QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CÁC VÙNG BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC
I. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO
Quán
triệt Nghị quyết Trung ương VIII, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần
thứ IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình
hình mới, căn cứ vào đặc điểm tình hình các vùng biển của nước ta hiện
nay, có thể xác định một số nội dung về bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong
tình mới bao gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
1. Bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia trên biển
Bảo
vệ các quyền của quốc gia theo các chế độ pháp lý khác nhau, phù hợp
với luật pháp quốc tế trên các vùng biển khác nhau, trên các đảo, quần
đảo và thềm lục địa của quốc gia.
Bảo
vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên
vùng biển quốc gia; bảo vệ những đặc quyền về bảo tồn, quản lý, thăm dò
khai thác tài nguyên thiên nhiên trên vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm
lục địa của quốc gia. Vấn đề chủ quyền và lợi ích kinh tế của nước ta
trên biển có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, mật thiết không tách rời nhau.
Các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, chống ô
nhiễm... được xem như là một biểu hiện cụ thể của quyền làm chủ trên
các vùng biển của Nhà nước Việt Nam.
Bảo
vệ chủ quyền, giữ vững hòa bình và ổn định trên các vùng biển của ta là
điều kiện tiên quyết, là tiền đề cần thiết để phát triển, khai thác
biển và từng bước tiến ra biển một cách vững chắc. Muốn khai thác được
lợi ích, tiềm năng của biển, trước hết phải làm chủ được biển, tăng
cường quốc phòng, an ninh trên biển để tạo điều kiện cho phát triển kinh
tế biển, đó là nội dung cấp thiết về bảo vệ biển, đảo trong tình hình
hiện nay.
Bảo
vệ và giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển là công việc khó khăn và
phức tạp đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực phấn đấu trên các lĩnh vực, nâng
cao ý thức của cả dân tộc về biển và làm chủ biển, phát triển kinh tế
biển gắn với bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi quốc gia trên biển.
2. Bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội và văn hóa trên các vùng biển
Biển
là môi trường mở, có điều kiện thiên nhiên khá khắc nghiệt và nhiều
biến động, thường xuyên có sự giao lưu quốc tế và từ đó các luồng văn
hóa, tư tưởng độc hại cũng dễ dàng thâm nhập vào đất liền. Hơn nữa, các
quy chế pháp lý ở mỗi vùng biển cũng khác nhau; do vậy, việc bảo vệ an
ninh, trật tự an toàn xã hội và văn hóa trên biển vô cùng phức tạp. Bảo
vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội và văn hóa trên biển vừa mang tính
chất đối nội, vừa mang tính chất đối ngoại, đồng thời nó còn thể hiện
năng lực làm chủ vùng biển quốc gia trước cộng đồng thế giới và khu vực.
Do vậy, chúng ta phải tăng cường khả năng bảo vệ an ninh, trật tự an
toàn xã hội và văn hóa trên các vùng biển, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3. Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới đất nước
Nội
dung chiến lược bảo vệ biển, đảo hiện nay của Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam bao hàm cả bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân...
bảo vệ mục tiêu chiến lược biển đảo, bảo vệ các dự án phát triển trên
các vùng biển, phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước mạnh về
biển.
Bảo vệ công cuộc lao động sản xuất, tính mạng và tài sản của nhân dân
trên các vùng biển, phòng chống thiên tai, địch họa và các rủi ro khác;
bảo vệ lợi ích và quyền công dân của người dân đã được chính sách của
Đảng, Nhà nước ta thừa nhận; bảo vệ môi trường sống, bảo vệ nhân dân
được sống trong môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa xã hội trong
sạch, lành mạnh. Mọi hoạt động kinh tế trên vùng biển là sự thể hiện làm
chủ của nhà nước Việt Nam trên các vùng biển của mình. Các hoạt động đó
chỉ có thể đạt được hiệu quả khi phát huy được vai trò lãnh đạo của
Đảng, năng lực quản lý nhà nước ở các Bộ, ngành, từ trung ương đến từng
địa phương cơ sở, vai trò làm chủ và ý thức của nhân dân làm ăn trên
biển. Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên biển ngày càng vững
chắc làm cơ sở cho bảo đảm chủ quyền an ninh quốc gia trên biển là bảo
vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, bảo vệ cuộc sống hòa
bình của nhân dân.
II. CÁC LỰC LƯỢNG LÀM NHIỆM VỤ QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CÁC VÙNG BIỂN, ĐẢO VÀ THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM
1. Quy định của pháp luật Việt Nam về các lực lượng làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
Để
bảo vệ, quản lý và khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo vệ cuộc sống
làm ăn bình thường của nhân dân ta trên các vùng biển đồng thời thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc tế của một quốc gia ven biển, Việt Nam đã tổ
chức, duy trì thường xuyên các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ và quản lý,
giữ vững trật tự, an ninh trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ
quyền và quyền tài phán của nước ta.
Công
tác quản lý, bảo vệ và giữ vững chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là
nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, mà không
phải là trách nhiệm của riêng một lực lượng nào. Trách nhiệm quản lý,
bảo vệ các vùng biển Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản quy phạm
pháp luật, như Luật Biên giới quốc gia (Điều 31, 36, 37), Pháp lệnh Bộ
đội Biên phòng (Điều 1), Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Biên giới quốc
gia (Điều 26 đến Điều 32); Nghị định 161/2003/ NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới biển (Điều 22)...
Điều 9 Nghị định 161/2003/ NĐ- CP của Chính phủ quy định: “Quản
lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ gìn an ninh, trật tự an
toàn xã hội trong khu vực biên giới biển là trách nhiệm, nghĩa vụ của
các cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang, chính quyền địa phương
và mọi công dân”.
-
Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính
phủ) đã quy định Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các
vùng biển của Việt Nam. Điều 21, Chương III đã nêu: việc kiểm soát trên
biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được giao
cho các lực lượng: Hải quân nhân dân và các đơn vị Quân đội nhân dân
Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ các đảo; Bộ đội Biên phòng Việt Nam; Cảnh
sát nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ tuần tra trên biển; Các lực lượng nửa
vũ trang trên các thuyền vận tải và tàu thuyền đánh cá của Việt Nam
được trao trách nhiệm kiểm soát theo từng yêu cầu công tác và có mang
dấu hiệu rõ ràng; và Các lực lượng kiểm soát chuyên môn của các ngành:
Hải quan, Y tế, Kiểm dịch làm nhiệm vụ kiểm soát từng mặt công tác của
ngành mình.
Cần
lưu ý, một số nội dung của Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 trái với quy
định của Luật Biên giới quốc gia thì bị bãi bỏ; Điều 40 Luật Biên giới
quốc gia năm 2003 quy định: “Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2004; Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi
bỏ”. Theo khoản 5 Điều 111 Công ước luật biển năm 1982 quy định: “Quyền
truy đuổi chỉ có thể được thực hiện bởi các tàu chiến hay các phương
tiện quân sự hoặc các tàu hay phương tiện bay khác có mang các dấu hiện ở
bên ngoài chỉ rõ rang rằng, các tàu hay phương tiện bay đó được sử dụng
cho một cơ quan nhà nước và được phép làm nhiệm vụ này”. Như vậy, lực
lượng tuần tra kiểm, soát trên biển phải là lực lượng vũ trang (quân
đội, công an) hoặc của lực lượng khác được Nhà nước trao quyền nhưng
phải phù hợp với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên. Ví dụ: Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 25/12/2000 quy định Lực lượng kiểm soát của Việt Nam bao gồm: Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Thanh tra bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
-
Quyết định số 13-HĐBT ngày 11/2/1986 của Hội đồng Bộ trưởng đã nhấn
mạnh việc tăng cường công tác bảo vệ chủ quyền và an ninh các vùng biển
và thềm lục địa Việt Nam. Tại Mục II Quyết định này đã phân công phạm vi
tuần tra kiểm soát trên các vùng biển và thềm lục địa như sau: Bộ đội
Hải quân phụ trách chủ yếu là vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải,
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; Bộ đội Biên phòng phụ
trách vùng nội thuỷ, lãnh hải và làm nòng cốt trong hoạt động của dân
quân, tự vệ trên biển; Lực lượng Công an nhân dân phụ trách việc bảo vệ
an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên biển, các bến đậu, các
nơi trung chuyển, các bến bãi bốc dỡ hàng hoá dân sự, các công trình nổi
trên biển, các cửa sông lớn; và lực lượng của Bộ Giao thông vận tải, Bộ
Thuỷ sản (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), Tổng công ty
Dầu khí (nay là Tập đoàn Dầu khí quốc gia), Hải quan… không ấn định phạm
vi phụ trách riêng.
Để
tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong việc duy trì và bảo vệ pháp
luật trên các vùng biển và thềm lục địa, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh số 03/2008/PL-UBTVQH12 ngày 26/01/2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam (trước đó là Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày 28/3/1998). Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008 đã quy định: Lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước
thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc
chấp hành pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và
thềm lục địa của Việt Nam. Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hoạt động
theo quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật Việt
Nam (Điều 1); Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang
nhân dân của Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam,
sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ. Bộ
Quốc phòng trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của lực lượng Cảnh
sát biển Việt Nam (Điều 2); và Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hoạt
động trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có trách
nhiệm thực hiện, phối hợp với các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ theo
quy định của pháp luật. Quy chế phối hợp hoạt động, trách nhiệm cụ thể
của các lực lượng do Chính phủ quy định (Điều 3). Các nội dung nói trên
của Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008 đã kế
thừa Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 1998, nhưng có sự
điều chỉnh cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của Tổ quốc trong
việc quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa Việt Nam.
- Để quản lý và bảo vệ khu vực biên giới biển, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 quy định về Quy chế khu vực biên giới biển. Theo đó, khu vực biên giới biển đã được quy chế hóa như sau:
Một là, Chính phủ thống nhất chỉ đạo các hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển và duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển; Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an thống nhất hướng dẫn chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các cấp ven biển tổ
chức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự an
toàn xã hội trong khu vực biên giới biển theo quy định của pháp luật; Bộ Ngoại giao chỉ đạo, hướng dẫn các Bộ, ngành, Ủy
ban nhân dân các cấp thực hiện chính sách xây dựng biên giới, các điều
ước quốc tế về biên giới mà Việt Nam đã ký kết với các nước hữu quan.
Phối hợp với Bộ Quốc phòng hướng dẫn Bộ đội Biên phòng thực hiện nhiệm
vụ đối ngoại và giải quyết công việc liên quan đến hai bên biên giới; Bộ
Công an chỉ đạo, hướng dẫn các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp bảo
vệ an ninh khu vực biên giới biển; gắn an ninh biên giới với an ninh nội
địa. Phối hợp với Bộ Quốc phòng chỉ đạo, hướng dẫn Bộ đội Biên phòng
thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự và đấu tranh phòng, chống
tội phạm ở khu vực biên giới biển; Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện
quản lý nhà nước về biên giới quốc gia, phối hợp với Bộ Quốc phòng chỉ
đạo, hướng dẫn Ủy
ban nhân dân các cấp thực hiện xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc
gia, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới
biển theo quy định của pháp luật; Ủy
ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ của mình, thực hiện quản lý
nhà nước về biên giới quốc gia theo quy định của Chính phủ, hướng dẫn,
chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và các Bộ, ngành chức năng. Xây dựng quy hoạch
sản xuất gắn với quy hoạch dân cư, nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân ở khu vực biên giới; kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng,
phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh ở
khu vực biên giới biển. Chỉ đạo các lực lượng, ban, ngành ở địa phương
phối hợp với Bộ đội Biên phòng trong hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới
quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự ở khu vực biên giới biển thuộc địa
phương quản lý (Điều 22);
Hai là,
Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách chủ trì, phối hợp
với lực lượng Công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa
phương trong hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ
gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển; Trong
khu vực biên giới biển, Bộ đội Biên phòng và các lực lượng làm nhiệm vụ
bảo vệ biên giới quốc gia được bố trí lực lượng, phương tiện, tiến hành
các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng các loại phương tiện, vũ khí, khí tài,
kỹ thuật quân sự, công cụ hỗ trợ và xây dựng các công trình phục vụ
nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ gìn an ninh, trật
tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển (điều 23).
Trên cơ sở Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ quy định về Quy chế khu vực biên giới biển, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 89/2004/TT-BQP ngày 19/6/2004 để hướng dẫn thực hiện Nghị định nói trên. Theo đó, tại mục 1 phần III của Thông tư này đã nhấn mạnh: Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt chuyên trách, chủ trì phối hợp với các lực lượng quân đội, công an, cảnh sát biển, hải quan và các lực lượng liên quan khác trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển.
Như vậy, các lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh, quốc phòng trên biển bao gồm: Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng
và Hải quân, hoạt động phối hợp giữa các lực lượng này sẽ do Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng quy định. Các lực lượng kiểm tra, kiểm soát chuyên ngành
gồm: Kiểm ngư, Thanh tra giao thông, Hải quan, Thanh tra môi trường, Y
tế và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam v.v...
Hiện nay, nhiều Bộ, ngành có liên quan trực tiếp và có chức năng về quản lý biển. Ví dụ như, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông vận
tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ, Tổng Cục
Hải quan, Bộ Thông tin và Truyền thông, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt
Nam, Ủy
ban Quốc gia tìm kiếm - cứu nạn, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan vv...
2. Nhiệm vụ của các lực lượng tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Tham gia quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa, Đảng và Nhà nước ta đã giao cho nhiều cơ quan, tổ chức đảm nhiệm trọng trách quan trọng này trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Điều đó đã được quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật.
-
Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính
phủ) về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển
của Việt Nam. Tại Điều 22 Nghị định này đã quy định nhiệm vụ cho các lực
lượng kiểm soát trên các vùng biển của Việt Nam, đó là bảo vệ chủ quyền
và các quyền của Việt Nam trên các vùng biển, chống lại mọi âm mưu và
hành động xâm phạm dưới mọi hình thức các vùng biển và thềm lục điạ Việt
Nam (điểm a); Giám sát, kiểm soát các tàu thuyền nước ngoài hoạt động
trong nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam, trong việc
chấp hành nghị định này và các luật lệ, quy định hiện hành về hải quan, y
tế, tài chính, xuất cảnh, nhập cảnh, di cư, nhập cư, ...của Việt Nam
(điểm b); Giúp đỡ các cơ quan khác có nhiệm vụ quản lý trên biển thực
hiện tốt chức năng kiểm soát đã được Nhà nước giao phó (điểm c).
- Theo Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008, lực lượng cảnh sát biển Việt Nam có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Một là, trong
nội thủy, lãnh hải và vùng nước cảng biển của Việt Nam, lực lượng Cảnh
sát biển Việt Nam có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát theo quy định của pháp
luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành
viên để bảo vệ chủ quyền; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn; bảo vệ tài
nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh
chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép và mua bán người, vận
chuyển, mua bán trái phép hàng hoá, vũ khí, chất nổ, chất ma tuý, tiền
chất và các hành vi vi phạm pháp luật khác (Điều 6);
Hai là,
trong vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
của Việt Nam, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ tuần tra,
kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có
liên quan mà Việt Nam là thành viên để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài
phán; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện,
ngăn chặn và đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, cướp biển, cướp có vũ
trang chống lại tàu thuyền, vận chuyển trái phép và buôn bán người, vận
chuyển, mua bán trái phép các chất ma tuý…(Điều 7);
Ba là,
lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của
pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành
viên để góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, hòa bình và ổn định trên các vùng biển (Điều 8).
Ngoài ra, lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ thu thập, tiếp nhận thông tin,
xử lý kịp thời và thông báo cho cơ quan chức năng có liên quan theo quy
định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt
Nam là thành viên; tham gia tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục sự cố trên
biển, và thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường, tổ chức ứng phó sự
cố môi trường biển (điều 9), phối
hợp với các lực lượng khác bảo vệ tài sản của nhà nước, tính mạng tài
sản của người và phương tiện hoạt động hợp pháp trên các vùng biển và
thềm lục địa Việt Nam, phối hợp với các đơn vị khác của lực lượng vũ
trang để bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên các hải đảo, vùng biển
thuộc lãnh thổ của Việt Nam và quyền chủ quyền trên vùng đặc quyền kinh
tế, thềm lục địa của Việt Nam.
Nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát biển theo Pháp lệnh năm 2008 nói trên cũng đã được ghi nhận trong Pháp lệnh lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 1998, nhưng đã được điều chỉnh và tăng
thêm chức năng nhiệm vụ cho phù hợp với tình hình biển, đảo Việt Nam
hiện nay.
-
Tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam còn có lực lượng
Bộ đội Biên phòng. Theo Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997 quy định
thì Bộ đội Biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà
nước Việt Nam, là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng
cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an
ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất liền, các hải đảo, vùng
biển... Bộ đội Biên phòng có nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia trên biển theo quy định của pháp luật Việt Nam.
-
Nghị định 25/2008/NĐ-CP ngày 04/3/2008 của Chính phủ quy định về chức
năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo
đó, Nghị định đã quy định Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường
thực hiện chức năng quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và các hải
đảo (Điều 1).
-
Theo nội dung của Luật Dân quân tự vệ năm 2009 (số 43/2009/QH12 ngày
23/11/2009) thì trong thành phần của dân quân tự vệ bao gồm cả dân quân tự vệ biển (điểm c); dân quân tự vệ có nhiệm vụ sẵn
sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa phương, cơ
sở; phối hợp với các đơn vị Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát biển
và lực lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ
quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam (khoản 1, Điều 8); dân quân tự vệ có quy mô tổ chức.... cấp
xã ven biển, xã đảo tổ chức tiểu đội, trung đội dân quân biển (điểm b,
Điều 18), Cơ quan, tổ chức tổ chức tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu
đoàn tự vệ. Cơ quan, tổ chức có phương tiện hoạt động trên biển tổ chức
tiểu đội, trung đội, hải đội, hải đoàn tự vệ biển (điểm c, Điều 18);
- Thông tư số 89/2004/TT-BQP
ngày 19/6/2004 của Bộ Quốc phòng về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định
số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ quy định về Quy chế khu
vực biên giới biển, đã nhấn mạnh đến các vấn đề: tuần tra, kiểm soát
phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ và xử lý những cá nhân, tổ chức Việt Nam
và nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam hoặc các điều ước quốc tế mà
Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; đăng ký, quản lý, kiểm tra người, tàu
thuyền ra vào các bến bãi, khu vực neo đậu làm ăn, sản xuất kinh doanh
và các hoạt động dịch vụ khác ở khu vực biên giới biển; quản lý, duy trì
an ninh, trật tự an toàn tại các bến bãi, khu vực neo đậu của tàu
thuyền Việt Nam và nước ngoài ở khu vực biên giới biển.
3. Quyền hạn của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển.
Để
thực hiện được những nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển, Đảng và
Nhà nước đã giao trọng trách quan trọng này cho các cơ quan, đơn vị và
đã được cụ thể hóa trong pháp luật. Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 của Chính phủ đã quy định các quyền sau đây cho các lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển:
Một là,
ra lệnh cho các tàu thuyền nước ngoài kéo quốc kỳ của Việt Nam hoặc của
nước mà tàu mang quốc tịch và trả lời những câu hỏi cần thiết để xác
định quốc tịch của tàu thuyền đó, lí do và tính hợp pháp của các tàu
thuyền đó hoạt động trong nội thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải
Việt Nam hoặc trả lời về những dấu hiệu khả nghi xâm phạm đến các quyền
của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam;
Hai là,
ra lệnh cho các tàu thuyền nước ngoài phải dựng lại để kiểm tra, khám
xét khi có dấu hiệu khả nghi xâm phạm đến chủ quyền và các quyền khác
của Việt Nam trong vùng biển Việt Nam;
Ba là,
lập biên bản, bắt giữ tàu thuyền và người phạm pháp, thu thập mọi tang
chứng của các vụ vi phạm và dẫn giải tàu thuyền đó về các cảng hoặc bến
đậu để giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý;
Bốn là,
khi cần thiết, dùng biện pháp quân sự với những tàu, thuyền phạm pháp
không chịu tuân theo mệnh lệnh, hoặc có ý định chống lại mệnh lệnh bằng
vũ lực; áp dụng quyền truy đuổi những tàu phạm pháp bỏ chạy.
Đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát trên biển đã được ghi nhận trong Pháp lệnh năm 2008. Theo đó, lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ tham gia tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân hoạt động trên biển; phối hợp với
các lực lượng khác bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tài sản của
người và phương tiện hoạt động hợp pháp trên các vùng biển và thềm lục
địa của Việt Nam; phối hợp với các đơn vị khác của lực lượng vũ trang để
bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên các hải đảo, vùng biển thuộc
lãnh thổ của Việt Nam và quyền chủ quyền, quyền tài phán trên vùng đặc
quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam (Điều 10); khi
phát hiện người và phương tiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam
và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, lực lượng
Cảnh sát biển Việt Nam có quyền kiểm tra, kiểm soát; nếu có hành vi vi
phạm thì được xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, buộc
người và phương tiện đó phải chấm dứt hành vi vi phạm, rời khỏi vùng
nước đang hoạt động hoặc rời khỏi vùng biển Việt Nam; bắt, giữ người và
phương tiện phạm pháp quả tang, lập biên bản xử lý theo thẩm quyền hoặc
chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật Việt
Nam (Điều 11); trong
trường hợp người và phương tiện vi phạm pháp luật không chịu tuân theo
hiệu lệnh, chống đối hoặc cố tình bỏ chạy thì lực lượng Cảnh sát biển
Việt Nam có quyền cưỡng chế, thực hiện quyền truy đuổi hoặc các quyền
khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên
quan mà Việt Nam là thành viên (Điều 12); và trong
tình thế cấp thiết phải đuổi bắt người và phương tiện vi phạm pháp
luật, cấp cứu người bị nạn, ứng phó với sự cố môi trường nghiêm trọng
thì lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quyền huy động người, phương
tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam, nhưng phải hoàn trả ngay khi tình
thế cấp thiết chấm dứt; trường hợp có thiệt hại về tài sản thì phải bồi
thường. Người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thương hoặc bị chết thì
được giải quyết theo chính sách của Nhà nước; trong trường hợp không có
người, phương tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam để huy động hoặc đã huy
động nhưng vẫn chưa giải quyết được tình thế cấp thiết, thì lực lượng
Cảnh sát biển Việt Nam có thể đề nghị người nước ngoài, phương tiện của
cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa
của Việt Nam giúp đỡ theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước
quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp thật
cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, người có
thẩm quyền trong lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quyền trưng dụng
tài sản của cá nhân, tổ chức Việt Nam theo quy định của pháp luật về
trưng mua, trưng dụng tài sản (Điều 12).
Để
đảm nhiệm tốt chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát trên biển, trong
Pháp lệnh năm 2008, đã quy định quyền được sử dụng vũ khí trong các
trường hợp:
Một là, khi
người vi phạm dùng vũ khí chống trả hoặc dùng biện pháp khác trực tiếp
đe doạ tính mạng và an toàn phương tiện của Cảnh sát biển Việt Nam;
Hai là,
khi truy đuổi người và phương tiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng, nếu
không dùng vũ khí thì người và phương tiện đó có thể chạy thoát;
Ba là, để bảo vệ công dân khi bị người khác trực tiếp đe doạ tính mạng.
Ngoài
ra, Pháp lệnh đã nhấn mạnh rằng trong các trường hợp được nổ súng nói
trên, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam chỉ được bắn vào đối tượng
sau khi đã ra lệnh cho họ dừng lại hoặc nổ súng cảnh cáo mà không có
kết quả, trừ trường hợp cấp bách; đối với những trường hợp phức tạp, có
ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, an ninh quốc gia thì phải báo cấp
có thẩm quyền quyết định.
Trong khi thi hành nhiệm vụ, Bộ đội Biên phòng cũng có các quyền tương tự như lực lượng cảnh sát biển, theo đó tại điều 15 Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997 đã quy định: Bộ đội Biên
phòng có quyền trực tiếp truy đuổi, bắt giữ người, phương tiện vi phạm
pháp luật trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam ra ngoài phạm vi lãnh hải
Việt Nam theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký
kết hoặc tham gia. Bộ đội Biên
phòng được nổ súng trong các trường hợp: để bắt người có hành vi phạm
tội mà chạy trốn; hoặc chạy trốn khi đang bị dẫn giải, bị giữ, bị giam do có hành vi phạm tội.
Các đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng đã được cụ thể hóa trong Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30/6/2011 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: Quân đội nhân dân; Công an nhân dân; Dân quân tự vệ; Kiểm lâm, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của hải quan, đơn vị hải quan cửa khẩu; và an ninh hàng không (Điều 13).
Quy định về việc sử dụng vũ khí cũng được định chế trong nội dung của Nghị định số
161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên
giới biển. Cụ thể tại Điều 23 đã nhấn mạnh: trong khu vực biên giới
biển, Bộ đội Biên phòng và các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới
quốc gia được bố trí lực lượng, phương tiện, tiến hành các biện pháp
nghiệp vụ, sử dụng các loại phương tiện, vũ khí, khí tài, kỹ thuật quân
sự, công cụ hỗ trợ và xây dựng các công trình phục vụ nhằm quản lý, bảo
vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội
trong khu vực biên giới biển.
4. Trang phục, phù hiệu của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam
Nghị định số
30-CP ngày 29/01/1980 của Chính phủ đã quy chế hóa các quy định cho tàu
thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Việt Nam. Theo
đó, khi làm nhiệm vụ, tàu thuyền của các lực lượng kiểm soát trên biển
của Việt Nam phải mang quốc kỳ Việt Nam cùng với cờ hiệu ngành chuyên
môn của mình. Các nhân viên phải mang huy hiệu, phù hiệu theo quy định.
Nhân viên của các lực lượng kiểm soát không chính quy phải có giấy ủy
nhiệm của nhà chức trách có thẩm quyền và phải mang dấu hiệu rõ ràng.
Đối với Bộ đội Biên
phòng, quy định về quân hiệu, cấp hiệu, lễ phục, quân kỳ, phù hiệu kiểm
soát, biển công tác, cờ hiệu, giấy chứng minh đã được quy định tại Nghị
định số 78-CP ngày 18/6/1997 của Chính phủ.
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có cờ hiệu, phù hiệu và trang phục riêng được quy định tại Điều 21 Pháp lệnh số 03/2008/PL-UBTVQH12 ngày 26/01/2008. Theo đó khi
làm nhiệm vụ, tàu thuyền và các phương tiện khác của lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam phải treo quốc kỳ và cờ hiệu Cảnh sát biển Việt Nam; cán
bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển phải mặc trang phục và mang phù hiệu Cảnh sát
biển Việt Nam (trước Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
năm 2008, quy định tượng tự như trên cũng được định chế trong Pháp lệnh
lực lượng Cảnh sát biển năm 1998). Nghị định số 86/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, đã chi tiết hóa việc sử dụng quốc kỳ, cờ
hiệu, phù hiệu, trang phục đối với lực lượng cảnh sát biển. Tại Điều 12
đã nhấn mạnh trong khi làm nhiệm vụ tàu, thuyền và các phương tiện khác
của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam phải treo Quốc kỳ và cờ hiệu cảnh
sát biển; cán bộ, chiến sĩ cảnh sát biển phải mặc trang phục và mang phù
hiệu cảnh sát biển Việt Nam theo quy định.
Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ cũng có quy định tương tự (Điều 24),
theo đó trong khu vực biên giới biển, khi làm nhiệm vụ, cán bộ, chiến
sĩ, nhân viên của các ngành chức năng phải mặc trang phục, đeo biển, phù
hiệu kiểm soát theo quy định của pháp luật; phương tiện làm nhiệm vụ
phải treo quốc kỳ, cờ hiệu.
III. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA NHÀ NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA
1. Những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực liên quan đến biển của Việt Nam từ 1986 đến nay
a. Các ngành và địa phương
Các ngành và địa phương đã tích cực xây dựng nhiều chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực liên quan đến biển. Thực hiện các chủ trương của Đảng
(Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 22/9/1997 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát
triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá),
chấp hành Chỉ thị 399/TTg của Thủ tướng Chính phủ, các ngành, các địa
phương đã tiến hành quy hoạch, trong đó rõ nhất là quy hoạch tổng thể
phát triển ngành thủy sản đến năm 2010, các quy hoạch chuyên ngành thủy sản (khai thác xa bờ, nuôi tôm và hải sản ở các vùng đồng bằng sông Hồng, miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long, thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản ở bán đảo Cà Mau, quy hoạch thông tin cứu nạn ngành thủy sản...); chiến lược phát triển ngành dầu khí; quy hoạch phát triển ngành tàu thủy;
các quy hoạch về phát triển cảng, tìm kiếm cứu nạn, v.v... Đến nay, các
tỉnh ven biển đều có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội,
trong đó, có nội dung định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực về biển.
Ngoài ra, đã tiến hành một số quy hoạch liên quan đến phát triển kinh
tế biển như quy hoạch phát triển các đảo Phú Quốc, Phú Quý, Côn Đảo; quy
hoạch phát triển một số khu kinh tế ven biển như Vân Phong, Cam Ranh,
Chân Mây, Chu Lai, Nhơn Hội…
b. Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển
Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển tăng lên, cơ cấu ngành, nghề có thay đổi cùng với sự xuất hiện ngành kinh tế mới như
khai thác dầu khí, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn... Năm 2000, GDP của kinh tế
biển và vùng ven bằng 47% GDP cả nước. Năm 2005, GDP của kinh tế biển
và vùng ven biển bằng hơn 48% GDP cả nước, trong đó, GDP của kinh tế
biển chiếm khoảng gần 22% tổng GDP cả nước.
Trong
các ngành kinh tế biển, đóng góp của ngành kinh tế diễn ra trên biển
chiếm tới 98%, trong đó, khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; hàng
hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển) 11%; du lịch biển trên 9%. Các
ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa
chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ, hải sản, thông tin liên
lạc, v.v... bước đầu phát triển.
Nhiều
ngành kinh tế biển phát triển mạnh so với thời điểm trước năm 1993 (năm
có Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển). Ví dụ,
năm 2005 ngành dầu khí đã khai thác 18,6 triệu tấn dầu thô và 6,6 tỉ m3
khí. Sản lượng khai thác hải sản năm 2005 đạt 1,8 triệu tấn. Ngành du
lịch biển cũng phát triển mạnh, thu hút hàng năm 73% số lượt khách du
lịch quốc tế trong cả nước, đạt tốc độ tăng bình quân gần 13%/năm.
c. Các vùng biển và ven biển
Các vùng biển và ven biển có đóng góp lớn vào xuất khẩu, thu ngoại tệ. Năm
2005, ngành dầu khí đã đóng góp trên 7 tỉ USD cho xuất khẩu, tăng hơn
năm 2004 gần 1,33 tỉ USD; nộp ngân sách nhà nước trên 50.000 tỉ đồng,
tăng 1.850 tỉ đồng so với năm 2004. Hải sản xuất khẩu chính ngạch (gồm
cả đánh bắt hải sản và nuôi trồng) năm 2005 đạt hơn 2,6 tỉ USD. Các
ngành khác như vận tải biển, đóng sửa chữa tàu biển, xuất khẩu thuyền
viên, v.v... đã đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.
d. Công tác điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên và, môi trường biển
Công tác điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên và, môi trường biển đã được quan tâm tốt hơn.
Hiện nay, các kết quả điều tra nghiên cứu về biển đã cung cấp được sự
hiểu biết khái quát về các đặc trưng về điều kiện tự nhiên chủ yếu của
biển. Hệ thống pháp luật, các quy phạm về công tác điều tra tài nguyên,
quản lý môi trường biển đã được xây dựng.
e. Về việc hình thành các trung tâm phát triển để ra biển
Trong quá trình phát triển kinh tế mở, bước đầu đã hình thành các trung tâm phát triển để ra biển. Đến
nay, trên các vùng biển đã có các trung tâm kinh tế biển như các thành
phố Hạ Long, Hải Phòng (vùng biển Bắc Bộ); Huế, Đà Nẵng, Nha Trang - Cam
Ranh (vùng biển miền Trung); Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh (vùng biển
phía Nam) và Rạch Giá, Cà Mau, khu kinh tế đảo Phú Quốc (vùng biển phía
Tây Nam). Đây là những khu vực đã có sự phát triển tổng hợp các ngành,
nghề biển như hậu cần nghề cá; công nghiệp gắn với cảng; cảng biển và
vận tải biển, du lịch biển, nghiên cứu khoa học về biển, v.v...
f. Những phát triển mới ở một số hải đảo
Ở
một số hải đảo đã có bước phát triển mới. Hiện nay, ở những đảo có điều
kiện phát triển đều có dân cư, kết cấu hạ tầng được tăng lên rõ rệt nhờ
nguồn vốn Biển Đông - hải đảo (hình thành hệ thống giao thông trên đảo,
nhiều đảo gần bờ có điện lưới, các đảo xa bờ có máy phát điện, một số
đảo sử dụng điện mặt trời, trên các đảo đã xây dựng các cơ sở cung cấp
nước ngọt). Vai trò kinh tế của các đảo tăng lên rõ rệt, nhiều đảo đã
phát triển mạnh nghề cá, đặc biệt là đánh bắt xa bờ, phát triển du lịch,
bảo vệ và phát triển rừng, v.v. Tương lai có nhiều đảo như Vân Đồn, Cát
Hải, Côn Đảo, Phú Quốc... sẽ phát triển thành những trung tâm để ra
biển.
g. Về công tác đối ngoại liên quan đến biển
Công tác đối ngoại liên quan đến biển đã đạt được một số kết quả quan trọng. Cho
đến nay, Việt Nam đã ký kết một số thỏa thuận trên biển với các nước
láng giềng: Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia (l982),
Thỏa thuận khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam -
Malaysia (l992), Hiệp định về phân định ranh giới biển Việt Nam - Thái
Lan (l997), Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và
thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc ký kết năm
2000 (Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định này ngày
15/6/2004) và Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam - Indonesia
(2003). Ngoài ra, Việt Nam cũng mở diễn đàn trao đổi về vấn đề chủ
quyền hai quần đảo với Philippin (1995), Trung Quốc (1995) và Malaysia,
tham gia ký kết các văn kiện mang tính chất khu vực về Biển Đông, triển
khai một số dự án hợp tác song phương và đa phương với các nước liên
quan, trong đó có dự án nghiên cứu khoa học biển Việt Nam - Philippin
(JOMSRE).
h. Về quốc phòng, an ninh trên biển
Nhiệm
vụ quốc phòng và an ninh trên biển được bảo đảm. Việt Nam đã đàm phán
giải quyết phân định ranh giới về biển giữa nước ta với một số nước có
biển trong khu vực; các lực lượng an ninh đã thực hiện tốt nhiệm vụ quản
lý và bảo vệ chủ quyền trên biển. Ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia trên
biển của người dân được nâng lên rõ rệt.
2. Những ưu điểm trong công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Nhà nước ta trong thời gian qua
Trong
những năm qua, cùng với sự phát triển của Luật biển quốc tế và trật tự
pháp lý quốc tế mới trên các vùng biển, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt
Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, luật, pháp lệnh, nghị định, tuyên bố
khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các
vùng biển, đảo và thềm lục địa Việt Nam; đề ra các chính sách, biện pháp
tăng cường phát triển kinh tế biền và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của
Việt Nam.
Chính
quyền và Đảng bộ các cấp, các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên
phòng, Dân quân tự vệ biển và các ngành khác đã thường xuyên tổ chức học
tập, giáo dục về đường lối chính sách, luật pháp, chủ quyền và lợi ích
quốc gia trên các vùng biển Việt Nam; đồng thời độc lập hoặc phối hợp
với các lực lượng liên quan tiến hành tuần tra, kiểm soát bảo đảm việc
thực hiện và thi hành các văn bản luật pháp hiện hành, duy trì trật tự
và an ninh, góp phần quản lý, bảo vệ tốt chủ quyền biển, đảo của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong
những năm qua, các lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo
vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam đã tích cực tuần tra, kiểm soát trên
các vùng biển. Đã xua đuổi, bắt giữ nhiều tàu thuyền của nước ngoài xâm
phạm vùng biển đánh bắt hải sản, nghiên cứu, thăm dò dầu khí…. phát
hiện, xử lý nhiều vụ vi phạm về an ninh, trật tự trên các vùng biển như:
vi phạm các nội dung hợp đồng liên doanh, buôn lậu, cướp biển, dùng
chất nổ, chất độc hại đánh cá, tranh chấp ngư trường… từng bước lập lại
kỷ cương trên biển; phát hiện và thường xuyên nắm tình hình trên các
vùng biển, giúp chính
phủ đánh giá đúng tình hình nhằm phục vụ cho công tác đấu tranh bảo vệ
chủ quyền, quyền chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển và xác lập kế
hoạch bảo vệ, quản lý, phát triển kinh tế biển; đề xuất với chính
phủ sửa đổi, ban hành, bổ sung nhiều văn bản góp phần tăng cường khả
năng quản lý biển, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế chủ động, tích
cực phát triển và khai thác tiềm năng của biển, cho các nước bạn bè an
tâm hợp tác, liên doanh liên kết làm ăn với Việt Nam.
3. Một số giải pháp tăng cường bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới
Đối
với nước ta, sau bản tuyên bố lịch sử ngày 12 tháng 5 năm 1977, phạm vi
chủ quyền quốc gia của nước ta đã qua một bước chuyển biến về cơ bản:
ngoài phần đất liền 329.600km2, nước ta còn có một vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2.
Bảo vệ và thực thi chủ quyền quốc gia trên toàn bộ các vùng biển và
thềm lục địa là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó
không thể thiếu được sự góp công, góp sức của các nhà khoa học, các cơ
quan nhà nước và các cơ quan có liên quan đến lĩnh vực hoạt động trên biển. Để tăng cường bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhà nước ta trên các vùng biển trước mắt cần tập trung làm tốt một số vấn đề cơ bản sau đây:
a, Về hoạch định và phân định các vùng biển và thềm lục địa
Việc
giải quyết tốt vấn đề hoạch định biên giới trên biển và phân chia ranh
giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với các nước láng giềng có ý
nghĩa vô cùng quan trọng nhằm bảo vệ được các quyền lợi chính đáng của
Việt Nam trên biển. Công việc này đòi hỏi có sự tham gia của các ngành
hữu quan, trong đó không thể thiếu được vai trò của các ngành khoa học
kỹ thuật liên quan đến biển trong công việc sưu tầm tư liệu trong nước
và nước ngoài để đánh giá cụ thể tình hình cơ bản, sự phân bố tài nguyên
trên vùng biển Việt Nam, đóng góp vào việc xây dựng các luận cứ vững
chắc để bảo vệ các quyền lợi của các quốc gia trên vùng biển của mình.
Vì vậy, ngay từ bây giờ chúng ta cần có kế hoạch từng bước xây dựng và
phát triển kinh tế trên một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, hiện nay là
đơn vị hành chính thuộc tỉnh Khánh Hòa.
b, Về việc bảo vệ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Việt
Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa trước tham vọng và ý đồ lấn chiếm của một số nước tranh chấp
trên hai quần đảo này. Việc bảo vệ các đảo trên quần đảo Trường Sa không
chỉ bằng các lực lượng đang đóng giữ hiện nay của Việt Nam, mà còn
không ngừng biểu thị thái độ kiên quyết không chấp nhận những hành động
xâm lược và lấn chiếm của các nước khác đối với hai quần đảo này.
c, Về công việc pháp điển hóa pháp luật về biển, đảo.
Việt Nam cần chủ động pháp luật hóa chủ quyền
của nước ta đối với các vùng biển, đảo và thềm lục địa. Xây dựng luật
của Việt Nam về các vùng biển, đảo và thềm lục địa. Quốc hội chuẩn bị
thông qua Luật Biển Việt Nam trong năm 2012.
Ngoài
các văn bản và hệ thống pháp luật đã ban hành, nước ta cần chú ý xây
dựng hệ thống các văn bản pháp luật mới. Bổ sung, sửa đổi các văn bản
pháp luật đã lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với thực tiễn hoặc còn
chồng chéo về chức năng đối với các cơ quan quản lý và thực thi nhiệm vụ
trên từng vùng biển, chẳng hạn cần soạn thảo các văn bản có các nội
dung:
- Nhằm tăng cường quản lý các vùng biển Việt Nam trong đó có phạm vi quyền hạn quản lý của các tỉnh dọc bờ biển;
- Về bảo vệ môi trường biển, chống ô nhiễm;
- Về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật trên các vùng biển;
- Về việc thăm dò khai thác trong vùng đặc quyền kinh tế;
-
Về các hành lang và hệ thống phân chia tuyền đường, các vùng cấm cho
các tàu thuyền nước ngoài qua lại lãnh hải và nội thủy Việt Nam;
- Về việc bảo vệ các giàn khoan và các công trình của Việt Nam trên các vùng biển;
- Về điều tra, nghiên cứu khoa học trên các vùng biển của Việt Nam, nhất là ở vùng đặc quyền kinh tế v.v...
Trong
tình hình hiện nay và những năm tới, các hành động xâm phạm chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ, tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông và các
vùng biển nước ta sẽ còn tiếp tục diễn biến phức tạp. Trước tình hình
đó, một đòi hỏi khách quan và cấp bách là chúng ta phải có những chủ
trương và giải pháp nhằm
bảo vệ được chủ quyền và các lợi ích quốc gia trên biển trước mắt cũng
như lâu dài tạo nên sự ổn định quốc phòng - an ninh trên biển, có giữ
vững được quốc phòng an ninh trên biển mới có thể tạo điều kiện đẩy mạnh
phát triển kinh tế biển một cách vững chắc.
Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện thắng lợi “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” theo Nghị quyết 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Trên cơ sở đó có những định
hướng, những tiêu chí để xây dựng chiến lược quốc phòng an và an ninh
trên biển để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh trật tự trên biển, xây
dựng chiến lược phát triển kinh tế biển…
Bảo vệ chủ quyền
toàn vẹn lãnh thổ biển, đảo của Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân ta trong đó Hải quân là lực lượng nòng cốt. Phải xây
dựng được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân, kể cả sức mạnh của
thời đại bằng kết hợp chặt chẽ mọi biện pháp đấu tranh quân sự, chính
trị, kinh tế, pháp lý, ngoại giao… để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta.
Muốn
đạt được những điều nêu trên, trước hết phải tăng cường tuyên truyền
giáo dục ý thức về biển cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiểu rõ chủ
quyền thiêng liêng của Tổ quốc ta trên biển mà tổ tiên ta từ bao đời nay
đã có công khai phá, làm chủ, nay đang đứng trước một thách thức mới,
đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi người chúng ta có trách
nhiệm bảo vệ, làm chủ thực sự đầy đủ đối với phần lãnh thổ biển đầy tiềm
năng và có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của dân tộc ta.
Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh
nhân dân trên biển, kết hợp chặt chẽ với công tác giữ gìn an ninh trật
tự trên biển đòi hỏi các lực lượng vũ trang phải cùng với tất cả các ngành, các địa phương và toàn dân thực hiện mới có kết quả.
Muốn xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên biển, đảo, ngoài lực lượng
chuyên trách về quốc phòng an ninh còn phải duy trì hoạt động của các
lực lượng khác như lực lượng khai thác thủy sản, dầu khí, giao thông vận
tải, khí tượng thủy văn, nghiên cứu khoa học biển… Chính các lực lượng
này là sự hiện diện thể hiện chủ quyền của Việt Nam trên các vùng biển,
đảo.
4. Hoàn thiện các văn bản pháp luật hiện hành về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam
Để
quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, Nhà nước ta đã ban
hành nhiều văn bản làm cơ sở cho công tác quản lý và thực thi nhiệm vụ
trên các vùng biển và thềm lục địa của mình. Những văn bản này dựa trên
những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam,
đồng thời cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của nước ta trên các vùng
biển nhằm điều chỉnh các hoạt động trong việc giữ gìn, bảo vệ và quản lý
các vùng biển Việt Nam. Ngay sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước ta
rất quan
tâm đến việc ban hành các văn bản pháp luật về biển và tham gia tích
cực vào việc xây dựng, ký kết, phê chuẩn và thực thi Công ước về luật
biển 1982.
Việt Nam đã ký kết, gia nhập nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương. Hiện tại, Việt Nam
đã ký nhiều điều ước quốc tế song phương với các quốc gia láng giềng về
phân định các vùng biển chồng lấn: Hiệp định vùng nước lịch sử chung
giữa Việt Nam -
Campuchia ngày 07/7/1982; Hiệp định phân định biển trong Vịnh Thái Lan
giữa Việt Nam và Thái Lan ngày 09/8/1997; Hiệp định phân định lãnh hải,
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và Hiệp định hợp tác nghề cá
trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 25/12/2000; Hiệp định phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia
ngày 26/6/2003; Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Philippin
ngày 28/6/2010; Bản ghi nhớ giữa Việt Nam và Malaysia về việc khai thác
chung trong vùng chồng lấn thềm lục địa (trong Vịnh Thái Lan) ngày
05/6/1992.
Việt Nam đã phê chuẩn một số công ước chuyên ngành do IMO (Tổ chức hàng hải thế giới) chuẩn bị như IMO -
SOLAS (Công ước về cứu hộ trên biển London ngày 01/11/1974, có hiệu lực
với Việt Nam từ ngày 18/3/1991), Công ước về mớn nước năm 1976, Công
ước MARPOL ngày 02/11/1973 về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu 1973-1978, có
hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 18/3/1991, Công ước về dung tích tàu
năm 1969 …
Việt
Nam đã ban hành nhiều luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư và các quyết
định liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của
Việt Nam, cụ thể như: Hiến pháp Việt Nam năm 1980 và 1992 (sửa đổi năm
2001); Luật an ninh quốc gia năm 2004; Luật Biên giới quốc gia năm 2003;
Luật Thủy sản Việt Nam năm 2003; Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm
2005; Luật Dầu khí năm 2008; Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày
12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa Việt Nam; Tuyên bố của Việt Nam về đường cơ sở dùng để
tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982; Nghị định số 30 -
CP ngày 29/01/1980 của Chính phủ về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài
hoạt động trên các vùng biển của Việt Nam; Nghị định số 242 -
HĐBT ngày 05/8/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về nghiên cứu khoa học trong
các vùng biển Việt Nam; Nghị định 32/2010/NĐ-CP ngày 30/3/2010 của
Chính phủ về Quản lý hoạt động nghề cá của người và phương tiện nước
ngoài trong các vùng biển của Việt Nam
[1];
Nghị định 55-CP ngày 01/10/1996 của Chính phủ về hoạt động của tàu quân
sự nước ngoài vào thăm Việt Nam; Nghị định 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005
của Chính phủ về bảo đảm an toàn cho người và phương tiện nghề cá hoạt
động trên biển
[2]; Nghị định 86/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
[3];
Nghị định 41/2001/NĐ-CP ngày 24/7/2001 của Chính phủ ban hành Quy chế
hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển và việc phối hợp hoạt động giữa
các lực lượng trên vùng biển, thềm lục địa của Việt Nam; Nghị định 21/2012/NĐ-CP ngày 21/3/2012 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải
[4]; Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thuỷ sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển; Quy
chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển ban hành kèm theo Quyết định
103/2007/QĐ-TTg ngày 12/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc
phối hợp trong hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trên biển; Nghị định số
50/2008/NĐ-CP ngày 21/4/2008 của Chính phủ về quản lý, bảo vệ an ninh,
trật tự tại cửa khẩu cảng biển; Nghị
định 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy chế khu vực
biên giới biển; Nghị định số 137/2004/NĐ-CP ngày 16/6/2004 của Chính phủ
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục
địa của Việt Nam; Bộ luật Hàng hải Việt Nam sửa đổi năm 2005…
Ngoài
ra, liên quan đến biển, đảo của Tổ quốc còn có Bộ luật Dân sự năm 2005;
Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009; Pháp lệnh về Dân quân tự vệ năm 2004;
Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997; Pháp lệnh Cảnh sát biển năm 2008 v.v...
Mặc
dù Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về biển và
quản lý biển, đảo song như phần trên đã nêu, một số văn bản còn chồng
chéo về chức năng và biện pháp thực thi nhiệm vụ, một số văn bản chưa
đầy đủ cần phải bổ sung, sửa đổi.
- Một số vấn đề mang tính định hướng để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam:
+ Cơ sở để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo:
Trên
cơ sở thể chế hoá đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và các chủ
trương, định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;
trong đó, có Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”.
Trên cơ sở các quy định của các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập; quy định của Hiến pháp, Luật Biên giới quốc gia và các văn bản pháp luật hiện hành khác của Việt Nam có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam.
Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn công tác quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam.
Tham khảo tài liệu pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý, bảo vệ các vùng biển của các nước trên thế giới.
+ Những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam:
Hoàn thiện pháp luật nói chung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam
nói riêng, được bắt đầu từ hoạt động xây dựng pháp luật. Hoạt động xây
dựng pháp luật bao gồm: Việc soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật mới, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hoặc huỷ bỏ các văn bản pháp
luật không còn phù hợp.
Trước tiên, phải nghiên cứu đánh giá hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam,
xác định những văn bản quy phạm pháp luật còn phù hợp, những văn bản
pháp luật đã lạc hậu cần sửa đổi, bổ sung; nghiên cứu thực tiễn công tác
quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam xác định những quy luật khách
quan của đời sống xã hội, những vấn đề cần được điều chỉnh bằng quan hệ
pháp luật, trên cơ sở đó xây dựng, đưa ra các quy phạm pháp luật phù
hợp; theo tinh thần Nghị quyết về công tác xây dựng pháp luật của Quốc
hội khoá IX tháng 12/1992 “Nhiệm vụ công tác xây dựng pháp luật của Quốc
hội là thể chế hoá cương lĩnh chiến lược ổn định và phát triển kinh tế
-xã hội của Đảng, rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành, định
kế hoạch xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản đã ban hành, làm
cho hệ thống pháp luật phù hợp với Hiến pháp mới, đáp ứng yêu cầu quản
lý kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân…”.. Định
hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2020 trong Nghị
quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến
năm 2020 cũng đã khẳng định: “hoàn thiện pháp luật về biên giới quốc
gia, vùng biển, vùng trời; về tổ chức, hoạt động của lực lượng vũ trang
nhân dân”.
Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam
phải đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng, phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, đáp ứng kịp thời những nhu cầu mà cuộc sống đặt ra,
tạo cơ sở pháp lý cho quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam, bảo đảm
giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,
giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới biển.
Bảo
đảm sự đồng bộ, thống nhất của cả hệ thống pháp luật quốc gia, phù hợp
với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập đáp ứng được
nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam
phải chú ý đến những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ quốc tế; vừa phải
bảo đảm giữ được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, vừa
không làm ảnh hưởng đến tiến trình đàm phán giải quyết các tranh chấp về
biên giới, lãnh thổ với các nước hữu quan.
Cần nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam như sau:
Nhà
nước cần sớm ban hành Luật biển Việt Nam - văn bản quy phạm pháp luật
về biển mang tính chất tổng thể, thể hiện dưới dạng một đạo luật, làm cơ
sở cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về biển Việt Nam.
Nghiên
cứu, xây dựng một hệ thống đường cơ sở của Việt Nam tương đối hoàn
chỉnh cho phần lục địa Việt Nam (trong đó có hệ thống đường cơ sở trong
Vịnh Bắc Bộ) và quy định rõ các nguyên tắc xác định đường cơ sở của các
đảo, quần đảo xa bờ của Việt Nam, đồng thời xác định rõ ranh giới các
vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam sao cho phù hợp với các điều ước
quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập.
Quy
định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; phạm vi tuần tra, kiểm soát,
quy chế phối hợp giữa các lực lượng tuần tra, kiển soát trên biển.
Nghiên
cứu, xây dựng các quy định điều chỉnh các quan hệ cụ thể trên các lĩnh
vực an toàn hàng hải; khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên, môi trường biển; nghiên cứu khoa học; phát triển và chuyển giao
kỹ thuật biển....
Xây dựng chế độ chính sách cụ thể, hợp lý cho những người trực tiếp và tham gia quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam.
Tăng cường đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về phân định ranh giới các vùng biển Việt Nam với các nước hữu quan...
Hoàn
thiện các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan trực tiếp đến
công tác quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam; như Luật Dân quân tự
vệ; Pháp lệnh về nghĩa vụ lao động công ích theo hướng bảo đảm huy động
nhân dân ở khu vực biên giới tham gia bảo vệ các vùng biển Việt Nam;
nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hàng hải, Luật
Bảo vệ môi trường, Luật Thuỷ sản,...
Pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam là một bộ phận của pháp luật về biên giới quốc gia, cũng như của pháp luật Việt Nam. Do vậy, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, từ đó tạo ra cơ sở pháp lý cho việc quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam bằng pháp luật đạt hiệu quả cao nhất.
KẾT LUẬN
Biển
Đông là một biển lớn, đứng thứ hai trên thế giới và đứng thứ nhất Đông
Nam châu Á. Biển Đông là biển phụ thuộc của Thái Bình Dương, có quan hệ
chặt chẽ về thủy văn với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Biển Đông có
lưu vực rộng và sâu, là một vùng biển giàu đẹp của miền nhiệt đới, vô
cùng phong phú về mặt tự nhiên cũng như giá trị về khai thác kinh tế, có
vai trò to lớn trong xây dựng và củng cố thế trận quốc phòng - an ninh
của đất nước ta.
Tuy
nhiên, do có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng về kinh tế, quốc
phòng, an ninh nên Biển Đông nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa nói riêng đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong chiến lược phát
triển của Việt Nam, của các nước xung quanh Biển Đông mà cả các cường
quốc khác, nhất là Trung Quốc. Trong những năm gần đây và hiện nay, Biển
Đông luôn là điểm nóng tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng nổ xung đột. Do vậy,
Biển Đông vừa là môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu
quốc tế, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, đồng thời cũng đặt ra
nhiều thách thức với đất nước ta.
Việt
Nam đã có quan điểm và chủ trương nhất quán đối với việc giải quyết vấn
đề Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong Tuyên bố của
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh
hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; Tuyên bố ngày
12/11/1982 về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam; và các
Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê
chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982” khẳng định chủ
quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việt
Nam hoan nghênh và tán thành các khuyến nghị của Hội nghị khu vực được
tổ chức tại Băng Đung, Indonesia năm 1991 về Biển Đông với các nội dung
chính là: mọi tranh chấp về lãnh thổ, quyền tài phán ở Biển Đông cần
được giải quyết bằng biện pháp hòa bình thông qua thương lượng đối
thoại; các bên tranh chấp trên Biển Đông cần
tự kiềm chế không làm cho tình hình phức tạp thêm; xem xét các lĩnh vực
có thể thương lượng hợp tác nhưng không làm tổn hại đến các đòi hỏi về
lãnh thổ và quyền tài phán của các quốc gia ven biển.
Nhằm
gìn giữ hòa bình trên Biển Đông, Việt Nam luôn có thiện chí, chủ trương
giải quyết mọi tranh chấp biên giới, lãnh thổ bằng các biện pháp hòa
bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thông qua đàm
phán với các nước hữu quan để tìm ra giải pháp phù hợp cho các vấn đề
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Với
những nỗ lực bền bỉ, bình tĩnh, sáng suốt, nhưng kiên quyết trong xử lý
các vấn đề liên quan đến biển, đảo trong thời gian vừa qua của Đảng,
nhà nước ta đã được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, góp phần
vào việc duy trì, củng cố hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực
và trên toàn thế giới.
Bảo
vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, nhất là đối với hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa là một vấn đề thiêng liêng nhưng cũng hết sức khó khăn,
phức tạp và lâu dài, đòi hỏi có sự đóng góp về công sức, trí tuệ của
nhân dân, của nhiều thế hệ người Việt Nam; bảo
vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước là trách nhiệm của toàn dân và phải
được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, phải tuyên truyền sâu rộng cho toàn
dân, đẩy mạnh hơn nữa việc tu
pasting
yên truyền về
chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho mọi tầng
lớp nhân dân, để mỗi người nâng cao nhận thức, xác định tốt nghĩa vụ,
trách nhiệm của mọi công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại tá Lê Ngọc Cường, Tiến sĩ: Lê Văn Bính
[1] Nghị
định này thay thế cho các Nghị định 191/2004/NĐ-CP ngày 10/11/2004,
Nghị định số 49/1998/NĐ-CP ngày 13/7/1998 của Chính phủ và Nghị định số
437-HĐBT ngày 22/12/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về Quản lý hoạt động
nghề cá của người và phương tiện nước ngoài trong các vùng biển của Việt
Nam.
[2] Thay cho Nghị định số 72/1998/NĐ-CP ngày 15/9/1998 của Chính phủ về bảo đảm an toàn cho người và phương tiện nghề cá hoạt động trên biển.
[3] Thay cho Nghị định số 53/1998/NĐ-CP ngày 21/7/1998 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
[4] Thay cho các Nghị định số 71/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải.