Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Hưng Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Hưng Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Điều cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin



Giữa thế kỷ 19 Các Mác đưa ra học thuyết của mình phê phán gắt gao xã hội tư bản chủ nghĩa. Cơ sở của sự đả kích này là tình trạng kinh tế xã hội tư bản thời kỳ phôi thai, mới chuyển từ nền sản xuất manh mún của xã hội phong kiến sang nền sản xuất tập trung của xã hội tư bản chủ nghĩa.

Từ những nhận xét ban đầu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác kết luận nền sản xuất này chỉ là thời kỳ quá độ để tiến tới nền sản xuất trong xã hội cộng sản chủ nghĩa. Cơ sở và lý do của tình trạng quá độ này được Mác đưa ra là tình trạng người bóc lột người và xã hội bị phân chia thành giai cấp. Bởi vậy ý hướng của Mác trong xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tương lai là không còn tình trạng người bóc lột người và xã hội không còn giai cấp.
Ngoài nhiều bài viết và tác phẩm đả kích xã hội tư bản, bộ sách chủ yếu và cao điểm nhất của Mác phân tích nhằm đả phá xã hội và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chính là bộ Tư bản luận (das Kapital). Trong bộ sách này Mác tuyên bố sự dẫy chết của xã hội tư bản để tiến tới nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa.

Như vậy cơ bản của học thuyết Mác chính là ý niệm bóc lột trong kinh tế tư bản chủ nghĩa, ý nghĩa phân chia giai cấp trong quá khứ của xã hội loài người, và ý nghĩa đấu tranh giai cấp như động lực và lịch sử của cuộc cách mạng toàn diện cho thế giới.

Nguồn gốc của bóc lột Mác cho rằng đó là do quyền tư hữu. Nhưng quan trọng hơn cả, ý nghĩa của đấu tranh giai cấp là Mác rút ra từ quan điểm biện chứng (die Dialektik) của hệ thống triết học Hegel. Điều này bắt nguồn từ sự kiện Mác là một người trẻ theo thuyết Hegel trong thời đại của ông ta. Bởi đấu tranh giai cấp không theo Mác không phải chỉ là hiện tượng bề ngoài và tự nhiên trên bình diện khách quan của kinh tế xã hội, mà nền tảng sâu xa chính là quy luật biện chứng như là quy luật thiết yếu bao trùm toàn thể tồn tại.

Tất nhiên Hegel là nhà triết học duy tâm, hệ thống Hegel là hệ thống duy tâm, “phép biện chứng” của Hegel cũng là “phép biện chứng” duy tâm, thế mà Mác lại đưa vào hệ tư tưởng hoàn toàn duy vật của mình, chính là điều đầu tiên không ổn, chẳng khác gì râu ông nọ cằm bà kia, nên đây là chỗ trái khoáy không phải nhiều người thấy được hoặc muốn thấy.

Thế nên cái cốt lõi còn lại chính là sự tư hữu và khái niệm bóc lột. Mác nói xã hội loài người nguyên thủy là xã hội không có tư hữu nên cũng không thể có bóc lột, đó là xã hội cộng sản nguyên thủy, tức làm ăn tập thể. Nhưng khi nói điều này Mác đã không phân biệt cái đã có và cái chưa có. Thật ra xã hội nguyên thủy không phải là xã hội cộng sản như Mác quan niệm mà chỉ là xã hội sơ khai. Ngay cả khái niệm tài sản riêng ở đây cũng chưa có, nói gì là ý niệm cộng sản. Đánh đồng cái chưa có và cái có ở đây chính là một suy nghĩ còn lờ mờ của Mác. Giữa con số 0 và số ε (epsilon) trong toán học vẫn cách xa một trời một vực, giống tư cánh hoa tàn và mầm trái mới nhú là hoàn toàn khác nhau.

Cho nên Mác vì quá say mê và tin chắc tuyệt đối vào thuyết biện chứng của Hegel, khiến trở thành chỉ nặng về lý luận tư biện (spekulatives Argument) mà quên đi chính thực tế tự nhiên của cuộc đời và xã hội. Từ đó Mác cũng quên mất điều phân biệt giữa ý niệm cứu cánh và ý niệm phương tiện về mặt ý nghĩa của tư hữu. Bởi nói chung, xét cho cùng, về mặt sinh học và xã hội, thì sự tư hữu luôn luôn chỉ là phương tiện mà không hề bao giờ là cứu cánh cả. Bởi quy luật sinh học và xã hội vẫn luôn luôn là sự phát triển, cho nên tư hữu vẫn trở thành quy luật phổ biến, vì là công cụ và tiện ích tối cần cho mỗi cá thể (không phân biệt thuộc phạm vi nào) tồn tại phát triển đi lên, mà không bao giờ là cứu cánh tối hậu như một cách nhìn hời hợt.

Mác cho rằng vì tư hữu là nguồn gốc của bóc lột, của giai cấp, nên triệt tiêu sự phát sinh ra hai hệ quả này cũng đồng thời triệt tiêu giai cấp, tiệt tiêu đấu tranh giai cấp, để đi đến xã hội không còn bóc lột, không còn giai cấp. Trên nền tảng đó, Mác cũng cho rằng nhà nước là công cụ của đấu tranh giai cấp, pháp luật là ý hệ của đấu tranh giai cấp, tức thuộc thượng tầng kiến trúc, nên một xã hội cộng sản hoàn toàn lý tưởng trong tương lai cũng không còn nhà nước, không còn pháp luật, vì không còn giai cấp. Mác cũng mô tả xã hội lý tưởng trong tương lai đó mọi người đều làm ăn tập thể, tự nguyện tự giác sản xuất, người công nhân được giải phóng hoàn toàn, buổi sáng có thể đi câu cá, buổi chiều có thể vào xưởng thợ, buổi tối có thể đi chơi tùy thích, bởi vì lúc đó mọi người đều làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu, triệt tiêu tiền tệ, vì tiền tệ là nguồn gốc của giai cấp và bóc lột, nên cũng triệt tiêu luôn cả mọi sự phân công tự nhiên, khách quan của xã hội. Chỉ còn lại một xã hội hoàn toàn tự quản, hoàn toàn phân phối mọi thành quả lao động cho nhau. Quả thật là hết sức không tưởng, quên mất đi mọi yếu tố trì lực, khuynh hướng sinh học, hay bản năng vật chất, yếu tố nọa tính tự nhiên, của tâm lý con người.

Mác cho rằng học thuyết của mình là học thuyết khoa học duy nhất đúng, bởi ông ta tin chắc vào quy luật biện chứng của Hegel như là quy luật phổ biến khách quan tự nhiên của vũ trụ, nên niềm xác tín đó khiến Mác luôn luôn trụ vững trong mọi khía cạnh khác nhau nơi học thuyết lịch sử, xã hội của mình. Có nghĩa Mác cũng đã “triết lý hóa” theo kiểu tư biện những khái niệm hoàn toàn thực tế, khách quan, cụ thể và tự nhiên của những con người bằng xương bằng thịt nơi thế gian cụ thể và hoàn toàn sống thực của lịch sử xã hội. Quy luật phát triển đi lên của xã hội từ nguyên thủy đến hiện đại, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau là hoàn toàn khách quan, tự nhiên, có khi đột biến hay ngẫu biến là những trạng thái cá biệt. Phạm trù hóa vào các hình thái xã hội liên tiếp nhau cách tất yếu là điều Mác đã làm một cách khiên cưỡng, tràn đầy suy diễn theo kiểu chủ quan. Do vậy sự lên án giai đoạn này hay giai đoạn khác đã qua của lịch sử cũng hoàn toàn phi lý.

Bởi con người nói cho cùng là con người sinh học và tâm lý. Con người là thực thể sinh học, nên quần thể xã hội thực chất cũng là quần thể sinh học. Nó luôn luôn chịu sự tác động qua lại của môi trường thế giới tự nhiên ở chung quanh. Điều này ngày nay trên khắp thế giới mọi người đều thấy rõ kết quả của tác động môi trường là như thế nào. Chính mỗi cá thể sống đều là một thực thể sinh học, cho nên tâm lý ý thức tự nhiên của cá nhân và xã hội con người vẫn phải coi tư hữu là phương tiện thiết yếu không thể nào khác và cũng không phải gì khác. Như thế chủ trương loại bỏ óc tư hữu, loại bỏ quyền tư hữu là hoàn toàn trái khách quan, trái tự nhiên và không thực tế. Đây là một ảo tưởng phi khách quan và phi khoa học của chính Mác.

Mặt khác, quy luật cấu trúc của muôn vật vẫn là quy luật khách quan và tự nhiên. Mọi sự tồn tại đều có cấu trúc hay thuộc về một cấu trúc, đó là điều chắc chắc. Trong thế giới vi mô của những hạt cơ bản, đến thế giới vĩ mô của các thiên hà, đến xã hội và lịch sử phát triển xã hội của loài người, ý nghĩa này luôn luôn là một thực tại. Nên nói thẳng ra, giai cấp hay giai tầng xã hội phải luôn luôn có, vì đó là thực tế khách quan, là kết quả của sự cọ xát về mọi phương diện tâm lý, ý thức và năng lực tự nhiên của mỗi cá nhân con người. Nói một xã hội không giai cấp cũng như nói một tồn tại phi cấu trúc, đó là điều hoàn toàn vô lý.

Cho nên ý nghĩa của giai cấp hay giai tầng xã hội không nên nhìn theo khía cạnh tiêu cực mà nên nhìn theo ý hướng tích cực. Khía cạnh tiêu cực là khía cạnh phản lại con người, phản lại xã hội, tức ý thức phân biệt giai cấp theo kiểu ích kỷ, kiểu kỳ thị, kiểu phân biệt đối xử. Đó là quan điểm phản nhân bản. Trái lại, ý hướng tích cực là ý hướng khách quan, khoa học, mỗi cá nhân và xã hội đều luôn luôn cần phải thăng tiến, cải thiện, hoàn thiện chính bản than của mình, nhằm làm cho cấu trúc tự nhiên của xã hội càng ngày càng phù hợp, khách quan, hiệu quả, tốt đẹp, lý tưởng hơn. Cho nên, chính sự khác nhau về quan điểm, về cái nhìn khiến người ta có quan niệm sai lệch, có cái nhìn thiển cận, thù địch với ý nghĩa khách quan, mà không phải đó là thái độ hay là điều hoàn toàn hợp lý.
Vì thế quan điểm duy vật lịch sử của Mác là bắt nguồn từ quan điểm duy vật biện chứng nhưng không phải là quan điểm khoa học xã hội hoàn toàn khách quan và thực tế. Nhưng có điều đã là quan điểm duy vật, cũng không thể nào có quy luật biện chứng theo đúng nghĩa. Bởi quy luật biện chứng luôn gắn liền với tiềm lực (duy tâm) và cứu cánh luận (cũng duy tâm nốt), nên quan điểm duy vật thuần túy mà lại gắn với tính biện chứng chỉ có nghĩa là niềm tin cảm tính mà hoàn toàn không có ý nghĩa khách quan khoa học hay hoàn toàn triết học. Cũng từ đó mà khái niệm các hình thái xã hội, tức sự phát triển tự nhiên khách quan của xã hội loài người từ cộng sản nguyên thủy, sang tư hữu phong kiến, sang tư hữu tư bản chủ nghĩa, cuối cùng sang công hữu cộng sản chủ nghĩa chỉ hoàn toàn là suy luận trừu tượng kiểu tư biện của lý thuyết biện chứng mà tuyệt nhiên không phải những dữ kiện khách quan khoa học lịch sử và xã hội thật sự.

Nói cách khác, quần thể xã hội loài người cũng là một quần thể sinh học, cho nên sự tác động của các quy luật sinh học vẫn là điều cơ bản và khách quan tự nhiên. Có thể kể tóm lược các quy luật cơ bản đó là quy luật đấu tranh sinh tồn, quy luật cộng hợp tồn tại, và quy luật biến thiên phát triển. Các quy luật này thuyết tiến hóa và thực tại tiến hóa của lịch sử khách quan đã cho thấy nhiều, cả phương diện sinh học tổng thể lẫn phương diện sinh học phân tử ngày này, đồng thời có rất nhiều khía cạnh bổ sung của chúng như khía cạnh đột biến, khía cạnh chọn lọc tự nhiên chẳng hạn.

Do đó sự phân hóa thực tế trong xã hội vẫn là sự phân hóa tự nhiên, không thể nào ngăn chặn hiệu quả được sự phân hóa này. Giống như mầm cây phát triển thành cây là sự phân hóa tự nhiên. Nên cây cho ra hạt chính là hạt khác, không phải trở lại cái hạt ban đầu như cách lý luận của Mác cho rằng từ xã hội cộng sản nguyên thủy, phát triển theo quy trình lịch sử, lại quay về xã hội cộng sản khoa học. Bởi vậy, vấn đề không ngăn được sự phân hóa tự nhiên trong xã hội, phải làm sao cho sự phân hóa đó thật sự là hoàn toàn khách quan mà không phải giả tạo. Quan điểm loại bỏ nhà nước, không có pháp luật, là quan điểm hoàn toàn phi lý. Trong khi đó, những thực tế nhà nước bất lực, tiêu cực, lẫn pháp luật không hiệu quả trong việc quản lý xã hội một cách tốt đẹp cũng hoàn toàn trái lẽ và phi lý.

Nhưng cũng từ trên các quan điểm chung nhất đó của Mác mà Lênin (từ cuộc cách mạng vô sản 1917) đã đi sâu và cụ thể vào quan điểm và tổ chức xã hội Liên bang Xô viết theo kiểu tập thể hóa của mình. Hay nói rút lại, học thuyết hay chủ nghĩa Mác-Lênin chính là chủ trương tập thể hóa xã hội. Tập thể hóa xã hội chính là chủ trương kiểu cách làm ăn tập thể, là kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước, thay vì kinh tế cá thể, kinh tế tư bản chủ nghĩa. Bởi Lênin cho rằng chỉ có làm như thế mới tránh được mọi bất công xã hội, mới đấu tranh loại bỏ giai cấp và xây dựng được xã hội thuần túy xã hội chủ nghĩa rồi cộng sản chủ nghĩa.

Kinh tế tập thể là kinh tế hướng mạnh vào sự tập trung của quản lý nhà nước, đó là các kế hoạch ngắn hạn hay dài hạn nhiều năm, loại bỏ quyền tư hữu, đẩy mạnh quyền công hữu, nền kinh tế theo sự chỉ đạo, sự phân công, theo kiểu cách sản xuất tập thể trong các nhà máy, các công nông trường quốc doanh mà chính Liên xô và các nước XHCN Đông Âu trước kia đã từng áp dụng.

Tất nhiên trong các hoàn cảnh cụ thể của xã hội như thiên tai, chiến tranh, sự tập trung tổ chức, chỉ đạo luôn luôn tỏ ra hiệu quả, có sức mạnh, nhưng đó chỉ là tạm thời, không thể cứ kéo dài vô hạn hoặc vĩnh viễn. Bởi mặt phải là như thế, song mặt trái là sự hi sinh mọi quyền tự do cơ bản của cá nhân con người, sự phản lại tâm lý tự nhiên trong dài ngày, sự phát sinh ra các tiêu cực không thể tránh trong lòng xã hội về rất nhiều mặt, mà đôi khi hậu quả của nó còn nặng nề hơn chính các kết quả mang lại. Điều này kinh qua lịch sử quá khứ, mọi người đều có thể nhìn thấy, và đó cũng là kết cục của sự sụp đổ khách quan, tự nhiên của Liên xô và phe XHCN trước đây.

Thế nên, ý nghĩa của kinh tế xã hội chẳng qua chỉ là ý nghĩa của khoa học kỹ thuật và ý nghĩa của tâm lý ý thức con người. Điều quan trọng nhất là ý niệm bóc lột và giá trị thặng dư trong học thuyết Mác phần nào mang tính chất phiến diện và chỉ nhìn trên bình diện cá thể. Có nghĩa khái niệm bóc lột chủ yếu có liên quan đến tương quan và tính khí cá nhân, lại được khái quát hóa, trừu tượng hóa thành ý niệm đấu tranh giai cấp toàn diện. Đây là cách nhìn vừa mang tính cách trừu tượng toán học vừa mang tính cách khái quát hóa hay tổng thể hóa theo quan điểm biện chứng duy vật. Bởi thật ra, tình trạng bóc lột nếu có, còn mang tính cách cá biệt, tính cách tương quan, và tính cách tính khí của các chủ thể cá nhân con người trong từng trường hợp.

Sự thổi phồng giai cấp, sự khắc họa hay tô đậm đấu tranh giai cấp đúng là ý nghĩa trừu tượng hóa, khái quát hóa, vượt xa trên thực tế. Gọi là chủ thể A bóc lột chủ thể B có nghĩa chủ thể A là kẻ ác ôn, phi đạo đức, và chủ thể B là nạn nhân đáng thương trong xã hội. Thế, nhưng nếu hoán vị hay đổi chỗ giữa hai chủ thể, chưa hẳn tình trạng đã khá hơn nhưng còn tệ hơn, nếu tính khí tâm lý của B còn tệ hơn của A. Như vậy, yếu tố ý thức tâm lý, ý thức đạo đức, trình độ khả năng nhận thức, kết quả giáo dục, cá tính riêng, là một trong những nguyên nhân hay nhân tố quan trọng mà chính Mác không quan tâm đến. Điều này cũng có nghĩa những sự kiện xảy ra trong đấu tranh giai cấp theo kiểu khái quát hóa về giai cấp trong thời Liên xô, hay trước kia ở Trung quốc, ở Khmer đỏ, và nhiều nơi khác, những sự khắc nghiệt quá mức và phi nhân tính thì ai cũng rõ.

Bởi sự công bằng một cách chính xác theo kiểu toán học là điều hoàn toàn không thực tế, không thể có trong xã hội. Cho nên sự công bằng tương đối trong kinh tế hay trong thực tiển đời sống xã hội là điều hoàn toàn khách quan và tự nhiên. Người nào có chút hiểu biết về kinh tế học có thể hiểu rằng ý nghĩa bóc lột và giá trị thặng dư mà Mác nói về kinh tế tư sản, cá thể, hay kinh tế tư bản chủ nghĩa thật sự vẫn đi đôi với ý nghĩa an toàn cá thể, sự dự phòng cá thể, và đi đôi với sự tích lũy tư bản nói chung. Tâm lý an toàn, tâm lý dự phòng, đó là tâm lý đời sống có tính hiển nhiên nơi con người hay thậm chí nơi mọi sinh vật nói chung. Câu chuyện con sóc giấu quả thì ai cũng biết, tâm lý tiết kiệm lo xa cũng là tâm lý tự nhiên của mọi con người.

Cho nên nếu nhìn đại thể, sự tích lũy tư bản không phải xấu, mà là điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế xã hội. Bởi nếu lao động xã hội được làm ra đều chi tiêu hết trong hiện tại, đều trang bằng ra cho tất cả mọi người, cũng không thể còn điều kiện tái đầu tư để phát triển chung cho tương lai và cả hiện tại của xã hội. Vả chăng, sự tích lũy này cũng còn là điều kiện thiết yếu, tự nhiên để phát triển khoa học kỹ thuật nói chung mà mọi người đều rõ. Khoa học kỹ thuật không thể có nếu không có quá trình tích lũy đầu tư về nhiều mặt trong lịch sử xã hội, đó là điều hoàn toàn chắc chắn.

Cho nên nhìn ý nghĩa lao động và hưởng thụ trong xã hội, Mác chỉ thấy một mà không thấy hai là như thế. Sự tiêu thụ năng lượng thực phẩm hàng ngày của một chủ tư bản thật ra cũng không thể dôi lên vô hạn so với điều đó ở một công nhân, kể cả cho rằng ý nghĩa và chất lượng nội dung ở cuộc sống giữa họ là hoàn toàn khác. Thế thì ý nghĩa của tích lũy lao động, của tái đầu tư sản xuất chính là ở đây. Sự công bằng xã hội theo nghĩa tương đối cũng chính là ở đây, nếu nó không vượt quá khuôn khổ của luật pháp, của đạo đức xã hội, của những điều hợp lý tự nhiên cho phép.

Thế nhưng điều quan trọng khác nữa của phát triển lịch sử và xã hội chính là khoa học kỹ thuật hay sự phát kiến của con người, mà không phải chỉ là đấu tranh giai cấp như Mác đã quá suy nghĩ thiên lệch. Bởi con người thuở ban đầu ăn tươi nuốt sống, nếu không phát kiến ra lửa, tình trạng đó chắc muôn đời vẫn vậy. Thế thì từ lửa đến rèn đúc, đến chế tác vẫn là con đường phát triển tất nhiên. Rồi con người phát minh ra chuyển động tròn, phát kiến ra la bàn, ra thuốc nổ, ra điện, điện toán và tin học ngày nay, quả là những dấu mốc quyết định, những bước tiến không lồ của nhân loại mà không là gì khác. Ví thử nếu không có những phát kiến, những tiến bộ khoa học kỹ thuật đó, sự đấu tranh giai cấp thuần túy, tức sự giành giật lẫn nhau về các quyền lợi kinh tế có sẳn, liệu có thể dẫn tới đâu không. Đó quả là điều chỉ thấy lá, thấy cây mà chẳng thấy rừng của Mác. Sự xác định sai hay không chính xác nguyên nhân và động lực chủ yếu hay cốt lõi của lịch sử chính là điều đã chủ thuyết Mác trở nên không thực tế và xa lạ với hiện thực. Đó cũng là nói tồn tại của vũ trụ quả thật còn quá nhiều bí ẩn hơn chỉ là quan niệm duy vật quá giản lược, cạn hẹp và đơn thuẩn như kiểu của Mác nghĩ tưởng.

Điều này thực tế của xã hội cũng như những trải nghiệm của từng cá nhân vẫn hoàn toàn thấy rõ, hoặc giả cũng đã trả lời được hoàn toàn chính xác. Kinh tế cá thể hay kinh tế tư bản chủ nghĩa nếu muốn nói như vậy, chủ yếu dựa vào sự phát triển tự nhiên, khách quan của xã hội con người, mà không phải theo những mô hình tổ chức có sẳn được đưa ra kiểu công thức như kinh tế tập thể mà mọi người đều rõ. Có nghĩa cái trước thì dựa vào sự kết hợp tự nhiên về lao động, cái sau thì dựa vào mô hình ý thức hệ về lao động, mặc dầu kết quả thì hai nếp cũng vào một xôi, tức đều nhằm phục vụ tối hậu cho đời sống sản xuất hay sự phát triển thiết yếu nói chung của toàn thể nền kinh tế xã hội. Nên nói cho cùng, cái cốt lõi ở đây chính là hiệu quả của sự sản xuất xã hội, tức vấn đề năng suất, mà không phải những lý luận suông, mông lung và phi thực tế.

Điều này cho thấy rõ xã hội Liên xô và các nước Đông Âu trong thời kỳ hậu xô viết, nền kinh tế xã hội vẫn phát triển nhưng theo hướng khác và theo nhịp độ khác. Điều này cũng có thể đem so sánh với nước Đức thời Đông Đức và thời Liên bang Đức, đem so sánh Triều Tiên và Hàn Quốc, đem so sánh Cu Ba sau thời kỳ cách mạng, đem so sánh Trung Quốc và Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới chẳng hạn. Hay nói khác hơn, tại sao kỹ thuật tổ chức sản xuất theo kiểu tập thể và theo kiểu cá thể lại khác nhau những gì, do nguyên nhân nào khác nhau, và tại sao năng suất và kết quả cũng lại khác nhau. Đó cũng là cách nói của Đặng Tiểu Bình, mèo trắng mèo đen, mèo nào bắt chuộc được đều là tốt. Có nghĩa kinh tế tập thể hay kinh tế cá thể đều cũng chẳng qua không vượt ra khỏi sự quản lý của con người. Sự quản lý hành chánh quan liêu mệnh lệnh kiểu gia trưởng, với nhiều tốn kém, phiền hà, lạch bạch, và sự quản lý theo kiểu sinh động tự nhiên của thị trường và của quan hệ bột phát, nhất thời, linh hoạt, với sự khác biệt như thế nào thì mọi người đều có thể nhận định hay đối chiếu.

Do vậy, ai cũng thấy được sự khác nhau ở đó chính là sự khác nhau giữa tâm lý ý thức của con người. Cha chung thì không ai khóc, trong khi vì lợi ích chính đáng riêng thì mọi người đều thức khuya dậy sớm như nhau. Chính ý thức tâm lý của con người cụ thể là điều không bao giờ có thể vượt qua, cho dầu xã hội nào cũng vậy. Đó chính là quy luật khách quan ưu việt nhất mà không thể có quy luật khách quan nào tự nhiên hay ưu việt hơn. Chính sự không đếm xỉa đến yếu tố tâm lý ý thức con người như là điều khách quan tự nhiên mà mọi lý thuyết về kinh tế xã hội và lịch sử của Mác đã trở thành xa xôi, vô bổ là vốn như thế. Đặc biệt những phát kiến khoa học của con người, phần lớn là các chắt lọc tinh hoa của thiểu số trí tuệ, tài năng, thậm chí nhiều khi chỉ là sự ngẫu nhiên mà không hề là kết tinh của cách đấu tranh giai cấp hay đấu tranh kinh tế kiểu đại trà.

Chính sự không tính đến yếu tố tâm lý ý thức của con người, sự không tính đến các quy luật tự nhiên khách quan của xã hội (mặt sinh học, mặt lịch sử) mà lý thuyết Mác trở thành không tưởng, không thực tế, không đáp ứng lại một cách hiệu quả mọi ý nghĩa sinh tồn và yêu cầu phát triển khách quan, tự nhiên của mỗi cá thể con người và toàn xã hội về mặt thực tế. Cho nên Mác tự cho mình là lý thuyết khoa học tuyệt đối đúng, bởi vì ông ta quá tin cậy vào quy luật biện chứng của Hegel. Có nghĩa Mác đã triết lý hóa một cách không khách quan, không tự nhiên và không cần thiết về các ý nghĩa và thực tế của chính hiện thực kinh tế xã hội. Bởi vậy, thật sự bộ Tư bản luận của Mác thực chất không phải là một thánh thư về kinh tế xã hội cụ thể và thực tế, nhưng thật sự chỉ là một thánh thư về ý thức hệ tư biện không hơn không kém. Nhưng ai đã từng có kiên nhẫn đọc kỹ và nghiêm túc suy nghĩ về các nội dung cùng ý nghĩa trong đó đều có thể khách quan thấy ra được điều này. Thước đo của kinh tế xã hội là nguyên lý khách quan, là hiệu suất lao động, là hiệu quả phát triển chung chung nhất, đa phần nhất, là kết quả tối hậu, hay chỉ là sự suy nghĩ đắn đo về một thiểu số quá giàu và một thiểu số quá nghèo, để đưa ra những giải pháp viễn vông, vô ích, thì ngày nay cả cộng đồng thế giới đều cũng đã thấy rõ. Bởi kỹ thuật của mọi tổ chức sản xuất tập thể không phải bao giờ cũng ưu việt hay phù hợp, mà phần lớn chỉ có giá trị như những kịch bản nhất thời.
Nên nói cho cùng, có rất nhiều người nói về Mác nhưng thật sự chỉ có ít người đã thực chất đọc về Mác. Tác phẩm Mác viết thì có rất nhiều, hiện này những bộ toàn tập của Mác bằng tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt, mỗi bộ đặt trên kệ sách có khi dài hơn cả thước. Ngay cả bộ toàn tập của Lênin cũng dài bằng na ná như vậy. Đó là các tập hợp bài viết còn để lại về nhiều phương diện. Tuy nhiên, về nội dung cũng không ngoài các ý nghĩa như trên mà ngày nay mọi người đều rõ. Chủ yếu những điều đáng nói ở đây chính là những ý tưởng, những cách tư duy, những khái niệm, và những danh từ. Tất cả những điều đó, giới học giả và những trường đại học ở Việt Nam đều đã nói nhiều. Nhưng phần lớn cũng chỉ là cách nói theo kiểu rập khuôn, giáo điều, theo kiểu một chiều, mà dầu có nói đến ngàn năm cũng không có điều gì mới mẽ hơn như thế. Đó là chưa nói những người học lý thuyết Mác theo kiểu truyền khẩu theo cách bình dân. Ngay cả như Trần Đức Thảo, một nhà trí thức danh tiếng của nước ta, thì các bài viết của ông về chủ nghĩa hay học thuyết Mác-Lênin cũng không hề đi ra ngoài sự khuôn sáo hay vết mòn như thế.

Cho dù ở phương Tây, tất nhiên từ đầu tới cuối, người ta đã viết rất nhiều, nói rất nhiều về các nội dung hay ý nghĩa tương tự, song đó cũng chỉ là cái nhìn, quan điểm hay ý kiến của người phương Tây. Chúng ta có quyền tâm đắc với họ hay không, nhưng đó cũng là sản phẩm của nước ngoài, của một phương trời khác. Riêng bài viết này, chỉ giống như bài viết của một kẻ hậu sinh ở Việt Nam, trong lúc ngẫu hứng của dịp Tết (Tân Mão) đến xuân về, bài viết như một món quà xuân nhỏ mọn gửi tới các thân hữu bạn bè, hoàn toàn vô tư, miễn phí, coi như sự thiện chí và ưu ái với cuộc đời, không nhằm đến bất kỳ mục đích nào, vì chẳng qua cũng chỉ là một sự phát biểu chủ quan, cây nhà lá vườn, một loại đặc sản chân quê, để các bạn nhận xét, thảo luận cùng nhau nếu muốn, trong một lúc trà dư tửu hậu. Bởi lẽ muốn phân tích thật sự cặn kẻ và đầy đủ nhất về học thuyết Mác, không thể chỉ một bài viết nhỏ kiểu ở đây, mà ít ra cũng là một tập sách nhiều trăm trang, nhưng điều đó ngày nay quả thực không nên hay cũng không cần thiết. Do đó, nếu một đại thi hào như tầm cỡ Nguyễn Du mà vẫn cho tuyệt tác phẩm thiên tài Truyện Kiều có một không hai của mình chỉ nhằm mua vui trong một vài trống canh, thì bài viết nhỏ nhoi này thật có đáng sá gì đâu, mà chỉ là một bài viết theo kiểu vô công ngồi rồi, để trao đổi với bạn bè có khi rãnh rỗi nhằm cùng xem, và để mọi người nào nếu đọc được cũng có thể tùy nghi nhận định hoặc sử dụng.

Đà Lạt, sáng tinh mơ 16/01/2011
VÕ HƯNG THANH

Bàn về khái niệm “Tổ quốc XHCN” của người cộng sản VN


Để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
Tại sao phải đặt lại vấn đề “Tổ quốc”.

Tổ quốc XHCN
“Tổ quốc” là một khái niệm rất quen thuộc trong ngôn ngữ Việt Nam. Đại tự điển tiếng Việt[1] định nghĩa “Tổ quốc” là “Đất nước, gắn liền với bao thế hệ ông cha, tổ tiên của mình: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam của chúng ta.”
Vấn đề tưởng như rất đơn giản nhưng lại không đơn giản!
Từ khi chủ nghĩa cộng sản Mác-Lênin du nhập vào Việt Nam, khái niệm “Tổ quốc” được hiểu một cách hoàn toàn khác với lối hiểu thông thường.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” như sau:
Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, nhân dân Việt Nam ta luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình[2].
Quan điểm này được những người cộng sản Việt Nam coi là nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong truyền thống đó, ông Nguyễn Phú Trọng, GS TS Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhận định về khái niệm “Tổ quốc” như sau:
Khái niệm bảo vệ Tổ quốc cũng được xác định đầy đủ hơn: bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, bảo vệ sự nghiệp đổi mới…[3]
Vì Nguyễn Phú Trọng là nhân vật quan trọng trong giới lãnh đạo Đảng CSVN, chúng ta cần giải mã và làm sáng tỏ khái niệm “Tổ quốc” mà Hồ Chí Minh đã rao truyền; đồng thời xét đến những hệ lụy từ việc định nghĩa “Tổ quốc” mà không có “ông cha, tổ tiên của mình” qua khái niệm “bảo vệ Tổ quốc” đã được “xác định đầy đủ hơn” của Nguyễn Phú Trọng.
Khái niệm “Tổ quốc” của người cộng sản
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Marx tuyên bố là “người vô sản không có tổ quốc”.[4] Nhưng sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, dưới sự lãnh đạo của Lenin, Đảng Cộng sản thiết lập chính thể Sô-viết tại Nga, và Lenin đã bổ sung ý niệm “người vô sản không có tổ quốc” của Marx bằng khái niệm “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Có nghĩa là từ khi có Cách mạng tháng Mười, người vô sản mới có được “Tổ quốc”, đó là Liên Xô.
Lenin giải thích khái niệm Tổ quốc như sau:
Tổ quốc là một sản phẩm cần thiết, và mô hình không tránh được, trong thời đại phát triển xã hội của giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân không thể lớn mạnh, không thể trưởng thành, không thể tập trung sức mạnh, trừ khi “họ xây dựng họ thành một “Tổ quốc”, mà không trở thành dân tộc [national] (dù không phải theo ý nghĩa của giai cấp tư sản).[5]
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo Lênin là tổ quốc của người vô sản ở khắp nơi trên thế giới, không gắn liền với đất đai của tổ tiên cha ông và không chấp nhận sự tồn tại của các giai cấp khác trong xã hội.
Theo trung tướng PGS, TS Nguyễn Tiến Bình thì:
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dẫn đến sự ra đời của Tổ quốc XHCN – một Tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại được đặc trưng bởi chế độ xã hội XHCN, trong đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ xã hội đồng thời làm chủ Tổ quốc.[6]
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa này đã phủ định khái niệm Tổ quốc kiểu cũ, là loại Tổ quốc của giai cấp tư sản luôn luôn gắn đất nước, gắn liền với bao thế hệ ông cha, tổ tiên của mình.
Mâu thuẫn về “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”
Trung thành với hai tổ quốc không phải là điều khó. Khó là khi quyền lợi của hai tổ quốc đó mâu thuẫn với nhau.
Trường hợp mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc là một bài học đáng để ý.
Sau khi cướp chính quyền ở lục địa Trung Hoa, Mao sớm hiểu rõ khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của Liên Xô chỉ là cái bánh vẽ. Mao thấy được âm mưu của Liên Xô dựa vào khối XHCN để trở thành một đế quốc mới. Do đó, Mao không ngần ngại vứt khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của Lenin vào sọt rác, quay ra chống lại Liên Xô và tố cáo Liên Xô theo chủ nghĩa Sô-vanh nước lớn để áp chế các nước nhỏ. Mâu thuẫn giữa hai nước đàn anh XHCN đã đưa đến những đụng độ biên giới đẫm máu từ 1959 và kéo dài cho đến ngày tàn của Liên Xô năm 1991.
Trường hợp của Đảng CSVN và Trung Quốc cũng là một bài học đáng để ý.
Trong thời gian tranh chấp giữa Trung Quốc và Liên Xô, do nhu cầu tiếp nhận viện trợ của cả Liên Xô và Trung Quốc để phục vụ chiến tranh nên Đảng CSVN phải cố gắng đi dây giữa hai lằn đạn, thân thiện với cả hai bên cho đến khi chiến tranh chấm dứt.
Sau năm 1975, Đảng CSVN quyết định đi hẳn vào quĩ đạo Liên Xô và quay mặt chống Trung Quốc. Hậu quả là Việt Nam bị sa lầy vào chiến trường Campuchia khi Trung Quốc gia tăng viện trợ cho Pol Pot để chống lại tập đoàn Hunsen do Việt Nam bảo hộ. Đồng thời Trung Quốc mở cuộc chiến biên giới Việt-Trung năm 1979, để dạy cho Đảng CSVN một bài học về thái độ phản trắc của Việt Nam.
Tái xây dựng “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” sau khi Liên Xô sụp đổ
Sự phá sản toàn diện của Liên Xô năm 1991 là một biến cố bất ngờ đối với Đảng CSVN.
Trong những giây phút hấp hối của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Xô, Đảng CSVN đã tìm đến kẻ cựu thù là Trung Quốc để tìm cách bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong buổi họp của Bộ Chính trị ngày 10/4/1990 với sự hiện diện của Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên, Đảng CSVN đã thấy rằng con đường duy nhất để cứu vãn tổ quốc xã hội chủ nghĩa là phải liên kết với Trung Quốc.[7]
Nhưng làm thế nào Đảng CSVN có thể liên kết với Trung Quốc với một hiến pháp ghi đích danh Trung Quốc là kẻ thù của dân tộc? Xin thưa, phải tự tạo ảo tưởng.
Cái ảo tưởng đó được Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, giải thích như sau:
Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới.[8]
Nói theo ngôn ngữ của Hồ Chí Minh, chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội thế giới của Bộ Chính trị Đảng CSVN thời điểm 1990 là Trung Quốc sẽ thay thế Liên Xô để làm “Tổ quốc thứ hai” của người cộng sản Việt Nam. Nhưng từ năm 1950 Trung Quốc đã không còn tin vào “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của Liên Xô. Và sau khi thành công với bốn hiện đại hoá, Trung Quốc trở thành một ác quỉ ở Á châu.
Hậu quả của cái ảo tưởng ôm lấy một con ác quỉ để làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới đã đem lại bao nhiêu thảm hoạ cho dân tộc Việt Nam.  Với thái độ hèn nhát thần phục Bắc Kinh, Đảng CSVN đã mở đường cho Trung Quốc ào ạt chiếm đất chiếm biển của Việt Nam qua những hiệp định phân chia biên giới, hiệp định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, và cuộc xâm lăng quân sự trên biển Đông Nam Á để chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc trắng trợn bắn giết ngư phủ Việt Nam ngoài khơi Quảng Nam, Quãng Ngãi, thiết lập tô giới Bauxite tại Tây Nguyên, khai thác hàng ngàn hécta rừng ở các tỉnh biên giới, và ngang nhiên thiết lập các làng mạc Trung Quốc tại Việt Nam.
Vài suy nghĩ
1. Từ “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” đến “Đề cương văn hoá” 1943
“Đề cương văn hoá” năm 1943 là văn kiện quan trọng đầu tiên của Đảng CSVN do Trường Chinh soạn thảo và được coi là kim chỉ nam định hướng cho cuộc cách mạng xã hội tại Việt Nam dưới “ánh sáng” của tư tưởng Mác-Lênin. Luận về Tính chất của nền văn hóa mới Việt-nam, Trường Chinh viết như sau:
Văn hóa mới V. N. do đảng C. S. Đ. D. lãnh đạo chủ trương chưa phải là văn hóa xã hội chủ nghĩa hay văn hóa Xô-viết (như văn hóa Liên xô chẳng hạn)[9]
Cụm từ chưa phải là phải được hiểu là tình trạng chưa thành hình của một cái gì sẽ thành trong tương lai. Văn hoá mới là khởi điểm và văn hoá Sô-viết là đích đến. Ở đây Trường Chinh xác định rằng nền văn hoá mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là sẽ trở thành văn hoá Sô-viết trong tương lai.
Để đảm bảo quá trình này, theo Trường Chinh, “Văn hóa mới V. N. là một thứ văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung.”[10]
Trong khi người Việt chưa biết hình dáng của văn hoá tân dân chủ như thế nào mà Đảng CSVN đã định hướng lấy văn hoá dân tộc làm bình phong cho một thứ văn hoá mới thì quả lả một cuộc phiêu lưu để xoá sổ văn hoá dân tộc. Tâm thức nô lệ văn hoá ngoại bang bắt nguồn từ đây.
Hậu quả của tâm thức nô lệ này là văn hoá dân tộc vốn đã bị xâm thực bởi văn hoá Liên Xô trước đây, đang bị bào mòn bởi văn hoá Trung Quốc dưới nhãn hiệu văn hoá xã hội chủ nghĩa hay tân dân chủ. Điều này giải thích tại sao kỷ niệm 1000 năm Thăng Long của dân Việt năm 2010 mang đậm tính chất văn hoá Trung Quốc.
2. Việt điểu sào nam chi
Khi bàn về câu chuyện “Không quên cái cũ”, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc trong Cổ học tinh hoa viết như sau:
Ôi! Cáo chết ba năm quay đầu về núi, con người ta, dù cho lông bông xiêu bạt đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không sao quên được gốc tích xứ sở mình. “Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi”. Con ngựa rợ Hồ (phía bắc nước Tàu) thấy gió bắc còn cất tiếng kêu, con chim đất Việt (phía nam nước Tàu) chọn cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà lại quên được nguồn gốc ư.[11]
Tổ quốc là gốc tích xứ sở mình, gắn liền với đất nước của ông bà tổ tiên mình. Chim Việt thì đậu cành nam. Nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam để nói lên tấm lòng suốt đời hướng về tổ quốc Việt Nam của ông. Cáo, ngựa, chim còn biết nhớ đến nguồn gốc huống chi là con người.
Thế nhưng trong bản di chúc để lại cho hậu thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết như sau:
Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.[12]
Ước muốn đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin khi chết là ước mơ chính đáng của người cộng sản.   Nhưng lịch sử dân tộc sẽ phán xét Hồ Chí Minh để xem ông coi Tổ quốc nào là quan trọng.  Đồng thời lịch sử sẽ xét xem mục đích cuộc đời cách mạng của ông là đem lại sự giàu có thịnh vượng và hạnh phúc cho Tổ quốc Việt Nam như Minh trị Thiên hoàng đã làm cho Nhật Bản, hay đem máu xương của thanh niên Việt Nam phục vụ cho Tổ quốc xã hội chủ nghĩa dưới ngọn cờ dân tộc.
Kết luận
Sau khi thoát ra khỏi chế độ thực dân của Pháp, dân tộc Việt lại bắt đầu một giai đoạn vong thân với những khái niệm mơ hồ về Tổ quốc và văn hoá dân tộc.
Đã đến lúc người yêu nước phải vứt bỏ khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” để trở về với Tổ quốc Việt Nam và phục hoạt văn hoá dân tộc. Phải dứt khoát xác định không có Tổ quốc nào đứng trên Tổ quốc Việt Nam, và Tổ quốc Việt Nam phải trên hết.
Đã đến lúc người Việt Nam chân chính trong đảng hay ngoài đảng phải dứt khoát vứt “Đề cương văn hoá” của Trường Chinh vào sọt rác vì nó chính là nọc độc hủy hoại văn hoá Việt Nam, nô lệ hoá văn hoá Việt Nam suốt 65 năm nay bằng văn hoá ngoại bang. Không có thứ văn hoá tân dân chủ hay xã hội chủ nghĩa nào có thể thay thế được văn hoá ngàn đời của dân tộc Việt Nam.
Chỉ có một cuộc cách mạng chân chính duy nhất mà dân tộc Việt Nam ước mơ từ hơn một thế kỷ qua, đó là cuộc cách mạng phục hưng dân tộc và phục hoạt văn hoá để đưa dân tộc Việt Nam cất cánh ở thế kỷ 21.
Phải dứt khoát xác định, ngoài nhân dân Việt Nam, không có một ngoại bang nào là chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam. Chỉ có những cuộc cách mạng phản dân tộc mới phải dựa vào sức mạnh của ngoại bang và kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
Đối với người dân Việt Nam chỉ có một Tổ quốc duy nhất, đó là Tổ quốc Việt Nam. Không có cái gì gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, “Tổ quốc Liên Xô”, “Tổ quốc phong kiến”, hay “Tổ quốc của giai cấp tư sản”. Tổ quốc Việt Nam là Tổ quốc của mọi giai cấp, kể cả giai cấp tư sản hay vô sản. Tất cả các khái niệm Tổ quốc khác đều là bịp bợm. Cái gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” hiện nay chỉ là vỏ bọc của “Đại Hán thiên triều chủ nghĩa” của Trung Quốc để cướp đất cướp biển và triệt tiêu văn hoá của Việt Nam.
Khi có mâu thuẫn với các nước khác, người Việt phải đứng trên lập trường của dân tộc Việt để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến lợi ích và quyền lợi của dân tộc.
Chỉ có lúc đó, Việt Nam mới thực sự có độc lập chính trị và bảo toàn được đất nước và phục hưng được nền văn hoá của tổ tiên, cha ông để lại.
Chỉ có lúc đó, vấn đề Biển Đông, Hoàng Sa – Trường Sa mới được giải quyết thỏa đáng.
Dallas 1 tháng 10-2010
Bài nhận được từ tác giả.
—————————————————-
Ghi chú:
[1] Đại từ điển tiếng Việt, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông Tin ấn hành năm 1998, trang 1663
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 11, trang 166
[3] Nguyễn Phú Trọng: “Sự phát triển nhận thức của Đảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay”, Sài Gòn Giải phóng ngày 4 tháng 5 năm 2010
[4] C. Mác và Ph. Ăng-ghen, toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 623
[5] Roman Rosdolsky, The Workers and the Fatherland, A Note on a Passage in the “Communist Manifesto“
[6] TS Nguyễn Tiến Bình, “Cách mạng Tháng Mười và một số vấn đề chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sản Số 19 (139) năm 2007
[7] Trần Quang Cơ: Hồi ức và suy nghĩ, trang 61
[8] Trần Quang Cơ, sách đã dẫn, trang 61
[9] Trường Chinh, “Đề cương văn hoá” 1943
[10] Trường Chinh, bài đã dẫn
[11] Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc: “Không quên cái cũ”, Cổ học tinh hoa
[12] Di chúc Hồ Chí Minh

Nói thêm một lần cho dứt khoát về khái niệm “Cộng Sản”


Để cho mọi người dễ hiểu và đơn giản vấn đề nhất, trước tiên cần nói khái niệm “cộng sản” gồm hai thành tố hợp lại, tức “cộng” và “sản”. Cộng là kết chung lại, hay là của chung của mọi người. Sản là tài sản, tức của cải, cả phục vụ sinh hoạt đời sống, cả nhằm để làm ra của cải mới, tức các công cụ và tư liệu sản xuất. Đối với Mác, chính yếu tố sau mới là yếu tố quyết định mà không phải là cái trước. Bởi đời sống xã hội thì phải có sản xuất, tiêu dùng chỉ là kết quả của sản xuất, cho nên chính tư liệu hay công cụ sản xuất mới là quan trọng, không phải chỉ có vật dụng sinh hoạt. Cộng sản hiểu theo Mác là phải có nền sản xuất chung của toàn xã hội, tức là của chung tất cả mọi người, không còn quyền tư hữu trong sản xuất, tất cả đều làm việc tập thể, và mọi tư liệu, công cụ sản xuất đều là tài sản chung của toàn xã hội.
Thật ra quan điểm như thế không mới, cũng không phải chờ đến Mác mới có, mà trước Mác nhiều nhà tư tưởng chủ trương quan niệm xã hội cộng sản cũng cùng nghĩ như vậy. Tuy nhiên Mác cho rằng những quan niệm như thế chưa đủ, bởi nó chưa lý giải được về mặt khoa học, nên đó mới chỉ là ước muốn, là ý chí thuần túy, chưa có cơ sở thực tế để thực hiện cho chắc chắn và kết quả, và ông gom chung lại đó là những tư tưởng cộng sản không tưởng. Như vậy theo Mác, chỉ có hai loại tư tưởng cộng sản, là quan niệm cộng sản không tưởng có trước Mác, và quan niệm cộng sản từ Mác trở đi là quan niệm cộng sản mà ông cho là quan niệm cộng sản khoa học, hay là chủ nghĩa cộng sản khoa học. Tại sao Mác bảo như vậy? Đây là điều mà rất ít khi người ta để ý. Đó là Mác tin tưởng tuyệt đối vào lý thuyết biện chứng (Dialektik) của Hegel. Chính như vậy, nên Mác cũng bảo lịch sử nhân loại là lịch sử của quy luật biện chứng, tức là đi theo công thức “Đề – Phản đề – Hợp đề”, có nghĩa giai đoạn sau mâu thuẫn với giai đoạn trước, phủ nhận giai đoạn trước, vượt lên giai đoạn trước, và cứ tiếp tục như vậy.
Nói một cách giản dị, cái sườn chung đó theo Mác trước tiên là xã hội cộng sản nguyên thủy, sau đó là xã hội tư sản, và cuối cùng là xã hội cộng sản khoa học theo Mác quan niệm. Xã hội cộng sản nguyên thủy tức con người chỉ có tài sản chung mà chưa có tài sản riêng, tức chưa có tư hữu. Giai đoạn ngược lại tiếp theo, là giai đoạn xã hội bắt đầu có tư hữu, giai đoạn cộng sản nguyên thủy tan vỡ để nhường bước cho giai đoạn này. Giai đoạn xã hội tư hữu cũng tiếp tục tiến hóa từ thấp đến cao, mà cao nhất là xã hội tư bản chủ nghĩa, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, để cuối cùng lên đến đỉnh cao nó phải tự tiêu diệt mà nhường chỗ cho xã hội cộng sản lại, nhưng đây là giai đoạn cộng sản cao hơn ý nghĩa cộng sản nguyên thủy ban đầu rất nhiều, và Mác cho đó là nền sản xuất lớn của xã hội cộng sản khoa học. Nói như vậy là rất gọn ghẽ, chính xác, và mọi người đều dễ hiểu. Nhất là từ ý niệm “biện chứng” của Hegel, Mác cho rằng nguyên lý tự mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn là định luật chung của mọi sự vật khách quan, trong đó xã hội cũng vậy, cho nên cái cốt lõi của phát triển lịch sử loài người chính là sự đấu tranh giai cấp.
Vậy thì không có lý thuyết biện chứng của Hegel cũng không có lý thuyết cộng sản khoa học của Mác, đây là điều mà phần lớn người ta ít lưu ý tới hay không nhận thức hết được. Có nghĩa theo Mác biện chứng là cái xương sống cốt lõi của ý nghĩa đấu tranh giai cấp, và đấu tranh giai cấp là cái xương sống cốt lõi của sự tiến hóa và phát triển xã hội. Cho nên theo Mác, đấu tranh giai cấp không phải chỉ là đấu tranh quyền lợi kinh tế bình thường của các giai cấp, nếu có thì đó cũng mới chỉ là cái hình thức, cái vỏ bề ngoài, các lý do, nguyên nhân, hay mục đích nông cạn bên trên, còn cái thâm sâu nhất, che giấu bên trong, ẩn tàng, chi phối dưới đáy chính là quy luật biện chứng phổ quát của lịch sử nói chung và lịch sử nhân loại nói riêng về mặt kinh tế xã hội. Bởi vậy, có nhiều người phê bình Mác, mà thật ra chỉ phê bình các hiện tượng hời hợt, nông cạn bên ngoài, cái bên trong họ không hề động tới được, đó chính là cái ý nghĩa của quy luật biện chứng, hay “phép biện chứng” của Hegel, mà nhiều người không ý thức hết. Có nghĩa cái quyết định mọi giá trị, ý nghĩa, cơ sở của lý thuyết Mác chính là nền tảng có thực hay không có thực của lý thuyết biện chứng mà không là gì hết. Kể cả khái niệm cộng sản khoa học cũng thế, nó không thể tồn tại độc lập với ý nghĩa của nguyên lý biện chứng, bởi đây theo Mác không phải chỉ là ý nghĩa tâm lý xã hội bình thường trong đời sống kinh tế, mà chính là ý nghĩa biện chứng về mặt triết học, mà lý thuyết của Hegel chính là ngọn ngành, chính là cái gốc.
Trong ý nghĩa đó, muốn phê bình rốt ráo và căn cơ nhất lý thuyết của Mác về mặt khoa học, chính là phê bình lý thuyết hay quan niệm biện chứng của Hegel về mặt triết học mà không là gì khác. Bởi vì cái bản lề, cái gốc, cái xương sống, cái cốt lõi mà không biết nó hiệu quả hoặc thực chất tới đâu, thì làm sao mà đánh giá được cái sản phẩm, cái kết quả, cái đưa lại của nó, đó chính là điều mà rất ít người quan tâm hay để ý đến. Ngay cả bản thân Mác, ông ta cũng chỉ thụ động tin vào lý thuyết biện chứng của Hegel mà không hề đặt thành vấn đề, phê phán nó, lật đi lật lại nó bao giờ cả. Đây gần như một sự cả tin, một sự tin tưởng mù quáng của Mác, nếu có thể nói được như vậy, cho nên ngay từ đầu nó chỉ thuần túy là niềm tin, giống như một tín điều mà không hề được đặt thành cơ sở khoa học khách quan nào cả. Và về sau cũng vậy, người ta cứ tiếp tục mặc nhiên tin vào chính niềm tin đó của Mác, ngay cả bản thân Lênin và mọi người đi theo sau ông ta cũng vậy, có nghĩa chỉ là một niềm tin dây chuyền, một truyền bá dây chuyền, cho nên thật sự nó chưa phải hẳn là ý nghĩa khoa học mà Mác đã xác quyết.
Thế nên về sau, sau khi nhà nước Liên xô được thành lập nên, bao nhiêu Viện nghiên cứu Mác Lênin được lập ra, bao nhiêu nhà khoa bảng, học giả, bao nhiêu công trình này nọ, ngốn biết bao ngân sách của xã hội, thế nhưng cũng chỉ biết triển khai, phát huy, quảng diễn, mở rộng theo một chiều, tức cũng chỉ biết vuốt đuôi mà không hề trở về cái gốc, không dám phân tích, mổ xẻ về cái gốc, hoặc không có khả năng, hoặc không được phép, và thế là sự truyền bá không phải là sự truyền bá khoa học mà thật sự chỉ là sự truyền bá tín điều, sự truyền bá niềm tin, mà nước nào cũng có, kể từ đó về sau cho đến khi Liên xô và cả khối Đông Âu sụp đổ. Nói như vậy để thấy rằng không biết ngày nay các nước phương Tây có đặt lại ý nghĩa vấn đề này chưa, nhưng các nước khác, kể cả Việt Nam đến nay cũng y như vậy. Tức chưa thấy ai nghiên cứu lý thuyết biện chứng của Hegel thật là sâu xa, toàn diện, có tính quyết định, cả về mặt khoa học khách quan lẫn về mặt tư duy triết học. Điều đó cho thấy mọi sự hiểu về học thuyết Mác từ xưa đến nay thật sự chỉ hoàn toàn bề nổi, hiểu về những cái râu ria mà chưa thật sự là cái cốt lõi, hiểu như một niềm tin, một tín điều, một tôn giáo, mà chưa thật sự hiểu một cách độc lập, tự do, khoa học, khách quan về mặt thực tế cũng như về mặt lý thuyết. Có nghĩa chỉ có khuynh hướng chính trị lấn át cả khuynh hướng khoa học và khuynh hướng tư duy triết học đúng nghĩa, đó quả thật là điều rất vô lý và cũng rất đáng tiếc.
Điều này ngay cả tác giả bài viết này cũng chỉ mới thực hiện một cách rải rác khi nhận định về nguyên lý biện chứng của Hegel mà chưa hề có tác phẩm chuyên sâu, tập trung toàn diện về ý nghĩa này. Lý do vì điều kiện thực tế khách quan của bản thân còn chưa cho phép, thế thôi, mặc dầu trong nhiều bài viết cũng đã đề cập rời rạc và bao quát đến khá nhiều. Ngay như trước đây, hình như vào các năm 1993 – 1995 của thế kỷ trước, ông Hà sĩ Phu khi ấy đã viết hai bài viết dài chưa từng được in ra, bài “Chia tay ý thức hệ” và bài “Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ”. Cả hai bài này nhằm chủ yếu phê phán thực tiễn nhiều vấn đề của lý thuyết Mác về nhiều mặt, nhưng vẫn chưa hề động đến chính cái cốt lõi như trên kia đã nói. Điều này dễ hiểu, bởi ông Hà Sĩ Phu vẫn là một người hoạt động thực tiễn, lãnh vực chuyên sâu của ông là lãnh vực sinh học mà không phải lãnh vực triết học hay khoa học xã hội. Dù sao những ý kiến của ông Phu về các mặt thực tiễn cũng rất đáng lưu ý. Tuy nhiên có điều là chính văn của ông ta khi ấy không hề được cho in ra hay phổ biến, mà chỉ thấy theo như ông cho biết, lúc ấy nhan nhản trên các báo (có đến ba mươi công trình hoặc bài viết) nhằm lên án, đả kích ông thậm tệ. Tất nhiên những bài này lúc đó là đả kích ông là theo kiểu giọng chính trị hoặc giáo điều, nó chỉ mang tính cách nhiệm vụ nhà nước của các tác giả đó mà thực chất không có ý nghĩa khoa học khách quan, chính xác là bao nhiêu. Nhưng điều đáng nói nhất là trong những bài đả kích ông Hà Sĩ Phu có cả ông Trần Đức Thảo, một loại cây đa, cây đề lâu năm, uy tín của nền học thuật Việt Nam, nhưng chỉ rất tiếc các bài viết của ông Thảo cũng chẳng có gì sâu sắc, nghiêm túc, mà cũng chỉ nông cạn, hời hợt như chính quan điểm giáo điều mà chính bản thân ông vẫn luôn luôn thể hiện. Có nghĩa chất tri thức của ông Thảo chắc chắn là có nhiều, nhưng chất trí tuệ của ông thì hình như cũng chưa đáng nói lắm.
Vậy thì trở lại vấn đề, về mặt tài sản như là công cụ phục vụ sinh hoạt đời sống, rõ ràng việc “cộng sản” là luôn luôn bất tiện mà ai cũng rõ. Bất kỳ vật dụng hàng ngày nào, có như là của riêng thì vẫn tiện lợi rất nhiều hơn. Bởi tài sản hay công cụ luôn luôn chỉ là phương tiện phục vụ đời sống mà không hề là mục đích của chính đời sống mà mọi người muốn có. Tính chất của ý nghĩa này là tài sản phải luôn luôn được thuận tiện, được quản lý, bởi vì tính cách sử dụng và tính cách hao mòn của nó, nếu nó được đặt dưới chế độ “công sản” của nhiều người hay “cộng sản” của cả nhóm người nào đó, thì quả thật không ai muốn, vì nó sẽ gây bao chuyện bực mình, phiền phức và bất tiện. Cho nên chỉ còn ý nghĩa “cộng sản” về tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất là đáng nói tới nhất. Tất nhiên, điều này mà ngày nay còn đề cập, sẽ có nhiều người la toáng lên rằng “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Nhưng họ đâu biết chính quan niệm này vẫn còn ăn sâu rất nhiều trong đầu óc của khá nhiều người ở một số các quốc gia hay ở những vùng còn lại nào đó trên thế giới giống như một niềm tin mạnh mẽ, một ý thức khó phai mờ, một sự khẳng định như đinh đóng cột, nên cần phải soi sáng, phân tích ra, mở mang ra, mới mong có được những suy nghĩ cụ thể đích thực trong chiều sâu, mới thật sâu lắng trong tâm hồn, trong sự nhận thức khách quan, mà không thể chỉ là niềm tin từ ngoài, hoặc những định kiến mang tính mơ hồ, hay huyền hoặc nhất định nào đó.
Chính vì lý do đó mà một lần nữa mọi người hãy cùng nhau phân tích lại một lần nữa, làm sao cho dứt dạt, cho quyết định, cho dứt khoát, để không còn mơ hồ, hoang mang, đắm đuối, hoặc chỉ có tính cách hiểu lơ mơ hay chưa rõ rệt nữa. Thật vậy, công cụ sản xuất không bao giờ chỉ sinh ra và ổn định một lần, mà luôn luôn tiến triển theo thời gian. Đó luôn luôn là kết quả của sáng tạo, là thành quả khoa học kỹ thuật của con người, nó phát triển theo lịch sử, kết tinh của lao động không ngừng và của trí tuệ toàn xã hội mà không phải chỉ của giai cấp nào. Sự đấu tranh giai cấp nếu có chẳng qua chỉ là sự giành giật nhất thời về các mặt quyền lợi cụ thể nào đó, mà không phải là một tính cách hay một khái niệm mơ hồ, bất biến và bao quát như Mác nghĩ. Điều đó quả thật cũng giống như nhiều người cùng đắp chung một cái mền. Cùng đắp mền có thể giành qua, giật lại, song cũng chỉ cái mền đó, có thể làm nó sờn đi, rách nát nếu không được thay thế bởi cái mền khác. Thế thì ý nghĩa của vấn đề là phải luôn luôn có các cái mền mới thay vào theo năm tháng mà không phải chỉ cái mềm cũ vá đùm vá đụp và cùng nhau trành qua, xéo lại hoài. Sự đấu tranh giai cấp nếu có và sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng vậy. Chính sự phát triển khoa học kỹ thuật mang đến các công cụ, tư liệu sản xuất mới không ngừng mà không phải đấu tranh giai cấp tạo ra chúng. Đó là điều suy nghĩ đơn giản nhất mà rất tiếc có rất nhiều người không chịu thấy.
Nhưng khoa học kỹ thuật phát triển là do đâu, là do tiến bộ lịch sử, do phát huy chất xám của các nhà khoa học kỹ thuật, do sự tìm tòi, nghiên cứu của trí tuệ, của chuyên môn, của mọi ngành khoa học và kỹ thuật hợp lại, không phải chỉ là sản phẩm thuần túy của giai cấp công nhân hay nhân dân lao động như nhiều người vẫn cứ tụng theo kiểu giáo điều. Thật thì, khoa học luôn luôn là sự khổ công nghiên cứu của trí tuệ, nhiều khi chỉ do sự tình cờ ngẫu nhiên mà khám phá ra, còn đầu tư sản xuất, kinh doanh các sản phẩm đó lại là chuyện khác. Cho nên giai cấp công nhân nhiều lắm cũng chỉ là sự thực hành về kỹ thuật, không phải là những người sáng nghĩ ra các máy móc thiết bị như một số người lầm tưởng. Tất nhiên các nhà khoa học, các nhà trí thức vẫn có thể xuất thân từ mọi thành phần khác nhau trong xã hội, nhưng khi đã là những người chuyên môn, những người trí thức, họ lại thuộc về chính thành phần mới, về thế giới mới của chính họ mà không còn trở về với nguồn gốc phát sinh của họ nữa. Đây cũng chính là ý nghĩa giai cấp nói chung, tức khái niệm giai cấp, giai tầng xã hội chỉ là ý niệm khái quát hóa, nội dung và hình thức của nó luôn luôn biến chuyển, không bao giờ cố định để mang tính chất đấu tranh giai cấp bất biến, thường xuyên như Mác vẫn tưởng tượng. Chính nhiều cá nhân cùng điều kiện lao động hay đời sống tạo thành các giai cấp, giai tầng xã hội, mà không phải giai cấp như một phạm trù tiền chế, bất biến kiểu bản thể triết học một cách trừu tượng như quan điểm “biện chứng” nghĩ tưởng.
Bởi thế trong thời đại tin học ngày nay, ý nghĩa của khoa học kỹ thuật quyết định xã hội hoàn toàn cho thấy điều đó. Một thập niên ngày nay có thể phát triển kết quả bằng cả hàng trăm năm trước, thế nhưng các giai cấp thì vẫn còn y đấy, điều đó cho thấy cái gì là quyết định. Vả chăng lịch sử phát triển xã hội cũng giống như một cái cây. Một cái cây luôn luôn phát triển đầy đủ mọi cành, nhánh của nó, mọi lớp lá luôn luôn thay đổi của nó, không có cái cây nào chỉ có vài ba bộ phận chính yếu, bất biến họp lại, giống như cây dù chỉ có cán và lớp vải bọc dù, hoặc nhiều lắm cũng chỉ thêm các kèo dù và cái chốt bật lên bật xuống. Đó toàn là những ý nghĩa sơ đẳng nhất mà tại sao nhiều người không thấy. Hay nói về sự mâu thuẫn, đối lập và giải quyết đối lập, vậy thì sự tồn tại đối kháng của tính phái nam nữ, đực cái trong xã hội loài người và trong sinh vật, có bao giờ tự tiêu diệt hay mất đi được chăng. Sự tồn tại của hai cực thanh nam châm hay sự tồn tại cực bắc nam của địa cầu có bao giờ giải quyết và phát triển khác đi được chăng hay chúng vẫn cứ luôn luôn như thế. Những ví dụ này thì có nhiều không bao giờ có thể nói hết. Ngay cái sai của Hegel là chủ quan cho rằng hệ thống của ông là đỉnh cao của tri thức nhân loại. Ông còn cho vua Phổ lúc ấy như hình ảnh của Tinh thần nhập thế, như ý nghĩa rõ ràng của sự phát triển lịch sử thế giới. Đến Mác lại cũng tự cho lý thuyết mình là chân lý tuyệt đối, là đỉnh cao của trí tuệ loài người, và giai cấp công nhân theo ông cũng là biểu trưng của lịch sử, thật chẳng khác gì ông thay vào đó hình ảnh vua Phổ của học thuyết triết học Hegel ngày xưa.
Cho nên ý niệm về xã hội cộng sản nguyên thủy thật ra chỉ là ý niệm gán ghép. Bởi vì lúc đó con người còn sống trong tình trạng sơ khai, làm gì có ý nghĩa tài sản riêng đâu mà bảo là cộng sản nguyên thủy. Gán nội hàm của khái niệm này vào nội hàm của khái niệm khác là hoàn toàn phi lô-gích, là hoàn toàn không đúng. Điều đó cũng giống như Mác gán khái niệm biện chứng mang tính chất duy tâm của Hegel vào nội dung mang tính chất duy vật của mình, cũng là biến cải tùy tiện nội hàm, như râu ông nọ cắm vào cằm bà kia, làm thế nào mà có thực chất hay hợp lý được. Cũng từ đó để thấy rằng quy luật đấu tranh giai cấp qua các hình thái xã hội mà Mác nghĩ ra là hoàn toàn cường điệu, thậm chí là thêu dệt. Bởi vì khi khái niệm biện chứng đặt sai chỗ, nội hàm bị tráo đổi, thì các ý nghĩa về biện chứng duy vật cũng vô nghĩa và biện chứng lịch sử cũng vô nghĩa luôn. Như thế thì còn gì các hình thái ý thức xã hội, làm gì có các hình thái kinh tế xã hội nữa, làm gì có các ý nghĩa về xã hội cộng sản khoa học vốn phải xuất phát và bắt nguồn từ đó nữa. Cho nên nếu ai đọc kỹ những mô tả của Mác về bản thân ý nghĩa của xã hội cộng sản khoa học trong tương lai đều thấy là hết sức không tưởng, hoàn toàn phi lý và không thực tế. Có nghĩa người ta không hoàn toàn đọc Mác, hoặc đọc mà không có ý thức nhận định và phê phán, tức đọc mà không có trí tuệ thì mới hoàn toàn tin theo một cách thụ động và mê hoặc như thế. Ngay như Mao Trạch Đông chẳng hạn, ông ta đã từng nói trí thức chẳng đáng một cục phân, còn ông thì cũng chẳng có nhiều thì giờ để đọc Mác nữa. Đấy, ý nghĩa của kiểu chủ thuyết truyền miệng phần lớn nó là như thế.
Chẳng hạn các nước phương Đông, khi nhà nước Liên xô thành lập, họ phần lớn chỉ là nông dân các nước hoặc các trí thức còn có nhiều mặt hạn chế lúc bấy giờ được gởi tới, được thu hút để đến đó học tập. Song thực tế đó chỉ là các khóa đào tạo chính trị ngắn ngày, thiên về các kiểu lý luận mà ngày nay được gọi là mì ăn liền, đâu có ý nghĩa gì về mặt khoa học, mặt học thuật, hay mặt nghiên cứu. Rồi cứ thế triết học truyền miệng trở thành áp lực chính trị, áp lực chính trị trở thành vũ lực chuyên chính đúng theo tinh thần của Mác, cuối cùng chỉ còn là những công nhân triết học, những công chức triết học, những cán bộ triết học có mặt ở khắp nơi, khắp mọi nước, mà không còn là những nhà khoa học, những nhà tư duy đúng nghĩa hay cần thiết cho sự phát triển của đất nước hoặc nhân loại mà nhiều người mong muốn, cho dầu có bao nhiêu Viện nghiên cứu, bao nhiều chương trình, kế hoạch đào tạo trong thực tế đã được lập ra. Điều này cứ rà soát lại chính đất nước Liên xô cũ, các nước khối Đông Âu cũ thì hoàn toàn thấy rõ. Chính trị đã thay cả triết học và khoa học đúng nghĩa, chính trị cũng thay cả kinh tế và xã hội là điều mà ngày nay mọi người đã hoàn toàn rõ. Cho nên thay vì xã hội hóa chính trị, tức dân chủ, tự do hóa xã hội, cả một chiều hướng ngược lại đã được áp dụng cho nhiều vùng, nhiều bộ phận của nhân loại, tức chính trị hóa xã hội, đưa xã hội vào trong các chế độ tổ chức tập thể một cách máy móc mà ngày nay người ta gọi là chủ nghĩa xã hội trại lính mà ai cũng rõ.
Tuy nhiên nói như vậy cũng chẳng qua là ăn cơm mới nói chuyện cũ, bởi vì ngày nay mọi nước và toàn thế giới đã hoàn toàn đổi thay. Nói như thế chỉ cốt nhằm ôn cố tri tân, soát lại chuyện xưa để biết chuyện ngày nay mà thôi. Tức là ngày nay thế giới đã hội nhập toàn cầu, các quốc gia kiểu dạng Mác xít cũ cũng đã hoàn toàn đổi mới, nên cũng chẳng có điều gì nghiêm trọng đáng nói nữa. Tuy nhiên cũng còn có một điều, là các lớp đào tạo Mác xít ở Liên xô ngày xưa, có lẽ lúc đó trình độ dân trí nói chung còn thấp quá, cho nên khi họ trở về nước để làm cách mạng, để cầm quyền, lập tức được tôn lên kiểu thần thánh, không những chỉ cá nhân mà cả tập thể đi theo họ, tức ngày nay được gọi chung trong khái niệm thần thánh hóa lãnh tụ, thần thánh hóa lãnh đạo mà ai cũng biết, giống như Bắc triều tiên, Cuba, Trung Quốc, mà hình ảnh của Kim Nhật Thành, của Fidel Castro, của Mao Trạch Đông, ngoài chuyện có khi cha truyền con nối, anh truyền em nối, ông truyền cháu nối, còn đã trở thành như những ông thánh sống muôn đời mà ngày nay ai ai cũng rõ. Nhưng người ta lại không nghĩ rằng ý nghĩa của cách mạng mà làm như vậy là phản cách mạng, bởi vì trong xã hội cũ cũng có ai được tôn làm thánh sống như vậy đâu. Đó là chưa nói suy tôn cá nhân cũng có nghĩa là hạ giá dân tộc, hạ giá xã hội, hạ giá đất nước, giống như muốn nói trong xã hội chẳng có gì đáng sá hơn nữa, cả quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, như thế thì còn gì là phát triển, còn gì là triển vọng, còn gì là các giá trị, mục tiêu hay ý nghĩa cao quý nào khác để mà hướng tới nữa. Thật sự, đó chính là tính cách coi thường xã hội, vô trách nhiệm đối với xã hội, với mọi người mà nhiều người không thấy.
Cho nên cũng cần nói thêm một chút. Như cái hạt cây chẳng hạn, lúc đầu chỉ là một, tức là cái chung. Nhưng tới khi nẩy mầm, chính mọi cái riêng đã phát triển ra, nhân ra, đâu còn cái gì gì chung như ban đầu nữa. Đó cũng là quy luật chung của muôn vật, tức sự phát triển luôn luôn là sự chi tiết hóa, cụ thể hóa, phân liệt hóa, không hề là con đường hay quy trình ngược lại. Gia đình con người cũng vậy, lúc đầu tài sản vợ chồng là tài sản chung, tức là “cộng sản”, cùng ăn chung, lo chung. Nhưng khi con cái đã trưởng thành, chúng lại bắt buộc phải có của riêng, rồi khi cha mẹ chết đi, tài sản chung đó lại phải phân chia ra, đó chỉ là quy luật và yêu cầu khách quan, làm gì có chuyện dồn chung, gộp chung của mọi người lại nữa. Đó là chưa nói chuyện cha chung không ai khóc kiểu quản lý tập thể, làm ăn tập thể, với những hậu quả nhãn tiền trong thời kỳ bao cấp, thời kỳ kinh tế tập thể mà hầu như ai cũng đã từng kinh qua, đã từng trải nghiệm, và cũng từng rõ cả. Cho nên khi Hegel lý luận hạt và cây là sự biện chứng, tức hạt tự phủ nhận mình để cho ra cây và cứ tiếp tục phủ nhận như vậy. Nhưng cuối cùng tại sao cây lại cho ra hạt, chính Hegel cũng bí, không thể giải thích được, và ông cho đó là quy luật vòng tròn của tự nhiên. Tức qui luật biện chứng của Hegel ban đầu là một, nhưng sau lại tách hai, thành ra biện chứng vòng tròn của tự nhiên, và biện chứng đường thẳng của lịch sử con người, quả cũng là điều chẳng ai muốn cãi. Nhưng điều đó dù sao cũng còn có lý hơn Mác, bởi vì nó duy tâm, tức tin tưởng có nội lực khách quan tự nhiên, siêu hình nào đó. Trong khi đó Mác lại hoàn toàn duy vật, tức không tin tưởng có bất kỳ một nội lực nào, thế mà lại biện chứng được thì cũng lạ, giống như cái xe không có máy vẫn chạy được, giống như con gà không có cái đầu vẫn đi đứng và gáy được, hay giống như cái lu không mà người ta vẫn cứ múc nước ra được. Nhưng đó là chuyện ngày xưa, còn ngày nay trong những kiến thức về quy luật tiến hóa, trong các hiểu biết về sinh học phân tử, quả thật chẳng có nhà sinh học nào mà còn ngồi để tin vào các ý nghĩa “biện chứng” như thế nữa. Bây giờ thì chính ý nghĩa của cấu tạo và vận hành gien, chính ý nghĩa của bản đồ gien còn cụ thể gấp cả trăm lần những ý tưởng biện chứng mơ hồ mà Hegel đưa ra và Mác bê nguyên và biến thành riêng theo quan điểm của mình nữa.
Vậy thì nói tóm lại, xã hội luôn luôn phát triển khách quan và tiến hóa. Mặt khác, nguyên lý cấu trúc của xã hội là nguyên lý nhất thiết bao giờ cũng phải có. Có nghĩa là mọi ngành nghề không thể nào tiền chế hay tổ chức một cách cứng nhắc, máy móc, mà chúng luôn luôn sinh động, biến thái theo nhu cầu xã hội, theo các điều kiện môi trường, sinh thái, cũng như các yếu tố của thời gian. Không bất kỳ tồn tại sự vật cụ thể nào mà không có cấu trúc, đó là nguyên lý. Cho nên nói một xã hội cộng sản không giai cấp trong tương lai là nói một cách mơ hồ không cụ thể, thiết thực. Bởi vì chính từng cá nhân con người tạo nên chung xã hội mà không phải xã hội là cái có sẳn trước phân chia ra thành những cá nhân con người. Thế cho nên khi khoa học kỹ thuật phát triển, có nghĩa mọi nhu cầu của con người cũng tăng lên vô hạn, bởi vì chúng được chi tiết hóa ra, nâng lên, cho dầu mục đích chung cũng chỉ là phục vụ mọi yêu cầu phải có của đời sống. Bởi vậy xã hội và sự tổ chức xã hội nếu nói cho cùng cũng chỉ là phương tiện phục vụ con người mà không bao giờ tự nó là mục đích. Nó cũng giống như cái đò để người ta qua sông, qua sông xong mọi người đều phải để đò lại cho người kế tiếp mà không ai lại vác mang theo, bởi vì nó không hề là mục đích. Cho nên mọi hình thức tổ chức xã hội đều không thiết yếu, mà điều thiết yếu nhất chính là chất lượng sống của mọi con người. Bệnh “chủ nghĩa” thật sự nói cho cùng chỉ là bệnh sính hình thức, tức là sính tổ chức. Đó thật sự là một loại bệnh nhưng không phải là chuyện bình thường. Giống như những người có bệnh ở sạch, đó là điều hoàn toàn không thích đáng, không tự nhiên và hoàn toàn giả tạo, máy móc.
Thật ra, kinh tế xã hội hay lao động xã hội thực chất là do kinh tế và lao động từng cá nhân hợp lại. Điều đó cũng giống như rừng là do từng cái cây lớn nhỏ trong rừng hợp lại. Không bao giờ có việc một cái cây to lớn vĩ đại duy nhất nào lại tạo nên được một khu rừng cả. Cho nên ý nghĩa chính của kinh tế xã hội, ngoài lao động còn là sự sáng kiến của cá nhân. Nhiều khi chính sáng kiến còn mang lại kết quả nhiều gấp trăm, gấp ngàn lao động thuần túy. Như sáng kiến về cái đòn bẩy chẳng hạn, nó lợi cho sức gân bắp có khi cả trăm lần. Hay guồng máy xa nước, hoặc cái cối xay gió cũng thế. Ai cũng biết trong lịch sử nhân loại, chính sự phát minh ra lửa, sự luyện kim, rồi máy hơi nước, dòng điện, cho đến thời đại điện toán ngày nay, đều là những dấu mốc phát triển rất lớn. Những cái này thật sự không liên quan gì trực tiếp đến ý niệm đấu tranh giai cấp mà Mác đã đề ra cả. Cho nên chính sự đầu tư tự do của tư nhân, mới là những đầu tàu, những động lực phát triển kinh tế quyết định hơn cả. Vì nó phù hợp với tâm lý tự nhiên của con người, phù hợp với yêu cầu hoạt động linh hoạt tự nhiên của xã hội. Bởi ai cũng biết những nền kinh tế kế hoạch hóa, thật ra luôn luôn biến thành hệ thống thư lại nặng nề, tạo sức ỳ cản trở kinh tế phát triển, nhưng khó bao giờ là sự hiệu quả, tinh vi hoặc hữu lý, như nhiều người lầm tưởng. Đó cũng là ý nghĩa thực tiển không thể thay thế được cho nguyên lý, sự nhất thời, tạm bợ không thể thay thế được cho cái hằng cửu, vĩnh bền. Đó cũng là ý nghĩa kinh tế như một dòng chảy, phải khơi dòng, loại bỏ mọi chướng ngại giả tạo để cho nó được trôi chảy trơn tru, không thể vì một số chướng ngại ban đầu nào đó khiến nó khựng dòng hoặc đưa lại những hậu quả bất công, rồi cho rằng như thế là bất hợp lý, là không thuận tiện, để ngăn dòng biến thành một thứ hồ chứa khổng lồ, bùn lầy nước đọng, và trong ao tù đó phát sinh bao nhiều vật ký sinh vô cùng phiền phức.
Đấy cái khái niệm về chủ nghĩa cộng sản khoa học của Mác nó cũng giống y như vậy. Điều này ở trên chúng ta đã nói nhiều rồi. Ở đây chỉ cần nhắc lại rằng ở thời Mác cách lý luận của con người nhiều khi hãy còn thô sơ, cho nên đôi khi người ta không bắt bẻ Mác lại được. Vả chăng, ông ta lại hay ngụy biện hoặc xảo thuật, cho rằng ai đi ngược lại ông đều là bọn tư sản, là giai cấp tư sản, nên nhiều người giống như phải chịu đòn phép, mặc dầu chính thành phần xuất thân của ông ta cũng là giai cấp tư sản. Hơn nữa ông ta còn chủ trương chuyên chính, nên sau khi nhà nước Liên xô thành lập, quả nhiên về sau không còn ai dám nói ngược lại ông ta nữa nếu ở trong chính những xã hội mà lý thuyết của ông ta khống chế. Nhưng Mác không ngờ một điều, chính sự chủ trương quái dị đó của ông, không những làm cho kinh tế xã hội ở nhiều nơi ngưng trệ, cùi đày, mà cả ý thức tinh thần của con người, cả những đầu óc sáng tạo và cả giới văn hóa, nghệ thuật, hay văn nghệ sĩ, tức là các tầng lớp tinh hoa của xã hội nói chung cũng phải đều chịu chung một số phận như vậy. Đó chính là các ý nghĩa mà ngày nay không thể còn ai có thể giấu đi đâu được nữa. Nói khác đi, cái mà bản thân Mác tự hào là mình đã tổng hợp được ba nguồn, đó là chủ nghĩa xã hội Pháp, tư tưởng triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh, thật ra chỉ là ba nguồn vay mượn giả tạo từ ngoài vào còn chính bản thân Mác thật sự không có gì cả. Bởi chủ nghĩa xã hội Pháp chỉ là không tưởng, chính Mác cũng công nhận như vậy. Biện chứng pháp Hegel, tức triết học cổ Đức thì như trên chúng ta đã nói. Còn kinh tế chính trị học Anh, tức là cuốn Tư bản luận (das Kapital) của Mác, chỉ là chuyện “triết lý hóa” kinh tế học mà Mác đã làm, tức gọt chân theo giầy là chiếc giầy biện chứng của Hegel. Thế thì còn lại gì, nếu không phải cái duy nhất độc đáo mà từ cổ thời tới lúc đó chưa hề có nhà tư tưởng của nhân loại nào nghĩ đến, đó là ý niệm chuyên chính hay độc tài vô sản (Diktatur des Proletariats) mà Mác thật sự tâm đắc.
Bởi vậy, thật ra Mác cũng chỉ là con người bình thường, các suy nghĩ của ông thật ra cũng còn nằm trong phạm vi hạn chế, bình thường. Thế nhưng, những kẻ xu phụ thời cuộc lại tâng ông lên quá trời xanh như là đỉnh cao tột cùng, duy nhất, trong mọi thời đại của nhân loại, thì quả thật là vô cùng đáng ngạc nhiên và vô cùng dễ sợ. Cho nên trong thời hiện đại, để khắc phục mọi nhược điểm trong quá khứ từng một thời đã có, có lẽ mọi người không trừ một ai (tôi nhấn mạnh không trừ một ai), trừ những người hãy còn chưa thật tỉnh, phải góp phần trả lại mọi sự bình thường cho xã hội. Tức một xã hội đi trên đất mà không phải đi trên mây thật sự(1). Một xã hội hoàn toàn thức tỉnh để cùng nhau xây dựng đất nước tiến lên, cùng nhau trả lại mọi hạnh phúc tự nhiên cho con người, tức không còn mọi con người phải đóng kịch và giả tạo nữa, tức một xã hội hoàn toàn tỉnh táo, hiện thực, không còn giống như một người say đi xiêu vẹo, chân nam đá chân chiêu, miệng vẫn luôn lè nhè nói lớn, bố đứa nào nói ông say ông thề sẽ đánh chết cha nó, khiến cho ai nấy đều cũng thấy buồn cười, và chỉ có biết lặng lẽ tránh đi để khỏi trở thành phiền phức
Đà Lạt, một sáng sớm mùa Xuân Tân Mão
(24/02/2011)
© Võ Hưng Thanh
© Đàn Chim Việt

(1) Xem thêm cùng tác giả : Điều cốt lõi của chủ nghĩa Mác (16/01/2011), Chủ nghĩa nhân văn (23/01/2011), Thế nào là một nền chính trị toàn dân (19/02/2011), Thế nào là sự ổn định và phát triển (22/02/2011), Nói về mối quan hệ giữa con người và con người trong xã hội (23/02/2011).

Tinh thần xã hội và chủ nghĩa xã hội


Tinh thần xã hội là ý thức về xã hội của mỗi cá nhân. Ý thức này có thể một phần do bản năng, hay tập tính tự nhiên, tức bản năng quần tụ, mang tính cách hướng tới bầy đoàn, vốn có bẩm sinh trong nhiều loại sinh vật, mà cụ thể và rõ rệt nhất, là nơi các loài linh trưởng, trong đó có con người. Xã hội loài người là một ví dụ điển hình như thế. Tinh thần xã hội, ngoài ra về mặt nổi, cũng còn đến từ kết quả của sự giáo dục, giáo dục gia đình cũng như giáo dục nhà trường, xã hội. Tinh thần xã hội, nói chung là­ tinh thần vị tha, hướng tới người khác, hướng tới mọi người, hay hướng tới xã hội. Bởi vì mỗi cá nhân như thế hiểu rằng không có mọi người, không có xã hội nói chung, cũng không thể có cá nhân, không có bản thân mình. Trong ý hướng đó, tinh thần xã hội chính là tinh thần cộng đồng, là ý thức về nhân quần, xã hội một cách tự nhiên, vượt lên trên mọi tính chất ích kỷ, riêng tư, để đi đến những lợi ích chung cho mọi người, đi đến các ý nghĩa, lợi ích, giá trị chung cho mọi người, thế thôi. Tuy vậy, khuynh hướng xã hội thực chất cũng còn tùy theo cá tính tự nhiên của cá thể mỗi người, không phải ai ai cũng đều có khuynh hướng cá nhân, cũng không phải mọi người đều có khuynh hướng xã hội. Đó là một thực tế cần phải nhìn nhận, không thể làm biến đổi hay nói khác đi được, dầu cho tùy hoàn cảnh hay phát triển lịch sử mà nó có thể có các sắc thái hay các cách biểu hiện khác nhau.
Trong khi đó, kể từ cuối thế kỷ 19, trên thế giới tinh thần xã hội lại được hiểu theo hai nghĩa khác nhau. Tinh thần xã hội cổ điển, là tinh thần xã hội tự nhiên, giống như được trình bày ở trên. Tinh thần xã hội như thế không khác gì một ý hướng xã hội, một quan điểm xã hội, lấy xã hội làm tiêu chí chung hướng đến, đặt xã hội lên cao hơn cá nhân, nên nếu trong trường hợp bất khả kháng hay bất đắc dĩ, quyền lợi cá nhân, mục đích cá nhân buộc phải hi sinh cho quyền lợi, mục đích cần thiết chung trước nhất cho xã hội. Nhưng dầu sao tinh thần hay ý nghĩa xã hội ở đây chỉ mang chất tự nguyện, tự giác, tự do, nếu cần thì có hệ thống quản lý bằng pháp luật can thiệp, uốn nắn, không lệ thuộc bất kỳ một cá nhân hay nhóm cá nhân nào riêng biệt cả, không ai bị hi sinh vô lý hay ngược lại nguyện vọng của họ cả, không ai bị ép uổng một cách độc tài, độc đoán, và bị cưỡng chế duy chỉ bằng bạo lực một cách máy móc hay thô thiển cả. Tinh thần và ý nghĩa xã hội như thế rõ ràng là tự giác, tự phát, tự do, tự nguyện, nó mang tính chất cá nhân hay tập thể, nhưng chắc chắn không có tính cơ chế máy móc, giả tạo, hoặc phản tự nhiên như thế nào đó của toàn thể xã hội cả. Tinh thần xã hội, như vậy chính là tinh thần xã hội của một xã hội tự do, không khiên cưỡng, không độc đoán, không toàn trị.
Nhưng từ khi xuất hiện học thuyết Mác từ khoảng 1884, rồi Lênin đưa vào áp dụng ở Nga năm 1917, thành lập nên nhà nước Liên Xô thuở ấy, chủ nghĩa xã hội được bắt đầu hiểu theo nghĩa khác. Chủ nghĩa xã hội tức là chủ nghĩa Mác Lênin mà không là gì khác. Có nghĩa theo lý thuyết đó, chủ nghĩa xã hội hay XHCN, chỉ là giai đoạn đầu để đi tới chủ nghĩa cộng sản. Thời kỳ chuyển tiếp giữa hai thực tế xã hội đó được gọi là thời kỳ quá độ. Trước đây có người cho thời kỳ quá độ đó là vài chục năm, vài trăm năm, có người còn hăng hái nói đến cả một ngàn năm hay hơn thế nữa. Bởi xã hội CS theo Mác, đó là xã hội mà con người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Ở đó không còn nhà nước, không còn giai cấp, không còn tiền tệ, không còn mọi cơ chế tổ chức xã hội kiểu cổ điển thông thường, con người được giải phóng hoàn toàn, lao động một cách tự nguyện hoàn toàn. Tất nhiên ai cũng thấy đây là một ảo tưởng, một điều phản lịch sử, phản tự nhiên, phản khách quan, nhưng Mác lại chủ quan tin tưởng tuyệt đối, mà theo ông là xã hội hoàn toàn vô sản, không còn quyền sở hữu cá nhân, chỉ còn quyền sở hữu xã hội. Thực chất, ông tin tưởng như thế vì ông tin tưởng tuyệt đối vào quy luật biện chứng thực tại do nhà triết học Hegel sống trước ông vài thế hệ đưa ra. Ông tự cho rằng mình lật ngược Hegel lại, nên nếu không có Hegel, ông cũng thừa nhận không thể có lý thuyết của ông, tức không thể có chủ nghĩa cộng sản khoa học, vì theo Mác phép biện chứng của Hegel đưa ra chính là nền tảng tuyệt đối cho khoa học. Ông cũng còn nói nguồn gốc của bóc lột là do sự hữu sản, là do giai cấp. Tiến đến vô sản hóa, cũng có nghĩa là xóa hết giai cấp, xóa hết bóc lột.
Bây giờ nói lại chuyện này có thể nhiều người cho là dư thừa, vô bổ. Nhưng thời của các ông Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Giàu, Trường Chinh, Trần Đức Thảo … hoặc nói chung mọi thế hệ được đào tạo ngắn ngày theo những cách khác nhau từ Liên xô khi ấy về, đều cho đó là chân lý tuyệt đối duy nhất đúng, tuyệt đối đúng, của lịch sử xã hội loài người. Nói cách cụ thể hơn, chủ nghĩa xã hội theo Lênin chính là chủ nghĩa tập thể. Tức là nền kinh tế tập thể, và một cơ chế hoạt động xã hội hoàn toàn tập thể. Nền kinh tế tập thể tức nền kinh tế hoàn toàn kế hoạch hóa, chỉ có tư bản nhà nước, không còn tư sản, chỉ được lãnh đạo và quản lý bởi cơ chế nhà nước, và của các công nông trường tập thể, các hợp tác xã tập thể, thế thôi. Thời bấy giờ ở LX đã có bao nhiêu chủ trương, lý thuyết, bao nhiêu biện pháp thực tế khác nhau, nhưng tựu trung cũng để thích nghi, để chỉnh sai, và cũng để chỉ gò vào đó sao cho ăn khớp hay hoàn toàn đúng với quan điểm, chủ trương, và đường lối của học thuyết Mác. Cao trào mạnh mẽ nhất của việc kết hợp kinh tế tập thể và xã hội tập thể, được thực hiện toàn diện nhất là trong thời kỳ Stalin cầm quyền chính, và sau này người ta hiểu một cách toàn diện và rõ rệt ra, đó là kiểu cách một xã hội toàn trị.
Trong xã hội toàn trị như thế đó, tức cả kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đời sống mọi người đều quy vào một mối, là ban lãnh đạo tối cao hay Bộ Chính trị của đảng CS Liên Xô, và nó tạo thành một cơ chế duy nhất tập trung mà không bất cứ một cá nhân nào có thể thoát ly ra được khỏi đó. Tất cả đều phụ thuộc vào Stalin, rồi những người kế tục Stalin lên cầm quyền. Cả một cơ chế toàn trị như thế không thể nào lay chuyển, cho đến khi có Gorbachov xuất hiện, rồi đến Yeltsin, nó mới hoàn toàn sụp đổ và tan rã. Cơ chế toàn trị đó cũng được áp dụng cho toàn khối XHCN trên toàn thế giới, trong đó không loại trừ Trung Quốc và nhiều nước Đông Âu trước kia cũng như nhiều nơi khác. Nhưng hình ảnh toàn trị đến đỉnh điểm cao nhất lại chính là chế độ Khmer đỏ ở Kampuchia mà toàn thế giới trong gần cuối thế kỷ qua đã từng kinh hoàng hay rụng rời vì nó. Nói chung đã là toàn trị thì không ai thoát ra được khỏi nó cả, kể đến những người chóp bu cao nhất cũng đều như thế. Bởi vì nó đã trở thành một có chế xã hội rắn chắc một cách lạnh lùng và khách quan. Nó chuyển động như một cỗ máy mãnh liệt, tàn khốc và nặng nề, thuận theo nó thì sống, ngược lại nó là chết, thế thôi, kể cả người nào đang cầm lái nó cũng như thế. Họ cũng giống như tư thế của những người đã cỡi lên lưng cọp, cứ chễm chệ ra đó thì oai phong, lẫm liệt, huy hoàng, còn chệch ra khỏi đó, hay để bị rớt xuống đất cũng sẽ bị nó ăn mất. Đó là ý nghĩa tại sao nó là một cơ chế tự động, không còn phụ thuộc vào ai cả, chỉ còn phụ thuộc vào một thứ tập thể vô hình, một loại tập thể trong tập thể, và trong đó mọi cá nhân cũng phải thủ lẫn nhau, y như những người đang đấu võ, không ai dám tự tiện để tung chiêu trước, mà luôn phải liếc mắt thăm dò mọi chiêu có thể có tiếp đó của chính đối phương. Thế kẹt của mọi người là như thế, thế kẹt của xã hội, và có khi của toàn thể lịch sử một đất nước, một quốc gia cũng chỉ như thế.
Chính bởi vậy, trong thực tế chủ nghĩa xã hội đã trở thành một thứ chủ nghĩa tập thể vô danh trong thực chất, hay thậm chí nó trở thành như một khía cạnh của cá nhân chủ nghĩa. Bởi vì ai cũng chỉ phải lo phần mình, trong hợp tác xã nói riêng, và trong cả guồng máy quản lý, cầm quyền nói chung cũng vậy. Ai cũng phải làm theo tập thể mà không thể ngược lại. Theo tập thể là sống, ngược lại tập thể là chết. Nhưng tập thể đó chỉ là cái vô hình chung trong thực tế. Nó gần như một cơ chế khốc liệt mà mơ hồ, không cụ thể ở đâu cả. Nó chỉ cụ thể ra như một giáo điều, một lý thuyết, một hệ thống tổ chức đã có của xã hội, thế thôi. Nó được nuôi dưỡng bởi những khẩu hiệu, những danh từ, thậm chí những khẩu hiệu những danh từ luôn luôn chuyển biến và đổi thay theo từng giai đoạn. Nói chung nó phát triển hay biến đổi ra ngoài ý chí của tất cả mọi người. Khi nó chuyển hướng thì có nhiều người nói theo, làm theo, hướng theo, nhưng không biết do đâu nó chuyển hướng, y như những người đi thuyền mà nằm trong khoang kín. Họ không hề thấy được trời đất, trăng sao, không hề quyết định được gì, chỉ xuôi theo dòng chảy của lịch sử khách quan, vậy thôi. Đó là kiểu của làm chủ tập thể mà có thời kỳ người ta bốc lên một cách khoái trá như là một thứ hạnh phúc, một thứ chân lý, một pháp lệnh ở đời. Điều này thật sự từ ngàn xưa, tục ngữ dân gian cũng đã nói, tức kiểu cha chung không ai khóc, có quá nhiều sãi ở chùa cũng chẳng ai lại muốn phải quét lá đa. Chỉ có một chân lý duy nhất là không ai có thể chống đối lại, vì chống đối lại thì ai cũng thấy, và thực sự nó nguy hiểm hoàn toàn. Còn thuận theo nó thì không ai thấy, vì nó hoàn toàn vô danh, giống như một hạt cát chìm sâu trong lòng nước, cứ thế mà được cuốn đi, hay tới lúc những khúc quanh, những xoáy nước nào đó, thì được bốc lên cao, được nằm trên tất cả, chỉ có thế thôi. Đó là quan điểm phải ẩn nhẫn mà chờ thời, một quan điểm hoàn toàn cá nhân chủ nghĩa mà không hề là quan điểm xã hội đúng nghĩa như từ đầu đã thấy. Không ai còn nghĩ đến xã hội, không ai còn nghĩ đến phải làm cách mạng, cho dù mọi người cứ vẫn luôn luôn nói chủ nghĩa xã hội và luôn luôn tung hô, ngợi ca cách mạng.
Thực tế đó là gì, nếu không phải cũng chỉ do nguyên nhân ý thức và bản chất con người. Bản chất con người phần lớn chỉ là bản chất cá nhân. Mỗi cá nhân luôn vẫn là một thực tế độc lập, có quy luật tâm lý bản thân riêng, chịu quy luật tâm lý của xã hội chung mà không là gì khác. Không phải mọi người đều cao cả trên cõi đời này, cũng không phải ai ai cũng tầm thường, thấp kém trên cõi đời này. Đó chính là ý nghĩa của quan niệm xã hội theo đúng nghĩa, ý nghĩa của tinh thần xã hội theo đúng nghĩa, ý nghĩa của quan điểm chủ nghĩa xã hội theo nguyên lý cổ điển theo đúng nghĩa. Chỉ tiếc rằng Các Mác đã đưa ra một quan điểm lập luận chưa từng ai có trong lịch sử. Ông phản đối tư hữu, coi như nguồn gốc của giai cấp và của bóc lột, từ đó để chủ trương vô sản, chủ trương xóa tư hữu. Dựa vào quy luật biện chứng của Hegel đưa ra, ông cho rằng chế độ kinh tế tư bản cuối cũng sẽ tự đào mồ chôn nó, để tiến tới xã hội không giai cấp, không tư hữu, không bóc lột. Niềm tin chắc khừ của Mác chính là như thế. Và sau khi chế độ toàn trị được thiết lập nên, mọi người chỉ có biết nói theo Mác chính là như thế. Không thể ai nói ngược lại. Nói ngược lại, coi như tự thử thách sự tự do, sinh mệnh chính trị, và cả mạng sống của họ. Bởi lẽ đó, nhiều người lại còn luôn ca ngợi chế độ toàn trị là tự do gấp triệu lần, là lương tâm của thời đại, là đỉnh cao của trí tuệ loài người, bởi vì họ chỉ nói theo niềm tin của Mác, nói theo lý tưởng xã hội CS trong tương lai mà Mác đã vạch ra, như thể là một thiên tài, hay chỉ nói theo quyền lợi chính trị và miếng cơm manh áo của họ. Không thể có tư duy hay suy nghĩ độc lập. Mà dầu có cũng không thể nói lên được. Bởi kết quả giáo dục toàn diện ngay từ đầu nó đã mang lại như thế, kết quả của cơ chế xã hội toàn trị nó nhất mực quy định phải như thế.
Thật ra, kinh tế tập thể là kinh tế cảm tính, không phải là cơ chế khách quan, khoa học. Kinh tế tập thể đúng ra chỉ là kinh tế ở bình diện xã hội còn lạc hậu, chưa phát triển. Bởi yếu tố con người chỉ luôn tương đối, thun dãn. Chỉ yếu tố kỹ thuật mới hoàn toàn chính xác, hiệu quả, hiệu năng nhất. Yếu tố kỹ thuật thoát ly ra khỏi mọi tính chất con người. Do đó xã hội văn minh, phát triển, vấn đề không phải là tập thể, mà chính là cơ chế kỹ thuật và khoa học nói chung trong mọi lãnh vực. Toàn thể nền kinh tế một nước, cơ chế một tập đoàn, cơ chế một công ty, xí nghiệp, tổ công tác … cũng chỉ như thế. Tập thể chẳng qua chỉ là cách phối hợp công việc cần thiết và hiệu lực theo nhóm nhỏ, tùy theo tính chất các công việc nhất định, không thể trở như nguyên lý tối hậu của xã hội. Đó chính là một quan điểm kinh tế mang tính chất nông cạn của Mác, nhưng Lênin đã đưa ra áp dụng một cách tuyệt đối, trở thành một tín điều, một bài bản thống nhất sau này mà trong cơ chế như thế không ai có thể dám đi ngược lại. Sự ca ngợi chủ nghĩa tập thể, do đó cũng chỉ là sự ngợi ca giả tạo, nó không mang tính chất khách quan hay khoa học. Thật ra trong xã hội, mỗi cá thể đều tùy theo hoàn cảnh riêng của mình mà tồn tại. Điều đó tùy thuộc rất nhiều yếu tố, chủ quan cũng như khách quan, ngẫu nhiên cũng như tất yếu, cá nhân cũng như xã hội, lịch sử cũng như nhất thời, tâm lý cũng như thể lý riêng biệt, cái hữu hình, cụ thể, cũng như cái vô hình, trừu tượng, cái cá tính cũng như ý chí và nỗ lực của mỗi cá nhân một cách độc lập và tự do. Bởi thế, một quan điểm tập thể theo kiểu cào bằng là hoàn toàn giả tạo, phản tự nhiên, phản hiệu quả. Nói khác, đó chỉ là quan điểm chủ quan, cảm tính, ý chí chủ nghĩa, mà không phải là tính khách quan chủ nghĩa một cách thật sự cần thiết và đúng nghĩa.
Nói chung lại, chỉ có nguyên lý khách quan mới mang ý nghĩa tồn tại và phát triển tự nhiên của cá nhân và xã hội. Mọi cái gì chủ quan, nghĩ tưởng là khoa học, thật ra đó chỉ là cảm tính, phi khoa học và phản khoa học. Có nghĩa nền kinh tế của xã hội là một guồng máy tự phát, cần thiết được điều chỉnh, nhưng không bao giờ là một cơ chế hoàn toàn giả tạo hay tự giác. Tính chất tự phát đó là tính chất của lịch sử và của phát triển. Mọi cá nhân sinh ra đời một cách ngẫu nhiên, mọi cá thể phát triển trong cuộc đời là do điều kiện. Mọi điều kiện đó hoàn toàn phức tạp, không thể định trước, không thể chủ quan, vấn đề chính yếu đúng là như vậy. Cho nên chính mọi cá thể trong tất cả các tính chất riêng của mình tạo thành xã hội mà không là gì khác. Xã hội không phải là bài toán cộng hay trừ, mà là một bài toán nhân hay chia, nên mọi sự đều trở nên có tính tổng thể và phức tạp như thế. Chính đầu vào và đầu ra của toàn nền kinh tế là cái quyết định nhất, nhưng không phải mọi bài toán phải được tính toán một cách chủ quan, máy móc trong đó. Kinh tế thị trường, tự do là kinh tế của khuynh hướng đầu. Kinh tế kế hoạch hóa cụ thể, hay toàn trị và bao cấp, là khuynh hướng của quan niệm sau. Và dĩ nhiên thực tại lịch sử trên toàn thế giới ở nhiều nơi đã chứng minh rõ rệt hoàn toàn về điều đó. Một nền kinh tế tư bản tư nhân nhưng có sự điều chỉnh của nhà nước, đó là một nền kinh tế khôn ngoan và có kết quả. Trái lại, một nền kinh tế tập thể kiểu ấu trĩ, hay một nền kinh tế toàn trị kiểu tư bản nhà nước, thực sự chỉ là kiểu giáo điều, máy móc, thiếu thực tế, không khôn ngoan, phi thực chất, phi hiệu quả, và thật sự hoàn toàn vô lý.
Vậy kết luận, thực chất Các Mác không hề là một nhà tư tưởng lớn. Hệ thống tư tưởng của ông ta chỉ mang tính chất vá víu, không có chiều sâu, không có thực tế. Ông chỉ lấy tư tưởng người này, người khác, chắp vá lại và trở thành tư tưởng của ông thế thôi. Tính chất hời hợt, nông cạn, bốc đồng, nhưng lập dị hay quái dị của ông ta, khiến nhiều người vốn trở nên á khẩu, vì bàng hoàng và hốt hoảng, vì mặc cảm tự ti, hay mặc cảm tội lỗi. Nhiều người không thể phê phán ông là do như thế. Nhất là khi xã hội toàn trị đã được lập nên, mọi sự phê phán học thuyết của ông đã trở thành tê liệt, mọi sự nhận thức về ông đã trở thành lú lẫn. Nhiều người ngày nay mới giật mình khi thấy Nghị viện châu Âu ra quyết định công khai phủ nhận học thuyết Mác. Nên họ mới thấy chính đó là ý nghĩa hay yêu cầu của sự phê phán học thuyết đó. Tuy nhiên, những người nào có đầu óc minh mẫn, có trí thông minh cơ bản nhất, có ý thức khách quan, ngay thẳng, đều có thể nhận thức và phê phán lý thuyết của ông ngay từ ban đầu, không phải chờ tới ngày nay mới biết. Sở dĩ rất nhiều người đã bị khiếp phục trước Mác là vì học thuyết của ông nhân danh sự giải phóng nhân loại. Đó là vầng hào quang quá lớn, một lý tưởng quá cao cả, một sự hấp dẫn quá vinh quang về mặt đạo đức, khiến cho người ta không còn khách quan và bình tĩnh. Nhưng thực tế, thì xã hội toàn trị do chính chủ thuyết của ông mang tới đã thật sự cho thấy điều hoàn toàn ngược lại. Nó nhân danh một thứ tự do, dân chủ mới, mà thực sự không hề có bản chất tự nhiên, khách quan, cụ thể, để nhằm tận diệt hay thay thế hẵn cho quan điểm tự do, dân chủ hoàn toàn cần thiết, tự nhiên, khách quan và cụ thể. Đó là do chính Mác cho rằng chỉ có tự do, dân chủ theo hướng vô sản mới thật sự là tự do, dân chủ đúng đắn, lý tưởng nhất. Còn ngược lại, kiểu tự do, dân chủ sau, chỉ nhồi chung vào một giỏ rác khổng lồ theo ông, là tự do, dân chủ theo kiểu tư sản, của bọn tư bản. Đấy, cái lý nguyên thủy của vấn đề cũng chỉ là ý nghĩa của “vô sản” hay “tư sản”. Điều này, nhiều lần tác giả bài này đã nói đến rồi. Nên những người nào đang đấu tranh cho dân chủ, tự do ngày nay ở khắp mọi nơi trên thế giới theo hướng như thế, thực chất cũng đều không ra khỏi, hay cũng chỉ nằm chung trong một phạm trù duy nhất giống như thế mà thôi.
© Võ Hưng Thanh