Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Quốc Tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Quốc Tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

Hiến chương Liên Hiệp Quốc (UN Charter)

nyh-06-27-1945-un-charter
Tác giả: Chu Duy Ly
Hiến chương Liên Hiệp Quốc được ký ngày 26 tháng 06 năm 1945 ở San Francisco, Hoa Kỳ, tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Tổ chức Quốc tế gồm 50 nước thành viên đầu tiên. Hiến chương có hiệu lực vào ngày 24 tháng 10 năm 1945 sau khi được phê chuẩn bởi 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an – Cộng hòa Trung Hoa (sau này được thay thế bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), Pháp, Liên Xô (sau này được thay thế là Liên Bang Nga), Anh, Hoa Kỳ và phần lớn các nước khác. Ngày nay Liên Hiệp Quốc có 192 quốc gia thành viên.
Hiến chương Liên Hiệp Quốc là hiệp ước nền tảng của tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh này, có vai trò như một bản hiến pháp đối với một quốc gia. Hiến chương quy định những nội dung bao quát, cơ bản nhất đối với một tổ chức như nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức, quy chế thành viên… Tất cả các thành viên của Liên Hiệp Quốc đều bị ràng buộc bởi các điều khoản của Hiến chương. Theo đó, Hiến chương quy định rằng nghĩa vụ đối với Liên Hiệp Quốc cao hơn tất cả các nghĩa vụ trong các hiệp ước khác.
Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đã phê chuẩn Hiến chương. Tuy nhiên, một ngoại lệ đáng chú ý là Tòa Thánh Vatican; với tư cách là quan sát viên thường trực nên Vatican không phải ký đầy đủ tất cả các điều khoản của Hiến chương.
Nội dung chính
Hiến chương bao gồm Lời nói đầu và 111 Điều được nhóm lại trong 19 Chương.
Lời nói đầu bao gồm hai phần chính. Phần đầu tiên là lời kêu gọi chung cho việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế và tôn trọng nhân quyền. Phần thứ hai của lời nói đầu là một bản tuyên bố mà các chính phủ của các dân tộc thành viên Liên Hiệp Quốc đồng ý với Hiến chương.
Chương I nêu bốn mục đích của Liên Hiệp Quốc, bao gồm các điều khoản quan trọng về duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
Chương II quy định tiêu chuẩn của các thành viên Liên Hiệp Quốc.
Chương III đến Chương XV – phần chính của Hiến chương – miêu tả các cơ quan, các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc và quyền hạn của các cơ quan, tổ chức này.
Chương XVI và Chương XVII quy định các dàn xếp giúp đưa Liên Hiệp Quốc trở nên phù hợp với khuôn khổ có sẵn của luật pháp quốc tế.
Chương XVIII và Chương XIX quy định việc sửa đổi và phê chuẩn Hiến chương.
Riêng các chương sau đây đề cập đến việc thực thi quyền hạn của các cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc:
Chương VI quy định quyền hạn của Hội đồng Bảo an về điều tra và hòa giải các tranh chấp.
Chương VII quy định quyền hạn của Hội đồng Bảo an về trừng phạt kinh tế, ngoại giao và quân sự, cũng như việc sử dụng lực lượng quân sự để giải quyết các tranh chấp.
Chương VIII quy định về các dàn xếp ở cấp độ khu vực nhằm duy trì hòa bình và an ninh ở những khu vực đó.
Chương IX và Chương X quy định quyền hạn của Liên Hiệp Quốc về hợp tác kinh tế – xã hội, và quyền hạn của Hội đồng Kinh tế – Xã hội chịu trách nhiệm giám sát những quyền hạn này.
Chương XII và Chương XIII quy định quyền hạn của Hội đồng Ủy trị chịu trách nhiệm giám sát quá trình phi thực dân hóa (việc trao quyền độc lập cho các thuộc địa).
Chương XIV và Chương XV quy định quyền hạn riêng của Tòa án Công lý Quốc tế và Ban Thư ký Liên Hiệp Quốc.
Toàn văn của Hiến chương có tại địa chỉ: http://www.un.org/en/documents/charter/
Những lần sửa đổi, bổ sung của Hiến chương Liên Hiệp Quốc
Vấn đề sửa đổi, bổ sung Hiến chương được quy định tại Chương XVIII. Quy trình sửa đổi Hiến chương được dựa trên nguyên mẫu của Hiến pháp Hoa Kỳ với các quy định cơ bản như cần phải có hai phần ba các quốc gia thành viên thông qua và các sửa đổi phải được các quốc gia thành viên này phê chuẩn. Ngoài ra Hiến chương quy định có hai cách thức cơ bản để đề xuất các sửa đổi đối với Hiến chương. Cách thứ nhất là thông qua đề xuất của Đại Hội đồng và cách thứ hai được tiến hành qua việc triệu tập một hội nghị quốc tế nhằm đề xuất các điều chỉnh.
Cho đến nay Hiến chương đã trải qua ba lần sửa đổi chính, chủ yếu nhằm phản ánh sự mở rộng quy mô của Liên Hiệp Quốc:
Lần 1: Sửa đổi các Điều 23, 27 và 61 của Hiến chương được thông qua bởi Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 17 tháng 12 năm 1963 và có hiệu lực ngày 31 tháng 08 năm 1965.
Việc sửa đổi Điều 23 cho phép nâng số thành viên của Hội đồng Bảo an từ 11 thành viên lên 15 thành viên. Sửa đổi Điều 27 quy định nguyên tắc biểu quyết của Hội đồng, theo đó các quyết định của Hội đồng phải được thông qua bởi đa số hai phần ba, tương đương với phiếu thuận của chín thành viên (trước đây là bảy) bao gồm phiếu thuận của tất cả năm thành viên thường trực. Sửa đổi Điều 61 cho phép mở rộng số lượng thành viên của Hội đồng Kinh tế và Xã hội từ 18 thành 27.
Lần 2: Sửa đổi Điều 109, được thông qua bởi Đại Hội đồng ngày 20 tháng 12 năm 1965, có hiệu lực vào ngày 12 tháng 06 năm 1968.
Việc sửa đổi Điều 109, liên quan đến Khoản 1 của Điều này, quy định rằng một Đại Hội đồng các Quốc gia Thành viên nhằm mục đích xem xét lại Hiến chương có thể được tổ chức vào một ngày và một nơi cố định nếu có đủ 2/3 số phiếu bầu của các thành viên của Đại Hội đồng và nếu đủ số phiếu ủng hộ của bất kỳ 9 thành viên nào (trước đây là 7) của Hội đồng Bảo an.
Lần 3: Sửa đổi thêm ở Điều 61 được thông qua bởi Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 20 tháng 12 năm 1971, và có hiệu lực ngày 24 tháng 08 năm 1973; cho phép tăng thêm số thành viên của Hội đồng Kinh tế và Xã hội từ 27 lên thành 54 thành viên.
Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài trong trọng tài thương mại quốc tế

Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài trong trọng tài thương mại quốc tế
Ở Việt Nam, khi bàn tới vấn đề luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế, người ta thường chỉ nhắc tới luật điều chỉnh nội dung tranh chấp và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài mà chưa dành sự quan tâm đáng kể tới luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài. Luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài khác với luật điều chỉnh nội dung tranh chấp (từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài. Luật này được sử dụng để điều chỉnh các vấn đề liên quan tới thoả thuận trọng tài như sự giải thích, tính hợp pháp, hiệu lực, phạm vi, và huỷ bỏ thoả thuận trọng tài[1]. Bài viết tập trung trả lời cho câu hỏi: Luật nào sẽ giải quyết vấn đề hiệu lực của thoả thuận trọng tài?

1. Điều khẳng định trước tiên là, thoả thuận trọng tài phải tuân thủ luật của nước được áp dụng đối với thoả thuận trọng tài (dù là một điều khoản trong hợp đồng hay một thoả thuận được lập ngoài hợp đồng vào thời điểm phát sinh tranh chấp) nếu các bên mong muốn tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài chứ không phải là một phương pháp khác; hơn nữa là, phán quyết trọng tài cuối cùng sẽ có hiệu lực và được bảo đảm thi hành. Trên thực tế, hiệu lực của thoả thuận trọng tài được xem xét trong hai trường hợp sau đây:
Trường hợp 1: Khi xuất hiện một sự phản đối thẩm quyền của trọng tài được đưa ra trước hội đồng trọng tài
Đây là trường hợp một khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài được gửi tới hội đồng trọng tài khi hội đồng đang trong quá trình giải quyết vụ việc nhưng chưa đưa ra phán quyết cuối cùng. Khiếu nại về thẩm quyền trọng tài khá đa dạng, đó có thể là sự viện dẫn về sự không rõ ràng trong lựa chọn toà án hay trọng tài của thoả thuận trọng tài, hay lựa chọn một tổ chức trọng tài không có trên thực tế để xét xử tranh chấp v.v.. Để xác định xem trọng tài có thẩm quyền không, lúc này cần phải căn cứ vào thoả thuận trọng tài. Nhìn chung, trong trường hợp này, các trọng tài viên đều tôn trọng luật do các bên thoả thuận lựa chọn điều chỉnh thoả thuận trọng tài để xác định tính hợp pháp của thoả thuận trọng tài. Nếu các bên đã không có bất kỳ sự thoả thuận chọn luật nào như vậy, thực tiễn trọng tài thường đi theo các hướng giải quyết khác nhau[2]. Có ba hướng giải quyết chính sau đây:
Thứ nhất, một số trọng tài viên đã đưa ra phán quyết rằng, nếu thiếu vắng sự chọn luật của các bên, thoả thuận trọng tài sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước nơi tiến hành trọng tài (place of arbitration). Nguyên tắc này được thể hiện trong nhiều phán quyết của toà án trọng tài thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Bungari, nó cũng nhận được sự đồng tình của các trọng tài viên thuộc Hiệp hội trọng tài Mỹ AAA. Trong vụ Baques Centroamericanos v. Petroleo SA (1988), Hội đồng đã tuyên rằng: Luật Mỹ sẽ được áp dụng để xem xét hiệu lực của thoả thuận trọng tài vì trọng tài đã được tiến hành tại New York.
Thứ hai, một số trọng tài lại có quan điểm khác, theo họ, thoả thuận trọng tài được điều chỉnh bởi luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp. Phán quyết 5/9/1977 của Hội đồng trọng tài thuộc Hiệp hội buôn bán dầu, chất béo và hạt chứa dầu Hà Lan ghi rõ: “… luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp cũng được áp dụng đối với việc xem xét hiệu lực của điều khoản trọng tài.”
Thứ ba, theo quan điểm khác, một số trọng tài lại tin tưởng vào các quy tắc trọng tài của tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn để giải quyết tranh chấp. Họ cho rằng, cần phải dựa vào những quy tắc này để điều chỉnh các vấn đề của thoả thuận trọng tài. Vụ việc số 5486 năm 1989 do trọng tài ICC giải quyết là một tranh chấp phát sinh giữa các bên liên doanh: một bên là công ty Bỉ và phía bên kia là công ty Tây Ban Nha về hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Toà án trọng tài ICC đã ra phán quyết về luật điều chỉnh điều khoản trọng tài như sau: “Vì mục đích của tố tụng trọng tài, các bên đã thoả thuận áp dụng các quy tắc trọng tài ICC… và việc làm như vậy, biến các quy tắc của một tổ chức trọng tài quốc tế thành nguồn luật điều chỉnh thoả thuận trọng tài… do đó, hiệu lực của điều khoản trọng tài phải được xác định dựa vào các quy tắc trọng tài ICC.”
Trường hợp 2: Khi việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài được đặt ra
Vào giai đoạn này, nguyên tắc thoả thuận trọng tài được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn được sử dụng khá phổ biến trong pháp luật các nước cũng như các quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế. Về nguyên tắc, điều khoản trọng tài độc lập với phần còn lại của hợp đồng (điều này được thừa nhận rộng rãi trên thế giới), nên các bên có quyền thoả thuận một luật riêng để điều chỉnh điều khoản trọng tài mà không phải dựa vào luật điều chỉnh nội dung hợp đồng. Nếu muốn một luật riêng như vậy, họ cần thoả thuận rõ về việc áp dụng luật đó trong hợp đồng hoặc một văn bản riêng. Tuy nhiên trên thực tế, hiếm khi các bên thoả thuận áp dụng luật riêng cho thoả thuận trọng tài mà mặc nhiên sử dụng ngay luật điều chỉnh nội dung hợp đồng (thường được thoả thuận dưới dạng một điều khoản hợp đồng).
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận như vậy, nhiều hệ thống pháp luật thừa nhận nguyên tắc luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên sẽ thay thế. Nguyên tắc này được tìm thấy gián tiếp qua các quy định về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trong các luật trọng tài trên thế giới. Khoản 1 điều 54 Luật Trọng tài Thuỵ Điển 1999 quy định: “Phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành ở Thuỵ Điển nếu bên bị chống lại quyền lợi chứng minh được rằng… thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu họ không đạt được thoả thuận như vậy, theo luật của nước phán quyết trọng tài được tuyên”. Khoản II điều 38 Luật Trọng tài Brazil quy định: “… phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành nếu bị đơn chứng minh được rằng thoả thuận trọng tài không có hiệu lực theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu thiếu điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên”. Nội dung tương tự cũng được ghi nhận tại điều 103(2)(b) Luật Trọng tài Anh 1996: “Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài có thể bị từ chối nếu bị đơn chứng minh được rằng, thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước các bên đã chấp thuận nó, nếu không có điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên.”
*Hoặc theo điều 34(2)(a)(i) luật mẫu trọng tài UNCITRAL: “Một quyết định chỉ có thể bị toà án theo quy định tại Điều 6 huỷ trong trường hợp… thoả thuận nói trên không có giá trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo luật của quốc gia nơi quyết định được tuyên trong trường hợp mà các bên không ghi rõ”. Nội dung tương tự cũng được thể hiện tại điều V Công ước NewYork 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.
2. Khi nghiên cứu về luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài cũng cần phân biệt với luật điều chỉnh năng lực chủ thể các bên ký kết thoả thuận trọng tài (capacity). Đây là hai vấn đề khác nhau nhưng có mối liên quan mật thiết với nhau, một thoả thuận trọng tài chỉ có hiệu lực nếu các bên thoả thuận nó có đầy đủ tư cách chủ thể. Vậy tư cách chủ thể của các bên tham gia thoả thuận trọng tài được xác định theo cơ sở pháp lý nào?
Trong khi các bên tham gia trọng tài được thoả thuận về luật điều chỉnh nội dung hợp đồng và thoả thuận trọng tài thì họ lại không được phép làm như vậy với việc điều chỉnh năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài. Trên thực tế, việc xác định năng lực chủ thể ký kết hợp đồng và thoả thuận trọng tài là như nhau và thường được đặt ra trong hai trường hợp: thứ nhất, khi toà án một nước xem xét yêu cầu huỷ quyết định trọng tài hay từ chối công nhận, thi hành quyết định trọng tài; thứ hai, khi trọng tài xem xét thoả thuận trọng tài có hiệu lực không.
Trong trường hợp thứ nhất, tại điều V(1)(a) Công ước New York 1958 quy định: toà án có thể từ chối công nhận và thi hành quyết định trọng tài nếu theo luật áp dụng đối với các bên, họ không có đủ năng lực. Một quy định như vậy không chỉ rõ luật nào sẽ được áp dụng cho vấn đề xác định năng lực chủ thể mà để mở một khả năng áp dụng luật đa dạng. Tương tự như vậy, Điều 34(2)(a) luật mẫu UNCITRAL quy định: quyết định trọng tài bị toà án huỷ khi một trong các bên ký thoả thuận trọng tài không đủ năng lực ký kết thoả thuận trọng tài đó. Cả Công ước NewYork và luật mẫu mặc dù không chỉ rõ nhưng đều có khuynh hướng dựa vào các quy tắc xung đột của nước có toà án đang có thẩm quyền giải quyết vụ việc để chọn luật điều chỉnh vấn đề năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài (conflict of law rules of the forum)[3]. Đại đa số các nước hiện nay đều sử dụng phương pháp chọn luật này cho năng lực chủ thể, và do đó, các quy tắc xung đột được ghi nhận trong tư pháp quốc tế của nước có toà án đang có thẩm quyền giải quyết vụ việc sẽ được áp dụng. Các quy tắc này thường là: áp dụng luật của nước mà các bên mang quốc tịch hay các bên cư trú đối với cá nhân, và luật quốc tịch đối với pháp nhân.
Ở trường hợp thứ hai, các trọng tài viên sẽ giải quyết vấn đề năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài như thế nào? Nhiều quan điểm hiện nay cho rằng, các trọng tài viên không bắt buộc phải áp dụng các quy tắc xung đột của nơi tiến hành xét xử, bởi vì họ không phải là “các phương tiện của hệ thống pháp luật quốc gia như toà án quốc gia”. Điều này không có nghĩa là các trọng tài viên không quan tâm tới các quy tắc xung đột quốc gia nơi xét xử trọng tài, mà khuynh hướng chung hiện nay là trọng tài sẽ kết hợp các quy tắc xung đột quốc gia với các quy tắc xung đột trong các điều ước quốc tế về trọng tài được thừa nhận rộng rãi trên thế giới để tìm ra một quy tắc xung đột chung cho việc xác định năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài[4]. Quy tắc chung này thường là luật quốc tịch của các bên (đối với cả cá nhân và pháp nhân).
Một vấn đề cần đề cập tới khi xác định năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài là xác định năng lực chủ thể của quốc gia và các cơ quan nhà nước khi tham gia trọng tài. Mặc dù xu hướng chấp nhận trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp đang ngày một tăng lên trên thế giới, nhưng không phải tất cả các quốc gia đều ưa chuộng phương thức này để giải quyết các tranh chấp hợp đồng quốc tế có sự tham gia của nhà nước. Trong khi một số nước không có bất kỳ hạn chế nào đối với trọng tài trong giải quyết tranh chấp hợp đồng mà quốc gia tham gia với tư cách chủ thể, thì một số nước khác, vì những nguyên nhân lịch sử hay sự định kiến với trọng tài đã miễn cưỡng chấp nhận trọng tài theo trào lưu chung của thế giới. Ở những nước này, việc cấm đoán hay hạn chế quốc gia và các cơ quan nhà nước tham gia thoả thuận trọng tài được thể hiện khá rõ trong các đạo luật do nhà nước ban hành. Arập Xê út (Saudi Arabia) là một ví dụ điển hình của việc cấm đoán triệt để quốc gia hay các cơ quan nhà nước ký kết thoả thuận trọng tài: Nghị quyết số 58 của Hội đồng Bộ trưởng Arập Xê út 1963 quy định: “Nghiêm cấm tất cả các cơ quan chính phủ chấp thuận trọng tài với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng phát sinh giữa các cơ quan này với các cá nhân hay các công ty”. Ở Cộng hoà Pháp, có thể tìm ra một sự hạn chế khả năng trọng tài của quốc gia và cơ quan nhà nước, sự hạn chế này chỉ áp dụng đối với trọng tài nội địa mà không áp dụng đối với trọng tài quốc tế. Điều này được thể hiện trong vụ San Carlo (2/5/1966), nguyên đơn là một cơ quan thuộc Chính phủ Pháp đã kiện ra toà án Pháp chống lại thuyền trưởng của một con tàu chở hàng lớn trong một hợp đồng vận chuyển quốc tế. Bị đơn sau đó đã yêu cầu toà án từ chối xét xử vụ việc với lý do các bên đã có một thoả thuận trọng tài. Toà án cấp sơ thẩm (the court of first instance) đã bác yêu cầu của bị đơn với lý do, theo luật Pháp, nguyên đơn không có khả năng trọng tài (không được ký thoả thuận trọng tài). Sau đó, bị đơn đã kháng cáo lên toà án cấp trên, và toà án này đã ra phán quyết rằng: mặc dù cấm đoán đệ trình tranh chấp tới trọng tài theo điều 83 và 1004 của Bộ luật Tố tụng dân sự là một vấn đề của chính sách nội địa, nhưng điều này sẽ không áp dụng đối với hợp đồng quốc tế trong đó có sự tham gia của cơ quan nhà nước. Trong luật Bỉ cũng tìm thấy một sự hạn chế về năng lực chủ thể của các cơ quan công quyền khi tham gia một thoả thuận trọng tài. Nhà nước chỉ có thể ký thoả thuận trọng tài khi một điều ước quốc tế có liên quan cho phép làm như vậy (Điều 1672(2) Bộ luật Tư pháp Bỉ 1972 - Belgian Code Judiciare).
3. Ở Việt Nam hiện nay, số vụ tranh chấp có liên quan tới thương mại quốc tế được xét xử bằng trọng tài không nhiều và tập chung chủ yếu tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Thực tiễn xét xử trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam cho thấy, đối với các vấn đề về thoả thuận trọng tài, các trọng tài viên Việt Nam thường chỉ phải giải quyết sự mập mờ, không rõ nghĩa trong thoả thuận chọn trọng tài giải quyết tranh chấp, mà hiếm khi phải xác định luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài vì vấn đề hiệu lực của nó, đặc biệt là trường hợp các bên tranh chấp không thoả thuận về luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài. Hiện chưa có một phương pháp xác định luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài có tính thống nhất trong xét xử trọng tài thương mại quốc tế ở Việt Nam. Có nghĩa là, với mỗi vụ việc, trọng tài sẽ có cách hành xử khác nhau. Điều này dễ tạo cảm giác tuỳ tiện trong xét xử, và theo chúng tôi là bất lợi trong việc phát triển thị trường trọng tài Việt Nam trong điều kiện thị trường này đang hết sức nhỏ bé và chưa nhận được nhiều sự quan tâm của giới kinh doanh trong và ngoài nước. Về lâu dài, khiếm khuyết này cần được khắc phục, góp phần phát triển một thị trường trọng tài Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Liên quan tới việc xác định năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài, điểm a khoản 1 Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 quy định:
“1. Quyết định của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây: a) Các bên ký kết thoả thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thoả thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;…”
Điều khoản trên là không rõ ràng, bởi nó không chỉ ra được “pháp luật được áp dụng cho mỗi bên” là pháp luật nước nào, và thực tế cũng không có bất cứ nguyên tắc cụ thể nào giúp cho việc chọn luật điều chỉnh năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài được đưa ra trong các văn bản pháp luật hướng dẫn Bộ luật Tố tụng dân sự. Sự thiếu vắng của một quy tắc chọn luật như vậy sẽ dẫn tới câu hỏi, toà án Việt Nam sẽ dựa vào các quy tắc xung đột của tư pháp quốc tế Việt Nam hay của nước nào đó có liên quan để xác định tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia thoả thuận trọng tài? Câu hỏi này không thể trả lời dứt khoát với thực trạng pháp luật hiện nay, và rõ ràng, chúng ta cần phải khắc phục lỗ hổng pháp lý đó càng sớm càng tốt bởi số lượng các phán quyết trọng tài nước ngoài có yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam ngày càng tăng lên trong những năm gần đây do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta. Học tập kinh nghiệm của các nước, liệu chúng ta có thể sử dụng nguyên tắc, áp dụng các quy tắc xung đột của nước có toà án đang có thẩm quyền giải quyết vụ việc để chọn luật điều chỉnh vấn đề năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài (conflict of law rules of the forum)?
Tóm lại, một thoả thuận trọng tài, trong bất kỳ bối cảnh nào, cũng sẽ có hiệu lực nếu phù hợp với các quy định trong luật được các bên thoả thuận. Tuy nhiên, nếu không có sự thoả thuận của các bên, thì không có bộ quy tắc nào về chọn luật điều chỉnh thoả thuận trọng tài được sử dụng chung cho các trọng tài viên. Việc xem xét luật điều chỉnh hiệu lực của thoả thuận trọng tài phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng trọng tài mà sẽ có những quyết định riêng rẽ, chẳng hạn, luật nơi tiến hành trọng tài, luật nơi phán quyết được tuyên, luật điều chỉnh nội dung tranh chấp. Vì vậy, để tránh những rắc rối có thể xảy ra trong quá trình trọng tài, các bên nên dành thời gian để thoả thuận kỹ lưỡng về điều khoản trọng tài cũng như luật áp dụng đối với nó.
[1]David St.John Sutton, Judith Gill(2003), Russell on arbitration, Sweet and Maxwell, p.69.
[2]Okezie chukwumerije (1994), choice of law in international commercial arbitration, Quorum Books westport, conecticut law, p.36.
[3]David st.John sutton Judith Gill(2003), Russell on arbitration, Sweet and Maxwell, p.69.
[4]Okezie chukwumerije (1994), choice of law in international commercial arbitration, Quorum Books westport, conecticut law, p.40.

Ths. Trần Minh Ngọc
---
Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi

Tư pháp quốc tế và vấn đề xây dựng “quy phạm pháp luật”...

Tư pháp quốc tế và vấn đề xây dựng “quy phạm pháp luật” bởi Tòa án ở Pháp và Việt Nam (Đỗ Văn Đại).
ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 7/2002
TƯ PHÁP QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG
“QUY PHẠM PHÁP LUẬT” BỞI TÒA ÁN Ở Pháp vàViệt Nam”

Đỏ Văn Đai
1. Tư pháp quốc tế là một “ngành luật điều chỉnh các quan hệ có yếu tố nước ngoài về tư pháp như dân sự, hôn nhân gia đình, lao động hoặc có khách thể là vật tồn tại ở nước ngoài”(1). Nghiên cứu Tư pháp quốc tế là nghiên cứu các quy phạm pháp quy điều chỉnh những vấn đề liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Ở Việt Nam cũng như ở Pháp, một số quy phạm pháp luật này tồn tại trong Công ước quốc tế hay Hiệp định tương trợ tư pháp mà Chính phủ Pháp hay Chính phủ Việt Nam tham gia. Ví dụ ở Pháp một số quy phạm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tồn tại trong Công ước Rôma ngày 19 tháng 6 năm 1980 hay Công ước Viên ngày 11 tháng 4 năm 1980 về quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; ở Việt Nam chúng ta có thể tìm thấy một số quy phạm của Tư pháp quốc tế trong hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Cộng hòa dân chủ Đức (cũ), với Liên Xô (cũ), với Tiệp Khắc (cũ), với Cu Ba, với Hunggari, với Bungari, v.v…
2. Bên cạnh những quy phạm pháp luật được ghi nhận trong các nguồn quốc tế trên, chúng ta còn thấy trong Tư pháp quốc tế Pháp và Việt Nam một số quy phạm pháp luật phát sinh từ những nguồn quốc nội như Bộ luật Dân sự, các Luật hay Nghị định. Ví dụ ở Pháp chúng ta thấy một số quy phạm trong Bộ luật Dân sự Napolêon năm 1804 như Điều 3, Điều 14 và Điều 15 và ở Việt Nam chúng ta thấy một số quy phạm trong phần bảy Bộ luật Dân sự hay trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 v.v… Ngoài những quy phạm pháp luật vừa nêu trên, chúng ta còn thấy tồn tại một loại quy phạm khá đặc biệt với những đặc thù riêng, đó là những quy phạm pháp luật được thiết lập bởi Tòa án tối cao mà chúng tôi xin đề cập ở đây. Trong bài viết này trước khi trao đổi với bạn đọc một số quan điểm liên quan đến giá trị pháp lý của quy phạm pháp quy được xây dựng bởi Tòa án tối cao để điều chỉnh một số vấn đề liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (II), chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc những kỹ thuật mà Tòa án tối cao Pháp và Tòa án tối cao Việt Nam sử dụng khi thiết lập các quy phạm loại này(I).
I. Những kỹ thuật xây dựng quy phạm hướng dẫn do Tòa án sử dụng trong Tư pháp quốc tế Pháp và Việt Nam
Nghiên cứu tổng quát Tư pháp quốc tế Pháp và Việt Nam chúng ta thấy tồn tại hai kỹ thuật phổ biến mà Tòa án tối cao Pháp và Tòa án tối cao Việt Nam sử dụng để xây dựng một số quy phạm pháp luật liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: Tòa án Pháp cũng như Tòa án Việt Nam thiết lập một số quy phạm pháp luật của Tư pháp quốc tế thông qua việc cụ thể hóa pháp luật (1) và thông qua việc bổ sung pháp luật(2).
1. Xây dựng quy phạm pháp luật của Tư pháp quốc tế bởi Tòa án thông qua việc cụ thể hóa pháp luật
Ở Pháp và Việt Nam tồn tại một số văn bản pháp quy điều chỉnh những vấn đề liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nhưng còn ở dạng khung và trừu tượng. Để đưa những văn bản này vào thực tiễn đời sống, Tòa án đã phải cụ thể hóa nó và thông qua việc cụ thể hóa Tòa án tối cao Pháp (a) và Tòa án tối cao Việt Nam (b) đã xây dựng một số quy phạm pháp quy. Chúng tôi xin dẫn một số ví dụ.
a. Ở Pháp:
3. Theo Điều 3 khoản 3 Bộ luật Dân sự Napolêon năm 1804, “luật liên quan đến trạng thái và năng lực điều chỉnh người Pháp ngay cả khi họ sống ở nước ngoài”. Quy phạm này đã được hai chiều hóa. Theo pháp luật Pháp hiện nay, “trạng thái và năng lực” của một chủ thể được điều chỉnh bởi pháp luật nhân thân của chủ thể này. Thuật ngữ “trạng thái và năng lực” được sử dụng ở đây còn khá trừu tượng và chung chung. Tình trạng của một cá nhân bị điên, bị tâm thần hay bị sa sút trí tuệ khi ký kết một hợp đồng dân sự là một vấn đề liên quan đến “trạng thái và năng lực” được điều chỉnh bởi pháp luật nhân thân hay là một vấn đề liên quan đến sai sót trong ký kết hợp đồng dân sự được điều chỉnh bởi pháp luật của hợp đồng (pháp luật có quan hệ mật thiết với hợp đồng nếu không có thỏa thuận khác)? Theo Tòa án tối cao Pháp, đây là một vấn đề liên quan đến “trạng thái và năng lực” của một cá nhân và được điều chỉnh bởi pháp luật nhân thân của cá nhân này(2). Vậy thông qua việc cụ thể hóa pháp luật, Tòa án Pháp đã thiết lập quy phạm mà theo đó tình trạng của một cá nhân bị điên, bị tâm thần hay bị sa sút trí tuệ khi ký kết một hợp đồng dân sự là một vấn đề liên quan đến “trạng thái và năng lực” được điều chỉnh bởi pháp luật nhân thân của cá nhân này.
4. Theo Điều 1496 Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp, Trọng tài thương mại quốc tế giải quyết tranh chấp theo “những quy phạm pháp luật”. Nếu các bên trong tranh chấp không có thỏa thuận về pháp luật điều chỉnh hợp đồng, khi xét xử Trọng tài có thể sử dụng pháp luật của một nước nào đó để giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp này, quyết định của Trọng tài là hợp lệ vì pháp luật của một quốc gia được chọn là một loại quy phạm pháp luật. Tương tự Trọng tài có thể sử dụng những quy phạm thực chất trong các Công ước quốc tế để giải quyết tranh chấp vì đây cũng là một loại quy phạm pháp luật. Điều 1496 nêu trên sử dụng khá chung chung thuật ngữ “những quy phạm pháp luật”, vậy tập quán thương mại và thông lệ quốc tế có được coi là một loại quy phạm pháp luật không? Quyết định của Trọng tài có hợp lệ không khi Trọng tài sử dụng tập quán thương mại và thông lệ quốc tế để giải quyết tranh chấp? Theo Tòa án tối cao Pháp, tập quán thương mại và thông lệ quốc tế là một loại quy phạm pháp luật mà Trọng tài có thể sử dụng để giải quyết tranh chấp nếu tập quán thương mại và thông lệ quốc tế này được chấp nhận trong thực tế xét xử các nước(3). Vậy thông qua việc cụ thể hóa pháp luật Tòa án Pháp đã thiết lập một quy phạm của Tư pháp quốc tế.
b. Ở Việt Nam:
5. Theo Điều 87 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, “các quy định của Pháp lệnh này cũng được áp dụng đối với việc giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Việt Nam, nếu một hoặc các bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác”. Vậy một điều kiện để áp dụng Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài là đây phải là một “tranh chấp kinh tế tại Việt Nam”. Thuật ngữ tranh chấp kinh tế tại Việt Nam sử dụng ở đây còn khá trừu tượng và chung chung. Đối với một tranh chấp hợp đồng có yếu tố nước ngoài hai câu hỏi được đặt ra: Khi nào tranh chấp này được coi là một tranh chấp kinh tế và khi nào một tranh chấp hợp đồng kinh tế được coi là một tranh chấp tại Việt Nam?
6. Đối với câu hỏi thứ nhất, theo Tòa án nhân dân tối cao(4): là một tranh chấp kinh tế khi “tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh được ký kết giữa một bên là pháp nhân Việt Nam với một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, không phân biệt việc pháp nhân đó có trụ sở hay không có trụ sở tại Việt Nam, cá nhân đó có cư trú tại Việt Nam hay không”. Cũng theo Tòa án tối cao: không phải là một tranh chấp kinh tế mà là một tranh chấp dân sự tại Việt Nam khi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh giữa các bên đều là người nước ngoài vì “tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có mục đích sản xuất, kinh doanh giữa các bên đều là cá nhân nước ngoài, đều là pháp nhân nước ngoài hoặc giữa một bên là pháp nhân nước ngoài với một bên là cá nhân nước ngoài do Tòa án nhân dân giải quyết theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, vì theo quy định của Điều 43 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế thì các hợp đồng đó không phải là hợp đồng kinh tế”.
7. Đối với câu hỏi thứ hai, có thể tồn tại ba giải pháp: là một tranh chấp hợp đồng kinh tế tại Việt Nam khi đây là tranh chấp về ký kết hợp đồng tại Việt Nam; khi một hoặc hai bên trong hợp đồng ở Việt Nam; hay khi đây là tranh chấp về thực hiện hợp đồng tại Việt Nam. Theo Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, “các tranh chấp kinh tế tại Việt Nam bao gồm: tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng kinh tế tại Việt Nam không phụ thuộc vào hợp đồng kinh tế đó được ký kết tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài. Cũng cần lưu ý là trong trường hợp hợp đồng kinh tế được ký kết tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài, nhưng một phần hợp đồng kinh tế được thực hiện tại Việt Nam, một phần hợp đồng kinh tế được thực hiện ở nước ngoài, nếu có tranh chấp hợp đồng kinh tế thì Tòa án chỉ thụ lý giải quyết tranh chấp về việc thực hiện phần hợp đồng kinh tế tại Việt Nam”(5). Ở đây tiêu chí để một tranh chấp về hợp đồng kinh tế được coi là một tranh chấp về hợp đồng kinh tế tại Việt Nam là đây phải là tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng này tại Việt Nam.
Vậy thông qua việc cụ thể hóa pháp luật, Tòa án tối cao Việt Nam đã xây dựng một số quy phạm liên quan đến tranh chấp hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
2. Xây dựng quy phạm pháp luật của Tư pháp quốc tế bởi Tòa án thông qua việc bổ sung pháp luật
Bên cạnh việc cụ thể hóa pháp luật, chúng ta còn thấy Tòa án tối cao Pháp (a) và Tòa án tối cao Việt Nam (b) thiết lập một số quy phạm của Tư pháp quốc tế thông qua việc bổ sung pháp luật. Xin dẫn một số ví dụ:
a. Ở Pháp:
8. Theo Điều 3, khoản 2 Bộ luật Dân sự Napolêon năm 1804, “bất động sản, ngay cả đối với bất động sản thuộc quyền sử dụng của người nước ngoài, được điều chỉnh bởi pháp luật Pháp”. Điều khoản này không đề cập đến vấn đề thừa kế động sản. Vậy vấn đề thừa kế động sản được điều chỉnh bằng pháp luật nước nào, pháp luật nơi có tài sản, pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch hay pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng? Theo Tòa án tối cao Pháp, vấn đề thừa kế về động sản được điều chỉnh bởi pháp luật mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng(6). Vậy thông qua việc bổ khuyết pháp luật, Tòa án tối cao Pháp đã thiết lập ở đây một quy phạm xung đột pháp luật.
9. Theo Điều 14 Bộ luật Dân sự Napolêon năm 1804, “người nước ngoài, ngay cả khi không thường trú ở Pháp, có thể bị khởi kiện trước Tòa án Pháp đối với việc thực hiện nghĩa vụ được ký kết với một người Pháp ở Pháp; người nước ngoài có thể bị khởi kiện trước Tòa án Pháp đối với nghĩa vụ được ký kết với người Pháp ở nước ngoài”. Theo Điều 15 Bộ luật Dân sự Napolêon năm 1804, “công dân Pháp có thể bị khởi kiện trước Tòa án Pháp đối với nghĩa vụ được ký kết ở nước ngoài, ngay cả với người nước ngoài”. Cả hai điều luật này đều không đề cập đến trường hợp tranh chấp giữa hai bên đều là người nước ngoài. Tòa án Pháp có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp dân sự giữa hai bên đều là người nước ngoài không? Trước năm 1948, theo Tòa án tối cao Pháp, Tòa án Pháp không có thẩm quyền tài phán đối với loại tranh chấp này(7). Nhưng từ năm 1948 trở lại đây, theo Tòa án tối cao Pháp, Tòa án Pháp có quyền tài phán đối với tranh chấp giữa các bên đều là người nước ngoài(8). Vậy thông qua việc bổ khuyết pháp luật, Tòa án tối cao Pháp đã thiết lập ở đây một quy phạm xung đột quyền tài phán.
b. Ở Việt Nam:
10. Theo Điều 13, khoản 1 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế, “Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án cấp huyện) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng, trừ trường hợp có nhân tố nước ngoài”. Pháp lệnh phủ nhận rõ ràng thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện đối với các vụ án kinh tế có yếu tố nước ngoài. Song Pháp lệnh không chỉ ra Tòa án nào có quyền xét xử các tranh chấp này. Đây là một khiếm khuyết của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế. Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án tối cao có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài? Theo Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, “theo quy định tại Điều 13 của Pháp lệnh, thì việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tất cả các vụ án kinh tế quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh khi có một hoặc các bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”(9). Vậy thông qua việc bổ sung pháp luật, Tòa án tối cao Việt Nam đã thiết lập ở đây một quy phạm theo đó Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài.
11. Trước năm 1986, những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Nhưng Luật này không chứa đựng một điều khoản nào liên quan đến vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Tòa án Việt Nam có thẩm quyền tài phán đối với việc ly hôn có yếu tố nước ngoài hay không? Nếu có thì pháp luật nước nào được chọn để điều chỉnh loại ly hôn này? Ở đây chúng ta thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 có nhiều lỗ hổng pháp lý và lỗ hổng này được bổ sung bởi Tòa án nhân dân tối cao. Theo thông tư số 11/TATC ngày 12 tháng 7 năm 1974 của Tòa án nhân dân tối cao về thủ tục giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền xét xử những vấn đề ly hôn này và pháp luật Việt Nam là pháp luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp về ly hôn(10).
Vậy cũng như Tòa án tối cao Pháp, thông qua việc bổ khuyết pháp luật, Tòa án tối cao Việt Nam đã thiết lập một số quy phạm pháp luật của Tư pháp quốc tế.
II. Giá trị pháp lý của quy phạm pháp luật được xây dựng bởi Tòa án trong Tư pháp quốc tế Pháp và Việt Nam
12. Phần I trên cho chúng ta thấy trong thực tế Tòa án tối cao Pháp và Tòa án tối cao Việt Nam đã thiết lập một số quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Một câu hỏi đặt ra là các quy phạm pháp luật này có tính bắt buộc hay không. Trả lời câu hỏi này đồng nghĩa với trả lời câu hỏi án lệ có phải là một nguồn của Tư pháp quốc tế hay không vì theo định nghĩa án lệ là “thực tiễn xét xử một loại các vụ việc cụ thể, thể hiện trong các bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án cao cấp nhất xử”(11) và nguồn của pháp luật “là các hình thức chứa đựng và thể hiện các quy phạm pháp luật”(12). Nếu câu trả lời cho câu hỏi này đã rõ ràng trong Tư pháp quốc tế Pháp (1) thì ngược lại đây đang là một vấn đề tranh cãi trong khoa học pháp lý Việt Nam nói chung cũng như trong Tư pháp quốc tế Việt Nam nói riêng (2).
1. Giá trị pháp lý của quy phạm pháp luật được xây dựng bởi Tòa án trong Tư pháp quốc tế Pháp
13. Theo thuyết tam quyền phân lập, Tòa án là cơ quan tư pháp và do đó không có vai trò xây dựng các quy phạm pháp quy mà chỉ đứng ra áp dụng luật. Nhưng trước sự nghèo nàn của các văn bản cụ thể điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, án lệ được coi là một nguồn của pháp luật Pháp nói chung cũng như của Tư pháp quốc tế Pháp nói riêng. Một điểm chung của tài liệu Tư pháp quốc tế Pháp là không một tài liệu sách báo nào phủ nhận vai trò nguồn pháp luật của án lệ. Các chuyên gia Tư pháp quốc tế Pháp đều thừa nhận vai trò này của án lệ. Theo H. Batiffol và P. Lagarde “nguồn chủ yếu của Tư pháp quốc tế Pháp hiện nay vẫn ở án lệ của Tòa án tối cao và của các Tòa án địa phương thuộc sự giám sát của Tòa án tối cao”(13). Tương tự, theo Y. Loussouarn và P. Bourel, “án lệ là một nguồn rất quan trọng của Tư pháp quốc tế”(14).
14. Trong thực tế, các quy phạm pháp luật được thiết lập bởi Tòa án tối cao Pháp thông qua vụ việc cụ thể trong các bản án. Vậy phải tìm kiếm các bản án này như thế nào? Từ đầu những năm 80 việc tìm kiếm các bản án của Tòa án tối cao khá đơn giản vì tất cả các bản án của Tòa án tối cao được ghi lại trong CDROM. Nhưng những CDROM này thường phát hành 5 hay 6 tháng sau khi bản án được đưa ra. Vậy muốn có thông tin cập nhật liên quan đến các bản án người quan tâm phải tìm xem trong các tạp chí luật theo quý như Tạp chí JDI, Tạp chí RCDIP; tạp chí hàng tháng như Tạp chí RJDA; tạp chí hàng tuần như Tạp chí Dalloz, Tạp chí JCP.G, Tạp chí JCP.E hay tạp chí hàng ngày như Tạp chí Gaz.Pal., Tạp chí Petites affiches, v.v… Những bản án có tính điển hình có thể tìm thấy trong Bản tin của Tòa án tối cao hàng tháng (Bull.civ.) và một số bản án quan trọng được sưu tập và bình luận trong cuốn Những bản án quan trọng của Tư pháp quốc tế Pháp, Nxb Dalloz 1998 của hai chuyên gia B.Ancel và Y.Lequette.
2. Giá trị pháp lý của quy phạm pháp luật được xây dựng bởi Tòa án trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
15. Các quy phạm pháp luật thiết lập bởi Tòa án tối cao Việt Nam có tính bắt buộc hay không, án lệ có được coi là một nguồn của pháp luật Việt Nam nói chung và của Tư pháp quốc tế Việt Nam nói riêng hay không hiện nay còn là vấn đề đang được tranh luận ở nước ta(15). “Về lý luận chưa có một giáo trình luật nào của các trường đại học ở nước ta đề cập đến vấn đề này một cách đầy đủ, khách quan và có hệ thống(16). Theo giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường đại học Luật Hà Nội, “ở nước ta thực tiễn tư pháp (án lệ) không được nhìn nhận với tư cách là nguồn của pháp luật nói chung và nguồn của Tư pháp quốc tế nói riêng. Chỉ có các văn bản pháp luật của Nhà nước mới là nguồn của luật pháp. Điều này khẳng định quan điểm là tòa án của Việt Nam là cơ quan xét xử và khi xét xử chỉ tuân theo luật pháp, nó không có quyền ban hành văn bản pháp luật, cũng như án lệ không thể là nguồn của pháp luật Việt Nam nói chung và nguồn của Tư pháp quốc tế Việt Nam nói riêng”(17). Nhưng theo Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu, “trong các sách, báo khoa học pháp lý nước ta phổ biến quan niệm coi nguồn của pháp luật là những hình thức biểu hiện bên ngoài của pháp luật, nói cách khác là những văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật. Không coi những án lệ và tập quán pháp là nguồn của pháp luật. Quan niệm như vậy chỉ có tác dụng nhấn mạnh vai trò của những văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống nguồn của pháp luật, nhưng chưa thật đầy đủ và toàn diện. Thực tế ở nước ta trong nhiều trường hợp để xét xử phải dùng đến “án lệ” ở trình độ khái quát, tổng hợp cao dưới hình thức những văn bản hướng dẫn xét xử của Tòa án nhân dân tối cao”(18).
16. Theo chúng tôi nếu hợp tình và hợp lý thì phải coi những quy phạm thiết lập bởi Tòa án tối cao Việt Nam là bắt buộc, tức là án lệ là một nguồn của pháp luật Việt Nam nói chung và của Tư pháp quốc tế Việt Nam nói riêng. Đó là vì hai lý do chủ yếu sau:
Lý do pháp lý: Trong pháp luật thực định Việt Nam, không một văn bản nào chính thức thừa nhận án lệ là một nguồn của pháp luật và cũng không có một văn bản nào khẳng định một cách công khai án lệ không là một nguồn của pháp luật nói chung và của Tư pháp quốc tế nói riêng. Tác giả Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu thừa nhận vai trò pháp lý của án lệ nhưng không đưa ra một văn bản nào để làm cơ sở. Tương tự, giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường đại học Luật Hà Nội phủ nhận vai trò này của án lệ song cũng không dựa vào một văn bản cụ thể nào. Vậy án lệ có là nguồn của pháp luật nói chung và của Tư pháp quốc tế nói riêng hay không cần được giải quyết thông qua giải thích pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này. Theo Điều 19, khoản 1, Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 2 tháng 4 năm 2002, “Tòa án nhân dân tối cao có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án”(19). Ở đây dường như Quốc hội “ngầm” thừa nhận rằng các văn bản hiện hành của Việt Nam còn chưa hoàn thiện, đầy đủ, cụ thể. Cho phép và đồng thời bắt buộc Tòa án tối cao Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật dường như cũng là cho phép và đồng thời bắt buộc Tòa án tối cao thiết lập các quy phạm pháp luật khi cần thiết. Nói một cách khác, ở đây dường như Quốc hội đã “ngầm” ủy quyền cho Tòa án tối cao xây dựng một số quy phạm pháp luật khi cần thiết, tức là khi văn bản pháp luật còn ở dạng khung hay còn khiếm khuyết. Những quy phạm được thiết lập bởi Tòa án tối cao nghiên cứu trong phần I đều được xây dựng thông qua hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Vậy phủ nhận một cách máy móc tính bắt buộc của những quy phạm thiết lập bởi Tòa án tối cao dường như cũng là phủ nhận Điều 19 khoản 1 nói trên.
Lý do thực tiễn: Theo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ở nước ta hiện nay đã có những “án lệ ngầm”(20). Trong thực tế các quy phạm thiết lập bởi Tòa án tối cao có tính bắt buộc như những quy phạm pháp luật khác. Nếu không theo các quy phạm thiết lập bởi Tòa án tối cao khi xét xử, bản án của Tòa án địa phương có nhiều khả năng bị hủy và phải xét lại và để tránh bị hủy án của mình Tòa án địa phương buộc phải tôn trọng những quy phạm loại này. Tương tự đối với các đương sự trong tranh chấp: Bên đương sự không thừa nhận các quy phạm thiết lập bởi Tòa án tối cao có nhiều khả năng thua kiện và đương sự tôn trọng các quy phạm này có nhiều cơ hội thắng kiện.
17. Không một hệ thống pháp luật nào là hoàn thiện tuyệt đối. Mỗi hệ thống pháp luật đều có những khe hở, khiếm khuyết. Các nhà lập pháp khi thiết lập một văn bản không thể dự tính đến tất cả các vấn đề pháp lý có thể xảy ra thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản này. Đây là một thực tế mà pháp luật nước ta không thể tránh được(21). Trước những lỗ hổng pháp lý của các văn bản pháp luật không được điều chỉnh kịp thời, án lệ là một công cụ để hoàn thiện pháp luật. Tất nhiên đây không phải là một công cụ hữu hiệu nhất vì án lệ có nhược điểm riêng của nó. Nếu mỗi một vấn đề pháp lý phát sinh đều được Quốc hội hay Chính phủ điều chỉnh kịp thời bằng những văn bản chi tiết cụ thể thì đây là một điều tốt cho tất cả mọi người. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng chúng ta chỉ có một Quốc hội, một Chính phủ trong khi đó những vấn đề pháp lý cụ thể cần giải quyết thì nhiều. Ở nước ta, khi văn bản pháp luật còn ở dạng khung hay chưa hoàn thiện, việc thừa nhận giá trị pháp lý của án lệ để điều chỉnh một số vấn đề của quan hệ xã hội không hoàn toàn xa lạ. Vào những năm 50, khi văn bản pháp luật còn sơ sài và chưa chặt chẽ, pháp luật nước ta cũng đã thừa nhận vai trò của án lệ trong thực tế pháp lý. Ví dụ theo thông tư của Thủ tướng Chính phủ số 442/TTg, ngày 19-1-1955, “Tới nay các Tòa án căn cứ vào những văn bản nói trên và chính sách trừng trị của Chính phủ mà xét xử đem lại kết quả tốt cho việc bảo vệ trật tự, an ninh. Kinh nghiệm xét xử về một số loại phạm pháp đã được trở thành án lệ. Tuy nhiên án lệ ấy còn khác nhau giữa các địa phương. Đường lối xét xử do đó không được thống nhất, rõ ràng và có nơi không được đúng. Cần phải thống nhất những án lệ ấy trong quy định chung sau đây để hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội phạm thông thường”.
18. Vậy nếu những quy phạm pháp luật được thiết lập bởi Tòa án tối cao là hợp tình và hợp lý, chúng ta nên coi những quy phạm này như những quy phạm pháp luật khác, tức là thừa nhận án lệ là một nguồn của pháp luật nói chung và của Tư pháp quốc tế nói riêng. Trong các giáo trình hay tư liệu Tư pháp quốc tế, chúng ta nên đi thêm vào nghiên cứu án lệ. Vì phủ nhận án lệ là một nguồn của pháp luật, giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường đại học Luật Hà Nội dường như không chỉ dẫn một quy phạm pháp luật nào được thiết lập bởi Tòa án tối cao trong khi đó những quy phạm này không ít. So sánh sách báo chuyên sâu liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở Pháp và Việt Nam, chúng ta nhận thấy Tư pháp quốc tế nước ta còn nhiều khiếm khuyết, lỗ hổng và Tư pháp quốc tế Pháp lại tương đối đầy đủ và hoàn thiện, trong khi đó về số lượng văn bản Tư pháp quốc tế nước ta chứa đựng nhiều văn bản pháp luật hơn Tư pháp quốc tế Pháp (Nghị viện và Chính phủ Pháp rất ít can thiệp vào lĩnh vực xung đột pháp luật và xung đột quyền tài phán). Lý do cơ bản của sự khác nhau này trong sách báo chuyên sâu là vì các chuyên gia Tư pháp quốc tế Pháp rất chú trọng nghiên cứu án lệ và đều thừa nhận án lệ là một nguồn của pháp luật.



(1) Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. 549. “Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự hiểu theo nghĩa rộng – Nó không chỉ bao gồm các quan hệ dân sự hiểu theo nghĩa truyền thống mà còn bao gồm cả các quan hệ tài sản và nhân thân nảy sinh trong các lĩnh vực thương mại (kinh tế), hôn nhân gia đình, lao động, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế (kể cả trong tố tụng trọng tài)”: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập II, Nxb Công an nhân dân, 1997, tr, 394.
(2) Ví dụ Phòng dân sự, Tòa án tối cao ngày 25 tháng 6 năm 1957: Xem tạp chí RCDIP 1957, tr. 680, bình luận H. Batiffol; B. Ancel và Y. Lequette, Những bản án quan trọng của Tư pháp quốc tế Pháp, Nxb Dalloz, 1998, bản án số 29.
(3) Ví dụ Phòng dân sự số 1, Tòa án tối cao ngày 22 tháng 10 năm 1991: Xem Tạp chí JDI 1992, tr. 177, bình luận B. Goldman; Tạp chí RCDIP 1992, tr. 113, bình luận B. Oppetit; Tạp chí Rev.arb.1992, tr. 457, bình luận P. Lagarde.
(4) Xem Điều 3 Công văn của Tòa án nhân dân tối cao số 11-KHXX ngày 23 tháng 1 năm 1996 Hướng dẫn Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
(5) Xem mục III-4-c: TTLN Số 04/TTLN ngày 7 tháng 1 năm 1995 của TANDTC và VKSNDTC Hướng dẫn thi hành một số quy định Pháp lệnh về việc giải quyết các vụ án kinh tế.
(6) Ví dụ bản án của Phòng dân sự Tòa án tối cao ngày 19 tháng 6 năm 1939: Xem Tạp chí Sirey 1940, I, tr. 49, bình luận Niboyet; Tạp chí RCDIP 1939, tr. 481, bình luận Niboyet; Tạp chí Dalloz 1939, I, tr. 97, bình luận Lerebours-Pigeonniere; B. Ancel và Y. Lequette, Những bản án quan trọng của Tư pháp quốc tế Pháp, Nxb Dalloz 1998, bản án số 18.
(7) Xem ví dụ bản án ngày 18 tháng 7 năm 1892: Tạp chí Sirey 1892, I, tr. 47; Tạp chí Dalloz 1892, I, tr. 489.
(8) Ví dụ bản án ngày 21 tháng 6 năm 1948 của Phòng dân sự Tòa án tối cao: Xem Tạp chí JCP 1948, II, 4422, bình luận Lerebours-Pigeonniere; Tạp chí Sirey 1949, I, tr. 121, bình luận Niboyet; Tạp chí RCDIP 1949, tr. 557, bình luận Francescakis. Quy phạm này được nhắc lại rất rõ trong bản án của Phòng dân sự Tòa án tối cao ngày 30 tháng 10 năm 1962: Xem B.Ancel và Y. Lequette, Những bản án quan trọng của Tư pháp quốc tế Pháp, Nxb Dalloz 1998, bản án số 37; Tạp chí RCDIP 1963, tr. 387, bình luận Francescakis; Tạp chí Dalloz 1963, tr. 109, bình luận Hollaux.
(9) TTLN Số 04/TTLN ngày 7 tháng 1 năm 1995 của TANDTC và VKSNDTC Hướng dẫn thi hành một số quy định Pháp lệnh về việc giải quyết các vụ án kinh tế: Xem mục III-4-a.
(10) Xem thêm: Đoàn Năng, Vấn đề hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 11/1998, tr. 39.
(11) Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. 12.
(12)Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2001, tr. 12.
(13) Tư pháp quốc tế, Nxb L.G.D.J, 1993, xuất bản lần thứ 8, tr. 32.
(14) Tư pháp quốc tế, Nxb Précis-Dalloz, 2001, xuất bản lần thứ 7, tr. 19. Xem thêm: D. Gutmann, Tư pháp quốc tế, Nxb Dalloz-Cours, 2000, tr.3 và tiếp theo; P. Courbe, Tư pháp quốc tế, Nxb Armand Colin, 2000, tr. 9; J. Derrupé, Tư pháp quốc tế, Nxb Dalloz-Mémentos 2001, tr. 4; B. Audit, Tư pháp quốc tế, Nxb Economica 2000, tr. 21 và tiếp theo.
(15) “Trong sách báo pháp lý đã có một số tác giả đề cập đến vai trò của án lệ đối với thực tiễn pháp lý ở nước ta, đồng thời kiến nghị phải có sự thay đổi trong nhận thức về án lệ trong khoa học pháp lý, cần phải coi đây là một nguồn quan trọng của pháp luật XHCN. Ngược lại cũng có ý kiến hoàn toàn phủ nhận sự tồn tại của án lệ ở nước ta”: Nguyễn Đức Mai, Về vấn đề án lệ ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật 3/1998, tr. 47. “Án lệ, theo cách hiểu như pháp luật theo hệ thống Anh, Mỹ không tồn tại ở Việt Nam. Tuy nhiên các hướng dẫn và nguyên tắc xét xử chung về các vụ án thương mại do Tòa án nhân dân tối cao ban hành có là loại của nguồn đặc thù của pháp luật thương mại hay không, là vấn đề hiện nay cần được tranh luận thêm ở Việt Nam”: Phạm Duy Nghĩa, Tìm hiểu Luật thương mại Việt Nam, Nxb CTQG, 1999, tr.26.
(16) Nguyễn Đức Mai, Về vấn đề án lệ ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật 3/1998, tr. 47.
(17) Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2001, tr. 22. “Ở Việt Nam hiện nay với tư cách là nguồn của Tư pháp quốc tế là: Luật pháp trong nước; điều ước quốc tế và tập quán. Còn thực tiễn tòa án và trọng tài (án lệ) không được coi là nguồn như các nước Anh, Mỹ, v.v…”: Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2001, tr. 24.
(18) Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu, Luật hành chính Việt Nam, Nxb TP. HCM, 1996, tr. 61.
(19) Xem tương tự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 3 tháng 7 năm 1981, Điều 20, khoản 2 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 6 tháng 10 năm 1992, Điều 18, khoản 1.
(20) Xem Pháp luật TP.HCM, Việt Nam cần có án lệ (Trang Web http://vnexpress.net, ngày 19 tháng 4 năm 2002).
(21) Theo cuốn Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. 393, “Ở Việt Nam cũng có hệ thống quy phạm pháp luật xung đột của mình, nhưng còn thiếu quá nhiều và chưa đồng bộ”
Nguon: Tap Chi Khoa Hoc Phap Ly - DH.Luat TP.HCM

Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong tư pháp quốc tế

Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong tư pháp quốc tế Việt Nam (ĐỖ VĂN ĐẠI).
ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 2 /2003
GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM
ĐỖ VĂN ĐẠI
Giảng viên Khoa luật Trường Đại học Aix-Marseille III
(Trung tâm Aix-en-Provence Cộng hòa Pháp)
1. Thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Trong điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế, một số quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc gia, đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài. Về quan hệ thừa kế, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nước ngoài phân biệt thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến việc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam.
2. Trước ngày Bộ luật dân sự (BLDS) Việt Nam có hiệu lực, vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được đề cập trong một số văn bản. “Tuy nhiên, pháp luật nước ta thời kỳ đó mới chỉ đề cập trên nguyên tắc chung nhất, còn thiếu những quy định chi tiết, đặc biệt là các quy phạm xung đột để làm cơ sở giải quyết đối với những vụ việc cụ thể về thừa kế có yếu tố nước ngoài”. Từ ngày BLDS có hiệu lực, một loạt quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi các quy phạm xung đột nhưng “chế định thừa kế còn để trống”. Để đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể của quan hệ dân sự quốc tế, việc hoàn thiện Tư pháp quốc tế Việt Nam về vấn đề này là cần thiết. Một số tác giả đã mạnh dạn yêu cầu hoàn thiện vấn đề này; ví dụ theo tác giả Đoàn Năng “nếu các văn bản pháp luật chuyên ngành đã ban hành mà trong đó chưa có hoặc có những chưa đầy đủ quy phạm xung đột thì nên sớm tiến hành bổ sung vào các văn bản này những quy phạm xung đột cần thiết để áp dụng nhằm bảo đảm có đầy đủ quy phạm hướng dẫn chọn luật điều chỉnh tất cả các loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Ví dụ, quan hệ thừa kế thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự, nhưng Bộ luật dân sự năm 1995 và các văn bản khác có liên quan đang hiện hành chưa hề có quy phạm xung đột nào”.
3. Cuốn Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam thừa nhận sự không hoàn thiện của Bộ luật dân sự nước ta về vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài và tác giả Đoàn Năng mạnh dạn yêu cầu hoàn thiện Tư pháp quốc tế nước ta về vấn đề này, nhưng cả hai đều không đưa ra giải pháp cụ thể nào. Trước sự thiếu vắng này, chúng tôi xin kiến nghị giải pháp cho vấn đề xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam thông qua hai phần: Trong phần thứ nhất, chúng tôi trình bày những giải pháp có thể được sử dụng (I) và, trong phần thứ hai, chúng tôi trình bày giải pháp nên lựa chọn căn cứ vào hoàn cảnh nước ta hiện nay(II).
I- Những giải pháp của xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật có thể được sử dụng trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
1. Giải pháp hoàn thiện bằng cách khai thác những quy phạm xung đột đã tồn tại
4. Một trong những quy phạm xung đột đã tồn tại mà chúng ta có thể khai thác là Điều 833, khoản 1, Bộ luật dân sự. Theo điều khoản này, “việc xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”. Điều 833, khoản 1 không định nghĩa thế nào là “việc xác lập” quyền sở hữu đối với tài sản. Trước sự chung chung và trừu tượng này của Điều 833, khoản 1, thông qua việc giải thích pháp luật, chúng ta có thể coi thừa kế theo pháp luật là một “việc xác lập” quyền sở hữu đối với tài sản. Cách giải thích này có thể được chấp nhận vì theo Điều 176, khoản 5, BLDS, “quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây […]: được thừa kế tài sản”.
5. Vậy, thông qua việc giải thích luật, chúng ta có thể hoàn thiện Tư pháp quốc tế nước ta về vấn đề xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật và nếu chúng ta theo giải pháp này, chúng ta có quy phạm xung đột sau: Vấn đề thừa kế theo pháp luật được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi có tài sản. Đây cũng là giải pháp được thừa nhận tại Mê-hi-cô, Pa-na-ma, U-ru-goay và Vê-nê-du-ê-la.
6. Để hiểu rõ thêm giải pháp này, chúng tôi xin lấy một ví dụ minh họa. Năm 1975, anh N.V.A sang sống cùng gia đình tại Pháp và sau đó nhập quốc tịch Pháp. Với sự mở cửa, anh N.V.A về Việt Nam cư trú từ năm 1995. Do tai nạn, anh N.V.A qua đời tại Việt Nam năm 2001 và để lại di sản bao gồm: Một ngôi nhà ở ngoại ô Pháp (di sản P); một căn hộ cùng một số động sản tại Hà Nội (di sản V và v); một số động sản quý tại một ngân hàng Thụy Sĩ (di sản t) và một số động sản gửi chị gái đang làm ăn tại Đức (di sản d). Do không tự thỏa thuận được với nhau, con anh N.V.A, quốc tịch Pháp và em trai anh N.V.A quốc tịch Việt Nam yêu cầu Tòa án đứng ra giải quyết vấn đề thừa kế.
7. Áp dụng giải pháp bằng cách giải thích pháp luật, chúng ta dẫn đến kết quả sau: Vấn đề thừa kế nêu trên được điều chỉnh bởi pháp luật nơi có tài sản, cụ thể là di sản P được điều chỉnh bợi pháp luật Pháp, di sản t được điều chỉnh bởi pháp luật Thụy Sĩ, di sản d được điều chỉnh bởi pháp luật Đức và di sản V, v được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Ngoài giải pháp khai thác quy phạm xung đột đã tồn tại bằng cách giải thích luật, để hoàn thiện Tư pháp quốc tế nước ta về vấn đề xung đột pháp luật về thừa kế, chúng ta có thể xây dựng thêm quy phạm xung đột mới để điều chỉnh vấn đề này.
2. Giải pháp hoàn thiện bằng cách thiết lập quy phạm xung đột mới
Khi hoàn thiện Tư pháp quốc tế nước ta bằng cách thiết lập quy phạm xung đột mới, hai loại giải pháp sau có thể được sử dụng:
a- Không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản
8. Giải pháp thứ nhất có thể sử dụng khi không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản là chúng ta cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh vấn đề thừa kế. Đây là giải pháp được thừa nhận tại An-ba-ni (trừ trường hợp khi di sản là bất động sản ở An-ba-ni, An-giê-ri, Đức (nhưng luật Đức có thể được chọn để áp dụng khi di sản là bất động sản ở Đức), Andora, Áo, Bun-ga-ri, Cuba, Ai Cập, Tây-ban-nha, Phần Lan, Gha-na, Hy Lạp, Hung-ga-ri, In-đô-nê-xi-a, I-ran, Ý, Nhật, Gioóc-đa-ni, Li-băng, Ma-li, Ma-rốc, Mô-ri-ta-ni, Ni-giê-ri-a, Phi-líp-pin, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Xê-nê-gan, Xlo-va-ki, Thụy Điển, Xi-ri, Tiệp Khắc, Thổ Nhĩ Kỳ (trừ trường hợp di sản là bất động sản ở Thổ Nhĩ Kỳ), Va-ti-căng, Nam Tư (cũ)…. Áp dụng giải pháp này vào ví dụ nêu trên, chúng ta có kết luận sau: Pháp luật Pháp sẽ là pháp luật điều chỉnh vấn đề thừa kế vì người để lại thừa kế có quốc tịch Pháp. Điều đó có nghĩa là pháp luật Pháp sẽ điều chỉnh di sản tại Pháp cũng như di sản ở Đức, ở Thụy Sĩ và ở Việt Nam ngay cả đối với bất động sản V.
9. Giải pháp thứ hai có thể sử dụng khi không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản là chúng ta cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng để điều chỉnh vấn đề thừa kế. Đây là giải pháp được thừa nhận tại Ac-hen-ti-na, Bra-xin, Cô-xta Ri-ca (trừ trường hợp đối với di sản là bất động sản ở Cô-xta Ri-ca), Chi lê, Cô-lôm-bia, Đan Mạch, Ê-cua-đo, En-Sa-va-đô, Ai-xlen, Na Uy, Pa-ra-goay (trừ trường hợp đối với di sản là bất động sản ở Pa-ra-goay), Mông Cổ, Nga (trừ trường hợp đối với di sản là bất động sản ở Nga), Thụy Sĩ. Áp dụng giải pháp này vào ví dụ nêu trên, chúng ta có kết luận sau: Pháp luật Việt Nam là pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế vì người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam. Điều đó có nghĩa là pháp luật Việt Nam sẽ điều chỉnh di sản V và v ở Việt Nam, di sản t ở Thụy Sĩ, di sản d ở Đức và di sản P tại Pháp ngay cả khi di sản P là bất động sản.
b- Phân biệt di sản là động sản hay bất động sản
10. Giải pháp thứ nhất có thể sử dụng khi phân biệt di sản là động sản hay bất động sản là chúng ta cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh di sản là động sản và pháp luật của nước nơi có tài sản điều chỉnh di sản là bất động sản. Giải pháp này được thừa nhận tại Nam Phi, Úc, Ba-ha-ma, Bỉ, Ca-na-da, Trung Phi, Trung Quốc, Công-gô, Bờ biển Ngà, Mỹ, Pháp, Ga-bông, Ma-li, Ấn Độ, Ix-ra-en, Ai-len, Luýchc-xăm-bua, Ma-đa-gát-xca, Ca-lê-đô-ni, Anh, Xu-đăng, U-ru-goay…. Áp dụng giải pháp này vào ví dụ nêu trên, chúng ta có kết luận sau: Di sản là bất động sản được điều chỉnh bởi pháp luật nơi có tài sản, cụ thể ở đây là di sản P ở Pháp được điều chỉnh bởi pháp luật Pháp và di sản V ở Việt Nam được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Đối với di sản là động sản, pháp luật Việt Nam là pháp luật điều chỉnh vì nơi cư trú cuối cùng của người để lại thừa kế là Việt Nam, cụ thể là pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề thừa kế đối với di sản d ở Đức, di sản t ở Thụy Sĩ và di sản v ở Việt Nam.
11. Giải pháp thứ hai có thể sử dụng khi phân biệt di sản là động sản hay bất động sản là chúng ta cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh thừa kế đối với di sản là động sản và pháp luật nơi có tài sản để điều chỉnh vấn đề thừa kế đối với di sản là bất động sản. Đây là giải pháp được thừa nhận tại Ca-mơ-run, Mô-na-cô, Thái Lan, Ru-ma-ni….
II- Giải pháp của xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật nên lựa chọn trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
1. Phương hướng của việc chọn giải pháp cho xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
12. Phương hướng thứ nhất: Trong Tư pháp quốc tế, khi chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, chúng ta sẽ chọn hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với loại quan hệ cần giải quyết. Vậy, trong lĩnh vực mà chúng ta nghiên cứu, chúng ta cũng sẽ chọn hệ thống pháp luật có quan hệ gắn bó với những vấn đề của thừa kế theo pháp luật. Thông thường, việc định hình hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với loại quan hệ cần điều chỉnh khá dễ dàng, ví dụ: Pháp luật có quan hệ mật thiết với tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng thường là pháp luật nơi thực hiện hợp đồng. Tuy vậy, trong lĩnh vực mà chúng ta đang đề cập, việc định hình hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với những vấn đề của thừa kế theo pháp luật lại khá phức tạp vì những vấn đề này có thể liên quan đến một vài hệ thống pháp luật khác nhau. Thứ nhất, vì có sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế cho người còn sống, quan hệ thừa kế là một quan hệ tài sản và do đó có quan hệ với pháp luật nơi có tài sản. Thứ hai, vì có sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của người để lại thừa kế cho người còn sống trên cơ sở huyết thống, quan hệ thừa kế là một quan hệ nhân thân và do đó có quan hệ với pháp luật nhân thân của người để lại thừa kế. Thứ ba, khi chết, người để lại thừa kế có thể chưa chấm dứt các quan hệ dân sự thiết lập với các đối tác khác (người thứ ba), nhất là quan hệ dân sự trong hợp đồng và quan hệ dân sự ngoài hợp đồng, do vậy quan hệ thừa kế theo pháp luật cũng là quan hệ tài sản đối với người thứ ba. Nói tóm lại, quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài là một quan hệ phức tạp, có quan hệ gắn bó với nhiều hệ thống luật khác nhau, do đó, khi chọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh, chúng ta không nên bỏ qua ba bản chất này của quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài.
13. Phương hướng thứ hai: Trong Tư pháp quốc tế các nước, khi chọn một hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, các luật gia thường đưa ra một tiêu chí mà theo đó pháp luật của Tòa án là pháp luật sẽ thường xuyên được áp dụng để giải quyết trong thực tế. Lý do thứ nhất của xu hướng này là Tòa án biết rõ pháp luật nước mình hơn pháp luật nước ngoài về thừa kế, do đó việc áp dụng thường xuyên pháp luật của Tòa án sẽ làm giảm khó khăn trong công tác xét xử. Lý do thứ hai của xu hướng này là, nếu cho phép pháp luật nước ngoài là pháp luật áp dụng để giải quyết vấn đề thừa kế theo pháp luật, Tòa án cũng như các bên trong quan hệ thừa kế phải biết nội dung của pháp luật nước ngoài. Để biết nội dung pháp luật nước ngoài, Tòa án hoặc các bên trong tranh chấp sẽ tự tìm hiểu và do không biết nội dung pháp luật nước ngoài nên Tòa án cũng như các bên trong tranh chấp phải thuê chuyên gia về luật nước ngoài, đây là một việc khó và tốn kém. Chính vì hai lý do căn bản trên mà các nước sử dụng tiêu chí chọn luật khác nhau để làm sao pháp luật của Tòa án có nhiều cơ hội áp dụng hơn pháp luật nước ngoài. Ví dụ, vì Pháp là nước có nhiều dân nhập cư và ít dân di cư nên người để lại thừa kế thường là người có nơi cư trú cuối cùng ở Pháp và do đó việc cho phép pháp luật nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh vấn đề thừa kế theo pháp luật sẽ dẫn đến một thực tế là pháp luật Pháp thường xuyên được sử dụng. Theo chúng tôi, vì sự hiểu biết nội dung pháp luật nước ngoài của Tòa án có giới hạn và việc thuê chuyên gia về pháp luật nước ngoài rất đắt, chúng ta nên đi theo xu hướng này, cụ thể là làm thế nào để pháp luật Việt Nam thường xuyên được sử dụng trong thực tế đối với vấn đề thừa kế theo pháp luật.
14. Phương hướng thứ ba: Vì di sản ở nước ngoài nên bản án của Tòa án sẽ có thể phải được thừa nhận ở nước nơi có di sản, nhất là khi di sản là bất động sản. Các nước đều đưa ra điều kiện để thừa nhận bản án nước ngoài, do đó việc chọn pháp luật để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài nên tính đến việc làm thế nào để bản án của Tòa án có nhiều cơ hội được thừa nhận ở nước ngoài nơi có di sản, nếu không việc đưa ra bản án cũng vô ích. Mặt khác, khi di sản ở nước ngoài, công tác xét xử đôi khi phải dùng đến biện pháp ủy thác tư pháp, do đó nên có chút thiện chí với hệ thống pháp luật nước ngoài nơi có di sản để các biện pháp ủy thác có thể gặp thuận tiện. Vậy phương hướng thứ ba mà chúng ta nên làm là sử dụng một tiêu chí chọn pháp luật mà theo đó bản án của Tòa án nước ta có nhiều cơ hội được thừa nhận ở nước nơi có di sản và các biện pháp ủy thác tư pháp không gặp nhiều bất lợi.
2. Giải pháp kiến nghị lựa chọn cho xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
15. Nếu sử dụng giải pháp khai thác quy phạm xung đột đã tồn tại, chúng ta có quy phạm xung đột về thừa kế theo pháp luật là: Thừa kế theo pháp luật được điều chỉnh bởi pháp luật nơi có di sản. Giải pháp này có thể được chấp nhận vì chúng ta đã thấy rằng quan hệ thừa kế là một quan hệ tài sản đồng thời đơn giản vì chỉ cần giải thích rộng Điều 833 khoản 1 BLDS. Song theo chúng tôi, chúng ta không nên theo giải pháp này vì nó dẫn đến một thực tế rất phức tạp, chẳng hạn hậu quả của việc chọn luật cho ví dụ nêu trong phần số 6 là di sản P được điều chỉnh bởi pháp luật Pháp, di sản t được điều chỉnh bởi pháp luật Thụy Sĩ, di sản d được điều chỉnh bởi pháp luật Đức và di sản V, v được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam. Vậy vấn đề thừa kế của anh N.V.A được điều chỉnh bởi bốn luật khác nhau: pháp luật của Pháp, pháp luật của Đức, pháp luật của Thụy Sĩ và pháp luật Việt Nam. Việc cho phép nhiều pháp luật khác nhau để điều chỉnh một vấn đề thừa kế theo pháp luật là không nên vì quá phức tạp và tốn kém, đi ngược lại với phương hướng thứ hai trình bày trong phần số 13. Vậy giải pháp thiết lập quy phạm xung đột mới cần được nghiên cứu.
16. Nếu theo giải pháp thứ nhất khi không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản đề cập trong phần số 8 thì chúng ta có kết luận sau: Pháp luật điều chỉnh thừa kế là pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch. Áp dụng giải pháp này vào ví dụ nêu trên chúng ta có kết quả là pháp luật Pháp sẽ là pháp luật điều chỉnh vấn đề thừa kế vì người để lại thừa kế có quốc tịch Pháp. Điều đó có nghĩa là pháp luật Pháp sẽ điều chỉnh di sản tại Pháp cũng như di sản ở Đức, ở Thụy Sĩ và ở Việt Nam ngay cả đối với bất động sản V. Về mặt kinh phí, giải pháp này có nhiều ưu điểm hơn giải pháp trước vì chúng ta chỉ phải đầu tư vào nghiên cứu pháp luật Pháp. Nhưng giải pháp này vẫn còn một số nhược điểm: Thứ nhất, giải pháp này quá tôn trọng bản chất nhân thân và bỏ qua bản chất tài sản của quan hệ thừa kế theo pháp luật. Ở đây, chúng ta sẽ không cho phép pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh di sản này, cụ thể trong ví dụ là không cho phép pháp luật Việt Nam điều chỉnh di sản là bất động sản ở Việt Nam. Điều này đi ngược lại với xu thế chung của pháp luật Việt Nam. Trong thực tế, vì quan hệ về tài sản là bất động sản liên quan mật thiết với hệ thống pháp luật của nước nơi có bất động sản, pháp luật Việt Nam có xu hướng cho phép pháp luật nơi có tài sản điều chỉnh bất động sản. Cũng cần nói thêm là việc không cho phép pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh quan hệ thừa kế liên quan đến di sản này có thể gây ra phản ứng không hay của nước nơi có di sản đối với một số biện pháp ủy thác hay đối với việc thừa nhận bản án của Tòa án nước ta trên nước này. Phát triển ví dụ trong phần 6, nếu anh N.V.A có một bất động sản ở Mỹ, áp dụng giải pháp này sẽ không cho phép pháp luật Mỹ điều chỉnh quan hệ thừa kế liên quan đến động sản này và do đó có thể gây phản ứng không hay của chính quyền Mỹ. Thứ hai, giải pháp này bất lợi đối với đối tác, người thứ ba, mà người để lại thừa kế thiết lập quan hệ trước khi chết vì thông thường những người này sống ở nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng và họ không có sự hiểu biết pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch, cụ thể trong ví dụ nghiên cứu phần lớn người thứ ba này ở Việt Nam và không có sự hiểu biết pháp luật Pháp. Vậy chúng ta không nên theo giải pháp này.
17. Nếu chúng ta theo giải pháp thứ hai khi không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản thì chúng ta có kết luận sau: Pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật là pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng. Áp dụng vào ví dụ nghiên cứu trong phần số 6 chúng ta có kết luận là pháp luật Việt Nam là pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế vì người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam. Điều đó có nghĩa là pháp luật Việt Nam sẽ điều chỉnh di sản V và v ở Việt Nam, di sản t ở Thụy Sĩ, di sản d ở Đức và di sản P tại Pháp ngay cả khi di sản P là bất động sản. Giải pháp này cũng như giải pháp vừa nghiên cứu có ưu điểm là chỉ có một pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế đồng thời giải pháp này không làm thiệt hại đến người thứ ba và tránh được những khó khăn trong việc xác định quốc tịch của người để lại thừa kế. Nhưng cũng như giải pháp vừa nghiên cứu, giải pháp này không cho phép pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh quan hệ thừa kế liên quan đến di sản này, điều này có thể làm phát sinh những bất lợi liên quan đến một số biện pháp ủy thác cũng như vấn đề công nhận bản án tại nước nơi có di sản. Vậy chúng ta cũng không nên theo giải pháp này và nên phân biệt di sản là động sản hay bất động sản.
18. Trong trường hợp chúng ta phân biệt di sản là động sản và bất động sản chúng ta có giải pháp cho di sản là bất động sản như sau: Pháp luật nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh vấn đề thừa kế theo pháp luật về di sản này. Đối với quan hệ thừa kế theo pháp luật về di sản là động sản, chúng ta có hai giải pháp: Vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch hoặc bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng. Theo chúng tôi, trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, chúng ta nên cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh vấn đề thừa kế theo pháp luật về động sản. Giải pháp mà theo đó chúng ta cho phép pháp luật nơi có di sản điều chỉnh quan hệ thừa kế về bất động sản và pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh vấn đề thừa kế theo pháp luật về động sản có hai nhược điểm cơ bản. Thứ nhất, giải pháp này dẫn đến phân chia di sản thành phần nhỏ và dẫn đến việc áp dụng hai hay nhiều pháp luật vào một quan hệ thừa kế theo pháp luật, nhất là khi người để lại thừa kế có di sản là bất động sản ở nhiều nước khác nhau. Song trong thực tế, trường hợp người để lại thừa kế có di sản là bất động sản ở nhiều nước khác nhau ít xảy ra, vậy nhược điểm này không cản trở nhiều cho giải pháp mà chúng tôi kiến nghị lựa chọn. Thứ hai, giải pháp này buộc chúng ta phải phân biệt di sản là động sản và bất động sản trong khi đó “các phạm trù động sản và bất động sản không phải đã được hiểu một cách thống nhất trong các hệ thống pháp luật hiện nay trên thế giới”. Sự khác nhau về khái niệm động sản và bất động sản trong pháp luật các nước dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật về xác định, định danh, xung đột khái niệm pháp lý hay còn được gọi là xung đột kín tùy theo thuật ngữ sử dụng cho hiện tượng xung đột này. Tuy nhiên, hiện tượng xung đột này không gây cản trở lớn cho giải pháp mà chúng tôi kiến nghị vì loại xung đột này đã có giải pháp: Theo khoản 3, Điều 833 BLDS Việt Nam, “việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó”.
19. Theo chúng tôi, giải pháp vừa nêu trên là một giải pháp phù hợp nhất trong bối cảnh nước ta hiện nay vì nó có nhiều ứu điểm so với những giải pháp đã nghiên cứu.
Thứ nhất, giải pháp này tôn trọng bản chất tài sản và bản chất nhân thân của quan h quan hệ thừa kế. Ở đây, chúng ta tôn trọng bản chất tài sản của quan hệ thừa kế vì pháp luật nơi có di sản điều chỉnh quan hệ thừa kế về bất động sản, điều đó có thể tránh được những phản ứng không tốt của nước có di sản là bất động sản cho những biện pháp ủy thác cũng như việc thừa nhận bản án của Tòa án Việt Nam đối với tài sản này vì ở đây chúng ta áp dụng pháp luật của nước nơi có tài sản. Chúng ta tôn trọng bản chất nhân thân của quan hệ thừa kế vì di sản là động sản được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch, tức là pháp luật nhân thân của người để lại thừa kế.
Thứ hai, giải pháp này sẽ cho phép pháp luật Việt Nam có nhiều cơ hội được áp dụng trong thực tế:
Hiện nay nhiều người dân nước ta sang làm ăn sinh sống ở nước ngoài nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam và khi chế để lại di sản ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam. Mặt khác, do chiến tranh, một số người Việt Nam sang sống ở nước ngoài, có quốc tịch nước ngoài, nhất là quốc tịch Mỹ và Pháp, và hiện nay về Việt Nam cư trú. Nếu cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh di sản là động sản, pháp luật Việt Nam có nhiều cơ hội được áp dụng. Đối với trường hợp thứ nhất, pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng đối với di sản là động sản vì chúng ta cho phép pháp luật nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch điều chỉnh di sản là động sản. Đối với trường hợp thứ hai, lúc đầu chúng ta có thể kết luận là pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng thường xuyên vì người để lại thừa kế có quốc tịch nước ngoài. Thế nhưng, theo chúng tôi, nếu áp dụng linh hoạt Tư pháp quốc tế nước ta và chỉ cần một chút kiến thức về Tư pháp quốc tế nước ngoài, chúng ta sẽ cho phép pháp luật Việt Nam áp dụng thường xuyên, cụ thể là chúng ta sẽ sử dụng kỹ thuật dẫn chiếu trở lại trong Tư pháp quốc tế nước ta và các quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế nước ngoài về quan hệ thừa kế theo pháp luật. Theo Điều 827, khoản 3 BLDS Việt Nam, “Trong trường hợp việc áp dụng pháp luật nước ngoài được […] quy định hoặc […] viện dẫn, thì pháp luật nước ngoài được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; nếu pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì áp dụng pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Vậy, nếu Tư pháp quốc tế nước ta cho phép pháp luật nước ngoài quyền điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật nhưng pháp luật nước này từ chối và dẫn chiếu ngược lại thì chúng ta sẽ áp dụng pháp luật nước ta. Kỹ thuật này tạo cơ hội cho pháp luật Việt Nam được áp dụng đồng thời vẫn được lòng các cơ quan pháp luật nước ngoài vì chúng ta đã cho pháp luật nước họ thẩm quyền điều chỉnh nhưng pháp luật nước họ lại dẫn ngược lại pháp luật nước ta. Để minh họa cho vấn đề này, chúng tôi xin lấy ví dụ trường hợp mà theo đó người để lại thừa kế là gốc Việt, có quốc tịch Pháp hay Mỹ và có nơi cư trú cuối dùng tại Việt Nam (giả thiết này sẽ thường xuyên xảy ra trong thực tế Việt Nam vì nhiều Việt kiều về cư trú ở Việt Nam và vẫn giữ quốc tịch Pháp hay Mỹ). Nếu giải pháp mà chúng tôi kiến nghị được sử dụng thì pháp luật điều chỉnh thừa kế về động sản đối với di sản mà những người này để lại là pháp luật của nước mà họ có quốc tịch, ở đây là pháp luật Pháp hay pháp luật Mỹ. Nhưng trong phần số 10, chúng ta thấy Tư pháp quốc tế của hai nước này đều cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh di sản là động sản, điều đó có nghĩa là pháp luật Pháp và Mỹ cho phép pháp luật Việt Nam điều chỉnh và thông qua kỹ thuật dẫn chiếu trở lại chúng ta áp dụng pháp luật nước ta. Vậy, thông qua kỹ thuật dẫn chiếu trở lại, giải pháp mà chúng tôi kiến nghị sẽ tạo thêm cơ hội cho phép pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ thừa kế thường xuyên hơn, điều đó đáp ứng được phương hướng thứ hai mà chúng tôi trình bày trong phần 13.
Theo chúng tôi, nếu cho phép pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản điều chỉnh quan hệ thừa kế về di sản này như chúng tôi kiến nghị, pháp luật Việt Nam cũng có thêm cơ hội được áp dụng trong thực tế và không làm phật lòng các cơ quan pháp luật của nước nơi có di sản. Trong phần số 8 và số 9, chúng ta thấy rằng Tư pháp quốc tế một số nước không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản và cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch hay có nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh, điều đó có nghĩa là pháp luật các nước này cho phép pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch hay có nơi cư trú cuối cùng điều chỉnh di sản là bất động sản. Vận dụng kỹ thuật dẫn chiếu trở lại như phần trên, chúng ta có thể tạo thêm cơ hội áp dụng pháp luật Việt Nam trong thực tế. Để minh họa, chúng tôi xin trích hai ví dụ: Ví dụ thứ nhất, trường hợp một người Việt Nam sang làm ăn ở Tây Ban Nha hay Phi-lip-pin và có một bất động sản ở đó khi chết. Nếu giải pháp mà chúng tôi kiến nghị được áp dụng, pháp luật điều chỉnh di sản này là pháp luật Tây Ban Nha hay Phi-lip-pin (pháp luật của nước nơi có vật), nhưng trong phần số 8, chúng ta thấy pháp luật hai nước này dẫn chiếu trở lại pháp luật nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch, ở đây là pháp luật Việt Nam. Vậy, chúng ta có thêm cơ hội áp dụng luật Việt Nam trong trường hợp này. Ví dụ thứ hai, một người gốc Việt về Việt Nam cư trú sau một thời gian làm ăn sinh sống ở Thụy Sĩ và khi chết để lại một bất động sản ở Thụy Sĩ. Nếu giải pháp mà chúng tôi kiến nghị được áp dụng, pháp luật Thụy Sĩ là pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế về bất động sản này (pháp luật của nước nơi có vật), nhưng trong phần số 9, chúng ta thấy pháp luật nước này dẫn chiếu trở lại pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng, ở đây là pháp luật Việt Nam. Vậy, áp dụng kỹ thuật dẫn chiếu trở lại, chúng ta cũng tạo thêm cơ hội cho pháp luật Việt Nam được áp dụng đồng thời vẫn có thiện chí với pháp luật của nước nơi có bất động sản.
Có thể nói, chấp nhận giải pháp mà chúng tôi kiến nghị và vận dụng linh hoạt kỹ thuật dẫn chiếu trở lại, chúng ta được cả “tiếng” lẫn “miếng”. Chúng ta được “miếng” vì pháp luật nước ta được áp dụng thường xuyên trong thực tế và chúng ta được “tiếng” là vì chúng ta có thiện chí với pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch hay của nước nơi có di sản là bất động sản: Ở đây chúng ta cho pháp luật nước ngoài thẩm quyền điều chỉnh nhưng thực tế chúng ta lại áp dụng pháp luật nước ta và lý do của thực tế này là vì pháp luật nước ngoài cho phép chúng ta áp dụng pháp luật nước ta.
Một khó khăn khi dùng tiêu chí dẫn chiếu quốc tịch một cá nhân là đôi khi chúng ta không xác định được quốc tịch của cá nhân này. Nếu hoàn cảnh này xảy ra, theo chúng tôi, chúng ta nên quy định thêm như sau: Trong trường hợp không xác định được quốc tịch thì pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế về động sản là pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cứ trú cuối cùng và, trong trường hợp không xác định được quốc tịch cũng như nơi cư trú cuối cùng, pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật về động sản là pháp luật của Tòa án, tức là pháp luật Việt Nam. Giải pháp luân phiên này cũng cho phép pháp luật nước ta có cơ hội được áp dụng thường xuyên.
20. Nói tóm lại, với hoàn cảnh nước ta hiện nay, giải pháp hợp lý nhất trong việc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật là phân biệt di sản thành động sản và bất động sản và việc điều chỉnh hai loại di sản này là như sau:
Thừa kế về bất động sản được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi có tài sản.
Thừa kế về động sản được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có quốc tịch. Trong trường hợp không xác định được quốc tịch thì pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế về động sản là pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng và, trong trường hợp không xác định được quốc tịch cũng như nơi cư trú cuối cùng, pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật về động sản là pháp luật của Tòa án.
Để đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, chúng ta nên luật hóa giải pháp trình bày ở trên và trong khi chờ đợi, Tòa án tối cao có thể thừa nhận giải pháp này thông qua thông tư hoặc công văn hướng dẫn áp dụng luật như đã làm trong những vấn đề khác hoặc sử dụng một vụ việc cụ thể để làm án lệ.

Về khái niệm thừa kế, xem thêm: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 1997, tập II, tr. 239; Nguyễn Ngọc Điệp, 1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam, NXB TP. HCM, 1997, tr. 45; Từ điển luật học, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. 486.
Quan hệ mà “trong đó: ít nhất có một người bên để lại di sản hoặc bên nhận thừa kế có quốc tịch nước ngoài; tài sản thừa kế tồn tại ở nước ngoài; di chúc được lập ở nước ngoài”, Từ điển luật học, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1999, tr. 486.
Ví dụ: Theo Điều 37 Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990, “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền thừa kế của người nước ngoài đối với tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam theo quy chế về người nước ngoài tại Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận”.
Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 180.
Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tập III, tr. 368.
Đoàn Năng, Vấn đề hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 11/1998, tr. 50 và 51; Đoàn Năng, Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tr. 226.
Xem thêm G.A.L. DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Facr. 557-10 (2002), n.8.
Xem thêm G.A.L DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Fasc. 557-10 (2002), n 6; H. BATIFFOL và P. LAGARDE, Droit international privé, NXB L.G.D.J, 1983, tập II, n 641; Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 174.
Xem thêm G.A.L DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Fasc. 557-10 (2002), n 7; Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 175.
Xem thêm G.A.L DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Fasc. 557-10 (2002), n 10; H. BATIFFOL và P. LAGARDE, Droit international privé, NXB L.G.D.J, 1983, tập II, n 641; Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 173.
Xem thêm G.A.L DROZ và M. REVILLARD, Juris-Classeur, Droit international, Fasc. 557-10 (002), n 11.
Chính vì vậy mà theo Điều 843, khoản 2 BLDS Việt Nam “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”.
Ví dụ theo Điều 833, khoản 1 BLDS Việt Nam, “Việc xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó”. Vậy khi tài sàn là bất động sản ở Việt Nam thì pháp luật Việt Nam điều chỉnh và ở nước ngoài thì pháp luật nước ngoài này điều chỉnh. Quan điểm này được nhấn mạnh lại trong Điều 104, khoản 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2002: “Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó” và Điều 934, khoản 3 BLDS Việt Nam: “Hợp đổng dân sự liên quan đến bất động sản ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Theo cuốn Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tập III, tr. 16: “Nơi cư trú cuối cùng thường là nơi người có tài sản, nơi tập trung các giao dịch dân sự của người để lại di sản khi còn sống, nơi phát sinh các quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản của người đó, nơi người đó thực hiện quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản”.
Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 121.
Xem thêm về vấn đề xung đột này: Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2001, tr. 121 và 174; Đoàn Năng, Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tr. 84 và tiếp theo; Đỗ Văn Đại, Xung đột pháp luật về xác định, định danh trong Tư pháp quốc tế Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, tháng 10/2002, tr. 53 và tiếp theo.
Theo Điều 19, khoản 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 2 tháng 4 năm 2002, “Tòa án nhân dân tối cao có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án”. Xem tương tự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 3 tháng 7 năm 1981, Điều 20, khoản 2 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 6 tháng 10 năm 1992, Điều 18, khoản 1.
Xem thêm về vai trò của Tòa án trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung và Tư pháp quốc tế Việt Nam nói riêng: Pháp luật TP. HCM, Việt Nam cần có án lệ (Trang web http://vnexpress.net, ngày 19 tháng 4 năm 2002); Đỗ Văn Đại, Tư pháp quốc tế và vấn đề xây dựng “quy phạm pháp luật” bởi Tòa án ở Pháp và Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, 7 (14)/2002, tr. 45 và tiếp theo.
Nguon: Tap Chi Khoa Hoc Phap Ly - DH.Luat TP.HCM

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Cách xác định và chế độ pháp lý của các vùng biển theo công ước của liên hiệp quốc về

BÀI THUYẾT TRÌNH
CÁCH XÁC ĐỊNH VÀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA CÁC VÙNG BIỂN
THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982[1]
……………………………….
NCS.Ths. Ngô Hữu Phước
Trưởng Bộ môn Công pháp quốc tế, trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Mong muốn xây dựng bản “Hiến pháp” về biển của nhân loại đã trở thành hiện thực vào ngày 30/4/1982 khi Công ước của Liên hiệp quốc HQ về luật biển với 320 điều và 9 phụ lục đính kèm đã được thông qua tại New York và mở cho các quốc gia ký tại Montegobay-Giamaica vào ngày 10/12/1982 sau 5 năm trù bị (1968 -1973) và 09 năm đàm phán chính thức (1973-1982) với 11 khóa họp. Công ước đã chính thức có hiệu lực vào ngày 16/11/1994(12 tháng sau ngày Guyana, nước thức 60 phê chuẩn)[2]. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã phê chuẩn Công ước vào ngày 23/6/1994 và nộp lưu chiểu Liên hiệp quốc vào ngày 25/7/1994.
Lần đầu tiên trong lịch sử, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển quốc tế năm 1982 (gọi tắt là Công ước 1982) đã qui định một cách tổng thể các vấn đề pháp lý về: Chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; Biển cả và đáy đại dương; Các qui định về hàng hải, hàng không; Sử dụng và quản lý tài nguyên sinh vật biển; Bảo vệ môi trường biển; An ninh trên biển và hợp tác quốc tế về biển.

Theo quy định của Công ước của Công ước 1982), biển và đại dương được chia thành 03 vùng (khu vực) có chế độ pháp lý khác nhau:

- Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia (Nội thủy và Lãnh hải);

- Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia (Tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa);

- Các vùng biển chung của cộng đồng quốc tế (Biển quốc tế và đáy đại dương -la zone).

I. CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA

1. Nội thủy

1.1 Khái niệm và cách xác định nội thủy

Khoản 1, Điều 8 Công ước 1982 định nghĩa, nội thủy là:“…các vùng nước phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia”. Như vậy, nội thủy của quốc gia ven biển chính là vùng biển có chiều rộng được xác định bởi một bên là đường bờ biển còn bên kia là đường cơ sở. Đối với quốc gia quần đảo, vùng nước này là toàn bộ phần nước biển nằm trong đường cơ sở của quốc gia quần đảo, được gọi là vùng nước quần đảo. Vùng nước quần đảo chính là “nội thủy” của quốc gia quần đảo.

Về phương diện pháp lý, muốn xác định nội thủy, lãnh hải và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia trên biển phải xác định đường cơ sở.Đường cơ sở là ranh giới phía trong của lãnh hải và ranh giới phía ngoài của nội thủy dùng để tính chiều rộng của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyến quốc gia.

* Phương pháp xác định đường cơ sở

Theo quy định tại Điều 5 và Điều 7 của Công ước 1982, có hai phương pháp để xác định đường cơ sở đó là phương pháp đường cơ sở thông thường và phương pháp đường cơ sở thẳng.

+ Phương pháp đường cơ sở thông thường

Điều kiện áp dụng: Phương pháp đường cơ sở thông thường áp dụng đối với các quốc gia có bờ biển thẳng, bằng phẳng, không có các đoạn lồi lõm ven bờ, thủy triều ổn định và thể hiện rõ ràng.

Cách xác định: Quốc gia ven biển sẽ chọn một ngày, tháng, năm khi ngấn nước thủy triều xuống thấp nhất dọc bờ biển. Dựa vào các điểm, tọa độ đã thể hiện tại ngấn nước thủy triều vào thời điểm đó, quốc gia ven biển sẽ tuyên bố đường cơ sở của quốc gia mình. Tuy nhiên, xác định đường cơ sở theo phương pháp thông thường có một số hạn chế sau đây:

Thứ nhất, các điểm, toạ độ thể hiện ngấn nước thủy triều xuống thấp nhất dọc theo bời biển để xác định đường cơ sở do chính quốc gia đó tuyên bố nên sẽ không tránh khỏi tình trạng các quốc gia đưa ra tuyên bố không đúng thực tế nhằm mục đích mở rộng càng nhiều càng tốt nội thủy của quốc gia mình ra bên ngoài. Chính vì vậy, mức độ chính xác của các tọa độ, các điểm xác định dựa vào ngấn nước thủy triều sẽ không cao.

Thứ hai, cộng đồng quốc tế sẽ rất khó khăn trong việc chứng minh tính xác thực của các điểm, các toạ độ mà quốc gia ven biển đã tuyên bố.

Thứ ba, áp dụng phương pháp đường cơ sở thông thường, các quốc gia ven biển sẽ có một vùng nội thủy rất hẹp và đây chính là lý do mà các quốc gia trên thế giới thường không muốn áp dụng hoàn toàn đường cơ sở theo phương pháp này mặc dù căn cứ vào các quy định của Công ước 1982 là hoàn toàn phù hợp.

+ Phương pháp đường cơ sở thẳng

Theo qui định của Công ước 1982, để xác định đường cơ sở theo phương pháp đường cơ sở thẳng, bờ biển của quốc gia phải đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

- Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc có một chuỗi đảo nằm sát và chạy dọc theo bờ biển (khoản 1, Điều 7);

- Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và những đặc điểm tự nhiên khác...(khoản 2, Điều 7).

Trong trường hợp này, đường cơ sở là đường thẳng gãy khúc được xác định bằng cách nối các điểm nhô ra xa nhất của các đảo ven bờ, của các mũi, các đỉnh chạy dọc theo chiều hướng chung của bờ biển lại với nhau thành đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải.

Tránh tình trạng xác định đường cơ sở ra quá xa bờ biển, tùy ý nối tắt nhiều điểm không thực chất thành các đoạn thẳng để có nội thủy rộng lớn, Điều 7 Công ước 1982 quy định phương pháp xác định đường cơ cơ sở thẳng phải bảo đảm:

- Tuyến các đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển (khoản 3, Điều 7). Tuyến đường cơ sở phải phù hợp địa hình tự nhiên của bờ biển của quốc gia đó).

- Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế (khoản 4, Điều 7). Có nghĩa là, các bãi cạn lúc chìm, lúc nổi không phải là các điểm vật chất thực tế dùng làm căn cứ để vạch đường cơ sở nếu trên các bãi cạn đó không có các công trình xây dựng thường xuyên nhô trên mặt nước như các đảo và các công trình thiết bị nhân tạo, các ngọn đèn biển (hải đăng)...

- Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng được áp dụng theo khoản 1, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng (khoản 5, Điều 7). Có nghĩa là, khi các quốc gia mà địa hình tự nhiên của bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát và chạy dọc theo bờ biển thì quốc gia ven biển có thể vạch đến các đảo và các khu vực xung quanh mà quốc gia đó đã khai thác và sử dụng trong một quá trình lịch sử lâu dài nhưng không có sự phản đối hoặc tranh chấp của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

- Phương pháp đường cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng không được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế (khoản 6, Điều 7).

Công ước 1982 không quy định cụ thể tiêu chí để xác định bờ biển bị khoét sâu, lồi lõm mà chỉ đưa ra định nghĩa về vịnh do bờ biển của một quốc gia bao bọc tại Điều 10. Chính vì vậy, các quốc gia ven biển thường bằng mọi cách để xác định đường cơ sở theo phương pháp đường thẳng gãy khúc (toàn bộ tuyến đường cơ sở hoặc một số đoạn đường cơ sở). Nhằm tránh tình trạng này, Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa thế nào là “bờ biển bị khoét sâu, lồi lõm”. Theo đó, bờ biển khoét sâu, lồi lõm phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:

- Bờ biển bị khoét sâu, lồi lõm phải có ít nhất từ 3 vùng lõm sâu rõ rệt;

- Các vùng lõm này phải nằm cạnh nhau, không cách nhau quá xa;

- Chiều sâu của từng vùng lõm đó tính từ đường cơ sở thẳng được đề nghị đóng cửa đổ ra biển của vùng lõm đó phải lớn hơn một nửa chiều dài của đoạn đường cơ sở đó.

Và cũng theo khuyến cáo của Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc thuật ngữ: “Chuỗi đảo nằm sát và chạy dọc theo bờ biển” phải có ít nhất từ 3 đảo trở lên và phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Điểm gần bờ nhất của mỗi đảo trong chuỗi đảo cách đường bờ biển không quá 24 hải lý, cách bờ xa nhất không quá 48 hải lý;

- Mỗi đảo trong chuỗi cách các đảo khác cũng trong chuỗi mà đường cơ sở thẳng được vẽ qua một khoảng cách không quá 24 hải lý.

- Chuỗi đảo phải chắn ít nhất 50% đường bờ biển liên quan.

Về chiều dài các đoạn đường cơ sở và góc lệch mà đường cơ sở tạo với bờ biển, Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc khuyến cáo:

- Chiều dài của đoạn đường cơ sở thẳng không nên quá 60 hải lý;

- Góc lệch lớn nhất giữa đoạn cơ sở thẳng với bờ biển không quá 20 độ.

Tùy theo đặc điểm địa hình bờ biển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ mà đường cơ sở của các quốc gia, các vùng lãnh thổ xác định theo phương pháp đường cơ sở thông thường hay đường cơ sở thẳng hoặc kết hợp cả hai phương pháp trên.

Đối với các quốc gia quần đảo (État archipel), khi xác định đường cơ sở, tại Điều 47 Công ước 1982 quy định:

“Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ 1/1 và 9/1”[3];

Khi xác định đường cơ sở của quốc gia quần đảo, các quốc gia quần đảo phải tuân thủ các điều kiện quy định của Công ước 1982 đó là:

- Chiều dài của các đường cơ sở này không vượt quá 100 hải lý; tuy nhiên có thể có tối đa là 3% của tổng các đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài lớn hơn, nhưng cũng không quá 125 hải lý[4];

- Tuyến các đường cơ sở này không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của quần đảo[5];

- Các đường cơ sở không thể kéo đến hay xuất phát từ các bãi cạn lúc chìm lúc nổi, trừ trường hợp tại đó có xây đặt các đèn biển hay các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt biển hoặc trừ trường hợp toàn bộ hay một phần bãi cạn ở cách hòn đảo gần nhất một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải[6];

- Một quốc gia quần đảo không được áp dụng phương pháp kẻ các đường cơ sở khiến cho các lãnh hải của một quốc gia khác bị tách rời với biển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế[7];

- Nếu một phần của vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo nằm giữa hai mảnh lãnh thổ của một quốc gia kế cận, thì các quyền và mọi lợi ích chính đáng mà quốc gia kế cận này vẫn được hưởng theo truyền thống ở trong các vùng nước nói trên, cũng như tất cả các quyền nảy sinh từ các điều ước được ký kết giữa hai quốc gia, vẫn tồn tại và vẫn được tôn trọng[8];

Để tính toán tỷ lệ diện tích các vùng nước so với diện tích phần đất đã nêu ở khoản 1, Điều 47 Công ước 1982 quy định các vùng nước bên trong các bãi đá ngầm bao quanh các đảo và vành đai san hô, cũng như mọi phần của một nền đại dương có sườn dốc đất đứng, hoàn toàn hay gần như hoàn toàn do một chuỗi đảo đá vôi hay một chuỗi các mỏm đá lúc chìm lúc nổi bao quanh, có thể được coi như là một bộ phận của đất[9].

Việt Nam đã tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam ngày 12-11-1982. Theo tuyên bố này, đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam là hệ thống đường cơ sở thẳng gãy khúc nối liền các đảo, mũi nhô ra xa nhất dọc theo bờ biển qua 11 điểm thành 10 đoạn thẳng xuất phát từ đường thẳng nối liền đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai (Cămpuchia)[10]. Tuyên bố về đường cơ sở Việt Nam chủ yếu được xác định theo phương pháp đường thẳng gãy khúc, trong 11 điểm xác định, chỉ có 1 điểm duy nhất được xác định theo phương pháp đường cơ sở thông thường ( điểm A8 tại Mũi Đại Lãnh).

Tuy nhiên, hệ thống đường cơ sở của Việt Nam vẫn chưa bao quát hết chiều dài bờ biển vì còn có hai vị trí chưa xác định, đó là điểm số 0 nằm trên vùng nước lịch sử của Cộng hòa nhân dân Cămpuchia và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phần còn lại từ đảo Cồn Cỏ cho tới hết vùng biển phía Bắc của Việt Nam. Tuyên bố về đường cơ cơ sở của Việt Nam đưa ra trong bối cảnh tranh chấp rất phức tạp trên biển Đông, tất cả các vùng chồng lấn giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực chưa được giải quyết hoặc đang trong giai đoạn đàm phán nên chúng ta chưa thể xác định hệ thống đường cơ sở hoàn chỉnh, khép kín vào thời điểm đó. Tuyên bố đã nêu rõ, đoạn đường cơ sở từ đảo Cồn Cỏ đến cửa vịnh Bắc Bộ sẽ được công bố sau khi vấn đề của vịnh được giải quyết[11].

Khi Việt Nam đưa ra tuyên bố về đường cơ sở nói trên đã có 10 quốc gia phản đối, gồm Trung Quốc, Thái Lan, Malayxia, Xingapo, Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Mỹ, Nhật Bản, Úc phản đối, tập trung vào các điểm từ A1 đến A7[12].

Thực tế, khi nghiên cứu Công ước 1982, khuyến cáo của Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc về vạch đường cơ sở và tuyên bố ngày 12-11-1982 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có thể khái quát đường cơ sở của Việt Nam như sau:

Thứ nhất, về cơ bản đường cơ sở mà Việt Nam áp dụng là đường cơ sở thẳng (chỉ có một điểm duy nhất, điểm A8 được xác định theo phương pháp đường cơ sở thông thường). Theo phụ lục và bản đồ kèm tuyên bố này, đường cơ sở được xác định của Việt Nam bao gồm 10 đoạn thẳng nối 11 điểm khác nhau chạy dọc theo bờ biển lục địa.

Thứ hai, trong số 11 điểm toạ độ được công bố để xác định đường cơ sở, điểm A8 là điểm ven bờ biển (Mũi Đại Lãnh), 10 điểm còn lại đều nằm trên các đảo ven bờ. Trong đó, khoảng cách giữa điểm toạ độ gần bờ nhất là 0,5 hải lý và điểm xa nhất là 74 hải lý. Khoảng cách gần nhất giữa các điểm là 1,952 hải lý và khoảng cách xa nhất là 162,7 hải lý.

Thứ ba, đường cơ sở Việt Nam là đường cơ sở chưa hoàn chỉnh, vì ở phía Nam điểm Ao chưa xác định (Điểm Ao là điểm tiếp nối ranh giới đường cơ sở của Việt Nam và Cămpuchia trong vùng nước lịch sử chung Việt Nam - Cămpuchia)[13]. Điểm cuối cùng của đường cơ sở Việt Nam là điểm A11 (đảo Cồn Cỏ) nằm ở cửa vịnh Bắc Bộ.

Thứ tư, ngoài đường cơ sở áp dụng cho lãnh thổ đất liền, đường cơ sở áp dụng cho quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa chưa được xác định. Theo Điều 4 Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-11-1982 thì đường cơ sở áp dụng cho hai quần đảo này sẽ được quy định trong các văn bản sẽ ban hành sau. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào xác định đường cơ sở chính xác cho hai quần đảo này.

1.2 Chế độ pháp lý của nội thủy

Nội thủy là một vùng biển gắn với đất liền, là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, tại đó quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối. Chủ quyền này bao trùm cả lớp nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và vùng trời trên nội thủy. Chính vì vậy, trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giống như trên đất liền. Mọi luật lệ do quốc gia ban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào.

Chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng nội thủy được quy định rõ ràng và chủ yếu trong các văn bản pháp luật quốc gia. Theo pháp luật Việt Nam, chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia trong vùng nội thủy được quy định trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau, từ Hiến pháp[14] đến các luật và các văn bản dưới luật như Luật hình sự Việt Nam năm 1999, Luật biên giới quốc gia năm 2003[15], Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ngày 12-5-1977 (đoạn 2, điểm 1), Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam ngày 12-11-1982 (điểm 5), Nghị định 30-CP ngày 29-1-1980 về quy chế hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam, Nghị định số 55-CP ngày 1-10-1996 về hoạt động của tàu quân sự vào thăm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định 71/2006/NĐ-CP về quản lý cảng biển và luồng hàng hải, Nghị định 61/2003/NĐ-CP về quy chế khu vực biên giới biển...

Tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại muốn vào nội thủy quốc gia ven biển phải xin phép trước, trừ những trường hợp bất khả kháng như tàu gặp các sự cố nghiêm trọng về kỹ thuật không thể tiếp tục được hành trình hoặc các lý do về thiên tai (động đất, sóng thần, bão, lốc...), hoặc các lý do nhân đạo (như cứu người bị bệnh nan y, cứu tàu thuyền hoặc thủy đoàn của tàu khác gặp nạn trên biển..) thì chỉ cần thông báo trước khi vào nội thủy.

Khi vào nội thủy, tàu quân sự nước ngoài phải tuân thủ các quy định của quốc gia ven biển về thời gian và thủ tục xin phép; tuyến đường hàng hải; hoa tiêu; kiểm dịch; y tế, hải quan; bảo vệ môi trường; quay phim, chụp ảnh; thăm dò, đo đạc; sự quản lý và giám sát của bộ đội biên phòng hoặc lực lượng bảo vệ bờ biển; chế độ sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc và các loại trang thiết bị vũ khí, chất độc, chất phóng xạ trên tàu... và các quy định khác của cảng biển.

Đặc biệt, đối với các tàu Citec, tàu có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân và các tàu chở các chất hay các nguyên liệu phóng xạ hoặc các chất khác vốn nguy hiểm hay độc hại có thể bị bắt buộc đi theo tuyến đường nhất định nhằm bảo đảm an toàn và phòng tránh các sự cố hàng hải gây nguy hiểm cho quốc gia ven biển trong vùng nội thủy. Đối với tàu ngầm (kể cả tàu quân sự và tàu dân sự) khi vào nội thủy của quốc gia ven biển phải vận hành ở tư thế nổi, phải mang cờ mà tàu mang quốc tịch và phải chấp hành nghiêm các quy định của nước sở tại.

Tàu quân sự khi vào nội thủy của quốc gia ven biển phải tuân thủ chế độ pháp lý chặt chẽ hơn so với tàu dân sự vì liên quan tới các vấn đề như an ninh, quốc phòng, chủ quyền quốc gia ven biển... Chính vì vậy, các quy định về thủ tục ra vào, hoạt động trong nội thủy đối với loại tàu này chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn các quy định đối với tàu dân sự.

Đối với tàu dân sự, về nguyên tắc, tất cả những quy định về thủ tục, điều kiện ra vào, hoạt động trong vùng nội thủy quốc gia ven biển đối với tàu quân sự cũng được áp dụng đối với tàu dân sự. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu và lợi ích về kinh tế, thương mại cũng như tự do hàng hải, pháp luật của tất cả các quốc gia đều quy định và tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho tàu thuyền dân sự nước ngoài ra vào một số cảng của quốc gia ven biển (có quốc gia công bố số cảng mà tàu thuyền dân sự được phép ra vào, có quốc gia công bố một số cảng không cho phép các tàu thuyền đó ra vào)[16]. Chính vì vậy, pháp luật của các quốc gia thường cho phép các tàu dân sự nước ngoài ra vào các cảng biển quốc tế trên cơ sở tự do thông thương và có đi có lại. Mặt khác, trình tự, thủ tục ra vào và hoạt động của tàu dân sự nước ngoài trong vùng nội thủy quốc gia ven biển sẽ được quy định đơn giản và linh hoạt hơn so với các quy định dành cho tàu quân sự.

* Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong nội thủy

- Đối với tàu quân sự (bao gồm cả tàu Nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại)

Các tàu thuyền quân sự thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quốc gia đó giao phó. Thành viên (thủy thủ đoàn) của tàu quân sự cũng chính là những công dân mang quốc tịch của quốc gia mà tàu mang cờ. Chính vì vậy, khi hoạt động ở bất cứ vùng biển nào kể cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia khác hay vùng biển quốc tế, tàu quân sự nước ngoài sẽ được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối, và bất khả xâm phạm.

Trong trường hợp tàu quân sự nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển thì quốc gia ven biển có quyền:

- Yêu cầu tàu đó ra khỏi vùng nội thủy trong một thời gian nhất định (có thể thông báo cho tàu đó biết quyết định của quốc gia chủ nhà bằng miệng hoặc bằng văn bản);

- Yêu cầu quốc gia mà tàu đó mang quốc tịch phải áp dụng chế tài nghêm khắc đối với thủy thủ đoàn vi phạm;

- Yêu cầu quốc gia có tàu phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của tàu đó gây ra trong nội thủy của quốc gia ven biển.

- Đối với tàu dân sự

* Quyền tài phán dân sự

Về nguyên tắc, đối với tàu dân sự, luật điều chỉnh là luật của quốc gia mà tàu mang cờ. Chính vì vậy, các Tòa án của quốc gia ven biển không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự xảy ra giữa các thành viên của thủy thủ đoàn với các công dân nước ngoài không thuộc thủy thủ đoàn trên tàu mà vụ việc sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của quốc gia tàu mang quốc tịch.

* Quyền tài phán hình sự

Tàu dân sự nước ngoài khi hoạt động trong nội thủy của quốc gia ven biển sẽ không được hưởng quyền miễn trừ như tàu quân sự. Bởi lẽ, tàu dân sự là những chiếc tàu do tư nhân, pháp nhân làm chủ hoặc là tàu nhà nước sử dụng vào mục đích thương mại như vận tải, buôn bán nhằm mục đích kiếm lãi. Chính vì vậy, theo luật quốc tế, quốc gia ven biển sẽ có thẩm quyền xét xử đối với các vụ vi phạm pháp luật hình sự xảy ra trong tàu dân sự nước ngoài đang hoạt động trong vùng nội thủy quốc gia ven biển. Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia ven biển có quyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các cá nhân có hành vi phạm tội trên tàu. Tuy nhiên, thông thường các quốc gia ven biển không quan tâm đến các vi phạm pháp luật chung nếu an ninh, trật tự trong cảng không bị tổn hại.

2.1 Khái niệm và cách xác định lãnh hải

Theo Điều 2 Công ước 1982, “chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình, trong trường hợp quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo đến một vùng gọi là lãnh hải. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển” .

Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã nêu rõ:“Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra xa nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra... Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải[17]”.

Luật biên giới quốc gia năm 2003 quy định:“Lãnh hải của Việt Nam rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía ngoài. Lãnh hải của Việt Nam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo[18]”.

Điều 3 Công ước 1982 về chiều rộng lãnh hải quy định: “Mọi quốc gia đều có ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước”.

Đối với Việt Nam, theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ngày 12-5-1977[19] và Luật biên giới quốc gia năm 2003[20], lãnh hải Việt Nam rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Theo các văn bản pháp luật này, chiều rộng của lãnh hải Việt Nam hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 3 Công ước 1982.

Xác định chiều rộng của lãnh hải sẽ được tiến hành trong hai trường hợp khác nhau.

Thứ nhất, nếu quốc gia không đối diện, không tiếp giáp với các quốc gia trên biển.

Trong trường hợp này, quốc gia sẽ căn cứ vào đặc điểm địa hình của bờ biển và các quy định của Công ước 1982 để xác định đường cơ sở và tuyên bố chiều rộng của lãnh hải (không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở). Sau đó quốc gia ven biển công bố theo đúng thủ tục các hải đồ hay các bản kê các tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc một bản để lưu chiểu[21]. Trong trường hợp này, ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển.

Thứ hai, việc hoạch định ranh giới lãnh hải (biên giới quốc gia trên biển) giữa hai quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau.

Theo quy định tại Điều 15 Công ước 1982: “Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác”.

2.2 Chế độ pháp lý của lãnh hải

Có thể khẳng định rằng, điểm khác biệt cơ bản về chủ quyền của quốc gia ven biển đối với lãnh hải so với nội thủy chính là ở lãnh hải thừa nhận quyền “qua lại không gây hại” của tàu thuyền nước ngoài. Quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải là một quy tắc tập quán quốc tế đã được thừa nhận từ lâu trong lĩnh vực hàng hải quốc tế và ngày nay đã trở thành quy tắc điều ước và được quy định tại Điều 17 Công ước 1982. Theo đó: “Với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải”. Quyền này được cộng đồng quốc tế thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, hàng hải và an ninh, quốc phòng của các quốc gia trong quan hệ quốc tế từ trước đến nay.

Thuật ngữ “qua lại và không gây hại” đã được cụ thể hóa tại Điều 18 và Điều 19 của Công ước 1982. Điều 18 quy định, thuật ngữ “đi qua” (passage) là đi ở trong lãnh hải, nhằm mục đích:

- Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thủy, không đậu lại trong một vũng tàu hoặc một công trình cảng ở bên ngoài nội thủy hoặc;

- Đi vào hoặc rời khỏi nội thủy hoặc đậu lại hay rời khỏi một vũng tàu hay một công trình cảng trong nội thủy[22] (khoản 1);

- Việc đi qua phải liên tục và nhanh chóng[23]. Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm cả việc dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phải những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn[24] (khoản 2).

Điều 19 Công ước 1982 cũng giải thích chi tiết hành vi đi qua không gây hại - passage inoffensif có nghĩa là qua lại: “không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển. Việc đi qua không gây hại cần phải được thực hiện theo đúng các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế[25]”;

Việc đi qua của một tàu thuyền nước ngoài bị coi là gây hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, nếu như ở trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành một trong bất kỳ hoạt động nào sau đây:

a) Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc;

b) Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;

c) Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

d) Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;

f) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;

g) Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;

h) Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;

i) Đánh bắt hải sản;

j) Nghiên cứu hay đo đạc;

k) Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;

l) Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua” (khoản 2[26]).

Theo các điều khoản của Công ước 1982 (Điều 17, 18, 19, 20, 23, 24), quyền qua lại không gây hại được áp dụng rộng rãi cho các loại tàu thuyền dân sự, quân sự, tàu ngầm cũng như tàu chạy bằng năng lượng nguyên tử, tàu chở những chất phóng xạ hay những chất độc hại[27]. Tuy nhiên, khi qua lại lãnh hải của quốc gia ven biển, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác buộc phải đi nổi và phải treo cờ quốc tịch[28] (Điều 20 Công ước 1982).

Để bảo vệ an toàn cho tàu thuyền qua lại, và các quyền của mình, quốc gia ven biển có thể định ra, phù hợp với các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế, các luật và quy định liên quan đến việc đi qua không gây hại ở trong lãnh hải của mình về các vấn đề:

- An toàn hàng hải và điều phối giao thông đường biển

- Bảo vệ các thiết bị và các hệ thống bảo đảm hàng hải và các thiết bị hay công trình khác;

- Bảo vệ các đường dây cáp và ống dẫn;

- Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển;

- Ngăn ngừa những sự vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven biển liên quan đến việc đánh bắt;

- Giữ gìn, ngăn ngừa, hạn chế, chế ngự ô nhiễm môi trường;

- Nghiên cứu khoa học biển, đo đạc thủy văn;

- Ngăn ngừa những vi phạm các luật và quy định về hải quan, thuế quan, y tế, nhập cư (điểm h, khoản 1, Điều 21 Công ước 1982).

Mặt khác, Điều 24 Công ước 1982 cũng quy định quốc gia ven biển không được:

- Cản trở quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải, ngoài những trường hợp mà Công ước đã trù định[29] (khoản 1);

- Áp đặt cho các tàu thuyền nước ngoài những nghĩa vụ dẫn đến việc cản trở hay hạn chế việc thực hiện quyền đi qua không gây hại (điểm a, khoản 1);

- Phân biệt đối xử về mặt pháp lý hay về mặt thực tế đối với tàu thuyền chở hàng từ một quốc gia nhất định hay đến quốc gia đó hoặc nhân danh một quốc gia nhất định (điểm b, khoản 1);

- Thu lệ phí đối với tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải (trừ các khoản tiền công phải trả cho những dịch vụ cụ thể và khi thu lệ phí đó không được phân biệt đối xử) (Điều 26).

Mặt khác, quốc gia ven biển phải thông báo thích đáng mọi nguy hiểm về hàng hải mà mình biết trong lãnh hải của mình.

Nghiên cứu các quy định của Công ước 1982 về quyền đi qua không hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải của quốc gia ven biển chúng ta thấy rằng, việc thừa nhận quyền này đã thể hiện tính chất hạn chế về chủ quyền của quốc gia ven biển trong lãnh hải so với nội thủy. Đối với đất liền, và lãnh thổ vùng trời của một quốc gia sẽ không tồn tại chế độ qua lại không gây hại. Bởi lẽ, xuất phát từ chủ quyền quốc gia hoàn toàn và tuyệt đối đối với vùng đất và vùng trời, quốc gia sẽ không cho phép bất kỳ một loại phương tiện giao thông nào của nước ngoài qua lại không gây hại trên lãnh thổ của mình. Mọi hành vi qua lại của người, phương tiện giao thông nước ngoài đều xin phép, hoặc áp dụng theo những quy định của các điều ước quốc tế đã được các quốc gia hữu quan ký kết. Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng “qua lại không gây hại” là một quyền mang tính biển[30].

Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng lãnh hải

a) Đối với tàu dân sự

- Quyền tài phán hình sự ở trên một tàu nước ngoài.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 27 Công ước 1982, về nguyên tắc, quốc gia ven biển không được thực hiện quyền tài phán hình sự của mình ở trên một tàu nước ngoài đi qua lãnh hải để tiến hành việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu trong khi nó đi qua lãnh hải, trừ các trường hợp sau đây:

- Nếu hậu quả của vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển (điểm a);

- Nếu vụ vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đất nước hay trật tự trong lãnh hải (điểm b);

- Nếu thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc một viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đương cục địa phương hoặc (điểm c);

- Nếu các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buôn lậu chất ma túy hay các chất kích thích (điểm d).

Tuy nhiên, quốc gia ven biển có quyền áp dụng mọi biện pháp mà luật trong nước mình quy định nhằm tiến hành các việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm ở trên con tàu nước ngoài đi qua lãnh hải, sau khi rời nội thủy[31].

Cần lưu ý rằng, khi thực hiện quyền tài phán hình sự của mình theo các quy định tại điểm a, b, c, d, khoản 1 và khoản 2, Điều 27 Công ước 1982, nếu thuyền trưởng yêu cầu, quốc gia ven biển phải thông báo trước về mọi biện pháp cho một viên chức ngoại giao hay cho một viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ và phải tạo điều kiện dễ dàng cho viên chức ngoại giao hay viên chức lãnh sự đó tiếp xúc với đoàn thủy thủ của con tàu. Trong trường hợp khẩn cấp, việc thông báo này có thể tiến hành trong khi các biện pháp đang được thi hành[32]. Khi xem xét có nên bắt giữ và cách thức bắt giữ, cơ quan tiến hành bắt giữ phải chú ý thích đáng đến các lợi ích về hàng hải[33].

Theo khoản 5, Điều 27 Công ước 1982, trừ trường hợp áp dụng Phần XII[34] hay trong trường hợp có sự vi phạm các luật và quy định được định ra theo đúng Phần V[35], quốc gia ven biển không được thực hiện một biện pháp nào ở trên một con tàu nước ngoài khi nó đi qua lãnh hải nhằm tiến hành bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trước khi con tàu đi vào lãnh hải, nếu như con tàu xuất phát từ một cảng nước ngoài, chỉ đi qua lãnh hải mà không đi vào nội thủy.

- Quyền tài phán về dân sự

Theo quy định tại Điều 28 Công ước 1982, quốc gia ven biển không được bắt một tàu nước ngoài đang đi qua lãnh hải phải dừng lại hay thay đổi quá trình của nó để thực hiện quyền tài phán dân sự của mình đối với một người ở trên con tàu đó[36];

Quốc gia ven biển không thể áp dụng các biện pháp trừng phạt hay biện pháp bảo đảm (messures conservatoires) về mặt dân sự đối với con tàu này, nếu không phải vì những nghĩa vụ đã cam kết hay các trách nhiệm mà con tàu phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển của quốc gia ven biển[37];

Khoản 2 không đụng chạm đến quyền của quốc gia ven biển áp dụng các biện pháp trừng phạt hay bảo đảm về mặt dân sự do luật trong nước của quốc gia này quy định đối với một tàu thuyền nước ngoài đang đậu trong lãnh hải hay đi qua lãnh hải, sau khi đã rời nội thủy.

b) Đối với tàu quân sự

Phần 1, tiểu mục C Công ước 1982 quy định về quy tắc áp dụng cho tàu chiến và các tàu thuyền khác của nhà nước được dùng vào những mục đích không thương mại từ Điều 29 đến Điều 32.

Trong trường hợp, nếu một tàu quân sự không tôn trọng các luật và quy định của quốc gia ven biển, có liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và bất chấp yêu cầu phải tuân theo các luật và quy định đó đã được thông báo cho họ, thì quốc gia ven biển có thể yêu cầu chiếc tàu đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức[38].

Quốc gia mà tàu mang cờ phải chịu trách nhiệm quốc tế về mọi tổn thất hoặc về mọi thiệt hại gây ra cho quốc gia ven biển do một tàu quân sự hay bất kỳ tàu thuyền nào khác của nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại vi phạm các luật và các quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua lãnh hải hay vi phạm các quy định của Công ước hoặc các quy tắc khác của pháp luật quốc tế[39].

II. CÁC VÙNG BIỂN THUỘC QUYỀN CHỦ QUYỀN QUỐC GIA

1. Vùng tiếp giáp lãnh hải

1.1. Khái niệm và cách xác định vùng tiếp giáp lãnh lải

Trong quá trình hoạch định biển, các nước ven biển không thể mở rộng vô hạn độ các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia (nội thủy - lãnh hải). Tuy nhiên, với việc thiết lập các vùng biển này tương đối hẹp, nhất là trước đây lãnh hải chỉ được phép mở rộng trong phạm vi 3 hải lý nên các nước ven biển nhận thấy quyền và lợi ích của họ thường xuyên bị đe dọa về nhiều mặt từ phía biển cả (biển quốc tế). Chính vì vậy, dần dần nhiều quốc gia ven biển đã lập ra những vùng đặc biệt, tiếp giáp với lãnh hải nhằm bảo vệ lợi ích của họ trong các lĩnh vực như thuế quan, y tế, nhập cư, bảo vệ tài nguyên và nhất là an ninh quốc phòng của quốc gia trên biển. Từ đó, cộng đồng quốc tế đã đi đến thảo luận và hình thành dần vùng tiếp giáp trong Luật biển từ Hội nghị La Hay năm 1930 và chính thức được ghi nhận trong Công ước Giơnevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải[40].

Việc thiết lập vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhiều nước ven biển trong việc bảo vệ lợi ích của họ về các mặt trên và đồng thời cũng là để thỏa mãn phần nào khuynh hướng đòi mở rộng lãnh hải nhưng không được chấp nhận.

Theo khoản 2, Điều 33 Công ước 1982: “Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”.

Như vậy, muốn xác định được vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển phải xác định đường cơ sở và chiều rộng của lãnh hải. Đối với những quốc gia quy định lãnh hải rộng 12 hải lý thì vùng tiếp giáp lãnh hải của họ có chiều rộng thực tế tối đa là 12 hải lý và hợp với lãnh hải thành vùng biển có chiều rộng 24 hải lý. Và ngược lại, vùng tiếp giáp lãnh hải có thể rộng hơn 12 hải lý nếu nước ven biển quy định chiều rộng của lãnh hải rộng hơn 12 hải lý.

Theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam quy định: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam[41] ”(đoạn 1, điểm 2).

1.2 Chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải

Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển cũng không phải là một bộ phận của biển quốc tế. Chính vì vậy, vùng tiếp giáp lãnh hải khác về bản chất so với lãnh hải. Nếu như lãnh hải là một bộ phận cấu thành của lãnh thổ quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia thì vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển.

Về quyền tài phán, quốc gia ven biển được thực hiện trong một số lĩnh vực nhất định được pháp luật quốc tế thừa nhận nhằm:

- Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.

- Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình[42].

Xuất phát từ các quy định nói trên của Công ước 1982, thẩm quyền của quốc gia ven biển trên vùng tiếp giáp lãnh hải được coi là quyền mang tính “cảnh sát” nhằm bảo vệ lãnh hải và nội thủy quốc gia ven biển. Mặt khác, theo quy định tại Điều 303 Công ước 1982, quốc gia ven biển sẽ có quyền đối với các hiện vật khảo cổ và lịch sử được phát hiện ở vùng tiếp giáp lãnh hải, theo đó “quốc gia ven biển có thể coi việc lấy các hiện vật đó từ đáy biển trong vùng nói tại điều đó mà không có sự thỏa thuận của mình là sự vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven biển ở trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình, đã được nêu tại Điều 33” (khoản 2).

Theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam quy định: “Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam”(đoạn 2, điểm 2).

Nghị định 30-CP ngày 29-1-1980 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chế độ hoạt động của tàu thuyền nước ngoài tại các vùng biển của Việt Nam quy định: “Tàu thuyền quân sự (bao gồm cả tàu chiến và tàu bổ trợ) muốn vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam phải xin phép Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (qua đường ngoại giao) ít nhất 30 ngày trước, và sau khi được phép vào, phải thông báo cho nhà đương cục quân sự Việt Nam (qua Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) 48 giờ trước khi bắt đầu đi vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam” (điểm c, Điều 3).

Về quyền chủ quyền kinh tế, trong vùng tiếp giáp lãnh hải. Xuất phát từ vị trí của vùng tiếp giáp lãnh hải, khi xác định chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế đã bao trùm luôn cả vùng biển này. Mặt khác, bên cạnh chế độ pháp lý mà Công ước 1982 đã quy định tại Điều 33, thì toàn bộ chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế, đặc biệt là quyền chủ quyền về kinh tế của quốc gia ven biển cũng được áp dụng cho vùng tiếp giáp lãnh hải mà không có bất kỳ ngoại lệ nào. Chính vì vậy, có thể nói rằng, vùng tiếp giáp lãnh hải là một bộ phận của vùng đặc quyền kinh tế. Các quyền chủ quyền của quốc gia ven biển về kinh tế chúng tôi sẽ đề cập trong vùng đặc quyền kinh tế.

2. Vùng đặc quyền kinh tế

2.1 Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế

Vùng đặc quyền kinh tế là một vấn đề mới được đặt ra trong thực tiễn pháp lý quốc tế từ những năm 70 của thế kỷ XX tại Hội nghị về Luật biển quốc tế lần thứ III. Vùng biển này ra đời xuất phát từ lợi ích, nhu cầu của các nước đang phát triển có biển đấu tranh nhằm mở rộng quyền của mình trong lĩnh vực kinh tế, về bảo tồn, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Trái lại, các nước công nghiệp phát triển lại tỏ ra chống đối khuynh hướng này vì việc thiết lập vùng đặc quyền kinh tế thì lợi ích của các quốc gia này bị giảm xuống do biển quốc tế sẽ bị thu hẹp lại.

Về phương diện lịch sử, có thể nói rằng, sau Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman ngày 28-9-1945 đơn phương xác lập thềm lục địa để giành quyền khai thác tài nguyên trên vùng biển đó, nhiều nước Mỹ La tinh (Nam Mỹ), đặc biệt là các nước ở ven Thái Bình Dương, do không có điều kiện xác lập thềm lục địa hoàn chỉnh (thềm lục địa của các quốc gia này rất hẹp), đã phản ứng lại bằng cách thiết lập một vùng biển mới gọi là “vùng biển tài sản quốc gia[43]” để thiết lập chủ quyền và quyền tài phán của mình trên vùng biển này. Từ năm 1947, ba nước ven Thái Bình Dương là Pêru, Êcuađo, Chilê đã ban hành luật quốc gia đơn phương thiết lập quyền tài phán của họ trên vùng biển này. Khuynh hướng này tiếp tục được mở rộng đến các quốc gia Mỹ La tinh khác (Vênêxuêla, Argentina, Brazil..,) cũng như các nước Á Phi (như Êtiôpia, Xômali, Kênia...) với tham vọng thiết lập một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở là lãnh thổ trên biển của quốc gia[44].

Theo quy định tại Điều 55 và Điều 57 của Công ước 1982, vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm bên ngoài lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng. Vùng đặc quyền kinh tế không được mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải.

Cũng như các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia khác, muốn xác định được chiều rộng pháp lý[45] và chiều rộng thực tế[46] của vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển phải xác định đường cơ sở và chiều rộng của lãnh hải.

Đối với Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định chính thức trong Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, theo đó: “Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam[47]” (đoạn 1, điểm 3).

Với Tuyên bố này, Việt Nam cùng với Kenya, Myanma, Cuba, Yemen, Dominic, Guatemala, Ấn Độ, Pakixtan, Mêhicô, Seychelles được coi là những quốc gia tiên phong trong việc đưa khái niệm vùng đặc quyền kinh tế trở thành khái niệm có giá trị tập quán trước khi Công ước được ký kết và có hiệu lực. Đồng thời, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á tuyên bố thiết lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý[48].

2.2 Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế

Nghiên cứu các quy định của Công ước 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế tồn tại hai nhóm quyền của hai nhóm quốc gia khác nhau đó là quốc gia ven biển và các quốc gia khác, kể cả quốc gia không có biển và quốc gia bất lợi về địa lý. Đặc điểm này của vùng đặc quyền kinh tế đã được quy định cụ thể tại Công ước 1982:“Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh[49]”.

a) Quyền của quốc gia ven biển

* Quyền chủ quyền

Theo quy định tại Điều 56 Công ước 1982, quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hay không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển[50], cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió[51].

Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển về tài nguyên sinh vật[52] được thực hiện thông qua các quyền sau đây:

- Quyền ấn định khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận đối với tài nguyên sinh vật (khoản 1, Điều 61);

- Thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật[53] (khoản 2, Điều 61);

- Xác định khả năng đánh bắt của mình để ấn định số dư của khối lượng cho phép đánh bắt (khoản 2, Điều 62);

Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền về kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam” (đoạn 2, điểm 3).

* Quyền tài phán

Theo quy định của Công ước 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền tài phán về:

- Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị công trình;

- Nghiên cứu khoa học về biển;

- Bảo vệ và giữ gìn môi trường biển;

- Các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định (điểm b, c, khoản 1, Điều 56).

Các quyền tài phán trong các lĩnh trên đây của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế được cụ thể hóa trong các điều khoản tiếp theo của Công ước 1982.

Ngoài ra, Công ước 1982 cũng quy định, khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo Công ước 1982, quốc gia phải tính đến các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác và hành động phù hợp với Công ước (khoản 2, Điều 56).

- Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế

Theo quy định tại Điều 58 Công ước 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, bên cạnh thừa nhận và xác lập các quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển, Công ước còn dành cho tất cả các quốc gia có biển hay không có biển được hưởng một số quyền sau đây:

+ Tự do hàng hải

+ Tự do hàng không

+ Đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.

+ Sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là trong khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm.

Các quốc gia khác muốn nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển phải được sự đồng ý của quốc gia ven biển. Đồng thời, khi hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế các quốc gia khác phải tôn trọng luật pháp của quốc gia ven biển và những quy định của luật pháp quốc tế.

Đặc biệt, Công ước 1982 đã dành cho các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý[54] được quyền tham gia vào việc khai thác số cá dư trong các vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển cùng phân khu vực hoặc khu vực. Tuy nhiên, quyền này chỉ được thực hiện khi quốc gia ven biển không có khả năng khai thác hết sản lượng cá, và cho phép nước ngoài vào đánh bắt số cá thừa theo những điều kiện được các bên hữu quan thỏa thuận.

Như vậy, các quốc gia muốn vào khai thác số cá dư trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ven biển nếu đáp ứng được bốn điều kiện sau:

- Quốc gia đó là quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý;

- Quốc gia đó phải có vị trí địa lý trong cùng phân khu vực hoặc khu vực với quốc gia ven biển;

- Quốc gia ven biển không có khả năng đánh bắt hết sản lượng cá có thể đánh bắt (có cá dư);

- Được quốc gia ven biển chấp nhận thông qua việc ký kết điều ước quốc tế hoặc các thỏa thuận khác[55].

Phù hợp với Công ước 1982, quốc gia ven biển có quyền đề ra trong các luật và quy định về các vấn đề sau đây được quy định chi tiết tại Điều 62.

a) Cấp giấy phép cho ngư dân hay tàu thuyền và phương tiện đánh bắt, kể cả việc nộp thuế hay mọi khoản phải trả khác liên quan đến đánh bắt hải sản (điểm a, khoản 4);

b) Quy định chủng loại cho phép đánh bắt và ấn định tỷ lệ phần trăm, hoặc là đối với đàn cá (stocks) hay các nhóm đàn hải sản riêng biệt hoặc đối với số lượng đánh bắt của từng chiếc tàu trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc là đối với số lượng đánh bắt của các công dân của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (điểm b, khoản 4);

c) Quy định các mùa vụ và các khu vực đánh bắt, kiểu, cỡ và số lượng các phương tiện đánh bắt, cũng như kiểu, cỡ và số lượng tàu thuyền đánh bắt có thể được sử dụng (điểm c, khoản 4);

d) Ấn định tuổi, cỡ cá và các sinh vật khác có thể được đánh bắt (điểm d, khoản 4);

e) Các thông tin mà tàu thuyền đánh bắt phải báo cáo, đặc biệt là những số liệu thống kê liên quan đến việc đánh bắt và sức đánh bắt và thông báo vị trí của các tàu thuyền (điểm e, khoản 4);

f) Nghĩa vụ tiến hành, với sự cho phép và dưới sự kiểm soát của quốc gia ven biển, các chương trình nghiên cứu nhất định về đánh bắt và việc quy định cách thức tiến hành các chương trình nghiên cứu này, kể cả việc lấy mẫu cách thức đánh bắt được, nơi nhận các mẫu và việc thông báo các số liệu khoa học có liên quan (điểm f, khoản 4);

g) Việc quốc gia ven biển đặt các quan sát viên hay thực tập sinh trên các tàu thuyền đó (điểm g, khoản 4);

h) Bốc dỡ toàn bộ hay một phần các sản phẩm đánh bắt được của tàu thuyền đó ở các cảng của quốc gia ven biển (điểm h, khoản 4);

i) Các thể thức và điều kiện liên quan đến các xí nghiệp liên doanh hoặc các hình thức hợp tác khác (điểm i, khoản 4);

j) Các điều kiện cần thiết về mặt đào tạo nhân viên, về chuyển giao kỹ thuật trong lĩnh vực đánh bắt hải sản, kể cả việc đẩy mạnh khả năng nghiên cứu nghề cá của quốc gia ven biển (điểm j, khoản 4);

k. Các biện pháp thi hành và các biện pháp khác (điểm k, khoản 4).

3. Thềm lục địa

3.1. Khái niệm và cách xác định thềm lục địa

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nhu cầu về năng lượng phục vụ cho sự phát triển của các quốc gia sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Chính vì vậy, vấn đề khai thác tài nguyên ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tiếp giáp bờ biển được rất nhiều quốc gia quan tâm. Từ nhu cầu đó, vấn đề về thềm lục địa được đặt ra và được trở thành một chế định quan trọng trong Luật biển quốc tế.

Thềm lục địa đã được ghi nhận trong Hội nghị về Luật biển tại Giơnevơ lần thứ nhất năm 1958. Hội nghi này đã thông qua Công ước về thềm lục địa và đến Hội nghị Luật biển lần thứ ba, thềm lục địa lại một lần nữa được ghi nhận trong Công ước năm 1982. Theo khoản 1, Điều 76 Công ước 1982 thềm lục địa được định nghĩa như sau:

“Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần đất kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”.

Đối với Việt Nam, là một quốc gia có bờ biển dài hơn 3.200km chính vì vậy chúng ta cũng có một thềm lục địa tương ứng với địa hình của bờ biển. Theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977 về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam quy định: “Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó” (đoạn 1, điểm 4). Đối với các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng như đã quy định trong Tuyên bố này (điểm 5).

Theo định nghĩa được quy định tại khoản 1, Điều 76 Công ước 1982, chiều rộng của thềm lục địa có thể được xác lập theo hai giới hạn sau đây:

- Thứ nhất, nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển có chiều rộng hẹp hơn hoặc bằng 200 hải lý tính từ đường cơ sở để đo chiều rộng của lãnh hải thì quốc gia ven biển tuyên bố thềm lục địa của mình rộng 200 hải lý;

- Thứ hai, nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng hơn 200 hải lý, đến bờ ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp này, quốc gia ven biển xác định bờ ngoài của rìa lục địa bằng những cách sau đây theo khoản 3 của Điều 76:

- Một đường nối liền các điểm cố định ngoài cùng mà ở đó độ dày của lớp trầm tích bằng ít nhất 1% khoảng cách giữa điểm đó với chân dốc thềm lục địa;

- Một đường nối liền các điểm cố định cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý;

Theo khoản 5, Điều 76, các điểm cố định xác định trên đáy biển, đường ranh giới ngoài của thềm lục địa, nằm cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải một khoảng cách không vượt quá 350 hải lý hoặc nằm cách đường đẳng sâu 2500m là đường nối liền các điểm có độ sâu trung bình 2500m, một khoảng cách không quá 100 hải lý.

Tóm lại, theo quy định tại Điều 76 Công ước 1982 nếu thềm lục địa không rộng (nhỏ hơn hoặc bằng 200 hải lý) thì các quốc gia có quyền tuyên chiều rộng tối đa của thềm lục địa quốc gia mình là 200 hải lý (trong trường hợp này chiều rộng của thềm lục địa sẽ bằng chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế); nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng hơn 200 hải lý thì có thể xác định ranh giới phía ngoài của thềm lục địa bằng hai cách:

- Chiều rộng tối đa của thềm lục địa là 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để đo chiều rộng của lãnh hải hoặc;

- Kéo dài thêm 100 hải lý tính từ đường nối những điểm ở độ sâu 2500 m.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, với giải pháp công bằng, Công ước 1982 đã ưu tiên cho những quốc gia có thềm lục địa hẹp (nhỏ hơn 200 hải lý) sẽ được kéo dài thềm lục địa của mình bằng 200 hải lý. Đối với những quốc gia có thềm lục địa rộng (lớn hơn 200 hải lý) thì thềm lục địa của quốc gia đó rộng bao nhiêu sẽ được tuyên bố bấy nhiêu nhưng tối đa không được vượt quá 350 hải lý hoặc không được vượt quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2500m.

3.2 Chế độ pháp lý của thềm lục địa

Cũng như vùng đặc quyền kinh tế, ở thềm lục địa của quốc gia ven biển tồn tại song song quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển và quyền, nghĩa vụ của các quốc gia khác.

a) Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển

Theo Điều 77 Công ước 1982, trong vùng thềm lục địa quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền sau đây:

“1. Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình.

2. Các quyền nói ở khoản 1 có tính chất đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa, thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của các quốc gia đó.

3. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào...”

Như vậy, có thể kết luận rằng, đây là các quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa của mình chứ không phải là chủ quyền. Các quyền chủ quyền mà quốc gia ven biển có được trên thềm lục địa của mình xuất phát từ chủ quyền trên lãnh thổ đất liền. Bởi lẽ, thềm lục địa chính là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền. Mặt khác, các quyền chủ quyền này mang tính “đặc quyền”, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò, khai thác tài nguyên sinh vật, vi sinh vật trên thềm lục địa của mình thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động đó. Và cuối cùng, các quyền này tồn tại đương nhiên và ngay từ đầu ipso facto and ab initio[56]đó là quyền không thể chuyển nhượng và không thể mất hiệu lực đối với quốc gia ven biển. Các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào việc thực hiện nó hiệu quả hay không. Nó tồn tại không cần một tuyên bố đơn phương nào. Điều này khác với vùng đặc quyền kinh tế, bắt buộc phải có một tuyên bố đơn phương từ quốc gia ven biển[57].

b) Quyền tài phán của quốc gia ven biển

Theo quy định của Công ước 1982, quốc gia ven biển có các quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển, quyền tài phán về bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Cụ thể:

- Một là, quyền tiến hành đặt và cho phép đặt các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình thềm lục địa.

Công ước 1982 đã đồng nhất hóa các điểm liên quan giữa các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trong vùng đặc quyền kinh tế tại Điều 60 với các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa ở Điều 80. Chính vì vậy, Điều 80 Công ước 1982 quy định: “Điều 60 áp dụng mutatis mutandis (với những sửa đổi cần thiết về chi tiết) đối với các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lục địa”. Sự đồng nhất này là cần thiết, bởi vì mối liên hệ không thể tách rời giữa vùng đặc quyền kinh tế với thềm lục địa.

Thực chất, lắp đặt, xây dựng đảo nhân tạo và các thiết bị, công trình khác như dây cáp, ống dẫn ngầm ở vùng đặc quyền kinh tế sẽ liên quan đến thềm lục địa. Mặt khác, quốc gia ven biển có quyền đặt ra các điều kiện đối với đường dây cáp hoặc ống dẫn đi vào lãnh thổ hay lãnh hải của mình, cũng như quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với dây cáp, ống dẫn được đặt hoặc sử dụng trong khuôn khổ thăm dò thềm lục địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình hoặc khai thác các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình thuộc quyền tài phán của quốc gia này[58].

- Hai là, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển

Quốc gia ven biển có quyền quy định, cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học biển trên thềm lục địa theo đúng các quy định của Công ước trên cơ sở thỏa thuận với quốc gia ven biển[59]. Thực hiện quyền tài phán này, cũng như ở vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền tùy ý mình không cho phép thực hiện một dự án nghiên cứu khoa học biển trên thềm lục địa của mình:

+ Nếu dự án có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật;

+ Nếu dự án có dự kiến công việc khoan trong thềm lục địa, sử dụng chất nổ hay đưa chất độc hại vào trong môi trường biển;

+ Nếu dự án dự kiến việc xây dựng, khai thác hay sử dụng các đảo nhân tạo, thiết bị công trình nhân tạo;

+ Nếu những thông tin được thông báo về tính chất và mục tiêu của dự án theo Điều 248[60] không đúng hoặc nếu quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền, tác giả của dự án không làm tròn những nghĩa vụ đã cam kết với quốc gia ven biển[61].

- Ba là, quyền tài phán về việc khoan ở thềm lục địa

Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và điều chỉnh việc khoan ở thềm lục địa với bất kỳ mục đích nào (Điều 81).

- Bốn là, quyền tài phán trong lĩnh vực bảo vệ và giữ gìn môi trường biển

Quốc gia ven biển có quyền tài phán trong lĩnh vực bảo vệ và giữ gìn môi trường biển ở thềm lục địa tương tự như trong vùng đặc quyền kinh tế nhằm ngăn ngừa, hạn chế, chế ngự ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia[62].

Bên cạnh việc được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán nói trên, quốc gia ven biển phải thực hiện một số nghĩa vụ sau đây:

Thứ nhất, nếu quốc gia ven biển có thềm lục địa rộng hơn 200 hải lý tính từ đường cơ sở phải xác định rõ tọa độ, thông báo các thông tin về các ranh giới ngoài của thềm lục địa cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa.

Theo thời hạn được Công ước 1982 quy định, đến ngày 13-5-2009 nếu quốc gia nào không đăng ký thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì quốc gia đó sẽ không có quyền khai thác thềm lục địa mở rộng của mình.

Việt Nam đã chính thức đăng ký thềm lục địa mở rộng ngoài phạm vi 200 hải lý tính từ đường cơ sở của mình cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa ngày 7-5-2009 với hồ sơ thềm lục địa riêng của Việt Nam khu vực Bắc Bộ (VNM-N). Theo bản đăng ký của Việt Nam, đây chỉ là bản đăng ký một phần, phần Trung Bộ (VNM-C) sẽ được xác định sau. Đây là một hành động pháp lý quan trọng của nhà nước Việt Nam nhằm bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa của mình, dựa trên những cơ sở khoa học cũng như lịch sử và bằng chứng pháp lý lâu đời của nước ta.

Trước đó, ngày 6-5-2009 Việt Nam nộp hồ sơ chung với Malayxia để đăng ký thềm lục địa chung liên quan đến hai nước phía nam biển Đông. Khi chúng ta nộp hồ sơ chung về thềm lục địa mở rộng với Malayxia, Trung Quốc và Philippin là hai nước đã gửi công hàm cho Tổng thư ký Liên hợp quốc để phản đối.

Thứ hai, quốc gia ven biển phải có nghĩa vụ đóng góp bằng tiền hoặc hiện vật về việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không sinh vật của thềm lục địa nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải (khoản 1, Điều 82).

Các khoản đóng góp này được nộp hàng năm theo toàn bộ sản phẩm đã thu được ở một điểm khai thác nào đó, sau 5 năm đầu khai thác. Có nghĩa là, trong thời gian 5 năm đầu khai thác, quốc gia sẽ được được miễn đóng góp. Từ năm thứ 6, tỷ lệ đóng góp là 1% của giá trị hay của khối lượng sản phẩm khai thác được, sau đó mỗi năm tăng lên 1% cho đến năm thứ 12 trở đi là 7%. Sản phẩm không bao gồm các tài nguyên được dùng trong khuôn khổ của việc khai thác[63]. Tuy nhiên, việc đóng góp này có ngoại lệ đối với các quốc gia đang phát triển là nước chuyên nhập khẩu một khoáng sản được khai thác từ thềm lục địa của mình sẽ được miễn các khoản đóng góp đối với loại khoáng sản đó. Các khoản đóng góp này sẽ được thực hiện thông qua cơ quan quyền lực; cơ quan này sẽ phân chia các khoản đó cho các quốc gia thành viên theo tiêu chuẩn công bằng, có tính đến lợi ích và nhu cầu của các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia chậm phát triển nhất hay các quốc gia không có biển[64].

Thứ ba, khi thực hiện các quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình, quốc gia ven biển không được:

+ Làm ảnh hưởng đến chế độ pháp lý của vùng nước phía bên trên hay vùng trời bên trên của vùng nước này (nếu thềm lục địa rộng 200 hải lý thì vùng nước bên trên thềm lục địa là vùng đặc quyền kinh tế; nếu thềm lục địa rộng hơn 200 hải lý thì bên trên thềm địa bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế và một phần biển cả);

+ Không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các quốc gia khác[65] đã được Công ước thừa nhận[66].

Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, theo đó “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư ở thềm lục địa Việt Nam” (đoạn 2, điểm 4).

Trong nhiều năm qua, đặt biệt là từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, chúng ta đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai thác các loại tài nguyên khoáng sản và đặc biệt là dầu khí, cũng như thành lập các cụm khoa học, kinh tế và dịch vụ trên thềm lục địa Việt Nam, đặt dây cáp, ống dẫn ngầm để chứng minh và khẳng định quyền chủ quyền đối với thềm lục địa Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

III. BIỂN QUỐC TẾ VÀ ĐÁY ĐẠI DƯƠNG (La zone)

1 Biển quốc tế

1.1 Khái niệm và cách xác định

Thuật ngữ “biển quốc tế” còn gọi là “công hải” hay “biển cả”. Cho đến trước Hội nghị Luật biển lần thứ ba, về cơ bản, biển và đại dương được phân định làm hai vùng là lãnh hải thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển và công hải là phần còn lại mênh mông đặt dưới chế độ gọi là “tự do ở công hải”, mở ra cho các nước sử dụng, khai thác một cách bình đẳng, nhưng thực chất chỉ dành cho các nước có nền khoa học kỹ thuật phát triển đặc biệt là ngành hàng hải và khai thác biển.

Theo phần VII - Biển cả, mục 1, Điều 86 về phạm vi áp dụng, Công ước Luật biển năm 1982 định nghĩa biển quốc tế là: “...tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền về kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo...”. Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy rằng, tính từ bờ biển ra bên ngoài, những vùng biển không phải là nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, hoặc vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo chính là biển cả.

1.2 Chế độ pháp lý của biển quốc tế

a) Nguyên tắc tự do trên biển cả

Chế độ pháp lý của biển cả được tập trung chủ yếu trong nguyên tắc tự do ở biển cả. Theo nguyên tắc này, biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia có biển hay không có biển đều bình đẳng và tự do trong việc sử dụng biển. Quyền tự do trên biển cả bao gồm:

+ Tự do hàng hải;

+ Tự do hàng không;

+ Tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ phần VI[67];

+ Tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được pháp luật quốc tế cho phép, với điều kiện tuân thủ phần VI;

+ Tự do đánh bắt hải sản;

+ Tự do nghiên cứu khoa học, với điều kiện tuân thủ các phần VI và phần VIII.

Trong các quyền tự do nói trên, quyền tự do hàng hải và tự do hàng không bị hạn chế như đối với các quyền tự do khác thì bị hạn chế phần nào. Về quyền tự do đánh bắt cá ở biển cả không phải không có giới hạn mà ngược lại, quốc gia đánh bắt cá ở biển cả có nghĩa vụ tôn trọng các quyền và nghĩa vụ cũng như lợi ích của các quốc gia ven biển; áp dụng các biện pháp để bảo tồn tài nguyên sinh vật của biển cả; hợp tác quốc tế trong việc bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật[68].

b) Địa vị pháp lý của tàu thuyền của các quốc gia trên biển cả

Khi hoạt động trên biển cả, tàu thuyền của các quốc gia có biển hay không có biển đều có quyền treo cờ của quốc gia tàu mang quốc tịch[69]. Các tàu thuyền chỉ được hoạt động dưới cờ của một quốc gia và, trừ những trường hợp ngoại lệ đã được quy định rõ ràng trong các điều ước quốc tế hay công ước, chỉ thuộc quyền tài phán của quốc gia mà tàu thuyền đó mang cờ khi ở biển cả. Mặt khác, tàu thuyền của các quốc gia khi đi lại trên biển cả không được thay đổi cờ trong một chuyến đi hay trong một dịp đậu lại, trừ trường hợp có sự chuyển giao thật sự quyền sở hữu hay có thay đổi đăng ký[70].

Đối với tàu chiến và tàu nhà nước dùng trong lĩnh vực phi thương mại, trên biển cả được hưởng quyền miễn trừ hoàn toàn về tài phán của bất kỳ quốc gia nào khác ngoài quốc gia mà tàu mang cờ[71].

Ngoài ra, vì quyền lợi chung, tất cả các quốc gia đặc biệt là quốc gia ven biển hợp tác để giúp đỡ, tìm kiếm, cứu trợ các tàu và thủy thủ đoàn của tàu đang nguy khốn, tai nạn trên biển do đâm va[72]. Đồng thời, mọi quốc gia phải thi hành các biện pháp thích đáng để ngăn ngừa và trừng trị hành vi chuyên chở nô lệ[73] cũng như hợp tác để trấn áp nạn cướp biển[74], trấn áp việc buôn bán các chất ma túy và các chất kích thích[75] hoặc phát sóng trái phép[76].

Ngoài ra, trừ những trường hợp mà việc can thiệp là căn cứ vào những quyền do hiệp ước mang lại, một tàu chiến khi gặp một chiếc tàu nước ngoài ở trên biển cả mà không phải là một tàu được hưởng quyền miễn trừ (tàu chiến và tàu nhà nước phi thương mại) thì có thể được quyền khám xét chiếc tàu đó nếu có những lý do đúng đắn để nghi ngờ chiếc tàu đó:

- Tiến hành cướp biển;

- Chuyên chở nô lệ;

- Dùng vào các cuộc phát sóng không được phép;

- Không có quốc tịch, hay thật ra là cùng quốc tịch với chiếc tàu chiến, mặc dù chiếc tàu này treo cờ của nước ngoài hay từ chối treo cờ của nước mình[77]. Cần lưu ý rằng, để tránh tình trạng tùy tiện khám xét tàu thuyền đang hoạt động trên biển quốc tế, Công ước quy định: “Nếu việc nghi ngờ xét ra không có cơ sở thì chiếc tàu bị khám xét được bồi thường về mọi tổn thất hay thiệt hại xảy ra, với điều kiện là chiếc tàu này không phạm một hành động nào làm cho nó bị tình nghi[78]”.

2 Đáy đại dương (La zone)

2.1 Khái niệm và cách xác định đáy đại dương

Cho đến những năm 50 của thế kỷ XX, khoa học kỹ thuật nghiên cứu về biển và đại dương còn hạn chế nên các quốc gia trên thế giới vẫn chưa nhận thức hết ý nghĩa kinh tế lớn lao của khu vực này nên luật quốc tế chưa đề cập đến quy chế riêng của vùng đáy đại dương. Chính vì vậy mà người ta mặc nhiên coi nó là một bộ phận của biển cả và theo quy chế của biển cả.

Khi Công ước 1982 được ký kết thì vùng đã được tách ra và có chế độ pháp lý riêng biệt so với biển cả. Theo Điều 1 Công ước 1982, “vùng” (zone) là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia”. Như vậy, có thể hiểu rằng, vùng là toàn bộ đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài ranh giới phía ngoài thềm lục địa của tất cả các quốc gia. Chính vì vậy, không phải tất cả phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của biển cả đều là vùng. Bởi lẽ, đối với những quốc gia có thềm lục địa rộng hơn 200 hải lý, thì một phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên dưới biển cả đang là thềm lục địa của quốc gia đó.

2.2 Chế độ pháp lý của đáy đại dương

Chế độ pháp lý của vùng được quy định từ Điều 136 đến Điều 142 Công ước 1982, theo đó vùng và tài nguyên của vùng là di sản chung của loài người (Điều 136). Đây là một nguyên tắc đặc thù của Luật biển, đặc biệt áp dụng cho vùng đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển - vùng biển được xem là di sản chung của nhân loại. Theo nguyên tắc chung, vùng biển này là của chung, không thuộc về quyền sở hữu của bất kỳ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào. Trong thực tế thì việc khai thác và sử dụng vùng biển di sản này vẫn còn nhiều hạn chế do nhiều lý do. Vấn đề quan trọng nhất đó là với khả năng công nghệ hiện tại của con người chưa thể tìm hiểu và nghiên cứu ở tất cả vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển vô cùng rộng lớn của nhân loại. Chính vì lẽ đó, hiện tại chúng ta vẫn chưa biết được chính xác ở vùng biển di sản tồn tại những loại tài nguyên gì, trữ lượng ra sao...

Thế nhưng, việc quy định nguyên tắc giữ gìn di sản chung của nhân loại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và thực hiện chế độ pháp lý về khai thác tài nguyên thiên nhiên ở đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển. Nguyên tắc này bao gồm những nội dung sau:

- Không một quốc gia nào có thể đòi thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc chủ quyền khác ở một phần nào đó của vùng đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển

- Không một quốc gia, pháp nhân hay cá nhân nào có thể chiếm đoạt bất cứ phần nào đó của vùng biển di sản.

- Toàn thể loài người mà cơ quan quyền lực quốc tế[79] là đại diện có thẩm quyền tổ chức khai thác, quản lý và kiểm soát việc thực hiện các quyền đối với tài nguyên của vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

- Hoạt động ở vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển được tiến hành vì lợi ích chung của nhân loại;

- Vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển chỉ có thể được sử dụng vào mục đích hòa bình.

[1] Tác giả chỉ trình bày những nội dung cơ bản chứ không trình bày toàn bộ bài viết.

[2] Theo qui định tại Điều 308 của Công ước, Công ước sẽ có hiệu lực sau 12 tháng kể từ ngày nước thứ 60 phê chuẩn.

[3]. Khoản 1, Điều 47 Công ước 1982.

[4]. Khoản 2, Điều 47 Công ước 1982.

[5]. Khoản 3, Điều 47 Công ước 1982.

[6]. Khoản 4, Điều 47 Công ước 1982.

[7]. Khoản 5, Điều 47 Công ước 1982.

[8]. Khoản 6, Điều 47 Công ước 1982.

[9]. Khoản 7, Điều 47 Công ước 1982.

[10]. Điểm 0 nằm trên vùng nước lịch sử của nước Cộng hòa nhân dân Cămpuchia và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điểm A1 tại đảo Hòn Nhạn quần đảo Thổ Chu, Kiên Giang, tọa độ N 9015’0; kinh độ E 103027’0. Điểm A2 tại đảo Hòn Đá Lẻ tỉnh Minh Hải, tọa độ N 8022’8; kinh độ E 104052’4. Điểm A3 tại đảo Hòn Tài Lớn- Côn Đảo, tọa độ N 8037’8; kinh độ E 106037’5. Điểm A4 tại đảo Hòn Bông Lang - Côn Đảo, tọa độ N 8038’9; kinh độ E 106043’3. Điểm A5 tại đảo Hòn Bảy Cạnh - Côn Đảo, tọa độ N 8039’7; kinh độ E 106042’1. Điểm A6 tại đảo Hòn Hải - Phú Quý, Thuận Hải, tọa độ N 9058’0; kinh độ E 109005’0. Điểm A7 tại đảo Hòn Đôi, tỉnh Phú Khánh, tọa độ N 12039’0; kinh độ E 109028’0. Điểm A8 tại mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Khánh, tọa độ N 12053’8; kinh độ E 109027’2. Điểm A9 tại đảo Hòn Ông Căn, tỉnh Phú Khánh, tọa độ N 13054’0; kinh độ E 109021’0. Điểm A10 tại đảo Lý Sơn, tỉnh Nghĩa Bình, tọa độ N 15023’1; kinh độ 109009’0. Điểm A11 tại đảo Cồn Cỏ tỉnh Bình Trị Thiên, tọa độ 17010’0; kinh độ 107020’6.

[11]. Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12-11-1982.

[12]. Nguyễn Hồng Thao: Những điều cần biết về Luật biển, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 93.

[13]. Vùng nước lịch sử chung này được hai nước tuyên bố trong Hiệp ước ngày 7-7-1982 tại thành phố Hồ Chí Minh.

[14]. Điều 1 Hiến pháp năm 1982 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”.

[15]. Điều 7 quy định: “Nội thủy của Việt Nam bao gồm: 1. Các vùng nước phía trong đường cơ sở; 2. Vùng nước cảng được giới hạn bởi đường nối các điểm nhô ra ngoài khơi xa nhất của các công trình thiết bị thường xuyên là bộ phận hữu cơ của hệ thống cảng”.

[16]. Nguyễn Trung Tín: Tìm hiểu Luật quốc tế, Nxb. Đồng Nai, 2000, tr. 165.

[17]. Điều 1 Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12-11-1982.

[18]. Điều 9 Luật biên giới quốc gia năm 2003.

[19]. Điểm 1 của Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ngày 12-5-1977.

[20]. Điều 9 của Luật biên giới quốc gia năm 2003.

[21]. Khoản 2, Điều 16 Công ước 1982.

[22]. Khoản 9, Điều 4 Luật biên giới quốc gia năm 2003 định nghĩa: đi qua không gây hại trong lãnh hải là việc tàu thuyền nước ngoài đi trong lãnh hải Việt Nam nhưng không làm phương hại đến hòa bình, an ninh, trật tự, môi trường sinh thái của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

[23]. Điều 9 Nghị định 30-CP của Chính phủ ngày 29-1-1980 về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng có quy định tương tự.

[24]. Điều 6 Nghị định 30-CP của Chính phủ ngày 29-1-1980 về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Tàu thuyền nước ngoài, trong những trường hợp khẩn cấp không thể khắc phục được, như gặp thiên tai, tai nạn uy hiếp đến an toàn của tàu thuyền và sinh mạng của những người đi trên tàu thuyền… bắt buộc phải dừng lại hoặc thả neo trong lãnh hải Việt Nam, thì phải tìm mọi cách liên lạc nhanh chóng và báo cáo lập tức với cơ quan có thẩm quyền Việt Nam nơi gần nhất; phải chịu mọi sự kiểm soát của các nhà chức trách Việt Nam để làm rõ tính chân thực của lý do nêu ra, và phải tuân theo mọi hướng dẫn của các nhà chức trách Việt Nam”.

[25]. Khoản 1, Điều 19 Công ước 1982.

[26]. Điều 11, 12, 13, 14, 15, 17 Nghị định 30-CP của Chính phủ ngày 29-1-1980 về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Điều 18 Nghị định 161/2003 NĐ-CP ngày 18-12-2003 về Quy chế biên giới biển cũng có quy định tương tự.

[27]. Điều 16 Nghị định 30-CP của Chính phủ ngày 29-1-1980 về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: khi đi qua lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam, các tàu chạy bằng năng lượng nguyên tử và các tàu chuyên chở các chất phóng xạ, chuyên chở hoặc sử dụng các chất nguy hiểm hay độc hại khác, phải sẵn sàng cung cấp cho nhà chức trách Việt Nam các tài liệu kỹ thuật cần thiết và phải áp dụng các biện pháp chuyên môn phòng ngừa nguy hiểm và độc hại theo đúng các quy định về phòng ngừa độc hại và bảo vệ môi trường và theo đúng các hiệp định quốc tế.

[28]. Điều 10 Nghị định 30-CP của Chính phủ ngày 29-1-1980 về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và khoản 3, Điều 18 Nghị định 161/2003/NĐ-CP ngày 18-12-2003 về Quy chế biên giới biển cũng có quy định tương tự.

[29]. Theo khoản 3, Điều 25 Công ước 1982: Quốc gia ven biển có thể tạm thời đình chỉ việc thực hiện quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài tại các khu vực nhất định trong lãnh hải của mình, nếu biện pháp này là cần thiết để bảo đảm an ninh của mình, kể cả để thử vũ khí, nhưng không được phân biệt đối xử về mặt pháp lý hay thực tế giữa các tàu thuyền nước ngoài. Việc đình chỉ này chỉ có hiệu lực sau khi đã được công bố theo đúng thủ tục.

[30]. Cần lưu ý rằng, theo Công ước 1982, “quyền qua lại không gây hại” còn được áp dụng đối với vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo. Cụ thể, Điều 52 Công ước 1982 quy định: “1. Với điều kiện tuân thủ Điều 53 và không phương hại đến Điều 50, tàu thuyền của tất cả các quốc gia đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong vùng nước quần đảo được quy định ở Mục 3 của Phần II. 2. Quốc gia quần đảo có thể tạm thời đình chỉ việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong các khu vực nhất định thuộc vùng nước quần đảo của mình, nếu biện pháp này là cần thiết để đảm bảo an ninh của nước mình, nhưng không có sự phân biệt đối xử nào về mặt pháp lý hay về mặt thực tế giữa các tàu thuyền nước ngoài. Việc đình chỉ này chỉ có hiệu lực sau khi đã được công bố theo đúng thủ tục”.

[31]. Khoản 2, Điều 27 Công ước 1982.

[32]. Khoản 3, Điều 27 Công ước 1982.

[33]. Khoản 4, Điều 27 Công ước 1982.

[34]. Phần XII Công ước 1982 quy định các vấn đề liên quan đến bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, theo đó các quốc gia, tùy theo tình hình, thi hành riêng rẽ hay phối hợp với nhau, tất cả các biện pháp phù hợp với Công ước, cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển, sử dụng các phương tiện thích hợp nhất… (khoản 1, Điều 194).

[35]. Phần V của Công ước quy định tất cả các vấn đề pháp lý về vùng đặc quyền kinh tế.

[36]. Khoản 1, Điều 28 Công ước 1982.

[37]. Khoản 2, Điều 28 Công ước 1982.

[38]. Điều 30 Công ước 1982.

[39]. Điều 31 Công ước 1982.

[40]. Xem thêm: Phạm Giảng: Luật biển những vấn đề cơ bản theo Công ước 1982, sđd, tr. 60.

[41]. Tinh thần của Tuyên bố này, thêm một lần nữa được cụ thể hóa trong Luật biên giới quốc gia năm 2003, theo đó, “Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý” (khoản 2, Điều 4).

[42]. Khoản 1, Điều 33 Công ước 1982.

[43]. Tiếng Pháp gọi là mer patrimoniale

[44]. Xu hướng này còn gọi là “xu hướng lãnh thổ hóa biển và đại dương”.

[45]. Chiều rộng pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế được xác định từ đường cơ sở ra ngoài không quá 200 hải lý.

[46]. Chiều rộng thực tế của vùng đặc quyền kinh tế được xác định từ đường cơ sở đến ranh giới phía ngoài của đặc quyền kinh tế theo tuyên bố của quốc gia ven biển sau khi đã trừ đi chiều rộng của lãnh hải.

[47]. Tinh thần của Tuyên bố này, một lần nữa thể hiện trong Luật biên giới năm 2003, theo đó: “Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định khác” (khoản 3, Điều 4).

[48]. Nguyễn Hồng Thao: Chuyên khảo về Luật biển quốc tế, tài liệu lưu hành nội bộ, Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa, 1997, tr. 103.

[49]. Điều 55 Công ước 1982.

[50]. Nghị định 437-HĐBT ngày 22-12-1990 về Quy chế hoạt động nghề cá của người và phương tiện nước ngoài trong vùng biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản ngày 25-4-1989 đã có những quy định cụ thể về chính sách quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và nghiêm cấm các hành vi gây hại đến nguồn lợi, môi trường sống của các loài thủy sản, đến việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Đồng thời, Nghị định 48-CP của Chính phủ ngày 12-8-1996 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Nghị định 30-CP ngày 29-1-1980 cũng đã quy định khá chi tiết về các biện pháp bảo vệ môi trường và tài nguyên trên các vùng biển Việt Nam.

[51]. Điểm a, khoản 1, Điều 56 Công ước 1982.

[52]. Đối với các loại tài nguyên không sinh vật, Công ước không đưa ra một hạn chế nào đối với quốc gia ven biển.

[53]. Thông tư 04-TS/TT của Bộ Thủy sản ngày 30-8-1990 quy định các đối tượng bị cấm khai thác các loài thủy sản có chiều dài nhỏ hơn quy định (bảng 9), cấm đánh bắt, tổ chức tiêu thụ các loài cấm (bảng 7, 8), sản lượng cho phép khai thác cá nổi, cá đáy ở các vùng nước từ 0-30m và trên 30m (bảng 4, 5, 6)

[54]. Theo khoản 2, Điều 70 Công ước 1982, “quốc gia bất lợi về địa lý có nghĩa là các quốc gia ven biển, kể cả các quốc gia ở ven bờ một biển kín hoặc nửa kín, mà vị trí địa lý của họ làm cho họ phải lệ thuộc vào việc khai thác những tài nguyên sinh vật ở các vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác trong phân khu vực hoặc khu vực để có đủ cá dùng làm thực phẩm cung cấp cho dân cư hay một bộ phận dân cư của họ, cũng như các quốc gia ven biển không thể có một vùng đặc quyền kinh tế riêng”

[55]. Xem thêm các Điều 62, 69,70 Công ước 1982.

[56]. Đây là thuật ngữ tiếng Latinh, có nghĩa là đương nhiên và ngay từ ban đầu. Xem thêm: Nguyễn Hồng Thao: Tòa án công lý quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 12.

[57]. Xem Nguyễn Hồng Thao: Giáo trình chuyên khảo Luật biển quốc tế, sđd, tr. 128.

[58]. Khoản 4, Điều 79 Công ước 1982

[59]. Khoản 1, 2, Điều 246 Công ước 1982.

[60]. Xem lại quyền tài phán về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế

[61]. Xem phần Điều 246 Công ước 1982.

[62]. Điều 214; điểm a, khoản 1, Điều 216.

[63]. Khoản 2, Điều 82 Công ước 1982.

[64]. Khoản 4, Điều 82 Công ước 1982.

[65]. Như quyền tự do hàng hải; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm (Điều 79 Công ước 1982)

[66]. Điều 78 Công ước 1982

[67]. Phần VII của Công ước 1982 quy định về thềm lục địa.

[68]. Xem thêm các Điều 116, 117, 118, 119 Công ước 1982.

[69]. Điều 90 Công ước 1982.

[70]. Khoản 1, Điều 91 Công ước 1982.

[71]. Điều 95, 96 Công ước 1982.

[72]. Điều 98 Công ước 1982

[73]. Điều 99 Công ước 1982.

[74]. Điều 100 Công ước 1982.

[75]. Điều 108 Công ước 1982.

[76]. Điều 109 Công ước 1982.

[77]. Điều 110 Công ước 1982.

[78]. Khoản 3, Điều 110 Công ước 1982.

[79]. Công ước 1982 đã dành toàn bộ phần XI để quy định các vấn đề pháp lý liên quan đến vùng. Theo đó, cơ quan này bao gồm tất cả các quốc gia là thành viên của Công ước (thành viên ifso facto-thành viên đương nhiên), trụ sở đóng tại Giamaica. Cơ quan quyền lực gồm:

Đại hội đồng là tất cả các thành viên của cơ quan quyền lực (1 quốc gia có một đại diện); Hội đồng gồm 36 ủy viên; Ban thư ký gồm một Tổng thư ký và một số nhân viên theo sự cần thiết của cơ quan quyền lực (xem thêm các điều từ Điều 156 đến 169 của Công ước 1982).

BÀI VIẾT TƯƠNG TỰ:
Quốc triều hình luật (Bộ Luật Hồng Đức).
Nét độc đáo của quy phạm pháp luật trong bộ luật Hồng Đức
BÀI VIẾT MỚI HƠN :
Giải quyết tranh chấp về biển: Nhìn từ thực tiễn một số vụ vi phạm công ước của liên hợp quốc về luật biển năm 1982 trong vùng biển thuộc chủ quyền của việt nam - 05.06
Bảo vệ công dân khai thác thủy sản trên các vùng biển thuộc quyền tài phán của Việt Nam – Một hình thức bảo vệ quyền con người - 05.06

Ðề: Cách xác định và chế độ pháp lý của các vùng biển theo công ước của liên hiệp quốc về luật biển năm 1982
Ghi âm bài thuyết trình của NCS.Ths. Ngô Hữu Phước - Trưởng Bộ môn Công pháp quốc tế, trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh về đề tài "Cách xác định và chế độ pháp lý của các vùng biển theo công ước của liên hiệp quốc về luật biển năm 1982".

Bài ghi âm này dành mục đích tham khảo.






Ðề: Cách xác định và chế độ pháp lý của các vùng biển theo công ước của liên hiệp quốc về luật biển năm 1982
Biển đảo Việt Nam theo pháp luật quốc tế

Nhằm cung cấp kiến thức cho học sinh, sinh viên về biển đảo Việt Nam mà sách địa lý thiếu vắng, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của Thạc sĩ Ngô Hữu Phước, Trưởng Bộ môn Công pháp quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cung cấp kiến thức về biển đảo Việt Nam đã được pháp luật quốc tế quy định. Dưới đây là nội dung bài viết



(NT- từ điểm A đến điểm B) và

lãnh hải (LH- từ điểm B đến điểm C)

Theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển quốc tế năm 1982 (gọi tắt là Công ước 1982), biển và đại dương được chia thành 3 vùng có chế độ pháp lý khác nhau gồm: Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia (Nội thủy và Lãnh hải); các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia (tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa); các vùng biển chung của cộng đồng quốc tế.


CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
1. Nội thủy

Nội thủy là: “…các vùng nước phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia” (Công ước 1982). Như vậy, nội thủy của quốc gia ven biển chính là vùng biển có chiều rộng được xác định bởi một bên là đường bờ biển, còn bên kia là đường cơ sở.

Nội thủy là một vùng biển gắn với đất liền, là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, tại đó quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối. Chủ quyền này bao trùm cả lớp nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và vùng trời trên nội thủy.

Trong vùng này, quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giống như trên đất liền. Mọi luật lệ do quốc gia ban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào.

Chủ quyền quốc gia ven biển trong vùng nội thủy được quy định rõ ràng và chủ yếu trong các văn bản pháp luật quốc gia. Theo pháp luật Việt Nam, chủ quyền quốc quốc gia trong nhiều văn bản pháp luật, từ Hiến pháp đến các luật và các văn bản dưới luật như Luật hình sự Việt Nam năm 1999, Luật biên giới quốc gia năm 2003...

2. Lãnh hải

“Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình, trong trường hợp quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo đến một vùng gọi là lãnh hải. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. (Công ước 1982).

“Mọi quốc gia đều có ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước”. (Điều 3, Công ước 1982).

Tuyên bố năm 1977 của Chính phủ Việt Nam đã nêu rõ: “Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra xa nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam, tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra... Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải”.

Luật biên giới quốc gia năm 2003 quy định:“Lãnh hải của Việt Nam rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía ngoài. Lãnh hải của Việt Nam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo”.



Theo đó:“Với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải”. Quyền này được cộng đồng quốc tế thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, hàng hải và an ninh, quốc phòng của các quốc gia trong quan hệ quốc tế từ trước đến nay.


Đường màu đỏ nối 11 điểm từ hòn Nhạn đến Cồn Cỏ gọi là
đường cơ sở, đường gạch đứt quãng màu xanh gọi là biên giới quốc gia trên biển


CÁC VÙNG BIỂN THUỘC QUYỀN CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
1. Vùng tiếp giáp lãnh hải

“Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải” (Điều 33, Công ước 1982).

Tuyên bố 1977 của Chính phủ Việt Nam:“Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam”.

Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển cũng không phải là một bộ phận của biển quốc tế. Về bản chất, vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển. Trên vùng biển này, quốc gia ven biển ngăn ngừa và trừng trị những vi phạm về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.

2. Vùng đặc quyền kinh tế

“Vùng đặc quyền kinh tế của nước CHXHCNVN tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam” (Tuyên bố của Chính Việt Nam năm 1977).

Theo Công ước 1982: “Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh”.

Theo quy định của Công ước 1982, quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hay không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.

3. Thềm lục địa

Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần đất kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”. (Công ước 1982).

“Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó” (Tuyên bố của Chính phủ VN 1977).

Các quyền chủ quyền mà quốc gia ven biển có được trên thềm lục địa của mình xuất phát từ chủ quyền trên lãnh thổ đất liền. Mặt khác, các quyền chủ quyền này mang tính “đặc quyền”, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò, khai thác tài nguyên sinh vật, vi sinh vật trên thềm lục địa của mình thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động đó.

Trong nhiều năm qua, đặt biệt là từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, chúng ta đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai thác các loại tài nguyên khoáng sản và đặc biệt là dầu khí, cũng như thành lập các cụm khoa học, kinh tế và dịch vụ trên thềm lục địa Việt Nam, đặt dây cáp, ống dẫn ngầm để chứng minh và khẳng định quyền chủ quyền đối với thềm lục địa Việt Nam với cộng đồng quốc tế.


Ngô Hữu Phước (Trường ĐH Luật TP. HCM)
- vietnamnet.vn