Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ngọc Lanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ngọc Lanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Ngôi trường đầu tiên ở Việt Nam đào tạo tiến sĩ “tân học”

img_69421
Đây vốn là Ecole de Médecine de l’Indochine / trường Y khoa Đông Dương tại Hà Nội với hiệu trưởng đầu tiên giai đoạn 1902 – 1904 là A. Yersin. Ảnh: Phanxipăng
Nguyễn Ngọc Lanh
Những khoa thi cuối cùng chấm dứt nền “cựu học” 
Bước sang thế kỷ XX, Việt Nam vẫn còn ở trình độ thấp của nền văn minh nông nghiệp; trong khi trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp lần 2 đã kết thúc, châu Âu đã từ lâu bước vào nền văn minh công nghiệp hiện đại. Không những thế, giáo dục nước ta vẫn bị Nho Học kìm hãm, đến lúc này đã trở nên quá lỗi thời. Đây chính là các nguyên nhân khiến cả loạt nước nông nghiệp lạc hậu ở châu Á bị thực dân đô hộ, nhưng sách Lịch Sử sau 1945 cứ khăng khăng quy lỗi cho triều Nguyễn. Khi cuộc khởi nghĩa cần vương cuối cùng (của quan đề đốc Hoàng Hoa Thám) đi vào thoái trào, thực dân Pháp có thể yên tâm đặt những kế hoạch dài hơi khai thác Đông Dương.  
Chính người Pháp cũng muốn xoá bỏ nền học cũ để gột tẩy ảnh hưởng đạo Khổng từ phương bắc, đặng thay thế nó bằng văn hoá Pháp, đem từ phương tây sang. Tuy nhiên, thực tế việc này không dễ, tuy rằng – đủ sớm – từ 1904 chính phủ Bảo Hộ đã có Nghị định số 1331 về “tổ chức lại nền giáo dục công ở Bắc Kỳ”; hai năm sau lại thêm Nghị Định mới, trong đó có việc “cách tân lối thi cử cũ“… Có sự giằng co giữa “cựu học” và “tân học” mà các bài thơ của ông tú tài (ta) Trần Tế Xương đã phản ánh khá đầy đủ và sinh động.
Trong khi chờ đợi hai Nghị Định trên thật sự có hiệu lực trong cuộc sống, Nam Triều vẫn kịp tổ chức thêm 4 kỳ thi Hương nữa. Kỳ cuối (1915) là “thi vét”, do vậy chỉ riêng tại trường thi Nam Định đã có tới mười ngàn thí sinh giành giật nhau 60 học vị cử nhân và 200 học vị tú tài. Nhưng cũng nhờ hai Nghị Định trên, ngoài Hán văn (quan trọng nhất), thí sinh còn phải làm thêm các đề thi bằng chữ Pháp và Quốc Ngữ – nghĩa là họ phải mang theo cả bút lông và bút sắt, kèm theo hai loại giấy phù hợp. Chữ Pháp lúc này chưa chiếm vị trí quan trọng, thí sinh chỉ phải làm một bài dịch từ Pháp văn sang Hán văn. Nhưng chữ Quốc Ngữ thì phải “đọc thông, viết thạo”, nghĩa là phải dùng thứ chữ này viết nghị luận và trả lời các câu hỏi về Khoa học (hồi đó gọi là môn Cách Trí), Địa, Sử, Toán… Một vị đậu cử nhân khoa thi này có trình độ chữ Hán và Nho Học đủ cao, xứng đáng với học vị; còn trình độ “tân học” thì các cử nhân thời đó chỉ ngang học sinh cấp II thời nay – nhưng lúc ấy vẫn là cao nhất nước.
Sau đó 4 năm, kỳ thi Hội (1919) cũng là “thi vét”, do vậy vua Khải Đinh cho phép ai tự thấy đủ sức dự thi, cứ ghi danh – dù chưa có bằng cử nhân. Các quan đầu tỉnh còn được phép giới thiệu 3 “tú sĩ” dự thi nếu nhận thấy họ thực tài, tinh thông cả chữ Hán, chữ Pháp. Số thí sinh lần này đông chưa từng có. Bài chấm xong, bộ Học trình vua danh sách, có tới 18 vị “trúng cách”, kèm tên 3 người nữa, để xin vua “tùy xét” (cộng là 21). Vượt cả mong đợi, đức vua đã rộng lượng gia ân thêm 2 người nữa, như vậy cả thảy tới 23 vị được vào thi Đình, do đích thân vua ra đầu bài. Thi Đình chỉ là thủ tục, do vậy trên bảng vàng vẫn yết đủ tên 23 vị đại khoa: 7 tiến sĩ, 16 phó bảng.
Chú thích. Vào lúc giao thời giữa hai nền học – tân và cựu – giới sĩ phu rất quan tâm tới khái niệm Văn Minh – gắn với tân học – và thường bàn thảo rôm rả về nó. Đây là đề tài rất thời sự trước một trào lưu đang ảnh hưởng rất lớn tới nước ta. Do vậy, đề thi tiến sĩ năm 1919, vua cũng hỏi về Văn Minh. Thí sinh phải định nghĩa Văn Minh, rồi sau đó nói nó liên quan và ảnh hưởng thế nào tới hòa bìnhchiến tranh; tới hưng thịnh suy thoái, và tới chia rẽ – đoàn kết… Quả thật, nếu không định nghĩa nổi “văn minh” sẽ khó tránh bàn linh tinh về nó. Chẳng hiểu 23 vị dự thi Đình viết lách những gì, nhưng vua đều chấm “đậu”.
Từ đây (1919) nền cựu học chính thức chấm dứt “trên văn bản”, nhưng đến năm 1940 ở nhiều làng xã vẫn có các “ông đồ” dạy chữ Hán cho dăm bảy người. Nguyên nhân: Nền tân học chưa phủ kín cả nước (mỗi huyện chỉ có một-vài trường tiểu học), chưa đủ đáp ứng nhu cầu học hành, nhất là cho người lớn tuổi. Đi học, chỉ là kiếm ít chữ “thánh hiền”, nhằm tu thân, sửa đức. Chữ quốc ngữ chưa phổ biến, do vậy, giấy khai sinh, giấy hôn thú, tiền bạc và nhiều giấy tờ khác… vẫn phải in bằng 3 thứ tiếng: Quốc ngữ, Hán, Pháp, nhưng cả thảy chỉ có 2-5% số dân đọc được một thứ chữ nói trên. Để nói tân học thay thế cựu học như thế nào, ngày nay chúng ta có thể dùng từ “chật vật”.
Chú thích. – Làng Xuân Lũng từ thời Lê đã nổi tiếng là “làng học” ở đất trung du, vậy mà năm 1920 khi người Pháp mở trường tiểu học, cả làng chỉ có 20 học sinh thuộc những gia đình khá giả có khả năng tới lớp. Dù vậy, Nhà Nước vẫn phải chính thức bổ nhiệm một thầy giáo. Lương của thầy lớp Đồng Ấu (cours enfantin – tương đương lớp vỡ lòng hiện nay) là 7 đồng (mỗi đồng là 10 hào, mỗi hào là 10 xu, mỗi xu mua được 2 quả trứng gà). Bậc tiểu học phải kéo dài 7 năm.
– Nền Nho Học suốt ngàn năm đào tạo được 3000 tiến sĩ (mỗi năm được 3 vị), trong khi trường Y Đông Dương trong 10 năm (1935-1944) đào tạo được 146 tiến sĩ. Và thời trước 1945, cách dạy đạo đức cho thầy thuốc tương lai cũng rất khác với thời sau 1945. Rất cần có thái độ “phân vân” khi thấy sách Lịch Sử nói rằng chủ trương nhất quán của “bọn” thực dân là… ngu dân.
Cứ ra Nghị Định mở trường Y, dù nền “tân học” còn quá sơ khai
Thời đầu thế kỷ XX người ta phải phân biệt “tân học” với “cựu học” (tức Nho Học), vì chúng đang cùng tồn tại và đang thay thế nhau. Điều dễ hiểu là muốn mở một trường chuyên nghiệp (dù là sơ cấp, trung cấp) ắt phải có nguồn tuyển sinh “tân học”. Ở Bắc Kỳ, tới năm 1908 mới có trường trung học (cấp II), bốn năm sau mới có người tốt nghiệp và sáu năm sau (1914) cả nước mới có ba trường cấp 3. Vậy mà ngay từ năm 1902, quan Toàn Quyền cứ cho mở trường chuyên nghiệp Y Khoa. Đã thế, lại còn hàm ý rằng đây là trưởng của toàn cõi Đông Dương, tuyển sinh vẻn vẹn được 29 người (!), trình độ… tiểu học – trong đó Lào có một, Miên không có ai. Hãy so với đại học thời nay – dẫu tuyển sinh hàng ngàn – cũng chỉ được dùng tên một tỉnh để đặt tên trường (ví dụ, đại học quốc gia Hà Nội). Té ra, cách làm “gàn dở” nói trên xuất phát từ suy nghĩ của một chính khách, chứ không phải của một viên chức cao cấp. Đây cũng là việc lớn cuối cùng của quan toàn quyền Đông Dương – Paul Doumer – trước khi ông hết nhiệm kỳ (1896-1902), để về Pháp làm bộ trưởng Bộ Thuộc Địa – và sau ít năm trở thành chủ tịch quốc hội, rồi tổng thống Pháp.
Bảy năm trước (1885) Paul Doumer – khi còn là nghị sĩ – đã thuyết trình về những Dự Luật cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Nhờ sự am hiểu và nhãn quan xa rộng, nên năm 1896 ông được cử sang Đông Dương làm quan Toàn Quyền để  được “toàn quyền” thực thi các đề án liên quan với ý đồ của mình. Ngay năm sau, ông thu xếp công việc để dự lễ “xướng danh” kỳ thi Hương ở Nam Định, qua đó ông thấy rõ tinh thần hiếu học của dân Việt, nhưng cũng nhận ra Nho giáo đã thấm quá sâu vào tâm thức Việt, nhất là ở Bắc Kỳ, không dễ gột tẩy sớm những di hại của nó.
Chú thích. Cần nói rằng Nho Giáo gồm hai phần chính. Phần lý thuyết giúp chế độ phong kiến biến đổi theo chiều hướng tiến bộ (tập quyền), và củng cố nó thêm vững chắc; do vậy được chế độ đưa lên địa vị độc tôn và phát huy tác dụng tới mấy ngàn năm. Ở nước ta, các kỳ thi Nho Học được tổ chức quy củ đã trải trên ngàn năm, nay trở thành lạc hậu với những khái niệm “trung quân” và thực hiện đúng chữ “lễ” (nghĩa gốc của LỄ là sự kính sợ thần linh và kẻ dưới tuyệt đối tuân phục người trên). Còn phần đạo đức, ngược lại, có giá trị lâu dài và sau khi được chọn lọc, bổ sung, vẫn có thể sử dụng trong xã hội mới.
Hãy xem sự liên quan giữa “trung” và “lễ”. Tội lớn nhất của bề tôi là “bất trung” (với vua) – dù đó là ông vua đốn mạt, sa đọa, dâm loạn, bất tài. Chỉ có một mức án: Đó là tử hình, thậm chí tru di ba họ. Nếu giữ đúng “lễ”, chỉ cần vua “nhắn” tin bề tôi đáng chết, nếu không chịu chết… là “bất trung”. Câu chữ Hán: Quân xử thần tử, thần bất tử – bất trung. Mà “bất trung” là… chết (!). Thời nay đang sử dụng phổ biến một danh ngôn của Nho Giáo: Tiên học LỄ, hậu học VĂN. Đó là vì chưa hiểu nghĩa gốc của chữ LỄ (cứ tưởng học “lễ” chẳng qua là trau dồi hạnh kiểm). Hơn nữa, “bói” đâu ra thầy dạy LỄ để mà học?
Chính phần lý thuyết nho giáo đã thấm quá sâu trong giới sĩ phu Bắc Kỳ là một lý do khiến quan Toàn Quyền đặt trường Y ở Hà Nội; mặc dù đặt ở Nam Kỳ sẽ thuận lợi hơn; vì Nam Kỳ đã bỏ hẳn chữ Hán, chỉ còn dùng Quốc Ngữ và chữ Pháp.
Thế là một trường – có tên “trường Y Khoa Đông Dương” ra đời. Nhà bác học Yersin, khi đó đã nổi danh thế giới, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng (1902) để dạy đám học trò vừa mới đậu tiểu học, hoặc “trên tiểu học”. Trình độ có vậy, nhưng về tuổi, tất cả đã lớn “lộc ngộc”, ít nhất cũng 15 tuổi. Lý do: Họ đã tốn khá nhiều năm học chữ Hán, trước khi chuyển sang “tân học”. Phải đến 1921 mới có các vị tú tài tân học đầu tiên vào trường này. Do vậy, điều không lạ nếu nói trường Y bị “đẻ non” – vì chưa có nguồn tuyển sinh. Nhưng điều lạ là nó vẫn sống – nhờ sự chăm bẵm của hiệu trưởng – tiến sĩ y khoa Yersin. Trong khi đó, những trường khác hoành tráng hơn (ví dụ, trường Khoa Học) tới 1906 mới có Nghị Định thành lập, lại chết yểu sau 1 năm quặt quẹo; hàng chục năm sau chưa hồi sinh. Điều lạ khác: Trường Y tuyển sinh như vậy mà y sĩ ra trường vẫn đảm bảo chất lượng, nói và viết thông thạo tiếng Pháp, đủ trình độ chuyên môn và thẩm quyền làm việc trong toàn cõi Đông Dương, lại còn được đích thân quan Toàn Quyền ký quyết định bổ nhiệm.
Chú thích. Nếu không phải Yersin, hẳn không ai dám nhận đào tạo những học sinh như thế, kể cả phải thuê người phiên dịch cho họ (thầy Lê Văn Chinh). Thời điểm 1902, mà 29 học sinh được tới 6 thầy có bằng tiến sĩ dạy cho; trách gì chất lượng chẳng như ý?. Tỷ lệ thầy/trò này đến nay chưa trường đại học nào có nổi. Bệnh viện thực hành chỉ trong 4 tháng khai trương đã khám và chữa cho gần 700 bệnh nhân; trách gì năng lực thực tiễn của học sinh không cao? Tưởng chỉ 4-5 năm đèn sách như dự kiến, nhưng thực tế 6-7 năm mới xong khoá 1. Chất lượng cao là phải!.
Nói gì thì nói, sự ra đời và tồn tại của trường Y Đông Dương khiến nó xứng đáng là đại diện đầu tiên cho bậc cao đẳng – đại học của nền tân học nước nhà. Bất kể thế nào, sứ mệnh đương nhiên của nó là kế tục Quốc Tử Giám tiếp tục sự nghiệp đào tạo tiến sĩ.
Lịch sử thừa nhận Paul Doumer để lại nhiều dấu ấn: Kinh tế, Giao thông, Thương mại, Văn hoá, Khoa học, Giáo dục… Ví dụ, riêng ở Bắc Kỳ, ông đã hoàn thành nhiều đề án: Quy Hoạch Hà Nội, đặt 1625 km đường sắt, bắc cầu 1680m qua sông Hồng, tổ chức ngân sách Ðông Dương, khai mạc Hội chợ Kinh Tế, lần đầu xuất khẩu ngô, lập cảng, lập Ðoàn Khảo Cổ (sau đổi thành Trường Viễn Ðông Bác Cổ), lập nha Khí Tượng, nha Địa Chất, xây Nhà Hát Lớn, mở trường Y… Thoạt đầu, mọi người cứ tưởng ông này chỉ là một viên chức cao cấp, giàu năng lực, mà ít ai nghĩ ông sẽ trở thành chính khách lớn của nước Pháp.
Vị thế trường Y Đông Dương và quá trình nâng cấp
Trường này một lần bị hạ cấp (chỉ trong 4 năm), vì lý do chính trị, nhưng sau đó nhiều lần được nâng cấp vì sự phát triển – cứ mỗi khi bậc trung học đủ khả năng cung cấp cho nó nguồn tuyển sinh chất lưọng cao hơn trước. Cho đến khi tự nó đào tạo được tiến sĩ, mà giá trị tấm bằng được đại học Pháp công nhận. Vị thế của trường, ngày nay ít người hình dung nổi. Ví dụ, các lần hạ cấp hay nâng cấp đều phải do tổng thống Pháp chính thức quyết định – qua việc ban hành các sắc lệnh.
1) Sắc lệnh (18 tháng Ba 1909) của tổng thống Armand Fallières hạ cấp trường này, đặt nó dưới quyền Thống sứ Bắc Kỳ.
2) Sắc lệnh (28 tháng Sáu 1913) của tổng thống Raymond Poincaré, bãi bỏ sắc lệnh trên. Từ nay, trường lại trực thuộc quan Toàn Quyền. Một qui định của sắc lệnh mới: Bằng tốt nghiệp phải có chữ ký của quan Toàn Quyền (bên cạnh chữ ký của hiệu trưởng) và do chính ông quan này ký giấy bổ nhiệm cho từng người tốt nghiệp.
3) Sắc lệnh (18 tháng Năm 1921) tổng thyống Alexandre Millerand quy định tuyển tú tài, học 7 năm; trong đó có hai năm cuối sang Paris làm luận án tiến sĩ. Sản phẩm đầu tiên là 2 vị tiến sĩ Đặng Vũ Lạc và Hoàng Thuỵ Ba (1927).
4) Sắc lệnh (30 tháng Tám 1923), tổng thống Alexandre Millerand cho phép đổi tên là Trường Y Dược toàn cấp, giống như trường của chính quốc. Trường có thêm khoa Dược, có riêng bệnh viện thực hành và chính thức tuyển tú tài để đào tạo tiến sĩ.
5) Sắc lệnh (15 tháng Mười 1941) của quốc trưởng Philippe Pétain nâng cấp thành trường Đại học hỗn hợp Y Dược khoa. Hội đồng chấm luận án tiến sĩ phải do giáo sư thực thụ của đại học Y Paris làm chủ tịch. Do vậy, bằng cấp của trường được xếp tương đương với bằng cấp của các trường bên chính quốc (Pháp).   
Tiến sĩ “tân học”
Khi nền cựu học bị bãi bỏ, các cụ ta cần dịch sang tiếng Viêt những bằng cấp của Tây. Bất cần biết nội dung tân học thế nào, các cụ ta chỉ việc so sánh số năm phải học để gán cái tên của các bằng cấp “ta” sang bằng cấp “tây”. Thật là tiện. Cứ phải nhận, cấm cãi. Bậc trung học cần 12 năm? Thế thì, đó là thời gian trung bình để một nho sinh có bằng tú tài. Bằng trung học buộc phải nhận cái tên “tú tài”. Các bằng khác vẫn là cử nhân, tiến sĩ, nhưng thêm cái đuôi “tân học”, hoặc “tây học” để phân biệt. Năm 1945, mọi người vẫn nói: cụ A là tú tài “ta”, còn ông B là tú tài “tây”.
Thực ra, hai thứ bằng cấp này khác nhau một trời một vực, trước hết là về nội dung đào tạo và nhiệm vụ khi ra trường. Một ví dụ về học vị tiến sĩ (thời nay càng cần phân biệt): Một bên, tiến sĩ (ta) là sự kết thúc con đường học vấn: từ nay, được phong chức và lưu danh ở bia đá (công thành danh toại). Bên kia, tiến sĩ (tây) mới chỉ là sự khởi đầu con đường nghiên cứu đầy gian lao. 
Sản phẩm nội địa đầu tiên
Từ năm 1929 trường Y Đông Dương bắt đầu đào tạo tiến sĩ. Thời gian đào tạo là 7 năm, trong đó năm thứ nhất được gửi sang trường đại học Khoa Học để học 3 môn Lý, Hóa, Sinh; sau đó học tiếp 6 năm ở trường Y. Năm 1935, có 12 sinh viên Y năm cuối (năm thứ sáu) nộp luận án tiến sĩ (these de doctorat) và bảo vệ thành công trước Hội Đồng do GS Galliard – đại học Y Paris cử sang – làm chủ tịch. Tất cả được nhận bằng tiến sĩ y khoa (docteur en médecine). Nếu có gì đáng nói thêm, thì có lẽ là cho đến khi nước nhà giành được độc lập (1945).Hôm nay, rất ít người biết rằng, trước năm 1945 mọi tấm bằng tiến sĩ các ngành khác đều do nước ngoài cấp, chỉ riêng ngành Y là có sản phẩm nội địa.
Tác giả những luận án tiến sĩ y học năm 1935 (a, b, c):
1. Lê Văn Cẩn: Tên luận án: Góp phần nghiên cứu các trường hợp gãy xương cánh tay;
2. Huỳnh Công Chiêu: Góp phần vào việc điều trị bệnh lách do sốt rét bằng liệu pháp phủ tạng lách;
3. Huỳnh Tấn Đối: Góp phần nghiên cứu các hội chứng bụng cấp trong bệnh giun đũa;
4. Nguyễn Trọng Hiệp: Nghiên cứu về hậu quả ngoại khoa các bệnh lỵ và viêm đại tràng nhiệt đới.
5. Nguyễn Đình Hoàng: Góp phần nghiên cứu các trường hợp gãy mỏm ngang đơn độc cột sống thắt lưng.
6. Hoàng Gia Hợp: Gây mê tĩnh mạch bằng Numal;
7. Trương Hồ Ly: Điều trị ngoại khoa cácviêm đại tràng mạn tính bằng tạo lỗ dò, đặc biệt là mở ruột thừa;
8. Nguyễn Xuân Nguyên: Góp phần nghiên cứu bệnh do P. pseudomallei ở Đông Dương;
9. Phạm Văn Phán: Góp phần nghiên cứu bệnh sốt rét bẩm sinh;
10. Lê Đình Quý: Góp phần nghiên cứu phẫu thuật cắt tử cung qua đường âm đạo;
11. Võ Duy Thạch: Góp phần nghiên cứu bệnh sinh của phù trong chứng tê phù (béri béri);
12. Dương Tấn Tươi: Công cuộc chống bệnh sốt rét ở Tuyên Quang.      
Từ đâu ra cái từ “bác sĩ”?
Doctor (docteur) dịch sang tiếng Việt là tiến sĩ. Riêng các sản phẩm đào tạo từ trường Y  Đông Dương được các cụ ta gọi là “bác sĩ”. Té ra, các cụ đã quá đề cao tấm bằng của trường này: Coi nó giống như học vị “tột bậc” dưới triều Lý, cách ta trên 1000 năm.
Từ thời thuộc Pháp, các cụ đã nhận ra: Các trường khác, phải học 3 năm (không cần luận án), lĩnh bằng Cử Nhân, nếu làm cho Nhà Nước sẽ lĩnh lương 60 đồng/tháng (6 cây vàng). Riêng trường Y, phải học 7 năm, ra bác sĩ, lương 100 đồng/tháng.
Chú thích
– Thời Lý, kỳ thi cao nhất gọi là “Minh kinh bác học”, người trúng tuyển được gọi là “Minh kinh bác sĩ”. Vị bác sĩ khai khoa của nhà Lý là Lê Văn Thịnh – sau này mọi người cứ gọi ông là “trạng nguyên Lê Văn Thịnh” cho dễ hiểu (đỡ phải giải thích dài dòng). 
– Thời Trần, người có bằng cao nhất được gọi là Thái Học Sinh.
– Thời Lê, duy nhất có một kỳ thi Minh Kinh bác học, người dự thi phải là các quan tứ phẩm (xếp bậc thứ 4 – trong thang xếp hạng gồm 9 bậc). Sau đó, các kỳ thi cao nhất thời Lê gọi là thi Đình, học vị chung là tiến sĩ (chia 3 hạng); khi bổ nhiệm được xếp vào bậc 7 hoặc 6 (vẫn thang 9 bậc). Rất ít người cuối đời leo được tới bậc 1 hoặc 2.
Khoảng cách 1919 – 1935 (=16 năm) có quá dài?
Đó là thời gian để chuyển đổi việc đào tạo tiến sĩ “cựu học” sang tiến sĩ “tân học”. Nếu bị coi là quá dài, trường Y sẽ khó được coi là ngôi trường kế tục sự nghiệp đào tạo tiến sĩ của Quốc Tử Giám. Không đâu! Triều Lý dài 125 năm chỉ mở 6 khoa thi tuyển Minh Kinh Bác Sĩ (trung bình cách nhau trên 20 năm). Hết Lý sang Trần. Khoa thi cuối thời Lý cách khoa thi đầu thời Trần tới 35 năm, tức là cả một thế hệ “đèn sách” bị lỡ dịp. Mà vẫn chỉ là các kỳ thi Nho Học. Vậy, 16 năm để chuyển đổi về chất, cả một nền học – “cựu” thành “tân” – đâu phải quá dài…
Học Sinh Y Sĩ 1910
Học Sinh Y Sĩ 1910
Lễ Xướng Danh kỳ thi Hương cuối cùng (1897) ở trường thi Nam Định - có mặt quan Toàn Quyền (năm đó cả nước có 6 trường thi)
Lễ Xướng Danh kỳ thi Hương cuối cùng (1897) ở trường thi Nam Định – có mặt quan Toàn Quyền (năm đó cả nước có 6 trường thi)
Khóa học sinh đầu tiên của trường Y Khoa Đông Dương  (học sinh đeo thẻ ngà ở ngực như các vị quan nam Triều)
Khóa học sinh đầu tiên của trường Y Khoa Đông Dương (học sinh đeo thẻ ngà ở ngực như các vị quan nam Triều)

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Độc đáo và độc đoán có gì giống nhau, khác nhau?

Tham gia diễn đàn về khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”, GS Nguyễn Ngọc Lanh đặt vấn đề: Ta nên hoà nhập thế giới hay cứ “độc đáo Việt Nam? Độc đáo và độc đoán có gì giống nhau, khác nhau? :
Người xưa hiểu rất đúng và làm đúng “lễ”


Các cụ tổ chúng ta đã học và thực hành nghiêm chỉnh chữ “lễ” ghi trong kinh Lễ của đạo Nho (bốn kinh khác là: Thi, Thư, Dịch và Xuân Thu).
Thoạt tiên, Lễ nói về cách ứng xử với quỷ thần (thần linh), mà nguyên tắc là:
- Kính cẩn (phân biệt với kính phục, kính trọng…);
- Đứng xa ra (sợ sệt).
Về sau, Lễ được mở rộng, gồm phép ứng xử với người trên (vua, thầy và cha - với nguyên tắc: Kính cẩn và Tuân phục - cũng ở mức tuyệt đối) và với người ngang hàng (Anh em, Vợ chồng, Bè bạn - với nguyên tắc: Trọng, Thuỷ chung và Nhường). Sách không những nêu quy tắc mà còn nêu những quy định rất cụ thể khi giao tiếp. Ví dụ, không được nhìn vào mặt vua (long nhan), khi chầu vua phải quỳ lạy 3 lần (trán phải chạm sàn: gọi là dập đầu). Ngay cách chào bạn đến chơi nhà cũng được quy định: hai tay chắp lại, vái dài và gập lưng, cúi rất thấp… Một quy tắc của “lễ” là trai gái không được thân nhau.
Cụ Nguyễn Đình Chiểu (chưa xa ta lắm) vẫn hiểu và làm đúng “lễ”. Khi Kiều Nguyệt Nga định bước ra khỏi cái kiệu (che kín tứ bề) để tạ ơn Lục Vân Tiên cứu nàng thoát bọn cướp, cụ tả rằng cô tiểu thư này liền bị vị tráng sĩ kia xua tay lia lịa, nói:
Khoan Khoan! Ngồi đó! Chớ ra!
Nàng là phận gái, ta là phận trai…
Tóm lại, trong “lễ” không có chuyện… thảo luận, tranh cãi, phản biện. Chân lý là từ “người trên” phát ra, cấm cãi. Muốn “nên thân người”, trước hết là tuân phục. Khi cha mẹ bảo gì, con cái chỉ có “vâng”.
Xin trích vài câu trong các bài học thuộc lòng (sách giáo khoa thời trước). Xin nhớ là “học thuộc lòng” nhé (!):
Bảo vâng, gọi dạ, con ơi!
Vâng lời sau trước, con thời chớ quên
Công cha, nghĩa mẹ khôn đền
Vào thưa, ra gửi, mới nên thân người Con ơi! Muốn nên thân người
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha… Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư
Xin nhớ: Cha còn đứng sau Thầy và vua (thứ tự: Quân – Sư - Phụ). Một kiểu lập luận: Tội
“bất trung” là tội chết. Lại có câu: Vua bảo bề tôi chết, nếu không chịu chết đi, là bất trung. Nghĩa là vẫn cứ chết. Tuân phục đến mức ấy mới được coi là giữ đúng “lễ”.Cắt nghĩa chữ “lễ” thời nay: Rất bí bét, kể cả tuỳ tiện xuyên tạc
Nếu nay cứ giữ đúng “lễ”, thì… khi thấy chủ tịch nước xuất hiện trên lễ đài, hàng trăm (có khi ngàn) người phải quỳ lạy 3 lần (!). Hài thật. Chẳng “lễ” thì đừng!
Tất nhiên, khái niệm “lễ” thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên không ai được phép làm nó thay đổi đến đảo ngược khái niệm gốc. Sử dụng một khái niệm có sẵn, phải tôn trọng nội dung gốc của nó. Lương thiện mà!
Vậy thì, một trong những nội dung gốc của “lễ” là tuyệt đối tuân phục người trên.  
Do vậy, ngày nay học sinh không cần quá lễ phép (quỵ luỵ) trước thầy, nhưng nếu ta cho phép (hoặc khuyến khích) họ “trao đổi lại”, “thảo luận lại”, thậm chí “tranh luận lại” với thầy, là ta đã vô tình vứt béng cái gốc của “lễ” rồi vậy.
Đến đây, có lẽ chúng ta phải chọn một trong hai: giữ lại hay sổ toẹt cái gốc của “lễ”.
Vâng! Học “lễ”! Nhưng đó là học cái gì? 
“Tiên học lễ” là câu răn dạy học sinh. Mà đây là những học sinh cấp 1 và 2. Vậy cần nói với các cháu cho cụ thể: Học “lễ” là học cái gì.
Các cháu 7-14 tuổi xin “đủ” với những lý lẽ cao siêu, phát ngôn trên những diễn đàn trịnh trọng, nhằm đưa ra lập trường cách mạng để đi đến kết luận gang thép (và… chung chung): Các cháu cứ phải học “lễ”, mà phải học… trước!
Từ ba chục năm nay, số người được răn dạy: cần “học lễ trước” đã chiếm gần nửa dân số. Vậy mà năm 2012 vẫn chưa có văn bản nào chính thức cho các cháu 7 tuổi biết nội dung “lễ”. Chỉ có vô số phát biếu của cá nhân. Ơ hay! Thế thì các cháu phải nghe ai?   Cả nước, cả phe ta (và có lẽ cả thế giới) sẽ khâm phục, biết ơn, nếu ai soạn cho bộ GD - ĐT một văn bản chính thức: Nội dung cụ thể của môn học mới: “Lễ”. Các cháu phải học, phải thi. Tất nhiên, phải có chương trình, phải có sách, có giờ giảng, có thầy… Và thi xong, phải đảm bảo là từ nay họ có “lễ”.   Tuỳ tiện tới mức khiên cưỡng, kể cả bóp méo khái niệm Với cụm từ “tiên học lễ”, Google cho ra không dưới 1,5 triệu kết quả, trong đó có vô số người giải thích chữ “lễ” thời nay.
- Có vị viết ngay ở những dòng đầu: Học “lễ” là học cách ứng xử sao cho đúng với cái “lễ nghĩa” ở đời.
Ấy! Tôi xin. Lễ và Nghĩa là hai khái niệm khác nhau. Chúng ta có thể nói gộp hai khái niệm cho tiện (Nhân-Nghĩa, Cần-Kiệm, Lễ-Nghĩa), nhưng khi cắt nghĩa riêng chữ “Lễ” thì chớ lôi cả “Nghĩa” vào. Khổng Tử phân biệt rất rõ khi nêu 5 đức tính của người quân tử: Nhân – Nghĩa - Lễ - Trí – Tín (có vị gọi (sai) là luân thường).
- Có vị cứ sưng sưng coi Lễ là đạo đức.
Ấy! Tôi can. Đây cũng là hai khái niệm khác nhau. Một người chào hỏi rất đúng “lễ”, nhưng không vì thế mà bảo anh ta là nhà đạo đức. Nhầm lẫn kiểu này sẽ đưa đến suy luận sai về khái niệm “Văn”.
- …
- Xa nhất, khi có vị dám suy chữ “lễ” là Hồng (lập trường cách mạng vô sản), còn “văn” là Chuyên (!).
Ấy! Tôi van. Một bên là lễ giáo (phong kiến) bên kia là lập trường (vô sản). Phong kiến khác XHCN; cụ Khổng khác cụ Mác. Suy luận kiểu này chẳng thà nêu khẩu hiệu: Học HỒNG trước, học CHUYÊN sau.
Đạo đức Nho giáo
Đây không phải chỗ để bàn về lý thuyết đạo Nho. Còn về đạo đức, có nhiều nội dung đến nay vẫn có thể kế thừa, sau khi chắt lọc. Những từ như Nhân, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu, Liêm, Kiệm, Cần… vẫn có ý nghĩa tốt đẹp. Và khi nói ra, không cần cắt nghĩa nhiều, vì nghĩa gốc của chúng vẫn được bảo tồn.
Chỉ có Lễ là mơ hồ, rắc rối, mỗi khi cần đi vào cụ thể. Nhất là nói với trẻ em.Nếu bỏ “lễ” thì học gì?
UNESCO đã khuyến nghị từ lâu: Học chung sống, học cách chung sống.
Học sinh cần học các kỹ năng chung sống. Khi còn nhỏ thì biết cách chung sống với anh chị em, cha mẹ, ông bà. Rồi đi học thì chung sống với thầy và bạn… Ra đời, chung sống với xã hội. Muốn hoà nhập, phải học kỹ năng chung sống với với thế giới, với người khác ý thức hệ, khác chế độ, khác tôn giáo…   

Ta nên hoà nhập thế giới hay cứ “độc đáo Việt Nam? Độc đáo và độc đoán có gì giống nhau, khác nhau?
  • GS Nguyễn Ngọc Lanh

Trăm năm dạy ứng xử nghề nghiệp ở đại học Y Hà Nội



Hình ảnh của Trường Đại học Y Dược Hà Nội thuở mới được thành lập, năm 1930 tại 19 Lê Thánh Tông, Hoàn Kiếm
Trên 100 năm tồn tại, trường Y Đông Dương - nay là đại học Y Hà Nội - có hai cách dạy ứng xử nghề nghiệp cho sinh viên, xuất phát từ hai quan điểm khác nhau.
      1- Quan điểm coi nghề y là một nghề nhân đạo trong mọi xã hội. Đó là trị bệnh cứu người, không phân biệt giàu - nghèo, sang – hèn… 
      2- Quan điểm coi nghề y phục vụ đường lối. Trước kia, thầy thuốc phục vụ vua quan, tư bản, nay hoj phục vụ nhân dân, chủ yếu là công-nông-binh.
 

Phần 1. Về quan điểm nhân đạo của y học

Liệu nghề y có là nghề cổ nhất, do vậy mà sớm nhất có lời thề?
Con người xuất hiện cùng bệnh tật. Từ trước đó, Thượng Đế vạn năng đã hoá thân thành thầy thuốc để cắt xương sườn Adam, đặng tạo thành Eva. Có 2 con người, lập tức có trao đổi. Xã hội tự cấp sẽ tiến tới trao đổi hàng hoá, xuất hiện thị trường. Thời đồ đá, đã có tiền bằng vỏ sò.
Lời thề Hippocrate, trải 2500 năm đến nay đã thay đổi hoàn toàn cho hợp với cơ chế thị trường. Ví dụ, lời thề đọc ở trường Y Đông Dương có câu: Tôi thề chỉ lấy thù lao bằng đúng công sức tôi đã bỏ ra. Nó thể hiện quan hệ công bằng - đặc trưng của một thị trường lành mạnh. Dù thay đổi đến đâu, chung quy lời thề thầy thuốc vẫn là lời thề nghề nghiệp, tuân theo 2 nguyên tắc: a) chỉ gồm những hành vi nghề nghiệp mà thầy thuốc buộc phải làm hoặc buộc phải tránh; b) nó chỉ viện dẫn các bậc tổ nghề mà không viện dẫn các vĩ nhân ngoài nghề. Phần dưới sẽ nói rằng “lời thề” gần đây nhất của trường này không đáng được gọi là lời thề nghề nghiệp vì vi phạm hai nguyên tắc trên.

Trường Y Đông Dương

Năm 1902 người Pháp mở trường Y cho cả xứ Đông Dương, nhưng đặt ở Hà Nội - mà không phải Sài Gòn như dự kiến – vì một mục đích là dùng văn hoá khoa học Âu Tây xoá dần ảnh hưởng của Nho Học đã bén rễ sâu nhất trong xã hội Bắc Kỳ  (đề xuất của Tiểu ban tư vấn do tiến sĩ Henaff đứng đầu)
- Tại sao mở trường Y mà không phải trường khác? Vì học xong, sẽ có việc ngay và sẽ gần dân – liên quan tới mục đích nói trên. Xưa nay, dù nghề gì thì mục đích số 1 vẫn là kiếm sống, qua đó mà  phục vụ xã hội. Nhưng người Pháp nhận ra, nghề y ở xứ nông nghiệp dễ được người dân tìm đến nhất. Vẫn biết, người bệnh phải trả công, nhưng trong lời thề khi ra trường, có hai nội dung đáng chú ý:
1) Ưu tiên bệnh nặng mà không ưu tiên địa vị xã hội… và:
2) Chữa miễn phí cho người nghèo. Do vậy, thầy thuốc khó mà xa dân. Đã vậy, Quy Chế còn nhắc: khi ra trường “phải làm việc ba năm ở miền núi”.  
 

Vì sao nghề y (và một số nghề khác) phải có lời thề nghề nghiệp?

- Một số nghề dễ chiếm được lòng tin mà người hành nghề có thể lợi dụng để mưu lợi bất chính. Người bệnh tin thầy thuốc tới mức phó thác cả sức khoẻ, sinh mệnh và sẵn sàng phô bày cả thân thể, tâm trạng. Khốn nỗi, pháp luật cho tới nay vẫn chưa đủ trình độ phát hiện những sai phạm do lợi dụng lòng tin của một số nghề. Sự thiếu sót này được khắc phục - nhiều hay ít - bằng lời thề nghề nghiệp. Trong khi đó, nghề kinh doanh không cần thề “không cân điêu”.. vì pháp luật và người tiêu dùng có cách phát hiện s gian trá đó.
- Do vậy, lời thề sẽ giảm hoặc mất tác dụng nếu niềm tin trong xã hội suy giảm.
- Vài nghề khác cũng có lời thề: Nghề xử án, nghề quân nhân. 
Thực tế dạy ứng xử nghề nghiệp trước 1945
Đó là thứ đạo đức phi giai cấp, phi ý thức hệ, với tính nhân đạo chung chung, sau này rất bị phê phán khi chỉnh huấn. Trường Y xưa có nhiều cách dạy theo quan điểm này.
- Đọc Lời Thề
Quan trọng, nhưng chỉ là một tiết mục trong buổi lễ phát bằng ngắn ngủi. Lời thề đã khác xa nguyên bản thời Hippocrate vì đã cách nhau gần 2500 năm.
Sau 1945, trường Y Hà Nội bỏ thủ tục “thề bồi”. Do vậy, đến nay những người vừa rưng rưng lệ, vừa bàn tay trái đặt lên ngực, còn cánh tay phải giơ lên tuyên thệ… không ai còn sống nữa, nhưng một số điều trong lời thề có lẽ vẫn được dân Việt hôm nay tha thiết mong thành hiện thực.
 Ví dụ: Tôi xin thề chỉ lấy thù lao bằng đúng công sức mà tôi đã bỏ ra. Nó giúp duy trì lương tâm nghề nghiệp. Nội dung khác: Tôi chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Nó hạn chế cái quan hệ lạnh lùng “tiền trao, cháo múc. Và nữa: Tôi nguyện đem mọi năng lực và phương tiện trong tay làm những đều có ích nhất cho bệnh nhân. Nó thể hiện trách nhiệm đặc trưng của nghề…
Không phải vị thầy thuốc tân khoa nào cũng nhớ suốt đời những nội dung quan trọng nhất của lời thề. Cụ Vũ Công Hoè ra trường 1936 nhưng gần nửa thế kỷ sau được hỏi lại, thì… “chỉ còn nhớ láng máng”. Có thể do cụ Hoè cả đời không trực tiếp chữa bệnh, mà chỉ cặm cụi nghiên cứu trên các tử thi. Tuy nhiên, cụ lại rất nhớ thầy Lucas Championnière đã giảng rất hay về cách ứng xử hợp đạo đức. Vị thầy này cứ đặt ra những tình huống éo le và hỏi học trò: Nếu gặp trường hợp như vậy, các anh sẽ ứng xử thế nào… Sinh viên phải vận dụng lý thuyết đã học (môn Quy Chế Hành Nghề) để trả lời. Hoá ra, cách dạy case study hiện nay chưa phải sáng tạo gì ghê gớm.
Như vậy, ngoài đọc lời thề (tới tận cuối khoá học mới có dịp thực hiện) thì vấn đề là hàng ngày sinh viên đã học gì và các thầy đã nêu gương thường nhật ra sao...  
 

- Điều nay dễ hiểu lầm

Trường không có môn lý thuyết “Đạo Đức”, kể cả “Đạo Đức Y Học”. Đạo đức nghề nghiệp chỉ thể hiện ở cách ứng xử, mà không ở chỗ thuộc làu làu lý thuyết. Không có vị đạo cao đức trọng nào dùng cách nói thao thao: “anh phải thế này”, “anh nên thế khác”… mà sinh viên trở thành nhà đạo đức. Tuy nhiên, có một môn được dạy: môn Quy Chế Hành Nghề (Deontology), vừa lý thuyết, vừa thực hành. Các cựu sinh viên cho biết: Chỉ các GS kỳ cựu nhất mới được cử ra “kiêm” dạy môn này, ví dụ GS  Sollier (chuyên khoa Tai-Mũi-Họng); nhưng GS Vũ Công Hoè lại nói, từng học môn này từ vị thầy khá trẻ: Lucas Championnière. Đó là môn dạy hành xử sao cho phù hợp quy chế, pháp luật và đạo đức thầy thuốc.    
  

- Những “người muôn năm cũ”.

Trường Y Đông Dương mở trước khi có bậc trung học, thí sinh trẻ nhất được tuyển mới có 15 tuổi (ví dụ, Phạm Đình Minh, sinh 1887, ở số 100 phố Hàng Gai, hoặc Trần Đình Huy, sinh cùng năm, số 41 Hàng Bạc) chưa có đủ kiến thức cơ bản cần thiết. Họ phải bổ túc Toán, Hoá, Sinh, Pháp văn… Ra trường, với danh hiệu “y sĩ Đông Dương”, hưởng lương như cao đẳng, phụ trách y tế cả một tỉnh và dứt khoát phải làm việc 3 năm ở miền núi (Trần Đình Đệ lên Hoà Bình; Đỗ Xuân Hợp lên Yên Bái, Martin lên Phú Thọ…). Phải 30 năm sau mới có đủ tú tài để trường này chuyển sang đào tạo bác sĩ.
Thập niên 50 của thế kỷ trước, y sỹ Đông Dương của những khoá muộn nhất (ra trường từ 1922 tới 1930), chỉ còn sót lại 41 vị. Thời xa lắc đó, trong lễ tốt nghiệp nhiều vị còn mặc quốc phục (áo dài, khăn xếp) dáng dấp như những cụ lang.
 Điển hình là các cụ Vũ Đình Tụng (bộ trưởng Thương Binh), Nguyễn Kính Chi (thứ trưởng Y Tế), Trần Văn Lai (Đốc Lý Hà Nội), Nguyễn Đức Khởi (giám đốc Y tế Hà Nội), Hoàng Sử (thầy thuốc hoàng gia, sau là chủ nhiệm Bộ Môn X-quang), Đỗ Xuân Hợp (chủ nhiệm bộ môn Giải Phẫu)… Sinh viên Lê Văn Khải khi thực tập ở tỉnh Hoà Bình, đã mô tả cụ Trần Đình Đệ có phong cách như nhân vật Lỗ Túc (thời Tam Quốc).
Ngạc nhiên là năm 1955 khi một số vị y sỹ Đông Dương về trường dự sát hạch để được công nhận bác sĩ, họ vẫn có những nét chung rất dễ nhận ra, cứ như đúc từ cùng một cái “khuôn đạo đức” vậy. Đó là tác phong đĩnh đạc; tính cách đôn hậu, nói năng khúc chiết, ôn tồn…

- Tấm gương từ những ông thầy

Các thầy Pháp sang Việt Nam đều hoàn toàn tự nguyện, vì:
    1) vẫn hưởng lương “chính quốc”, lại thêm phụ cấp 100%; và do vậy lương họ cao gấp 4 hay 6 lần lương một bác sĩ Việt Nam (ăn lương “thuộc địa”).   
    2) bệnh tật nhiệt đới phong phú, rất sẵn đề tài để nghiên cứu.
Dễ hiểu, họ không cần khám tư, không ham làm quan, mà chỉ hăm hở nghiên cứu. Về sau, nước Pháp đặt thêm tấm bằng “trên tiến sĩ” (ta dịch là “thạc sĩ y khoa”) thì rất nhiều thầy trường này đã kịp có đủ công trình đáp ứng. Tất nhiên, điều này có lợi cho cá nhân (công danh, sự nghiệp). Nhưng việc áp dụng thành tựu nghiên cứu của họ vào thực tiễn thì dân ta hưởng tất. Không thầy nào tỏ ra kỳ thị chủng tộc, khi thấy sinh viên tôn trọng và biết ơn mình, xuất phát từ một truyền thống lâu đời chứ không phải chỉ do xã giao. Có những thầy lấy vợ Việt Nam, như Le Roy des Barres, dạy từ 1902, sau này là ân nhân của BS Hồ Đắc Di. Có lẽ công ơn lớn nhất của họ là đào tạo ra thế hệ danh nhân y học hiện đại cho Việt Nam: Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Văn Chung… Đi trên phố Tôn Thất Tùng, mấy ai nhớ tới các thầy của vị danh nhân này?
 Giáo dục Đông Dương trước 1945 đương nhiên theo mô hình Pháp. Học 3 năm đại học sẽ thành cứ nhân. Học 6 năm, có bảo vệ luận án, được cấp bằng tiến sĩ (ngành y gọi là bác sĩ). Bác sĩ Đặng Văn Ngữ lĩnh 100 đ/tháng, trong khi cử nhân Đào Văn Tiến lĩnh 60 đồng (tương đương 10 và 6 lạng vàng). Các thầy Pháp đều phải có bằng tiến sĩ – bác sĩ - do đại học Y Paris cấp. Năm 1902, trường có 6 tiến sĩ dạy cho 15 sinh viên. Tỷ lệ thầy - trò này đến nay vẫn là quá lý tưởng.  
Những sự thật nói trên có thời được sinh viên trường Y Hà Nội “vận dụng” trong những đợt chỉnh huấn, để lên án các ông thầy người Pháp là “bọn” bóc lột (lương cao quá), vô chính trị (coi “chuyên” hơn “hồng”) và cá nhân chủ nghĩa (chỉ ham bằng cấp)…

- Vài cá tính của các GS Pháp thập niên 30 được sinh viên nhớ lâu

    Lucas Championnière có ông nội sáng lập một tạp chí y khoa, có cha là viện sỹ, bản thân ông tự nguyện sang Đông Dương để đào tạo, mà không vì thu nhập. Do vậy, rất được sinh viên yêu kính về phẩm chất và khâm phục về chuyên môn. Ông dạy Ngoại Khoa, và dạy cả môn Quy Chế Hành Nghề. Ông mất ở Việt Nam vì một bệnh nhiệt đới, được sinh viên thương xót tiễn đưa về tận Hải Phòng (thi hài đưa về Pháp). GS Hoè coi ông này là Yersin thứ hai của trường.
    Henri Coppin rất giỏi về các bệnh lây, nhưng cũng mất sớm vì lây bệnh.
    Naudin thương cả sinh viên lẫn bệnh nhân. Hồi đó, đồng bào ta đói ăn, rét mặc (tuy không có bệnh) nhưng vẫn được sinh viên cho nhập viện để được ăn mỗi ngày 2 bữa cơm đạm bạc, nhưng miễn phí. Khi thầy khám, không phát hiện bệnh gì, sinh viên đành thú thật: cho vào viện để… cứu đói. Thầy liền đọc to câu danh ngôn y học: Kết luận một con người hoàn toàn không có bệnh là điều khó nhất của y học (ý nói, ai cũng có bệnh). Các anh theo dõi, khám cho kỹ, thế nào cũng tìm ra một tên bệnh để ghi vào bệnh án cho “hợp lệ”.
    Sollier rất hay gắt với sinh viên và bệnh nhân, kể cả khi vợ ông tới khám. Ông ghét tác phong luộm thuộm của sinh viên và ý thức phòng bệnh kém của người bệnh. Tuy nhiên, với sự trong sáng và tính tình thẳng “ruột ngựa” ông vẫn được cử dạy môn Quy Tắc Hành Nghề. Gia đình ông gồm bà vợ và 5 cô con gái nổi tiếng là ngoan đạo, rất chăm đi lễ nhà thờ.
    Polidori dạy môn Nhi Khoa. Khi khám bệnh ông không bắt bà mẹ ra ngoài (vì đứa trẻ khóc rất dữ trước “ông Tây) mà cứ để bà ta bế con, dù điều này trái quy chế. Ông khám bệnh rất tỉ mỉ và phát hiện nhiều triệu trứng ẩn giấu khiến những sinh viên khám trước phát hoảng…

Phần 2. Dạy quan điểm, đường lối trong ứng xử nghề nghiệp


Ban đầu, vẫn theo nếp cũ
Trong 13 giáo sư đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà - công bố tháng 1 và tháng 10-1955 - có 11 vị thuộc ngành Y (1 ở ngành Dược và 1 ở ngành Toán). Điều này không khó hiểu, nếu biết rằng năm 1935 trường này đã làm lễ tốt nghiệp cho khoá tiến sĩ đầu tiên, trong khi các trường khác chỉ đào tạo cử nhân. Các vị này cùng tất cả các vị lão thành khác của ngành Y (tốt nghiệp trước 1945) đều hấp thu đạo đức y học “phi giai cấp” dưới thời thuộc Pháp. Khi theo cụ Hồ đi kháng chiến (1946), họ hành xử nghề nghiệp và đào tạo sinh viên cũng theo tinh thần ấy, kết hợp thêm tinh thần yêu nước. Trong kháng chiến chống Pháp, sinh viên y năm thứ 3, 4 và 5 đã mặc áo lính, phụ trách quân y cấp tiểu đoàn, trung đoàn và đại đoàn. Mỗi năm họ chỉ được về trường ít tháng để học, do vậy họ rất biết cần học gì. Ứng xử nghề nghiệp không thể dạy thành bài riêng, mà được lồng vào các bài giảng chuyên môn kèm những ví dụ thực tế - trong đó bản thân các thầy và các vị đàn anh là những tấm gương sống động.  
1952: Bắt đầu giáo dục quan điểm Công-Nông
 Mục đích, để sinh viên y khoa thấy rõ, từ nay người chủ đất nước là Công, Nông. Trường này là của công nông, dành cho công nông. Đó là nơi Công Nông được “trí-thức-hoá”, đặng lãnh đạo cách mạng. Thành phần tuyển sinh sẽ thay đổi cơ bản. Còn trí thức, trước đây phục vụ giai cấp thống trị, nay vẫn được đảng sử dụng. Họ phải tự thấy vinh dự được phục vụ công nông và qua đó mà tự cải tạo lập trường, quan điểm.  Với mục đích này, từ nay các thầy chuyên môn mất hẳn vai trò dạy ứng xử nghề nghiệp, nhường vị trí này cho các thầy dạy Chính Trị.
- Quan điểm mới được quán triệt từ năm 1953, khi trường tham gia cải cách ruộng đất - trước đó là một đợt chỉnh huấn, chuẩn bị tư tưởng. Mỗi người, cả thầy lẫn trò, đều tự kiểm điểm và nêu quyết tâm gột bỏ mọi tư tưởng sai trái. Lớp trẻ nhiệt huyết với lý tưởng Cộng Sản đã tự đề ra quyết tâm: Trí thức phải “công-nông hoá” triệt để. - Tiếp đó, là liên tục các đợt chỉnh huấn khác: dịp tiếp quản Hà Nội (để đề phòng tiêm nhiễm tư tưởng tư sản), dịp đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm (chống tự do kiểu tư sản), hoặc dịp xác định trường đại học Y là một pháo đài XHCN… - Dẫu vậy, ngày 27-2-1955 cụ Hồ gửi thư cho ngành y tế (lạ một điều), Cụ không nhắc tý gì tới quan điểm giai cấp, mà chỉ nhấn 2 điều: Đoàn kết hơn nữa; và phải “biết đau cái nỗi đau của người bệnh”. Khẩu hiệu Cụ nêu: Thầy thuốc giỏi phải như mẹ hiền. Như vậy, hai vế mà một bậc danh y Trung quốc đề ra (nói về Tài và Đức thầy thuốc: Lương y như luơng tướng Lương y như từ mẫu) cụ Hồ chỉ dùng vế thứ hai. May thay, chính nhờ vậy, sinh viên y (thuộc giai cấp tiểu tư sản) tuy một mặt phải phấn đấu về quan điểm, lập trường để được coi là con em Công Nông, nhưng mặt khác vẫn được phép tu dưỡng y đức để trở thành mẹ hiền của bệnh nhân, trước hết là bệnh nhân công-nông.  
Tăng cường học Chính Trị 
- Lập trường vững vàng sẽ đương nhiên sinh ra cách ứng xử phù hợp với bệnh nhân – đa số là công-nông.    Chương trình mới (năm 1958) đã dành tới 1/6 thời gian để sinh viên rèn Chính Trị. Trên thực tế, cách gì cũng không thực hiện nổi cái chương trình đó - kể cả mỗi năm dành ra 1- 2 tháng đưa sinh viên về nông thôn và vùng mỏ để “học tập công nông”. Trong khi đó, các môn y học bị cắt giàm tối đa. Kế hoạch đào tạo bác sĩ chỉ cần 4 năm mới thực hiện một năm đã phá sản. Rốt cuộc, từ 1962 lại quay về quy định của bộ Đại Học: môn Chính Trị được sử dụng 12% thời gian khoá học 6 năm. - Thi tốt nghiệp: Từ 1959, sinh viên không cần luận án tốt nghiệp, mà thi 2 môn: Chuyên môn và Chính Trị (hồng), trong đó “hồng” quan trọng hơn “chuyên”.   
Phương châm y tế
Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đề ra 5 phương châm y tế, được quán triệt rất kỹ trong toàn ngành. Câu chữ theo thời gian có thể thay đổi, nhưng nội dung cơ bản vẫn vậy (y tế phục vụ công-nông-binh, phục vụ sản xuất và chiến đấu; đi đường lối quần chúng; phòng bệnh hơn chữa bệnh; kết hợp Đông-Tây y…). Trường Y Hà Nội vận dụng bằng cách: lập ra bộ môn Đông Y, tăng thêm giờ cho môn Vệ Sinh, hàng năm cho sinh viên đi lao động ở nông thôn kết hợp tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh…  
Sơ kết. Dù quan điểm có được nâng cao, nhưng việc vận dụng chúng vào cách ứng xử cụ thể khi hành nghề… lại hoàn toàn không dễ dàng. Các thầy chính trị không bao giờ đi theo sinh viên tới bệnh viện để hướng dẫn cách ứng xử “đúng” (ngay c với bệnh nhân là Công-Nông) và uốn nắn những ứng xử “sai”.
Điều may mắn là cái khẩu hiệu phi giai cấp Thầy thuốc như mẹ hiền vẫn còn được đề cao, các thầy chuyên môn đã dựa vào đó để dạy sinh viên về thái độ ứng xử nhân đạo với mọi người bệnh (bệnh nhân có địa vị cao trong xã hội mới có bệnh viện riêng, sinh viên không bao giờ tới đó thực tập).
Cũng chính nhờ cái khẩu hiệu phi giai cấp đó mà về sau Bộ Y Tế dựa vào để có thể ban hành bản Quy Định ứng xử cho nhân viên y tế toàn ngành. Đó là các tiêu chuẩn để nhân viên y tế trở thành “mẹ hiền”, bất kể trước mặt mình người bệnh bao nhiêu tuổi.
 
Quả thật, Đổi Mới là quá trình gian khổ
- Cuốn sơ thảo Lịch Sử 70 năm của trường, do các thầy bộ môn Mác-Lê viết ra (1972) đã thoá mạ “không tiếc lời” quá khứ 43 năm dưới thời thuộc Pháp. Nhưng khi kỷ niệm 80 năm thành lập, thì cái “quá khứ đẹp” này bắt đầu được thừa nhận. Tới khi kỷ niệm 90 năm, tổng bí thư tới dự lễ phát huân chương Độc Lập.   - Từ thập niên 80, dưới sức ép của các thầy lão thành, trường dạy lại Đạo Đức Hành Nghề. Tuy vậy, các bậc lão thành chưa được đứng trên bục, mà vị trí này vẫn dành cho các thầy Chính Trị. Họ viết ra giáo trình Đạo Đức Học, theo đúng quan điểm Mác-Lênin, tuy rất hay, nhưng cũng rất khó vận dụng vào ứng xử nghề nghiệp. Gần hai chục năm, sinh viên đã học và thi theo giáo trình này. - Lời Thề tốt nghiệp cũng được phục hồi, nhưng chưa thể gọi đó là lời thể nghề nghiệp (ví dụ, thề trung thành với CNXH; thậm chí “thề” giữ gìn kỷ luật)… - Năm 1992 đề thi Chính Trị của sinh viên năm cuối vẫn hỏi về lý tưởng và chức năng “người thầy thuốc XHCN”. Nếu trả lời là “để kiếm sống”, qua đó phục vụ xã hội, thì chưa đạt. Phải trả lời là “cống hiến quên mình” mới được điểm cao. Trường chưa điều tra coi thử bao nhiêu % bác sĩ năm đó thực hiện được bao nhiêu % những điều mà chính họ viết ra trong bài thi.  
Hãy thôi thuyết trình đạo đức. Mà dạy thái độ để tạo kỹ năng ứng xử.
Phương pháp sư phạm hiện đại cho thấy, trong giáo dục có 3 (và chỉ cần 3) mục tiêu: Kiến thức, Thực hành và Thái Độ.   Phương pháp này vận dụng vào y học không những cho phép “tích cực hoá người học”, mà dạy mục tiêu Thái Độ chính là nhằm giúp người học ứng xử đúng khi giao tiếp với đối tượng nghề nghiệp (bệnh nhân, người nhà họ, đồng nghiệp và dân cư trong cộng đồng). Nói khác, điều cần đạt là sự hình thành kỹ năng giao tiếp cho người học. Ví dụ, họ phải có kỹ năng giải thích, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng an ủi…v.v. Tóm lại, đó là dạy kỹ năng chung sống nói chung và phải dạy ngay từ bậc tiểu học. Lên bậc đại học, chính là môn học dạy ứng xử nghề nghiệp. Hoá ra, từ thời thuộc Pháp trường Y đã có môn này. Nhớ rằng 4 trụ cột vững chắc của ngôi nhà Giáo Dục (được UNESCO đề ra cho thế kỷ XXI) là: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tồn tại.        Người viết: Nguyễn Ngọc Lanh, nguyên GS đại học Y Hà Nội; NGND 

Nói về trí thức, tại sao cứ phải thêm “đích thực”?


Vietsciences- Nguyễn Ngọc Lanh             09/07/2010




Cái tựa đề vừa khẳng định vừa bao quát

Thói háo danh dù đã bị nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc đưa lên mức “quốc nạn” có lẽ vẫn chưa đủ, khiến nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn phải viết liên tiếp 3 bài để khẩn báo: không những háo danh mà còn vĩ cuồng.
Cái tựa đề của bài đầu tiên - Thói háo danh và vĩ cuồng của trí thức - vừa khẳng định (hễ là trí thức thì sở hữu 2 “thói”), lại vừa bao quát (không trừ ai) nói lên nỗi bức xúc của tác giả trước một vấn nạn có thật. May, khi đọc hết bài mới thấy tác giả chỉ nói về giới trí thức Việt Nam; và nói theo nghĩa thông dụng (ai có chút học vị đã là trí thức). Và rốt lại, tác giả chỉ muốn báo động rằng “thói háo danh đang thịnh hành ở một bộ phận không nhỏ thuộc giới này”. May hơn nữa, càng những bài sau, mức độ gay gắt càng giảm.

Khoe chức, trưng danh là phổ biến ở thời phong kiến

Thói háo danh đang phát triển tới mức kệch cỡm trong trí thức. Mà đây là lớp trí thức mới, vì nước ta đã nước XHCN từ nhiều thập kỷ nay. Dẫu vậy, trong bài tác giả vẫn dẫn ra những sự kiện xảy ra từ thời phong kiến. Điều này có lý, vì từ lâu trí thức ta đã bị nhận xét là có dáng dấp một ông quan văn – nghĩa là háo danh và “phò chính thống”. Vậy môi trường nào đã tạo ra và nuôi dưỡng cái dáng dấp quan văn này của của giới trí thức mới?
Tuy nhiên, thời nay dù háo danh kệch cỡm đến đâu cũng chưa bằng thời xưa. Chưa cần lớn lên để đọc sách của Ngô Tất Tố, chính tôi hồi nhỏ đã chứng kiến những trường hợp (cưới hỏi, ma chay, đình đám...) hai bên đối thoại cứ ra sức tâng bốc nhau về chức và danh của nhau. Khi gọi “bác Vĩnh”, tôi đã bị một cụ nhắc nhở để gọi cho đúng là “bác Cả Vĩnh”. Sau này, tôi cứ tự hỏi sao hồi ấy các cụ không thấy mình lố bịch?
Có lẽ tới 1/3 đàn ông làng tôi có chức hoặc danh. Số người có chức thật, danh thật đã hàng trăm; nhưng danh hão còn nhiều hơn. Đi lính (trơn) về, cũng có danh: cụ Vệ Huấn, cụ Vệ Lễ... Thậm chí, trưởng họ (địa vị trời sinh) cũng có danh: cụ Trưởng Phát, Trưởng Huyến... Rồi, nếu nộp cho làng một khoản tiền để được “nhiêu” (miễn) chuyện tạp dịch, cũng được gọi cụ Nhiêu, kèm với tên tục... Đến ông Đậm, mù chữ, cũng mua được danh. Ông ky cóp đủ 6 đồng bạc nộp cho làng, để được quản mấy người vác gậy đi tuần (chống bọn trộm vặt), từ đó mang danh “ông Trương Đậm”. Nay, vài trăm cụ có chức, có danh đã từ lâu ra người thiên cổ. Thời các cụ đã qua, nhưng chuyện trưng chức, khoe danh mà con cháu quyết kế thừa vẫn chưa qua.
Xưa, không những đó là chuyện thường, mà còn là một lẽ sống. Và mang tính tích cực. Nhưng nếu tàn dư vẫn rơi rớt đến nay, thì thành “thói”. Môi trường nào duy trì cái thói khoe danh rất lố bịch ngay dưới chế độ XHCN rất tiên tiến của chúng ta?

Chế độ phong kiến chỉ cần thư lại

Trong bài thứ hai - "Giới thông thái chân đất" – tác giả tỏ ra rộng lượng hơn (không lần nào nhắc tới từ “vĩ cuồng” nữa). Đến bài thứ ba, tác giả càng thông cảm với người có lỗi. Ông nhận ra, nền giáo dục dưới chế độ phong kiến quá đơn sơ (đừng ca ngợi nó quá mức cần thiết). Số người nổi tiếng thì nhiều, nhưng số tác phẩm thì ít, cứ như “cây không trái”. Ông kết luận: nền giáo dục như vậy chỉ có sản phẩm là lớp thông thái “chân đất” mà thôi. Có những gương ham học, nhưng học gì mới quan trọng.
Thật ra, chẳng cần tìm tòi, tra cứu gì nhiều, chứ một nền giáo dục – đã trải 9 thế kỷ kể từ khi có Quốc Tử Giám đến 1945 - mà tỷ lệ người mù chữ vẫn tới 99% đủ nói nó èo uột, sơ sài tới mức nào.
Nếu người xưa chỉ học những thứ mà hôm nay chúng ta thấy “vô bổ” thì lỗi tại ai?
  • Trước hết, người học không có lỗi, vì “thi thế nào, học thế ấy”. Đố thí sinh nào dám trễ nải Tứ Thư, Ngũ Kinh rồi... chắc chắn sẽ “hỏng thi”.
  • Liệu chế độ phong kiến có lỗi? Không đâu. Bởi vì, nó phải tuyển đúng những người mà nó cần. Đó là những người trung thành với đạo Khổng (đức) và đủ khả năng làm thư lại (tài), trong đó quan văn là thư lại cao cấp. Mà thư lại thì không có nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm. Nếu nhiều vị trở thành những nhà quân sự, kinh tế, ngoại giao có tài... thì đó là do khi làm quan, họ thể hiện một năng khiếu thiên phú, đồng thời họ may mắn được đặt đúng vị trí để trổ tài; chứ không phải do cách học và cách thi mà có được nhân tài.
  • Vậy thì, chả lẽ lỗi ở... chúng ta? Phải chăng chúng ta dùng cách nhìn hôm nay để phê phán chuyện đời xưa? Có thể là thế, nhưng điều này chưa quan trọng. Quan trọng là nếu thời nay vẫn dạy, học và thi không khác bao nhiêu so với thời xưa và vẫn theo đuổi thứ triết lý nhang nhác thời xưa (lễ và văn). Trách gì trí thức hiện nay chẳng hao hao giống quan văn, chằng ham khoe danh, khoe tước?

Một đoạn trích trong bài Thói háo danh và vĩ cuồng của trí thức : "Nửa cuối thế kỷ thứ XVII, có một trí thức Trung Quốc là Chu Thuấn Thuỷ trên bước đường chống Thanh phục Minh nhiều lần đến Việt Nam. Lần ấy, khoảng 1657, nghe Chúa Nguyễn có hịch chiêu mộ những ai biết chữ để giúp vào việc nước, Chu ra trình diện. Nhưng ông cảm thấy chung quanh không hiểu mình, không thi thố được tài năng, lại bị làm phiền, nên bỏ sang Nhật. Sau ông đóng góp rất nhiều vào viêc phát triển xã hội Nhật. "
Chúa Nguyễn ban hịch cả nước, nên người trực tiếp tuyển dụng là quan địa phương. Họ chỉ lấy người “biết chữ” (như hịch đã hướng dẫn) để làm thư lại hoặc quan văn, ai đủ điều kiện thì dự thi, và phải chấp nhận cách thức và nội dung thi. Tóm lại, đây không phải kỳ thi chính quy.
Một kỳ thi chính thức phải kiểm tra một cách hệ thống cả đức và tài, “lễ” và “văn”. Về “đức” sĩ tử phải thể hiện sự thấm nhuần và giỏi vận dụng đạo Khổng. Về “tài”, họ phải “văn hay - chữ tốt” để thảo được chiếu chỉ (để vua ban ra), viết được biểu để dâng lên vua. Nếu kỳ thi bắt họ phải làm một bài thơ (hay phú) thì không phải chế độ phong kiến cần nhà thơ, mà chỉ để thử thách cách dùng ngôn từ chải chuốt của vị quan văn tương lai. Một bài thi chính (mang tính bình luận) là để đánh giá thí sinh: 1) Có thuộc nhiều Kinh, Sách?; 2) Văn có hay, chữ có tốt?; 3) Có thấm nhuần và vận dụng sắc sảo đạo Khổng?. Do vậy, dù là kỳ thi Hội hay thi Đình chính thức, cách tuyển này vẫn không chọn được “trí thức đúng nghĩa”. Trên thực tế, chúa Nguyễn tuyển được nhân tài Đào Duy Từ không phải là nhờ thi cử, mà là qua đàm đạo trực tiếp.
  Nhà nước phong kiến không cần nhà văn, nhà thơ, kể cả bác học. Càng không cần nhà lập thuyết: Vì đã có đạo Khổng rồi. Do vậy, chuyện “đỗ đạt nhiều, nhưng tác phẩm và công trình ít” là đương nhiên; khỏi bàn, khỏi thắc mắc. Việt Nam có được Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến, Phạm Thái... hay Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Nguyễn Bỉnh Khiêm... là do trời ban cho dân tộc ta những con người có năng khiếu bẩm sinh, cộng với sự ham mê sáng tạo của bản thân. Thường đó là việc “nghiệp dư” (không lương). Nguyễn Du được trả lương không phải do đã viết truyện Kiều, mà do giữ chức Tham Tri; Phan Huy Chú hưởng lương theo ngạch bậc, chứ không có nhuận bút cho Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí. Các tác giả viết Quốc Sử Diễn Ca chỉ được thưởng lụa và tiền, chứ không nhờ thế mà thăng quan...

Đến đây, cần tham khảo định nghĩa chặt chẽ của từ “trí thức”
Đọc bài đầu (Thói háo danh và vĩ cuồng của trí thức) và bài thứ ba (Truy tìm căn nguyên thói “háo danh” của trí thức) chúng ta thấy rất nên làm rõ nội hàm của từ trí thức. Bởi vì, theo những định nghĩa chặt chẽ, đã là trí thức thì không háo danh; đã háo danh thì hết là trí thức. Đến bài thứ hai ("Giới thông thái chân đất" ), tác giả tạo hẳn một đề mục, bằng câu hỏi: “Ta đã có tầng lớp tri thức đúng nghĩa?” thì lại càng cần làm rõ khái niệm về trí thức.

Kết quả tra tìm bằng Google, với cụm từ “trí thức đúng nghĩa”Chỉ cần 0,39’’ ta đã có 61700 kết quả; trong đó trang gần đây nhất chính là bài Giới thông thái chân đất. Như vậy, trước tác giả bài này đã có nhiều người quan tâm đến những phẩm chất để xếp một người có học vấn cao vào tầng lớp trí thức “đúng nghĩa”.
Thông thường, chúng ta dùng từ trí thức để chỉ người có học vấn cao (so với trình độ chung của xã hội) và kiếm sống bằng học vấn của mình. Loại người này thì bất kỳ xã hội nào cũng có, kể cả xã hội nguyên thuỷ, sơ khai. Dưới chế độ phong kiến, họ có tên nho sĩ, kẻ sĩ, sĩ phu... Cách dùng từ trí thức chung chung này trong nhiều trường hợp chưa gây rắc rối gì lớn, mà còn thuận tiện. Hoàn toàn có thể viết: “chế độ ưu việt của chúng ta đã đào tạo được nhiều triệu trí thức XHCN”. Thậm chí nó được dùng trong một văn bản quan trọng (Nghị quyết “Xây dựng đội ngũ trí thức”).
  Intelligentsia (giới trí thức) có gốc Nga, ra đời từ giữa thế kỷ 19; còn intellectuelintellectual (người trí thức) có gốc Pháp và Anh, xuất hiện đầu thế kỷ 20. Đó là những từ mới, có một nội hàm mới. Do vậy, thật đáng khâm phục khi chuyển các từ nói trên sang tiếng Việt, các cụ ta đã không dùng những từ sẵn có (như: kẻ sĩ, nho sĩ, sĩ phu, bậc hiền tài, nhà thông thái, học giả...) mà dùng “trí thức”. Thật sáng tạo, khi từ này gói ghém được hai phẩm chất của trí thức: 1) họ là người có học vấn cao (trí tuệ); 2) đồng thời là người “tỉnh thức”.
Các Mác coi trí thức là người nhìn ra (tỉnh thức) những điều cần phê phán, và dám lên tiếng phê phán để xã hội phát triển. Viện sĩ Nga Likhachev coi trí thức là “bộ phận độc lập về trí tuệ” của một xã hội, nên ít được giới quyền lực bảo thủ ưa chuộng. Nếu xã hội là một cơ thể thì giới trí thức là cơ quan nhận thức và phát biểu của cơ thể đó. Các bài của các tác giả Việt Nam (tập trung nhiều ở trang web Chungta.com) coi trí thức là người có thiên chức phản biện xã hội với mục tiêu xây dựng...v.v. Tất cả, đều nhấn mạnh phẩm chất thứ hai. Định nghĩa chi tiết có thể xem thêm ở từ điển Wikipedia.
Trí thức “đúng nghĩa” không thể xuất hiện dưới chế độ phong kiến
Điều nói trên càng đúng dưới chế độ phong kiến phương Đông. Chỉ xin nói vắn tắt: Những người đỗ đạt ở chế độ này chỉ có một con đường duy nhất để tiến thân: làm Quan Văn (sau này gọi là vào biên chế). Năng lực chung được đào tạo: làm thư lại cao cấp. Chỉ có một cách hành xử: Tuyệt đối trung thành với đấng toàn quyền (vua), coi chủ thuyết của Khổng Tử như một giáo lý, bản thân xử sự như tín đồ (tụng niệm, cấm được nói khác giáo lý). Sự phấn đấu cả đời là thăng quan, tiến chức. Vinh dự cả đời là khoe chức, tước và danh (ghi đầy đủ chúng vào cáo phó, bài vị, câu đối ở nhà thờ và trên bia mộ). Dũng cảm nhất là dám lễ độ can vua (chớ có dại mà “phản biện”), cương trực nhất là dám từ chức, từ quan. Khi bị oan, khôn nhất là “mong sao thánh thượng sẽ hồi tâm”...
Như vậy, mỗi chế độ xã hội quy định cách ứng xử đặc trưng của trí thức (nghĩa rộng). Cứ nhìn cách ứng xử chung của giới này mà suy ra bản chất (hoặc tàn dư, sự trá hình) của một chế độ.
Sang chế độ tư bản, và nhất là dưới chế độ XHCN, là những xã hội dân chủ - khiến người có trình độ có thể phản biện mà vẫn an toàn; lại có thị trường - khiến người lao động trí óc có thể sống mà không cần vào biên chế; do vậy trí thức “đúng nghĩa” có thể xuất hiện và hành xử phù hợp với nền văn minh Công Nghiệp.
Tàn dư phong kiến
Khi giành độc lập (1945), nông dân ta chiếm 95% dân số, rất nặng tư tưởng tiểu nông. Thích hợp với kinh tế tiểu nông là chế độ phong kiến. Tàn dư phong kiến tồn tại dai dẳng là chuyện đương nhiên khi năm 2009 nông dân vẫn chiếm 3/4 dân số. Nếu những tàn dư này đem lại lợi ích cho một nhóm người thì họ sẽ tìm cách duy trì chúng, dưới dạng biến thể hay trá hình.
Hẳn là đảng lãnh đạo đã biết rõ để có cách xử lý thích hợp.
Tại sao chúng ta cứ phải nói dai, nói dài, nói mãi về trí thức “đúng nghĩa”?
Đó là vì trí thức XHCN tuy ngày càng đông đảo (triệu và triệu) nhưng cũng ngày càng... ít đúng nghĩa. Có lẽ hiếm nước nào khi nói về trí thức cứ phải thêm “đúng nghĩa”. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, trong bài thứ 3, đã phân tích nhiều nguyên nhân của bệnh háo danh và tìm hiểu vì sao nước ta chưa có trí thức “đúng nghĩa”. Phải chăng nguyên nhân bao trùm nhất là tàn dư phong kiến. Nhưng nó biểu hiện cụ thể ra sao, thì chúng ta phải hợp sức cùng tìm.
Cứ tiện đâu nói đấy, cũng có thể kể hàng chục đặc trưng phong kiến rất dễ để lại những tàn dư, biến thể, và sống rất dai vì nó hợp với tư tưởng tiểu nông của dân ta. Không loại trừ nó được những nhóm lợi ích bảo hộ, che giấu.

Vài ví dụ: - Vua: Đó là một thực thể quyền lực tối thượng, không bao giờ sai lầm, được “trời” đặt lên ngai và chỉ chịu trách nhiệm với “trời” – nghĩa là đứng trên pháp luật và không bao giờ bị phán xử trước toà. Tâm lý tiểu nông không thể thiếu vua, nên dễ bị lợi dụng để chấp nhận và tôn sùng những cá nhân (hoặc thực thể) biến chất dần dần hành xử như vua. Nước ta 7 lần có 2 vị cùng làm vua, gọi theo cách hiện nay là “tập thể vua” (thời hai bà Trưng, thời Hậu Ngô và thời Trần). Địa vị của vua được giải thích là do luật Trời.
- Vua ban hành pháp luật (ví dụ, Luật Hồng Đức, Luật Gia Long) để xử các quan và xử dân. Nhưng các quan được xử theo “lễ”; còn dân bị xử theo “luật”.
Sau 60 năm, chế độ dân chủ của ta đã có cấp thứ trưởng suýt bị xử trước toà. Đây có lẽ là điều điều khác hẳn ngày xưa?.
- Vua là nước. Trung với vua, với chế độ của vua, là đủ. Quân đội càng phải “trung quân”.
- Toàn triều đình, toàn thể quan lại và dân thường phải tôn thờ duy nhất chủ thuyết của đức Khổng Tử - tức nhất nguyên. Không thể tồn tại khái niệm “đa nguyên”.
- Tôn chủ thuyết của đức Khổng Tử thành quốc đạo, thành tôn giáo (gọi là đạo Khổng - giống như nay ta gọi đạo Phật, đạo Thiên Chúa). Coi ngài như vị thánh lập thuyết; có đền miếu để sĩ phu nước Việt có nơi thờ phụng, dù ngài có gốc ngoại quốc.
- Đưa đạo Khổng vào chương trình bắt buộc trong trường. Muốn gia nhập biên chế quan lại nhất thiết phải học và thi giáo lý đạo Khổng.
- Lập lăng mộ cho vua - nhất là vị sáng lập triều đại. Lăng các vua Lê ở Thanh Hoá; lăng các vua triều Nguyễn ở Huế.
- Tạo ra các vị thánh của chế độ (không nhất thiết có công với dân), có nơi thờ phụng trang nghiêm để đề cao chế độ. Ví dụ, triều Nguyễn (đươc, làm vua) đã cho lập đền thờ cụ Võ Tánh hy sinh trong cuộc nội chiến giành ngôi vua với phe Tây Sơn (bị thua, bị triều Nguyễn coi là giặc).
- Tạo ra lớp “trí thức quan văn”, nhiệm vụ số 1 là phục vụ và ca ngợi triều đình; lấy chức tước và danh hiệu được vua và chế độ ban cho làm vinh dự và sự nghiệp cả đời.

- ... đến đây, có thể vân vân... được rồi.