Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách Học Nghiên Cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách Học Nghiên Cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2016

51 CUỐN SÁCH MỌI THỜI ĐẠI CẦN ĐỌC


Nhanh tay share và download về đọc nhé các bạn.
"IRON MAN" tạo ra 4 cty tỷ USD, 1 ngày đọc 2 cuốn sách đây là cơ hội để bạn đọc nhiều sách mà không mất tiền mua sách nhá ^^

 https://drive.google.com/drive/folders/0BxMyLXYdenDlN29vSS1WUHRnYU0

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

Chương V: Quản lý, bảo vệ chủ quyền các vùng Biển, Đảo của Tổ Quốc

Bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ biển, đảo của Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đó Hải quân là lực lượng nòng cốt. Phải xây dựng được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân, kể cả sức mạnh của thời đại bằng kết hợp chặt chẽ mọi biện pháp đấu tranh quân sự, chính trị, kinh tế, pháp lý, ngoại giao… để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta.


Chương V
QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CÁC VÙNG BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC
I. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO
Quán triệt Nghị quyết Trung ương VIII, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, căn cứ vào đặc điểm tình hình các vùng biển của nước ta hiện nay, có thể xác định một số nội dung về bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình mới bao gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
1. Bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia trên biển
Bảo vệ các quyền của quốc gia theo các chế độ pháp lý khác nhau, phù hợp với luật pháp quốc tế trên các vùng biển khác nhau, trên các đảo, quần đảo và thềm lục địa của quốc gia.
Bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên vùng biển quốc gia; bảo vệ những đặc quyền về bảo tồn, quản lý, thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên trên vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa của quốc gia. Vấn đề chủ quyền và lợi ích kinh tế của nước ta trên biển có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, mật thiết không tách rời nhau. Các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm... được xem như là một biểu hiện cụ thể của quyền làm chủ trên các vùng biển của Nhà nước Việt Nam.
Bảo vệ chủ quyền, giữ vững hòa bình và ổn định trên các vùng biển của ta là điều kiện tiên quyết, là tiền đề cần thiết để phát triển, khai thác biển và từng bước tiến ra biển một cách vững chắc. Muốn khai thác được lợi ích, tiềm năng của biển, trước hết phải làm chủ được biển, tăng cường quốc phòng, an ninh trên biển để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế biển, đó là nội dung cấp thiết về bảo vệ biển, đảo trong tình hình hiện nay.
Bảo vệ và giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển là công việc khó khăn và phức tạp đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực phấn đấu trên các lĩnh vực, nâng cao ý thức của cả dân tộc về biển và làm chủ biển, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi quốc gia trên biển.
2. Bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội và văn hóa trên các vùng biển
Biển là môi trường mở, có điều kiện thiên nhiên khá khắc nghiệt và nhiều biến động, thường xuyên có sự giao lưu quốc tế và từ đó các luồng văn hóa, tư tưởng độc hại cũng dễ dàng thâm nhập vào đất liền. Hơn nữa, các quy chế pháp lý ở mỗi vùng biển cũng khác nhau; do vậy, việc bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội và văn hóa trên biển vô cùng phức tạp. Bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội và văn hóa trên biển vừa mang tính chất đối nội, vừa mang tính chất đối ngoại, đồng thời nó còn thể hiện năng lực làm chủ vùng biển quốc gia trước cộng đồng thế giới và khu vực. Do vậy, chúng ta phải tăng cường khả năng bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội và văn hóa trên các vùng biển, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3. Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới đất nước
Nội dung chiến lược bảo vệ biển, đảo hiện nay của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao hàm cả bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân... bảo vệ mục tiêu chiến lược biển đảo, bảo vệ các dự án phát triển trên các vùng biển, phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước mạnh về biển. 
                Bảo vệ công cuộc lao động sản xuất, tính mạng và tài sản của nhân dân trên các vùng biển, phòng chống thiên tai, địch họa và các rủi ro khác; bảo vệ lợi ích và quyền công dân của người dân đã được chính sách của Đảng, Nhà nước ta thừa nhận; bảo vệ môi trường sống, bảo vệ nhân dân được sống trong môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa xã hội trong sạch, lành mạnh. Mọi hoạt động kinh tế trên vùng biển là sự thể hiện làm chủ của nhà nước Việt Nam trên các vùng biển của mình. Các hoạt động đó chỉ có thể đạt được hiệu quả khi phát huy được vai trò lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý nhà nước ở các Bộ, ngành, từ trung ương đến từng địa phương cơ sở, vai trò làm chủ và ý thức của nhân dân làm ăn trên biển. Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên biển ngày càng vững chắc làm cơ sở cho bảo đảm chủ quyền an ninh quốc gia trên biển là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, bảo vệ cuộc sống hòa bình của nhân dân.
II. CÁC LỰC LƯỢNG LÀM NHIỆM VỤ QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CÁC VÙNG BIỂN, ĐẢO VÀ THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM
1. Quy định của pháp luật Việt Nam về các lực lượng làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
Để bảo vệ, quản lý và khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo vệ cuộc sống làm ăn bình thường của nhân dân ta trên các vùng biển đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc tế của một quốc gia ven biển, Việt Nam đã tổ chức, duy trì thường xuyên các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ và quản lý, giữ vững trật tự, an ninh trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước ta.
Công tác quản lý, bảo vệ và giữ vững chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, mà không phải là trách nhiệm của riêng một lực lượng nào. Trách nhiệm quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, như Luật Biên giới quốc gia (Điều 31, 36, 37), Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng (Điều 1), Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Biên giới quốc gia (Điều 26 đến Điều 32); Nghị định 161/2003/ NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới biển (Điều 22)...
Điều 9 Nghị định 161/2003/ NĐ- CP của Chính phủ quy định: Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển là trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang, chính quyền địa phương và mọi công dân”.
- Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) đã quy định Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của Việt Nam. Điều 21, Chương III đã nêu: việc kiểm soát trên biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được giao cho các lực lượng: Hải quân nhân dân và các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ các đảo; Bộ đội Biên phòng Việt Nam; Cảnh sát nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ tuần tra trên biển; Các lực lượng nửa vũ trang trên các thuyền vận tải và tàu thuyền đánh cá của Việt Nam được trao trách nhiệm kiểm soát theo từng yêu cầu công tác và có mang dấu hiệu rõ ràng; và Các lực lượng kiểm soát chuyên môn của các ngành: Hải quan, Y tế, Kiểm dịch làm nhiệm vụ kiểm soát từng mặt công tác của ngành mình.
Cần lưu ý, một số nội dung của Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 trái với quy định của Luật Biên giới quốc gia thì bị bãi bỏ; Điều 40 Luật Biên giới quốc gia năm 2003 quy định: “Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2004; Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ”. Theo khoản 5 Điều 111 Công ước luật biển năm 1982 quy định: “Quyền truy đuổi chỉ có thể được thực hiện bởi các tàu chiến hay các phương tiện quân sự hoặc các tàu hay phương tiện bay khác có mang các dấu hiện ở bên ngoài chỉ rõ rang rằng, các tàu hay phương tiện bay đó được sử dụng cho một cơ quan nhà nước và được phép làm nhiệm vụ này”. Như vậy, lực lượng tuần tra kiểm, soát trên biển phải là lực lượng vũ trang (quân đội, công an) hoặc của lực lượng khác được Nhà nước trao quyền nhưng phải phù hợp với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ví dụ: Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 25/12/2000 quy định Lực lượng kiểm soát của Việt Nam bao gồm: Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Thanh tra bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.  
- Quyết định số 13-HĐBT ngày 11/2/1986 của Hội đồng Bộ trưởng đã nhấn mạnh việc tăng cường công tác bảo vệ chủ quyền và an ninh các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Tại Mục II Quyết định này đã phân công phạm vi tuần tra kiểm soát trên các vùng biển và thềm lục địa như sau: Bộ đội Hải quân phụ trách chủ yếu là vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; Bộ đội Biên phòng phụ trách vùng nội thuỷ, lãnh hải và làm nòng cốt trong hoạt động của dân quân, tự vệ trên biển; Lực lượng Công an nhân dân phụ trách việc bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên biển, các bến đậu, các nơi trung chuyển, các bến bãi bốc dỡ hàng hoá dân sự, các công trình nổi trên biển, các cửa sông lớn; và lực lượng của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), Tổng công ty Dầu khí (nay là Tập đoàn Dầu khí quốc gia), Hải quan… không ấn định phạm vi phụ trách riêng.
Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong việc duy trì và bảo vệ pháp luật trên các vùng biển và thềm lục địa, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh số 03/2008/PL-UBTVQH12 ngày 26/01/2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam (trước đó là Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày 28/3/1998). Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008 đã quy định: Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hoạt động theo quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam (Điều 1); Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ. Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam (Điều 2); và Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có trách nhiệm thực hiện, phối hợp với các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Quy chế phối hợp hoạt động, trách nhiệm cụ thể của các lực lượng do Chính phủ quy định (Điều 3). Các nội dung nói trên của Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008 đã kế thừa Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 1998, nhưng có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của Tổ quốc trong việc quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa Việt Nam.
- Để quản lý và bảo vệ khu vực biên giới biển, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 quy định về Quy chế khu vực biên giới biển. Theo đó, khu vực biên giới biển đã được quy chế hóa như sau:
Một là, Chính phủ thống nhất chỉ đạo các hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển và duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển; Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an thống nhất hướng dẫn chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các cấp ven biển tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển theo quy định của pháp luật; Bộ Ngoại giao chỉ đạo, hướng dẫn các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chính sách xây dựng biên giới, các điều ước quốc tế về biên giới mà Việt Nam đã ký kết với các nước hữu quan. Phối hợp với Bộ Quốc phòng hướng dẫn Bộ đội Biên phòng thực hiện nhiệm vụ đối ngoại và giải quyết công việc liên quan đến hai bên biên giới; Bộ Công an chỉ đạo, hướng dẫn các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp bảo vệ an ninh khu vực biên giới biển; gắn an ninh biên giới với an ninh nội địa. Phối hợp với Bộ Quốc phòng chỉ đạo, hướng dẫn Bộ đội Biên phòng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự và đấu tranh phòng, chống tội phạm ở khu vực biên giới biển; Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia, phối hợp với Bộ Quốc phòng chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển theo quy định của pháp luật; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ của mình, thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia theo quy định của Chính phủ, hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và các Bộ, ngành chức năng. Xây dựng quy hoạch sản xuất gắn với quy hoạch dân cư, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở khu vực biên giới; kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới biển. Chỉ đạo các lực lượng, ban, ngành ở địa phương phối hợp với Bộ đội Biên phòng trong hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự ở khu vực biên giới biển thuộc địa phương quản lý (Điều 22);
Hai là, Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách chủ trì, phối hợp với lực lượng Công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển; Trong khu vực biên giới biển, Bộ đội Biên phòng và các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia được bố trí lực lượng, phương tiện, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng các loại phương tiện, vũ khí, khí tài, kỹ thuật quân sự, công cụ hỗ trợ và xây dựng các công trình phục vụ nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển (điều 23).
Trên cơ sở Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ quy định về Quy chế khu vực biên giới biển, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 89/2004/TT-BQP ngày 19/6/2004 để hướng dẫn thực hiện Nghị định nói trên. Theo đó, tại mục 1 phần III của Thông tư này đã nhấn mạnh: Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt chuyên trách, chủ trì phối hợp với các lực lượng quân đội, công an, cảnh sát biển, hải quan và các lực lượng liên quan khác trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển.
Như vậy, các lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh, quốc phòng trên biển bao gồm: Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng và Hải quân, hoạt động phối hợp giữa các lực lượng này sẽ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định. Các lực lượng kiểm tra, kiểm soát chuyên ngành gồm: Kiểm ngư, Thanh tra giao thông, Hải quan, Thanh tra môi trường, Y tế và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam v.v...
Hiện nay, nhiều Bộ, ngành có liên quan trực tiếp và có chức năng về quản lý biển. Ví dụ như, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ, Tổng Cục Hải quan, Bộ Thông tin và Truyền thông, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Ủy ban Quốc gia tìm kiếm - cứu nạn, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan vv...
2. Nhiệm vụ của các lực lượng tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Tham gia quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa, Đảng và Nhà nước ta đã giao cho nhiều cơ quan, tổ chức đảm nhiệm trọng trách quan trọng này trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Điều đó đã được quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật.
- Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của Việt Nam. Tại Điều 22 Nghị định này đã quy định nhiệm vụ cho các lực lượng kiểm soát trên các vùng biển của Việt Nam, đó là bảo vệ chủ quyền và các quyền của Việt Nam trên các vùng biển, chống lại mọi âm mưu và hành động xâm phạm dưới mọi hình thức các vùng biển và thềm lục điạ Việt Nam (điểm a); Giám sát, kiểm soát các tàu thuyền nước ngoài hoạt động trong nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam, trong việc chấp hành nghị định này và các luật lệ, quy định hiện hành về hải quan, y tế, tài chính, xuất cảnh, nhập cảnh, di cư, nhập cư, ...của Việt Nam (điểm b); Giúp đỡ các cơ quan khác có nhiệm vụ quản lý trên biển thực hiện tốt chức năng kiểm soát đã được Nhà nước giao phó (điểm c).
- Theo Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008, lực lượng cảnh sát biển Việt Nam có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Một là, trong nội thủy, lãnh hải và vùng nước cảng biển của Việt Nam, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên để bảo vệ chủ quyền; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép và mua bán người, vận chuyển, mua bán trái phép hàng hoá, vũ khí, chất nổ, chất ma tuý, tiền chất và các hành vi vi phạm pháp luật khác (Điều 6);
Hai là, trong vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền, vận chuyển trái phép và buôn bán người, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma tuý…(Điều 7);
Ba là, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên để góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, hòa bình và ổn định trên các vùng biển (Điều 8).
Ngoài ra, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ thu thập, tiếp nhận thông tin, xử lý kịp thời và thông báo cho cơ quan chức năng có liên quan theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; tham gia tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục sự cố trên biển, và thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường, tổ chức ứng phó sự cố môi trường biển (điều 9), phối hợp với các lực lượng khác bảo vệ tài sản của nhà nước, tính mạng tài sản của người và phương tiện hoạt động hợp pháp trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, phối hợp với các đơn vị khác của lực lượng vũ trang để bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên các hải đảo, vùng biển thuộc lãnh thổ của Việt Nam và quyền chủ quyền trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
Nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát biển theo Pháp lệnh năm 2008 nói trên cũng đã được ghi nhận trong Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 1998, nhưng đã được điều chỉnh và tăng thêm chức năng nhiệm vụ cho phù hợp với tình hình biển, đảo Việt Nam hiện nay.
- Tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam còn có lực lượng Bộ đội Biên phòng. Theo Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997 quy định thì Bộ đội Biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà nước Việt Nam, là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất liền, các hải đảo, vùng biển... Bộ đội Biên phòng có nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia trên biển theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Nghị định 25/2008/NĐ-CP ngày 04/3/2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo đó, Nghị định đã quy định Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và các hải đảo (Điều 1).
- Theo nội dung của Luật Dân quân tự vệ năm 2009 (số 43/2009/QH12 ngày 23/11/2009) thì trong thành phần của dân quân tự vệ bao gồm cả dân quân tự vệ biển (điểm c); dân quân tự vệ có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa phương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát biển và lực lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam (khoản 1, Điều 8); dân quân tự vệ có quy mô tổ chức.... cấp xã ven biển, xã đảo tổ chức tiểu đội, trung đội dân quân biển (điểm b, Điều 18), Cơ quan, tổ chức tổ chức tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn tự vệ. Cơ quan, tổ chức có phương tiện hoạt động trên biển tổ chức tiểu đội, trung đội, hải đội, hải đoàn tự vệ biển (điểm c, Điều 18);
- Thông tư số 89/2004/TT-BQP ngày 19/6/2004 của Bộ Quốc phòng về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ quy định về Quy chế khu vực biên giới biển, đã nhấn mạnh đến các vấn đề: tuần tra, kiểm soát phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ và xử lý những cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; đăng ký, quản lý, kiểm tra người, tàu thuyền ra vào các bến bãi, khu vực neo đậu làm ăn, sản xuất kinh doanh và các hoạt động dịch vụ khác ở khu vực biên giới biển; quản lý, duy trì an ninh, trật tự an toàn tại các bến bãi, khu vực neo đậu của tàu thuyền Việt Nam và nước ngoài ở khu vực biên giới biển.
3. Quyền hạn của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển.
Để thực hiện được những nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển, Đảng và Nhà nước đã giao trọng trách quan trọng này cho các cơ quan, đơn vị và đã được cụ thể hóa trong pháp luật. Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 của Chính phủ đã quy định các quyền sau đây cho các lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển:
                Một là, ra lệnh cho các tàu thuyền nước ngoài kéo quốc kỳ của Việt Nam hoặc của nước mà tàu mang quốc tịch và trả lời những câu hỏi cần thiết để xác định quốc tịch của tàu thuyền đó, lí do và tính hợp pháp của các tàu thuyền đó hoạt động trong nội thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam hoặc trả lời về những dấu hiệu khả nghi xâm phạm đến các quyền của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam;
Hai là, ra lệnh cho các tàu thuyền nước ngoài phải dựng lại để kiểm tra, khám xét khi có dấu hiệu khả nghi xâm phạm đến chủ quyền và các quyền khác của Việt Nam trong vùng biển Việt Nam;
Ba là, lập biên bản, bắt giữ tàu thuyền và người phạm pháp, thu thập mọi tang chứng của các vụ vi phạm và dẫn giải tàu thuyền đó về các cảng hoặc bến đậu để giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý;
Bốn là, khi cần thiết, dùng biện pháp quân sự với những tàu, thuyền phạm pháp không chịu tuân theo mệnh lệnh, hoặc có ý định chống lại mệnh lệnh bằng vũ lực; áp dụng quyền truy đuổi những tàu phạm pháp bỏ chạy.
Đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát trên biển đã được ghi nhận trong Pháp lệnh năm 2008. Theo đó, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân hoạt động trên biển; phối hợp với các lực lượng khác bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tài sản của người và phương tiện hoạt động hợp pháp trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam; phối hợp với các đơn vị khác của lực lượng vũ trang để bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên các hải đảo, vùng biển thuộc lãnh thổ của Việt Nam và quyền chủ quyền, quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam (Điều 10); khi phát hiện người và phương tiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có quyền kiểm tra, kiểm soát; nếu có hành vi vi phạm thì được xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, buộc người và phương tiện đó phải chấm dứt hành vi vi phạm, rời khỏi vùng nước đang hoạt động hoặc rời khỏi vùng biển Việt Nam; bắt, giữ người và phương tiện phạm pháp quả tang, lập biên bản xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 11); trong trường hợp người và phương tiện vi phạm pháp luật không chịu tuân theo hiệu lệnh, chống đối hoặc cố tình bỏ chạy thì lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có quyền cưỡng chế, thực hiện quyền truy đuổi hoặc các quyền khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên (Điều 12); và trong tình thế cấp thiết phải đuổi bắt người và phương tiện vi phạm pháp luật, cấp cứu người bị nạn, ứng phó với sự cố môi trường nghiêm trọng thì lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quyền huy động người, phương tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam, nhưng phải hoàn trả ngay khi tình thế cấp thiết chấm dứt; trường hợp có thiệt hại về tài sản thì phải bồi thường. Người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thương hoặc bị chết thì được giải quyết theo chính sách của Nhà nước; trong trường hợp không có người, phương tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam để huy động hoặc đã huy động nhưng vẫn chưa giải quyết được tình thế cấp thiết, thì lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có thể đề nghị người nước ngoài, phương tiện của cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam giúp đỡ theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, người có thẩm quyền trong lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quyền trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức Việt Nam theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản (Điều 12).
Để đảm nhiệm tốt chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát trên biển, trong Pháp lệnh năm 2008, đã quy định quyền được sử dụng vũ khí trong các trường hợp:
Một là, khi người vi phạm dùng vũ khí chống trả hoặc dùng biện pháp khác trực tiếp đe doạ tính mạng và an toàn phương tiện của Cảnh sát biển Việt Nam;
Hai là, khi truy đuổi người và phương tiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng, nếu không dùng vũ khí thì người và phương tiện đó có thể chạy thoát;
Ba là, để bảo vệ công dân khi bị người khác trực tiếp đe doạ tính mạng.
Ngoài ra, Pháp lệnh đã nhấn mạnh rằng trong các trường hợp được nổ súng nói trên, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam chỉ được bắn vào đối tượng sau khi đã ra lệnh cho họ dừng lại hoặc nổ súng cảnh cáo mà không có kết quả, trừ trường hợp cấp bách; đối với những trường hợp phức tạp, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, an ninh quốc gia thì phải báo cấp có thẩm quyền quyết định.
Trong khi thi hành nhiệm vụ, Bộ đội Biên phòng cũng có các quyền tương tự như lực lượng cảnh sát biển, theo đó tại điều 15 Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997 đã quy định: Bộ đội Biên phòng có quyền trực tiếp truy đuổi, bắt giữ người, phương tiện vi phạm pháp luật trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam ra ngoài phạm vi lãnh hải Việt Nam theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Bộ đội Biên phòng được nổ súng trong các trường hợp: để bắt người có hành vi phạm tội mà chạy trốn; hoặc chạy trốn khi đang bị dẫn giải, bị giữ, bị giam do có hành vi phạm tội.
Các đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng đã được cụ thể hóa trong Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30/6/2011 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: Quân đội nhân dân; Công an nhân dân; Dân quân tự vệ; Kiểm lâm, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của hải quan, đơn vị hải quan cửa khẩu; và an ninh hàng không (Điều 13).
Quy định về việc sử dụng vũ khí cũng được định chế trong nội dung của Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới biển. Cụ thể tại Điều 23 đã nhấn mạnh: trong khu vực biên giới biển, Bộ đội Biên phòng và các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia được bố trí lực lượng, phương tiện, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng các loại phương tiện, vũ khí, khí tài, kỹ thuật quân sự, công cụ hỗ trợ và xây dựng các công trình phục vụ nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển.
4. Trang phục, phù hiệu của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam
Nghị định số 30-CP ngày 29/01/1980 của Chính phủ đã quy chế hóa các quy định cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Việt Nam. Theo đó, khi làm nhiệm vụ, tàu thuyền của các lực lượng kiểm soát trên biển của Việt Nam phải mang quốc kỳ Việt Nam cùng với cờ hiệu ngành chuyên môn của mình. Các nhân viên phải mang huy hiệu, phù hiệu theo quy định. Nhân viên của các lực lượng kiểm soát không chính quy phải có giấy ủy nhiệm của nhà chức trách có thẩm quyền và phải mang dấu hiệu rõ ràng.
Đối với Bộ đội Biên phòng, quy định về quân hiệu, cấp hiệu, lễ phục, quân kỳ, phù hiệu kiểm soát, biển công tác, cờ hiệu, giấy chứng minh đã được quy định tại Nghị định số 78-CP ngày 18/6/1997 của Chính phủ.
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có cờ hiệu, phù hiệu và trang phục riêng được quy định tại Điều 21 Pháp lệnh số 03/2008/PL-UBTVQH12 ngày 26/01/2008. Theo đó khi làm nhiệm vụ, tàu thuyền và các phương tiện khác của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam phải treo quốc kỳ và cờ hiệu Cảnh sát biển Việt Nam; cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển phải mặc trang phục và mang phù hiệu Cảnh sát biển Việt Nam (trước Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008, quy định tượng tự như trên cũng được định chế trong Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển năm 1998). Nghị định số 86/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, đã chi tiết hóa việc sử dụng quốc kỳ, cờ hiệu, phù hiệu, trang phục đối với lực lượng cảnh sát biển. Tại Điều 12 đã nhấn mạnh trong khi làm nhiệm vụ tàu, thuyền và các phương tiện khác của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam phải treo Quốc kỳ và cờ hiệu cảnh sát biển; cán bộ, chiến sĩ cảnh sát biển phải mặc trang phục và mang phù hiệu cảnh sát biển Việt Nam theo quy định.
Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ cũng có quy định tương tự (Điều 24), theo đó trong khu vực biên giới biển, khi làm nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ, nhân viên của các ngành chức năng phải mặc trang phục, đeo biển, phù hiệu kiểm soát theo quy định của pháp luật; phương tiện làm nhiệm vụ phải treo quốc kỳ, cờ hiệu.
III. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA NHÀ NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA
1. Những thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực liên quan đến biển của Việt Nam từ 1986 đến nay
a. Các ngành và địa phương
Các ngành và địa phương đã tích cực xây dựng nhiều chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực liên quan đến biển. Thực hiện các chủ trương của Đảng (Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 22/9/1997 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá), chấp hành Chỉ thị 399/TTg của Thủ tướng Chính phủ, các ngành, các địa phương đã tiến hành quy hoạch, trong đó rõ nhất là quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010, các quy hoạch chuyên ngành thủy sản (khai thác xa bờ, nuôi tôm và hải sản ở các vùng đồng bằng sông Hồng, miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long, thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản ở bán đảo Cà Mau, quy hoạch thông tin cứu nạn ngành thủy sản...); chiến lược phát triển ngành dầu khí; quy hoạch phát triển ngành tàu thủy; các quy hoạch về phát triển cảng, tìm kiếm cứu nạn, v.v... Đến nay, các tỉnh ven biển đều có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, có nội dung định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực về biển. Ngoài ra, đã tiến hành một số quy hoạch liên quan đến phát triển kinh tế biển như quy hoạch phát triển các đảo Phú Quốc, Phú Quý, Côn Đảo; quy hoạch phát triển một số khu kinh tế ven biển như Vân Phong, Cam Ranh, Chân Mây, Chu Lai, Nhơn Hội…
b. Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển
 Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển tăng lên, cơ cấu ngành, nghề có thay đổi cùng với sự xuất hiện ngành kinh tế mới như khai thác dầu khí, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn... Năm 2000, GDP của kinh tế biển và vùng ven bằng 47% GDP cả nước. Năm 2005, GDP của kinh tế biển và vùng ven biển bằng hơn 48% GDP cả nước, trong đó, GDP của kinh tế biển chiếm khoảng gần 22% tổng GDP cả nước.
Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, trong đó, khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển) 11%; du lịch biển trên 9%. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ, hải sản, thông tin liên lạc, v.v... bước đầu phát triển.
Nhiều ngành kinh tế biển phát triển mạnh so với thời điểm trước năm 1993 (năm có Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển). Ví dụ, năm 2005 ngành dầu khí đã khai thác 18,6 triệu tấn dầu thô và 6,6 tỉ m3 khí. Sản lượng khai thác hải sản năm 2005 đạt 1,8 triệu tấn. Ngành du lịch biển cũng phát triển mạnh, thu hút hàng năm 73% số lượt khách du lịch quốc tế trong cả nước, đạt tốc độ tăng bình quân gần 13%/năm.
c. Các vùng biển và ven biển
Các vùng biển và ven biển có đóng góp lớn vào xuất khẩu, thu ngoại tệ. Năm 2005, ngành dầu khí đã đóng góp trên 7 tỉ USD cho xuất khẩu, tăng hơn năm 2004 gần 1,33 tỉ USD; nộp ngân sách nhà nước trên 50.000 tỉ đồng, tăng 1.850 tỉ đồng so với năm 2004. Hải sản xuất khẩu chính ngạch (gồm cả đánh bắt hải sản và nuôi trồng) năm 2005 đạt hơn 2,6 tỉ USD. Các ngành khác như vận tải biển, đóng sửa chữa tàu biển, xuất khẩu thuyền viên, v.v... đã đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.
d. Công tác điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên và, môi trường biển
Công tác điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên và, môi trường biển đã được quan tâm tốt hơn. Hiện nay, các kết quả điều tra nghiên cứu về biển đã cung cấp được sự hiểu biết khái quát về các đặc trưng về điều kiện tự nhiên chủ yếu của biển. Hệ thống pháp luật, các quy phạm về công tác điều tra tài nguyên, quản lý môi trường biển đã được xây dựng.
e. Về việc hình thành các trung tâm phát triển để ra biển
Trong quá trình phát triển kinh tế mở, bước đầu đã hình thành các trung tâm phát triển để ra biển. Đến nay, trên các vùng biển đã có các trung tâm kinh tế biển như các thành phố Hạ Long, Hải Phòng (vùng biển Bắc Bộ); Huế, Đà Nẵng, Nha Trang - Cam Ranh (vùng biển miền Trung); Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh (vùng biển phía Nam) và Rạch Giá, Cà Mau, khu kinh tế đảo Phú Quốc (vùng biển phía Tây Nam). Đây là những khu vực đã có sự phát triển tổng hợp các ngành, nghề biển như hậu cần nghề cá; công nghiệp gắn với cảng; cảng biển và vận tải biển, du lịch biển, nghiên cứu khoa học về biển, v.v...
f. Những phát triển mới ở một số hải đảo
Ở một số hải đảo đã có bước phát triển mới. Hiện nay, ở những đảo có điều kiện phát triển đều có dân cư, kết cấu hạ tầng được tăng lên rõ rệt nhờ nguồn vốn Biển Đông - hải đảo (hình thành hệ thống giao thông trên đảo, nhiều đảo gần bờ có điện lưới, các đảo xa bờ có máy phát điện, một số đảo sử dụng điện mặt trời, trên các đảo đã xây dựng các cơ sở cung cấp nước ngọt). Vai trò kinh tế của các đảo tăng lên rõ rệt, nhiều đảo đã phát triển mạnh nghề cá, đặc biệt là đánh bắt xa bờ, phát triển du lịch, bảo vệ và phát triển rừng, v.v. Tương lai có nhiều đảo như Vân Đồn, Cát Hải, Côn Đảo, Phú Quốc... sẽ phát triển thành những trung tâm để ra biển.
g. Về công tác đối ngoại liên quan đến biển
Công tác đối ngoại liên quan đến biển đã đạt được một số kết quả quan trọng. Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết một số thỏa thuận trên biển với các nước láng giềng: Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia (l982), Thỏa thuận khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam - Malaysia (l992), Hiệp định về phân định ranh giới biển Việt Nam - Thái Lan (l997), Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc ký kết năm 2000 (Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định này ngày 15/6/2004) và Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam - Indonesia (2003). Ngoài ra, Việt Nam cũng mở diễn đàn trao đổi về vấn đề chủ quyền hai quần đảo với Philippin (1995), Trung Quốc (1995) và Malaysia, tham gia ký kết các văn kiện mang tính chất khu vực về Biển Đông, triển khai một số dự án hợp tác song phương và đa phương với các nước liên quan, trong đó có dự án nghiên cứu khoa học biển Việt Nam - Philippin (JOMSRE).
h. Về quốc phòng, an ninh trên biển
Nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trên biển được bảo đảm. Việt Nam đã đàm phán giải quyết phân định ranh giới về biển giữa nước ta với một số nước có biển trong khu vực; các lực lượng an ninh đã thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền trên biển. Ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển của người dân được nâng lên rõ rệt.
2. Những ưu điểm trong công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Nhà nước ta trong thời gian qua
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của Luật biển quốc tế và trật tự pháp lý quốc tế mới trên các vùng biển, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, luật, pháp lệnh, nghị định, tuyên bố khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và thềm lục địa Việt Nam; đề ra các chính sách, biện pháp tăng cường phát triển kinh tế biền và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Chính quyền và Đảng bộ các cấp, các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và các ngành khác đã thường xuyên tổ chức học tập, giáo dục về đường lối chính sách, luật pháp, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên các vùng biển Việt Nam; đồng thời độc lập hoặc phối hợp với các lực lượng liên quan tiến hành tuần tra, kiểm soát bảo đảm việc thực hiện và thi hành các văn bản luật pháp hiện hành, duy trì trật tự và an ninh, góp phần quản lý, bảo vệ tốt chủ quyền biển, đảo của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong những năm qua, các lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam đã tích cực tuần tra, kiểm soát trên các vùng biển. Đã xua đuổi, bắt giữ nhiều tàu thuyền của nước ngoài xâm phạm vùng biển đánh bắt hải sản, nghiên cứu, thăm dò dầu khí…. phát hiện, xử lý nhiều vụ vi phạm về an ninh, trật tự trên các vùng biển như: vi phạm các nội dung hợp đồng liên doanh, buôn lậu, cướp biển, dùng chất nổ, chất độc hại đánh cá, tranh chấp ngư trường… từng bước lập lại kỷ cương trên biển; phát hiện và thường xuyên nắm tình hình trên các vùng biển, giúp chính phủ đánh giá đúng tình hình nhằm phục vụ cho công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển và xác lập kế hoạch bảo vệ, quản lý, phát triển kinh tế biển; đề xuất với chính phủ sửa đổi, ban hành, bổ sung nhiều văn bản góp phần tăng cường khả năng quản lý biển, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế chủ động, tích cực phát triển và khai thác tiềm năng của biển, cho các nước bạn bè an tâm hợp tác, liên doanh liên kết làm ăn với Việt Nam.
3. Một số giải pháp tăng cường bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới
Đối với nước ta, sau bản tuyên bố lịch sử ngày 12 tháng 5 năm 1977, phạm vi chủ quyền quốc gia của nước ta đã qua một bước chuyển biến về cơ bản: ngoài phần đất liền 329.600km2, nước ta còn có một vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2. Bảo vệ và thực thi chủ quyền quốc gia trên toàn bộ các vùng biển và thềm lục địa là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó không thể thiếu được sự góp công, góp sức của các nhà khoa học, các cơ quan nhà nước và các cơ quan có liên quan đến lĩnh vực hoạt động trên biển. Để tăng cường bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nhà nước ta trên các vùng biển trước mắt cần tập trung làm tốt một số vấn đề cơ bản sau đây:
a, Về hoạch định và phân định các vùng biển và thềm lục địa
Việc giải quyết tốt vấn đề hoạch định biên giới trên biển và phân chia ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với các nước láng giềng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm bảo vệ được các quyền lợi chính đáng của Việt Nam trên biển. Công việc này đòi hỏi có sự tham gia của các ngành hữu quan, trong đó không thể thiếu được vai trò của các ngành khoa học kỹ thuật liên quan đến biển trong công việc sưu tầm tư liệu trong nước và nước ngoài để đánh giá cụ thể tình hình cơ bản, sự phân bố tài nguyên trên vùng biển Việt Nam, đóng góp vào việc xây dựng các luận cứ vững chắc để bảo vệ các quyền lợi của các quốc gia trên vùng biển của mình. Vì vậy, ngay từ bây giờ chúng ta cần có kế hoạch từng bước xây dựng và phát triển kinh tế trên một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, hiện nay là đơn vị hành chính thuộc tỉnh Khánh Hòa.
b, Về việc bảo vệ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước tham vọng và ý đồ lấn chiếm của một số nước tranh chấp trên hai quần đảo này. Việc bảo vệ các đảo trên quần đảo Trường Sa không chỉ bằng các lực lượng đang đóng giữ hiện nay của Việt Nam, mà còn không ngừng biểu thị thái độ kiên quyết không chấp nhận những hành động xâm lược và lấn chiếm của các nước khác đối với hai quần đảo này.
c, Về công việc pháp điển hóa pháp luật về biển, đảo.
Việt Nam cần chủ động pháp luật hóa chủ quyền của nước ta đối với các vùng biển, đảo và thềm lục địa. Xây dựng luật của Việt Nam về các vùng biển, đảo và thềm lục địa. Quốc hội chuẩn bị thông qua Luật Biển Việt Nam trong năm 2012.
Ngoài các văn bản và hệ thống pháp luật đã ban hành, nước ta cần chú ý xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật mới. Bổ sung, sửa đổi các văn bản pháp luật đã lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với thực tiễn hoặc còn chồng chéo về chức năng đối với các cơ quan quản lý và thực thi nhiệm vụ trên từng vùng biển, chẳng hạn cần soạn thảo các văn bản có các nội dung:
- Nhằm tăng cường quản lý các vùng biển Việt Nam trong đó có phạm vi quyền hạn quản lý của các tỉnh dọc bờ biển;
- Về bảo vệ môi trường biển, chống ô nhiễm;
- Về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật trên các vùng biển;
- Về việc thăm dò khai thác trong vùng đặc quyền kinh tế;
- Về các hành lang và hệ thống phân chia tuyền đường, các vùng cấm cho các tàu thuyền nước ngoài qua lại lãnh hải và nội thủy Việt Nam;
- Về việc bảo vệ các giàn khoan và các công trình của Việt Nam trên các vùng biển;
- Về điều tra, nghiên cứu khoa học trên các vùng biển của Việt Nam, nhất là ở vùng đặc quyền kinh tế v.v...
Trong tình hình hiện nay và những năm tới, các hành động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông và các vùng biển nước ta sẽ còn tiếp tục diễn biến phức tạp. Trước tình hình đó, một đòi hỏi khách quan và cấp bách là chúng ta phải có những chủ trương và giải pháp nhằm bảo vệ được chủ quyền và các lợi ích quốc gia trên biển trước mắt cũng như lâu dài tạo nên sự ổn định quốc phòng - an ninh trên biển, có giữ vững được quốc phòng an ninh trên biển mới có thể tạo điều kiện đẩy mạnh phát triển kinh tế biển một cách vững chắc.
Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện thắng lợi “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” theo Nghị quyết 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Trên cơ sở đó có những định hướng, những tiêu chí để xây dựng chiến lược quốc phòng an và an ninh trên biển để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh trật tự trên biển, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển…
Bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ biển, đảo của Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong đó Hải quân là lực lượng nòng cốt. Phải xây dựng được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân, kể cả sức mạnh của thời đại bằng kết hợp chặt chẽ mọi biện pháp đấu tranh quân sự, chính trị, kinh tế, pháp lý, ngoại giao… để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta.
Muốn đạt được những điều nêu trên, trước hết phải tăng cường tuyên truyền giáo dục ý thức về biển cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiểu rõ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc ta trên biển mà tổ tiên ta từ bao đời nay đã có công khai phá, làm chủ, nay đang đứng trước một thách thức mới, đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi người chúng ta có trách nhiệm bảo vệ, làm chủ thực sự đầy đủ đối với phần lãnh thổ biển đầy tiềm năng và có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta.
                Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân trên biển, kết hợp chặt chẽ với công tác giữ gìn an ninh trật tự trên biển đòi hỏi các lực lượng vũ trang phải cùng với tất cả các ngành, các địa phương và toàn dân thực hiện mới có kết quả.
                Muốn xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên biển, đảo, ngoài lực lượng chuyên trách về quốc phòng an ninh còn phải duy trì hoạt động của các lực lượng khác như lực lượng khai thác thủy sản, dầu khí, giao thông vận tải, khí tượng thủy văn, nghiên cứu khoa học biển… Chính các lực lượng này là sự hiện diện thể hiện chủ quyền của Việt Nam trên các vùng biển, đảo.
4. Hoàn thiện các văn bản pháp luật hiện hành về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam
Để quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản làm cơ sở cho công tác quản lý và thực thi nhiệm vụ trên các vùng biển và thềm lục địa của mình. Những văn bản này dựa trên những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, đồng thời cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của nước ta trên các vùng biển nhằm điều chỉnh các hoạt động trong việc giữ gìn, bảo vệ và quản lý các vùng biển Việt Nam. Ngay sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc ban hành các văn bản pháp luật về biển và tham gia tích cực vào việc xây dựng, ký kết, phê chuẩn và thực thi Công ước về luật biển 1982.
Việt Nam đã ký kết, gia nhập nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương. Hiện tại, Việt Nam đã ký nhiều điều ước quốc tế song phương với các quốc gia láng giềng về phân định các vùng biển chồng lấn: Hiệp định vùng nước lịch sử chung giữa Việt Nam - Campuchia ngày 07/7/1982; Hiệp định phân định biển trong Vịnh Thái Lan giữa Việt Nam và Thái Lan ngày 09/8/1997; Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 25/12/2000; Hiệp định phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia ngày 26/6/2003; Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Philippin ngày 28/6/2010; Bản ghi nhớ giữa Việt Nam và Malaysia về việc khai thác chung trong vùng chồng lấn thềm lục địa (trong Vịnh Thái Lan) ngày 05/6/1992.
Việt Nam đã phê chuẩn một số công ước chuyên ngành do IMO (Tổ chức hàng hải thế giới) chuẩn bị như IMO - SOLAS (Công ước về cứu hộ trên biển London ngày 01/11/1974, có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 18/3/1991), Công ước về mớn nước năm 1976, Công ước MARPOL ngày 02/11/1973 về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu 1973-1978, có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 18/3/1991, Công ước về dung tích tàu năm 1969 …
Việt Nam đã ban hành nhiều luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư và các quyết định liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, cụ thể như: Hiến pháp Việt Nam năm 1980 và 1992 (sửa đổi năm 2001); Luật an ninh quốc gia năm 2004; Luật Biên giới quốc gia năm 2003; Luật Thủy sản Việt Nam năm 2003; Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2005; Luật Dầu khí năm 2008; Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; Tuyên bố của Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982; Nghị định số 30 - CP ngày 29/01/1980 của Chính phủ về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của Việt Nam; Nghị định số 242 - HĐBT ngày 05/8/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về nghiên cứu khoa học trong các vùng biển Việt Nam; Nghị định 32/2010/NĐ-CP ngày 30/3/2010 của Chính phủ về Quản lý hoạt động nghề cá của người và phương tiện nước ngoài trong các vùng biển của Việt Nam[1]; Nghị định 55-CP ngày 01/10/1996 của Chính phủ về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm Việt Nam; Nghị định 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ về bảo đảm an toàn cho người và phương tiện nghề cá hoạt động trên biển[2]; Nghị định 86/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam[3]; Nghị định 41/2001/NĐ-CP ngày 24/7/2001 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển và việc phối hợp hoạt động giữa các lực lượng trên vùng biển, thềm lục địa của Việt Nam; Nghị định 21/2012/NĐ-CP ngày 21/3/2012 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải[4]; Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thuỷ sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển; Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển ban hành kèm theo Quyết định 103/2007/QĐ-TTg ngày 12/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc phối hợp trong hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trên biển; Nghị định số 50/2008/NĐ-CP ngày 21/4/2008 của Chính phủ về quản lý, bảo vệ an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng biển; Nghị định 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới biển; Nghị định số 137/2004/NĐ-CP ngày 16/6/2004 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam; Bộ luật Hàng hải Việt Nam sửa đổi năm 2005…
Ngoài ra, liên quan đến biển, đảo của Tổ quốc còn có Bộ luật Dân sự năm 2005; Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009; Pháp lệnh về Dân quân tự vệ năm 2004; Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997; Pháp lệnh Cảnh sát biển năm 2008 v.v...
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về biển và quản lý biển, đảo song như phần trên đã nêu, một số văn bản còn chồng chéo về chức năng và biện pháp thực thi nhiệm vụ, một số văn bản chưa đầy đủ cần phải bổ sung, sửa đổi.
- Một số vấn đề mang tính định hướng để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam:  
+ Cơ sở để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo:
 Trên cơ sở thể chế hoá đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và các chủ trương, định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; trong đó, có Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”.
Trên cơ sở các quy định của các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập; quy định của Hiến pháp, Luật Biên giới quốc gia và các văn bản pháp luật hiện hành khác của Việt Nam có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam.     
Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn công tác quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam.
Tham khảo tài liệu pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý, bảo vệ các vùng biển của các nước trên thế giới.
+ Những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam:
Hoàn thiện pháp luật nói chung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam nói riêng, được bắt đầu từ hoạt động xây dựng pháp luật. Hoạt động xây dựng pháp luật bao gồm: Việc soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hoặc huỷ bỏ các văn bản pháp luật không còn phù hợp.
 Trước tiên, phải nghiên cứu đánh giá hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam, xác định những văn bản quy phạm pháp luật còn phù hợp, những văn bản pháp luật đã lạc hậu cần sửa đổi, bổ sung; nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam xác định những quy luật khách quan của đời sống xã hội, những vấn đề cần được điều chỉnh bằng quan hệ pháp luật, trên cơ sở đó xây dựng, đưa ra các quy phạm pháp luật phù hợp; theo tinh thần Nghị quyết về công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội khoá IX tháng 12/1992 “Nhiệm vụ công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội là thể chế hoá cương lĩnh chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -xã hội của Đảng, rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành, định kế hoạch xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản đã ban hành, làm cho hệ thống pháp luật phù hợp với Hiến pháp mới, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân…”.. Định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2020 trong Nghị quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cũng đã khẳng định: “hoàn thiện pháp luật về biên giới quốc gia, vùng biển, vùng trời; về tổ chức, hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân”.
Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam phải đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng kịp thời những nhu cầu mà cuộc sống đặt ra, tạo cơ sở pháp lý cho quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam, bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới biển.
 Bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của cả hệ thống pháp luật quốc gia, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. 
Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam phải chú ý đến những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ quốc tế; vừa phải bảo đảm giữ được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, vừa không làm ảnh hưởng đến tiến trình đàm phán giải quyết các tranh chấp về biên giới, lãnh thổ với các nước hữu quan.
Cần nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam như sau:
Nhà nước cần sớm ban hành Luật biển Việt Nam - văn bản quy phạm pháp luật về biển mang tính chất tổng thể, thể hiện dưới dạng một đạo luật, làm cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về biển Việt Nam.
Nghiên cứu, xây dựng một hệ thống đường cơ sở của Việt Nam tương đối hoàn chỉnh cho phần lục địa Việt Nam (trong đó có hệ thống đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ) và quy định rõ các nguyên tắc xác định đường cơ sở của các đảo, quần đảo xa bờ của Việt Nam, đồng thời xác định rõ ranh giới các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam sao cho phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập. 
 Quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; phạm vi tuần tra, kiểm soát, quy chế phối hợp giữa các lực lượng tuần tra, kiển soát trên biển.
Nghiên cứu, xây dựng các quy định điều chỉnh các quan hệ cụ thể trên các lĩnh vực an toàn hàng hải; khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường biển; nghiên cứu khoa học; phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển.... 
        Xây dựng chế độ chính sách cụ thể, hợp lý cho những người trực tiếp và tham gia quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam.
Tăng cường đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về phân định ranh giới các vùng biển Việt Nam với các nước hữu quan...
Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam; như Luật Dân quân tự vệ; Pháp lệnh về nghĩa vụ lao động công ích theo hướng bảo đảm huy động nhân dân ở khu vực biên giới tham gia bảo vệ các vùng biển Việt Nam; nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hàng hải, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Thuỷ sản,...
Pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam là một bộ phận của pháp luật về biên giới quốc gia, cũng như của pháp luật Việt Nam. Do vậy, hoàn thiện pháp luật về quản lý, bảo vệ các vùng biển của Việt Nam góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, từ đó tạo ra cơ sở pháp lý cho việc quản lý, bảo vệ các vùng biển Việt Nam bằng pháp luật đạt hiệu quả cao nhất.

KẾT LUẬN
Biển Đông là một biển lớn, đứng thứ hai trên thế giới và đứng thứ nhất Đông Nam châu Á. Biển Đông là biển phụ thuộc của Thái Bình Dương, có quan hệ chặt chẽ về thủy văn với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Biển Đông có lưu vực rộng và sâu, là một vùng biển giàu đẹp của miền nhiệt đới, vô cùng phong phú về mặt tự nhiên cũng như giá trị về khai thác kinh tế, có vai trò to lớn trong xây dựng và củng cố thế trận quốc phòng - an ninh của đất nước ta.
Tuy nhiên, do có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh nên Biển Đông nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển của Việt Nam, của các nước xung quanh Biển Đông mà cả các cường quốc khác, nhất là Trung Quốc. Trong những năm gần đây và hiện nay, Biển Đông luôn là điểm nóng tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng nổ xung đột. Do vậy, Biển Đông vừa là môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu quốc tế, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức với đất nước ta.
Việt Nam đã có quan điểm và chủ trương nhất quán đối với việc giải quyết vấn đề Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; Tuyên bố ngày 12/11/1982 về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam; và các Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982” khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việt Nam hoan nghênh và tán thành các khuyến nghị của Hội nghị khu vực được tổ chức tại Băng Đung, Indonesia năm 1991 về Biển Đông với các nội dung chính là: mọi tranh chấp về lãnh thổ, quyền tài phán ở Biển Đông cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình thông qua thương lượng đối thoại; các bên tranh chấp trên Biển Đông cần tự kiềm chế không làm cho tình hình phức tạp thêm; xem xét các lĩnh vực có thể thương lượng hợp tác nhưng không làm tổn hại đến các đòi hỏi về lãnh thổ và quyền tài phán của các quốc gia ven biển.
Nhằm gìn giữ hòa bình trên Biển Đông, Việt Nam luôn có thiện chí, chủ trương giải quyết mọi tranh chấp biên giới, lãnh thổ bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thông qua đàm phán với các nước hữu quan để tìm ra giải pháp phù hợp cho các vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Với những nỗ lực bền bỉ, bình tĩnh, sáng suốt, nhưng kiên quyết trong xử lý các vấn đề liên quan đến biển, đảo trong thời gian vừa qua của Đảng, nhà nước ta đã được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, góp phần vào việc duy trì, củng cố hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và trên toàn thế giới.
Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, nhất là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một vấn đề thiêng liêng nhưng cũng hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài, đòi hỏi có sự đóng góp về công sức, trí tuệ của nhân dân, của nhiều thế hệ người Việt Nam; bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước là trách nhiệm của toàn dân và phải được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, phải tuyên truyền sâu rộng cho toàn dân, đẩy mạnh hơn nữa việc tu
pasting
yên truyền về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho mọi tầng lớp nhân dân, để mỗi người nâng cao nhận thức, xác định tốt nghĩa vụ, trách nhiệm của mọi công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

[1] Nghị định này thay thế cho các Nghị định 191/2004/NĐ-CP ngày 10/11/2004, Nghị định số 49/1998/NĐ-CP ngày 13/7/1998 của Chính phủ và Nghị định số 437-HĐBT ngày 22/12/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về Quản lý hoạt động nghề cá của người và phương tiện nước ngoài trong các vùng biển của Việt Nam.
[2] Thay cho Nghị định số 72/1998/NĐ-CP ngày 15/9/1998 của Chính phủ về bảo đảm an toàn cho người và phương tiện nghề cá hoạt động trên biển.
[3] Thay cho Nghị định số 53/1998/NĐ-CP ngày 21/7/1998 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
[4] Thay cho các Nghị định số 71/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải.

Chương IV: Chủ quyền biển đảo của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.(Phần III).

Chủ quyền của nước CHXHCN Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

IV. CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
1.     Quần đảo Hoàng Sa
 
Hình 17: Bản đồ khu vực quần đảo Hoàng Sa
Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm giữa Biển Đông. Từ lâu, Hoàng Sa cũng nh­ư Tr­ường Sa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam với tên Bãi Cát Vàng - Hoàng Sa.
Quần đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm trong khoảng vĩ độ 15045' đến 17o15' Bắc, kinh độ 111o đến 113o Đông, ngang với vĩ độ Huế và Đà Nẵng, cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi hơn 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lý. Hoàng Sa nằm ở phía ngoài vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc Biển Đông, trên con đ­ường biển quốc tế từ châu Âu đến các n­ước ở phía Đông và Đông Bắc Á và giữa các n­ước châu Á với nhau.
Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo trong vùng biển rộng khoảng 16.000km2, chiều rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, chia làm 2 nhóm: nhóm phía Đông có tên là An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo nhỏ và một số đảo đá san hô, trong đó có 2 đảo lớn hơn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng 1,5km2; nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp vòng cung nên gọi là nhóm L­ưỡi Liềm, trong đó có các đảo Hoàng Sa (diện tích gần 1km2), Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hoà, Duy Mộng, Tri Tôn…Tổng diện tích phần nổi của quần đảo khoảng 10km2. Riêng đảo Hoàng Sa có trạm khí tư­ợng của Việt Nam hoạt động năm 1938 đến năm 1947, đư­ợc tổ chức khí t­ượng quốc tế đặt số hiệu 48-680 (số 48 chỉ khu vực Việt Nam).
D­ưới triều Nguyễn[1], Quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam. Năm 1938 thuộc tỉnh Thừa Thiên. Năm 1961 gọi là xã Định Hải, quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam. Năm 1982, Chính phủ ra quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Năm 1956, Trung Quốc chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Tháng 01 năm 1974, trong lúc quân và dân ta đang tập trung sức tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc đã đư­a quân ra đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
2.     Quần đảo Trường Sa
 
Hình 18: Chủ quyền Việt Nam trên đảo Trường Sa, quần đảo Trường Sa
 
Hình 19: Bản đồ khu vực quần đảo Trường Sa
Quần đảo Trường Sa nằm về phía Đông Nam của Biển Đông, gồm trên 100 đảo, đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm, cách quần đảo Hoàng Sa tính đến đảo gần nhất là khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất cách khoảng 500 hải lý, cách Cam Ranh 250 hải lý, cách đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách Bình Thuận (Phan Thiết) 270 hải lý. Quần đảo trải dài từ khoảng vĩ độ 06050’- 12000’Bắc, từ kinh độ 111030’đến 117020’Đông, vùng biển chiếm khoảng 180.000km2, với chiều Đông Tây gần 350 hải lý, chiều Bắc Nam là 274 hải lý, hòn đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) ít nhất cũng khoảng trên 600 hải lý. Vùng biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi trên mặt nước lại rất ít, chỉ tổng cộng khoảng 10km2. Về số lượng đảo theo thống kê của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao (Vụ Biển thuộc Ban Biên giới Chính phủ) năm 1988 bao gồm 137 đảo, đá, bãi, không kể 5 bãi ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam gồm: bãi Phúc Trần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tư Chính[2].
Quần đảo Tr­ường Sa được chia làm 8 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Tr­ường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên. Khoảng cách gần nhất giữa các đảo là từ đảo Song Tử Tây đến Song Tử Đông là 1,5 hải lý; xa nhất từ đảo Song Tử Tây đến An Bang khoảng 280 hải lý. Đảo Song Tử Tây là đảo cao nhất (cao 4m đến 6m lúc triều xuống); Ba Bình là đảo rộng nhất (0,6km2) trong quần đảo. Tổng diện tích phần nổi thường xuyên của quần đảo tương đương với quần đảo Hoàng Sa, nhưng quần đảo trải dài trên vùng biển gấp 12 lần Hoàng Sa.
Tại quần đảo Tr­ường Sa, đang diễn ra tình trạng có một số n­ước tranh chấp chủ quyền với nước ta. Hiện nay, Philipin chiếm 8 đảo, Malaysia chiếm 5 bãi đá và bãi cạn, Đài Loan chiếm 1 đảo và bãi Bàn Than (là bãi đá san hô giữa đảo Ba Bìnhđảo Sơn Ca bị Đài Loan chiếm trái phép năm 1995), Trung Quốc chiếm 7 bãi đá ngầm, Việt Nam đang có mặt và bảo vệ 21 đảo và bãi đá ngầm trên quần đảo Trường Sa. Yêu sách của Philipin đối với quần đảo Trường Sa không thể hiện trước những năm 1970. Yêu sách của Đài Loan phụ thuộc vào rất nhiều thời cơ, gắn với việc thay chân quân Nhật sau khi chiến tranh kết thúc trong khi Đài Loan không có quyền làm việc này. Malaysia gần đây mới đưa ra yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.
3. Vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Các đảo và quần đảo trong Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nhiều nước. Nằm ở trung tâm Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất trên thế giới.
 Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của châu Á có hai điểm trọng yếu: Thứ nhất là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của lndonesia và Malaysia). Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hoá của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. Ba eo biển thuộc chủ quyền của lndonesia là Sunda, Blombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong tình huống eo biển Malacca ngừng hoạt động khi có sự cố. Tuy nhiên, nếu phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hoá qua lại giữa Ấn Độ Dương sang ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài hơn. Điểm trọng yếu thứ hai là vùng Biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu cho giao lưu hàng hoá của nhiều nước châu Á. Xuất khẩu hàng hoá của Nhật Bản phải đi qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công nghiệp mới 26%, Australia 40% và Trung Quốc 22% (trị giá khoảng 31 tỷ đô la). Nếu khủng hoảng nổ ra ở vùng biển này, các loại tàu biển phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua nam Australia thì cước phí vận tải thậm chí sẽ tăng gấp nhiều lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
 Ngoài ra, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè... Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông.
4. Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các giai đoạn lịch sử
a. Giai đoạn từ thế kỷ XVI-XVIII theo bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây
Nhận thức của các nhà hàng hải thời xưa về Hoàng Sa và Trường Sa lúc đầu còn mơ hồ, họ chỉ biết có một khu vực rộng lớn rất nguy hiểm cho tàu thuyền vì có những bãi đá ngầm. Ngày xưa người Việt Nam gọi là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa như các sách và bản đồ cổ của Việt Nam đã chứng tỏ. Hầu như tất cả các bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đều vẽ chung quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa làm một dưới cái tên Pracel, Parcel hay Paracels.
Về sau, với những tiến bộ của khoa học và hàng hải, người ta đã phân biệt có hai quần đảo: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Mãi cho đến năm 1787-1788, cách đây hai trăm năm, đoàn khảo sát Kergariou-Locmaria mới xác định được rõ ràng và chính xác vị trí của quần đảo Hoàng Sa (Paracel) như hiện nay, từ đó phân biệt quần đảo này với quần đảo Trường Sa ở phía Nam.
 Bản đồ của nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp như Lazaro Luis, Fer danão Vaz Dourdo, João Teixeira, Janssonius, Willem Jansz Blaeu, Jacob Aertsz Colom, Theunis Jacobsz, Hendrick Doncker, Frederich De Wit Pietre du Val, Henricus E. Van Langren, v.v...
Các bản đồ trên nói chung đều xác định vị trí khu vực Pracel (tức là cả Hoàng Sa và Trường Sa) là ở giữa Biển Đông, phía Đông Việt Nam, bên ngoài những đảo ven bờ của Việt Nam.
Hai quần đảo mà các bản đồ hàng hải quốc tế ngày nay ghi là Paracels và Spratley hoặc Spratly chính là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trên Biển Đông đã được thế giới khẳng định qua các bản đồ đã được xuất bản và công bố từ hơn 500 năm qua.
Việt Nam trên các bản đồ Tây phương mới, từ đầu thế kỷ XVI:
 
Hình 20: Diogo Ribeiro, năm 1529
 Hầu hết các bản đồ cổ do người Tây phương vẽ từ đầu thế kỷ XVI đều ghi quần đảo Paracel (gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa) tương ứng với vị trí của Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trên Đại Nam Thống nhất toàn đồ. Quần đảo ấy ở giữa Biển Đông và bờ biển Paracel (costa da Paracel ) luôn được ghi ở khoảng đất liền Quảng Ngãi (vòng tròn đỏ)
 
Hình 21: Livro da Marinharia, năm 1560
 
Hình 22: Bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI
 
Hình 23: Bản đồ lưu trữ ở La Haye, Hà Lan năm 1658
b. Giai đoạn phong kiến
Từ lâu nhân dân Việt Nam đã phát hiện hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó một cách thật sự, liên tục và hoà bình.
Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam: “giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”,
Trong Giáp Ngọ Bình Nam đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoán quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
Phủ biên tạp lục, cuốn sách của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776, viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558-1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi.
 
Hình 24: Đại Nam nhất thống toàn đồ 1834
Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ nước Việt Nam thời nhà Nguyễn, vẽ vào khoảng năm 1834, ghi “Hoàng Sa” (số 1) - “Vạn lý Trường Sa” (số 2) thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Hình 25: An Nam Đại quốc họa đồ năm 1838
An Nam Đại quốc họa đồ ghi rõ bằng chữ quốc ngữ: Paracel seu Cát Vàng ( đảo Paracel hay Cát Vàng)
Bản đồ An Nam Đại quốc hoạ đồ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi lẽ giám mục Taberd (Pháp) lập và xuất bản năm 1838 đã vẽ rất chính xác về tọa độ Paracel hay Hoàng Sa của Việt Nam: vĩ độ hơn 160 Bắc, kinh độ hơn 1100 Đông trên bản đồ “An Nam Đại quốc họa đồ”. Giám mục Taberd còn ghi rõ, tỉ mỉ trên bản đồ: Paracel seu Cat Vang (seu tiếng Latinh có nghĩa: hay là. Paracel hay là Cát Vàng tức Hoàng Sa). Đây là chứng cứ hiếm quí, tài liệu duy nhất của người nước ngoài vẽ rất cụ thể, xác lập tọa độ khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Đặc biệt trên bản đồ này không ghi chú hòn đảo nào của nước ngoài. Bản đồ vừa khách quan vừa cụ thể khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam[3].
Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý Việt Nam do Quốc Sử quán nhà Nguyễn (1802-1845) soạn xong năm 1882 ghi Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
                Trong bài Địa lý vương quốc Cochinchina của Gutzlaff, xuất bản năm 1849 có đoạn nói rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là "Cát Vàng".
Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thế kỷ nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hình và tài nguyên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó.
Trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII) ghi rõ:
“Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy,... có gió Đông Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hoá thì đều để lại ở nơi đó”.
“Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816)...vua phái Thuỷ quân và đội Hoàng Sa cưỡi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thuỷ”. 
“Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)...Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mảnh, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.
“Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)... dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn Lý Ba Bình”.
“Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1...sau khi nhận nội dung tờ Tâu của Bộ Công:
“Vua y lời tâu, phái Suất đội Thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.
Cũng trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi, năm 1847 Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị tờ Tâu, trong đó có viết: Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau. Vua Thiệu Trị đã phê: “Đình”.
 
     Hình 26: Tờ tâu của Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị năm 1847
Trong Đại Nam nhất thống chí (1882):
“Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông cù lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hoá vật của các tầu thuyền bị nạn bão trôi dạt ở đấy”.
Các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) cũng mô tả Hoàng Sa một cách tương tự.
Do đặc điểm của Hoàng Sa và Trường Sa là có nhiều hải sản quý lại có nhiều hoá vật của tàu bị đắm như trên đã nói, Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo đó với tư cách một quốc gia làm chủ. Nhiều sách lịch sử và địa lý cổ của Việt Nam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụ làm việc khai thác đó.
Thời Tây Sơn, Nhà nước vẫn tiếp tục tổ chức việc thai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa.
Từ khi nắm chính quyền năm 1802 đến khi ký với Pháp Hiệp ước 1884, các vua nhà Nguyễn luôn quan tâm củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đội Hoàng Sa, sau được tăng cường thêm đội Bắc Hải, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn (1802-1945).
Như vậy, qua các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây nói trên từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác; điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam.
Việc nước Pháp nhân danh Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa:
Từ khi ký kết Hiệp ước ngày 06/6/1884 với triều đình nhà Nguyễn, Pháp đại diện quyền lợi của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại và việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong khuôn khổ sự cam kết chung đó, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1899, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị với Pari xây tại đảo Hoàng Sa (Pattle) trong quần đảo Hoàng Sa một cây đèn biển để hướng dẫn các tàu biển qua lại vùng này, nhưng kế hoạch không thực hiện được vì thiếu ngân sách.
Ngày 21/12/1933, thống đốc Nam Kỳ M. J. Krautheimer ký Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa.
Năm 1937, nhà đương cục Pháp cử kỹ sư công chính Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa nghiên cứu chỗ xây dựng đèn biển, lập bãi thuỷ phi cơ.
Tháng 02/1937 tuần dương hạm Lamotte Piquet do Phó đô đốc Istava chỉ huy thăm quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 29/3/1938, vua Bảo Đại ký Dụ tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Nghĩa đặt vào tỉnh Thừa Thiên.
Dụ của vua Bảo Đại ký ngày 29/3/1938:
“Chiếu chỉ các Cù lao Hoàng Sa (Archipel des iles Paracels) thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các Cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Nghĩa: đến đời Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các Cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam Nghĩa.
Ngày 15/6/1938 toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Năm 1938, Pháp dựng bia chủ quyền, xây dựng xong đèn biển, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Hoàng Sa (Ile Pattle), trong quần đảo Hoàng Sa, xây dựng trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Itu Aba trong quần đảo Trường Sa.
Hàng chữ trên bia: “Cộng hoà Pháp, Vương quốc An-nam, quần đảo Hoàng Sa, 1816 - đảo Pattle - 1938” (1816 là năm vua Gia Long thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo Hoàng Sa, 1938 là năm dựng bia).
Hình 27: Bia chủ quyền do Pháp dựng năm 1938
Suốt trong thời gian đại diện Việt Nam về mặt đối ngoại, Pháp luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 
Ngày 24/7/1933, Pháp thông báo cho Nhật việc Pháp đưa quân ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa;
Ngày 07/9/1951, Trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Bảo Đại là Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký Hoà ước với Nhật Bản rằng: “từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.
Lời tuyên bố của Đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội nghị San Francisco năm 1951.(Đăng trong tạp chí France-A’e số 66-67 Novembre-Décembre, 1951)
Tuyên bố đó không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của đại diện 51 quốc gia tham dự Hội nghị.
c. Giai đoạn từ 1954 đến tháng 4/1975
Chính phủ Sài Gòn, sau đó là cả Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cũng đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Năm 1956, lực lượng hải quân của chính quyền Sài Gòn tiếp quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi Pháp rút quân về nước.
Ngày 22/10/1956, chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.
Ngày 13/7/1961, chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang và đặt dưới quyền một phái viên hành chính.
Từ 1961 đến 1963, chính quyền Sài Gòn lần lượt cho xây bia chủ quyền ở các đảo chính của quần đảo Trường Sa như: Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây,...
Ngày 21/10/1969, chính quyền Sài Gòn sáp nhập xã Định Hải vào xã Hoà Long cũng thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 06/9/1973, chính quyền Sài Gòn sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Nghị định số 420-BNV/HCĐP/26 ngày 06/9/1973 của Bộ Nội vụ Việt Nam cộng hoà... ý thức về chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, các chính quyền miền Nam Việt Nam đều bảo vệ chủ quyền đó mỗi khi có nước ngoài biểu thị ý đồ tranh giành hay xâm chiếm đảo nào đó trong hai quần đảo.
Ngày 16/6/1956, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn tuyên bố một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Đồng thời cũng trong năm này, chính quyền Sài Gòn đã kịch liệt phản đối việc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Ngày 20/4/1971, chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Ngày 13/7/1971 Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó trong cuộc họp báo ngày 10/7/1971.
Ngày 19/01/1974, lực lượng quân sự của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm đóng nhóm Tây Nam của quần đảo Hoàng Sa và cũng trong ngày này chính quyền Sài Gòn tuyên bố lên án Cộng hoà nhân dân Trung Hoa xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Ngày 14/02/1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn công bố “ Sách trắng” về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 26-01-1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ; ngày 14/02/1974 tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
d. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Trong hai ngày 05 và 06/5/1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thông báo việc giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do Chính quyền Sài Gòn đóng giữ. Ngày 28/6/1974, tuyên bố tại khoá họp thứ nhất Hội nghị Luật biển lần thứ 3 ở Caracas rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam.
Tháng 9/1975, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng ở Colombo tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam và yêu cầu Tổ chức khí tượng thế giới tiếp tục ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam trong danh mục trạm khí tượng của Tổ chức khí tượng thế giới.
Ngày 02/7/1976, nước Việt Nam thống nhất dưới tên gọi mới Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về biển, đảo và hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa như: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 và năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 14/6/2005; Luật Biên giới quốc gia năm 2003 và Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia 2003; Luật Dầu khí ngày 06/7/1993 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí ngày 09/6/2000 và Nghị định số 48/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí năm 2000; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dầu khí ngày 03/06/2008); Pháp lệnh số 03/2008/PL-UBTVQH12 ngày 26/01/2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; các Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và Tuyên bố ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có các vùng biển riêng được quy định cụ thể trong các văn bản sau đó; Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn Công ước về luật biển năm 1982; Nghị định số 71/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải; Nghị định số 30-CP ngày 29/01/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) quy định về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của Việt Nam; Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ quy định về Quy chế khu vực biên giới biển; Nghị định số 55-CP ngày 01/10/1996 của Chính phủ quy định về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam v.v...
Về quản lý hành chính, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản như: Quyết định số 194-HĐBT ngày 09/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập huyện đảo Hoàng Sa và trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng; Nghị quyết của Quốc hội khóa VII, phiên họp thứ 4 ngày 28/12/1982, đã sáp nhập huyện đảo Trường Sa của tỉnh Đồng Nai vào tỉnh Phú Khánh. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. 
Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa hoặc trong các Công hàm gửi các bên có liên quan, hoặc trong các Tuyên bố của Bộ Ngoại giao, hoặc trong các Hội nghị của Tổ chức Khí tượng thế giới ở Genève vào tháng 6/1980, của Đại hội Địa chất thế giới ở Paris vào tháng 7/1980 v.v…
Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố “Sách trắng” vào các năm: 1979, 1981 và năm 1988 về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.
Ngày 14/3/1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Tuyên bố lên án Trung Quốc gây xung đột vũ trang và chiếm đoạt một số bãi đá ngầm tại quần đảo Trường Sa.
Tháng 04/2007, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa.
Lập trường của Việt Nam luôn khẳng định nhất quán là: Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa ít nhất từ thế kỷ thứ XVII khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào. Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi Việt Nam chiếm hữu thật sự hai quần đảo này đến nay, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hòa bình cho đến khi nó bị các lực lượng vũ trang nước ngoài xâm chiếm.
Từ những tư liệu lịch sử rõ ràng và căn cứ vào những nguyên tắc của luật pháp và tập quán quốc tế, có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Một là, từ lâu, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào;
Hai là, từ thế kỷ XVII đến nay, trong nhiều thế kỷ liên tục, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa một cách thật sự, liên tục và hoà bình;
Ba là, Nhà nước Việt Nam luôn luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi mưu đồ và hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
 
Hình 28: Bia chủ quyền Việt Nam do chính quyền Sài Gòn dựng trên đảo Trường Sa, quần đảo Trường Sa (1961)
e. Một số tư liệu - điều ước quốc tế liên quan đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
1. Tuyên bố Cairo ngày 27/11/1943, khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, Hội nghị tam cường Anh, Mỹ, Trung (Cộng hòa Trung Hoa, đại diện lúc đó là Tưởng Giới Thạch) đã họp và ra một bản Tuyên bố tại Cairo (thủ đô Ai-Cập). Tuyên bố có đoạn viết: “…Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa”.
Như vậy, liên quan đến phần lãnh thổ của Trung Quốc, Tuyên bố Cairo chỉ khẳng định ý chí của các cường quốc là buộc Nhật Bản phải trao trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc gồm “Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ”, không có gì liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
2. Tại Hội nghị Postdam ngày 26/7/1945, những người đứng đầu 3 nước Mỹ, Anh, Trung (Cộng hòa Trung Hoa) lại tiếp tục ra Tuyên bố[4] khẳng định “Các điều khoản của Tuyên bố Cai-rô sẽ được thi hành”. Sau khi tuyên chiến với Nhật Bản ở Viễn Đông, Liên Xô cũng tham gia Tuyên ngôn này.
Theo quyết định của Hội nghị Postdam là Trung Quốc chịu trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật ở khu vực Bắc vĩ tuyến 16. Từ cuối năm 1946, quân đội của Tưởng Giới Thạch đến một số đảo của quần đảo Hoàng Sa và các tỉnh phía bắc Việt Nam để thực hiện việc giải giáp quân đội Nhật Bản ở đây, hoạt động này hoàn toàn không có ý nghĩa xác định hoặc thu hồi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
3. Hội nghị San Francisco từ ngày 04 đến ngày 08/9/1951, có đại diện 51 nước tham dự để bàn về việc ký Hòa ước với Nhật Bản.
Cũng tại Hội nghị San Francisco, ngày 07/9/1951, Trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố rằng: từ lâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và “cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn luôn thuộc về Việt Nam”.
Không có bất cứ một đại diện nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị có ý kiến phản đối hoặc bảo lưu đối với tuyên bố trên của đại diện Việt Nam tại Hội nghị.
Những tư liệu và chứng cứ kể trên cho thấy một cách rõ ràng là những văn kiện pháp lý quốc tế, từ Tuyên bố Cairô ngày 27/11/1943 (và Tuyên ngôn của Hội nghị Postdam ngày 26/7/1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cairo) đến Hòa ước San Francisco ký ngày 08/9/1951 đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Đường cơ sở của Trung Quốc (theo Tuyên bố ngày 15/5/1996 của Chính phủ Trung Quốc) tiếp giáp với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) gồm 28 điểm nối liền các điểm nhô ra nhất là các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo. Và việc Trung Quốc vạch đường cơ sở như vậy đồng nghĩa với việc coi vùng nước bên trong các đảo nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa là nội thủy của Trung Quốc, không quốc gia nào có quyền qua lại. Ngoài ra, Quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam để “quản lý” Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là hoàn toàn trái (hay vi phạm) các định chế trong Công ước về luật biển năm 1982 nói riêng, luật pháp quốc tế nói chung và trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo mà từ đầu thế kỷ XVII, tổ tiên người Việt Nam đã xác nhận chủ quyền và chủ quyền đó đã tồn tại liên tục qua nhiều thế kỷ đến ngày nay[5].
5. Một số giải pháp trước mắt nhằm ổn định tình hình ở hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
Khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là khu vực hiện đang còn tranh chấp về đòi hỏi chủ quyền giữa các nước có liên quan, tranh chấp đã diễn ra liên tục, phức tạp, có lúc gay gắt. Đặc biệt là từ cuối năm 1990 đến nay, do ảnh hưởng của diễn biến tình hình trên thế giới và khu vực nên tình hình tranh chấp trên biển, đảo của các nước trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa tiếp tục diễn biến phức tạp, ngấm ngầm nhưng gay gắt trên nhiều phương diện với những thủ đoạn và hình thức mới. Tuy nhiên, các nước có liên quan đều muốn có một môi trường ổn định để xây dựng, khai thác và phát triển kinh tế biển của mình.
Việc tranh chấp chủ quyền trên biển rất khó khăn, không chỉ ở Biển Đông mà trên thế giới có khoảng 280 vùng biển có tranh chấp; thậm chí, có nơi vài chục năm nay vẫn chưa giải quyết ổn thỏa. Bên nào tranh chấp cũng có những lý lẽ riêng của mình để bảo vệ quyền lợi trong khi luật pháp quốc tế, định chế quốc tế trong Công ước về luật biển chỉ có thể chấp nhận phải trên cơ sở pháp lý của nó. Việc các bên thỏa thuận, thương lượng với nhau đã khó nên việc biểu thị tinh thần hiểu biết lẫn nhau để tìm một giải pháp mà các bên đều chấp nhận được lại còn khó hơn.
Mọi sự tranh chấp, yêu sách về biển, mọi việc hoạch định biên giới giữa các quốc gia lân cận chỉ có thể giải quyết thực sự nếu tất cả các bên liên quan đều có thiện chí muốn đi tới giải quyết.
Trong tình hình hiện nay, việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông nói chung và ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng là vấn đề khó khăn mà không thể giải quyết một sớm một chiều. Các nước xung quanh Biển Đông và nhất là ở hai khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang mong muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của mình.
Từ năm 1991 đến nay, các học giả nước ngoài cũng có những ý kiến đề xuất về phạm vi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc và các nước ASEAN cũng đã đề xuất xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), xây dựng lòng tin trong diễn đàn ARF, ASEAN và đặc biệt ngày 04/11/2002 tại Hội nghị cấp cao ASEAN họp ở Phnômpênh (Campuchia), Chính phủ các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã ký kết bản Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Tuy chưa thống nhất được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông, nhưng Tuyên bố DOC là bước đi đầu tiên tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông giữa các bên có liên quan.
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông là một văn kiện chính trị đầu tiên về cách ứng xử của các bên ASEAN và Trung Quốc ở Biển Đông. Phạm vi áp dụng Tuyên bố DOC bao gồm toàn bộ vùng Biển Đông. Tuy không chỉ rõ vùng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông nhưng cho phép hiểu rằng các nguyên tắc của Tuyên bố không chỉ áp dụng cho khu vực Trường Sa mà cả Hoàng Sa hay bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham).
Nội dung của Tuyên bố DOC cơ bản đáp ứng được lập trường, nguyên tắc của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc gia nhập. Nội dung cơ bản của Tuyên bố DOC bao gồm:
Một là, các bên tái khẳng định cam kết của mình đối với các mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 (UNCLOS), Hiệp ước hữu nghị và hợp tác khu vực Đông Nam Á (TAC), Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình (của Trung Quốc) và những nguyên tắc được thừa nhận phổ biến khác của luật pháp quốc tế được coi là quy tắc căn bản điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với nhà nước;
Hai là, các bên cam kết tìm kiếm những cách thức xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau hài hòa với những nguyên tắc nêu trên và trên căn bản bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau;
Ba là, các bên tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của mình đối với quyền tự do hoạt động hàng hải và bay trên vùng trời Biển Đông như đã được minh thị bởi các nguyên tắc được thừa nhận phổ biến trong luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982;
Bốn là, các bên liên quan chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và về quyền thực thi luật pháp bằng các phương tiện hòa bình mà không viện đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thông qua các cuộc tham vấn thân thiện và những cuộc đàm phán bởi các quốc gia có chủ quyền có liên quan trực tiếp, phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận phổ quát của luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982;
Năm là, các bên chịu trách nhiệm thực hiện sự tự chế trong việc thi hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và sự ổn định, kiềm chế không tiến hành đưa người đến sinh sống trên những hòn đảo hiện không có người sinh sống, trên các rặng đá ngầm, bãi cát ngầm, đảo nhỏ và những yếu tố khác và phải được xử lý những khác biệt của mình bằng phương pháp có tính xây dựng. Trong khi chờ đợi sự dàn xếp hòa bình cho các tranh chấp về lãnh thổ và quyền thực thi pháp luật, các bên liên quan tiến hành tăng cường những nỗ lực nhằm tìm kiếm các phương cách xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau trong tinh thần hợp tác và hiểu biết, bao gồm: tổ chức các cuộc đối thoại và trao đổi quan điểm một cách thích đáng giữa các quan chức phụ trách quân sự và quốc phòng; bảo đảm đối xử công bằng và nhân đạo đối với tất cả mọi người đang gặp hiểm nguy hoặc tai họa; thông báo trên cơ sở tự nguyện cho các bên liên quan khác về mọi cuộc tập luyện quân sự liên kết hỗn hợp sắp diễn ra; trao đổi trên cơ sở tự nguyện những thông tin liên quan;
Sáu là, trong khi chờ đợi một sự dàn xếp toàn diện và bền vững những tranh chấp, các bên liên quan có thể tìm kiếm hoặc tiến hành các hoạt động hợp tác. Những hoạt động này có thể bao gồm các điều sau đây: bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; an toàn hàng hải và thông tin trên biển; hoạt động tìm kiếm cứu hộ; đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, kể cả nhưng không hạn chế trong hoạt động buôn lậu các loại thuốc cấm, hải tặc và cướp có vũ trang trên biển, hoạt động buôn bán trái phép vũ khí. Thể thức, quy mô và địa điểm, đặc biệt là sự hợp tác song phương và đa phương, cần phải được thỏa thuận bởi các bên có liên quan trước khi triển khai thực hiện trong thực tế;
Bảy là, các bên liên quan sẵn sàng tiếp tục các cuộc đối thoại và tham vấn về những vấn đề liên quan, thông qua các thể thức được các bên đồng ý, kể cả các cuộc tham vấn thường xuyên theo quy định của Tuyên bố này, vì mục tiêu khuyến khích sự minh bạch và láng giềng tốt, thiếp lập sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau một cách hài hòa, và tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và tranh chấp giữa các bên;
Tám là, các bên có trách nhiệm tôn trọng những điều khoản của Tuyên bố này và hành động phù hợp với sự tôn trọng đó;
Chín là, các bên khuyến khích các nước khác tôn trọng các nguyên tắc bao hàm trong Tuyên bố này;
Mười là, các bên liên quan khẳng định rằng việc tiếp thu một bộ quy tắc về ứng xử trên Biển Đông sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn hòa bình và ổn định trong khu vực và nhất trí làm việc trên căn bản đồng thuận để tiến tới hoàn thành mục tiêu này[6].
Dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử (COC) của ASEAN đã được đề cập đến hầu hết các nguyên tắc chính trong Tuyên bố DOC của ASEAN và trên cơ sở các nguyên tắc chính như:    - Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
- Nguyên tắc tự kiềm chế.
- Nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.
- Nguyên tắc tìm kiếm các biện pháp xây dựng niềm tin.
- Nguyên tắc hợp tác.
- Nguyên tắc tham khảo ý kiến của nhau.
- Nguyên tắc tôn trọng tự do hàng hải và hàng không quốc tế.
Tuyên bố DOC không phải để giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán trên Biển Đông, mà đó là các biện pháp nhằm làm giảm bớt căng thẳng, xây dựng lòng tin để đi đến giải pháp cơ bản, lâu dài cho việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, quyền tài phán một cách hòa bình giữa các bên có liên quan ở Biển Đông. Sự hợp tác này không được hiểu như là sự ủng hộ chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”.


[1] Nhà Nguyễn (Nguyễn triều) là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi hoàng đế Gia Long lên ngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và sụp đổ hoàn toàn khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 – tổng cộng là 143 năm.
[2] http://nghiencuubiendong.vn/tong-quan-ve-bien-dong/561-trng-sa
[3] http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/253949/An-Nam-Dai-quoc-hoa-do.html
[4] Tuyên bố Potsdam có 13 điểm, trong đó điểm thứ 8 nói về việc thực thi Tuyên bố Cairo. Cụ thể: 1) Chúng tôi, Tổng thống Hoa Kỳ, Chủ tịch Chính phủ quốc gia của nước Trung Hoa Dân Quốc và Thủ tướng Chính phủ của Vương quốc Anh, đại diện cho hàng trăm triệu đồng bào của chúng tôi, đã thảo luận và đồng ý rằng Nhật Bản sẽ được trao một cơ hội cuối cùng để kết thúc cuộc chiến tranh này; ……. 8) Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện và chủ quyền của Nhật Bản được giới hạn ở các đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và các đảo nhỏ do chúng tôi xác định; …. 
[5]Ngay từ thế kỷ thứ 17, triều đình Nhà Nguyễn (Việt Nam) đã thực thi quyền làm chủ của mình trên quần đảo Hoàng Sa (黄沙群島 Paracel Archipelago) và quần đảo Trường Sa (長沙群島 Spratly Archipelago); năm 1920, Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo; năm 1925, tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo do Dr. Krempt, Giám đốc Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức; ngày 8/3/1921, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp; năm 1927, Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa; Năm 1930, ba tàu Pháp là La Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ Pháp trên quần đảo này; năm 1932, Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa. Pháp sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên; năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa; năm 1938, Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa; năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, Nhật tuyên bố từ bỏ tất cả các đảo, Đại diện chính phủ Bảo Đại là Thủ tướng Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo mà không có nước nào lên tiếng phản đối; năm 1956, quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Đội canh của Pháp trên đảo Pattle được thay thế bởi đội canh của Việt Nam; ngày 01/6/1956, Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; ngày 22/8/1956, một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hoà cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia đá; năm 1961, Việt Nam Cộng hoà sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Quảng Nam; năm 1973, quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy; Ngày 19/01/1974, Trung Quốc cưỡng chiếm Quần đảo Hoàng Sa; từ năm 1988, Trung Quốc chiếm thêm một đảo/đá nữa của Quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Xem.: http://www.seasfoundation.org/content/view/12/29. Đọc thêm: điều 1, các Hiến pháp Việt Nam năm 1980 và 1992 (sđ,bs năm 2001); Nguyễn Nhã. Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa - Tạp chí Sử Địa số 29-1975; Tuyên bố Cairo (Ai Cập) ngày 26/11/1943 về việc kết thúc chiến tranh với Nhật Bản và giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, trong đó có vấn đề lãnh thổ nước bị Nhật Bản cướp đoạt và chiếm đóng; Tuyên bố Potsdam ngày 26/7/1945 quy định về phương cách giải giáp quân đội Nhật Bản ở Đông Dương; Hoà ước San Francisco ngày 08/9/1951 về chấm dứt chiến tranh tại châu Á - Thái Bình Dương; Hiệp uớc hoà bình Trung - Nhật (Trung Hoa Dân quốc và Nhật Bản) năm 1952 về việc giải quyết vấn đề các lãnh thổ bị Nhật Bản chiếm đóng sau Thế chiến 2; Tuyên bố của Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu (tại Hội nghị San Francisco ngày 08/9/1951) về việc xác định chủ quyền đã có từ lâu đời của Quốc gia Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.