Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

Chương IV: Chủ quyền biển đảo của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.(Phần III).

Chủ quyền của nước CHXHCN Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

IV. CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
1.     Quần đảo Hoàng Sa
 
Hình 17: Bản đồ khu vực quần đảo Hoàng Sa
Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm giữa Biển Đông. Từ lâu, Hoàng Sa cũng nh­ư Tr­ường Sa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam với tên Bãi Cát Vàng - Hoàng Sa.
Quần đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm trong khoảng vĩ độ 15045' đến 17o15' Bắc, kinh độ 111o đến 113o Đông, ngang với vĩ độ Huế và Đà Nẵng, cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi hơn 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lý. Hoàng Sa nằm ở phía ngoài vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc Biển Đông, trên con đ­ường biển quốc tế từ châu Âu đến các n­ước ở phía Đông và Đông Bắc Á và giữa các n­ước châu Á với nhau.
Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo trong vùng biển rộng khoảng 16.000km2, chiều rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, chia làm 2 nhóm: nhóm phía Đông có tên là An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo nhỏ và một số đảo đá san hô, trong đó có 2 đảo lớn hơn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng 1,5km2; nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp vòng cung nên gọi là nhóm L­ưỡi Liềm, trong đó có các đảo Hoàng Sa (diện tích gần 1km2), Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hoà, Duy Mộng, Tri Tôn…Tổng diện tích phần nổi của quần đảo khoảng 10km2. Riêng đảo Hoàng Sa có trạm khí tư­ợng của Việt Nam hoạt động năm 1938 đến năm 1947, đư­ợc tổ chức khí t­ượng quốc tế đặt số hiệu 48-680 (số 48 chỉ khu vực Việt Nam).
D­ưới triều Nguyễn[1], Quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam. Năm 1938 thuộc tỉnh Thừa Thiên. Năm 1961 gọi là xã Định Hải, quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam. Năm 1982, Chính phủ ra quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Năm 1956, Trung Quốc chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Tháng 01 năm 1974, trong lúc quân và dân ta đang tập trung sức tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc đã đư­a quân ra đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
2.     Quần đảo Trường Sa
 
Hình 18: Chủ quyền Việt Nam trên đảo Trường Sa, quần đảo Trường Sa
 
Hình 19: Bản đồ khu vực quần đảo Trường Sa
Quần đảo Trường Sa nằm về phía Đông Nam của Biển Đông, gồm trên 100 đảo, đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm, cách quần đảo Hoàng Sa tính đến đảo gần nhất là khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất cách khoảng 500 hải lý, cách Cam Ranh 250 hải lý, cách đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách Bình Thuận (Phan Thiết) 270 hải lý. Quần đảo trải dài từ khoảng vĩ độ 06050’- 12000’Bắc, từ kinh độ 111030’đến 117020’Đông, vùng biển chiếm khoảng 180.000km2, với chiều Đông Tây gần 350 hải lý, chiều Bắc Nam là 274 hải lý, hòn đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) ít nhất cũng khoảng trên 600 hải lý. Vùng biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi trên mặt nước lại rất ít, chỉ tổng cộng khoảng 10km2. Về số lượng đảo theo thống kê của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao (Vụ Biển thuộc Ban Biên giới Chính phủ) năm 1988 bao gồm 137 đảo, đá, bãi, không kể 5 bãi ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam gồm: bãi Phúc Trần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tư Chính[2].
Quần đảo Tr­ường Sa được chia làm 8 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Tr­ường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên. Khoảng cách gần nhất giữa các đảo là từ đảo Song Tử Tây đến Song Tử Đông là 1,5 hải lý; xa nhất từ đảo Song Tử Tây đến An Bang khoảng 280 hải lý. Đảo Song Tử Tây là đảo cao nhất (cao 4m đến 6m lúc triều xuống); Ba Bình là đảo rộng nhất (0,6km2) trong quần đảo. Tổng diện tích phần nổi thường xuyên của quần đảo tương đương với quần đảo Hoàng Sa, nhưng quần đảo trải dài trên vùng biển gấp 12 lần Hoàng Sa.
Tại quần đảo Tr­ường Sa, đang diễn ra tình trạng có một số n­ước tranh chấp chủ quyền với nước ta. Hiện nay, Philipin chiếm 8 đảo, Malaysia chiếm 5 bãi đá và bãi cạn, Đài Loan chiếm 1 đảo và bãi Bàn Than (là bãi đá san hô giữa đảo Ba Bìnhđảo Sơn Ca bị Đài Loan chiếm trái phép năm 1995), Trung Quốc chiếm 7 bãi đá ngầm, Việt Nam đang có mặt và bảo vệ 21 đảo và bãi đá ngầm trên quần đảo Trường Sa. Yêu sách của Philipin đối với quần đảo Trường Sa không thể hiện trước những năm 1970. Yêu sách của Đài Loan phụ thuộc vào rất nhiều thời cơ, gắn với việc thay chân quân Nhật sau khi chiến tranh kết thúc trong khi Đài Loan không có quyền làm việc này. Malaysia gần đây mới đưa ra yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.
3. Vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Các đảo và quần đảo trong Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nhiều nước. Nằm ở trung tâm Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất trên thế giới.
 Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của châu Á có hai điểm trọng yếu: Thứ nhất là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của lndonesia và Malaysia). Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hoá của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. Ba eo biển thuộc chủ quyền của lndonesia là Sunda, Blombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong tình huống eo biển Malacca ngừng hoạt động khi có sự cố. Tuy nhiên, nếu phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hoá qua lại giữa Ấn Độ Dương sang ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài hơn. Điểm trọng yếu thứ hai là vùng Biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu cho giao lưu hàng hoá của nhiều nước châu Á. Xuất khẩu hàng hoá của Nhật Bản phải đi qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công nghiệp mới 26%, Australia 40% và Trung Quốc 22% (trị giá khoảng 31 tỷ đô la). Nếu khủng hoảng nổ ra ở vùng biển này, các loại tàu biển phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua nam Australia thì cước phí vận tải thậm chí sẽ tăng gấp nhiều lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
 Ngoài ra, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè... Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông.
4. Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các giai đoạn lịch sử
a. Giai đoạn từ thế kỷ XVI-XVIII theo bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây
Nhận thức của các nhà hàng hải thời xưa về Hoàng Sa và Trường Sa lúc đầu còn mơ hồ, họ chỉ biết có một khu vực rộng lớn rất nguy hiểm cho tàu thuyền vì có những bãi đá ngầm. Ngày xưa người Việt Nam gọi là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa như các sách và bản đồ cổ của Việt Nam đã chứng tỏ. Hầu như tất cả các bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đều vẽ chung quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa làm một dưới cái tên Pracel, Parcel hay Paracels.
Về sau, với những tiến bộ của khoa học và hàng hải, người ta đã phân biệt có hai quần đảo: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Mãi cho đến năm 1787-1788, cách đây hai trăm năm, đoàn khảo sát Kergariou-Locmaria mới xác định được rõ ràng và chính xác vị trí của quần đảo Hoàng Sa (Paracel) như hiện nay, từ đó phân biệt quần đảo này với quần đảo Trường Sa ở phía Nam.
 Bản đồ của nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp như Lazaro Luis, Fer danão Vaz Dourdo, João Teixeira, Janssonius, Willem Jansz Blaeu, Jacob Aertsz Colom, Theunis Jacobsz, Hendrick Doncker, Frederich De Wit Pietre du Val, Henricus E. Van Langren, v.v...
Các bản đồ trên nói chung đều xác định vị trí khu vực Pracel (tức là cả Hoàng Sa và Trường Sa) là ở giữa Biển Đông, phía Đông Việt Nam, bên ngoài những đảo ven bờ của Việt Nam.
Hai quần đảo mà các bản đồ hàng hải quốc tế ngày nay ghi là Paracels và Spratley hoặc Spratly chính là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trên Biển Đông đã được thế giới khẳng định qua các bản đồ đã được xuất bản và công bố từ hơn 500 năm qua.
Việt Nam trên các bản đồ Tây phương mới, từ đầu thế kỷ XVI:
 
Hình 20: Diogo Ribeiro, năm 1529
 Hầu hết các bản đồ cổ do người Tây phương vẽ từ đầu thế kỷ XVI đều ghi quần đảo Paracel (gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa) tương ứng với vị trí của Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trên Đại Nam Thống nhất toàn đồ. Quần đảo ấy ở giữa Biển Đông và bờ biển Paracel (costa da Paracel ) luôn được ghi ở khoảng đất liền Quảng Ngãi (vòng tròn đỏ)
 
Hình 21: Livro da Marinharia, năm 1560
 
Hình 22: Bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI
 
Hình 23: Bản đồ lưu trữ ở La Haye, Hà Lan năm 1658
b. Giai đoạn phong kiến
Từ lâu nhân dân Việt Nam đã phát hiện hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó một cách thật sự, liên tục và hoà bình.
Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam: “giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”,
Trong Giáp Ngọ Bình Nam đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoán quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
Phủ biên tạp lục, cuốn sách của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776, viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558-1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi.
 
Hình 24: Đại Nam nhất thống toàn đồ 1834
Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ nước Việt Nam thời nhà Nguyễn, vẽ vào khoảng năm 1834, ghi “Hoàng Sa” (số 1) - “Vạn lý Trường Sa” (số 2) thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Hình 25: An Nam Đại quốc họa đồ năm 1838
An Nam Đại quốc họa đồ ghi rõ bằng chữ quốc ngữ: Paracel seu Cát Vàng ( đảo Paracel hay Cát Vàng)
Bản đồ An Nam Đại quốc hoạ đồ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi lẽ giám mục Taberd (Pháp) lập và xuất bản năm 1838 đã vẽ rất chính xác về tọa độ Paracel hay Hoàng Sa của Việt Nam: vĩ độ hơn 160 Bắc, kinh độ hơn 1100 Đông trên bản đồ “An Nam Đại quốc họa đồ”. Giám mục Taberd còn ghi rõ, tỉ mỉ trên bản đồ: Paracel seu Cat Vang (seu tiếng Latinh có nghĩa: hay là. Paracel hay là Cát Vàng tức Hoàng Sa). Đây là chứng cứ hiếm quí, tài liệu duy nhất của người nước ngoài vẽ rất cụ thể, xác lập tọa độ khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Đặc biệt trên bản đồ này không ghi chú hòn đảo nào của nước ngoài. Bản đồ vừa khách quan vừa cụ thể khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam[3].
Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý Việt Nam do Quốc Sử quán nhà Nguyễn (1802-1845) soạn xong năm 1882 ghi Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
                Trong bài Địa lý vương quốc Cochinchina của Gutzlaff, xuất bản năm 1849 có đoạn nói rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là "Cát Vàng".
Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thế kỷ nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hình và tài nguyên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó.
Trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII) ghi rõ:
“Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy,... có gió Đông Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hoá thì đều để lại ở nơi đó”.
“Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816)...vua phái Thuỷ quân và đội Hoàng Sa cưỡi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thuỷ”. 
“Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)...Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mảnh, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.
“Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)... dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn Lý Ba Bình”.
“Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1...sau khi nhận nội dung tờ Tâu của Bộ Công:
“Vua y lời tâu, phái Suất đội Thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.
Cũng trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi, năm 1847 Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị tờ Tâu, trong đó có viết: Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau. Vua Thiệu Trị đã phê: “Đình”.
 
     Hình 26: Tờ tâu của Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị năm 1847
Trong Đại Nam nhất thống chí (1882):
“Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông cù lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hoá vật của các tầu thuyền bị nạn bão trôi dạt ở đấy”.
Các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) cũng mô tả Hoàng Sa một cách tương tự.
Do đặc điểm của Hoàng Sa và Trường Sa là có nhiều hải sản quý lại có nhiều hoá vật của tàu bị đắm như trên đã nói, Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo đó với tư cách một quốc gia làm chủ. Nhiều sách lịch sử và địa lý cổ của Việt Nam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụ làm việc khai thác đó.
Thời Tây Sơn, Nhà nước vẫn tiếp tục tổ chức việc thai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa.
Từ khi nắm chính quyền năm 1802 đến khi ký với Pháp Hiệp ước 1884, các vua nhà Nguyễn luôn quan tâm củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đội Hoàng Sa, sau được tăng cường thêm đội Bắc Hải, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn (1802-1945).
Như vậy, qua các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây nói trên từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác; điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam.
Việc nước Pháp nhân danh Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa:
Từ khi ký kết Hiệp ước ngày 06/6/1884 với triều đình nhà Nguyễn, Pháp đại diện quyền lợi của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại và việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong khuôn khổ sự cam kết chung đó, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1899, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị với Pari xây tại đảo Hoàng Sa (Pattle) trong quần đảo Hoàng Sa một cây đèn biển để hướng dẫn các tàu biển qua lại vùng này, nhưng kế hoạch không thực hiện được vì thiếu ngân sách.
Ngày 21/12/1933, thống đốc Nam Kỳ M. J. Krautheimer ký Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa.
Năm 1937, nhà đương cục Pháp cử kỹ sư công chính Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa nghiên cứu chỗ xây dựng đèn biển, lập bãi thuỷ phi cơ.
Tháng 02/1937 tuần dương hạm Lamotte Piquet do Phó đô đốc Istava chỉ huy thăm quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 29/3/1938, vua Bảo Đại ký Dụ tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Nghĩa đặt vào tỉnh Thừa Thiên.
Dụ của vua Bảo Đại ký ngày 29/3/1938:
“Chiếu chỉ các Cù lao Hoàng Sa (Archipel des iles Paracels) thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các Cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Nghĩa: đến đời Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các Cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam Nghĩa.
Ngày 15/6/1938 toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Năm 1938, Pháp dựng bia chủ quyền, xây dựng xong đèn biển, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Hoàng Sa (Ile Pattle), trong quần đảo Hoàng Sa, xây dựng trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Itu Aba trong quần đảo Trường Sa.
Hàng chữ trên bia: “Cộng hoà Pháp, Vương quốc An-nam, quần đảo Hoàng Sa, 1816 - đảo Pattle - 1938” (1816 là năm vua Gia Long thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo Hoàng Sa, 1938 là năm dựng bia).
Hình 27: Bia chủ quyền do Pháp dựng năm 1938
Suốt trong thời gian đại diện Việt Nam về mặt đối ngoại, Pháp luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 
Ngày 24/7/1933, Pháp thông báo cho Nhật việc Pháp đưa quân ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa;
Ngày 07/9/1951, Trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Bảo Đại là Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký Hoà ước với Nhật Bản rằng: “từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.
Lời tuyên bố của Đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội nghị San Francisco năm 1951.(Đăng trong tạp chí France-A’e số 66-67 Novembre-Décembre, 1951)
Tuyên bố đó không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của đại diện 51 quốc gia tham dự Hội nghị.
c. Giai đoạn từ 1954 đến tháng 4/1975
Chính phủ Sài Gòn, sau đó là cả Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cũng đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Năm 1956, lực lượng hải quân của chính quyền Sài Gòn tiếp quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi Pháp rút quân về nước.
Ngày 22/10/1956, chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.
Ngày 13/7/1961, chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang và đặt dưới quyền một phái viên hành chính.
Từ 1961 đến 1963, chính quyền Sài Gòn lần lượt cho xây bia chủ quyền ở các đảo chính của quần đảo Trường Sa như: Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây,...
Ngày 21/10/1969, chính quyền Sài Gòn sáp nhập xã Định Hải vào xã Hoà Long cũng thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 06/9/1973, chính quyền Sài Gòn sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Nghị định số 420-BNV/HCĐP/26 ngày 06/9/1973 của Bộ Nội vụ Việt Nam cộng hoà... ý thức về chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, các chính quyền miền Nam Việt Nam đều bảo vệ chủ quyền đó mỗi khi có nước ngoài biểu thị ý đồ tranh giành hay xâm chiếm đảo nào đó trong hai quần đảo.
Ngày 16/6/1956, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn tuyên bố một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Đồng thời cũng trong năm này, chính quyền Sài Gòn đã kịch liệt phản đối việc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Ngày 20/4/1971, chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Ngày 13/7/1971 Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó trong cuộc họp báo ngày 10/7/1971.
Ngày 19/01/1974, lực lượng quân sự của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm đóng nhóm Tây Nam của quần đảo Hoàng Sa và cũng trong ngày này chính quyền Sài Gòn tuyên bố lên án Cộng hoà nhân dân Trung Hoa xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Ngày 14/02/1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn công bố “ Sách trắng” về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 26-01-1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ; ngày 14/02/1974 tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
d. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Trong hai ngày 05 và 06/5/1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thông báo việc giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do Chính quyền Sài Gòn đóng giữ. Ngày 28/6/1974, tuyên bố tại khoá họp thứ nhất Hội nghị Luật biển lần thứ 3 ở Caracas rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam.
Tháng 9/1975, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng ở Colombo tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam và yêu cầu Tổ chức khí tượng thế giới tiếp tục ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam trong danh mục trạm khí tượng của Tổ chức khí tượng thế giới.
Ngày 02/7/1976, nước Việt Nam thống nhất dưới tên gọi mới Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về biển, đảo và hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa như: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 và năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 14/6/2005; Luật Biên giới quốc gia năm 2003 và Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia 2003; Luật Dầu khí ngày 06/7/1993 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí ngày 09/6/2000 và Nghị định số 48/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí năm 2000; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dầu khí ngày 03/06/2008); Pháp lệnh số 03/2008/PL-UBTVQH12 ngày 26/01/2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; các Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và Tuyên bố ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có các vùng biển riêng được quy định cụ thể trong các văn bản sau đó; Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn Công ước về luật biển năm 1982; Nghị định số 71/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải; Nghị định số 30-CP ngày 29/01/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) quy định về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của Việt Nam; Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ quy định về Quy chế khu vực biên giới biển; Nghị định số 55-CP ngày 01/10/1996 của Chính phủ quy định về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam v.v...
Về quản lý hành chính, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản như: Quyết định số 194-HĐBT ngày 09/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập huyện đảo Hoàng Sa và trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng; Nghị quyết của Quốc hội khóa VII, phiên họp thứ 4 ngày 28/12/1982, đã sáp nhập huyện đảo Trường Sa của tỉnh Đồng Nai vào tỉnh Phú Khánh. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. 
Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa hoặc trong các Công hàm gửi các bên có liên quan, hoặc trong các Tuyên bố của Bộ Ngoại giao, hoặc trong các Hội nghị của Tổ chức Khí tượng thế giới ở Genève vào tháng 6/1980, của Đại hội Địa chất thế giới ở Paris vào tháng 7/1980 v.v…
Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố “Sách trắng” vào các năm: 1979, 1981 và năm 1988 về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.
Ngày 14/3/1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Tuyên bố lên án Trung Quốc gây xung đột vũ trang và chiếm đoạt một số bãi đá ngầm tại quần đảo Trường Sa.
Tháng 04/2007, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa.
Lập trường của Việt Nam luôn khẳng định nhất quán là: Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa ít nhất từ thế kỷ thứ XVII khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào. Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi Việt Nam chiếm hữu thật sự hai quần đảo này đến nay, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hòa bình cho đến khi nó bị các lực lượng vũ trang nước ngoài xâm chiếm.
Từ những tư liệu lịch sử rõ ràng và căn cứ vào những nguyên tắc của luật pháp và tập quán quốc tế, có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Một là, từ lâu, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào;
Hai là, từ thế kỷ XVII đến nay, trong nhiều thế kỷ liên tục, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa một cách thật sự, liên tục và hoà bình;
Ba là, Nhà nước Việt Nam luôn luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi mưu đồ và hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
 
Hình 28: Bia chủ quyền Việt Nam do chính quyền Sài Gòn dựng trên đảo Trường Sa, quần đảo Trường Sa (1961)
e. Một số tư liệu - điều ước quốc tế liên quan đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
1. Tuyên bố Cairo ngày 27/11/1943, khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, Hội nghị tam cường Anh, Mỹ, Trung (Cộng hòa Trung Hoa, đại diện lúc đó là Tưởng Giới Thạch) đã họp và ra một bản Tuyên bố tại Cairo (thủ đô Ai-Cập). Tuyên bố có đoạn viết: “…Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa”.
Như vậy, liên quan đến phần lãnh thổ của Trung Quốc, Tuyên bố Cairo chỉ khẳng định ý chí của các cường quốc là buộc Nhật Bản phải trao trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc gồm “Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ”, không có gì liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
2. Tại Hội nghị Postdam ngày 26/7/1945, những người đứng đầu 3 nước Mỹ, Anh, Trung (Cộng hòa Trung Hoa) lại tiếp tục ra Tuyên bố[4] khẳng định “Các điều khoản của Tuyên bố Cai-rô sẽ được thi hành”. Sau khi tuyên chiến với Nhật Bản ở Viễn Đông, Liên Xô cũng tham gia Tuyên ngôn này.
Theo quyết định của Hội nghị Postdam là Trung Quốc chịu trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật ở khu vực Bắc vĩ tuyến 16. Từ cuối năm 1946, quân đội của Tưởng Giới Thạch đến một số đảo của quần đảo Hoàng Sa và các tỉnh phía bắc Việt Nam để thực hiện việc giải giáp quân đội Nhật Bản ở đây, hoạt động này hoàn toàn không có ý nghĩa xác định hoặc thu hồi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
3. Hội nghị San Francisco từ ngày 04 đến ngày 08/9/1951, có đại diện 51 nước tham dự để bàn về việc ký Hòa ước với Nhật Bản.
Cũng tại Hội nghị San Francisco, ngày 07/9/1951, Trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố rằng: từ lâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và “cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn luôn thuộc về Việt Nam”.
Không có bất cứ một đại diện nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị có ý kiến phản đối hoặc bảo lưu đối với tuyên bố trên của đại diện Việt Nam tại Hội nghị.
Những tư liệu và chứng cứ kể trên cho thấy một cách rõ ràng là những văn kiện pháp lý quốc tế, từ Tuyên bố Cairô ngày 27/11/1943 (và Tuyên ngôn của Hội nghị Postdam ngày 26/7/1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cairo) đến Hòa ước San Francisco ký ngày 08/9/1951 đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Đường cơ sở của Trung Quốc (theo Tuyên bố ngày 15/5/1996 của Chính phủ Trung Quốc) tiếp giáp với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) gồm 28 điểm nối liền các điểm nhô ra nhất là các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo. Và việc Trung Quốc vạch đường cơ sở như vậy đồng nghĩa với việc coi vùng nước bên trong các đảo nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa là nội thủy của Trung Quốc, không quốc gia nào có quyền qua lại. Ngoài ra, Quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam để “quản lý” Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là hoàn toàn trái (hay vi phạm) các định chế trong Công ước về luật biển năm 1982 nói riêng, luật pháp quốc tế nói chung và trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo mà từ đầu thế kỷ XVII, tổ tiên người Việt Nam đã xác nhận chủ quyền và chủ quyền đó đã tồn tại liên tục qua nhiều thế kỷ đến ngày nay[5].
5. Một số giải pháp trước mắt nhằm ổn định tình hình ở hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
Khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là khu vực hiện đang còn tranh chấp về đòi hỏi chủ quyền giữa các nước có liên quan, tranh chấp đã diễn ra liên tục, phức tạp, có lúc gay gắt. Đặc biệt là từ cuối năm 1990 đến nay, do ảnh hưởng của diễn biến tình hình trên thế giới và khu vực nên tình hình tranh chấp trên biển, đảo của các nước trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa tiếp tục diễn biến phức tạp, ngấm ngầm nhưng gay gắt trên nhiều phương diện với những thủ đoạn và hình thức mới. Tuy nhiên, các nước có liên quan đều muốn có một môi trường ổn định để xây dựng, khai thác và phát triển kinh tế biển của mình.
Việc tranh chấp chủ quyền trên biển rất khó khăn, không chỉ ở Biển Đông mà trên thế giới có khoảng 280 vùng biển có tranh chấp; thậm chí, có nơi vài chục năm nay vẫn chưa giải quyết ổn thỏa. Bên nào tranh chấp cũng có những lý lẽ riêng của mình để bảo vệ quyền lợi trong khi luật pháp quốc tế, định chế quốc tế trong Công ước về luật biển chỉ có thể chấp nhận phải trên cơ sở pháp lý của nó. Việc các bên thỏa thuận, thương lượng với nhau đã khó nên việc biểu thị tinh thần hiểu biết lẫn nhau để tìm một giải pháp mà các bên đều chấp nhận được lại còn khó hơn.
Mọi sự tranh chấp, yêu sách về biển, mọi việc hoạch định biên giới giữa các quốc gia lân cận chỉ có thể giải quyết thực sự nếu tất cả các bên liên quan đều có thiện chí muốn đi tới giải quyết.
Trong tình hình hiện nay, việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông nói chung và ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng là vấn đề khó khăn mà không thể giải quyết một sớm một chiều. Các nước xung quanh Biển Đông và nhất là ở hai khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang mong muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của mình.
Từ năm 1991 đến nay, các học giả nước ngoài cũng có những ý kiến đề xuất về phạm vi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc và các nước ASEAN cũng đã đề xuất xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), xây dựng lòng tin trong diễn đàn ARF, ASEAN và đặc biệt ngày 04/11/2002 tại Hội nghị cấp cao ASEAN họp ở Phnômpênh (Campuchia), Chính phủ các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã ký kết bản Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Tuy chưa thống nhất được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông, nhưng Tuyên bố DOC là bước đi đầu tiên tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông giữa các bên có liên quan.
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông là một văn kiện chính trị đầu tiên về cách ứng xử của các bên ASEAN và Trung Quốc ở Biển Đông. Phạm vi áp dụng Tuyên bố DOC bao gồm toàn bộ vùng Biển Đông. Tuy không chỉ rõ vùng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông nhưng cho phép hiểu rằng các nguyên tắc của Tuyên bố không chỉ áp dụng cho khu vực Trường Sa mà cả Hoàng Sa hay bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham).
Nội dung của Tuyên bố DOC cơ bản đáp ứng được lập trường, nguyên tắc của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc gia nhập. Nội dung cơ bản của Tuyên bố DOC bao gồm:
Một là, các bên tái khẳng định cam kết của mình đối với các mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 (UNCLOS), Hiệp ước hữu nghị và hợp tác khu vực Đông Nam Á (TAC), Năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình (của Trung Quốc) và những nguyên tắc được thừa nhận phổ biến khác của luật pháp quốc tế được coi là quy tắc căn bản điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với nhà nước;
Hai là, các bên cam kết tìm kiếm những cách thức xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau hài hòa với những nguyên tắc nêu trên và trên căn bản bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau;
Ba là, các bên tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của mình đối với quyền tự do hoạt động hàng hải và bay trên vùng trời Biển Đông như đã được minh thị bởi các nguyên tắc được thừa nhận phổ biến trong luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982;
Bốn là, các bên liên quan chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và về quyền thực thi luật pháp bằng các phương tiện hòa bình mà không viện đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thông qua các cuộc tham vấn thân thiện và những cuộc đàm phán bởi các quốc gia có chủ quyền có liên quan trực tiếp, phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận phổ quát của luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982;
Năm là, các bên chịu trách nhiệm thực hiện sự tự chế trong việc thi hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và sự ổn định, kiềm chế không tiến hành đưa người đến sinh sống trên những hòn đảo hiện không có người sinh sống, trên các rặng đá ngầm, bãi cát ngầm, đảo nhỏ và những yếu tố khác và phải được xử lý những khác biệt của mình bằng phương pháp có tính xây dựng. Trong khi chờ đợi sự dàn xếp hòa bình cho các tranh chấp về lãnh thổ và quyền thực thi pháp luật, các bên liên quan tiến hành tăng cường những nỗ lực nhằm tìm kiếm các phương cách xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau trong tinh thần hợp tác và hiểu biết, bao gồm: tổ chức các cuộc đối thoại và trao đổi quan điểm một cách thích đáng giữa các quan chức phụ trách quân sự và quốc phòng; bảo đảm đối xử công bằng và nhân đạo đối với tất cả mọi người đang gặp hiểm nguy hoặc tai họa; thông báo trên cơ sở tự nguyện cho các bên liên quan khác về mọi cuộc tập luyện quân sự liên kết hỗn hợp sắp diễn ra; trao đổi trên cơ sở tự nguyện những thông tin liên quan;
Sáu là, trong khi chờ đợi một sự dàn xếp toàn diện và bền vững những tranh chấp, các bên liên quan có thể tìm kiếm hoặc tiến hành các hoạt động hợp tác. Những hoạt động này có thể bao gồm các điều sau đây: bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; an toàn hàng hải và thông tin trên biển; hoạt động tìm kiếm cứu hộ; đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, kể cả nhưng không hạn chế trong hoạt động buôn lậu các loại thuốc cấm, hải tặc và cướp có vũ trang trên biển, hoạt động buôn bán trái phép vũ khí. Thể thức, quy mô và địa điểm, đặc biệt là sự hợp tác song phương và đa phương, cần phải được thỏa thuận bởi các bên có liên quan trước khi triển khai thực hiện trong thực tế;
Bảy là, các bên liên quan sẵn sàng tiếp tục các cuộc đối thoại và tham vấn về những vấn đề liên quan, thông qua các thể thức được các bên đồng ý, kể cả các cuộc tham vấn thường xuyên theo quy định của Tuyên bố này, vì mục tiêu khuyến khích sự minh bạch và láng giềng tốt, thiếp lập sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau một cách hài hòa, và tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và tranh chấp giữa các bên;
Tám là, các bên có trách nhiệm tôn trọng những điều khoản của Tuyên bố này và hành động phù hợp với sự tôn trọng đó;
Chín là, các bên khuyến khích các nước khác tôn trọng các nguyên tắc bao hàm trong Tuyên bố này;
Mười là, các bên liên quan khẳng định rằng việc tiếp thu một bộ quy tắc về ứng xử trên Biển Đông sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn hòa bình và ổn định trong khu vực và nhất trí làm việc trên căn bản đồng thuận để tiến tới hoàn thành mục tiêu này[6].
Dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử (COC) của ASEAN đã được đề cập đến hầu hết các nguyên tắc chính trong Tuyên bố DOC của ASEAN và trên cơ sở các nguyên tắc chính như:    - Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
- Nguyên tắc tự kiềm chế.
- Nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.
- Nguyên tắc tìm kiếm các biện pháp xây dựng niềm tin.
- Nguyên tắc hợp tác.
- Nguyên tắc tham khảo ý kiến của nhau.
- Nguyên tắc tôn trọng tự do hàng hải và hàng không quốc tế.
Tuyên bố DOC không phải để giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán trên Biển Đông, mà đó là các biện pháp nhằm làm giảm bớt căng thẳng, xây dựng lòng tin để đi đến giải pháp cơ bản, lâu dài cho việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, quyền tài phán một cách hòa bình giữa các bên có liên quan ở Biển Đông. Sự hợp tác này không được hiểu như là sự ủng hộ chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”.


[1] Nhà Nguyễn (Nguyễn triều) là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi hoàng đế Gia Long lên ngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và sụp đổ hoàn toàn khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 – tổng cộng là 143 năm.
[2] http://nghiencuubiendong.vn/tong-quan-ve-bien-dong/561-trng-sa
[3] http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/253949/An-Nam-Dai-quoc-hoa-do.html
[4] Tuyên bố Potsdam có 13 điểm, trong đó điểm thứ 8 nói về việc thực thi Tuyên bố Cairo. Cụ thể: 1) Chúng tôi, Tổng thống Hoa Kỳ, Chủ tịch Chính phủ quốc gia của nước Trung Hoa Dân Quốc và Thủ tướng Chính phủ của Vương quốc Anh, đại diện cho hàng trăm triệu đồng bào của chúng tôi, đã thảo luận và đồng ý rằng Nhật Bản sẽ được trao một cơ hội cuối cùng để kết thúc cuộc chiến tranh này; ……. 8) Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện và chủ quyền của Nhật Bản được giới hạn ở các đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và các đảo nhỏ do chúng tôi xác định; …. 
[5]Ngay từ thế kỷ thứ 17, triều đình Nhà Nguyễn (Việt Nam) đã thực thi quyền làm chủ của mình trên quần đảo Hoàng Sa (黄沙群島 Paracel Archipelago) và quần đảo Trường Sa (長沙群島 Spratly Archipelago); năm 1920, Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo; năm 1925, tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo do Dr. Krempt, Giám đốc Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức; ngày 8/3/1921, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp; năm 1927, Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa; Năm 1930, ba tàu Pháp là La Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ Pháp trên quần đảo này; năm 1932, Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa. Pháp sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên; năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa; năm 1938, Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa; năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, Nhật tuyên bố từ bỏ tất cả các đảo, Đại diện chính phủ Bảo Đại là Thủ tướng Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo mà không có nước nào lên tiếng phản đối; năm 1956, quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Đội canh của Pháp trên đảo Pattle được thay thế bởi đội canh của Việt Nam; ngày 01/6/1956, Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; ngày 22/8/1956, một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hoà cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia đá; năm 1961, Việt Nam Cộng hoà sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Quảng Nam; năm 1973, quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy; Ngày 19/01/1974, Trung Quốc cưỡng chiếm Quần đảo Hoàng Sa; từ năm 1988, Trung Quốc chiếm thêm một đảo/đá nữa của Quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Xem.: http://www.seasfoundation.org/content/view/12/29. Đọc thêm: điều 1, các Hiến pháp Việt Nam năm 1980 và 1992 (sđ,bs năm 2001); Nguyễn Nhã. Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa - Tạp chí Sử Địa số 29-1975; Tuyên bố Cairo (Ai Cập) ngày 26/11/1943 về việc kết thúc chiến tranh với Nhật Bản và giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, trong đó có vấn đề lãnh thổ nước bị Nhật Bản cướp đoạt và chiếm đóng; Tuyên bố Potsdam ngày 26/7/1945 quy định về phương cách giải giáp quân đội Nhật Bản ở Đông Dương; Hoà ước San Francisco ngày 08/9/1951 về chấm dứt chiến tranh tại châu Á - Thái Bình Dương; Hiệp uớc hoà bình Trung - Nhật (Trung Hoa Dân quốc và Nhật Bản) năm 1952 về việc giải quyết vấn đề các lãnh thổ bị Nhật Bản chiếm đóng sau Thế chiến 2; Tuyên bố của Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu (tại Hội nghị San Francisco ngày 08/9/1951) về việc xác định chủ quyền đã có từ lâu đời của Quốc gia Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét