Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Minh Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Minh Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

ƯỚC MONG NGÀY NÀO CŨNG LÀ NGÀY PHÁP LUẬT

TS. Nguyễn Minh Tuấn
Tạp chí Tia sáng,
đăng ngày 5/11/2013,
truy cập đường link gốc tại đây

Năm nay ở Việt Nam lần đầu tiên có một ngày có tên là “Ngày Pháp luật”.1 Một trong những khẩu hiểu của “Ngày Pháp luật” năm nay là: "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật"2
Cá nhân tôi trộm nghĩ: "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật" là việc đương nhiên, tại sao lại cần phải có khẩu hiệu? Phải chăng, nêu khẩu hiệu như vậy có nghĩa rằng việc “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” còn chưa có hoặc đang ở rất xa?
Hơn nữa, mục đích của “Ngày Pháp luật” là “nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội”.3 Nhưng hãy cùng suy nghĩ: Thượng tôn pháp luật là thượng tôn cái gì?


Nếu pháp luật hợp lẽ phải, hợp qui luật, đem lại lợi ích thiết thực cho con người, thì thiết nghĩ không cần hô khẩu hiệu, người dân sẽ tự nhận thấy tính thiết thực, tự tìm đến, tự bảo vệ nó như “chốn nương thân của mình”. Thượng tôn pháp luật là thượng tôn lẽ phải, lẽ công bằng, cái nhân văn cao cả, hợp lẽ sống ở đời ngay trong chính pháp luật. Thượng tôn pháp luật là không có ai ở trên pháp luật và không có ai không được pháp luật bảo vệ.

Nhiều nước trên thế giới họ có Ngày Hiến pháp (Constitution Day), để nhắc nhở công quyền tôn trọng Hiến pháp. Vì vậy, theo thiển ý của tôi trong Nhà nước pháp quyền thì không có ngày nào không phải là Ngày Pháp luật cả. Nếu có, chỉ nên lấy ngày này là “Ngày Hiến Pháp”  theo đúng ý nghĩa là Ngày ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam – Hiến pháp năm 1946, để cùng dựng xây một Chủ nghĩa Hiến pháp ở Việt Nam và nhắc nhở những công bộc của dân buộc phải nghiêm chỉnh thực thi Hiến pháp.

Tôi ước mong có một “Ngày Hiến pháp” và ngày nào cũng là “Ngày Pháp luật”!

---
1 Theo quy định tại Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013, ngày 09 tháng 11 hàng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ đề của Ngày Pháp luật năm nay được xác định là “Toàn dân xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

2 Xem Công văn số 6902/BTP-PBGDPL ngày 25/9/2013 của Bộ Tư Pháp về việc tổ chức thực hiện "Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" năm 2013;  Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. Không phải riêng Việt Nam, tại nhiều nước trên thế giới cũng có “Ngày Hiến pháp” hoặc “Ngày Pháp luật”. Chẳng hạn, ở Đức thì từ năm 1860 họ đã tổ chức diễn đàn của các nhà luật học thường niên (Juristentag) và vẫn duy trì đến ngày nay. Mỹ từ năm 1961 cũng vậy, họ lấy ngày 1/5 hàng năm là Ngày Pháp luật (Law Day). Nhiều nước có Ngày Hiến Pháp, chẳng hạn từ năm 1947, Nhật Bản chọn ngày mồng 3/5 là Ngày Hiến pháp hay từ năm 1949, Hàn Quốc cũng chọn ngày 17/7 là “Ngày Hiến pháp”.

3 Xét dưới góc độ lịch sử, ngày 9/11 là ngày ban hành Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập. Cho nên việc lấy ngày này là Ngày Hiến Pháp là rất hợp lý.

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

BƯỚC ĐI MẠNH MẼ CỦA DÂN CHỦ


Nguồn ảnh: www.samaracanada.com
TS. Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn: Tuần Việt Nam,
đăng ngày 20/9/2013,
truy cập đường link gốc tại đây
Dân chủ trong thế kỷ XXI phải là dân chủ thực chất. Dân chủ chẳng những chấp nhận sự khác biệt, mà còn lấy sự khác biệt, tính đa dạng trong nhân cách để làm nền tảng cho sự phát triển.

Cội nguồn của khái niệm dân chủ bắt nguồn từ thời cổ đại ở Aten (Hy Lạp). Dân chủ theo gốc tiếng Hy Lạp là ''demokratia", nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.[1] Abraham Lincoln cũng tuyên bố dân chủ là một chính quyền của dân, do dân và vì dân (a government of the people, by the people, for the people), đối lập với chế độ độc tài.[2]
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập như hiện nay, cũng giống như nhiều vấn đề chính trị - pháp lý khác, vấn đề dân chủ cũng có nhiều thay đổi trong cách quan niệm. Nhiều nhà khoa học cho rằng trong thế kỷ XXI, chúng ta đã và sẽ chứng kiến những thay đổi quan trọng liên quan đến vấn đề dân chủ như sau:



Thừa nhận và tôn trọng sự  đa dạng và lợi ích của thiểu số nhằm  đạt được lợi ích đa phương
Theo dự  đoán của nhiều nhà khoa học nước ngoài thì trong suốt thế kỷ thứ XXI nhân loại sẽ nếm trải những biến đổi mạnh mẽ của làn sóng thứ ba (cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự xuất hiện nền kinh tế tri thức) và làn sóng ấy sẽ làm biến đổi căn bản các thể chế chính trị quốc gia và quốc tế.
Nguồn ảnh: www.barnesandnoble.com
Khi nói về  dân chủ thế kỷ XXI, tác giả Robert A. Dahl trong cuốn sách nổi tiếng "A preface to democratic theory" đã khẳng định một nguyên lý: Nền dân chủ thực chất nhất chính là nền dân chủ xuất phát từ sự bình đẳng, sự bình đẳng mà pháp luật ở quốc gia nào cũng hướng tới. Đó là sự tôn trọng tính đa dạng của các nhóm lợi ích, nhiệm vụ của dân chủ không phải là đè bẹp ý chí của những thiểu số đó mà là tìm ra trong số những nhóm lợi ích đó tiếng nói chung.[3]
Alvin Toffler - một nhà tương lai học nổi tiếng cũng cho rằng: Làn sóng chính trị sẽ không dừng lại ở cấp quốc gia. Trong những thập kỷ sắp đến, toàn bộ "bộ máy luật pháp toàn cầu" từ Liên hợp quốc đến Hội đồng thành phố, sẽ đối mặt với sự đòi hỏi không chống lại được về việc phải cấu trúc lại; mà nguyên tắc đầu tiên của chính phủ làn sóng thứ ba là quyền lực thiểu số. Không phải đa số mà là thiểu số được quan tâm đến.[4]

Nguồn ảnh: www.achievement.org
Alvin Toffler lập luận rằng, các nhà cai trị làn sóng thứ hai (làn sóng văn minh công nghiệp) luôn luôn tự cho là phát ngôn nhân danh đa số, vì tính hợp pháp của họ phụ thuộc vào nó, ông cũng thừa nhận rằng trong suốt kỷ nguyên nền văn minh làn sóng thứ hai, cuộc chiến đấu cho nguyên tắc đa số đã có ý nghĩa nhân đạo và giải phóng.
Ngày nay, khi xuất hiện làn sóng thứ ba, người nghèo không còn chiếm đa số và họ trở thành thiểu số, do đó nguyên tắc đa số không còn là một nguyên tắc hợp lý nữa, nó cũng không còn nhân đạo hoặc dân chủ nữa; vấn đề cần hoàn thiện là phải hiện đại hóa toàn bộ hệ thống để tăng cường vai trò của các nhóm thiểu số khác nhau nhằm cho phép họ tạo thành đa số[5].
Alvin Toffler lập luận như vậy là có căn cứ vì: thế kỷ XX trở về trước dường như nguyên tắc đa số luôn ngự trị và nó luôn có nghĩa là sự thay đổi tốt hơn cho người nghèo, nhưng suy nghĩ kĩ lại sẽ thấy dân chủ đa số thực chất là dân chủ ở cấp độ thấp, là mức độ phát triển thuần túy và sơ khai về dân chủ. Nguyên tắc 50% + 1 rõ ràng là một công cụ đơn thuần về lượng, cái gì để đảm bảo cho chất lượng quan điểm của một người?
Alvin Toffler, Nguồn ảnh: allhistorymatters.com
Dân chủ  trong thế kỷ XXI phải là dân chủ thực chất. Dân chủ chẳng những chấp nhận sự khác biệt, mà còn lấy sự khác biệt, tính đa dạng trong nhân cách để làm nền tảng cho sự phát triển. Mọi sự khác biệt đều có quyền tồn tại. Thế nên những khác biệt là bình đẳng với nhau và dân chủ như môi trường nuôi dưỡng và bảo tồn các bộ phận thiểu số trong xã hội, là sự khoan dung và chấp nhận lẫn nhau giữa thiểu số và đa số. Các đặc trưng sắc tộc, các luật tục địa phương, các cộng đồng thiểu số, các nền văn hóa độc đáo không lặp lại, các thổ ngữ, văn tự…đều là những giá trị cần được dân chủ tôn trọng và bảo tồn bằng những đặc lệ.
Hơn nữa, bản chất của dân chủ là chấp nhận sự đa dạng hợp lý, dân chủ không xua đuổi, không áp đặt các ý kiến, dân chủ thu nhận tất cả những khác biệt ấy. Để làm gì? Để dung hợp hoặc tìm ra tiếng nói chung, hoặc đi tới giải pháp tối ưu nhất nhằm đem lại lợi ích đa phương. Tính linh hoạt của dân chủ trong việc tìm lợi ích đa phương đó sẽ là giải pháp tối ưu, và là thách thức lớn đối với việc thực hành dân chủ.
Khả năng tự hoàn thiện và tiến bộ không ngừng của nền dân chủ chính là nhờ sự chấp nhận tính đa dạng của các ý kiến, nó sử  dụng tính đa dạng ấy như cơ chế phản biện. Chính vì vậy, năng lực tự phê phán, tự so sánh đối chiếu và luôn thay mới sẽ tự làm mới vấn đề dân chủ, và có lẽ đó cũng là xu hướng của dân chủ trong thế kỷ XXI.
Phân công, phân cấp hợp lý
Yếu tố có tác động không nhỏ đến tính chất và mức độ dân chủ trong tương lai là sự phân cấp, phân công hợp lý. Phân cấp hay phân công là việc giao quyền quyết định vào đúng chỗ của nó. Một số vấn đề không thể giải quyết ở cấp địa phương, và ngược lại cũng có những vấn đề không thể giải quyết ở cấp quốc gia và có cả những vấn đề đòi hỏi sự hành động ở nhiều cấp đồng thời cùng một lúc.
Nguồn ảnh: Sgtt.vn
Nếu mức độ phân cấp quá mức sẽ dẫn  đến hiện tượng tản quyền, cát cứ. Alain Touraine, một nhà xã hội học người Pháp trong cuốn "Phê  phán tính hiện đại", đã nhận xét: "Nếu đất nước bị chia nhỏ thành những tộc người xa lạ và đối địch với nhau, hay đơn giản hơn, nếu những bất công lớn đến mức người dân không có ý thức về một lợi ích chung, thì dân chủ sẽ không có nền tảng”[6]. Nhưng nếu quá ít quyền quyết định dành cho cấp dưới là một sự nguy hại; nhu cầu cần thiết là phải có sự phân cấp lại cho hợp lý quyền quyết định nếu một hệ thống quá nặng nề về tập quyền.
Dân chủ bán trực tiếp
Nhược điểm cố hữu của dân chủ trực tiếp là ở  phản ứng tình cảm, nhất thời và phụ thuộc nhiều vào vấn đề thông tin. Thiếu thông tin, nóng vội, thiếu suy nghĩ khi quyết định trực tiếp, đó cũng là sự nguy hiểm. Nhưng dân chủ trực tiếp cũng có ưu điểm của nó. Aritxtốt thừa nhận rằng: "Số đông ít hủ bại hơn số ít, chẳng khác nào nhiều nước thì độ bẩn sẽ ít hơn so với ít nước. Cá nhân dễ bị hãm trong sự nóng giận hay sự cuồng nhiệt, do đó mà phán đoán của cá nhân dễ bị thiên lệch. Đối với số đông, khó mà nghĩ rằng, trong một lúc họ đều có thể cuồng nhiệt và sai lầm hết”[7].
Nhược điểm của dân chủ gián tiếp ở chỗ khi không có sự thống nhất ý chí trong các cử tri ở khu vực bầu cử, thì đại biểu được bầu lên sẽ đại diện cho ý chí của ai? Do vậy, sự nhất trí bị phá vỡ thì cũng làm phá sản luôn khái niệm đại diện.
Tính đại diện trong tương lai cũng cần được xem lại. Đại biểu do dân bầu càng ngày càng phải giải quyết nhiều công việc, và nhìn chung các đại biểu ngày càng hiểu biết ít hơn về các việc mà họ  phải quyết định. Khi năng lực của đại biểu dân cử kém, mà lại bảo thủ, đóng kín, khi đó người dân đương nhiên sẽ ít cảm thấy  được đại diện đầy đủ. Người đại biểu muốn giải quyết được công việc buộc phải dựa vào sức mạnh, nguồn lực từ bên ngoài.
Hay nói cách khác, nếu muốn thực sự là đại diện cho dân, cho tiếng nói của dân thì không còn cách nào khác họ buộc phải dựa vào bộ máy giúp việc và chuyên gia cố vấn (hình thức này mới là chủ đạo trong tương lai). Như vậy, dân chủ về mặt hình thức là gián tiếp nhưng hóa ra lại có cả những yếu tố trực tiếp, từ chỗ chỉ cần người đại biểu đại diện cho nhân dân thuần túy tới việc người đại biểu phải chủ động huy động sức mạnh, trí tuệ của nhân dân, tranh thủ sự tư vấn của các nhóm chuyên gia để đại diện cho dân. Dân chủ bán trực tiếp (semi-direct/hybrid democracy) là dân chủ không khép kín, nó sẽ bao gồm những thiết chế để đảm bảo sự giám sát có hiệu quả, lâu dài từ phía thiểu số.
Pháp luật với tính chất là hiện thân của lẽ phải, sự công bằng là công cụ, phạm vi, đảm bảo của dân chủ
Dân chủ  không thể không đặt trong mối liên hệ với pháp luật. Chính pháp luật công bằng, nhân đạo, hợp lẽ phải là điều kiện, là đảm bảo để có dân chủ. Dân chủ không tự trên trời rơi xuống mà là kết quả đấu tranh lâu dài của nhân dân, là kết quả của quá trình nhận thức, là tất yếu của tiến bộ xã hội.
Muốn cho pháp luật thực sự là động lực cho dân chủ thì  pháp luật phải được minh bạch hóa, phải gần dân, và quan trọng nhất pháp luật phải là hiện thân của sự công bằng. Một qui định pháp luật không rõ ràng, không minh bạch, không đúng đắn sẽ là cơ hội cho người ta vi phạm, lợi dụng dân chủ. Nếu pháp luật xây dựng trên nền tảng khép kín, chủ quan, khi thực hiện thì bưng bít, không minh bạch vô hình chung nó sẽ trở thành công cụ của thiểu số áp đặt lên đa số. Chỉ có minh bạch hóa mới có thể góp phần ngăn chặn được nguy cơ pháp luật trở thành công cụ phục vụ lợi ích của một nhóm người thiểu số nào đó.
Tóm lại, dân chủ là khát vọng, mong ước của con người bất luận con người đó là ai, ở đâu. Trong thế kỷ XXI, dân chủ không còn thuần túy hiểu theo nghĩa chỉ có đa số mới được bảo vệ, mà đó là sự thừa nhận và tôn trọng sự đa dạng và bảo vệ lợi ích của thiểu số nhằm đạt được lợi ích đa phương.
Hình thức của dân chủ cũng không còn đơn thuần là dân chủ trực tiếp hay gián tiếp, mà là giải pháp tích hợp ưu điểm và hạn chế nhược điểm của cả hai hình thức này, đó là hình thức dân chủ bán trực tiếp. Dân chủ chỉ có thể được thực thi và trở thành một giá trị phục vụ cộng đồng khi có sự phân công, phân cấp hợp lý và khi được đảm bảo bởi một hệ thống pháp luật đại diện cho những giá trị nhân văn, lẽ phải và sự công bằng.
TS. Nguyễn Minh Tuấn
--------------------------------
Chú thích:
[1] Nhiều tác giả, Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, Bản dịch ra từ tiếng Việt có sửa chữa và bổ sung của Nxb Tiến bộ và Nxb Sự thật, tr. 86. Nhiều nước qui định nguyên tắc này ở trong Hiến Pháp. Chẳng hạn ở Đức, Điều 20 Khoản 2 Câu 1 LCB qui định: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam, Điều 2 Câu 2 Hiến pháp 1992 qui định: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.”
[2]Donald (1996), Lincoln. Simon and Schuster, 1996, pp. 460–466.
[3]Robert A.Dahl. A preface to Democratic Theory, The University of Chicago Press, Chicago, 1956, tr. 34.
[4] Alvin Toffler, Làn sóng thứ ba (The third wave), Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr. 314.
[5]Alvin Toffler, sách đã dẫn, tr. 339.
[6]Alain Touraine (2003), Phê phán tính hiện đại, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr. 216.
[7]Amartya Sen, Phát triển là quyền tự do, CIEM (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương) và Nxb thống kê, Hà Nội, 2002, tr. 216.

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

LUẬN BÀN VỀ SỰ CÔNG BẰNG

TS. Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn: Tạp chí Tia sáng,
đăng ngày 4/9/2013,
truy cập đường link gốc tại đây

Công bằng (justice) là một khái niệm luôn gây ra sự tranh cãi. Quan niệm thế nào cho đúng về sự công bằng? Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay, cần phải nhìn nhận vấn đề công bằng như thế nào, và khả năng vận dụng vào thực tế ra sao để góp phần tạo nên sự phát triển bền vững cho xã hội.
Công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc
Trong kinh tế học, người ta phân biệt hai khái niệm khác nhau về công bằng xã hội đó là: công bằng xã hội theo chiều ngang (horizontal justice) nghĩa là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng xã hội theo chiều dọc (vertical justice) theo nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau. Chẳng hạn trong việc xây dựng chính sách thuế: Những người có khả năng ngang nhau cần phải đóng một khoản thuế ngang nhau (công bằng theo chiều ngang), và những người có khả năng hay thu nhập không ngang nhau cần phải áp dụng những khoản thuế khác nhau (công bằng theo chiều dọc). Thí dụ, những bác sĩ có cùng trình độ, cùng năm cống hiến phải được hưởng lương như nhau, nhưng không thể đòi hỏi lương một người bác sĩ lâu năm đã bỏ bao công lao động, học hỏi, phải ngang bằng với lương một người y tá mới ra trường.

Công bằng theo nghĩa khách quan và công bằng theo nghĩa chủ quan
Công bằng cũng có thể được hiểu theo hai nghĩa khác nhau là nghĩa khách quan (objective justice) hoặc nghĩa chủ quan (subjective justice)1. Theo nghĩa khách quan, công bằng được hiểu là những giá trị đúng đắn, những qui tắc, chuẩn mực chung hoặc cách thức hành động phù hợp, được cộng đồng thừa nhận2. Chẳng hạn: Cái thiện luôn thắng cái ác, Cô Tấm hiền thảo, chịu khó hay Thạch Sanh nghĩa hiệp cuối cùng được hưởng vinh hoa phú quí, còn mẹ con Cám độc ác hay Lý Thông gian ác, xảo quyệt cuối cùng phải bị trừng trị. Đó là sự công bằng; Hay qui định người nào làm nhiều sẽ được hưởng nhiều, người nào làm ít sẽ được hưởng ít, người có công được thưởng, người có tội phải bị trừng phạt; người có công càng lớn thì mức thưởng càng lớn, người có tội càng nặng, mức phạt sẽ càng nặng. Đó là công bằng. Theo nghĩa chủ quan, công bằng phụ thuộc vào sự cảm nhận, đánh giá, phán xét của mỗi cá nhân3. Mỗi người sẽ có những đánh giá riêng của mình thế nào là công bằng hay không công bằng. Tóm lại, công bằng có thể hiểu một cách khái quát nhất là trạng thái lý tưởng của xã hội loài người, trong đó vấn đề tài sản, lợi ích, cơ hội giữa các thành viên trong xã hội được phân chia một cách phù hợp, không thiên vị4.

Bình đẳng về cơ hội và khuyến khích sự cạnh tranh giữa các ý tưởng

Xã hội nào cũng luôn tồn tại những nhóm người yếu thế, nhóm người dễ bị tổn thương. Những đối tượng này cần phải được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, công ăn việc làm, nguồn vốn, mạng lưới an sinh nhằm góp phần kiến tạo sự công bằng về điều kiện sống và công bằng về cơ hội phát triển trong xã hội5. Chẳng hạn chính sách cộng thêm điểm thi đại học theo vùng hiện nay, chính sách hỗ trợ cho những người tàn tật, người già cô đơn không nơi nương tựa ở Việt Nam hiện nay ngoài ý nghĩa là những chính sách xã hội, đó còn là biểu hiện của sự công bằng (công bằng theo chiều dọc).

Công bằng còn được hiểu là sự tìm kiếm một "môi trường" mà trong đó các cơ hội là ngang bằng nhau. Chẳng hạn, trong một xã hội đa dạng, đa chiều, sự cạnh tranh giữa các ý tưởng sẽ tạo điều kiện cho các sáng kiến của cá nhân phát triển. Chính sự cạnh tranh giữa các ý tưởng là bước khởi đầu, là cơ sở quan trọng để góp phần tạo nên sự công bằng xã hội. Điều này cũng phản ánh một qui luật tất yếu: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.

Bình đẳng và công bằng dưới góc độ pháp lý

Dưới góc độ pháp lý, bình đẳng và công bằng là hai khái niệm khác nhau. Bình đẳng chỉ là yếu tố cơ bản hợp thành sự công bằng. Không ở đâu luật pháp qui định “mọi người đều bình đẳng”, vì điều đó không thể có, nhưng gần như pháp luật của quốc gia nào cũng qui định “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Bình đẳng trước pháp luật là điều kiện cơ bản để đạt đến sự công bằng6. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đều đề cao giá trị bình đẳng, công bằng, mục đích là chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên sự khác biệt về nguồn gốc xuất thân, chủng tộc, màu da, giới tính, xu hướng tình dục, ngôn ngữ, tôn giáo, thế giới quan chính trị, nguồn gốc xuất thân, tài sản hay các điều kiện khác. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật bị vi phạm khi công quyền hành xử tùy tiện, đối xử bất công đối với một nhóm người này so với một nhóm người khác không dựa trên căn cứ pháp lý nào cả. Những đạo luật vi phạm nguyên tắc bình đẳng phải bị tuyên bố vô hiệu. Những quyết định hành chính hay phán quyết của Tòa án vi phạm nguyên tắc bình đẳng phải bị hủy bỏ.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, để đảm bảo cho sự công bằng, cơ quan lập pháp có vai trò rất quan trọng. Lập pháp có nhiệm vụ phải tối ưu hóa mọi lợi ích của mọi thành phần xã hội (welfare maximization). Muốn vậy, phải có cơ chế giải trình, kiểm tra, giám sát và đảm bảo sự minh bạch thông tin. Người dân phải được quyền biết và đóng góp ý kiến vào việc hình thành, cũng như giám sát việc thực thi pháp luật. Hoạt động hành pháp và tư pháp cũng phải dựa trên cơ sở pháp luật và đảm bảo sự vô tư (fairness), đồng thời phù hợp với tính chất, mức độ của từng quan hệ pháp lý cụ thể.
Việc thực thi hiệu quả các vấn đềnhư công bằng trong việc tiếp cận các cơ hội, công bằng trong việc gánh vác trách nhiệm chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các thế hệ sẽ góp phần kiến tạo nên một sự phát triển bền vững về nhiều phương diện ở phạm vi toàn cầu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng.” Công bằng ngày nay không chỉ là xu hướng chung trong thế giới đương đại mà còn là điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, là tiêu chí, thước đo đánh giá mức độ phát triển bền vững của một xã hội. Mặc dù có nhiều cách quan niệm cũng như lý thuyết về sự công bằng, tuy nhiên những lý thuyết này vẫn chưa đủ để tạo ra một cách hiểu thống nhất về sự công bằng, bởi lẽ mỗi một nền văn hóa, ở không gian và thời gian khác nhau, lại xuất hiện những cách hiểu, cách đánh giá khác nhau về sự công bằng. Ngày nay trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, công bằng dần được nhìn nhận trong một phạm vi rộng lớn hơn, không chỉ được hiểu là công bằng trong phạm vi quốc gia, mà hơn thế, công bằng còn được hiểu ở phạm vi quốc tế. Việc thực thi hiệu quả các vấn đề như công bằng trong việc tiếp cận các cơ hội, công bằng trong việc gánh vác trách nhiệm chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các thế hệ sẽ góp phần kiến tạo nên một sự phát triển bền vững về nhiều phương diện ở phạm vi toàn cầu.

--------------

1Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit juristischer Methodenlehre, 6. Aufl., 2011, Rn. 347.

2Rüthers/Fischer/Birk, Sách đã dẫn, Rn. 348.

3Rüthers/Fischer/Birk, Sách đã dẫn, Rn. 349.

4 Xem: Oswald Schwemmer, Gerechtigkeit, in: Jürgen Mittelstraß (Hrsg.): Enzyklopädie Philosophie und Wissenschaftstheorie. Band 1. Metzler, Stuttgart 1995, S. 746

5Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (World Development Report 2006 – Equity and Development) ở những nước nào mà các yếu tố về công bằng, đặc biệt là công bằng về mặt cơ hội (equality of opportunity) được quan tâm, bảo vệ thì ở những nước đó có sự tăng trưởng tốt về kinh tế. (Xem báo cáo của ngân hàng thế giới (World Bank) về sự công bằng và phát triển (Equity and Development) năm 2006 tại địa chỉ: http://econ.worldbank.org/external/default/main?pagePK=64165259&theSitePK=478060&piPK=64165421&menuPK=64166093&entityID=000112742_20050920110826).

6Nguyên tắc này đóng vai trò như là nền tảng của nhà nước pháp quyền hiện đại và là một nguyên tắc quan trọng của nhiều bản Hiến pháp dân chủ. Trong tuyên ngôn nhân quyền của Liên hiệp quốc năm 1948 (The Universal Declaration of Human Rights) có ghi nhận là: “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi.” Điều 52 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 cũng qui định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.
---------------------
Liên hệ, bình luận của tác giả:

Theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính Phủ, mức lương của Thủ tướng Việt nam hiện nay chỉ dưới 15 triệu đồng một tháng. Mức lương của Thủ tướng và của người lao động hiện nay cho chúng ta thấy rằng: Chúng ta đã duy trì một cơ chế trả lương lạc hậu, dàn trải và cào bằng quá lâu. Cơ chế ấy một mặt làm triệt tiêu nỗ lực phấn đấu của mỗi người lao động, những người tâm huyết sẽ cảm thấy bị đối xử không công bằng, những người có tư tưởng ỷ lại thì làm việc cầm chừng, coi cơ quan nhà nước là mảnh đất màu mỡ, đến hẹn lại lên được tăng lương.

Quan sát, tìm hiểu khi còn học ở nước ngoài tôi thấy nhiều cơ quan họ trả lương theo giờ, theo hiệu suất công việc. Không hề dựa trên cơ chế bình bầu chiến sĩ thi đua hay lao động tiên tiến để tăng lương như ở ta. Đi học thì sinh viên không ai biết điểm của ai, đi làm thì mọi người trong cùng cơ quan cũng không ai biết lương của ai. Một phần đó là bí mật cá nhân, một phần đó là sự đảm bảo rằng việc đánh giá lương, thưởng đã được tính toán dựa trên những tiêu chí áp dụng với từng người, từng công việc rất rõ ràng, một phần để tránh mất đoàn kết trong đơn vị. Đừng nói đến khái niệm "bình bầu chiến sĩ thi đua”, thời thị trường không có bình bầu, mà là sự đánh giá theo tính chất công việc, theo năng lực và hiệu quả công việc. Tùy theo công việc mà ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không được hưởng.

Không thể khuyến khích người lao động yên tâm và làm việc tích cực khi mà cơ chế lương, thưởng không đảm bảo sự công bằng. Không thể phân loại được người giỏi, người làm việc tốt với những người làm việc ở mức trung bình, yếu kém khi mà việc trả lương là cào bằng, ai cũng như ai. Tại sao chúng ta không thay cơ chế tăng lương theo thời gian làm việc hiện nay bằng cơ chế tăng lương theo năng suất, hiệu quả công việc và mức độ hoàn thành nhiệm vụ? Tạo sao chúng ta không xây dựng một hệ thống trả lương, cũng như khen thưởng và kỷ luật cán bộ dựa trên năng lực và hiệu quả làm việc, theo đó tùy theo mức độ hoàn thành công việc và kèm theo là những tiêu chí cụ thể (được lượng hóa) điều chỉnh tăng hoặc giảm lương với từng người?
Thiết nghĩ đã đến lúc phải có những thay đổi căn bản trong tư duy và đột phá về chính sách tiền lương!

NMT

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

NÉT ĐỘC ĐÁO VÀ TÍNH THỜI ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ CỦA LORENZ VON STEIN



Lorenz von Stein (1815–1890)
Nguyễn Minh Tuấn

Bắt đầu từ việc tìm đọc các giáo trình “Lý luận về pháp luật” (Rechtstheorie) và triết học pháp luật (Rechtsphilosophie) ở Đức, tôi đã biết đến học giả Lorenz von Stein (1815–1890) và quan tâm, tìm đọc các tác phẩm của ông. Có thể nói rằng càng đọc, tôi càng thấy hứng thú với cách tiếp cận và cách giải quyết nhiều vấn đề chính trị - pháp lý của Lorenz von Stein.[1]
Cùng là học giả người Đức, cùng thời với Karl Marx (1818–1883), tuy nhiên Lorenz von Stein lại có những quan điểm và cách tiếp cận khác, thậm chí trái ngược với Karl Marx. Những tư tưởng được thể hiện ở trong nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt là tư tưởng về nhà nước và pháp luật[2], được nhiều học giả ở Đức hiện nay đánh giá rất cao, được xem là những tư tưởng phản ánh chân thực hiện thực xã hội, có tầm nhìn và mang tính thời đại.[3]
Tư tưởng về xây dựng một “nhà nước xã hội”
Lorenz von Stein là người ủng hộ học thuyết phân quyền. Theo ông, không phải “tập quyền” mà “phân quyền” mới có thể kiểm soát và giới hạn quyền lực nhà nước và là điều kiện tiên quyết để xây dựng một nhà nước xã hội.[4] Ông cùng với Robert von Mohl (1799- 1875) và Otto Bähr (1817–1895) là những học giả đầu tiên sau thời kỳ khai sáng đã nghiên cứu, tổng hợp lại các khái niệm của Hobbes, Locke, Rousseau và Montesquieu để hình thành nên nội hàm của khái niệm Rechtsstaat (nhà nước pháp quyền) ở Đức.
Nếu như Karl Mark ủng hộ một cuộc “cách mạng xã hội” và cho rằng chỉ có thông qua một cách mạng xã hội mới có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì Lorenz von Stein lại có cách tiếp cận hoàn toàn khác. Ông cho rằng: “Cuộc cách mạng xã hội chỉ có thể là cách xoa dịu mâu thuẫn, chứ không phải là cách giải quyết mâu thuẫn xã hội. Nó chẳng khác nào việc thay đổi người lãnh đạo này bằng một người lãnh đạo khác cả.[5] Từ đó, ông đề xuất phải xây dựng “một nhà nước xã hội, một nhà nước chịu trách nhiệm.[6]
Theo ông, nhà nước xã hội là nhà nước không phải dùng nhà tù, cảnh sát, quân đội để trấn áp, mà là nhà nước thông qua các công cụ tài chính, lấy phát triển phúc lợi xã hội là mục tiêu và động lực để bảo vệ con người và phát huy mọi năng lực của con người.[7] Muốn xây dựng một nhà nước xã hội thì trước tiên nhà nước đó phải có trách nhiệm đảm bảo điều kiện sống tối thiểu của mỗi một con người.[8] Không coi trọng phẩm giá con người, không có cơ chế kiểm soát tài chính nghiêm ngặt và minh bạch thì không thể thực hiện được tốt các chính sách phúc lợi xã hội.[9]   
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trải qua đêm trường ác mộng của chủ nghĩa phát xít, nơi mà nhân phẩm của con người bị trà đạp, bị xâm phạm một cách thô bạo, những nhà lập hiến Đức lại một lần nữa khẳng định lại tính đúng đắn trong tư tưởng của Lorenz von Stein rằng: “muốn bảo vệ phẩm giá của con người thì không có cách nào khác hơn là nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo điều kiện sống tối thiểu của mỗi một con người.”[10] Ngày nay, nguyên tắc nhà nước xã hội (Sozialstaatsprinzip) đã được vĩnh viễn hóa, trở thành một trong năm nguyên tắc trường tồn của Hiến pháp Đức được qui định ở Điều 20 Khoản 1.
Tư tưởng về bảo vệ sở hữu tư nhân
Ngược với quan điểm của Karl Marx, Lorenz von Stein cho rằng: “không phải sở hữu tư nhân, mà chính công hữu thiếu sự kiểm soát chặt chẽ mới là nguồn gốc nảy sinh ra tham nhũng (Korruption).”[11]
Ông cho rằng không nên bãi bỏ sở hữu tư nhân, vì tài sản là một hình thức biểu hiện của tự do được vật chất hóa (eine Erscheinungsform materialisierter Freiheit) và là động lực (Anreiz) cho hành động của con người. Trách nhiệm của nhà nước vì thế không phải là hạn chế sở hữu tư nhân mà là “phát triển và bảo vệ sở hữu tư nhân.”[12] Bảo vệ sở hữu tư nhân và xây dựng nhà nước xã hội không mâu thuẫn nhau, mà tương hỗ lẫn nhau, vì mục đích bảo vệ những giá trị cao nhất của con người.[13]
Bảo vệ sở hữu tư nhân sau này đã trở thành động lực và mục tiêu nền tảng cho sự ra đời của nhiều bản hiến pháp hiện đại trên thế giới. Điều 14 Hiến pháp Đức cũng qui định và ràng buộc trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm, bảo vệ sở hữu tư nhân.[14]
Luật pháp và việc bảo vệ quyền lợi của người lao động
Quan điểm về luật pháp của Lorenz von Stein rất tiến bộ. Ông cho rằng luật pháp luôn động, không bất biến. Luật pháp có sức mạnh thi hành hay không là do tính phù hợp và tính thuyết phục của qui định.[15] Không nên né tránh tranh luận, chỉ có sự tranh luận và phê phán, mới có thể xây dựng được những chính sách, pháp luật đúng đắn, phù hợp nhất.[16] Ông cũng cho rằng không có một hệ thống pháp luật chung thống nhất cho tất cả các quốc gia. Mỗi một nhà nước, mỗi một hệ thống pháp luật đều có những nguyên tắc riêng, những nguyên tắc ấy do điều kiện về chính trị, lịch sử, văn hóa qui định.[17]
Về việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, cũng như những tác giả khác cùng thời, Stein nhận thấy sự bất công trong xã hội, cũng như những nỗi thống khổ của những người lao động. Tuy nhiên, Lorenz von Stein đã không ủng hộ khái niệm „giai cấp“ mà Karl Mark đưa ra và hoài nghi về tính thực tiễn, đồng thời cảnh báo về mối hiểm nguy của một xã hội mà do giai cấp vô sản lãnh đạo.[18] Theo ông, người lao động, tức người lãnh đạo, không thể là những người mù chữ và không có tay nghề.[19] Luật lao động phải bảo vệ quyền lợi của họ, phải đưa việc đào tạo nghề (Arbeitsbildung) thành một chế định trong luật, trong đó cần có sự phân loại thành người học việc (Lehrlinge), người đã qua đào tạo (Gesellen) và người thợ lành nghề (Meister).[20] Theo ông, để bảo vệ quyền lợi của người lao động thì cần phải hoàn thiện pháp luật lao động. Cần phải xây dựng tổ chức công đoàn mạnh, độc lập với giới chủ, đứng về phía người lao động và bảo vệ họ. Mâu thuẫn lợi ích giữa người lao động và giới chủ sẽ được giải quyết, thông qua việc thương lượng, để tìm ra những điểm chung về lợi ích (Interessengemeinsamkeiten). Ông ủng hộ việc xây dựng một nhà nước, mà thông qua những cải cách xã hội bền vững sẽ cân bằng lợi ích giữa các thành viên trong xã hội và giữ cho những quan hệ này trong miền chừng mực (in Grenzen).
Tư tưởng của Lorenz von Stein và Hiến pháp Minh Trị của Nhật Bản
Thực tế từ thế kỷ XIX, những tư tưởng của Lorenz von Stein đã xuất khẩu, đã vượt ra khuôn khổ biên giới của nước Đức, trở thành cơ sở lý luận để xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên ở Châu Á, đó là Hiến pháp Nhật bản.
Năm 1882, Thủ tướng Nhật bản Itô Hirobumi đã dẫn đầu một phái đoàn sang Châu Âu để khảo cứu hiến pháp và hệ thống chính quyền của Phương Tây. Phái đoàn này đã đến gặp hai học giả nổi tiếng nhất của trường phái luật Đức-Phổ là H. Rudolf von Gneist (1816-1895, Đại học Berlin) và Lorenz von Stein (1815-1890, Đại học Wien). Ở đây, phái đoàn này đã triệt để học hỏi lý luận về Hiến pháp, về xây dựng một nhà nước xã hội của hai học giả này. Lorenz von Stein đã nhắn gửi với phái đoàn của Nhật rằng: “Cải cách cần phải chú trọng đến cải cách về xã hội, mở rộng các quyền tự do, dân chủ của người dân, đó chính là nguồn gốc tạo nên sự công bằng xã hội (soziale Gerechtigkeit) và vững bền của nhà nước (Stabilität des Staates).”[21] Một năm sau đó (năm 1883), phái đoàn này trở về nước và đã vận dụng những tư tưởng của hai học giả này để xây dựng một bản Hiến pháp đầu tiên cho Nhật Bản.[22] Theo bản Hiến pháp này, quyền lực của Thiên Hoàng không còn là tuyệt đối, mà đã có những giới hạn nhất định. Lần đầu tiên trong lịch sử, người dân Nhật bản đã có được một bản Hiến pháp, mà bản Hiến pháp ấy bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, quyền tự do tôn giáo, ngôn luận, xuất bản và quyền lập hội của họ.[23]
Người Đức vốn kỉ luật và khắt khe. Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà tư tưởng của Lorenz von Stein lại được người Đức đề cập nhiều và đánh giá cao đến thế. Phải chăng đó là do tư tưởng của Lorenz von Stein chứa đựng những giá trị nhân văn, nhân đạo, mang tính cách mạng và tính thời đại hay còn có những lý do nào khác? Chỉ riêng giải đáp cho thấu tỏ điều đó thôi, có lẽ đã đủ làm cho việc tiếp tục khảo cứu những tư tưởng chính trị - pháp lý của ông trở nên đặc biệt hấp dẫn rồi.  

“Die übrigen Kernthesen der marxistischen Rechtslehren haben sich als Hilfsinstrumente einer totalitären Ideologie erwiesen, die von einer irrigen transzendentalen Geschichtsdeutung ausgeht. Die marxistischen Rechtslehren dienten zur Rechtsfertigung der Ewigkeitsherrschaft der herrschenden Monopolpartei.” (Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit Juristischer Methodenlehre, 6. Aufl., München, 2011, Rn. 509).
“Lorenz von Stein hat die Vorstellung eines sozialen, d.h. für die Gesellschaftsordnung verantwortlichen Staates. Eine proletarische Revolution lehnt er ab, weil jede Revolution nur eine neue, umgekehrte und scharf ausgeprägte Klassenstruktur schaffe und so das Problem fortschreibe, nicht aber lösen könne.” (Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit Juristischer Methodenlehre, 6. Aufl., München, 2011, Rn. 513).
“In den meisten Standardwerken zur Privatrechtsgeschichte und zur Methodenlehre kommt die marxistische Rechtstheorie kaum vor. In gleicher Weise, eher noch gründlicher, wird Lorenz von Stein in seiner Bedeutung für die Rechtswissenschaft bis heute verkannt.” (Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit Juristischer Methodenlehre, 6. Aufl., München, 2011, Rn. 517).




[1] Lorenz von Stein học luật và triết học ở các trường Đại học Kiel và Jena từ 1935-1939, ở Đại học Paris từ 1841-1842. Trong thời gian từ 1846 đến 1851 ông là Giáo sư của Đại học Kiel, đồng thời là thành viên của Nghị viện tại Frankfurt năm 1848.
[2] Ông đã công bố rất nhiều tác phẩm có giá trị, trong số đó có những tác phẩm như: Hệ thống khoa học nhà nước (System der Staatswissenschaft), năm 1852; Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của Pháp ngày nay (Der Sozialismus und Communismus des heutigen Frankreich), năm 1842, tái bản năm  1847; Những bước tiến xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa từ Cách mạng pháp thứ ba (Die sozialistischen und kommunistischen Bewegungen seit der dritten französischen Revolution), xuất bản ở Stuttgart, năm 1848; Lịch sử của luật hình sự Pháp (Geschichte des französischen Strafrechts), Basel, năm 1847; Lịch sử nhà nước và pháp luật của Pháp (Französische Staats- und Rechtsgeschichte), xuất bản ở Basel, 1848…
[3] Rất nhiều cuốn giáo trình về triết học pháp luật, tư tưởng pháp luật ở Đức hiện nay đánh giá cao tư tưởng của Lorenz von Stein, chẳng hạn như các tác phẩm: Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit Juristischer Methodenlehre, 6. Aufl., München, 2011; Horn, Einführung in die Rechtswissenschaft und Rechtsphilosophie, 5. Aufl.,  Heidelberg, 2011; Kaufmann/Hassemer/Neumann, Einführung in Rechsphilosophie und Rechtstheorie der Gegenwart, 8. Aufl., C.F.Müller, Heidelberg, 2011; Krüper, Grundlagen des Rechts,  Baden-Baden, 2011; Kunz/Mona, Rechtsphilosophie, Rechtstheorie, Rechtssoziology, Eine Einführung in die theoretischen Grundlagen der Rechtswissenschaft, Haupt, Bern – Stuttgart – Wien,  2006.
[4] Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit Juristischer Methodenlehre, 6. Aufl., München, 2011, S. 319.
[5] L.v.Stein, Geschichte der sozialen Bewegung in Frankreich, Nachdruck Hildesheim 1959, Bd. I, S. 37 ff.
[6] L.v.Stein, Geschichte der sozialen Bewegung in Frankreich, Nachdruck Hildesheim 1959, Bd. I, S. 39 ff.
[7] L.v.Stein, Geschichte der sozialen Bewegung in Frankreich, Nachdruck Hildesheim 1959, Bd. I, S. 128 ff.
[8] Tư tưởng này sau này đã được cụ thể hóa ở Điều 1 Khoản 1 Hiến pháp Đức và các phán quyết của Tòa án hiến pháp liên bang Đức về việc bảo vệ phẩm giá của con người.
[9] L.v.Stein, Geschichte der sozialen Bewegung in Frankreich, Nachdruck Hildesheim 1959, Bd. I, S. 128 ff.
[10] Manssen, Staatsrecht II (Grundrechte), 9. Aufl., München 2012, Rn. 203 ff.
[11] L.v.Stein, Geschichte der sozialen Bewegung in Frankreich, Nachdruck Hildesheim 1959, Bd. I, S. 32 ff.
[12] Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit Juristischer Methodenlehre, 6. Aufl., München, 2011, S. 321 f.
[13] Xem thêm: Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit Juristischer Methodenlehre, 6. Aufl., München, 2011, S. 324.
[14] Xem thêm: Manssen, Staatsrecht II (Grundrechte), 9. Aufl., München 2012, Rn. 671 ff.
[15] L.v.Stein, Gegenwart und Zukunft der Rechts- und Staatswissenschaft Deutschland, Neudruck Aalen, 1970, S. 135.
[16] L.v.Stein, Gegenwart und Zukunft der Rechts- und Staatswissenschaft Deutschland, Neudruck Aalen, 1970, S. 256 ff.
[17] L.v.Stein, Gegenwart und Zukunft der Rechts- und Staatswissenschaft Deutschland, Neudruck Aalen, 1970, S. 258 ff.
[18] L.v.Stein, Geschichte der sozialen Bewegung in Frankreich, Nachdruck Hildesheim 1959, Bd. I, S. 125 ff.
[19] L.v.Stein, Geschichte der sozialen Bewegung in Frankreich, Nachdruck Hildesheim 1959, Bd. I, S. 127.
[20] L.v.Stein, Geschichte der sozialen Bewegung in Frankreich, Nachdruck Hildesheim 1959, Bd. I, S. 127.
[21] Sau này Hiến pháp Minh Trị theo mô hình của Hiến pháp Đức. Phái đoàn của Thủ tướng Nhật bản Hirobumi cho rằng: Hiến pháp của Mỹ bị từ chối vì quá tự do, còn mô hình của Anh thì lại trao quá nhiều quyền hành cho Nghị viện. Các mô hình của Pháp và Tây Ban thì có khuynh hướng chuyên quyền. Riêng mô hình của Đức được coi là phù hợp nhất, vì theo nghiên cứu của phái đoàn, nó dung hòa được các lợi ích xã hội.
[22] Hiến pháp Minh Trị (Meiji Constitution) là luật gốc của triều đình Nhật bản, có hiệu lực thi hành từ ngày 29/11/1890 đến 2/5/1947.
[23] Sau khi Nhật Bản bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật bản xây dựng một bản Hiến pháp mới, xây dựng một nhà nước mới theo chính thể quân chủ lập hiến.

CHUYỆN BẢO VỆ NHÂN PHẨM Ở ĐỨC



Đức, nhân phẩm, luậtTS. Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn: Tuần Việt Nam, đăng ngày 27/6/2013,
truy cập đường link gốc tại đây

Từ những đau thương và những trải nghiệm từ lịch sử, người Đức đã nhận thức được sâu sắc lý do vì sao cần phải bảo vệ nhân phẩm.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, xây dựng lại  đất nước từ trong hoang tàn, đổ nát, có lẽ  nhân dân Đức là những người thấu hiểu hơn ai hết sự bạo tàn của chiến tranh, sự phi nhân tính của chủ nghĩa phát xít, cũng như hệ quả đau thương mà nó gây ra. Họ cũng là những người thấu hiểu việc bảo vệ phẩm giá của con người quan trọng và cần thiết như thế nào.

Qui định đầu tiên, trang trọng nhất của Luật cơ bản (Hiến pháp) của Đức là qui định về nhân phẩm: “Nhân phẩm là bất khả xâm phạm” (Điều 1 Khoản 1).[1] Đặc biệt, thông qua qui định của Điều 79 Khoản 3 Hiến pháp, vấn đề nhân phẩm là bất khả xâm phạm tại Điều 1 Hiến pháp này đã được vĩnh viễn hóa, trở thành một trong những giá trị cao nhất của Hiến pháp Đức. Theo đó, trong mọi trường hợp, qui định “nhân phẩm” tại Điều 1 là không thể sửa đổi.
Chỉ có một câu duy nhất: “Nhân phẩm là bất khả xâm phạm”, nhưng qui định này đã phản ánh đầy đủ tính nhân bản, tính dân tộc và tính thời đại của Hiến pháp Đức. Cũng chỉ bằng một câu duy nhất ấy, người ta có thể thấy được người Đức trân trọng nhất điều gì, đồng thời cũng cho thấy giá trị mà họ muốn hướng tới, muốn bảo vệ là gì.
Theo Giáo sư Luật Hiến pháp Günter Dürig, nhân phẩm qui định ở Điều 1 Khoản 1 Hiến pháp Đức không phải là một quyền cơ bản đơn thuần, mà là giá trị khách quan, cao nhất của Hiến pháp, là qui tắc ràng buộc toàn bộ mục đích, nhiệm vụ và hành vi của công quyền. Nhân phẩm bị xâm phạm, khi cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền hành xử với con người như một vật thể đơn thuần (bloßes Objekt).[2] Những hành vi của công quyền như bắt người làm nô lệ, tra tấn, phân biệt đối xử, làm nhục, từ chối cung cấp những điều kiện sống tối thiểu của một con người…đều là những hành vi xâm phạm nhân phẩm và vi hiến.
Ở Đức, không một lý do nào có thể biện minh cho việc chà đạp lên phẩm giá của con người, ở bất kỳ hình thức nào. Tất cả mọi người đều được bảo vệ nhân phẩm, không phân biệt người đó là ai, trẻ em hay người trưởng thành, người bị tâm thần hay tội phạm, thậm chí không phụ thuộc vào việc chủ thể đó có nhận thức được về nhân phẩm của mình và nhận thức chúng cần phải được bảo vệ hay không.[3]
Đức, nhân phẩm, luật
Không chỉ việc tử hình bị coi là vi phạm nhân phẩm con người[4], mà ngay cả hình phạt tù chung thân (die lebenslange Freiheitsstrafe) không chú ý đến khả năng hoàn lương của con người cũng bị coi là vi phạm nhân phẩm ở Đức. Tòa án hiến pháp liên bang Đức vào năm 1977 đã ra phán quyết rằng áp dụng hình phạt tù chung thân mà không tạo khả năng giảm án là vi hiến, vì xâm phạm nhân phẩm của con người. Ngày nay ở Đức, một người tù thụ án tù chung thân có thể được giảm án, nếu cải tạo tốt, nhưng sớm nhất là không dưới 15 năm tù giam.[5]
Một ví dụ khác: Xuất phát từ nhu cầu thực tế phòng chống nạn khủng bố, đặc biệt là từ vụ việc ngày 11/9 ở Mỹ năm 2001, vào năm 2005, Nghị viện liên bang Đức đã thông qua Luật an toàn hàng không. Theo Điều 14 Khoản 3 của đạo luật này, trong những trường hợp nghiêm trọng, khẩn cấp, cơ quan an ninh quốc gia được phép bắn vào máy bay dân dụng mà kẻ khủng bố sử dụng làm công cụ khủng bố. Tòa án hiến pháp liên bang trong phán quyết ngày 15/2/2006 đã cho rằng: Qui định này cho phép công quyền coi việc giết người vô tội là công cụ để cứu người khác. Việc giết hại một số ít người vô tội để cứu một số lượng người lớn hơn không thể được hợp pháp hóa, đó chẳng khác gì việc coi con người là một “vật thể đơn thuần”. Qui định này là vi hiến, do xâm phạm đến nhân phẩm và quyền được sống của con người.[6]
Cũng liên quan đến vấn đề nhân phẩm của con người, vào năm 1979, ở Đức có một vụ án như sau: Sau khi tiến hành phẫu thuật chuyển giới, B đã đệ đơn đề nghị cơ quan hộ tịch thành phố X tiến hành công nhận việc thay đổi giới tính từ nam sang nữ cho mình, nhưng đã bị cơ quan này từ chối yêu cầu của B. Thời điểm đó ở Đức cũng chưa có Luật cho phép việc chuyển giới. Quan điểm của Tòa án tối cao liên bang là vì chưa có luật nên việc cơ quan hộ tịch từ chối là đúng, nhưng Tòa án Hiến pháp liên bang Đức lại phản bác và kết luận cho rằng: Nhân phẩm con người là giá trị cao nhất, mọi người đều được quyền yêu cầu công nhận giới tính thật của mình, đó thuộc về nhân phẩm con người. Việc cơ quan hộ tịch từ chối đơn đề nghị của B là hành vi vi hiến.[7] Sau đó khoảng một năm, vào ngày 10/9/1980, đạo luật về chuyển giới (Transsexuellengesetz) đã được Nghị viện thông qua, chính thức hợp pháp hóa về phương diện luật việc chuyển đổi giới tính.
Ngày nay, nhiều vấn đề xoay quanh nhân phẩm của con người vẫn gây rất nhiều tranh cãi ở Đức. Chẳng hạn, vấn đề: có nên cho phép việc nạo phá thai hay không. Đạo luật cho phép nạo phá thai đầu tiên của Đức năm 1975 đã bị tuyên vi hiến, do Tòa án tuyên bố rằng bào thai đã thành thai cũng thuộc đối tượng bảo vệ của nhân phẩm. Theo Bộ luật hình sự Đức hiện hành, việc nạo phá thai là bất hợp pháp[8], trừ khi có những bằng chứng cụ thể, được qui định tại  Điều 219 Khoản 1 Bộ luật này.
Vấn đề bác sĩ có nên công bố cho người mẹ mang thai về những dị tật bẩm sinh của bào thai hay không cũng là vấn đề có những quan điểm trái ngược nhau. Quan điểm đồng tình thì cho rằng việc thông báo này liên quan trực tiếp đến lợi ích của xã hội, của cha mẹ và của chính đứa trẻ. Cha mẹ có quyền được biết về những dị tật của bào thai, để sớm đưa ra quyết định. Những trẻ em dị tật ra đời nhiều khi là khổ đau cho chính trẻ em và là gánh nặng cho xã hội.[9]
Quan điểm phản đối cho rằng: Không có gì cao hơn nhân phẩm của con người. Bào thai đã thành thai cũng là đối tượng cần phải được bảo vệ về nhân phẩm. Quyền được sống của một đứa trẻ bị dị tật cũng không kém giá trị hơn quyền được sống của một đứa trẻ không bị dị tật. Việc thông báo về dị tật của bào thai là vi phạm y đức và sẽ có tác động xấu đối với xã hội, làm gia tăng tỉ lệ nạo phá thai. Hay nói cách khác, không có bất kỳ ai có quyền tước đi quyền được sống của một đứa trẻ, cho dù đứa trẻ đó bị dị tật.[10]
Cũng liên quan đến vấn đề này, hiện nay việc có nên cho phép nghiên cứu tế bào gốc (Stammzellenforschung) hay không ở Đức cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Việc nghiên cứu tế bào gốc, cấy ghép tế bào thai nhi vẫn bị cấm theo Điều 2, Điều 8 Luật bảo vệ tế bào gốc (ESchG - Gesetz zum Schutz von Embryonen). Từ góc độ luật hiến pháp, bào thai cũng là đối tượng cần phải được bảo vệ về nhân phẩm theo Điều 1 Khoản 1 Hiến pháp.
Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phản đối qui định này.  Theo kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại: Tế bào thần kinh là loại tế bào khi đã chết đi thì sẽ không có khả năng phục hồi và tái sinh. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học khẳng định rằng việc nghiên cứu, cấy ghép tế bào bào thai, tế bào gốc và liệu pháp gen để thay thế các tế bào thần kinh đã chết sẽ là một hướng đi nhiều hứa hẹn để giải quyết vấn đề này. Việc ngăn cấm nghiên cứu tế bào gốc, hay cấy ghép tế bào thai nhi là vi phạm quyền tự do trong nghiên cứu khoa học.[11]
Vấn đề nhân phẩm ngày nay ở Đức không những được tranh luận ở tất cả các góc độ từ triết học, sinh học, đạo đức học, y học, luật học…mà còn được hiểu và hiện thực hóa ở một phạm vi rất rộng. Theo phán quyết ngày 9/2/2010, Tòa án hiến pháp liên bang đã khẳng định rằng Luật trợ cấp xã hội (Hartz IV Gesetz) ra đời là bắt nguồn từ nguyên tắc bảo vệ nhân phẩm tại Điều 1 Khoản 1 Hiến pháp và nguyên tắc nhà nước xã hội (Sozialstaatprinzip).[12] Đạo luật này qui định rằng nhà nước có trách nhiệm đảm bảo một mức sống tối thiểu đối với tất cả mọi người, đồng thời qui định cụ thể những đối tượng nào, trường hợp nào thì được hưởng trợ cấp xã hội.
Theo Tòa án hiến pháp liên bang, nhân phẩm sẽ không có giá trị ràng buộc trách nhiệm của nhà nước, nếu như điều kiện sống tối thiểu của một con người cụ thể không được đảm bảo. Chế độ trợ cấp xã hội ở Đức hiện nay được đánh giá là rất tiến bộ, chế độ này ra đời xuất phát từ lý do căn bản là nhằm bảo vệ nhân phẩm con người, tạo sự bình đẳng về cơ hội và điều kiện phát triển tốt nhất cho con người.
Tóm lại, từ những đau thương và những trải nghiệm từ lịch sử, người Đức đã nhận thức được sâu sắc lý do vì sao cần phải bảo vệ nhân phẩm. Nhân phẩm vừa là điểm khởi đầu, nhưng cũng vừa là mục đích cuối cùng của Hiến pháp Đức. Tất cả các qui định khác trong Hiến pháp từ vấn đề các quyền cơ bản cụ thể, đến cơ chế phân công quyền lực, bảo vệ Hiến pháp…suy đến cùng cũng vì con người và bảo vệ phẩm giá của con người. Câu chuyện nhân phẩm là vấn đề cũ, nhưng vẫn sẽ luôn mới, vừa là câu chuyện của hôm qua, nhưng cũng là câu chuyện của hôm nay và ngày mai, vừa là vấn đề lịch sử, văn hóa, sinh học, nhưng cũng vừa là vấn đề mang tính thời đại của Hiến pháp.

----------------------
Chú thích:
[1] Điều 1 Khoản 1 Câu 1 Hiến pháp Đức qui định: “Nhân phẩm là bất khả xâm phạm”. Tòa án Hiến pháp liên bang Đức coi nhân phẩm là giá trị cao nhất của Hiến pháp Đức, không có bất kỳ giá trị nào cao hơn nhân phẩm. Xem: BverfGE 32, 98 (108); 50, 166 (175); 54, 341 (357).
[2] Günter Dürig, in Theodor Maunz/Ders.: Grundgesetz, 1958, Art. 1 Abs. 1 Rn. 28, 34. Sau này định nghĩa về nhân phẩm của Dürig đã được Tòa án hiến pháp liên bang Đức thừa nhận trở thành định nghĩa có tính chuẩn mực ở Đức. Xem thêm: BVerfGE 27, 1 (6); 28, 386 (391); 45, 187 (228).
[3] BverfGE 39, 1 (41 f.).
[4] Theo Điều 102 Hiến pháp Đức, hình phạt tử hình đã bị bãi bỏ.
[5] Xem Điều 57 a, Bộ luật Hình sự Đức.
[6] BverfGE 357, 05 (05 f.).
[7] BverfGE 49, 286, (301 f).
[8] Xem các Điều từ Điều 218 Bộ luật hình sự Đức.
[9] Xem thêm: Manssen, Staatsrecht II – Grundrechte, 9. Aufl., 2012, Rn. 220.
[10] Đây cũng là quan điểm chính thức của Tòa án hiến pháp liên bang Đức. Xem: BVerfGE 88, 203 (296).
[11] Xem thêm: Manssen, Staatsrecht II – Grundrechte, 9. Aufl., 2012, Rn. 221 f.
[12] BverfGE 125, 175 ff.