công khủng bố ở Mỹ ngày 11/9/2001 và các cuộc tấn công khủng bố khác của al Qaeda trên thế giới, từ In-đô-nêxi-a tới Tây Ban Nha. Cũng chính những quan sát viên này đã lên tiếng chỉ trích phản ứng của các chính phủ đối với chủ nghĩa khủng bố.

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA MỸ
Mỹ đóng vai trò đặc biệt trong việc phát triển và ủng hộ các ý tưởng và thực tiễn về nhân quyền. Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 theo đó các thuộc địa Mỹ tuyên bố tách khỏi nước Anh, khẳng định rằng “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”. Quan trọng không kém, Tuyên ngôn Độc lập còn khẳng định quyền của người dân được phá bỏ những ràng buộc chính trị áp bức. Với Hiến pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền của Mỹ, thế giới lần đầu tiên chứng kiến thử nghiệm trên thực tế việc xây dựng một chính phủ mà sự vận hành của nó được đánh giá dựa trên mức độ tôn trọng và bảo vệ các quyền của người dân. Do vậy, các quyền được người Mỹ coi là một đặc điểm trong di sản quốc gia của họ. Những người Mỹ đầu tiên không nói đến “nhân quyền” mà nói đến tự do và các quyền tự do. Rất nhiều trong số những người dân thuộc địa đầu tiên đến Tân Thế giới để tìm kiếm quyền tự do tôn giáo của họ đã bị tước bỏ ở châu Âu thế kỷ XVII. Khi hình thành các cộng đồng, qua thời gian họ đã phát triển ý thức về sự khoan dung tôn giáo và mong muốn xây dựng chính quyền tự trị. Khi thời gian đã chín muồi để những người dân thuộc địa Mỹ tách khỏi nước Anh thì lúc đó họ đã xây dựng được luật và các tập quán công nhận quyền tự do ngôn luận, tự do hành đạo và tự do lập hội. Quyền kiến nghị chính phủ, quyền có bồi thẩm đoàn và có tiếng nói trong việc quản lý những vấn đề của chính họ là những quyền khác mà họ đã nuôi dưỡng, ấp ủ. Tât cả những quyền này là những giá trị trụ cột trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776, một đoạn sẽ được trích dưới đây. Tác giả chính của Tuyên ngôn Độc lập, Thomas Jefferson, sau này trở thành tổng thống thứ ba của nước Mỹ.
 “Sự thật hiển nhiên là mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo những quyền này, các chính phủ phải do dân bầu ra, quyền lực là quyền lực của nhân dân. Nếu chính phủ nào hủy hoại những mục tiêu này thì người dân có quyền thay đổi hoặc lật đổ chính phủ và hình thành nên chính phủ mới, dựa trên những nguyên tắc và tổ chức quyền lực theo hình thức mà người dân cho là chắc chắn sẽ đảm bảo được sự an toàn và hạnh phúc của họ.
Tuyên ngôn nhân quyền
Năm 1787, đại diện của 12 trong số 13 bang đầu tiên đã gặp nhau ở Philadelphia, bang Pennsylvania, để soạn thảo Hiến pháp Mỹ. Họ đã soạn thảo một văn kiện về nền dân chủ thỏa hiệp và đại diện, phù hợp với những thay đổi trong suốt hơn 200 năm. Rất nhiều người lúc đầu phản đối Hiến pháp mới. Họ chỉ chấp thuận văn kiện này nếu một loạt điều bổ sung đảm bảo các quyền tự do dân sự – những quyền tự do đã được quy định trong hầu hết hiến pháp các nước – được thêm vào Hiến pháp. Do vậy, 10 điều bổ sung dưới đây, được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền, đã được đưa vào Hiến pháp năm 1791. Kể từ khi Tuyên ngôn Nhân quyền được đưa ra, Hiến pháp Mỹ chỉ có thêm 17 điều sửa đổi bổ sung nữa.

Trong bức tranh này, Thomas Jefferson trình Tuyên ngôn Độc lập tại
Đại hội Lục địa. (Phòng In ấn và Ảnh, Thư viện Quốc hội Mỹ)
Điều bổ sung sửa đổi I - Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.
Điều bổ sung sửa đổi II - Xét thấy lực lượng dự bị có tổ chức nghiêm chỉnh là rất cần thiết cho nền an ninh của một quốc gia tự do, quyền của dân chúng được giữ và sử dụng vũ khí sẽ không bị vi phạm.
Điều bổ sung sửa đổi III - Không một quân nhân nào trong thời bình được đóng quân trong bất cứ nhà dân nào nếu không được sự đồng ý của chủ nhà, và ngay trong thời chiến cũng chỉ theo qui định của luật pháp.
Điều bổ sung sửa đổi IV - Quyền của con người được đảm bảo về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và bắt giam, quyền này sẽ không được vi phạm. Không một lệnh, trát nào được cấp nếu không có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận, đặc biệt cần miêu tả chính xác địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ.
Điều bổ sung sửa đổi V - Không một ai bị buộc phải chịu trách nhiệm về một tội nghiêm trọng hay một tội xấu xa khác nếu không có sự tường trình và cáo trạng của Bồi thẩm đoàn, trừ những trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân hoặc trong lực lượng dự bị, khi đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc trong tình trạng xã hội gặp hiểm nguy. Không một ai sẽ bị kết án hai lần về cùng một tội có nguy hại đến tính mạng và thân thể; không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại bản thân mình trong một vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản, nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng.
Điều bổ sung sửa đổi VI - Trong mọi trường hợp truy tố hình sự, bị cáo có quyền được xét xử một cách nhanh chóng và công khai bởi một Bồi thẩm đoàn công bằng của bang hoặc khu vực nơi tội trạng xảy ra, nơi đã được pháp luật chỉ định trước; bị cáo phải được thông báo về tính chất và lý do buộc tội, được đối chất với các nhân chứng chống lại mình, được quyền triệu tập những nhân chứng để biện minh và được sự giúp đỡ của luật sư bào chữa.
Điều bổ sung sửa đổi VII - Trong những vụ kiện tụng theo thông luật, nếu giá trị tranh chấp quá 20 đôla, thì quyền được xét xử bởi Bồi thẩm đoàn sẽ được tôn trọng và không một vụ việc nào đãđược Bồi thẩm đoàn xét xử lại phải xem xét lại lần nữa ở bất cứ tòa án nào của Hoa Kỳ, mà phải căn cứ theo các quy tắc của thông luật.
Điều bổ sung sửa đổi VIII - Không đòi hỏi những khoản tiền bảo lãnh quá cao, không áp đặt những khoản tiền phạt quá mức và không áp dụng những hình phạt dã man và khác thường.
Điều bổ sung sửa đổi IX - Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân.
Điều bổ sung sửa đổi thứ X - Những quyền lực không được Hiến pháp trao cho Liên bang và không bị ngăn cấm đối với các bang, thì thuộc về các bang cụ thể hoặc nhân dân.
Các vấn đề về nhân quyền
Dĩ nhiên trong di sản Mỹ cũng có những mảng tối. Chế độ nô lệ được chấp nhận ở các bang miền Nam trong suốt 75 năm đầu tiên của nền Cộng hòa Mỹ. Tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học, các khu công cộng và định kiến xã hội là những vấn đề nổi cộm trong suốt thế kỷ thứ hai. Người Mỹ bản địa bị buộc phải di chuyển về phía tây.

Tổng thống Abraham Lincoln tại chiến trường
Antietam năm 1862. Cuộc Nội chiến của Mỹ là
cuộc đọ sức giữa những người không sở hữu nô lệ
ở miền Bắc với những chủ nô ở miền Nam, cuộc
chiến này đã kết thúc vĩnh viễn chế độ nô lệ ở Bắc
Mỹ và đưa nhân quyền trở thành mối quan tâm
thường xuyên trong xã hội và văn hóa Mỹ.
(Phòng In ấn và Ảnh, Thư viện Quốc hội Mỹ)
Họ bị mất nhà cửa, đất đai và nhiều khi còn mất mạng. Phụ nữ không được quyền bầu cử, không được tham gia bồi thẩm đoàn, thậm chí không có quyền sở hữu tài sản trong vai trò người vợ. Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của nền dân chủ Mỹ là các cơ chế tự điều chỉnh bầu cử và các tòa án đều có xu hướng sửa chữa những sai lầm của những thời kỳ trước. Riêng ý tưởng bình đẳng cũng đã giúp giải quyết các tệ nạn xã hội.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã ủng hộ một số chế độ quân sự độc tài tàn bạo thông qua hỗ trợ tài chính và quân sự miễn là họ ủng hộ các lợi ích kinh tế và địa chính trị của Mỹ. Gần đây sau sự kiện 11/9, Mỹ bị chỉ trích về việc đối xử với những kẻ bị tình nghi khủng bố và một số vụ lạm dụng tù nhân của quân đội Mỹ trong chiến tranh I-rắc. Ranh giới các quyền trong các trường hợp xung đột liên quan đến khủng bố – những kẻ rút cục chỉ cố gắng để phá hoại quyền của mọi người – vẫn đang được tranh luận ở các xã hội văn minh.
Một số nhóm bày tỏ quan ngại về hình phạt tử hình, sự hiện diện pháp lý đầy đủ trong các vụ án tử hình, cũng như số lượng nam giới là người thiểu số bị tù vì các tội hình sự. Đã có các tranh luận về việc những người bị kết án sau khi mãn hạn tù bị tước quyền công dân, và có cả các cuộc thảo luận về những nhóm sắc tộc thiểu số. Một lần nữa người ta lại nhận thấy sức mạnh của một ý tưởng – ví dụ ý tưởng về sự bình đẳng – tạo ra một cuộc tranh luận không ngừng.
Những hành động tích cực
Mặc dù vậy, Mỹ cũng có nhiều thành tích về những hành động quốc tế tích cực nhân danh nhân quyền. Sau Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson đấu tranh cho quyền tự quyết dân tộc và bảo vệ người thiểu số của cộng đồng quốc tế. Sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, Mỹ đổ nhiều công sức, tiền của để duy trì và tái thiết nền dân chủ ở châu Âu và xây dựng nền dân chủ ở Nhật Bản. Mỹ đi tiên phong trong quá trình phi thực dân hóa, trao trả độc lập cho Phi-líp-pin năm 1946. Cùng với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, Mỹ nổi lên là nước đi đầu trong các sáng kiến đa phương về nhân đạo và nhân quyền ở Xô-ma-li, Su-đăng, Hai-i-ti, Bosnia và nhiều quốc gia khác.
Báo cáo Quốc hội
Theo luật, Bộ Ngoại giao Mỹ hàng năm phải trình lên Quốc hội một số báo cáo tổng hợp về tình hình nhân quyền như sau:
· Báo cáo tình hình nhân quyền các nước đánh giá chi tiết tình hình nhân quyền ở các nước trên thế giới.
· Ủng hộ Nhân quyền và Dân chủ mô tả những việc mà Chính phủ Mỹ đang làm để giải quyết các vụ vi phạm nhân quyền nêu trong báo cáo tình hình nhân quyền các nước.
· Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế đánh giá mức độ tự do hành đạo của người dân.
· Báo cáo về nạn Buôn người điều tra hình thức nô lệ thời hiện đại. Sau khi hoàn thiện, các báo cáo này được trình lên Quốc hội và đưa lên Internet phổ biến trên khắp thế giới.
Ở bên ngoài, việc Mỹ sẵn sàng hành động đơn phương và luôn cho mình là đúng đôi khi gây nên oán giận, ngay cả ở những nước chia sẻ những giá trị trụ cột trong các chính sách của Mỹ. Không khó để chỉ ra nơi mà những lý tưởng của Mỹ thất bại. Tuy nhiên, nước Mỹ ngày nay cũng như trong hai thế kỷ trước vẫn là nước lãnh đạo thế giới trong cuộc đấu tranh vì nhân quyền đang tiếp diễn. Mặc dù được chấp nhận rộng rãi, nhưng cuộc đấu tranh để thực hiện những ý tưởng đó vẫn đang diễn ra trên toàn cầu.
 GIÁM SÁT QUỐC TẾ VÀ CƠ CHẾ THỰC THI
ít nhất về mặt lý thuyết, các quốc gia ngày càng có trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế về tình hình nhân quyền của họ. Hơn 3/4 quốc gia trên thế giới đã phê chuẩn các Công ước Quốc tế về Nhân quyền. Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về các Quyền Dân sự và Chính trị đã thành lập một ủy ban giám sát gồm các chuyên gia độc lập – gọi là Ủy ban Nhân quyền. Chức năng chính của Ủy ban này là xem xét các báo cáo định kỳ mà các nước trình lên. Các ủy ban tương tự cũng đã được thành lập thông qua các Công ước Nhân quyền Quốc tế về phân biệt chủng tộc, quyền của phụ nữ, chống tra tấn, quyền trẻ em cũng như các Công ước mới về quyền của người tàn tật và lao động di cư.
Động lực cải thiện tình hình nhân quyền

Lễ khai mạc Hội thảo Nhân quyền
Thế giới của Liên Hợp Quốc tại
Viên, 1993. (Ảnh của AP)
Giám sát và báo cáo không thể buộc các quốc gia thay đổi thực tiễn nhân quyền của họ. Tuy nhiên, còn có những động lực khác đối với những nước muốn cải thiện hoặc bảo vệ thành tích nhân quyền của họ. Trong quá trình chuẩn bị báo cáo, họ có thể phát hiện ra những lĩnh vực cần phải được cải thiện. Điều này có thể là một nhắc nhở đối với các quan chức về nghĩa vụ pháp lý quốc tế của họ. Ủy ban Nhân quyền châu Âu thuộc Hội đồng châu Âu có một hệ thống khiếu nại rất mạnh. Ủy ban này sau đó chuyển thành Tòa án Nhân quyền châu Âu đã đưa ra những quyết định ràng buộc về pháp lý trong hàng trăm vụ kiện liên quan đến hàng loạt vấn đề, trong đó có những vấn đề nhạy cảm như tình trạng khẩn cấp. Trong hệ thống châu Âu, các quốc gia đã trao một phần thẩm quyền thực thi nhân quyền cho một cộng đồng chính trị khu vực lớn hơn.
Trong lĩnh vực này các tổ chức khu vực ở châu Mỹ và châu Phi không mấy thành công. Thế giới A-rập và châu Á vẫn chưa có các ủy ban nhân quyền khu vực, mặc dù Diễn đàn châu Á Thái Bình Dương được thành lập năm 1996 với sứ mệnh ủng hộ nỗ lực hợp tác khu vực để “thành lập và phát triển các thể chế quốc gia nhằm bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong khu vực”. Cũng đã có kế hoạch thành lập Ủy ban Nhân quyền ASEAN mới và một Tòa án Nhân quyền châu Phi mới. Sức mạnh và phạm vi áp dụng các biện pháp giám sát quốc tế phụ thuộc vào việc các nước sẵn sàng sử dụng và tham gia thực hiện các biện pháp đó. Tình trạng này vẫn là một vấn đề nghiêm trọng và dai dẳng.
Báo cáo điều tra và ủng hộ
Một loại hình cơ chế giám sát nhân quyền đa phương khác là báo cáo điều tra và ủng hộ. Đi tiên phong trong lĩnh vực này là Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ. Những báo cáo về Chi-lê của tổ chức này trong những năm 1970 và 1980 là một nhân tố quan trọng trong việc phơi bày những vụ vi phạm nhân quyền của chính phủ Pinochet. Báo cáo của tổ chức này về Nicaragua năm 1978 đã đóng góp quan trọng đưa chính phủ Somoza đến hồi kết.

Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây
Tạng, phát biểu tại Hội nghị Nhân quyền ở New
Đê-li, Ấn Độ. (Ảnh của AP)
Trong hai thập kỷ qua, Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã nỗ lực đáng kể trong việc nghiên cứu tình hình các nước, trong đó có những nước tình hình chính trị đáng quan tâm như Guatemala, I-ran và My-an-ma. Cụ thể, ủy ban đã hoạt động thông qua “báo cáo viên đặc biệt” – một chuyên gia độc lập kiêm điều tra viên. “Báo cáo viên đặc biệt” này bên cạnh nhiệm vụ việc báo cáo chính thức cho ủy ban còn cố gắng duy trì đối thoại liên tục với các chính phủ đang bị điều tra nhằm duy trì sự hiện diện lâu dài và thiết lập một kênh ảnh hưởng. Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc cũng cử ra các báo cáo viên hoặc thành lập các nhóm làm việc để điều tra các vụ mất tích, giết hại và giam giữ tuỳ tiện, không khoan dung tôn giáo, các vụ vi phạm nhân quyền vì toan tính vụ lợi và phân biệt chủng tộc. Năm 2006, Ủy ban Nhân quyền đã bị giải tán để thành lập một Hội đồng Nhân quyền nhỏ hơn. Hội đồng Nhân quyền mới này có sự khởi đầu đầy khó khăn. Hội đồng bị chỉ trích vì bỏ các báo cáo viên đặc biệt ở các nước như Belarus và Cuba mà không có lý do rõ ràng. Hơn nữa, Hội đồng còn duy trì tình trạng phân biệt đối xử khi xây dựng chương trình nghị sự lâu dài cho riêng một nước, đó là Israel liên quan tới tình hình Palestin. Cơ chế nhân quyền mới ở Geneva cũng khiến vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong các phiên họp chính thức của Hội đồng bị suy giảm và tiếp tục loại Israel ra khỏi bất cứ nhóm khu vực nào hoạt động ở Geneva. Cũng có hy vọng rằng cái gọi là “đánh giá định kỳ tình hình toàn cầu” có thể là một động lực để các thành viên Hội đồng để cải thiện thực tiễn nhân quyền của họ. Rõ ràng là uy tín đạo lý của mỗi cơ chế nhân quyền phần lớn phải phụ thuộc vào sự công bằng của nó.
CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VÀ CÁC QUỐC GIA: NHỮNG VAI TRÒ ĐỐI LẬP NHAU
Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ cũng rất quan trọng đối với nền chính trị nhân quyền quốc tế. Các tổ chức Ân xá Quốc tế, Americas Watch, Liên minh các quyền Tự do Dân sự Mỹ và một số tổ chức khác đóng vai trò quan trọng trong các cuộc tranh luận về chính sách Trung Mỹ những năm 1980. Ở cả Bắc Mỹ và châu Âu, các tổ chức phi chính phủ đóng một vai trò lớn trong các cuộc tranh luận quốc gia về lệnh cấm vận đối với Nam Phi trong những năm 1980.
Các tổ chức phi chính phủ – với tư cách tư nhân – có thể hoạt động mà không chịu sự kiểm soát chính trị của chính phủ. Hơn nữa, do không có những tham vọng chính trị lớn có thể xung đột với các mục tiêu nhân quyền nên các tổ chức phi chính phủ thường ở vị trí thuận lợi hơn khi nêu ra những quan ngại về nhân quyền. Do tính chất phi đảng phái và hoạt động có tiêu điểm, nên đôi khi các tổ chức phi chính phủ có thể nêu lên những vấn đề nhân quyền trong phạm vi một quốc gia mà các tổ chức khác không làm được, điển hình ở những quốc gia mà hoạt động chính trị độc
lập bị đàn áp và xã hội dân sự yếu.
Những điểm mạnh và yếu
Tuy nhiên, sức mạnh của các tổ chức phi chính phủ có giới hạn. Họ phải dựa vào sức mạnh của việc công khai các
vụ vi phạm và tính thuyết phục. Rất nhiều quốc gia đã sử dụng quyền hạn để ép thành viên các nhóm nhân quyền địa phương thành những nạn nhân mới. Một số quốc gia cấm tài trợ bên ngoài cho các tổ chức phi chính phủ, hoặc đặt ra những quy định đăng ký hoạt động phiền phức nhằm cản trở công việc của họ. Các quốc gia có chủ quyền có hầu hết những điểm mạnh và điểm yếu giống các tổ chức phi chính phủ. Các quốc gia phải điều hòa nhiều lợi ích khác nhau trong chính sách đối ngoại của họ. Các chính phủ có xu hướng xây dựng chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia của họ, và điều này có nghĩa là việc ủng hộ nhân quyền có thể bị hạn chế để ưu tiên cho các mục tiêu khác.Tuy nhiên, khi các quốc gia quyết định theo đuổi các mục tiêu nhân quyền, họ sẽ sở hữu các nguồn lực, các kênh ảnh hưởng lớn và cả khả năng công khai mà các tổ chức phi chính phủ không có.
NHỮNG PHÁT TRIỂN GẦN ĐÂY VỀ NHÂN QUYỀN
Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền ở Viên năm 1993 giúp thu hút lại sự quan tâm của quốc tế đối với vấn đề nhân quyền trên thế giới thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh. Việc Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thành lập các tòa án xét xử tội phạm chiến tranh ở Nam Tư cũ và Ru-an-đa năm 1993 và 1994 dẫn tới sự hình thành Luật về xung đột vũ trang và Luật nhân đạo quốc tế nhằm bảo vệ dân thường và những người không tham chiến trong các cuộc nội chiến này. Các tòa án đặc biệt cũng thành lập ở Sierra Leone năm 2002 và Căm-pu-chia năm 2003 để truy tố các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự vì những hành vi tàn bạo trong thời kỳ chiến tranh và diệt chủng. Mặc dù Mỹ không tham gia Hiệp ước Rome và tỏ ra e dè về phạm vi điều chỉnh của Hiệp ước, nhưng Tòa án Hình sự Quốc tế đã được thành lập năm 1998 theo Hiệp ước này và được Hội đồng Bảo an ủy nhiệm truy tố các vụ vi phạm nhân quyền trong cuộc xung đột Darfur, Su-đăng.

Tòa án hình sự của Liên Hợp Quốc xét xử vụ
Nam Tư cũ tại La Hay, 1995. (Ảnh của AP)
Hội nghị Phụ nữ Thế giới lần thứ 4 của Liên Hợp Quốc tại Bắc Kinh năm 1995 đã cố gắng đưa các vấn đề của phụ nữ vào nội dung chính của các cuộc thảo luận về nhân quyền quốc tế. Ngân hàng Thế giới với việc nhấn mạnh  “quản lý hiệu quả” đã nêu bật những vấn đề nhân quyền quan trọng.
Ủy ban châu Âu và Liên minh châu Âu nhấn mạnh quốc gia nào muốn gia nhập các cơ cấu chính trị của châu Âu đều phải có chính sách bảo vệ nhân quyền. Năm 2002, Mỹ đã thành lập Quỹ đối phó với các Thách thức Thiên niên kỷ nhằm hỗ trợ kinh tế cho các nước quản lý đất nước một cách dân chủ, đầu tư cho người dân và khuyến khích tự do kinh tế.
Công khai hóa các vụ vi phạm
Một phát triển tích cực khác nữa là cộng đồng quốc tế ngày càng tập trung lên án những kẻ vi phạm nhân quyền. Các tổ chức ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu đã tạo áp lực lớn khiến các quốc gia không thể không có trách nhiệm công khai về thực tiễn nhân quyền của họ. Chúng ta không nên đánh giá thấp giá trị của việc công khai các vụ vi phạm khiến các quốc gia phải thấy hổ thẹn mà có những hành vi tốt hơn. Ngay cả những chính phủ hà khắc cũng quan tâm đến uy tín quốc tế của họ.

Người dân đang đọc các quyền của họ trên
một tờ áp phích treo trên tường một công sở ở
Albani. (Fejzon Numani/OSCE)
Ví dụ, cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, chính quyền quân sự Argentina đã có những nỗ lực ngoại  giao đáng kể nhằm ngăn chặn các cuộc điều tra của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Hơn nữa, việc công khai các vụ vi phạm ít nhất cũng giúp được một vài trong số rất nhiều nạn nhân nổi bật bị đàn áp giành lại được một mức độ tự do nào đó, thậm chí đôi khi còn tránh được hình phạt. Internet tạo điều kiện dễ dàng hơn để các nhóm nhân quyền liên kết với nhau và công khai hóa các vụ vi phạm nhân quyền. Những kỳ vọng và các chuẩn mực quốc gia và quốc tế đang được thay đổi theo hướng tốt hơn. Trong thế giới ngày nay, ý tưởng nhân quyền có sức mạnh đạo lý và khả năng huy động khó có thể kháng cự được. Và khi ngày càng nhiều người dân trên thế giới ý thức được bản thân họ có những quyền bất khả xâm phạm, thì đòi hỏi về nhân quyền khiến những kẻ độc tài phải trốn chạy, còn chính phủ của họ sẽ tan thành mây khói. Về ngắn hạn, thanh gươm có thể mạnh hơn lời nói. Nhưng nhiệm vụ của những người ủng hộ nhân quyền – dù ở bất cứ đâu – là một nhiệm vụ lâu dài và cao cả, đó là nói lên sự thật. Và một trong những bài học tâm huyết nhất trong lịch sử hiện đại của chúng ta là sự thật sẽ chiến thắng.

Trung tâm Hoa Kỳ
Phòng Thông tin-Văn hóa, Đại sứ quán Hoa Kỳ
Tầng 1, Rose Garden Tower, 170 Ngọc Khánh, Hà Nội
Tel: (04) 3850-5000; Fax: (04) 3850-5048; Email: HanoiAC@state.gov

http://vietnamhumanrightscommitte.wordpress.com/nhan-quyen-la-gi/

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Tự do của mỗi người là điều kiện đảm bảo cho tự do của mọi người

Tự do của mỗi người là điều kiện đảm bảo cho tự do của mọi người PDF In E-mail

Nguyễn Văn Trọng

Diễn từ nhận giải thưởng Sách Hay 2012

Tôi thật bất ngờ và vinh dự được Ban xét giải thưởng Sách Hay trao giải nghiên cứu năm 2012 cho tôi như người đã dịch tác phẩm Bàn về tự do của John Stuart Mill. Tôi xin chân thành cảm ơn về đánh giá khích lệ này cho công việc của tôi.
Tôi vốn không phải là người được đào tạo bài bản về khoa học xã hội và nhân văn, nhưng trong tư cách là một con người sống trong xã hội, tôi luôn băn khoăn với một số câu hỏi nhân sinh; những câu hỏi ấy thôi thúc tôi tìm lời giải đáp cho chính mình. Thế hệ chúng tôi lớn lên trong những biến động lịch sử to lớn của dân tộc, dưới ảnh hưởng tinh thần của những khẩu hiệu đến từ cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Tình anh em; chúng tôi luôn được giáo dục phải dấn thân vì xã hội. Thực tiễn cuộc sống cho tôi thấy rằng, tập thể đông người không phải lúc nào cũng có ý kiến đúng đắn và thường có thái độ chuyên chế áp đặt đối với cá nhân trong tất cả mọi chuyện.
Trong lòng tôi xuất hiện câu hỏi: có ranh giới chuẩn mực nào cho việc áp đặt ý kiến của số đông với cá nhân để cho việc áp đặt ấy là chính đáng. Công việc nghề nghiệp và cuộc sống bề bộn đã không cho tôi có điều kiện thư thả để tìm hiểu chuyện này. Mãi đến tuổi về hưu tôi mới được đọc tuyệt tác Bàn về tự do của John Stuart Mill. Cuốn sách đã gây ấn tượng rất mạnh cho tôi. Vào lúc đó trình độ tiếng Anh của tôi còn khá thấp, nhưng tôi cũng bắt tay vào việc dịch những trích đoạn ấn tượng nhất và giới thiệu với bạn bè. Một người bạn của tôi, ông Chu Hảo, là người đã khích lệ tôi dịch toàn bộ tác phẩm. Sau khi ông Chu Hảo trở thành Giám đốc NXB Tri Thức, ông cùng với các cộng sự của mình đã giúp tôi hoàn tất bản dịch và cho xuất bản cuốn sách.
Tác phẩm Bàn về tự do đã đưa ra lời giải đáp khá thỏa đáng về ranh giới chính đáng cho sự áp đặt của xã hội lên tự do cá nhân: vì sự an toàn cho xã hội, con người cá nhân phải giao nộp một phần tự do của mình; thế nhưng con người cá nhân không thể giao nộp toàn bộ tự do của mình vì như thế con người cá nhân tất yếu sẽ tha hóa, và xã hội sẽ phải chịu tổn thất vì sự tha hóa của các thành viên của nó. Tự do như thế của cá nhân trong quan hệ với xã hội thường được gọi là tự do dân sự. Mặc dù vấn đề tự do dân sự đã được J.S. Mill làm sáng tỏ từ trước đây một thế kỷ rưỡi, nhưng cho đến nay tự do dân sự vẫn chưa thành hiện thực trong đại đa số các xã hội con người. Có những nguyên nhân lịch sử khiến cho sự phát triển của các xã hội không đồng đều. Người ta bàn luận rất nhiều về những nguyên nhân ngoại tại tác động không thuận lợi cho sự phát triển con người cá nhân, khiến cho mức độ phát triển tinh thần chung của xã hội phải thấp kém. Người ta nói nhiều đến ảnh hưởng quyết định của môi trường xã hội đến con người cá nhân. Những ảnh hưởng của môi trường xã hội đến thế giới tinh thần của con người cá nhân không nhất thiết mang tính bạo lực và cưỡng bức, mà thường là dưới dạng thức của những cám dỗ: cám dỗ vươn tới quyền lực và hùng mạnh, cám dỗ đầy uy lực của đồng tiền, cám dỗ của danh tiếng… Trong lòng tôi lại xuất hiện câu hỏi: liệu ảnh hưởng môi trường xã hội đến con người cá nhân có thật là mang tính quyết định hay không? Nếu ảnh hưởng ấy không mang tính quyết định, thì con người cá nhân có những khả năng gì để chống trả lại những ảnh hưởng tiêu cực đến từ bên ngoài, đặng bảo vệ phẩm giá con người của mình? Nhà tư tưởng Nga Herzen đã khẳng định: “Tính độc lập về nhân cách của con người cũng là chân lý và thực tại hiển nhiên, không khác gì sự phụ thuộc của con người vào môi trường, với sự khác biệt là nó ở trong quan hệ ngược lại với môi trường: càng nhiều ý thức thì tính độc đáo càng lớn; càng kém ý thức thì sự ràng buộc với môi trường càng chặt chẽ hơn, môi trường càng nuốt mất bản ngã nhiều hơn”. Vậy là ở đây đặt ra vấn đề con người cá nhân phải bảo vệ tự do của bản ngã chống lại những cám dỗ ngoài xã hội để giữ được phẩm giá của mình. Tự do ở đây không có ý nghĩa như một quyền cần phải giành lấy, mà lại có ý nghĩa như một trách nhiệm trước bản thân mình, đòi hỏi con người cá nhân phải có dũng khí nhận lấy trách nhiệm ấy. Cần phải có dũng khí bởi vì tự do với cám dỗ thì rất khó khăn, còn chịu khuất phục làm nô lệ cho cám dỗ thì dễ dàng hơn, ít đau đớn hơn nhiều. Ở đây tôi đang nói tới một thứ tự do khác với tự do dân sự, tự do này được các triết gia tôn giáo Nga đầu thế kỷ XX gọi là tự do lương tâm.
Tự do lương tâm có lẽ gắn với phong trào Phục hưng được thể hiện trong “Diễn từ về phẩm giá con người” của triết gia Ý Pico della Mirandola (1463-1494) vốn được coi là tuyên ngôn của chủ nghĩa nhân văn. Ông đã diễn giải ý nghĩa của việc Thượng đế tạo ra con người như sau: “Ta đặt Mi giữa thế gian, để cho Mi có thể tự do nhìn ra khắp mọi phía của thế giới và nhìn đi đâu tùy ý của Mi. Ta tạo ra mi không phải trần tục, không phải thượng giới, không phải loài có sinh có tử, không phải bất tử. Bởi vì Mi tự Bản thân mình, phù hợp theo ý chí của Bản thân mình và theo danh dự, có thể là Đấng sáng tạo và Người tạo tác của chính mình và từ vật liệu thích hợp cho Mi mà hình thành nên Bản thân mình. Như vậy, Mi tự do trong việc đi xuống thấp tới những thang bậc thấp kém nhất của thế giới thú vật, thế nhưng Mi cũng có thể nâng cao Bản thân mình lên tới phạm vi cao cả nhất của Thần thánh“.
Trong tác phẩm Anh em nhà Caramazov, đại văn hào Nga Dostoevski đã dựng nên câu chuyện Viên Đại pháp quan tôn giáo ra lệnh bắt giam Chúa Kitô khi Ngài xuất hiện trở lại trên thế gian. Viên Đại pháp quan đã chất vấn Chúa: Chúa đã hứa hẹn với người đời thứ tự do mà người đời chất phác và bẩm tính càn rỡ không thể hiểu nổi… Con người quý trọng sự yên ổn và thậm chí cả cái chết hơn là tự do lựa chọn trong sự nhận thức thiện ác. Đối với con người không có gì hấp dẫn hơn tự do lương tâm, nhưng cũng không có gì khổ ải hơn. Con người yếu đuối sẽ không kham nổi sức nặng khủng khiếp của tự do lựa chọn, họ sẽ đi tìm ai đó có phép lạ để trút bỏ gánh nặng tự do lựa chọn ấy mà làm nô lệ cho kẻ đó. Có thể có mấy chục ngàn người theo Chúa vì bánh mì trời, nhưng còn có hàng chục triệu người khác không đủ can đảm coi rẻ bánh mì trần thế; những người này sẽ mang tự do của họ đặt dưới chân chúng tôi và nói: “Chẳng thà biến chúng tôi thành nô lệ, nhưng cho chúng tôi ăn còn hơn”. Viên Đại pháp quan yêu cầu Chúa đi khỏi thế gian, đừng gây phiền nhiễu nữa.
Triết gia Nga N. Berdyaev trong tác phẩm Bàn về nô lệ và tự do của con người đã diễn giải ẩn dụ trên của Dostoevsky như sau: “Hai vấn đề nằm trong cơ sở của đời sống xã hội và không có gì khó khăn hơn việc giải quyết chúng cho thật hài hòa – vấn đề tự do và vấn đề bánh mì. Có thể giải quyết được vấn đề tự do bằng cách tước mất bánh mì của con người. Một trong những quyến rũ mà đức Kitô bác bỏ ở sa mạc, là quyến rũ biến những hòn đá thành bánh mì. Ở đây bánh mì biến thành sự nô dịch con người. Tất cả ba quyến rũ mà đức Kitô bác bỏ, đều nô dịch con người. Dostoevsky diễn đạt một cách thiên tài điều này trong Huyền thoại về viên Đại pháp quan. Nhưng sẽ là trá ngụy nếu diễn giải huyền thoại ấy như vấn đề bánh mì không có lời giải đáp tích cực và đành phải chỉ có được tự do thôi mà không có bánh mì. Người ta nô dịch con người bằng cách tước đoạt bánh mì của họ. Bánh mì là biểu tượng vĩ đại, và gắn với nó là đề tài xã hội chủ nghĩa, đề tài mang tính toàn thế giới. Con người không được trở thành kẻ nô lệ của “bánh mì”, không được vì “bánh mì” mà giao nộp tự do của mình“. Ông còn nói: “Cuộc đấu tranh vì bản diện cá nhân, sự khẳng định bản diện cá nhân là đầy đau đớn. Tự thực hiện bản diện cá nhân giả định một sự kháng cự lại, đòi hỏi đấu tranh chống lại quyền lực nô dịch của thế gian, đòi hỏi không chấp nhận thói thụ động thích ứng theo. Việc từ bỏ bản diện cá nhân, việc chấp thuận hòa tan vào thế giới xung quanh có thể làm giảm bớt nỗi đau và con người dễ dàng đi theo lối đó. Chấp thuận làm nô lệ sẽ giảm bớt nỗi đau, không chấp thuận sẽ gia tăng nỗi đau. Nỗi đau trong thế giới con người là sự khai sinh của bản diện cá nhân, là sự khai sinh cuộc đấu tranh vì hình tượng của nó. Ngay tính cá thể trong thế giới động vật đã biết đau đớn rồi. Tự do sinh ra đau khổ. Có thể giảm bớt đau khổ bằng cách chối bỏ tự do. Phẩm giá con người, tức là bản diện cá nhân, tức là tự do, đòi hỏi chấp nhận đau đớn, đòi hỏi khả năng chịu đựng nỗi đau“.
Đến lúc này tôi mới hiểu được câu danh ngôn của Marx: “Tự do của mỗi người là điều kiện đảm bảo cho tự do của mọi người“.
Tôi xin kết thúc ở đây. Cảm ơn quý vị đã cho tôi cơ hội được nói ra những điều này.
N.V.T.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Tìm một định nghĩa về quyền con người

Cho đến nay, chúng ta phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học “kinh điển” nào về quyền con người.


Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ,Rútxô… và sau này Mác, Engen, Lênin cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác.
Chúng ta thường chỉ thấy các định nghĩa kiểu như “quyền cái người là quyền…“. Chẳng hạn, Lốccơ nói : “quyền tự nhiên của con người là quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu. Hiến pháp 1791 của Pháp viết : quyền con người – đó là “ quyền tự do, sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức“. Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ 1776 viết: quyền con người – đó là “các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Cho đến nay, từ Đông sang Tây đã có rất nhiều định nghĩa về quyền con người. Có những định nghĩa liệt kê quyền con người bao gồm những quyền a, b, c… nào đó. Có những định nghĩa rất khái quát, chẳng hạn, học giả Trung Quốc Đồng Vân Hồ quan niệm: “có thể nói gọn lại, nhân quyền là quyền tồn tại, phát triển một cách tự do, bình đắng(1).
Nhìn lại quá khứ và hiện tại, các quan điểm về quyền con người thưởng đi theo những khuynh hướng sau:
* Khuynh hướng “quyền tự nhiên”:
Những tư tưởng về quyền “tự nhiên”, “trời phú” cho con người ngay từ khi con người xuất hiện đã có từ thời cổ đại. Ở Trung Quốc, Mặc Tử (479-381 trước Công nguyên) đã cho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người đó là “ý trời”. Theo đó, mỗi người đều có quyền tham gia công việc nhả nước tuỳ theo đạo đức và tài năng của họ, chứ không phải do dòng dõi quyết định. Cũng như vậy, mỗi người đều có các quyền giống nhau và đều bị trừng phạt nếu phạm tội. Ở Hy lạp cổ đại, các nhà triết học nguỵ biện như Ăngtiphôn, Ankiđan cũng có những tư tưởng tương tự. Ở châu Âu, kể từ thời Phục hưng trở đi, tư tưởng về quyền tự nhiên ngày càng trở nên phổ biến. Những đại biểu xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô (Pháp), Xpinôda (Hà lan), I. Can tơ, Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxơn (Mỹ)… Những điều viết về quyền con người trong Hiến pháp 1791 của Pháp, Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ đều theo quan điểm quyền tự nhiên. Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng. Nó là tư tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng (xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến sau này). Vì thế, không chỉ trong quá khứ, mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa nhất định.
Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách là sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên. Nhưng nhược điểm của nó là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do đó, không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người.
* Khuynh hướng ‘thực định”:
Trái với khuynh hướng quyền tự nhiên, – khuynh hướng không đề ý đến mặt pháp luật và nhà nước của quyền con người, khuynh hướng thực định lại coi quyền con người là tất cả những gì mà nhà nước thông qua pháp luật để quy định cho cá nhân. Chỉ những gì pháp luật cho phép tự do làm hay không làm thì mới là quyền con người, và chỉ được coi là quyền con người khi một hành vi hay một yêu cầu của cá nhân là hợp pháp.
Khuynh hướng thực định có điểm hợp lý là đã gắn quyền con người với pháp luật, với ý chí mà nhà nước (mà điều này thì không thể bỏ qua được, vì quyển con người tất nhiên phải tồn tại dưới hình thức pháp luật).
Nhưng, nó cũng có nhược điểm ở chỗ, chỉ coi ý chí nhà nước là nguồn gốc của quyền con người , coi trọng tính hợp pháp của quyền, song lại không để ý đến tính hợp lý của nó, – cái mà nhờ đó, ngay cả những đòi hỏi, những nhu cầu hợp lý cho cuộc sống (nhưng chưa được pháp luật ghi nhận) cũng phải được coi là quyền con người. Do đó, không thể coi quyền con người chỉ là cái được phép làm, được hưởng theo pháp luật, mà còn cả cái đáng được làm, đáng được hưởng (những cái chưa được pháp luật khẳng định, nhưng sẽ phải khẳng định).
* Khuynh hướng “kinh tế”:
coi quyền con người là những quyền nảy sinh từ nhu cầu của sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, khuynh hướng này coi nguồn gốc của quyền con người là kinh tế. Không phải “trời phú” tự nhiên, cũng không phải do nhà nước ban phát, mà chính đời sống kinh tế của con người trao cho con người các quyền. Tác giả người Trung Quốc- Từ Sùng Ôn viết: “nhân quyền, suy cho cùng bắt nguồn từ điều kiện kinh tế-xã hội, phản ánh lợi ích cơ bản của một giai cấp nhất định” (2).
Khuynh hướng kinh tế có điểm hợp lý ở chỗ, nó cho thấy nguồn gốc của quyền con người là bản thân đời sống xã hội của con người. Nó tước bỏ cái vỏ “thần thánh”, “tự nhiên”, không giải thích được của quyền con người, trả quyền con người về với đời sống thực tại của con người. Theo khuynh hướng này, có thể đi đến quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề quyền con người. Nó cũng cho thấy tính giai cấp trong những đòi hỏi về quyền con người.
Song, sẽ là không đầy đủ nếu coi quyền con người chỉ có nguồn gốc kinh tế. Quyền con người còn bao hàm những yêu cầu về danh dự, nhân phẩm, về đời sống tinh thần, tình cảm của con người…, nghĩa là những điều nằm ngoài phạm trù kinh tế.
* Khuynh hướng “quan niệm”:
cho rằng quyền con người là tất cả những gì mà con người cho là cần thiết và có giá trị đối với cuộc sống con người, như thế quyền lợi, nhu cầu, lợi ích và những giá trị tinh thần đều có thể trở thành quyền con người nếu như người ta quan niệm như vậy.
Đề cập tới mặt chủ quan, khía cạnh giá trị của quyền con người là điều cần thiết. Bởi, khác với các quan hệ xã hội hiện thực luôn hiện ra trước nhận thức con người như cái gì đó độc lập, khách quan không tuỳ thuộc vào quan niệm có trước, quyền con người trước khi trở thành hiện thực, thành nguyên tắc mà quan hệ giữa người với người, giữa nhà nước và cá nhân phải tuân theo, phải trở thành quan niệm của chính con người, nghĩa là được con người coi là cái thiết yếu, cái cần phải như vậy – cần cho sự tồn tại, sự phát triển toàn diện của con người không chỉ về đời sống vật chất và cả về đời sống tinh thần nữa. Trong thực tế, quyền con người luôn gắn với quan niệm chủ quan, với các giá tự như vậy, cho nên, một mặt, chúng ta phải thừa nhận những quan niệm mang tính dân tộc về quyền con người, và mặt khác , nhiều khi chúng ta phải đối mặt với tình trạng là đôi khi nhân danh quyền con người, các cá nhân, các nhóm người, vì lợi ích riêng của mình đã đưa ra những đòi hỏi vô lý, trái với lợi ích chung của cả cộng đồng người. Do đó, vấn đề quyền con người thường trở thành vấn đề gây tranh cãi trên trường quốc tế, nhất là khi nó được lồng vào một động cơ chính trị nào đó.
Tóm lại, quyền con người là vấn đề phức tạp đa nghĩa, chứa đựng những mặt đối lập, mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau. Đó là các mặt khách quan và chủ quan, tự nhiên và xã hội, kinh tế và tinh thần, văn hoá và chính trị, đạo lý và luật pháp. Nó cũng là sự kết hợp giữa các yếu tố quốc tế và dân tộc, giai cấp và nhân loại, v.v… Khi xem xét quyền con người, chúng ta phải phân biệt rõ bản chất và hiện tượng nội dung và hình thức, nguồn gốc và sự phát triển của nó.
Xuất phát từ tất cả những khía cạnh đó, có thể nói rằng quyền con người chẳng qua là sự tự ý thức của con người về những giá trị, những nhu cầu sống cơ bản, phù hợp với trình độ phát triển mang tính thời đại của xã hội loài người.
Nói về quyền con người cần phải đề cập đến hai vấn đề cơ bản sau đây:
- Vấn đề tự do. Người ta thường đồng nhất quyền con người với tự do cá nhân và ngược lại. Một nhà lý luận hiện đại người Pháp, ông Morangie khẳng định: về một số mặt, hai từ này là hai từ đồng nghĩa”. Nani Palkhivala, luật sư cao cấp, người Ấn Độ cũng khẳng định: “Nhân quyền có thể tóm gọn trong một từ – TỰ DO” (3).
Trên thực tế, khi người ta đấu tranh vì quyền con người cũng tức là đấu tranh cho tự do của con người. Và ngược lại khi đấu tranh cho tự do cũng chính là đấu tranh cho quyền con người. Tất nhiên, cần phải hiểu tự do ở đây là tự do chân chính. Song, thế nào là tự do chân chính? Để trả lời câu hỏi đó phải xem xét vấn đề một cách cụ thể, trong hoàn cảnh cụ thể. Trước hết, đó là sự tự do trong xã hội, gắn với một xã hội cụ thể mà người ta đang sống. Do đó, những hành vi chạy theo dục vọng và nhu cầu bản năng, động vật, bất chấp nội quy tắc xã hội, không thể là tự do chân chính. Sau nữa, chỉ là tự do khi tự do của người này không xâm phạm đến tự do của người khác. Điều 4 trong Hiến pháp 1791 của Cộng hoà Pháp có ghi : “Tự do là có thể làm mọi cái không hại cho người khác. Cho nên, việc thực hiện các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ có giới hạn là việc bảo đảm cho những thành viên khác của xã hội cũng được hưởng chính những quyền ấy”.
Trong bất kỳ xã hội nào cũng vậy, muốn có tự do chân chính cho mỗi cá nhân, nghĩa là bảo đảm quyền con người cho mỗi con người, cần phải có hai tiền đề.
Thứ nhất, pháp luật, các quy tắc chung của xã hội phải là sản phẩm, là sự thể hiện ý chí chung của xã hội. Chỉ có như thế nó mới xứng đáng là “Kinh thánh của tự do của nhân dân”(4).
Thứ hai, mỗi cá nhân phải nhận thức được pháp luật hay nói cách khác là nhận thức được những “tất yếu xã hội” quy định trong luật pháp, và điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với những quy định đó.
- Nhu cầu của cuộc sống cần được đáp ứng.
Tự do là một nhu cầu thiết yếu, đặc trưng của con người. Song, con người không chỉ có nhu cầu duy nhất là tự do, mà còn có các nhu cầu vật chất và tinh thần khác nữa.
Người ta thường nói thế hệ thứ nhất của quyền con người là các quyền trước cá nhân, tức là các quyền dân sự, chính trị. Điều này là đúng, bởi các câu khẩu hiệu về quyền con người trong giai đoạn đầu gắn liền với thời đại cách mạng tư sản. Trong cuộc cách mạng tư sản đó, giai cấp tư sản khi giương cao ngọn cờ quyền con người trước giai cấp phong kiến đang thống trị, đã kế thừa những tư tưởng tiến bộ về quyền con người của các thời đại trước và luôn đề cao chính những đòi hỏi về tự do xuất phát từ địa vị kinh tế và chính trị của nó. Đó là những quyền tự do cá nhân, đặc biệt là các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội, biểu tình, quyền bầu cử, ứng cử, v.v… Đó là những quyền hợp thành vũ khí sắc bén của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh quyền lực với giai cấp phong kiến.
Vì thế, ngày nay, khi nói đến quyền con người, nhiều người đã chỉ nói đến các quyền này, coi chúng là tất cả. Điều đó chưa thật đầy đủ. Cần phải thấy rằng giai cấp tư sản khi nêu lên ngọn cờ quyền con người đã là chủ sở hữu lực lượng sản xuất của xã hội, đã là người có sức mạnh kinh tế thực sự, đối với nó, các nhu cầu vật chất và tinh thần của cuộc sống đã được thoả mãn, và do đó nó chỉ còn thiếu quyền lực chính trị. Song, theo quan điểm duy vật về lịch sử, thì trước khi làm chính trị, tôn giáo nghệ thuật, khoa học, người ta phải ăn, mặc, ở…, nghĩa là phải tồn tại đã, phải được thoả mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Mà điều này lại chính là vấn đề quan tâm của đa số thành viên trong xã hội. Bởi vậy, cần phải khẳng định rằng việc thoả mãn các nhu cầu của cuộc sống không chỉ thuộc quyền chủ động của mỗi cá nhân, nghĩa là thuộc phạm vi các quyền tự do cá nhân, mà còn thuộc phạm vi nghĩa vụ của xã hội, của nhà nước đối với mỗi người. Do đó, có thể nói rằng quyền con người chính là sự đáp ứng các nhu cầu của cuộc sông con người. Với quan niệm này, các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá cũng là những quyền con người. Chúng hợp thành nội dung không thể bỏ qua được của quyền con người và có tầm quan trọng không kém các quyền dân sự, chính trị. Tiếc rằng, trong cuộc đấu tranh tư tưởng về quyền con người trên phạm vi quốc tế hiện nay, không phải ai cũng nhận thức rõ điều này.
Tóm lại, xuất phát từ góc độ triết học và căn cứ vào những vấn đề cơ bản của quyền con người, có thể định nghĩa: quyền con người là những đòi hỏi chính đáng về tự do và những nhu cầu cuộc sống cơ bản cần được đáp ứng của con người.
______________________________
(1) Đồng Vân Hồ. Nguồn gốc của khái niệm nhân quyền và diễn biến lịch sử của nó. Tạp chí “Thế giới tri thức” (Trung Quốc), số 13-1992.
(2) Từ Sùng Ôn. Về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề nhân quyền. Tạp chí “Nghiên cứu triết học (Trung Quốc), số 12-1992.
(3) Quyền con người trong thế giới hiện đại. Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr.284.
(4) C.Mác, F. Engen. Toàn tập, t.I. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978, tr.85
Theo TẠP CHÍ TRIẾT HỌC

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Nữ Giới Quyền hay Thế Đứng của Người Đàn Bà trong Xã Hội và Trước Luật Pháp — Women’ s Social Status & Rights

ABSTRACT: Women’ s Social Status & Rights
For twenty five centuries, women were not treated as equal to men. Gender inequality refers to unequal treatments or perceptions of individuals based on their gender. 
1. The status of women in ancient times was low:
  • Custom of foot binding/Confucian triple submission of women to the father, husband & son in ancient China.  Girls are still undervalued in Communist China.
  • Women were not eligible for full citizenship in ancient Athens, had no legal personhood and were assumed to be part of the oikos [household] headed by the male kyrios [male supreme headship].
  • Plato believed that extending civil and political rights to women would substantively alter the nature of the household and the state.
  • Ancient Roman society was patriarcal: women could not vote and hold public office…
2. In Europe of “Renaissance”, “Enlightenment” and “Revolutionary” times, married women still suffered from restrictions on their legal capacity:
  • Developing the theory of natural rights in reference to ancient philosophers such as Aristotle and the Christian theologist Aquinas, 17th century natural law philosophers defended slavery and an inferior status of women in law.
  • Jean-Jacques Rousseau, author of Du Contrat Social,… Émile, believed that it was the order of nature for woman to obey men: under man-made laws, woman is “our inferior”.
  • With regard to family, the Napoleonic Code established the supremacy of the man over the wife and children, which was the general legal situation in Europe at the time. A woman was given fewer rights than a minor.  
  • En 1804, le Code Napoléon affirme l’incapacité juridique totale de la femme mariée:
    • Interdiction d’accès aux lycées et aux Universités
    • Interdiction de signer un contrat, de gérer ses biens
    • Exclusion totale des droits politiques
    • Interdiction de travailler sans l’autorisation du mari
    • Interdiction de toucher elle-même son salaire
    • Contrôle du mari sur la correspondance et les relations
    • Interdiction de voyager à l’étranger sans autorisation
    • Répression très dure de l’adultère pour les femmes
    • Les filles-mères et les enfants naturels n’ont aucun droit
  • In his 1869 essay The Subjection of Women, John Stuart Mill described the situation for women in Britain as follows: “We are continually told that civilization and Christianity have restored to the woman her just rights. Meanwhile the wife is the actual bondservant of her husband; no less so, as far as the legal obligation goes, than slaves commonly so called.”
3. Women’ s Rights, Rights of women and Female Citizen constitute a recent “opportunity” and a newly “acquired” condition of the women, including:
  • Declaration of the Rights of Woman and the Female Citizen [Olympe de Gouges];
  • Women have the right to vote [Women Suffrage] in Australia [1902] Canada and Sweden (1918); Germany and Luxembourg (1919); the United States (1920); Spain [1931], France [1944],  Switzerland 1971; India [1935], Japan (1945), China (1947) and Indonesia (1955).
4. Modern movements & Women’s rights
  • Equal employment rights for women [equal pay for equal work bill/Equal Pay Act, Equal Opportunities Commission] 
  • In the USA, the National Organization for Women (NOW), created in 1966, fought for Equal Rights Amendment (ERA), equality for all women. 
  • Birth control and reproductive rights [voluntary motherhood for women's emancipation/rights to contraception and abortion, with an increasing emphasis on "choice"].
  • United Nations and World Conferences on Women [World Conference of the International Women's Year in Mexico City/International Women's Year [1975], Fourth World Conference on Women in Beijing [1995]; UN Women [2010] with Division for the Advancement of Women, Office of the Special Adviser or Gender Issues Advancement of Women and United Nations Development Fund for Women.
  • Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against Women [The Universal Declaration of Human Rights, adopted in 1948, enshrines "the equal rights of men and women", and addressed both the equality and equity issues].
The Convention defines discrimination against women in the following terms:
“Any distinction, exclusion or restriction made on the basis of sex which has the effect or purpose of impairing or nullifying the recognition, enjoyment or exercise by women, irrespective of their marital status, on a basis of equality of men and women, of human rights and fundamental freedoms in the political, economic, social, cultural, civil or any other field”.
1. Nhận Định Căn Bản
Nữ giới quyền là những đặc quyền[1] và những quyền tự do[2] mà nữ giới, đàn bà và con gái ở mọi tuổi tác, thường đòi hỏi và được bảo đảm trong một số quốc gia.  Căn bản là tại đó, nữ giới được công nhận bình quyền[3] với nam giới trước pháp luật và trong xã hội.
Trên thế giới, có chỗ nữ giới quyền đã được định chế hoá, hoặc được thực hiện bằng luật pháp, hay bằng tập tục trong khi tại nơi khác thì những quyền này không được biết đến hay bị khước từ.  Trong những trường hợp đó, nữ quyền đã bị lấn át bởi những đặc quyền dành cho nam giới, qua lịch sử và truyền thống địa phương.[4]
Những vấn đề liên quan tới nữ giới quyền bao gồm:
  • Tính toàn vẹn và độc lập của cơ thể người đàn bà;
  • Quyền bầu cử, ứng cử; Quyền tham chính;
  • Quyền thờ phụng, tôn giáo;
  • Quyền bình đẳng làm việc; Công bằng về lương bổng;
  • Quyền sở hữu; Quyền kết ước;
  • Quyền học vấn; Quyền quân dịch;
  • Quyền phối ngẫu và phụ huynh.[5] 
2. Lịch Trình Tiến Hoá của Nữ Giới Quyền Trên Thế Giới
Tại Trung Quốc
Nạn “bó chân” của nữ giới thượng lưu Trung Hoa trong thế kỷ 19 khiến người đàn bà giầu có trở thành nạn nhân tàn phế không có “thế đứng” trong một xã hội cổ hủ, trọng nam khinh nữ. Hậu quả là nữ giới bị “bó chân” theo truyền thống kỳ thị giới tính đã trở thành những kẻ khuyết tật văn hoá để sát nhập thành tài sản và danh dự gia tộc, an phận với những hạn chế về quyền sinh hoạt thông thường của con người, dù họ đang ở những địa vị cao sang trong xã hội.
Confucius
Khổng Tử/Confucius [551–479 BC] &  Phật/Buddha [563 BC-483 BC]
Hiện tượng trên phần nào bắt nguồn từ truyền thống Khổng giáo, với chỉ thị Tam Tòng – Tại gia tòng phụ (Ở nhà, thờ cha); Xuất giá tòng phu (Về nhà chồng, thờ chồng); Phu tử tòng tử (Chồng chết, ở vậy nuôi dưỡng con).
Truyền thống và tư tưởng Khổng giáo trọng nam kinh nữ vẫn còn duy trì tại Trung Quốc tới ngày nay. Với lệnh hạn chế sinh sản, nữ giới bị loại bỏ ngay từ giai đoạn sơ sinh nên trở thành khan hiếm, khiến người đàn ông Trung Hoa giữ ưu thế trong môi trường làm việc, quản trị, tham chính và tất nhiên phải ra nước ngoài lấy vợ.
Nữ giới còn lại thường bị phân chia, kỳ thị, đối mặt với những công tác nội trợ, ruộng nương, nên đa số còn ứ đọng trong vùng đồng quê, xa lánh các công trường kỹ nghệ, xây cất, phát triển nơi thị thành, dành ưu tiên cho nam giới.
Hầu như nữ giới Trung Hoa không hề được bình quyền với nam giới về công ăn việc làm, lương bổng và các quyền lợi phụ cấp liên hệ.
Tại Việt Nam
Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hoá trọng nam khinh nữ của Hán tộc, nên dù có phát động những cải cách về mặt pháp lý mị dân, trên thực tế, tình trạng bất bình đẳng của nữ giới trong xã hội Việt vẫn còn tồn tại trong khu vực đồng quê, cổ hủ.  Nữ giới Việt vẫn bị kỳ thị tại môi trường sinh hoạt thị trấn, giáo dục, giải trí, quản trị, kỹ nghệ, tham chính.
Dù sao, nhờ ảnh hưởng của đạo sống Việt thấm nhuần Phật giáo, hiện tượng trọng nam khinh nữ tại Việt Nam không đến nỗi quá đáng như tại Trung Quốc.  Tuy người đàn bà Việt không được trọng dụng trong xã hội, thường là địa bàn của nam giới, nhưng trên thực tế lại có quyền quán xuyến việc nhà, nuôi nấng con cái, thu xếp công việc vườn tược, đồng áng.  Các cụ ông ta ngày xưa tự coi mình là “ngoại tướng” nên vui vẻ nhường quyền “nội tướng” cho quý cụ bà, kể cả quyền chọn vợ lẽ cho chồng mình khi cụ bà “về hưu”, trong chế độ đa thê trước khi có Luật Gia Đình, thời Đệ Nhất Cộng Hoà. 
Đặc biệt cặp vợ chồng nguyên thủy tạo dựng dòng dõi Cổ Việt, lúc lập gia đình, Bà vẫn giữ nguyên tên Âu Cơ khi danh tiếng Ông là Lạc Long Quân; và lúc từ biệt nhau, trong vụ ly thân hay ly hôn mẫu mực, hài hoà, người Mẹ giữ và đem 50 con lên núi nuôi dưỡng, còn người Cha giữ và đem 50 con xuống biển, phía nam để khai khẩn đất và nước.  Các cuộc ly thân, ly dị “văn minh” ngày nay cũng chỉ mong dàn xếp hài hoà như vậy, căn cứ vào quyền lợi tối hậu của con cái [for the benefits of the child]. 
Dù sao, ngày nay trên thương trường và các chương trình phát triển kỹ nghệ kinh doanh, không kể một vài trường hợp ngoại lệ dành cho các “công nương” hậu duệ của cấp lãnh đạo CSVN, nữ giới bình dân chỉ tiếp nhận được những vị thế hạn hẹp, trung cấp, tầm thường, còn đại cuộc tham chính, đầu tư, quản trị kinh doanh vẫn thuộc nam giới. 
Đa số nữ giới bị trục lợi, ngược đãi vì truyền thống văn hoá chênh lệch, vì giáo dục gia đình thiển cận và áp lực xã hội tham quyền, cố vị.
Số người đàn bà thất học ở mọi tuổi thường cao hơn so với nam giới, do đó, muốn dẫn tới bình quyền, giáo dục căn bản và chuyên môn phải được mở rộng tới tầm tay nữ giới.
Về mặt chính trị và tham chính, nữ giới Việt Nam cũng như nữ giới Trung Hoa không được đại diện và nhiệm cách đúng mức.
Về mặt xã hội, nạn môi giới công khai buôn người[6] và nạn bán dâm[7] mỗi lúc thêm táo bạo, liên hệ tới những nhiêu nhưỡng của xã hội đen, của công quyền đỏ; tới phát động bệnh tật truyền nhiễm do nạn giao cấu thả lỏng; tới quốc nạn hối lộ, tham nhũng di căn khắp chế độ độc tài tư bản đỏ; tới thực trạng hội nhập mafia của các chế độ cộng sản Á châu ngày nay.  
Tại Nền Văn Hoá Cổ Hy-lạp & Cổ La-mã
Nữ giới cổ Hy-lạp không có quyền sở hữu tài sản, đất đai, và cũng là bị coi là thành tố của tài sản gia tộc.[8]  Do đó họ không được thừa nhận toàn thể dân quyền và thường xuyên bị đặt dưới sự giám hộ của người cha, hay phụ quyền gia tộc, cho tới khi đặt dưới quyền của người chồng, thuộc nam giới.[9]  

Platon [427 BC - 347 BC] & Aristote [384 BC – 322 BC]
Platon cho rằng trao quyền dân sự và chính trị cho nữ giới sẽ làm đảo ngược thế tự nhiên của gia tộc và của nhà nước công quyền.  Aristote, tuy khước từ chế độ nô tỳ của thân phận người đàn bà, nhưng vẫn phân biệt nữ giới và nam giới và cho phép người đàn ông “mua” vợ để bảo đảm mặt tài chính của gia tộc phụ hệ.
Chỉ riêng sắc tộc Khắc Kỷ[10] mới coi nam nữ bình quyền, bình thể lễ phục, hưởng cùng một nền giáo dục tương đồng và quan niệm hôn phối trên căn bản tương thuận giao kết tinh thần, hơn là chỉ với mục đích nối dõi tông đường.
Dưới ảnh hưởng của tư tưởng Khắc Kỷ, luật lệ cổ La-mã tôn trọng các mối liên hệ công bằng[11] trong xã hội, với quan niệm nam nữ giới đều có khả năng trí tuệ và bổn phận cư xử đạo đức.
Tại Nền Văn Hoá Châu Âu Thời Trung Cổ và Hiện Đại
Nữ giới theo Hồi giáo[12] phần nào được hưởng quyền lợi về tài sản riêng tư khi lập gia đình và nhận di sản hơn là người đàn bà trong nền văn hoá trung cổ tại Châu Âu.
Căn cứ vào Luật Tập Tục của Anh[13] từ thế kỷ 12, của hồi môn[14] là của cải của người con gái được cha mẹ cho mang theo, khi lấy chồng, sẽ thuộc về tài sản của người chồng. Của hồi môn đem về phụ giúp gia đình nhà chồng cốt để bảo đảm đời sống vật chất của người vợ khỏi cảnh túng thiếu, ngược đãi bởi người chống, và cũng là số tài sản người đàn bà có quyền đòi lại nếu bị hành hạ, ly dị, bỏ bê.
 Napoleon BonaparteJean-Jacques Rousseau
Napoléon Bonaparte (1769 – 1821) & Jean Jacques Rousseau (1712 – 1778)
Căn cứ vào bộ luật Code Napoléon 1804, người đàn bà Pháp có chồng mất khả năng tư pháp, mất quyền công dân và chính trị.[15] Do đó, người đàn bà có chồng hoàn toàn vô quyền tư pháp[16] nên:
  • Không được theo học [trung và đại học] mà không có sự ưng thuận của chồng;
  • Không được kết ước, quản trị tài sản;
  • không được tham chính và tuyệt đối không được tham dự vào mọi công quyền và các sinh hoạt chính trị;
  • không được làm việc nếu không có sự ưng thuận của người chồng;
  • không được giữ lương bổng [chuyển thẳng vào trương mục/ngân quỹ người chồng];
  • chịu sự kiểm soát thư từ, giao dịch bởi người chồng và bị trừng trị cực hình nếu phạm tội lăng loàn, ngoại tình;
  • không được xuất ngoại nếu không có sự ưng thuận của người chồng v.v.
Lý do là bộ luật Code Napoléon coi người đàn bà có chồng là một “vị thành niên dân sự”[17] và coi nhân vị và thân thể người đàn bà có chồng thuộc toàn quyền sở hữu của người chồng đó.  Giao cấu là bổn phận của người hôn phối nên không hề có vấn đề người vợ bị cưỡng dâm, hiếp dâm, nếu người vợ từ chối “bổn phận” giao hợp trên.[18]
Kế cả văn hào Jean Jacques Rousseau cũng cho rằng vì trật tự tự nhiên [ordre naturel], người đàn bà phải tuân lệnh người đàn ông. Theo ý nhà tư tưởng này, “người đàn bà đã sai quấy khi than phiền về sự bất công của luật lệ do nam giới sáng tạo; hoặc khi họ tước đoạt quyền của nam giới, vì người đàn bà là kẻ thuộc cấp của đàn ông”[19].
Tuy nhiên, ngay vào năm 1791, soạn giả Olympe de Gouges đã trước tác Bản Tuyến Bố Pháp Quyền của Nữ giới và Nữ Công Dân [20]. Bà còn mỉa mai cho rằng Cuộc Cách Mạng của Pháp năm 1789 là một trò cười [une parodie] và chỉ hội đủ điều kiện về mặt “Bình Đẳng” nếu tất cả nữ giới trong nước hoàn toàn ý thức quyền lợi của họ bị tước đoạt ngay trong xã hội… Thật là mỉa khi người đàn bà lãnh án như đàn ông mà lại không được bình quyền.[21]
Tại Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, nữ giới quyền đã diễn tiến khả quan trong vài thập niên cuối thế kỷ 20.  Người đàn bà Hoa Kỳ [HK] nay đã đạt được nhiều thành quả hội nhập và tạo dựng thế lực [empowerment] về mặt giáo dục, y tế, gia hệ, công ăn việc làm, kinh tế, chính trị.
Trước đó, vào thế kỷ 19, người đàn bà HK không được hưởng những quyền tự do mà nam giới được hưởng dưới luật pháp, công quyền và cả trong phạm vi tôn giáo.
Lúc đó, người đàn bà HK:
  • không được bầu cử [đầu phiếu];
  • không được tham chính, giữ bất cứ chức vụ công quyền, dân cử nào;
  • không được thụ huấn đại học;
  • không được làm việc sinh lợi;
  • nếu lấy chồng, thì không được kết ước, bỏ chồng dù bị ngược đãi, và nếu được ly hôn cũng không có quyền giữ con.

Từ năm 1848, đã có phong trào “Tuyên Ngôn Tình Cảm”[22] căn cứ vào bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ để đòi quyền bình đẳng cho nữ giới, kể cả quyền bầu cử, đầu phiếu.  Văn kiện này do 68 người đàn bà và 32 người đàn ông ký kết.
Năm 1920, Tu chính án 19 của bản Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép người đàn bà được quyền bầu cử. 
Chỉ sau thời Khủng Hoảng kinh tế[23] 1929, khi dân chúng từ nơi đồng áng di tản ra thị trấn thì người đàn bà mới cần đi làm bên ngoài để kiếm thêm tiền phụ giúp nuôi dưỡng gia đình, con cái. 
Trong giai đoạn đệ nhị Thế Chiện, nữ giới HK cũng đảm nhiệm khoảng 38 phần trăm lực lượng lao động toàn quốc để bù đắp vào sự thiếu hụt nam nhân công đang tác chiến.  Sau thời hậu chiến, nữ giới trở lại tham gia làm việc công sở, công nghiệp trong thời kỳ phát triển kinh tế vào những thập niên 50 và 60.
Đạo luật Dân Sự Quyền[24] công bố trong năm 1964 cho phép người đàn bà được hưởng Cơ hội Bình đẳng [Equal opportunity] không bị kỳ thị về nữ tính và công việc làm nơi công cộng.  Tổ chức Toàn Quốc cho Nữ Giới[25] đã được thành lập năm 1966 với 500,000 hội viên để bảo vệ quyền lợi cho người đàn bà HK. 
Kể từ thập niên 70, các nữ dân biểu và nữ nghị sĩ Hoa Kỳ được bầu lên để chu toàn nhu cầu của nữ giới, với những kết quả sau đây:
  • Quyền tự do chọn lựa sinh sản [1973];
  • Lương bổng tối thiểu cho nhân công [1974];
  • Cấm kỳ thị người đàn bà trong thời kỳ có thai [1978];
  • Tăng cường luật bảo vệ nuôi dưỡng con cái; bảo vệ người đàn bà goá hay bị ly dị [1984];
  • Lập Quỹ Liên Bang giúp đỡ trẻ em thiếu thốn [1990];
  • Bảo vệ người đàn bà làm việc cần thêm thì giờ chăm sóc gia đình [1993];
  • Bảo vệ nữ giới về mọi hành vi hành hung [1994].
Nữ giới Hoa Kỳ vẫn cần thêm cơ hội thực thi bình quyền vì:
  • vẫn còn nạn kỳ thị về lương bổng [nữ giới chỉ lĩnh 77 xu trong khi nam giới lĩnh đủ 1 Mỹ kim cho cùng một công việc giao phó];
  • không thể trọn vẹn trách nhiệm quá bề bộn, một bên là công việc làm trong xã hội, bên kia là trách nhiệm với gia đình, con cái.  Do đó đàn bà HK ra ngoài làm việc càng ngày càng khan hiếm con cái, hoặc trở thành độc thân.
Dù sao người đàn bà HK cũng đã đạt được nhiều thành quả tích cực trong việc bảo vệ phẩm giá của nữ tính và của gia đình họ.
3. Nhân Quyền và Nữ Giới Quyền
Participant displays a poster she created at a workshop organized by the University of the Philippines Centre for Women’s Studies and UNIFEM on enhancing the capacities of NGOs to monitor CEDAW, Cebu, Philippines, December 2008.
Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền[26], được công bố năm 1948, đã long trọng xác định tình trạng bình đẳng và bình quyền giữa nam giới và nữ giới.
Năm 1979, Đại Hội Liên Hiệp Quốc đã chấp thuận cương lĩnh của Hiệp Định Khai trừ mọi Hình Thức Kỳ Thị Nữ Giới.[27] Căn cứ vào quyết định trên, Bản Tuyên Ngôn Khai Trừ Kỳ Thị Nự Giới[28] năm 1981 đã định nghĩa kỳ thị giới tính gồm
  • các trường hợp hay hành vi kỳ  thị, phân biệt, loại bỏ, hạn chế vì ly do giới tính
  • đã làm giảm thiểu, trở ngại, loại bỏ vị trí, quyền hưởng thụ, sinh hoạt của nữ giới,
  • trên căn bản bình đẳng giữa nam và nữ giới về nhân quyền và tự do cơ bản trong phạm vi chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và mọi bình diện khác. 
Bản Tuyên Ngôn Khai Trừ Kỳ Thị Nữ Giới cũng
  • đề cử những giải pháp thực thi khai trừ kỳ thị nữ giới tại các quốc gia thuận nhận Hiệp Định trên,
  • bằng cách gạt bỏ các luật lệ, hành vi kỳ thị nữ giới trong nước;
  • mặt khác bổ xung chỉ thị lập pháp và tư pháp trong việc bảo trọng nữ giới quyền.
4. Thế Vị Bảo Trọng Nữ Giới trên Toàn Cầu
Năm 2011 tuần báo Newsweek[29] đã công bố Thế Vị Bảo Trọng Nữ Giới trên Toàn Cầu[30] khi liệt kê những nơi tốt nhất trên thế giới mà nữ giới muốn sinh sống để hoàn tất nhu cầu và phẩm giá của họ, căn cứ vào thành quả tối thuận cho nữ giới về mặt công lý, y tế, giáo dục, kinh tế, chính trị. Bản so sánh gồm 10 nước dẫn đầu danh sách và 10 nước đứng cuối danh sách của 165 quốc gia được tham khảo.
 Đầu danh Sách
Thứ tự Nước Toàn diện Công Lý Y tế Giáo Dục Kinh Tế Chính Trị
1  Iceland 100.0 100.0 90.5 96.7 88.0 92.8
2  Sweden 99.2 90.8 94.8 95.5 90.3 93.1
3  Canada 96.6 100.0 92.7 92.0 91.0 66.9
4  Denmark 95.3 86.1 94.9 97.6 88.5 78.4
5  Finland 92.8 80.2 91.4 91.3 86.8 100.0
6  Switzerland 91.9 87.9 94.4 97.3 82.6 74.6
7  Norway 91.3 79.3 100.0 74.0 93.5 93.9
8  United States 89.8 82.9 92.8 97.3 83.9 68.6
9  Australia 88.2 80.7 93.3 93.9 85.3 65.1
10  Netherlands 87.7 74.0 95.0 99.0 83.0 68.4

Cuối Danh Sách
Thứ tự Nước Toàn diện Công Lý Y tế Giáo Dục Kinh Tế Chính Trị
165  Chad 0.0 20.7 0.0 0.0 70.9 22.2
164  Afghanistan 2.0 8.4 2.0 41.1 55.3 16.6
163  Yemen 12.1 36.2 44.4 34.1 48.8 0.0
162  Democratic Republic of the Congo 13.6 6.5 11.4 45.1 67.8 27.2
161  Mali 17.6 22.7 29.9 25.8 64.3 49.8
160  Solomon Islands 20.8 0.0 53.6 86.5 46.0 1.9
159  Niger 21.2 26.5 32.9 47.5 58.6 31.3
158  Pakistan 21.4 49.7 49.6 34.0 50.7 19.3
157  Ethiopia 23.7 18.6 27.2 29.9 79.7 37.4
156  Sudan 26.1 21.1 29.4 70.6 54.5 40.8

T
ẠM KẾT

Trong suốt thời gian dài gần 25 thế kỷ, xã hội loài người trên trái đất thường nằm trong quỹ đạo phụ hệ-nam tính, với chủ trương tôn vinh nam giới trong thế độc hành “tề gia” và độc đoán lãnh đạo “trị nước…bình thiên hạ”. 
Bất kỳ tác động, thế đứng nào của con người trên mặt phẳng xích đạo gia đình và xã hội đều quay tròn xung quanh người đàn ông. Hiện tượng gia đình, xã hội, tư tưởng, tôn giáo đều có bóng dáng nam giới.  Các vị thần thánh, giáo chủ, lãnh tụ thế quyền, triết gia, đại nghệ sĩ đa số là đàn ông, hay có “mạo diện” đàn ông, trong cái thế đỉnh cao trí tuệ, mặc cảm tự tôn hay bảo thủ một chiều “trọng nam khinh nữ”.   
Vậy, trong không gian và thời gian bát ngát trên, nữ giới luôn luôn bị lép vế, nếu không muốn nói là khiếm khuyết hay vô hình trong văn hoá, với tác dụng công cụ phụ thuộc cấu tạo trật tự tự nhiên [natural order] qua liên hệ phối ngẫu với mục đích duy trì tông đường – “cha truyền” con nối. 
Chỉ trong thế kỷ 20 vừa qua, người đàn bà ở nhiều nơi trên thế giới mới thực sự đứng lên giành lại phẩm giá con người và hoàn tất vị trí công bằng của nữ giới trong gia đình, trong xã hội và trước luật pháp, tư cũng như công. Trong thời điểm bừng sáng này, một số quốc gia Châu Á đã dẫn đầu khai phá được truyền thống cổ hủ “trọng nam khinh nữ” và sớm có những vị nguyên thủ quốc gia thuộc nữ giới:
  • Bangladesh (Sheikh Hasina, cựu Thủ Tướng; Khaleda Zia, cựu Thủ Tướng)
  • Philippines (Gloria Macapagal-Arroyo, Tổng Thống; Corazon Aquino, cựu Tổng Thống)
  • Pakistan (Benazir Bhutto, cựu Thủ Tướng)
  • South Korea (Han Myeong-sook, cựu Thủ Tướng)
  • Sri Lanka (Chandrika Bandaranaike Kumaratunga, cựu Tổng Thống; Sirimavo Ratwatte Dias Bandaranaike, cựu Thủ Tướng. Sirimavo Ratwatte Dias Bandaranaike cựu Thủ Tướng 2 lần)
  • Indonesia (Megawati Sukarnoputri, cựu Tổng Thống)
  • India (Pratibha Patil, Tổng Thống, Indira Ghandi, cựu Thủ Tướng)
Giải pháp không phải là thay thế phụ hệ bằng mẫu hệ hay “đảo chính” nam giới để thành lập quyền bá chủ của nữ giới, vì lấy độc trị độc, hay dùng bạo lực để thay thế một bạo lực khác vẫn chỉ là tiếp nối và duy trì cái vòng luẩn quẩn sai sót, đồi bại [cercle vicieux] của bất công, bất lực, bất tài, bất hạnh.
Giải pháp thực tế, công minh và lâu bền nhất vẫn là sự dung hoà và hợp tác của đôi bên nam và nữ giới, trong thế đối trọng, công bằng, song hành, lưỡng tiện và kết sinh.  Trong việc bác bỏ kỳ thị giới tính, thay vì tranh chấp “nam giới chống nữ giới”, hay “nữ tính chống nam tính”, nên đề cao “nhân tính” chung của cả hai thành tố. Thế lực của “chairman/nam chủ tịch chống chairwoman/nữ chủ tịch” có thể được dung hoà một cách hợp lý bằng lối chọn lựa một “chairperson/vị chủ tich”, có đủ khả năng, phẩm giá và tài đức [merit/meritocracy], chứ không vì thành kiến vị giới tính [gender prerogative].
Thật vậy, giải pháp “phá thể” [deconstruction] của giới tính cần tái dựng [reconstruction] một cơ cấu mới, một trật tự chân chính, hài hoà [righteous order, harmonious fists] trong thế “kết sinh nhân bản”. Thay vì giành giật, áp đảo thế vị của mình [nam chống nữ; chồng chống vợ; cái tôi chống cái không-tôi v.v.] thì có thể đề cao những hợp thể như “chúng ta”, “bố-mẹ/parents”, dân tộc, nhân loại, trong thế toàn vẹn [by the entirety], bất phân, nhưng quân bình, tương thuận, hợp tình, hợp nghĩa.
Huấn thị “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” cần được cập nhật hoá và xác định lại từ nguồn gốc, phương thức tới cứu cánh bằng hành động và tư duy “của người, do người, vì người”… toàn diện, thuận hoà, đồng hành, đồng sáng tạo phẩm giá, phúc lợi và ý nghĩa đáng sống của cuộc đời.  
Trân trọng,
TS LS Lưu Nguyễn Đạt


GHI CHÚ
[1] entitlements
[2] freedoms
[3] equal rights
[4] Hosken, Fran P., ‘Towards a Definition of Women’s Rights’ in Human Rights Quarterly, Vol. 3, No. 2. (May, 1981), pp. 1–10.
[5]  Lockwood, Bert B. (ed.), Women’s Rights: A “Human Rights Quarterly” Reader (Johns Hopkins University Press, 2006), ISBN 978-0-8018-8374-3.
[6] Human Trafficking 
[7] Prostitution
[8] assumed to be part of the oikos
[9] kyrios

[10] Stoic
[11] theories of just relationship

[12] John Esposito, Islam: The Straight Path p. 79; Majid Khadduri, “Marriage in Islamic Law: The Modernist Viewpoints”, American Journal of Comparative Law, Vol. 26, No. 2, pp. 213–218
[13] English Common Law
[14] dowry
[15] Badr, Gamal M.; Mayer, Ann Elizabeth (Winter 1984). “Islamic Criminal Justice”. The American Journal of Comparative Law (American Society of Comparative Law) 32 (1): 167–169 167–8. DOI:10.2307/840274.JSTOR 840274; Maine, Henry Sumner. Ancient Law 1861.
[16] En 1804, le Code Napoléon affirme l’incapacité juridique totale de la femme mariée:
  • Interdiction d’accès aux lycées et aux Universités
  • Interdiction de signer un contrat, de gérer ses biens
  • Exclusion totale des droits politiques
  • Interdiction de travailler sans l’autorisation du mari
  • Interdiction de toucher elle-même son salaire
  • Contrôle du mari sur la correspondance et les relations
  • Interdiction de voyager à l’étranger sans autorisation
  • Répression très dure de l’adultère pour les femmes
  • Les filles-mères et les enfants naturels n’ont aucun droit
[17] mineure civile — Napoléon définit sans ambiguïté la place de la citoyenne dans la société à l’article 1124: Les personnes privées de droits juridiques sont les mineurs, les femmes mariées, les criminels et les débiles mentaux… L’incapacité civile des femmes ne sera levée que plus d’un siècle plus tard, en 1938.
[18]
le « devoir conjugal » est une obligation (il n’existe pas de viol entre époux): La femme et ses entrailles sont la propriété de l’homme, il en fait donc ce que bon lui semble (Code Napoléon).

[19] “Women do wrong to complain of the inequality of man-made laws” …  ”when she tries to usurp our rights, she is our inferior”. Lauren, Paul Gordon (2003). The evolution of international human rights: visions seen. University of Pennsylvania Press. pp. 29 & 30.ISBN 978-0-8122-1854-1.
[20] La Declaration Des Droits De La Femme Et De La Citoyenne [1791], basée sur La Declaration Des Droits De L’homme Et Du Citoyen en 1789.
[21] “… under French law women were fully punishable, yet denied equal rights” Naish, Camille (1991). Death comes to the maiden: Sex and Execution, 1431–1933. Routledge. p. 137. ISBN 978-0-415-05585-7.
[22] Declaration of Sentiments/Declaration of Independence
[23] Great Depression

[24] Civil Rights Act
[25] National Organization for Women (NOW)
[26] The Universal Declaration of Human Rights
[27] the Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination against Women (CEDAW)
[28] the Declaration on the Elimination of Discrimination against Women.  The Convention defines discrimination against women in the following terms:
Any distinction, exclusion or restriction made on the basis of sex which has the effect or purpose of impairing or nullifying the recognition, enjoyment or exercise by women, irrespective of their marital status, on a basis of equality of men and women, of human rights and fundamental freedoms in the political, economic, social, cultural, civil or any other field.
[29] Streib, Lauren (26 September 2011). “The Best and World Places to be a Woman”. Newsweek: pp. 30–33]
[30] study on the status of women in countries around the world