Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kẻ Sĩ Thời Đại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kẻ Sĩ Thời Đại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2016

Khúc bi tráng của Trần Huỳnh Duy Thức



Kính Hòa, phóng viên RFA
clip_image002
Ông Trần Huỳnh Duy Thức trong một lần gặp gỡ gia đình tại trại giam trước đây. Courtesy photo
 Trần Huỳnh Duy Thức
Ngày của Mẹ lòng con trĩu nặng
Những ước mơ phận sự chưa tròn
Đêm lệ rơi những cơn khát mặn
Những phận đời khô khốc tình thương
Đường đã mở con quyết bước không chờn
Cho ngày mai Việt Nam mình xán lạn
Dâng lên Mẹ nứt căng tràn cuộc sống
Tâm linh Người tiếp sức nối vòng tay.
Đó là bài thơ của người tù chính trị Trần Huỳnh Duy Thức gửi cho mẹ ông từ lao ngục.
Bài thơ ấy cũng giống như một bài thơ tuyệt mạng khi ông công bố rằng ông sẽ tuyệt thực cho đến chết để đòi những người cộng sản phải thực hiện một chế độ dân chủ. Một đòi hỏi, một thách thức mà những người lạc quan nhất trong thời điểm hiện nay cũng khó có thể tin là có thể xảy ra.
Chẳng có sự tồn tại nào vĩnh cửu ở cái chợ đời nhiều trái ngang này. Đến một ngày những nấm mồ của những người đang đàn áp, cưỡng bức, chống lại anh rồi cũng mọc lên bên cạnh nấm mồ anh.
-Vo Vi Vu
Ông Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt cách đây gần bảy năm, và chịu một bản án nặng nhất, 16 năm, mà những người cộng sản dành cho những người tù chính trị trong thời gian mấy chục năm qua.
Ông và các đồng chí bị bắt vì cổ súy cho một cuộc đấu tranh bất bạo động, và cho đến bây giờ ông không hề nhận một tội nào mà những người cộng sản gán cho ông.
Blogger Minh Không viết rằng “Anh không nhận bất kỳ một tội danh nào, không đàm phán thỏa thuận bất kỳ một điều gì. Chỉ giữ lấy duy nhất niềm tin của mình, đổi lấy bản án 16 năm ngục tù nhẹ như sợi nắng.”
Một người bạn tù của ông là nhà báo Trương Duy Nhất, khi biết ông bị chuyển ra trại giam Nghệ An, và tuyên bố tuyệt thực, đã nhắn gửi ông Thức câu nói nổi tiếng của chính mình trước vành móng ngựa là “Có loại tù làm người ta nhục nhã, nhưng có loại tù chỉ khiến họ vinh quang!” Ông Nhất viết rằng câu nói đó giành cho Trần Huỳnh Duy Thức.
Một tác giả viết trên Dân Làm Báo đặt câu hỏi tại sao Trần Huỳnh Duy Thức?
“Vì sao Trần Huỳnh Duy Thức, câu này là câu hỏi cũng được. Hỏi vì sao những góp ý, phản biện chân thành, quý giá của anh lại gánh những bất công như vậy? Vì sao nhà cầm quyền sợ anh đến mức dùng bản án khắc nghiệt cho anh như vầy. Vì sao và vì sao? Hỏi nhưng tôi đã có sẵn câu trả lời: chính vì khí phách của anh, vì kiến thức của anh, vì con đường mà anh đã chọn – Nên cho tôi đổi lại Vì sao Trần Huỳnh Duy Thức là câu khẳng định chứ không còn là câu hỏi nữa: vâng sự dấn thân vì nước nhà của anh sáng như một vì sao: vì sao mang tên Trần Huỳnh Duy Thức.”
Tác giả Vo Vi Vu viết rằng sự hy sinh và dấn thân của Trần Huỳnh Duy Thức sẽ không uổng phí, còn những kẻ bức hại ông hiện nay sẽ bị lương tâm chất vấn mãi mãi:
“Rồi đến ngày thế lực bóng tối sẽ bị diệt vong. Những người đang tâm đẩy anh vào lao tù, dùng cường quyền và luận điệu dối trá để bách hại anh, tòa án lương tâm sẽ mãi chất vấn họ và con cháu họ. Còn những ai yêu nước, thương dân, cầu tiến, yêu mến sự thật, đối với họ anh mãi là tấm gương soi chiếu ngàn đời. Anh cứ an tâm thực hiện những lý tưởng mà con tim, lương tâm anh hối thúc. Em tin anh sẽ chiến thắng. Anh có về với đất thì trái tim, tinh thần anh sống mãi trường tồn.
Chẳng có sự tồn tại nào vĩnh cửu ở cái chợ đời nhiều trái ngang này. Đến một ngày những nấm mồ của những người đang đàn áp, cưỡng bức, chống lại anh rồi cũng mọc lên bên cạnh nấm mồ anh. Dầu nấm mộ họ có to, có hào nhoáng, hoành tráng cỡ nào thì cũng chẳng vĩ đại bằng nấm mồ nhỏ bé nơi không bao giờ chôn được tấm lòng và lý tưởng sáng đẹp của anh.
clip_image004
Ông Trần Huỳnh Duy Thức trong một lần gặp gỡ gia đình tại trại giam trước đây. Courtesy photo.
Anh hãy yên tâm, nếu hơi thở anh cạn kiệt, thì sẽ có hàng ngàn lá phổi khác, hấp thụ từ hơi thở của anh để tiếp tục thở thay anh. Nếu nhịp tim anh ngừng đập, sẽ có hàng triệu con tim khác: những con tim biết yêu thương, mến sự thật sẽ nhịp đập thay cho trái tim anh. Nửa thế kỷ có vẻ dài nếu tính năm tháng nhưng thật ngắn ngủi với một cuộc đời.”
Tuy nhiên những đồng chí của ông không khỏi băn khoăn với một quyết định can đảm nhưng đầy nghiệt ngã. Luật sư Lê Công Định, người đồng chí, người bạn tù, của ông Thức nói rằng:
“Tôi biết rằng khi anh quyết định như vậy là anh đã suy nghĩ rất kỹ. Thực tình mà nói tôi ủng hộ tư tưởng của anh nhưng trước một quyết định ngặt nghèo như vậy thì tôi cảm thấy lo vì người như anh Thức không thể thiếu cho phong trào đấu tranh cho tương lai của Việt Nam, và sự có mặt của anh cổ võ cho chúng ta rất nhiều.”
Người đàn ông cô đơn
Cuộc đấu tranh cho tương lai của Việt Nam bước sang một giai đoạn mới qua những cuộc biểu tình lớn nhất từ hơn 41 năm qua dưới chế độ cộng sản. Họ đấu tranh cho một Việt Nam có môi trường trong sạch, một chính quyền minh bạch, họ bắt đầu bỏ qua những biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản là những lá cờ đỏ, vốn xuất hiện trong những cuộc đấu tranh đầu tiên của những nông dân mất đất.
Blogger Nikonian mượn lời cố thi sĩ Trần Dần để mô tả khung cảnh của cuộc đấu tranh hôm nay:
“Tôi đi. Và tôi thấy trong đám đông đó chỉ thấy màu xanh của biển cả. Tôi không “thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”, không thấy T shirt cờ đỏ sao vàng mà chỉ thấy áo in hình cá, hình biển.”
Ba cuộc biểu tình liên tục bị đàn áp, trong đó cuộc biểu tình ngày 15 tháng Năm bị cả một bộ máy an ninh khổng lồ trấn áp ngay từ lúc chưa khởi sự, những người biểu tình bị bắt ngay khi ra khỏi nhà, những con phố Sài Gòn vắng ngắt.
Giữa những con phố vắng một người đàn ông tọa kháng biểu tình.
Hình ảnh người đàn ông đó, qua ống kính của Bùi Dzũ dường như trở thành một khoảnh khắc lặng lẽ, đầy bi kịch của nước Việt Nam đương đại.
Bùi Dzũ viết rằng:
“Dường như, người đàn ông ấy quá cô đơn.
Cô đơn giữa những ma trận bủa vây thế thời, thời thế. Cô đơn giữa quê hương nắng cháy như muốn thiêu đốt tất cả những ước mong lẫn nguyện cầu. Tôi tự hỏi sao anh ta phải ra ngồi đó, lòng anh ta đem theo những gì cho thì tương lai của chính mình, và những thế hệ tiếp nối nữa?
Người đàn ông cô đơn. Một dân tộc cô đơn vì mãi chẳng thể tìm thấy một tiếng nói chung, thì làm sao chung sức, chung lòng…”
Đinh Sĩ Phúc tiếp lời:
“Người đàn ông cô đơn này vô tình đã làm được một phép thử tuyệt đối: Nhà cầm quyền “sợ biểu tình” và đã đàn áp biểu tình dù chỉ với một người, không có yếu tố bị xúi dục, không bạo động, không đe dọa an ninh, trật tự!
Còn nhà cầm quyền tại sao lại sợ, sợ đến nỗi một người cô đơn, ở một chốn đã gần như không có người qua lại để bày tỏ mối quan ngại về môi trường của mình mà họ cũng phải đàn áp trong tích tắc! Mối lo sợ đó của nhà cầm quyền ắt hẳn là phải to lớn lắm, mà có khi cũng là đen tối lắm? Phép thử người đàn ông cô đơn đã xác định nỗi lo sợ đó của nhà cầm quyền một cách tuyệt đối!”
Người đàn ông cô đơn đó là nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh, người từng có lúc đứng cùng chiến tuyến với những người cộng sản, ngày hôm nay lại chính những người cộng sản giải ông ra khỏi phố vắng.
Và những người khác
Cách ông Huỳnh Ngọc Chênh một thế hệ, cô Nguyễn Trang Nhung cũng bị bắt khi cuộc biểu tình bị đàn áp, chứng kiến một người biểu tình vô danh bị tra tấn:
Những ghi chép về các anh hùng dân tộc bất khuất tôi đã đọc nhiều, nhưng chứng kiến người thật việc thật trước mắt tôi muốn quỳ xuống cảm phục anh.
-Nguyễn Trang Nhung
“Những ghi chép về các anh hùng dân tộc bất khuất tôi đã đọc nhiều, nhưng chứng kiến người thật việc thật trước mắt tôi muốn quỳ xuống cảm phục anh. Lại mong anh đừng cố chống đối họ, khi áo anh rách bươm, máu nhuốm loang lổ, dấu ấn chiếc đồng hồ in trên cổ tay anh, máu đã khô tự bao giờ… Vậy mà trong mắt anh, tôi thấy một niềm tin bất diệt bừng sáng, anh tin đến một ngày dân tộc này hoàn toàn vĩnh viễn không còn cảnh như hôm nay!”
Hàng ngàn người biểu tình như vậy, có tên và không có tên, được báo chí Việt Nam của đảng cộng sản mô tả là phản động và bị các thế lực thù địch xúi giục. Blogger Mạnh Kim nói đó là một cách thức để những người cộng sản gieo rắc sợ hãi và khiếp nhục tinh thần. Còn nhà văn Nguyễn Đình Ấm thì cho rằng đó là một sự xúc phạm nặng nề hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu người dân xót xa trước cảnh đất nước bị phá phách đầu độc, trước cảnh giống nòi có nguy cơ thoái hóa và diệt vong.
Nhưng gieo rắc sợ hãi, sự xúc phạm nặng nề đó, theo Nguyễn Huy Vũ, không thể làm chùn bước sự phản kháng đòi hỏi tương lai tốt hơn, đòi hỏi môt chính quyền trong sạch hơn.
“Một biểu hiện rõ nhất đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều những tiếng nói của các bạn trẻ, đủ mọi thành phần. Họ cất lên tiếng nói vì họ thấy quê hương và tương lai này là của họ. Và khi họ, những người trẻ chiếm một nửa dân số, từ từ bước ra và bước qua nỗi sợ để nói lên khát vọng tự do, những người đang tước đoạt tự do chính là những người sẽ phải sợ. Tất cả dường như chỉ là bắt đầu. Vì một khi mọi người dân đều hiểu rằng đất nước lụn bại vì chúng ta có những lãnh đạo tồi và việc cần làm trước hết là đòi hỏi quyền bầu cử tự do phải được thực thi để chọn lựa lại những người lãnh đạo, và người dân tiếp tục phản kháng cho đến chừng nào quyền bầu cử tự do được thực hiện, thì đó sẽ là những ngày mà nhà cầm quyền bắt đầu hoảng sợ.”
Trận cuối cùng
Blogger Lang Anh viết rằng:
“Rất khó để trả lời là đến bao giờ thể chế chính trị độc tài này mới chịu nhận ra, thiện chí lắng nghe, hoà giải và hoà bình với những công dân tiến bộ của đất nước là chìa khoá cho mọi vấn đề của đất nước. Và trên hết, nó giúp Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới nơi các tư tưởng văn minh lên ngôi, đất nước được soi sáng bởi ánh sáng tri thức và sự hoà giải ôn hoà trở thành lối hành xử chuẩn mực giữa người với người trong một quốc gia.
Cũng vì vậy mà tôi buộc phải nhấn mạnh lại quan điểm của mình: “Đây là một cuộc đấu tranh lâu dài. Đừng nản lòng. Vì trước sau gì văn minh cũng thắng.”
Tính bi tráng, đôi khi lên đến độ trớ trêu, của những người dấn thân hôm nay, có lẽ lên đến đỉnh điểm, khi người tù chính trị Trần Huỳnh Duy Thức mượn lời bài Quốc tế Ca của chính những người cộng sản, nhắn lại gia đình qua hai hàng nước mắt rằng đấu tranh này là trận cuối cùng.
K.H.

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

Tạ Phong Tần: Hà Nội đã sai lầm khi thả tôi ra khỏi tù

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

27 ghi chú dành cho những Tù nhân Lương tâm dự khuyết

Tháng 6 28, 2013
Phạm Hồng Sơn
1. Nguyên tắc “suy đoán vô tội”: Không ai có quyền cho bạn là tội phạm cho đến khi có một tòa án công chính đủ thẩm quyền đưa ra một phán xét kết tội có hiệu lực.
Nhưng bạn đừng bao giờ trông chờ sẽ có một tòa án như thế trong một chế độ độc đảng toàn trị.
2. Dù bạn là tù nhân hay thậm chí là “phạm nhân” cũng không ai có quyền xúc phạm danh dự và tuyệt đối không có quyền xúc phạm thân thể bạn.
Chắc chắn bạn cũng không kỳ vọng chế độ độc đảng toàn trị sẽ tôn trọng những điều hiển nhiên này nhưng bạn cần phải nhớ để bảo vệ nhân phẩm tối thiểu cho mình.
3. Bất kể lúc nào, tình huống nào bạn vẫn luôn có ba quyền đương nhiên sau đây: 1. Quyền không trả lời (im lặng), tức cũng là trả lời. 2. Quyền không ký. 3. Quyền sửa sai, đính chính, phản bác, phản cung lại những điều đã nói hoặc đã ký.
Tất nhiên khi làm như thế, bạn sẽ bị chế độ độc tài đảng trị liệt vào dạng “ngoan cố” “cứng đầu” nhưng chắc chắn bạn sẽ có nhiều giấc ngủ ngon hơn trong tù và đời bạn sẽ bớt được nhiều nỗi day dứt không đáng có.
4. Nếu phải giam chung với tù hình sự, đừng sợ hay ác cảm trước những bộ dạng gớm ghiếc hay những cơ thể xăm trổ đầy mình của họ. Phía sau những ghê rợn đó có thể là một trái tim rất nhạy bén, tự trọng và đầy bản lĩnh. Hãy sống nghĩa hiệp với họ.
5. Ba suy nghĩ sai lầm bạn cần loại ngay ra khỏi đầu: 1. Không khai, không có chứng cớ hoặc mọi việc bạn làm đều đúng luật nên họ sẽ không thể kết tội được bạn và sẽ phải thả bạn. 2. Bên ngoài sẽ giúp bạn hoặc vì bạn là người nổi tiếng, có nhiều quan hệ nên trước sau họ cũng phải thả hoặc án phạt sẽ không đáng kể. 3. Thế là hết rồi, xong rồi.
Than đời hay buông hết hy vọng với đời là hoàn toàn chẳng nên, kể cả lúc bị gông xiềng, nhưng rồi bạn sẽ lại nhận thấy điểm tựa tốt nhất cho đời bạn trước hết vẫn chính là bạn. Bạn cũng không nên phải quá cay đắng nếu vẫn mắc phải suy nghĩ sai lầm số 1 vì sự vô sỉ của chế độ toàn trị cộng sản cho đến nay vẫn nằm ngoài sự tưởng tượng của rất nhiều người.
6. Đừng bao giờ tin lời nói, lời hứa, kể cả cam kết (bằng chữ), của điều tra viên (nhà chức trách). Đừng bao giờ trở thành nguồn tin cho họ (dù họ đã biết hay chưa). Cũng đừng bao giờ sững người khi họ nói đồng đội của bạn đã phản bội bạn.
Hãy tạc vào lòng ba lời nhắn của tiền nhân: “Đừng nghe những gì họ nói mà hãy xem những việc họ làm.”, “Đừng trao trứng cho Ác”, và: “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.”
7. Ba điểm cần nhớ nằm lòng khi làm việc (đi cung, đi thẩm vấn, “đi làm” hay gặp gỡ bất kỳ nhân vật nào thuộc chính quyền): 1. Nói nhiều không có lợi. 2. Nổi nóng, khiếm nhã không có lợi. 3. Nhượng bộ hay coi thường đối thủ đều là nguy hiểm.
Hai điểm đầu cho phép bạn được rút kinh nghiệm nhưng điểm thứ ba phải coi ngay là miệng vực. Khi nghiêm khắc thực hiện ba điểm này bạn sẽ hiểu thấu hơn sự đúc kết của cổ nhân: “nhất thủy nhì hỏa”. Song, bạn không nên nhầm giữa sức mạnh hủy diệt khổng lồ với sức mạnh xanh cũng khổng lồ nhưng nhân ái, thu phục.
8. Hãy chủ động đón nhận một trang đời mới ngay khi bạn bị tống vào tù. Càng chủ động bao nhiêu, đời tù của bạn sẽ càng nhẹ nhõm bấy nhiêu.
Nếu bị biệt giam nghĩa là đời bạn đã được trao một cơ hội để nhận rõ sự khác biệt hoàn toàn giữa đơn độc và cô đơn, được gặp một cơ may để khám phá, tiếp nhận nhiều sức mạnh, cảm hứng, hạnh phúc, đốn ngộ từ những tĩnh lặng mênh mông sâu hút gần như tuyệt đối của vũ trụ. Còn nếu được giam chung là người ta đang tôi cho bạn những kỹ năng hội nhập, đoàn kết, ảnh hưởng, rèn thêm cho bạn lòng trắc ẩn, đức quên mình, là giúp bạn nhìn ra những khiếm khuyết, thói xấu láu lỉnh nhất trong bạn và cho bạn trải nghiệm sự kinh ngạc tột cùng trước sự đa dạng vô biên, vô cấp độ của những khả năng, tài năng, sức chịu đựng và những ham muốn, ước vọng, cả cao cả vô cùng lẫn thấp hèn tột bậc, của loài người và thậm chí của chỉ một người.
Hãy nhớ câu châm ngôn hài hước của tù hình sự: “Đi tù nếu không học được cái lọ thì cũng sẽ được cái chai”.
9. Đừng quá thành kiến với công an. Nhưng phải cảnh giác khi họ tử tế. Người ác nhất vẫn có lúc tử tế nhưng hãy nhớ công an là công cụ của chế độ độc tài toàn trị – chế độ không bao giờ muốn tính thiện con người trỗi dậy có lợi cho bạn – kẻ đang bị coi là thù địch. Hãy trân trọng, ghi nhận mọi thiện ý nhưng chớ mềm lòng.
10. Trong khi thẩm vấn không nhất thiết bạn phải thuộc phía thụ động, sợ hãi. Chính kẻ thẩm vấn cũng có nỗi hoang mang của riêng họ. Họ sợ không khuất phục được bạn. Họ hồi hộp sẽ không moi tin thêm được từ bạn. Và họ rất lo lắng rằng bạn sẽ ngày càng vững vàng hơn.
11. Người ta có thể rất tức tối, thậm chí căm ghét bạn nhưng bạn phải biết không ai có thể khinh thường một tù nhân lương tâm kiên định. Căm ghét vẫn có thể chuyển thành tôn trọng thậm chí kính trọng. Nhưng khinh thường thì không bao giờ.
12. Đừng quá trông chờ vào luật sư khi bị cầm tù. Một luật sư tốt nhất lúc này cũng chỉ có 3 vai trò chính: 1. Cầu nối thông tin giữa bạn và bên ngoài. 2. Cung cấp thêm một số luận cứ pháp luật cho niềm tin của bạn. 3. Chứng nhân cho những gì bạn thể hiện trong những phiên tòa “công khai”.
Bạn nên nhớ bạn không chỉ là thân chủ mà còn là người liên đới, chịu trách nhiệm trước hết và sau cùng cho mọi phát ngôn, hành động của người đại diện pháp lý (luật sư) của mình. Và bạn luôn có toàn quyền đồng ý hay chấm dứt liên đới với luật sư bất kể khi nào kể cả ngay tại tòa. Bạn không nên quên chế độ độc tài toàn trị không bao giờ thèm cần đến tranh tụng nhưng họ rất cần hình ảnh và quan điểm của bạn bị đánh hỏng ngay trước tòa.
13. Khi nỗi nhớ thương gia đình (con cái, cha mẹ, vợ chồng) trào dâng, nên nghĩ đến ba điều: 1. Trách nhiệm của một công dân không chỉ là chăm lo cho gia đình riêng của mình. 2. Đây là điều ngoài mong muốn của bạn. Ngọn nguồn của chia ly, đau khổ này là từ chế độ độc tài. 3. Bạn có thể đã phải gặp một rủi ro xấu hơn như nhiều người đã đột ngột phải chia ly gia đình mãi mãi.
14. Chắc chắn bạn sẽ suy sụp nếu cứ đo đếm thời gian, trông mong ngày trở về. Hãy đặt ra công việc và mục tiêu cần đạt được cho mỗi ngày, mỗi giai đoạn ở tù. Bạn nên nhớ đó là những khoảnh khắc vô cùng đặc biệt mà đời thường không thể có và rất không dễ để hiểu.
15. Có những lúc bạn sẽ có cảm giác vui sướng, nhưng đừng để quá vui. Cũng đừng nghĩ quẩn. Trước mọi vấn đề, cần suy nghĩ thật kỹ càng, chu đáo nhưng đừng để lo lắng, day dứt làm kiệt sức bạn. Hãy biết an tâm, chấp nhận những rủi ro ngoài khả năng tiên liệu.
16. Hãy biết tự giễu mình mỗi khi cảm thấy yếu ớt, căng thẳng hay sợ hãi. Và cũng phải biết tự thầm khen mình, tự hào về mình mỗi khi vượt qua một thách thức.
17. Cảnh giác với ba loại thời tiết dễ làm bạn không còn là bạn: nóng quá, lạnh quá và đặc biệt tiết trời u ám, ẩm thấp (như tiết tháng Ba miền Bắc).
18. Thà nhịn đói còn hơn ăn đồ không an toàn (nghi là ôi thiu, không tin cậy, thức ăn lạ). Hãy nhớ câu: “Chết vì ăn là rất nhục”.
19. Tuyệt đối không dùng dao cạo cũ (của người khác), không để tiêm chích, không để chạm dao kéo (nếu không phải là trường hợp cấp cứu tính mạng). Hãy nhớ câu: “Chết vì xuề xòa là cái chết đáng trách”.
20. Ba cách đơn giản giúp tăng cường sinh lực và sức dẻo dai cho cơ thể: 1. Chạy (hoặc đi bộ) ngay tại chỗ hoặc trong khoảng cách 2m. 2. Chống đẩy (hít đất), đứng lên ngồi xuống nhiều lần. 3. Làm dẻo các khớp từ cổ đến chân, xoa bóp cơ thể.
Siêng năng là cần thiết. Nhưng điều cần hơn là thực hành với sự hiệp nhất cùng nhịp thở trong sự tò mò, chú tâm để cảm nhận và lắng nghe những rung động bình dị mà kỳ lạ trên từng phần thân thể. Hãy luôn nhớ: Mỗi khi bạn lười nhác hay ngại ngùng là có một nụ cười đang hé trên môi của quyền lực độc tài.
21. Có ba thứ quí giá, ngoài bạn ra, không ai có thể tước đi được: 1. Giấc ngủ ngon. 2. Lý tưởng. 3. Mơ ước và suy tư.
22. Hãy đặt mọi yêu sách, đấu tranh của bạn trên ba trụ cột: pháp luật, phi bạo lực và chính trực. Tuy nhiên, tôn trọng pháp luật không có nghĩa là chấp nhận cả những qui định, luật lệ vô lý, phi nhân.
23. Những lúc cảm thấy đau khổ cùng cực hãy nghĩ đến ba điều: 1. Những người bị khuyết tật về thân thể hay trí não. 2. Những bạn bè, người thân đồng tuổi nhưng đã không may qua đời sớm. 3. Sự lo toan, tất tưởi, rủi ro của gia đình ở bên ngoài. Hãy nhớ câu: “Nỗi khổ của ta không bao giờ là nỗi khổ lớn nhất”.
24. Những khi bạn cảm thấy không thể chịu đựng thêm được nữa, hãy nhớ đó chính là lúc bạn đã tiến tới sát khả năng phát hiện ra những năng lực mới của bản thân khiến chính bạn phải sửng sốt.
25. Cả hai thứ, thân thể và ý chí, luôn cần được chăm chút, rèn luyện trong suốt những ngày tù. Nhưng nếu phải giữ lại một thì phải chọn cái thứ hai – cái không ai có thể tù hãm hay giết chết được, trừ bạn.
26. Nếu bạn xác quyết rằng Tạo hóa đã hào phóng ban cho mọi con người có khả năng tận hưởng những quyền tự do bất khả nhượng thì bạn cũng phải tin rằng Tạo hóa muốn con người phải thực sự xứng đáng hơn mọi loài vật khác khi nhận ân sủng lớn lao đó. Bởi Tạo hóa đã chỉ cho một loài duy nhất của địa cầu biết chế ra nhà tù: đó là con người.
27. Đường đến tự do không nhất thiết cứ phải xuyên qua nhà tù nhưng những kẻ kìm giữ tự do rất hay mượn nhà tù để thử độ khát khao tự do. Và những kẻ đó chắc chắn sẽ không thấy cần phải đoái hoài tới những tự do bất khả nhượng của chúng ta nếu họ cho rằng độ khát khao tự do của chúng ta thuộc loại chẳng cao lắm.
© 2013 Phạm Hồng Sơn & pro&contra

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Thế nào là trưng cầu dân ý?

 Lê Trần Luật


 Cách đây đúng một ngàn năm, mùa Xuân năm 1010, vua Lý Thái Tổ ban hành “Chiếu dời đô” để chuyển kinh đô nước Đại Cồ Việt là Cổ Loa (Ninh Bình) về thành Đại La (Hà Nội) ngày nay. Có người cho rằng đó là cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên trong lịch sử nước Việt. Kết thúc chiếu dời đô, nhà vua nói: “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào”. Rõ ràng, trước một vấn đề hệ trọng ảnh hưởng đế sự tồn vong của nước Việt, nhà vua không thể tự mình quyết định. Nhà vua muốn biết lòng dân như thế nào!
Ngày 6/10/1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố mở cuộc trưng cầu dân ý nhằm xác định tương lai của Việt Nam. Với kết quả 92,8 % phiếu thuận, cuộc trưng cầu đã phế truất nhà vua Bảo Đại.
Hiến pháp 1946 ghi rằng “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết”. Trường hợp cụ thể được nêu ra có tính cách bắt buộc để cho toàn dân phúc quyết là “khi sửa đổi hiến pháp” sau khi đã được nghị viện thông qua. Các hiến pháp sau này không nói rõ như thế mà chỉ nói “trưng cầu các vấn đề quan trọng”. Hiến pháp 1992 hiện hành chỉ nói nhân dân có quyền thực hiện trưng cầu dân ý khi cơ quan nhà nước đưa ra trưng cầu, nhưng không nói rõ khi nào thì trưng cầu, và vấn đề nào được đưa ra trưng cầu.
Hơn 65 năm xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam chưa có một cuộc trưng cầu dân ý nào, mặc dù đã 3 lần thay đổi và sửa chữa hiến pháp. Bỏ quên quyền phúc quyết của dân chúng, đó là một thiếu sót rất căn bản của thủ tục lập hiến.
Năm 2005, nhà nước dự định thông qua Luật Trưng cầu Dân ý nhưng cuối cùng bộ luật này vẫn dừng lại ở mức độ dự thảo! Dự thảo bộ luật này chứa đựng nhiều xung đột, không thể thông qua, mà chủ yếu tập trung vào “vùng cấm” trưng cầu. Theo dự thảo thì các vấn đề sau đây không được đưa ra trưng cầu bắt buộc:

  • Hệ thống chính trị và thể chế chính trị;
  • Những vấn đề được khẳng định trong cương lĩnh của Đảng Cộng sản;
  • Nghị quyết các Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng Cộng sản;
  • Các luật thuế, luật ngân sách, chính sách giá cả;
  • Chính sách dân tộc, tôn giáo;
  • Các vấn đề rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ Quốc hội;
  • Các vấn đề đại xá và đặc xá.
Với “vùng cấm” rộng lớn và bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội như vậy thì gần như chẳng còn vấn đề nào để phải trưng cầu!
Trưng cầu dân ý là việc người dân trực tiếp bỏ phiếu để quyết định những vấn đề liên quan đến vận mệnh đất nước hoặc những vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội. Đây là hình thức dân chủ trực tiếp có ý nghĩa hơn cả việc bầu cử người đại diện cho mình vào quốc hội.
Hiện nay các tranh luận  tập trung vào những vấn đề lớn sau đây:

  • Những vấn đề nào thì được trưng cầu, hay đúng hơn là giới hạn của các vấn đề được đưa ra trưng cầu;
  • Đối tượng nào có quyền đưa ra sáng kiến trưng cầu;
  • Kết quả trưng cầu bắt buộc và trưng cầu tham khảo;
  • Cơ chế và cách thức tổ chức trưng cầu.
Có ý kiến cho rằng cần phải giới hạn các vấn đề trưng cầu, không phải vấn đề nào cũng được đưa ra trưng cầu. Tôi không đồng ý quan điểm này vì theo tôi ở một nền dân chủ thực sự thì người dân có quyền quyết định mọi vấn đề, không cần bất kỳ một giới hạn nào. Khi nhà nước còn nghĩ đến việc “giới hạn” các vấn đề trưng cầu thì cũng đồng nghĩa với việc giới hạn quyền lực của nhân dân. Còn nghĩ đến “vùng cấm” là còn nghĩ đến các đặc quyền riêng cho mình.
Bất kỳ vấn đề nào cũng có khả năng được đưa ra trưng cầu nếu như sáng kiến trưng cầu được thông qua. Sáng kiến trưng cầu là một nhu cầu khách quan. Vấn đề đặt ra là người có sáng kiến trưng cầu có thu thập đủ số lượng chữ ký để được thông qua hay không chứ không phụ thuộc vào nội dung cụ thể của sáng kiến trưng cầu.
Có một sự kiện xảy ra gần đây cần nêu ra như một ví dụ điển hình:
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn và GSTS Nguyễn Thế Hùng là những người tiên phong phản đối dự án bô-xit ở Tây Nguyên vì cho rằng dự án sẽ ảnh hưởng nặng nề về môi sinh cũng như về an ninh quốc gia. Với số lượng người đã ký tên phản đối dự án và lượng người truy cập vào trang web bô-xit như hiện nay thì tôi tin ba người này hoàn toàn có thể thu thập đầy đủ số chữ ký cần thiết để đưa ra sáng kiến trưng cầu là: “Có nên thực hiện dự án bô-xit hay không”. Vấn đề lúc này phải phụ thuộc vào kết quả trưng cầu chứ không còn phụ thuộc vào “Chủ trương lớn của Đảng”, bởi vì mục đích lớn nhất của Đảng phải là phụng sự mong muốn của nhân dân.
Nhiều ý kiến cho rằng nên giới hạn đối tượng nào có quyền đưa ra sáng kiến trưng cầu. Tôi cũng không đồng ý quan điểm này vì khi người dân có quyền bỏ phiếu trưng cầu thì họ phải có quyền nêu ra sáng kiến trưng cầu. Giới hạn đối tượng được nêu ra sáng kiến trưng cầu là giới hạn sự sáng tạo của xã hội.
Khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý là muốn biết người dân quyết định như thế nào, do đó kết quả trưng cầu có tính bắt buộc thực thi. Tôi không đồng ý quan điểm chia tách kết quả trưng cầu ra làm hai loại: kết quả tham khảo và kết quả bắt buộc. Nhà nước có nhiều cách thức để tham khảo ý kiến của dân, không nhất thiết phải chờ kết quả trưng cầu. Khi đã tổ chức trưng cầu dân ý thì kết quả trưng cầu phải có tính bắt buộc thực thi.
Chúng ta hy vọng dự luật trưng cầu dân ý sớm được thông qua để làm nền tảng phát triển cho một xã hội dân chủ thật sự.
Sài Gòn ngày 12/03/2010
© 2010 Lê Trần Luật © 2010 talawas

Về một điểm yếu của Hiến pháp năm 1946

Hiến pháp năm 1946, hiến pháp được cho là thể hiện đầy đủ nhất quyền cơ bản của nhân dân so với các bản hiến pháp sau đó, lại là một hiến pháp yếu nếu xét về phương diện thực thi quyền lực nhân dân và ngăn ngừa sự tiếm quyền[1].
Ở cấp trung ương, hiến pháp trao cho Nghị viện nhân dân (Quốc hội) nhiệm vụ giải quyết mọi vấn đề chung của quốc gia, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài.
Nghị viên không chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân. Nghị viện nhân dân có quyền bỏ phiếu bầu Chủ tịch nước, bầu Thủ tướng và các Bộ trưởng.
Một vai trò tương tự được trao cho Hội đồng nhân dân ở cấp địa phương[2].
Thiết kế này đã trao quyền đại diện tuyệt đối cho các nghị viên. Điều này không chỉ hạn chế quyền làm chủ công dân, mà còn giảm tính độc lập tương đối giữa hai cơ quan hành pháp và lập pháp[3].
Ở điểm này, những nhà lập hiến Hoa Kỳ đã tuân theo những nguyên tắc khôn ngoan hơn khi thiết kế bộ máy chính quyền, để giải quyết đồng thời hai bài toán: Làm thế nào để chính quyền có đầy đủ mọi quyền lực thực hiện nhiệm vụ được dân chúng giao mà không xâm phạm tới những quyền tự do cá nhân[4].
Người Mỹ “không bỏ hết trứng vào chung một cái rổ” nghị viên, người dân Mỹ trực tiếp trao quyền cho những công chức nắm thực quyền hành động.
Nguyên tắc đầu tiên là những người nắm thực quyền đều phải do người dân trực tiếp bầu ra.
Người dân Mỹ trực tiếp bầu ra các nghị viên – những người làm ra luật[5]. Trực tiếp bầu ra những người thi hành công vụ hành chính là Tổng thống, thống đốc và các viên chức công xã.
Nguyên tắc này, một mặt đảm bảo quyền lực lựa chọn của nhân dân – cử tri, mặt khác, đảm bảo cho mỗi công chức được chọn có một quyền lực đại diện tuyệt đối. Đó là quyền không thể bị phế truất bằng bất cứ một thế lực nào khác ngoài nhân dân. Tổng thống giữ được sự độc lập tương đối với các viện quốc hội và với các công chức hành chính địa phương.
Nguyên tắc này, tạo ra một lợi thế đặc biệt trong việc ngăn ngừa sự lạm quyền từ nhánh hành pháp trong bộ máy nhà nước[6].
Một công chức hành chính cấp công xã, hoàn toàn ngang bằng với vị tổng thống liên bang về phương diện quyền lực đại diện được nhân dân lựa chọn. Cả hai đều được lựa chọn và chỉ có thể phế truất bởi nhân dân. Sự khác nhau của hai công chức này chỉ nằm ở phạm vi tác động của quyền lực hành chính.
Nguyên tắc được lựa chọn trực tiếp bởi nhân dân, tạo ra trong hệ thống chính trị Mỹ, một nền hành chính không có thứ bậc[7]. Tổng thống liên bang, thống đốc bang và công chức hành chính công xã, chỉ phân biệt nhau bởi phạm vi cử tri bầu chọn, không có bất cứ sự phân bậc nào về ngôi thứ hành chính.
Bản thân nguyên tắc này, vì thế, đã đảm bảo một sự phân tán quyền lực hành chính. Mỗi công chức được bầu ra sẽ chỉ có quan hệ và cùng với nó là quyền lực hành chính đối với các công dân một trong phạm vi tuyển cử của mình. Với thiết kế này, các nhà lập hiến Hoa Kỳ đã tạo ra vô số các trục quyền lực hành chính rải rác khắp nơi trên đất nước, rời rạc hóa đặc tính liên tục nguy hiểm của quyền lực hành chính.
Giao quyền cụ thể
Khi trao cho ai đó một quyền lực chính trị dù nhỏ bé nhất thì đồng thời phải đặt ra những hạn chế lớn nhất, để ngăn ngừa mọi khả năng dù là nhỏ nhất, quyền lực đó bị lũng đoạn.
Người Mỹ đã thực hiện điều này bằng cách giao quyền cụ thể cho các công chức được chọn. Từ các công chức cấp xã đến vị tổng thống liên bang, đều được giao thực thi những công việc nhất định, được quy định cụ thể bởi các đạo luật chung. Họ được tự do hành động trong phạm vi các tác vụ đã được quy định, đồng thời không thể lẩn tránh hành động. Cùng với hạn chế này, những công chức càng có phạm vi quyền lực hành chính lớn, càng được giao ít tác vụ do cơ hội giám sát của cử tri yếu dần tỷ lệ thuận với phạm vi tác quyền. Theo nguyên tắc này, một công chức cấp công xã sẽ được giao nhiều tác vụ nhất, ngược lại, tổng thống liên bang sẽ có ít tác vụ hành chính nhất. Điều này đồng nghĩa với việc một công chức cấp công xã sẽ có nhiều thực quyền hành chính nhất, nhưng đồng thời cũng bị giám sát chặt chẽ nhất bởi các cử tri trong địa hạt của mình[8].
Giao quyền đơn nhất, có thời hạn và theo nguyên tắc đa số
Mọi vị trí quyền lực trong hệ thống chính trị của Mỹ đều chỉ được giao một quyền lực đơn nhất đối với phạm vi một tác vụ. Theo nguyên tắc này thì sự phân định tam quyền phân lập chỉ là một diễn đạt sơ sài của nó. Trong hệ thống chính trị Mỹ, người ta thấy một sự phân định rạch ròi, một sự giao quyền đơn nhất hiện diện ở mọi chi tiết.
Hệ thống chính trị của Mỹ không thể không theo nguyên tắc giao quyền có thời hạn và nguyên tắc đa số. Đây là hai phương thức hạn chế hữu hiệu sự lạm dụng quyền lực của bất kỳ hệ thống chính thể đại diện nào[9].
Hiến pháp Mỹ không có ngôn từ tuyên bố về quyền nhân dân tối thượng trong phần chính văn, nhưng nhìn vào từng điều khoản trong cách thiết kế bộ máy nhà nước của hiến pháp người ta lại thấy quyền nhân dân hiện diện khắp nơi. Đó là một góc nhìn khác về hiến pháp, hiến pháp là một bản thiết kế bộ máy chính quyền đảm bảo thực thi trong thực tế các nguyên lý, nguyên tắc, đã được cộng đồng đồng thuận.
Hà Nội, 5/2/2013
N.Đ.K
Chỉ dẫn:
[1] – Cơ chế bảo hiến, với một tòa án hiến pháp độc lập để bảo vệ quyền hiến định của người dân (Xem thêm: Lưu Đức Quang – Thi hành và bảo vệ Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền;  Nguyễn Minh Tuấn – Cơ chế bảo hiến ở Đức) cũng chỉ nên xem là điều kiện tiên quyết yếu cho khả năng thực thi một hiến pháp.
Chưa kể kéo nhau ra tòa án thường là giải pháp cuối cùng, thì sự kiện một cá nhân hay nhóm người kiện chính quyền lên tòa án hiến pháp luôn là một sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc. Trong khi đó, quyền lực nhà nước là một quyền lực hiện diện khắp nơi và được duy trì bằng vũ lực với sức mạnh của cả cộng đồng. Vì thế, những vụ kiện vi hiến – những cú đánh ngẫu nhiên, rời rạc chỉ có sức mạnh như lời cảnh báo cho chính quyền hơn là sức mạnh cưỡng bách buộc chính quyền thực thi hiến pháp rộng rãi. Cơ chế bảo hiến, vì thế chủ yếu mang ý nghĩa tuyên truyền, vận động giúp hiến pháp được hiểu, áp dụng và tôn trọng.
[2] – Xem thêm Hiến pháp năm 1946
[3] – Có thể nhận xét Hiến pháp năm 1946 dựa trên các chuẩn mực của bản hiến pháp hiện đại, vì Hiến pháp năm 1946 xây dựng trên nền tảng Tuyên ngôn độc lập của Hồ chí Minh, tức là nền tảng nguyên lý nhân dân tối thượng, với mục tiêu xây dựng nhà nước dân chủ cộng hòa trên nguyên tắc phân quyền. Đó là những nguyên lý và nguyên tắc khác với nền tảng các hiến pháp sau đó xây dựng, theo cương lĩnh của Đảng cộng sản (ĐCS), đặt vai trò lãnh đạo của ĐCS làm nguyên lý xây dựng với nguyên tắc tập trung dân chủ và không tam quyền phân lập (Xem thêm: Bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành TW Đảng khóa XI, ngày 7/5/2012, của TBT Nguyễn Phú Trọng;  Nguyễn Sỹ Phương – Hiến pháp là nền tảng, còn nền tảng của hiến pháp?)
[4] – Xem thêm: Wendy Dương – Tổng quan về Hiến pháp Hoa Kì; Nguyễn Cảnh Bình, Hiến pháp Mỹ được làm như thế nào?, NXB Tri Thức, năm 2009.
[5] – Riêng bầu cử Thượng nghị sỹ theo phương thức hai nấc. Thượng nghị sỹ mỗi bang do cơ quan lập pháp bang đó chọn lựa. Ưu thế trí tuệ của việc bầu cử hai nấc với Thượng nghị sỹ sẽ được bàn kỹ hơn trong bài khác.
[6] – Ở nhà nước pháp quyền hiện đại, trong ba nhánh quyền lực thì hành pháp là nhánh có khả năng lạm quyền cao nhất. Lập pháp ban bố các luật lệ chung nhưng nghị viện chỉ nhóm họp định kỳ, tức là chỉ thể hiện quyền lực không trực tiếp và thường xuyên bị gián đoạn ở khoảng thời gian giữa các kỳ họp. Tư pháp cũng là sức mạnh hiện hữu rời rạc, tòa án chỉ xuất hiện ngẫu nhiên khi nảy sinh tranh chấp và người ta phải kêu đòi đến nó. Nhưng hành pháp thì hiện diện khắp nơi, nhu cầu thực thi pháp luật hiện diện không có giới hạn trong đời sống xã hội, người ta luôn phải kêu đòi đến hành pháp. Hoạt động giám sát, giải trình dù được thực hiện kín kẽ đến đâu cũng không thể nào theo kịp hoạt động của hành pháp.
[7] – Triết gia Pháp thế kỷ 19, Alexis de Tocqueville phân biệt hai hình thức tập trung, tập trung chính quyền là tập trung quyền điều hành các lợi ích chung cho tất cả các bộ phận quốc gia như lập các bộ luật chung và các mối quan hệ giữa dân tộc mình với dân tộc khác. Tập trung hành chính là tập trung quyền điều hành những lợi ích riêng biệt trong một quốc gia như các công trình ở công xã. Tocqueville cho rằng, không một quốc gia nào có thể sống và cũng chẳng thể nào sung túc nếu không có sự tập trung hóa chính quyền, nhưng tập trung hóa hành chính chỉ làm được mỗi việc là làm cho người dân mất sinh khí một khi phải chui đầu vào đó, bởi vì một nền hành chính như thế bao giờ cũng chỉ làm cho con người giảm bớt đi cái ý thức sống tự lập (Xem thêm: Alexis de Tocqueville, Nền dân trị Mỹ, NXB Tri Thức, năm 2012, tr.141 – tr.153).
[8] – Việc giao quyền cụ thể, vừa đảm bảo khả năng hoạt động tự do, độc lập của người công chức trong phạm vi tác vụ của mình, vừa đảm bảo khả năng thực tế của việc giám sát và phán xử của cơ quan kiểm soát, phán xét. Việc giao quyền cụ thể còn có ý nghĩa buộc công chức phải hành động, công chức không thể từ chối thực  thi các công vụ đã được giao cụ thể mà không phải chịu trách nhiệm với việc không hành động của mình.
[9] – Xem thêm: Alexis de Tocqueville, Nền dân trị Mỹ, NXB Tri Thức, năm 2012, Chương V-VIII.

Nguyễn Đắc Kiên

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Tại sao hiến pháp năm 1946 lại dân chủ nhất?


Nguyễn Đắc Kiên

Điều 70 – Hiến pháp năm 1946 quy định: “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây: a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu. b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi. c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.
Hiến pháp năm 1959 đã sửa điều khoản quan trọng bậc nhất này và trao toàn quyền sửa đổi hiến pháp cho quốc hội. Điều 112, Hiến pháp năm 1959 quy định: “Chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành”.
Không có toàn dân nào phúc quyết cho những sửa đổi hiến pháp năm 1959. Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội khóa 1, kỳ họp thứ 11, thông qua trong phiên họp ngày 31/12/1959, lúc 15h50. Ngay ngày hôm sau, 1/1/1960, Chủ tịch nước khi đó, Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh SL/01 ban hành[1].
Cũng trong tháng 12/1959, NXB Sự Thật phát hành cuốn “Hiến Pháp” Mỹ – Diệm, một công cụ nô dịch nhân dân miền Nam[2]. Trong cuốn sách này, tác giả Đinh Gia Trinh cho rằng bản Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa là bất hợp pháp vì “một hiến pháp phải có cơ sở là nhà nước hợp pháp. Nhà nước riêng biệt mà Mỹ – Diệm thiết lập ở miền Nam Việt Nam là bất hợp pháp, vì nó là sản phẩm trực tiếp của sự vi phạm trắng trợn những điều khoản chính trị của hiệp nghị Giơ-ne-vơ”[3].
Vậy bản Hiến pháp năm 1959, một sản phẩm của sự vi phạm Hiến pháp năm 1946 thì sao? Đây là một câu hỏi mà cần phải nhìn lại hoàn cảnh ra đời của bản Hiến pháp năm 1946 mới thấy hết ý nghĩa hệ trọng của nó.
Ông Hồ là một trong 7 người soạn thảo ra Dự án Hiến pháp đầu tiên đăng báo Cứu quốc số 88, ngày 10/11/1945[4]. Những thay đổi về quyền phúc quyết toàn dân trong bản hiến pháp năm 1959, thực ra là sự trở lại với dự án hiến pháp đầu tiên do nhóm của ông Hồ dự thảo. Theo ông Võ Nguyên Giáp thì Hồ Chí Minh là trưởng ban dự thảo và trực tiếp chủ tọa nhiều phiên họp của ban[5].
Tuy nhiên, nhà thơ Huy Cận (Cù Huy Cận) cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin hơn về việc này, trước khi có nhóm 7 người nói trên đã có một nhóm khác dự thảo hiến pháp được lập ra[6]. Cũng theo ông Cù Huy Cận, bên cạnh Ủy ban Hiến pháp lại có Ủy ban kiến thiết quốc gia (Ủy ban kiến quốc), tập hợp những nhân sỹ có tiếng ở Hà Nội và trong cả nước như: luật sư Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Trần Văn Chương; các giáo sư khoa học như Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Xiển… Ủy ban kiến quốc cũng đề xuất một dự thảo Hiến pháp riêng. Tinh thần cơ bản của dự thảo này là một chế độ đại nghị với hai viện dân biểu (Hạ nghị viện và Thượng nghị viện) phỏng theo mô bản chế độ đại nghị phương Tây. Cù Huy Cận viết trong hồi ký: “Ủy ban kiến quốc đã tập trung bàn nhiều về chính thể và chế độ, vì một số vị trong Ủy ban cho rằng điểm này là mấu chốt, là cơ bản… Thật ra, đây cũng là một cuộc tranh luận về chính trị, với hai quan điểm khác nhau, nếu không nói là đối lập thì cũng tranh chấp ảnh hưởng”.
Không có quá nhiều thay đổi so với dự án hiến pháp đầu tiên đăng công báo Cứu quốc số 88, nhưng kết quả của những cuộc tranh luận và dự án hiến pháp của Ủy ban kiến quốc cũng mang lại hai thay đổi quan trọng trong bản dự thảo cuối cùng trình Quốc hội: Dự án hiến pháp đầu tiên để quốc hội toàn quyền sửa hiến pháp thì dự thảo cuối cùng đưa vào điều khoản toàn dân phúc quyết; Dự thảo trình quốc hội ghi rõ: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” khác với ghi nhận chung chung trước đó “Nhà ở và tài sản của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm đến”[7].
Dự thảo cuối cùng sau đó được quốc hội lập hiến thông qua và trở thành bản Hiến pháp năm 1946, bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (thêm phần Lời nói đầu)[8].
Ủy ban kiến quốc khi đó chỉ là một sản phẩm chính trị của ông Hồ. Nhưng tiếng nói Ủy ban kiến quốc sở dĩ mạnh vì sau lưng họ có sự hậu thuẫn của cả quốc dân đồng bào. Hồ Chí Minh và phe phái của ông đã nắm thế chủ động trong việc soạn thảo hiến pháp nhưng tất cả đều dưới một áp không nhỏ từ các phe phái khác và từ tầng lớp tri thức tiến bộ. Ông Hồ và phe phái của ông không dễ gì thể hiện hết tham vọng cộng sản hóa đất nước ở thời điểm đó[9].
Ông Hồ sợ mang tiếng cộng sản
Những ngày cuối năm 1945, dưới sự bảo trợ của 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 đến biên giới Việt – Trung, Việt Quốc do ông Vũ Hồng Khanh đứng đầu và Việt Cách do ông Nguyễn Hải Thần đứng đầu đã chiếm giữ một số địa bàn Móng Cái, Yên Bái, Vĩnh Yên. Đặc biệt, Việt Quốc, được coi là đảng phái lớn nhất khi đó đã hợp nhất với Đại Việt Quốc dân đảng và Đại Việt dân chính đảng, xuất bản báo, in truyền đơn tuyên tuyền chống thực dân – cộng sản. Việt Quốc lập một lực lượng vũ trang 2.000 người và mở các lớp sơ, trung cấp, cao đẳng quân sự, chính trị; chia miền Bắc và miền Trung thành 7 chiến khu đảng bộ[10].
Sau mấy chục năm cùng nhau làm cách mạng, Việt Minh là đảng phái chiếm ưu thế lớn nhất sau sự kiện 19/8/1945, nhưng công lao của Việt Quốc, Việt Cách và các đảng phái khác không dễ gì bị lu mờ trong một sớm một chiều.
GS Hoàng Xuân Hãn kể lại một cuộc tiếp kiến với Hồ Chí Minh vào thời điểm cuộc đảng tranh đang hồi căng thẳng, ngày 13/10/1945[11].
“Hai lần xin cáo biệt, nhưng cụ giữ lại. Ban đầu bình phẩm về chính quyền. Tôi có nói: (Nay ta chưa độc lập, đang cần dư luận ngoại bang bênh vực. Nếu tỏ ra bất lực, hoặc có thái độ độc tài, thì khó lòng họ giúp mình). Cụ bảo rằng ủy ban địa phương làm bậy, chứ chính phủ không có ý chuyên quyền. Cụ hỏi đi hỏi lại: “Thế ra họ nói chính phủ cộng sản, thực chăng?”[12]. Tôi đáp: (Cụ đã nghe vậy thì có thật). Cụ nói: “Còn nói chính phủ độc tài, thì có đâu. Trong nội các có nhiều người không phải ở trong mặt trận Việt Minh…”
Cụ lại phân trần lâu việc bài xích hạng trí thức. Cụ nói chính phủ không làm điều ấy; nhưng có người làm thì chính phủ phải nhận lỗi. Rồi nói sang chuyện đảng tranh làm dân chúng hoang mang. Chủ tịch rất chăm chú nghe, cặp mắt sáng trương to như rót vào mặt tôi. Cụ hỏi: “Trí thức theo cụ Nguyễn Hải Thần nhiều phải không? Ông giao thiệp rộng chắc biết”. Trong trả lời tôi có nói: “Hình như khi ở nước ngoài các cụ đã trù tính việc chung. Nay đều về, lại thấy các cụ chia rẽ, cho nên họ hoang mang. Nếu cụ Nguyễn Hải Thần chỉ kéo bè đảng thôi, thì chắc họ không theo. Cụ Nguyễn có tìm gặp tôi, tôi đã thưa rằng người tri thức chân chính không tìm địa vị. Các cụ già cứ hòa hiệp với nhau, rồi thì hạng trẻ như chúng tôi theo. Các cụ có cần gọi ra quét đường, họ cũng nhận”.
Nét mặt không di chuyển, Chủ tịch đặt câu hỏi thẳng: “Đối với ông, thì cụ Nguyễn là thế nào?” Tôi đáp: “Tôi không được biết rõ. Nhưng cảnh huống bây giờ thì tuy là bậc cách mệnh lão thành nhưng trở về chậm nước, cụ phải ép vào thế non,… xem ra thế nào!” Cụ hỏi gặn: “Thế nào?” Tôi nói: “Thế nào… tôi không tiện nói, chỉ có thể nói thế cụ Nguyễn không được thuận. Tuy nhiên, làm cách mạng trong bốn mươi năm nay, cụ ấy có thanh thế. Vả hạng tri thức ai cũng sẵn sàng làm việc nước, mà bị chính phủ đem lòng ngờ vực, thì họ đi theo cụ Nguyễn, cũng là người ái quốc, đó cũng không nên lấy làm lạ!””.
Sau đó Hồ Chí Minh hỏi thêm: “Đối với cụ Nguyễn Hải Thần nên làm thế nào?” Hoàng Xuân Hãn trả lời: “Nếu cụ Nguyễn có thể làm dễ cho sự ngoại giao, thì nên dùng cụ. Tuy không nên cải tổ hấp tấp ra đang sợ áp lực, nhưng nên cải tổ chính phủ để hợp tác. Sự hợp tác phải thành thật, đừng để có cảm tưởng lấy danh mà thôi”.
Tinh thần bản Hiến pháp
Ông Hồ dường như đã nghe thấy một nửa lời khuyên của GS Hoàng Xuân Hãn. Sau đó, 70 đại biểu của các đảng phái khác Việt Minh đã bổ sung vào quốc hội năm 1946 mà không qua tổng tuyển cử[13]. Một “Chính phủ liên hiệp kháng chiến” đã được Hồ Chí Minh lập ra ngày 2/3/1946 với Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch, Vũ Hồng Khanh là phó Chủ tịch Quân ủy trung ương và Phan Anh Bộ trưởng Quốc phòng. Nhưng sau này Phan Anh thừa nhận với GS Hoàng Xuân Hãn, chức Bộ trưởng Quốc phòng của ông chỉ là tượng trưng, quân đội thực chất nằm trong tay tướng Giáp[14].
Chính phủ này chỉ tồn tại được 10 tháng, ngày 3/11/1946, một Chính phủ mới không còn người đối lập đã được lập ra[15], chấm dứt thời kỳ có thành phần đối lập trong chính phủ và quốc hội[16], lịch sử Việt Nam bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ cộng sản[17].
Nếu non tay chính trị ông Hồ đã có thể đưa những điều khoản “đỏ” hơn vào bản Hiến pháp năm 1946, nhưng ông là một chính trị gia lão luyện đến kẻ thù của ông cũng phải khâm phục.
Hồ sơ của Louis Marty ghi nhận một sự việc như vậy. Năm 1927, ở Maxcova, Nguyễn Ái Quốc tuyên bố: “sự thành lập đảng Cộng sản tại Đông Dương không thể thực hiện được hồi đó, “bởi vì chưa ai thấu hiểu nghĩa của tiếng “cộng sản”””. Tuyên bố này giải thích cho chiến thuật thận trọng trước đó của Nguyễn Ái Quốc. Kể từ ngày 20/6/1925, Nguyễn Ái Quốc đã cho xuất bản tại Quảng Châu tờ tuần báo “Thanh Niên”. Trong những số đầu, ông nhấn mạnh nhiều về tinh thần đoàn kết, kêu gọi tinh thần độc lập và ý thức quốc gia. Kế đó ông cung cấp cho độc giả các tài liệu về các phong trào quốc tế. Lâu lâu, một câu hay một bài báo ngắn cố tình cho độc giả hiểu về sự hiện hữu của Liên Xô. Nguyễn Ái Quốc đã không ngần ngại sử dụng 60 số báo để sửa soạn tinh thần độc giả trước khi bộ lộ ý định của ông khi viết: “chỉ có đảng Cộng sản là có thể đảm bảo hạnh phúc cho Annam”. Khi đó tờ tuần báo của Nguyễn Ái Quốc đã được tất cả đảng viên trong và ngoài nước cùng nhiều cảm tình viên đọc và chép đi chép lại nhiều lần[18].
Nhưng những thủ đoạn chính trị dù có được bày đặt tinh vi đến đâu thì cuối cùng cũng chỉ là cái xác bị đè dưới bánh xe lịch sử.
Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 bắt đầu bằng “cuộc Cách mạng tháng Tám”, xóa bỏ đô hộ thực dân, chế độ vua quan cũ, cũng đồng thời xóa bỏ toàn bộ công tích của các phong trào đấu tranh của các nhà yêu nước trước đó. Lịch sử khởi đầu một thời kỳ mới bắt đầu từ “Cách mạng tháng Tám” được viết bởi người Cộng sản[19].
Nhưng lịch sử là cái đã diễn ra chứ không phải là cái được kể lại, nó lưu giấu trong những thực thể mà sự tồn tại của những thực thể đó nằm ngoài hết thảy những dự tính, những âm mưu, thủ đoạn. Bản Hiến pháp năm 1946 là một thực thể như thế, người ta có thể bóp méo tất cả, nhưng chẳng có cách nào bóp méo bản thể tinh thần đã sinh ra nó. Người ta không thể giấu giếm tinh thần dân chủ của bản Hiến pháp năm 1946, cũng như không thể giấu giếm tính toàn trị của những bản hiến pháp sau đó, được viết từ sức mạnh tuyệt đối của Đảng Cộng sản.
Hà Nội, ngày 12/2/2013
N.Đ.K
Chỉ dẫn:
[1] – Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, NXB Dân Trí, năm 2011; Xem thêm: Lịch sử quốc hội Việt Nam 1946 – 1960, NXB Chính trị Quốc gia, năm 1994. Hình dưới là ảnh Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 01/SL ban hành Hiến pháp năm 1959 ngày 1/1/1960. Ảnh Tư liệu

[2] – Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa, do Quốc hội Lập hiến biểu quyết ngày 20/10/1956, được Tổng thống Ngô Đình Diệm ký ban hành ngày 26/10/1956.
[3] Xem thêm: Đinh Gia Trinh,  “Hiến pháp” Mỹ – Diệm, một công cụ nô dịch nhân dân miền Nam, NXB Sự Thật, năm 1959.
[4] – Đặng Thanh Xuân (Phan Đăng Thanh), Tư tưởng lập hiến thế kỷ XX và sự ra đời Hiến pháp đầu tiên ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ lịch sử, năm 2003.
[5] – Hồi ký đại biểu Quốc hội khóa I, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2000, tr.20-21.
[6]- Trong Sắc lệnh số 34 ngày 20/9/1945 lập ủy ban dự thảo Hiến pháp thì danh sách 7 người không có tên ông Cù Huy Cận và có tên ông Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại). Tuy nhiên, theo Huy Cận, trước khi ra Sắc lệnh số 34, ngày 13/9/1945, Hội đồng Chính phủ lâm thời đã quyết định lập một Ủy ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người trong đó Hồ Chí Minh giữ vai trò cố vấn và có mặt ông Cù Huy Cận trong thành phần ủy ban. Ủy ban họp mỗi tuần một lần ở phòng hóa học của trường Đại học Đông Dương cũ. Bản dự thảo hiến pháp này theo tinh thần dân chủ mới: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và giống chế độ đại nghị phương Tây, nêu rõ 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Còn theo biên bản buổi họp toàn thể đại hội lần thứ nhất, ngày 2/3/1946 thì ông Cù Huy Cận là thành viên của nhóm 11 người trong Ban dự thảo Hiến pháp của quốc hội.
[7] – Xem thêm: Phan Đăng Thanh, sđd, phụ lục 5-11.
[8] – Ngày 9/11/1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với 240 đại biểu tán thành trên 242 đại biểu; hai đại biểu không tán thành là Nguyễn Sơn Hà và Phạm Gia Đỗ. Ông Phạm Gia Đỗ, đại biểu của Việt Quốc trước đó, phát biểu tranh luận, không tán thành chế độ một viện mà cần có chế độ hai viện vì ông cho rằng, chế độ một viện là “độc tài của đa số”.
Về bất đồng của đại biểu Nguyễn Sơn Hà, nhà tư sản, được coi như người mở đường cho ngành sơn dầu Việt Nam, ông Hà không tán thành vì Hiến pháp không có điều quy định công nhận cho công dân có quyền tự do kinh doanh[Xem thêm: Phan Đăng Thanh, sđd, chú thích 8].
Bản Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua và Quốc hội cũng đã quyết định không cần phải đưa Hiến pháp ra trưng cầu dân ý trong toàn quốc nữa. Bản Hiến pháp đã trở thành chính thức từ 9/11/1946. Việc bầu Nghị viện nhân dân cũng chưa thể tổ chức được, Quốc hội lập hiến, tiếp tục hoạt động và trở thành Quốc hội lập pháp. [Xem thêm: Lịch sử quốc hội Việt Nam 1946 - 1960, NXB Chính trị Quốc gia, năm 1994].
[9] – Khi đó, Điều 126, Hiến pháp Liên Xô năm 1936 đã viết: “Những người công dân hoạt động nhất và giác ngộ nhất thuộc gia cấp công nhân, nông dân lao động và lao động trí thức kết hợp cùng nhau trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Đảng là đội tiên phong của những người lao động trong cuộc đấu tranh xây dựng xã hội cộng sản và là hạt nhân lãnh đạo của mọi tổ chức lao động, mọi tổ chức xã hội cũng như mọi cơ quan nhà nước”.
[10] Xem thêm: Nguyễn Văn Khánh, GS.TS Đại học KHXH&NV-ĐHQGHN, Việt Nam Quốc dân đảng trong thời kỳ thoái trào và biến chất (từ 1930 đến 1954), Nghiên cứu lịch sử, số 6 – năm 2010.
[11] Đoạn khá dài này được trích nguyên văn vì tính chất quan trọng của nó. Đoạn trích được dẫn từ bài viết: “Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt” của GS Hoàng Xuân Hãn trên Tập san Sử Địa, Số 23-24, năm 1971. Tập san Sử Địa là một tập san sưu tầm, khảo cứu chuyên ngành do nhóm giáo sư, sinh viên Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn chủ trương thực hiện, với sự bảo trợ của nhà sách Khai Trí. Toàn bộ Tập San Sử Địa gồm có 29 số (22 tập), được phát hành từ năm 1966 cho tới sự kiện 30/4/1975 thì ngừng lại.
[12] – Xem thêm: Việt Nam 1945-1995 – Chương 1: Quốc gia và Cộng sản
[13] – Ông Cù Huy Cận ghi lại sự việc đó như sau: “Ngày 3/3/1946, Quốc hội họp phiên đầu tiên. Có một sự kiện mà chỉ có Quốc hội ta mới có. Đó là việc ngoài các đại biểu chính thức được bầu qua tổng tuyển cử trong cả nước, Hồ Chí Minh đề nghị Quốc hội chấp nhận thêm 70 đại biểu của Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) vì vừa rồi các vị ấy không có điều kiện ra ứng cử. Quốc hội biểu quyết thông qua”.
[14] – Vũ Đình Hòe, Hồi ký Thanh Nghị,  NXB Văn Học, năm 1997, tr.620. Vũ Đình Hòe trích lại bài viết Tưởng nhớ Phan Anh của GS Hoàng Xuân Hãn trên báo Hồng Lĩnh số 6. Thanh Nghị: Nghị luận trong trẻo của kẻ trí thức, là tờ báo ra một số từ 1/5/1941, rồi mỗi tháng ra hai số từ 1/5/1942. Báo Thanh Nghị do một nhóm thanh niên trí thức chủ trương gồm có các giáo sư, luật gia, bác sỹ… Trong đó Phan Anh đóng góp chủ yếu những bài lập hiến. Trong chuỗi bài về lập hiến, có một đoạn viết về vai trò của đảng như sau: “Chính phủ Trung Hoa hiện thời là Chính phủ của một đảng, giống như Chính phủ Nga Xô viết, Đức hoặc Ý (phát xít). Những cơ quan của Đảng và của Chính phủ thâm nhập lẫn nhau, khó mà phân biệt được… Từ ngày một Hiến pháp lâm thời được thực hiện, hoạt động của Quốc dân đảng dần dân lu mờ đi trước hoạt động của Chính phủ. Đảng tuyên bố hoạt động của Đảng sẽ thôi hẳn, khi nào Hiến pháp chính thức được ban bố để thi hành. Khác hẳn với những chính thể Nga Xô viết, Đức và Ý, ở ba nước này, người ta không hề dự định giải tán đảng vì nhiệm vụ của đảng giống hệt như nhiệm vụ của Chính phủ”. Còn trong bài Tưởng nhớ Phan Anh của GS Hoàng Xuân Hãn đã dẫn ở trên, có một chi tiết khác khá thú vị là khi đi cùng Hồ Chí Minh sang dự hội nghị Fontainebleau, Phan Anh đã mang về một cuốn sách của A.Koestler, “cuốn sách đã gây một tiếng giội lớn ở Âu châu Âu vì chỉ trích thâm trầm chế độ và tư tưởng của Xtalin trong các vụ giết các bạn hữu đồng chí”.
[15] – Trong 70 đại biểu vào Quốc hội không qua Tổng tuyển cử cuối cùng “chỉ có Trần Văn Cầu (Việt Quốc), Lê Viết Cường, Đinh Chương Dương, Lý Đào, Ngô Văn Hợp, Nguyễn Văn Lưu, Trần Tân Thọ (Việt Cách) là đủ tư cách đại biểu Quốc hội, còn hầu hết là bị Quốc hội truất quyền đại biểu”. Theo ghi nhận của tướng Võ Nguyên Giáp, Quốc hội khóa I, kỳ 2 khai mạc ngày 28/10/1946: “Số ghế dành cho các tổ chức này trong kỳ họp Quốc hội đầu tiên, nay để trống gần một nửa”. Cũng tướng Giáp ghi lại, trả lời chất vấn của các đại biểu ngày 31/10/1946 về việc Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh rời Quốc hội, Hồ Chí Minh nói: “Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, về ông Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh… Các ông ấy không có mặt ở đây… Lúc nhà nước đương gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào trao người ấy công việc lớn mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải hỏi lương tâm thế nào? Những người đã bỏ việc kia, họ không muốn gánh vác việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ năng lực gánh vác; nay chúng ta không có họ ở đây, chúng ta cứ gánh vác như thường”. Xem thêm: Hồi ký đại biểu Quốc hội khóa I, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2000, phần hồi ký của tướng Võ Nguyên Giáp.
Còn theo Phan Đăng Thanh, trong sách đã dẫn ở trên, ngày 11/3/1946 Hội đồng Chính phủ đã cử Vĩnh Thụy sang giao hảo với Trung Hoa, nhân chuyến đi này ông đã ở lại luôn Trung Quốc và sau đó sang Hồng Kông. Sau Hiệp ước Pháp – Hoa, ngày 28/2/1946, quân đội Tưởng Giới Thạch rút về nước, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh… “bỏ nhiệm vụ” trốn theo[Xem thêm: Việt Nam 1945-1995 – Chương 1: Quốc gia và Cộng sản]. Vệ quốc quân của Chính phủ đã đồng loạt tấn công các “dư đảng” còn lại. Đến “ngày 7/11/1946, nhiều phần tử Việt Quốc, Việt Cách bị bắt giam ở Hà Nội. Các nhóm chính trị phản động tiếp tục bị khám phá, tém dẹp”.
[16] – Phan Đăng Thanh, sđd, tr.161
[17] – Đến lần sửa đổi Hiến pháp năm 1980, Đảng chính thức đưa quyền lãnh đạo của mình vào Điều 4. Điều 4, Hiến pháp năm 1980 ghi: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội”
[18] – Tập san Sử địa, số 14-15, tr.178-182, trích đăng Tài liệu của Sở mật thám Đông Dương về “Đông Dương cộng sản đảng” do trùm mật thám Louis Marty chủ trương biên soạn.
[19] – Việc có một bản Hiến pháp, một Quốc hội, một Chính phủ khi đó có ý nghĩa hệ trọng trong việc tuyên bố với thế giới về một nước Việt Nam độc lập. Đó là điều mà lịch sử của Đảng Cộng sản nhấn mạnh như một công lao không thể chối cãi thuộc về đảng. Tuy nhiên, có một sự kiện liên quan đến việc thành lập Chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ được người cộng sản tuyên truyền là bù nhìn, tay sai cho Nhật, có thể cho người ta một góc nhìn khác. Trong bài trả lời phỏng vấn của Stein Tonnessson, một nhà sử học Na Uy, cuối năm 1989, luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong Chính phủ Trần Trọng Kim và sau này giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Chính phủ của Đảng Cộng sản cho biết, ngay từ khi lập ra chính phủ, vua Bảo Đại, Trần Trọng Kim đã xác định tính chất “lâm thời” của chính phủ. Việc thành lập chính phủ chỉ là bước đệm để toàn dân vươn tới mục tiêu độc lập. Hoàn cảnh lịch sử khi đó, cần phải có một chính phủ để tuyên bố với quốc tế, khẳng định sự độc lập của người Việt Nam, ngăn cản sự trở lại của người Pháp. Trong đó một việc có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng là Chính phủ Trần Trọng Kim đã đòi lại cho Việt Nam những mảnh đất mà chế độ thuộc địa Pháp đã tách ra là: Nam Kỳ, Đà Nẵng, Hà Nội. Đó là những mảnh đất trước đó được gọi là thuộc địa[Xem thêm: Vũ Đình Hòe, sđd, Phụ lục 7]. GS Hoàng Xuân Hãn, một Bộ trưởng khác trong Chính phủ Trần Trọng Kim cũng xác nhận điều này. Theo GS Hãn, Trần Trọng Kim và những nhân sỹ trí thức trong chính phủ chỉ có một mục tiêu chung là “gấp rút trong khoảng một năm, tập cho quốc dân quen với tính cách độc lập tự tin để đến khi hòa bình trở lại, Đồng Minh không có cớ đặt ách ngoại trị vào cổ dân ta”. Nhưng điều các ông không lường trước được là biến cuộc bất ngờ ở chiến trường Thái Bình Dương, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Nhật và đảng Việt Minh ra lệnh tổng khởi nghĩa. Tin đồn “đoàn quân Việt – Mỹ” sắp về, làm cho toàn dân say sưa[Xem thêm: Việt Nam 1945-1995 – Chương 1: Quốc gia và Cộng sản]. Chính phủ Trần Trọng Kim đã đánh điện cho chủ tịch 5 nước Đồng Minh, yêu cầu nhìn nhận sự độc lập đã thành của nước và đề nghị hợp tác với quân Việt Minh. Nhưng ngày 21/8/1945, Việt Minh lại ra yêu cầu Bảo Đại thoái vị, giải tán Chính phủ Trần Trọng Kim. Vua Bảo Đại đã tuyên bố thoái vị (ngày 24/8) để Chính phủ của Việt Minh dễ thương thuyết độc lập với Đồng Minh. Theo GS Hãn, sở dĩ có việc này vì vua Bảo Đại và những Bộ trưởng của ông tin rằng khi đó chỉ có Việt Minh có quân đội đủ mạnh để gìn giữ độc lập cho đất nước[Xem thêm: Vũ Đình Hòe, sđd, phụ lục 8]. Còn Việt Minh thì đã tuyên truyền Chính phủ Trần Trọng Kim là bù nhìn, việc để Bảo Đại làm cố vấn và thu nhận một số thành viên cũ của Chính phủ Trần Trọng Kim như Phan Anh là do chính sách đại đoàn kết và trọng dụng tri thức. Tuy nhiên, như đã thấy, số phận của từng người sau đó khác nhau, tùy thuộc vào việc họ có đồng ý hay không với ý thức hệ cộng sản.