| Chủ nhiệm UB Tư pháp Nguyễn Văn Hiện. Ảnh: Hoàng Long |
Danh ngôn Nhân cách
Phẩm cách có thể biểu hiện ra trong thời khắc quan trọng, nhưng nó lại hình thành trong thời khắc không quan trọng. Bacon (Anh).
Danh ngôn Sự nghiệp
Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì ý nghĩa, ấy là một đức hạnh thật sự. Senancourt
Danh ngôn Đối nhân xử thế
Khi bạn không thể thực hiện những gì ao ước, bạn nên ao ước những gì có thể làm. Terence
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Tư Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Tư Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015
Bỏ tử hình 7 tội danh
Bộ luật Hình sự sửa đổi được thông qua tại phiên họp của QH sáng nay bỏ hình phạt tử hình đối với 7 tội danh.
84,01% ĐBQH đã tán thành thông qua dự thảo bộ luật Hình sự sửa đổi.
7 tội danh tử
hình bị bỏ gồm: cướp tài sản; sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực,
thực phẩm, phụ gia thực phẩm; tàng trữ trái phép chất ma túy; chiếm
đoạt chất ma túy; phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về
an ninh quốc gia; chống mệnh lệnh; đầu hàng địch.
Chủ nhiệm UB Tư
pháp Nguyễn Văn Hiện cho biết, một số ĐBQH không tán thành hoặc đề nghị
cân nhắc việc bỏ hình phạt tử hình ở các tội cướp tài sản và phá huỷ
công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia.
UB Thường vụ QH cho rằng nếu cướp tài sản mà xâm phạm tính mạng thì đã có tội giết người có hình phạt tử hình.
Với tội phá huỷ
công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, nếu
không có mục đích chống chính quyền nhân dân thì hình phạt tù 20 năm, tù
chung thân cũng là nghiêm khắc và đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội
phạm; nếu có mục đích chống chính quyền nhân dân hoặc nhằm gây ra tình
trạng hoảng sợ trong công chúng, thì đã có các quy định phù hợp có hình
phạt tử hình.
Bộ luật Hình sự
sửa đổi cũng quy định không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành
án tử hình đối với người từ 75 tuổi trở lên, thể hiện tính nhân đạo,
chính sách khoan hồng của nhà nước.
Thoát án tử nếu nộp lại tài sản tham ô
Một điểm tranh
luận là việc không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tội tham
nhũng nhưng khắc phục được hậu quả. Tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo bộ
luật đã nâng mức khắc phục từ một nửa lên ba phần tư.
Cụ thể, nếu
“Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau
khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ
và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều
tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”, thì được miễn tử hình.
Cũng
theo luật được thông qua, tội "cố ý làm trái quy định của nhà nước về
quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" được thay thế bằng các tội
danh cụ thể, nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, bảo đảm minh bạch, an toàn của
môi trường kinh doanh, tránh tùy tiện trong áp dụng.
Có 15 tội danh mới, cụ thể thể hiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
Bộ luật có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016.
Chung Hoàng
Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015
Định nghĩa về vi phạm điều 258 Bộ luật hình sự
Vi phạm điều 258 là:
Xâm phạm quyền độc tài độc đảng
Xâm phạm đến sự lừa mị, dối trá, bưng bít, che giấu sự thật của bầy đàn cộng sản gian manh
Xâm phạm đến quyền dùng bạo lực cưỡng hiếp dân lành
Xâm phạm đến thái độ quì lạy đàn anh Tàu cộng.
Xâm phạm đến quyền lợi riêng tư của đảng và sự sống
Vạch trần hành vi cộng đảng đã triều cống non sông
Liệt kê đảng chuyên sử dụng roi điện, dùi cui, nhà tù, tra tấn, xích còng
Nêu ra cho mọi người thấy đảng hèn với giặc, ác với dân để lập công nô lệ.
Trưng bằng chứng cho toàn dân biết Hồ Chí Minh và đảng CSVN là một tập đoàn tụ tập những tên đồ tể
Điểm mặt những tên tham quan giành ghế, giữ uy quyền
Cho toàn dân thấy rằng đảng cộng sản chẳng vì lợi ích của quốc gia mà chỉ vì bạc, vì tiền
Phân tách XHCN chỉ là một xã hội đảo điên hoang tưởng.
Vạch trần quân đội sẵn sàng thí quân đi nướng
Vi phạm vì tố giác những tên gian tham phản quốc luôn núp dưới trướng vì lợi ích của toàn dân
Liệt kê danh sách một lũ thất học, mê muội, ngu đần
Điểm mặt bọn trung ương đảng là đám mị dân và gian dối.
Chỉ cho mọi người thấy con đường của đảng đi là con đường tăm tối
Đảng là nguyên nhân của bao mối hận thù
Là lớp người hoang tưởng, bảo thủ, xuẩn ngu
Là bạo lực, là nhà tù vĩ đại.
Sẽ bị cho là cạnh tranh với tập đoàn buôn dân, điếm đàng, thương lái
Xuất cảng công dân, trai lao nô, gái đĩ phục vụ ngoại nhân
Đánh động người dân để hiểu rằng xã hội chủ ngĩa là khốn khổ cùng bần
Là cúi mặt sợ hãi, chỉ biết vâng vâng dạ dạ.
Điểm mặt chỉ tên đảng cộng sản toàn những tên tham quan láu cá
Là một phường áo giá túi cơm
Là bọn nịnh bợ quì gối lưng khom
Là quân Thái thú đầu lòn bán nước.
Là loài dã thú hai chân bước ngược
Là thứ ăn hại đẩy đất nước thụt lùi
Là quân hèn hạ trốn nhủi trốn chui
Khi Tổ Quốc ngập vùi trong nguy kịch.
Vi phạm điều 258 là tranh giành với nhà nước về quyền lợi ích
Là chen chân với đảng về mục đích độc quyền
Là vạch mặt lãnh đạo thằng con nào cũng có cuộc sống như tiên
Tài sản, của cải, bạc tiền, vàng khối.
Là tố giác những tham quan, làm mất đi cơ hội
Cán bộ cướp của dân, côn an buôn lậu, quân đội cực giàu
Là đòi đa đảng đa nguyên để tránh độc tài: “Đất nước là tao, luật pháp là tao”
Độc quyền qui hoạch đất đai, phố thị… để làm giàu cho băng đảng
Vi phạm điều 258 sẽ làm cho đảng vô cùng ngán
Vì sẽ không còn được những ngày tháng độc tài
Những tên vua một cõi sẽ mất hẳn ngôi vai
Sẽ không còn cơ hội dài dài cướp cạn.
Là tố giác Bộ chính trị, trung ương đảng thứ chư hầu cho ngoại bang tặc Hán
Là thông tin cho toàn dân biết đảng đã bán quê hương
Là cảnh báo cho dân tộc hiểu ngày hôm nay dưới sự nối giáo của đảng, đất nước đã cùng đường
Đất liền, biển đảo, biên cương giao cho Hán tặc.
Vi phạm điều 258 là nói lên sự thật Việt Nam đã nô lệ thiên triều phương Bắc
“Mật Nghị Thành Đô 1990”, đảng CSVN đã đem toàn bộ xã tắc qui hàng
Vi phạm điều 258 là gióng lên tiếng nấc của một dân tộc lầm than, võ vàng nô lệ
Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014
Pháp luật về lý lịch tư pháp của một số nước trên thế giới
Xây dựng Luật Lý lịch tư pháp (LLTP) là một vấn đề rất mới ở Việt Nam và
tương đối phức tạp. Do vậy, tham khảo pháp luật về LLTP của nước ngoài
là điều cần thiết. Từ đó, chúng ta tiếp thu những yếu tố hợp lý, vận
dụng có chọn lọc phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.
1. Pháp luật LLTP ở Cộng hòa liên bang Đức
Ở CHLB Đức, cơ quan chuyên cung cấp các thông tin cần thiết về công dân cho các cơ quan tư pháp và hành chính có tên gọi là Cơ quan Đăng ký liên bang trung ương (CQĐKTW), có trụ sở chính đặt tại Bonn. CQĐKTW do Văn phòng Tư pháp liên bang quản lý dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp liên bang.
Để các thông tin lưu trữ tại CQĐKTW được cập nhật kịp thời, liên tục và hiệu quả, hiện nay, có ba cơ quan đăng ký được duy trì tại CQĐKTW, đó là:
- Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên;
- Cơ quan đăng ký các vi phạm về thương mại và công nghiệp;
- Cơ quan đăng ký trung ương về thủ tục tố tụng đang diễn ra.
Ba cơ quan đăng ký nêu trên nằm trong CQĐKTW và hoạt động trên cơ sở công nghệ thông tin hiện đại.
1.1. Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên.
Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương trước hết là một công cụ quản lý tư pháp hình sự, được sử dụng trong xét xử để chứng minh sự phạm tội và để hỗ trợ hoạt động hợp tác quốc tế về tư pháp, tương trợ tư pháp. Mục đích của nó là làm cơ sở cho các quyết định của các cơ quan công tố hình sự, đồng thời phục vụ cho việc chuẩn bị các quy định hành chính cũng như thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học.
Trách nhiệm thông báo cho CQĐKTW các quyết định liên quan phục vụ mục đích đã nêu thuộc về Toà án và các cơ quan công quyền. Nội dung của các thông báo này được đưa vào cơ sở dữ liệu của cơ quan đăng ký. Nội dung chính được đăng ký là các bản án hình sự, các quyết định nhất định của cơ quan hành chính và Toà án, như cấm hành nghề hoặc hoạt động thương mại hoặc rút giấy phép tương ứng và các thông báo liên quan đến việc không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Thông tin từ Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương không phải là thông tin được cung cấp vô hạn và cung cấp cho bất kỳ ai. Tuỳ từng người, cơ quan cụ thể mà thông tin được cung cấp dưới dạng một giấy chứng nhận hành vi hoặc dưới dạng thông tin vô hạn.
Giấy chứng nhận hành vi (hay còn gọi là Phiếu LLTP) được phân ra thành giấy chứng nhận hành vi cá nhân và giấy chứng nhận hành vi chính thức. Giấy chứng nhận hành vi cá nhân sẽ được cấp cho mỗi người từ đủ 14 tuổi trở lên (nếu họ có yêu cầu được cấp loại giấy này) với nội dung là những gì đã được đăng ký liên quan đến người đó. Người này có thể sử dụng giấy chứng nhận hành vi cá nhân vào bất cứ mục đích riêng nào mà họ muốn. Loại giấy này có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong lĩnh vực tuyển dụng lao động, bởi vì người sử dụng lao động bao giờ cũng muốn nhận những người lao động có lý lịch trong sạch và giấy chứng nhận hành vi cá nhân chính là công cụ pháp lý chứng minh điều đó.
Giấy chứng nhận hành vi chính thức được cấp cho cơ quan công quyền trong trường hợp cơ quan công quyền đó đang điều tra về một người cụ thể và cần biết một số thông tin về người đó để hoàn thành việc điều tra thuộc thẩm quyền của họ. Trong trường hợp này, phiếu LLTP cấp cho cơ quan công quyền được gọi là giấy chứng nhận hành vi chính thức.
Chỉ những cơ quan nhất định được quy định cụ thể trong luật mới được quyền tiếp cận các thông tin vô hạn (tức là tất cả các nội dung đăng ký được lưu lại tại cơ quan đăng ký).** Những cơ quan này là Toà án, cơ quan công tố nhằm mục đích thực hiện công lý và cảnh sát hình sự nhằm mục đích ngăn ngừa và truy tố tội phạm.
Các thông tin đăng ký tại Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương có thể dẫn tới việc tăng hình phạt trong các bản án, có thể dẫn tới việc không được tuyển dụng hoặc bị sa thải. Tuy nhiên, các thông tin được đăng ký không phải được lưu trữ mãi mãi, mà sau một khoảng thời gian nhất định và sau một khoảng thời gian khác nữa (thường là dài hơn) các thông tin về người đó sẽ được xoá khỏi cơ sở dữ liệu đăng ký. Độ dài của khoảng thời gian đó thường phụ thuộc vào mức độ hình phạt áp dụng. Thời hạn để xoá án tích trên chứng nhận hành vi thường là từ 3 đến 10 năm và để xoá hoàn toàn là từ 5 đến 20 năm.
Hiện tại, có khoảng 15, 3 triệu quyết định được lưu trữ tại Cơ quan đăng ký trung ương liên quan đến 6, 3 triệu người, trong đó 1, 5 triệu là người nước ngoài. Hàng năm, có khoảng 9, 6 triệu thông tin được cung cấp, nghĩa là trung bình một ngày cung cấp khoảng 40.000 thông tin.
Ngoài Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, còn có Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên. Các quyết định dựa trên Đạo luật về Toà án thanh niên liên quan đến các tội phạm thanh niên được lưu trữ ở cơ quan đăng ký này; việc cung cấp thông tin từ Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên là rất hạn chế. Nơi nhận các thông tin đó là các toà án hình sự, văn phòng công tố, toà án giám hộ, toà án gia đình và cơ quan phúc lợi thanh niên. Các thông tin đăng ký trong Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên sẽ được loại khỏi cơ quan đăng ký khi người liên quan đó đến 24 tuổi.
1.2. Cơ quan đăng ký trung ương về vi phạm trong công nghiệp và thương mại
Từ năm 1976, ở Đức có một cơ quan đăng ký đặc biệt thuộc Cơ quan đăng ký liên bang trung ương để lưu trữ các thông tin về người đang kinh doanh trên cơ sở các quyết định của Toà án, các cơ quan hành chính và các quyết định phạt liên quan đến người đang kinh doanh. Cơ quan này được gọi là Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại. Thông qua những thông tin về vi phạm trong công nghiệp và thương mại, cơ quan này giúp có thể loại bỏ những người không đáng tin cậy hoặc không phù hợp khỏi việc thực hiện những nhiệm vụ và chức năng nhất định trong lĩnh vực kinh tế.
Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm công nghiệp và thương mại được tổ chức với một phần là cơ quan đăng ký đối với thể nhân và một phần là cơ quan đăng ký đối với pháp nhân và tổ chức. Hiện nay trong cơ quan này có khoảng 440.000 thông tin đăng ký liên quan đến 275.000 thể nhân, 24.000 pháp nhân và tổ chức.
Cơ quan này có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan đăng ký trung ương các quyết định vi phạm trong công nghiệp và thương mại thuộc Toà án và các cơ quan công quyền.
Thông tin từ Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại được cung cấp cho: những người liên quan; các cơ quan hành chính, toà án, văn phòng công tố và cơ quan cảnh sát và được các cơ quan này sử dụng làm cơ sở cho các quyết định của họ như gia nhập, cho phép, ủy quyền và giấy phép. Thông tin này cũng có thể được cung cấp phục vụ cho mục đích thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học.
Thông tin đăng ký tại Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại bị loại bỏ khi quyết định mà thông tin đăng ký dựa vào bị hủy bỏ. Các thông tin đăng ký này cũng bị xoá bỏ sau một khoảng thời gian nhất định. Đối với thể nhân thời hạn này từ 3-5 năm; đối với pháp nhân và tổ chức, thời hạn này là 20 năm.*
1.3. Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra
Từ năm 1999, Cơ quan đăng ký liên bang thành lập thêm một cơ quan đăng ký quan trọng khác là Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra.
Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra lưu trữ các thông tin liên quan đến tất cả vụ việc hình sự đang điều tra của tất cả các cơ quan công tố hình sự tại Cộng hoà liên bang Đức.
Cơ quan đăng ký cho phép cơ quan công tố khi quyết định khởi tố vụ án biết được vụ án có đang bị truy tố bởi một cơ quan công tố khác về cùng một tội chống lại cùng người đó hay không. Các cơ quan công tố hình sự thông báo cho cơ quan đăng ký ngay khi bắt đầu thủ tục tố tụng với những dữ liệu tối thiểu về việc truy tố đang thực hiện. Các thay đổi và bổ sung đối với thông báo trước về quá trình tố tụng cũng được thông báo. Thông báo của cơ quan công tố được lưu bằng các thiết bị điện tử tại cơ quan đăng ký và sẵn sàng cung cấp cho các cơ quan có quyền được nhận các thông tin đó. Các cơ quan có quyền đối với thông tin đó, ngoài các cơ quan công tố ra còn bao gồm dịch vụ phản gián, cơ quan cảnh sát, cơ quan điều tra thuế và hải quan. Những cơ quan này có thể yêu cầu cơ quan đăng ký và nhận thông tin. Phạm vi và thời gian cung cấp thông tin dựa trên tính trọn vẹn của thông tin trong yêu cầu, tính cấp thiết của thông tin, bản chất và phạm vi của quyền đối với thông tin của cơ quan yêu cầu. Cơ quan đăng ký được tự động hoá trên phạm vi rộng và được duy trì với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại.
Việc loại bỏ thủ tục tố tụng cũng được thực hiện một cách tự động sau khi hết hạn theo quy định của pháp luật hoặc sau khi có thông báo về bản án cuối cùng thuộc thẩm quyền của Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương.
Hiện nay, Cơ quan đăng ký này lưu trữ khoảng 12 triệu thông tin đăng ký về quá trình tố tụng điều tra. Mỗi ngày làm việc, cơ quan này nhận được khoảng 1.000 yêu cầu và 70.000 thông báo (kể cả vừa thông báo, vừa yêu cầu). Mỗi thông báo được xử lý để đưa vào đăng ký trong khoảng 3 giờ; trong trường hợp khẩn cấp hoặc có đầy đủ thông tin cá nhân thì việc giải quyết một yêu cầu cung cấp thông tin chỉ mất 20 giây.
2. Pháp luật LLTP ở Bỉ*
Giống như ở Đức, ở Bỉ chỉ có một cơ sở dữ liệu LLTP duy nhất đặt tại Brussels có tên gọi là Viện LLTP. Viện LLTP trực thuộc Văn phòng trung ương của Bộ Tư pháp liên bang.
Viện LLTP ra đời từ lâu. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý cho hoạt động của Viện lại chỉ mới được thiết lập bởi một đạo luật ban hành ngày 03/9/1997, có hiệu lực vào tháng 9/2001.
Viện LLTP trung ương có trách nhiệm đăng ký, duy trì và sửa đổi tất cả các dữ liệu có liên quan đến các bản án, quyết định trong lĩnh vực hình sự. Về cơ bản, hệ thống LLTP trung ương là một công cụ tư pháp nhưng đồng thời còn được sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học, thống kê. Công việc này do Vụ tội phạm học của Bộ Tư pháp liên bang thực hiện
Theo quy định thì thông tin được đăng ký tại Viện LLTP là tất cả các bản án hình sự chung thẩm và một số các quyết định mang tính hành chính thứ cấp (như là quyết định cấm hành nghề hoặc cấm kinh doanh hoặc rút giấy phép) do Toà án ban hành.
Bộ phận chịu trách nhiệm chuyển các bản án đến Viện LLTP là bộ phận hành chính của Toà án. Thời hạn chuyển bản án là 3 ngày kể từ khi bản án là chung thẩm và có hiệu lực thi hành. Khi đó, một bản dữ liệu sẽ được thiết lập đối với một người bị kết án. Các dữ liệu cá nhân của người này sẽ được nhập vào cơ sở dữ liệu với các thông tin về tình trạng dân sự của người bị kết án và bản chất của tội phạm đã phạm phải (phân loại tội phạm, ngày và địa điểm phạm tội, cơ quan tư pháp đã tuyên án, cấp xét xử và bản án đã tuyên).
Một vấn đề cần lưu ý là mặc dù pháp luật Bỉ có quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhưng Bỉ không thành lập một Viện LLTP dành riêng cho pháp nhân. Do vậy, chỉ các cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh và bị Toà án kết án mới phải đăng ký với Viện LLTP.
Các loại tổ chức và cá nhân được quyền tiếp cận các thông tin do Viện LLTP quản lý là: các cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp trong lĩnh vực hình sự; các cơ quan hành chính công; các cơ quan tư pháp nước ngoài; cá nhân (yêu cầu cấp bản sao LLTP cho bản thân).
Các cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp trong lĩnh vực hình sự: có quyền tiếp cận rộng rãi đến cơ sở dữ liệu đăng ký tại Viện LLTP. Thẩm phán và công tố viên có quyền tiếp cận trực tiếp đến cơ sở dữ liệu LLTP thông qua định dạng cá nhân. Những người này cũng có thể yêu cầu Văn phòng trung ương của Bộ Tư pháp cung cấp danh sách những cá nhân bị kết án về một hoặc một số tội phạm cụ thể. Loại yêu cầu này chỉ có thể do thẩm phán thực hiện trong trường hợp xác định được một người đã thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án tối đa 3 năm tù.
*** Các cơ quan hành chính công: có thể tiếp cận với mức độ hạn chế đến các thông tin LLTP (với lý do cụ thể và rõ ràng). Các cơ quan này có thể yêu cầu cấp một Chứng nhận tư cách tốt (chưa có vi phạm gì) hoặc một bản trích lục từ cơ sở dữ liệu có liên quan đến một cá nhân cụ thể, nhưng chỉ trong mức độ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ trong thẩm quyền của họ. Danh sách đầy đủ của các cơ quan hành chính công được tiếp cận ở mức độ hạn chế đến các thông tin LLTP do văn bản dưới luật quy định, cụ thể là: Văn phòng Tuyển dụng liên bang (tuyển dụng công chức); Bộ phụ trách cho việc nhập quốc tịch Bỉ; Văn phòng Người nước ngoài liên bang (Bộ Nhập cư và Tỵ nạn); Cơ quan hải quan; Cơ quan thuế.
**Các cơ quan tư pháp nước ngoài: Các cơ quan tư pháp nước ngoài có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Bỉ cung cấp một bản trích lục LLTP và các thông tin bổ sung cần thiết khác trong lĩnh vực hình sự liên quan đến một cá nhân đang bị truy nã với cùng các điều kiện áp dụng cho các cơ quan tư pháp của Bỉ trong một vụ việc tương tự (điều kiện để cơ quan tư pháp nước ngoài yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Bỉ cung cấp thông tin là giữa nước có cơ quan yêu cầu đó và Bỉ phải có hiệp định song phương hoặc cùng là thành viên của một hiệp định đa phương). Bản trích lục này chỉ được trao đổi giữa các cơ quan tư pháp với nhau. Cảnh sát không có quyền trao đổi thông tin về lĩnh vực này. Các đảng phái chính trị, ngân hàng, tổ chức nghề nghiệp không có quyền tiếp cận thông tin trực tiếp từ hệ thống dữ liệu LLTP. Việc cung cấp thông tin về LLTP hoàn toàn khác với việc trao đổi thông tin liên quan đến bản án. Trao đổi thông tin về LLTP của một người bao gồm những thông tin liên quan đến người đó từ quá khứ đến hiện tại và chủ yếu liên quan đến lĩnh vực hình sự, còn trao đổi thông tin về bản án thường ngắn gọn và không bao gồm tất cả các thông tin.
*Yêu cầu của cá nhân: Bất kỳ người dân nào cũng có quyền yêu cầu cấp Giấy chứng nhận LLTP. Thông tin LLTP được cung cấp cho người dân dưới dạng Giấy chứng nhận tư cách hoặc với những thông tin không hạn chế. Giấy chứng nhận tư cách được công dân Bỉ sử dụng trong trường hợp họ muốn được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước hoặc vì mục đích khác như xin cấp giấy phép sử dụng súng. Giấy chứng nhận tư cách có 2 loại: loại I và loại II. Giấy chứng nhận tư cách loại I có thể được chính quyền khu tự trị (cấp thành phố) cấp ngay lập tức. Giấy chứng nhận loại II cấp cho những người thường xuyên phải tiếp xúc với trẻ vị thành niên (như giáo viên) nên phải qua cơ quan công an kiểm tra và thường được chính quyền khu tự trị cấp trong vòng 2 tuần.
Để xin cấp Giấy chứng nhận tư cách trong thời gian cư trú ở Bỉ thì công dân Bỉ (hoặc cá nhân có giấy phép cư trú hợp pháp ở Bỉ) phải nộp đơn cho cơ quan có thẩm quyền thành phố ở Bỉ, nơi họ cư trú. Trong trường hợp công dân Bỉ (hoặc cá nhân có giấy phép cư trú hợp pháp ở Bỉ) muốn xin cấp Giấy chứng nhận tư cách trong đó bao hàm thời gian cư trú ở nước ngoài thì:
- Đương sự phải nộp đơn trực tiếp cho cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đó (nếu cư trú ở một quốc gia EU).
- Đương sự phải nộp đơn cho Vụ Hợp tác pháp luật quốc tế trực thuộc Bộ Ngoại giao liên bang ở Brussels (nếu cư trú ở một quốc gia ngoài EU). Vụ này sẽ yêu cầu đại sứ quán hoặc lãnh sứ quán có liên quan của Bỉ kiểm tra với cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại để đảm bảo rằng cá nhân đó không có vi phạm hoặc bị kết án trong thời gian họ ở nước ngoài. Trên cơ sở các thông tin nhận được, Vụ Hợp tác pháp luật quốc tế sẽ quyết định cấp hay không cấp Giấy chứng nhận tư cách. Mặc dù Giấy chứng nhận này được cấp miễn phí ở Bỉ, nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài khi được đại sứ quán hoặc lãnh sự quán Bỉ yêu cầu vẫn có thể thu phí cho việc cấp các giấy tờ nhất định. Trong trường hợp này, công dân Bỉ sẽ phải chi trả các chi phí liên quan đến việc đó. Cả hai loại giấy chứng nhận tư cách chỉ có giá trị trong vòng 3 tháng. Tất cả các vi phạm (nếu có) được lưu trữ trong hệ thống LLTP trung ương phải được ghi trong giấy chứng nhận tư cách. Sau một khoảng thời gian do pháp luật quy định, các vi phạm này sẽ không được ghi trong chứng nhận tư cách nữa.
Cơ sở pháp lý cho việc cấp giấy chứng nhận tư cách là văn bản năm 1962 do Bộ Nội vụ liên bang ban hành, nhưng văn bản này hiện đã bị hủy bỏ bởi một quyết định của Toà án hành chính cao nhất của Bỉ. Như vậy về nguyên tắc, chính quyền các khu tự trị không có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tư cách và giấy chứng nhận này hiện nay được thay thế bởi trích lục LLTP trung ương mà cơ sở pháp lý của nó chính là Luật LLTP năm 1997. Theo quy định của Luật LLTP thì cá nhân khi có yêu cầu xin cấp phiếu LLTP cho bản thân phải gửi đơn bằng văn bản thông qua fax hoặc bưu điện đến Vụ LLTP trung ương thuộc Bộ Tư pháp liên bang Bỉ. Đơn phải được đương sự ký, bao gồm họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ và lý do xin cấp LLTP. Đương sự có thể gửi kèm một bản sao chứng minh thư và hộ chiếu (nếu có). Vụ LLTP sẽ cấp bản sao LLTP miễn phí. Nhưng trên thực tế, các khu tự trị vẫn cấp Giấy chứng nhận tư cách cho công dân. Đây là một khó khăn, bất cập trong việc cấp bản trích LLTP và hiện nay, các nhà làm luật Bỉ đang nghiên cứu, xem xét để tìm hướng giải quyết.
3. Pháp luật LLTP ở Canada
Khác với Bỉ, Canada không có một văn bản pháp lý riêng quy định về việc tổ chức hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc quản lý và cấp phiếu LLTP. Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu liên quan đến LLTP ở Canada chỉ lưu giữ toàn bộ hồ sơ án đã tuyên (án đã tuyên về hình sự) và hệ thống dữ liệu này do cơ quan cảnh sát quản lý. Do vậy, khi một người muốn có giấy chứng nhận về nhân thân tư pháp của mình (để xin việc làm, xuất cảnh...) hoặc khi cơ quan tuyển dụng lao động muốn biết về nhân thân tư pháp của người mà mình định tuyển dụng, thì họ sẽ đến cơ quan cảnh sát để yêu cầu cung cấp thông tin nếu được sự đồng ý của người đó. Thông tin do cơ quan cảnh sát cung cấp được thể hiện dưới hình thức giấy chứng nhận, trong đó xác nhận người đó có tiền án hay không có tiền án.
Như vậy, ở Canada hệ thống dữ liệu liên quan đến LLTP chỉ thu thập thông tin về hình sự, không thu thập thông tin về dân sự, về hành chính. Cơ quan có trách nhiệm chuyển những bản án hình sự đã tuyên cho cơ quan cảnh sát là toà án.
4. Pháp luật LLTP ở Thụy Điển
ở Thụy Điển, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về LLTP là Tổng cục cảnh sát, trực thuộc Bộ Tư pháp. Tổng cục cảnh sát là cơ quan quản lý dữ liệu đồng thời là cơ quan cung cấp thông tin về án tích.
Dữ liệu án tích được lưu trữ ở Tổng cục cảnh sát không chỉ bao gồm những bản án, quyết định về hình sự mà còn bao gồm những quyết định về hành chính như phạt tiền, phạt vi phạm nội quy... Chính vì nội dung thông tin được lưu trữ trong dữ liệu án tích đa dạng như vậy nên cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin về dữ liệu án tích không chỉ bao gồm toà án, mà còn bao gồm các cơ quan khác như: cơ quan cảnh sát, cơ quan công tố, hệ thống nhà tù, trại giam khi tội phạm đã chấp hành xong hình phạt.
Pháp luật Thụy Điển cũng quy định rõ thẩm quyền tiếp cận, mức độ tiếp cận những thông tin trong dữ liệu án tích của các cơ quan như Tổng cục thuế, Hải quan, Cảnh sát, Viện Kiểm sát, Tổng cục về di dân và một số các cơ quan chính quyền khác.
Có thể nói, mô hình tổ chức, quản lý và hoạt động LLTP của Đức, Bỉ, Canada và Thụy Điển rất hiện đại và hoạt động có hiệu quả rất cao. Phần lớn thông tin được cung cấp cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP là các bản án, quyết định của Toà án. Toà án là cơ quan duy nhất hoặc chủ yếu (theo quy định của pháp luật mỗi nước) chịu trách nhiệm cung cấp các thông tin lên cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về LLTP. Chính vì vậy, cùng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin hịên đại, việc cung cấp thông tin cho các cơ quan, cá nhân luôn đảm bảo kịp thời, nhanh chóng và chính xác. Đây là những mô hình có giá trị tham khảo tốt cho Việt Nam trong quá trình xây dựng Luật LLTP cũng như đề xuất xây dựng trung tâm LLTP phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội*ở Việt Nam. /.
Ths. Nguyễn Minh Phương
Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi
1. Pháp luật LLTP ở Cộng hòa liên bang Đức
Ở CHLB Đức, cơ quan chuyên cung cấp các thông tin cần thiết về công dân cho các cơ quan tư pháp và hành chính có tên gọi là Cơ quan Đăng ký liên bang trung ương (CQĐKTW), có trụ sở chính đặt tại Bonn. CQĐKTW do Văn phòng Tư pháp liên bang quản lý dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp liên bang.
Để các thông tin lưu trữ tại CQĐKTW được cập nhật kịp thời, liên tục và hiệu quả, hiện nay, có ba cơ quan đăng ký được duy trì tại CQĐKTW, đó là:
- Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên;
- Cơ quan đăng ký các vi phạm về thương mại và công nghiệp;
- Cơ quan đăng ký trung ương về thủ tục tố tụng đang diễn ra.
Ba cơ quan đăng ký nêu trên nằm trong CQĐKTW và hoạt động trên cơ sở công nghệ thông tin hiện đại.
1.1. Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên.
Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương trước hết là một công cụ quản lý tư pháp hình sự, được sử dụng trong xét xử để chứng minh sự phạm tội và để hỗ trợ hoạt động hợp tác quốc tế về tư pháp, tương trợ tư pháp. Mục đích của nó là làm cơ sở cho các quyết định của các cơ quan công tố hình sự, đồng thời phục vụ cho việc chuẩn bị các quy định hành chính cũng như thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học.
Trách nhiệm thông báo cho CQĐKTW các quyết định liên quan phục vụ mục đích đã nêu thuộc về Toà án và các cơ quan công quyền. Nội dung của các thông báo này được đưa vào cơ sở dữ liệu của cơ quan đăng ký. Nội dung chính được đăng ký là các bản án hình sự, các quyết định nhất định của cơ quan hành chính và Toà án, như cấm hành nghề hoặc hoạt động thương mại hoặc rút giấy phép tương ứng và các thông báo liên quan đến việc không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Thông tin từ Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương không phải là thông tin được cung cấp vô hạn và cung cấp cho bất kỳ ai. Tuỳ từng người, cơ quan cụ thể mà thông tin được cung cấp dưới dạng một giấy chứng nhận hành vi hoặc dưới dạng thông tin vô hạn.
Giấy chứng nhận hành vi (hay còn gọi là Phiếu LLTP) được phân ra thành giấy chứng nhận hành vi cá nhân và giấy chứng nhận hành vi chính thức. Giấy chứng nhận hành vi cá nhân sẽ được cấp cho mỗi người từ đủ 14 tuổi trở lên (nếu họ có yêu cầu được cấp loại giấy này) với nội dung là những gì đã được đăng ký liên quan đến người đó. Người này có thể sử dụng giấy chứng nhận hành vi cá nhân vào bất cứ mục đích riêng nào mà họ muốn. Loại giấy này có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong lĩnh vực tuyển dụng lao động, bởi vì người sử dụng lao động bao giờ cũng muốn nhận những người lao động có lý lịch trong sạch và giấy chứng nhận hành vi cá nhân chính là công cụ pháp lý chứng minh điều đó.
Giấy chứng nhận hành vi chính thức được cấp cho cơ quan công quyền trong trường hợp cơ quan công quyền đó đang điều tra về một người cụ thể và cần biết một số thông tin về người đó để hoàn thành việc điều tra thuộc thẩm quyền của họ. Trong trường hợp này, phiếu LLTP cấp cho cơ quan công quyền được gọi là giấy chứng nhận hành vi chính thức.
Chỉ những cơ quan nhất định được quy định cụ thể trong luật mới được quyền tiếp cận các thông tin vô hạn (tức là tất cả các nội dung đăng ký được lưu lại tại cơ quan đăng ký).** Những cơ quan này là Toà án, cơ quan công tố nhằm mục đích thực hiện công lý và cảnh sát hình sự nhằm mục đích ngăn ngừa và truy tố tội phạm.
Các thông tin đăng ký tại Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương có thể dẫn tới việc tăng hình phạt trong các bản án, có thể dẫn tới việc không được tuyển dụng hoặc bị sa thải. Tuy nhiên, các thông tin được đăng ký không phải được lưu trữ mãi mãi, mà sau một khoảng thời gian nhất định và sau một khoảng thời gian khác nữa (thường là dài hơn) các thông tin về người đó sẽ được xoá khỏi cơ sở dữ liệu đăng ký. Độ dài của khoảng thời gian đó thường phụ thuộc vào mức độ hình phạt áp dụng. Thời hạn để xoá án tích trên chứng nhận hành vi thường là từ 3 đến 10 năm và để xoá hoàn toàn là từ 5 đến 20 năm.
Hiện tại, có khoảng 15, 3 triệu quyết định được lưu trữ tại Cơ quan đăng ký trung ương liên quan đến 6, 3 triệu người, trong đó 1, 5 triệu là người nước ngoài. Hàng năm, có khoảng 9, 6 triệu thông tin được cung cấp, nghĩa là trung bình một ngày cung cấp khoảng 40.000 thông tin.
Ngoài Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, còn có Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên. Các quyết định dựa trên Đạo luật về Toà án thanh niên liên quan đến các tội phạm thanh niên được lưu trữ ở cơ quan đăng ký này; việc cung cấp thông tin từ Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên là rất hạn chế. Nơi nhận các thông tin đó là các toà án hình sự, văn phòng công tố, toà án giám hộ, toà án gia đình và cơ quan phúc lợi thanh niên. Các thông tin đăng ký trong Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên sẽ được loại khỏi cơ quan đăng ký khi người liên quan đó đến 24 tuổi.
1.2. Cơ quan đăng ký trung ương về vi phạm trong công nghiệp và thương mại
Từ năm 1976, ở Đức có một cơ quan đăng ký đặc biệt thuộc Cơ quan đăng ký liên bang trung ương để lưu trữ các thông tin về người đang kinh doanh trên cơ sở các quyết định của Toà án, các cơ quan hành chính và các quyết định phạt liên quan đến người đang kinh doanh. Cơ quan này được gọi là Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại. Thông qua những thông tin về vi phạm trong công nghiệp và thương mại, cơ quan này giúp có thể loại bỏ những người không đáng tin cậy hoặc không phù hợp khỏi việc thực hiện những nhiệm vụ và chức năng nhất định trong lĩnh vực kinh tế.
Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm công nghiệp và thương mại được tổ chức với một phần là cơ quan đăng ký đối với thể nhân và một phần là cơ quan đăng ký đối với pháp nhân và tổ chức. Hiện nay trong cơ quan này có khoảng 440.000 thông tin đăng ký liên quan đến 275.000 thể nhân, 24.000 pháp nhân và tổ chức.
Cơ quan này có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan đăng ký trung ương các quyết định vi phạm trong công nghiệp và thương mại thuộc Toà án và các cơ quan công quyền.
Thông tin từ Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại được cung cấp cho: những người liên quan; các cơ quan hành chính, toà án, văn phòng công tố và cơ quan cảnh sát và được các cơ quan này sử dụng làm cơ sở cho các quyết định của họ như gia nhập, cho phép, ủy quyền và giấy phép. Thông tin này cũng có thể được cung cấp phục vụ cho mục đích thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học.
Thông tin đăng ký tại Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại bị loại bỏ khi quyết định mà thông tin đăng ký dựa vào bị hủy bỏ. Các thông tin đăng ký này cũng bị xoá bỏ sau một khoảng thời gian nhất định. Đối với thể nhân thời hạn này từ 3-5 năm; đối với pháp nhân và tổ chức, thời hạn này là 20 năm.*
1.3. Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra
Từ năm 1999, Cơ quan đăng ký liên bang thành lập thêm một cơ quan đăng ký quan trọng khác là Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra.
Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra lưu trữ các thông tin liên quan đến tất cả vụ việc hình sự đang điều tra của tất cả các cơ quan công tố hình sự tại Cộng hoà liên bang Đức.
Cơ quan đăng ký cho phép cơ quan công tố khi quyết định khởi tố vụ án biết được vụ án có đang bị truy tố bởi một cơ quan công tố khác về cùng một tội chống lại cùng người đó hay không. Các cơ quan công tố hình sự thông báo cho cơ quan đăng ký ngay khi bắt đầu thủ tục tố tụng với những dữ liệu tối thiểu về việc truy tố đang thực hiện. Các thay đổi và bổ sung đối với thông báo trước về quá trình tố tụng cũng được thông báo. Thông báo của cơ quan công tố được lưu bằng các thiết bị điện tử tại cơ quan đăng ký và sẵn sàng cung cấp cho các cơ quan có quyền được nhận các thông tin đó. Các cơ quan có quyền đối với thông tin đó, ngoài các cơ quan công tố ra còn bao gồm dịch vụ phản gián, cơ quan cảnh sát, cơ quan điều tra thuế và hải quan. Những cơ quan này có thể yêu cầu cơ quan đăng ký và nhận thông tin. Phạm vi và thời gian cung cấp thông tin dựa trên tính trọn vẹn của thông tin trong yêu cầu, tính cấp thiết của thông tin, bản chất và phạm vi của quyền đối với thông tin của cơ quan yêu cầu. Cơ quan đăng ký được tự động hoá trên phạm vi rộng và được duy trì với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại.
Việc loại bỏ thủ tục tố tụng cũng được thực hiện một cách tự động sau khi hết hạn theo quy định của pháp luật hoặc sau khi có thông báo về bản án cuối cùng thuộc thẩm quyền của Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương.
Hiện nay, Cơ quan đăng ký này lưu trữ khoảng 12 triệu thông tin đăng ký về quá trình tố tụng điều tra. Mỗi ngày làm việc, cơ quan này nhận được khoảng 1.000 yêu cầu và 70.000 thông báo (kể cả vừa thông báo, vừa yêu cầu). Mỗi thông báo được xử lý để đưa vào đăng ký trong khoảng 3 giờ; trong trường hợp khẩn cấp hoặc có đầy đủ thông tin cá nhân thì việc giải quyết một yêu cầu cung cấp thông tin chỉ mất 20 giây.
2. Pháp luật LLTP ở Bỉ*
Giống như ở Đức, ở Bỉ chỉ có một cơ sở dữ liệu LLTP duy nhất đặt tại Brussels có tên gọi là Viện LLTP. Viện LLTP trực thuộc Văn phòng trung ương của Bộ Tư pháp liên bang.
Viện LLTP ra đời từ lâu. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý cho hoạt động của Viện lại chỉ mới được thiết lập bởi một đạo luật ban hành ngày 03/9/1997, có hiệu lực vào tháng 9/2001.
Viện LLTP trung ương có trách nhiệm đăng ký, duy trì và sửa đổi tất cả các dữ liệu có liên quan đến các bản án, quyết định trong lĩnh vực hình sự. Về cơ bản, hệ thống LLTP trung ương là một công cụ tư pháp nhưng đồng thời còn được sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học, thống kê. Công việc này do Vụ tội phạm học của Bộ Tư pháp liên bang thực hiện
Theo quy định thì thông tin được đăng ký tại Viện LLTP là tất cả các bản án hình sự chung thẩm và một số các quyết định mang tính hành chính thứ cấp (như là quyết định cấm hành nghề hoặc cấm kinh doanh hoặc rút giấy phép) do Toà án ban hành.
Bộ phận chịu trách nhiệm chuyển các bản án đến Viện LLTP là bộ phận hành chính của Toà án. Thời hạn chuyển bản án là 3 ngày kể từ khi bản án là chung thẩm và có hiệu lực thi hành. Khi đó, một bản dữ liệu sẽ được thiết lập đối với một người bị kết án. Các dữ liệu cá nhân của người này sẽ được nhập vào cơ sở dữ liệu với các thông tin về tình trạng dân sự của người bị kết án và bản chất của tội phạm đã phạm phải (phân loại tội phạm, ngày và địa điểm phạm tội, cơ quan tư pháp đã tuyên án, cấp xét xử và bản án đã tuyên).
Một vấn đề cần lưu ý là mặc dù pháp luật Bỉ có quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhưng Bỉ không thành lập một Viện LLTP dành riêng cho pháp nhân. Do vậy, chỉ các cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh và bị Toà án kết án mới phải đăng ký với Viện LLTP.
Các loại tổ chức và cá nhân được quyền tiếp cận các thông tin do Viện LLTP quản lý là: các cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp trong lĩnh vực hình sự; các cơ quan hành chính công; các cơ quan tư pháp nước ngoài; cá nhân (yêu cầu cấp bản sao LLTP cho bản thân).
Các cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp trong lĩnh vực hình sự: có quyền tiếp cận rộng rãi đến cơ sở dữ liệu đăng ký tại Viện LLTP. Thẩm phán và công tố viên có quyền tiếp cận trực tiếp đến cơ sở dữ liệu LLTP thông qua định dạng cá nhân. Những người này cũng có thể yêu cầu Văn phòng trung ương của Bộ Tư pháp cung cấp danh sách những cá nhân bị kết án về một hoặc một số tội phạm cụ thể. Loại yêu cầu này chỉ có thể do thẩm phán thực hiện trong trường hợp xác định được một người đã thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án tối đa 3 năm tù.
*** Các cơ quan hành chính công: có thể tiếp cận với mức độ hạn chế đến các thông tin LLTP (với lý do cụ thể và rõ ràng). Các cơ quan này có thể yêu cầu cấp một Chứng nhận tư cách tốt (chưa có vi phạm gì) hoặc một bản trích lục từ cơ sở dữ liệu có liên quan đến một cá nhân cụ thể, nhưng chỉ trong mức độ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ trong thẩm quyền của họ. Danh sách đầy đủ của các cơ quan hành chính công được tiếp cận ở mức độ hạn chế đến các thông tin LLTP do văn bản dưới luật quy định, cụ thể là: Văn phòng Tuyển dụng liên bang (tuyển dụng công chức); Bộ phụ trách cho việc nhập quốc tịch Bỉ; Văn phòng Người nước ngoài liên bang (Bộ Nhập cư và Tỵ nạn); Cơ quan hải quan; Cơ quan thuế.
**Các cơ quan tư pháp nước ngoài: Các cơ quan tư pháp nước ngoài có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Bỉ cung cấp một bản trích lục LLTP và các thông tin bổ sung cần thiết khác trong lĩnh vực hình sự liên quan đến một cá nhân đang bị truy nã với cùng các điều kiện áp dụng cho các cơ quan tư pháp của Bỉ trong một vụ việc tương tự (điều kiện để cơ quan tư pháp nước ngoài yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Bỉ cung cấp thông tin là giữa nước có cơ quan yêu cầu đó và Bỉ phải có hiệp định song phương hoặc cùng là thành viên của một hiệp định đa phương). Bản trích lục này chỉ được trao đổi giữa các cơ quan tư pháp với nhau. Cảnh sát không có quyền trao đổi thông tin về lĩnh vực này. Các đảng phái chính trị, ngân hàng, tổ chức nghề nghiệp không có quyền tiếp cận thông tin trực tiếp từ hệ thống dữ liệu LLTP. Việc cung cấp thông tin về LLTP hoàn toàn khác với việc trao đổi thông tin liên quan đến bản án. Trao đổi thông tin về LLTP của một người bao gồm những thông tin liên quan đến người đó từ quá khứ đến hiện tại và chủ yếu liên quan đến lĩnh vực hình sự, còn trao đổi thông tin về bản án thường ngắn gọn và không bao gồm tất cả các thông tin.
*Yêu cầu của cá nhân: Bất kỳ người dân nào cũng có quyền yêu cầu cấp Giấy chứng nhận LLTP. Thông tin LLTP được cung cấp cho người dân dưới dạng Giấy chứng nhận tư cách hoặc với những thông tin không hạn chế. Giấy chứng nhận tư cách được công dân Bỉ sử dụng trong trường hợp họ muốn được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước hoặc vì mục đích khác như xin cấp giấy phép sử dụng súng. Giấy chứng nhận tư cách có 2 loại: loại I và loại II. Giấy chứng nhận tư cách loại I có thể được chính quyền khu tự trị (cấp thành phố) cấp ngay lập tức. Giấy chứng nhận loại II cấp cho những người thường xuyên phải tiếp xúc với trẻ vị thành niên (như giáo viên) nên phải qua cơ quan công an kiểm tra và thường được chính quyền khu tự trị cấp trong vòng 2 tuần.
Để xin cấp Giấy chứng nhận tư cách trong thời gian cư trú ở Bỉ thì công dân Bỉ (hoặc cá nhân có giấy phép cư trú hợp pháp ở Bỉ) phải nộp đơn cho cơ quan có thẩm quyền thành phố ở Bỉ, nơi họ cư trú. Trong trường hợp công dân Bỉ (hoặc cá nhân có giấy phép cư trú hợp pháp ở Bỉ) muốn xin cấp Giấy chứng nhận tư cách trong đó bao hàm thời gian cư trú ở nước ngoài thì:
- Đương sự phải nộp đơn trực tiếp cho cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đó (nếu cư trú ở một quốc gia EU).
- Đương sự phải nộp đơn cho Vụ Hợp tác pháp luật quốc tế trực thuộc Bộ Ngoại giao liên bang ở Brussels (nếu cư trú ở một quốc gia ngoài EU). Vụ này sẽ yêu cầu đại sứ quán hoặc lãnh sứ quán có liên quan của Bỉ kiểm tra với cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại để đảm bảo rằng cá nhân đó không có vi phạm hoặc bị kết án trong thời gian họ ở nước ngoài. Trên cơ sở các thông tin nhận được, Vụ Hợp tác pháp luật quốc tế sẽ quyết định cấp hay không cấp Giấy chứng nhận tư cách. Mặc dù Giấy chứng nhận này được cấp miễn phí ở Bỉ, nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài khi được đại sứ quán hoặc lãnh sự quán Bỉ yêu cầu vẫn có thể thu phí cho việc cấp các giấy tờ nhất định. Trong trường hợp này, công dân Bỉ sẽ phải chi trả các chi phí liên quan đến việc đó. Cả hai loại giấy chứng nhận tư cách chỉ có giá trị trong vòng 3 tháng. Tất cả các vi phạm (nếu có) được lưu trữ trong hệ thống LLTP trung ương phải được ghi trong giấy chứng nhận tư cách. Sau một khoảng thời gian do pháp luật quy định, các vi phạm này sẽ không được ghi trong chứng nhận tư cách nữa.
Cơ sở pháp lý cho việc cấp giấy chứng nhận tư cách là văn bản năm 1962 do Bộ Nội vụ liên bang ban hành, nhưng văn bản này hiện đã bị hủy bỏ bởi một quyết định của Toà án hành chính cao nhất của Bỉ. Như vậy về nguyên tắc, chính quyền các khu tự trị không có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tư cách và giấy chứng nhận này hiện nay được thay thế bởi trích lục LLTP trung ương mà cơ sở pháp lý của nó chính là Luật LLTP năm 1997. Theo quy định của Luật LLTP thì cá nhân khi có yêu cầu xin cấp phiếu LLTP cho bản thân phải gửi đơn bằng văn bản thông qua fax hoặc bưu điện đến Vụ LLTP trung ương thuộc Bộ Tư pháp liên bang Bỉ. Đơn phải được đương sự ký, bao gồm họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ và lý do xin cấp LLTP. Đương sự có thể gửi kèm một bản sao chứng minh thư và hộ chiếu (nếu có). Vụ LLTP sẽ cấp bản sao LLTP miễn phí. Nhưng trên thực tế, các khu tự trị vẫn cấp Giấy chứng nhận tư cách cho công dân. Đây là một khó khăn, bất cập trong việc cấp bản trích LLTP và hiện nay, các nhà làm luật Bỉ đang nghiên cứu, xem xét để tìm hướng giải quyết.
3. Pháp luật LLTP ở Canada
Khác với Bỉ, Canada không có một văn bản pháp lý riêng quy định về việc tổ chức hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc quản lý và cấp phiếu LLTP. Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu liên quan đến LLTP ở Canada chỉ lưu giữ toàn bộ hồ sơ án đã tuyên (án đã tuyên về hình sự) và hệ thống dữ liệu này do cơ quan cảnh sát quản lý. Do vậy, khi một người muốn có giấy chứng nhận về nhân thân tư pháp của mình (để xin việc làm, xuất cảnh...) hoặc khi cơ quan tuyển dụng lao động muốn biết về nhân thân tư pháp của người mà mình định tuyển dụng, thì họ sẽ đến cơ quan cảnh sát để yêu cầu cung cấp thông tin nếu được sự đồng ý của người đó. Thông tin do cơ quan cảnh sát cung cấp được thể hiện dưới hình thức giấy chứng nhận, trong đó xác nhận người đó có tiền án hay không có tiền án.
Như vậy, ở Canada hệ thống dữ liệu liên quan đến LLTP chỉ thu thập thông tin về hình sự, không thu thập thông tin về dân sự, về hành chính. Cơ quan có trách nhiệm chuyển những bản án hình sự đã tuyên cho cơ quan cảnh sát là toà án.
4. Pháp luật LLTP ở Thụy Điển
ở Thụy Điển, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về LLTP là Tổng cục cảnh sát, trực thuộc Bộ Tư pháp. Tổng cục cảnh sát là cơ quan quản lý dữ liệu đồng thời là cơ quan cung cấp thông tin về án tích.
Dữ liệu án tích được lưu trữ ở Tổng cục cảnh sát không chỉ bao gồm những bản án, quyết định về hình sự mà còn bao gồm những quyết định về hành chính như phạt tiền, phạt vi phạm nội quy... Chính vì nội dung thông tin được lưu trữ trong dữ liệu án tích đa dạng như vậy nên cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin về dữ liệu án tích không chỉ bao gồm toà án, mà còn bao gồm các cơ quan khác như: cơ quan cảnh sát, cơ quan công tố, hệ thống nhà tù, trại giam khi tội phạm đã chấp hành xong hình phạt.
Pháp luật Thụy Điển cũng quy định rõ thẩm quyền tiếp cận, mức độ tiếp cận những thông tin trong dữ liệu án tích của các cơ quan như Tổng cục thuế, Hải quan, Cảnh sát, Viện Kiểm sát, Tổng cục về di dân và một số các cơ quan chính quyền khác.
Có thể nói, mô hình tổ chức, quản lý và hoạt động LLTP của Đức, Bỉ, Canada và Thụy Điển rất hiện đại và hoạt động có hiệu quả rất cao. Phần lớn thông tin được cung cấp cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP là các bản án, quyết định của Toà án. Toà án là cơ quan duy nhất hoặc chủ yếu (theo quy định của pháp luật mỗi nước) chịu trách nhiệm cung cấp các thông tin lên cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về LLTP. Chính vì vậy, cùng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin hịên đại, việc cung cấp thông tin cho các cơ quan, cá nhân luôn đảm bảo kịp thời, nhanh chóng và chính xác. Đây là những mô hình có giá trị tham khảo tốt cho Việt Nam trong quá trình xây dựng Luật LLTP cũng như đề xuất xây dựng trung tâm LLTP phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội*ở Việt Nam. /.
Ths. Nguyễn Minh Phương
Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi
Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội
Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội
Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay.
Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay. Với đặc trưng là tước tự do của người chưa thành niên trong một thời gian nhất định, cách ly các em khỏi môi trường sống bình thường để buộc các em phải học tập, lao động, sinh hoạt trong một cơ sở tập trung có kỷ luật chặt chẽ, việc áp dụng hình phạt này đối với người chưa thành niên không chỉ do các em đã thực hiện những tội phạm mang tính nghiêm trọng và vì vậy cần bị xử lý bằng những chế tài nghiêm khắc mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo vệ cộng đồng trước khả năng các em tiếp tục gây ra những hành vi nguy hiểm cũng như bảo vệ chính các em trước những yếu tố tiêu cực tại môi trường sống, có thể cản trở quá trình phục hồi, cải tạo của các em.* Trong trại giam, thông qua việc dạy văn hoá, dạy nghề, giáo dục đạo đức, lối sống, người chưa thành niên phạm tội sẽ được trang bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết để khi quay trở về với cộng đồng, các em có thể tái hoà nhập, bắt đầu một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, không rơi vào tình trạng “ngựa quen đường cũ”.*
Tuy nhiên, song hành với các ưu điểm nói trên, hình phạt tù có thời hạn cũng chứa đựng những hạn chế nội tại, trong đó phải kể đến những tác động tiêu cực do người chưa thành niên bị cách ly khỏi người thân và môi trường sinh sống bình thường của mình. Việc bị cách ly khỏi xã hội sẽ khiến cho các em có cảm giác mặc cảm, bị bỏ rơi, bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Mặc cảm này lại càng nặng nề hơn vì ở độ tuổi này, con người vẫn còn khuynh hướng lệ thuộc, cần sự bao bọc của gia đình và những người xung quanh. Về phía gia đình và cộng đồng, việc đưa người chưa thành niên phạm tội ra khỏi cộng đồng cũng khiến cho nhiều gia đình và thành viên trong cộng đồng có thái độ xa lánh, miệt thị đối với họ. Hơn thế nữa, thời kỳ niên thiếu là khoảng thời gian quan trọng đối với người chưa thành niên để phát triển các kỹ năng xã hội và học hỏi làm thế nào để giao thiệp với những người khác theo cách chín chắn và lễ phép. Tuy nhiên, người chưa thành niên bị phạt tù lại phát triển các kỹ năng xã hội này trong một môi trường rất không tự nhiên, chỉ kết giao với những người phạm tội khác. Đây là những trở ngại rất lớn đối với quá trình phục hồi và tái hoà nhập của người chưa thành niên phạm tội. Chính vì vậy mà Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em (CƯQTE) và các chuẩn mực quốc tế khác về tư pháp người chưa thành niên đã yêu cầu các quốc gia thành viên* phải bảo đảm rằng chỉ áp dụng hình phạt tù đối với trẻ em như biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất; trong trường hợp buộc phải áp dụng hình phạt tù thì các cơ quan có thẩm quyền cần áp dụng biện pháp trả tự do có điều kiện trong thời gian sớm nhất có thể để giám sát, giáo dục người chưa thành niên tại cộng đồng[1].*
Chúng tôi đề cập đến biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù - một trong những giải pháp để rút ngắn thời hạn phải chấp hành hình phạt trong trại giam của người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Trên cơ sở giới thiệu khái lược về biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù ở một số nước trên thế giới, bài viết này sẽ đưa ra một số phân tích, kiến nghị về việc áp dụng biện pháp này đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta.
I/ Miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù trong pháp luật của một số nước
Miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù là một biện pháp được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới dưới các tên gọi như phóng thích (parole) hay trả tự do có điều kiện (conditional release)[2].* Thực chất, đây là việc trả tự do sớm đối với người đang chấp hành hình phạt tù; sau khi được trả tự do, người đó phải tuân thủ một số điều kiện nhất định do cơ quan có thẩm quyền xác định trong một thời gian tạm gọi là thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách mà người phạm tội vi phạm các điều kiện đặt ra thì tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền có thể thay đổi điều kiện thử thách hoặc có thể buộc người đó phải chấp hành nốt thời hạn còn lại của hình phạt tù trong trại giam. Về bản chất, biện pháp này tương tự như án treo (ở các nước khác gọi là probation - buộc phải chịu thử thách), chỉ khác ở thời điểm áp dụng. Tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và truyền thống lập pháp nhất định, mỗi nước quy định tiêu chí áp dụng, điều kiện, thời gian thử thách, cơ chế xét, quyết định trả tự do có điều kiện, cơ chế giám sát người được trả tự do v.v… khác nhau.
1.* Tiêu chí áp dụng***********
Thông thường, để có thể được xét đưa vào diện miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù (dưới đây, để cho ngắn gọn, xin tạm gọi là “trả tự do sớm có điều kiện”), người phạm tội, phải chấp hành hình phạt thực tế được một thời gian nhất định. Thời hạn này có thể dài, ngắn tùy theo pháp luật của mỗi nước. *Theo pháp luật của Thái Lan, phạm nhân có thể được xét trả tự do sớm có điều kiện nếu đã chấp hành được hai phần ba thời hạn của hình phạt tù[3]. Người bị kết án tù chung thân thì tối thiểu phải chấp hành được 10 năm tù. Còn theo Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Mỹ, phạm nhân của Liên bang đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn từ một năm trở lên theo tiết 18Bộ Tổng luật của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Điều 4205(a)có thể được Ủy ban phóng thích xem xét, quyết định trả tự do sớm có điều kiện nếu đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù; trong trường hợp bị kết án tù chung thân hoặc tù 30 năm thì phải chấp hành được 10 năm[4].*
Người chưa thành niên phạm tội cũng có thể phải chấp hành hình phạt một thời gian nhất định mới có thể được xét trả tự do có điều kiện. Chẳng hạn, Điều 32 Bộ luật Tư pháp Thanh thiếu niên của Kosovo quy địnhrằng:“Thanh thiếu niên bị kết án tù có thể được trả tự do có điều kiện nếu đã chấp hành được ít nhất một phần ba thời hạn của bản án đã tuyên”. Tuy nhiên, theo Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Mỹ, người chưa thành niên phạm tội có thể được trả tự do sớm có điều kiện vào bất cứ thời điểm nào, tùy theo quyết định của Ủy ban phóng thích[5].
Tuy nhiên, không phải phạm nhân nào đủ điều kiện về thời hạn thực tế chấp hành hình phạt cũng có thể được đưa vào diện được xét trả tự do sớm có điều kiện mà thông thường, chỉ những người có thái độ cải tạo tốt mới được hưởng chế độ này. Chẳng hạn, theo Điều 4206 Tiết 18 của Bộ Tổng luật của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Ủy ban Phóng thích chỉ xét phóng thích những phạm nhân về cơ bản tuân thủ tốt quy chế trại giam.
Ngoài ra, pháp luật một số nước có quy định một số trường hợp không được xét trả tự do sớm có điều kiện, chủ yếu do xét thấy có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cộng đồng, ví dụ như trường hợp bị kết án về một tội phạm mang tính bạo lực hoặc buôn bán trái phép chất ma túy mà có sử dụng vũ khí, tái phạm nhiều lần v.v..[6]
Người đủ tiêu chuẩn đưa vào diện xét trả tự do sớm có điều kiện sẽ được cơ quan có thẩm quyền cân nhắc, quyết định có cho phép trả tự do sớm hay không. Trong số nhiều vấn đề cần cân nhắc khi ra quyết định, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét liệu việc trả tự do sớm cho người phạm tội có gây ra nguy cơ mất an toàn cho cộng đồng hay không và liệu có tác dụng thúc đẩy quá trình phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội hay không[7].
2. Điều kiện thử thách:
Nhìn chung, điều kiện thử thách là những điều kiện do cơ quan có quyền quyết định việc trả tự do sớm đặt ra nhằm tạo ra một sự ràng buộc đối với người được trả tự do, giúp người đó quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, tuân thủ pháp luật và khắc phục những nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Những điều kiện này có thể bao gồm hai loại. Thứ nhất là các điều kiện chung (standard conditions). Đây là những điều kiện áp dụng đối với mọi đối tượng được trả tự do sớm, chẳng hạn như (1) trình diện trước cơ quan có thẩm quyền sau khi được trả tự do, (2) định kỳ báo cáo với cán bộ giám sát; (2) không đi khỏi nơi cư trú trừ phi được phép; (4) không làm những việc bị cấm (chẳng hạn như kết giao với những người vi phạm pháp luật, thường xuyên lui tới những địa điểm buôn bán trái phép chất ma túy v.v…)[8].*
Thứ hai là các điều kiện đặc biệt (special conditions). Đây là những điều kiện do cơ quan có thẩm quyền quyết định phù hợp với các đặc điểm về nhân thân và yêu cầu giáo dục, phòng ngừa cụ thể đối với cá nhân người được trả tự do, nhằm giảm thiểu nguy cơ tái phạm và thúc đẩy quá trình phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội cũng như bảo vệ quyền lợi của nạn nhân. Những điều kiện này có thể liên quan đến nơi cư trú cụ thể của người được trả tự do, yêu cầu tham gia vào một số chương trình nhất định để giảm thiểu nguy cơ tái phạm, thúc đẩy khả năng phục hồi, tái hòa nhập, tuân thủ chế độ điều trị y tế, đeo thiết bị giám sát điện tử v.v..[9]
3. *Thời gian thử thách
Thời gian thử thách có thể ngắn hơn, bằng hoặc dài hơn thời hạn còn lại của hình phạt tù.* Chẳng hạn, ở Úc, thời hạn thử thách có thể bằng thời hạn còn lại của hình phạt tù nhưng không quá 5 năm; riêng đối với người bị kết án tù chung thân thì thời hạn này được ghi trong quyết định phóng thích[10].* Bộ luật Tư pháp Thanh thiếu niên của Kosovo quy định thời gian thử thách bằng đúng thời hạn còn lại của hình phạt tù.
4. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, cơ quan có thẩm quyền quyết định cho phép hoặc hủy bỏ biện pháp trả tự do sớm có điều kiện có thể là Ủy ban phóng thích hoặc là một cơ quan tư pháp.* Ở Canađa, Ủy ban Phóng thích Quốc gia là cơ quan quản lý hệ thống phóng thích hiện hành của Liên bang, ở một số tiểu bang cũng có Ủy ban phóng thích của tiểu bang. Ủy ban Phóng thích quốc gia có 34 thành viên chuyên trách, được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 10 năm, và một số thành viên tạm thời được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 01 năm. Nhiệm vụ chính của Ủy ban là đánh giá xem liệu người phạm tội đã sẵn sàng để quay trở về với cộng đồng hay chưa và quyết định có trả tự do sớm đối với người đó hay không[11].
Ở Nhật Bản, Ủy ban Phóng thích khu vực được đặt tại 8 thành phố nơi có trụ sở của Tòa thượng thẩm, chịu trách nhiệm quyết định việc trả tự do sớm có điều kiện, hủy quyết định cũng như giám sát các cán bộ giám quản. Mỗi quyết định của Ủy ban do một hội đồng gồm ba người bàn bạc và quyết định[12]. Còn ở Thái Lan, Tổng cục trưởng Tổng cục cải tạo có quyền quyết định trả tự do sớm có điều kiện. Tuy nhiên, do số phạm nhân đang ở trong hệ thống cải tạo của Thái Lan hiện nay khá lớn nên mỗi trại giam đều thành lập một Ban xét trả tự do sớm có điều kiện.* Các Ban này có trách nhiệm xem xét và lập danh sách phạm nhân đề nghị được trả tự do sớm có điều kiện[13]. Trong khi đó, theo Bộ luật Tư pháp thanh thiếu niên của Kosovo, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định trả tự do sớm có điều kiện cho người chưa thành niên phạm tội[14].
Dù là cơ quan nào thì yêu cầu đặt ra cũng là phải làm sao để bảo đảm rằng cơ quan này được cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan đến người phạm tội[15] và do vậy, vấn đề mấu chốt là trình tự, thủ tục xem xét, quyết định trả tự do sớm có điều kiện.*
5. Trình tự, thủ tục
Trình tự, thủ tục quyết định trả tự do sớm có thể khác biệt nhau đôi chút trong pháp luật của các nước. Ở Mỹ, trong vòng từ 3 đến 6 tháng trước khi trả tự do, cán bộ quản giáo phải gửi bản kế hoạch tái hòa nhập của người phạm tội cho cơ quan giám quản thích hợp để xem xét.* Nếu cán bộ giám quản thấy cần phải áp dụng một số điều kiện đặc biệt đối với người được xét trả tự do thì sẽ đề nghị Ủy ban phóng thích. Ủy ban phóng thích, tự mình hoặc theo yêu cầu của cán bộ giám quản có thể áp dụng những điều kiện đặc biệt đối với người được trả tự do. Khi trả tự do, cán bộ quản giáo sẽ giao cho người được trả tự do bản hướng dẫn người đó đến trình diện cán bộ giám quản trong vòng 72 giờ kể từ khi được trả tự do và giải thích rõ việc không trình diện bị coi là vi phạm điều kiện trả tự do. Khi người được trả tự do đến trình diện, cán bộ giám quản sẽ giao cho người này chứng chỉ trả tự do trong đó nêu rõ những điều kiện mà người này phải tuân thủ do Ủy ban phóng thích quyết định[16].
Ở Canađa, một trong những thủ tục quan trọng khi quyết định trả tự do sớm là đánh giá nguy cơ gây mất an toàn cho cộng đồng. Trước hết, các thành viên của Ủy ban Phóng thích quốc gia sẽ tiến hành đánh giá sơ bộ nguy cơ, trên cơ sở xem xét tất cả các thông tin sẵn có về người phạm tội, bao gồm, chi tiết về sự việc phạm tội, tiền án, các vấn đề xã hội của người phạm tội, như bạo lực gia đình, lạm dụng ma túy hay đồ uống có cồn, tình trạng tâm thần, quan hệ xã hội, nghề nghiệp. Nếu trước đó, người phạm tội đã từng được trả tự do sớm có điều kiện thì còn phải xem xét thái độ cải tạo khi được trả tự do. Tiếp theo, thành viên Ủy ban sẽ cân nhắc xác suất tái phạm đối với nhóm người phạm tội tương tự. Sau khi hoàn thành việc đánh giá sơ bộ nguy cơ, các thành viên Ủy ban sẽ xem xét những yếu tố cụ thể sau: các báo cáo về tâm lý và tâm thần; ý kiến của một số người có liên quan như thẩm phán, cảnh sát, người có uy tín tại cộng đồng; thông tin từ nạn nhân. Ủy ban cũng cân nhắc xem người phạm tội đã được điều trị tâm lý hay các liệu pháp khác nếu cần thiết hay chưa, và có tiến triển tốt hay không; người phạm tội có hiểu rõ tính chất nguy hiểm và hậu quả của tội phạm nay không; kế hoạch tái hòa nhập của người phạm tội có khả thi hay không. Sau khi cân nhắc tất cả những thông tin này, Ủy ban sẽ mở một phiên điều trần với người phạm tội để quyết định có trả tự do sớm cho người đó hay không, cần áp dụng điều kiện gì[17].
Theo khuyến nghị của Hội đồng châu Âu 2003 về trả tự do có điều kiện, cần bảo đảm đối xử công bằng đối với người phạm tội. Để có thể làm được điều này, cơ quan có thẩm quyền quyết định việc trả tự do sớm phải được cung cấp đầy đủ thông tin về người phạm tội, về thái độ của người đó đối với việc trả tự do sớm cũng như các điều kiện cần áp dụng đối với người đó.* Cần tạo điều kiện để người phạm tội được trình bày quan điểm trong quá trình quyết định trả tự do sớm. Cần quy định cơ chế thay đổi các điều kiện thử thách và khi phát hiện thấy có vi phạm thử thách thì có thủ tục để đánh giá vi phạm một cách khách quan, công bằng. Không nên hủy quyết định trả tự do sớm đối với trường hợp vi phạm nhỏ nhặt. Trường hợp bắt buộc phải hủy quyết định thì nên cân nhắc trừ thời gian mà người được trả tự do đã chịu thử thách. Cuối cùng, cần có thủ tục khiếu nại để xem xét lại các quyết định có liên quan đến trả tự do sớm có điều kiện[18].
7.* Cơ quan giám sát
Để theo dõi, hỗ trợ người được trả tự do sớm có điều kiện cũng như những người phạm tội được xử lý bằng các chế tài giáo dục tại cộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới thành lập ra cơ quan giám quản (probation office). Những cơ quan này sẽ phối hợp với các tổ chức phi chính phủ và các tình nguyện viên để giám sát và hỗ trợ người đang chịu thử thách.
Ở Nhật Bản, văn phòng giám quản (probation office) là những cơ quan chịu trách nhiệm đối với việc xử lý người phạm tội dựa vào cộng đồng, bao gồm cả buộc phải chịu thử thách (tương tự như án treo của ta) và trả tự do sớm có điều kiện. Các văn phòng này được đặt tại 50 thành phố nơi có các tòa án quận và chịu sự chỉ đạo của Bộ Tư pháp. Các cán bộ làm việc cho những văn phòng này gồm có ba loại: (1) các cán bộ giám quản của Chính phủ, (2) các cán bộ giám quản tình nguyện, và (3) các cơ sở hỗ trợ phục hồi (tổ chức xã hội). Cán bộ giám quản của Chính phủ là công chức nhà nước. Tuy nhiên, thông thường những cán bộ này không trực tiếp tiến hành mọi công việc mà giới thiệu người bị buộc phải chịu thử thách hoặc người được trả tự do sớm có điều kiện cho cán bộ giám quản tình nguyện. Cán bộ giám quản tình nguyện có vai trò như trợ lý của cán bộ giám quản của Chính phủ và là người trực tiếp giám sát người phải chịu thử thách hoặc người được trả tự do sớm. Đây là những công dân bình thường, tham gia vào hoạt động phục hồi đối với người phạm tội trên tinh thần nhân đạo và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm[19].*
II/ Áp dụng biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam
Chủ trương giảm hình phạt tù, “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” đã được nêu rõ trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Đối với người chưa thành niên phạm tội, chủ trương này cần được ưu tiên thực hiện vì hệ thống chế tài áp dụng đối với đối tượng này hiện nay vẫn còn nặng tính giam giữ. Trong số sáu chế tài có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội[20], chỉ có hai chế tài có thể áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và cả hai chế tài này đều là chế tài tước tự do, đó là đưa vào trường giáo dưỡng hoặc tù có thời hạn[21]. Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù chính là một giải pháp cho phép sớm đưa người chưa thành niên phạm tội bị xử phạt tù quay trở về với cộng đồng để phục thiện, sửa chữa lỗi lầm với sự giúp đỡ và giám sát của gia đình, các cơ quan, đoàn thể xã hội.
Miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù không phải là giải pháp duy nhất nhằm hạn chế áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, nhưng có thể nói là giải pháp khả thi và thích hợp nhất để thực hiện mục tiêu này trong tình hình hiện nay. Việc hạn chế áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội có thể được thực hiện bằng nhiều cách trong đó việc sửa đổi Điều 74 để rút ngắn mức thời hạn phạt tù áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội; sửa đổi Điều 76 để mở rộng phạm vi miễn chấp hành (vô điều kiện) phần còn lại của hình phạt tù và giảm thời hạn chấp hành hình phạt đối với những đối tượng này. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình phạm tội của người chưa thành niên ngày càng gia tăng với những diễn biến phức tạp, tỷ lệ tái phạm khá cao như hiện nay, bài toán đặt ra là phải làm sao một mặt thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong xử lý, giáo dục người chưa thành niên phạm tội, nhưng mặt khác vẫn phải bảo đảm sự an toàn cho cộng đồng và bảo đảm hiệu quả giáo dục, phục hồi đối với những đối tượng này. Việc sửa đổi, bổ sung Điều 74 và Điều 76 của Bộ luật Hình sự (BLHS) mới chỉ giải quyết được một phần của bài toán là chính sách nhân đạo của các đối tượng này, nhưng không có cơ chế ràng buộc, theo dõi sau khi người chưa thành niên được trả tự do, vì vậy khó có thể bảo đảm phòng ngừa tái phạm. Trong khi đó, biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù vừa cho phép người đang chấp hành hình phạt tù được sớm quay trở lại với cộng đồng, vừa đặt ra các điều kiện chặt chẽ để thử thách người phạm tội, có tác dụng giúp đỡ người đó sống có trách nhiệm, có kỷ luật, tăng quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội.* Do vậy, biện pháp này sẽ có hiệu quả cao trong việc phòng ngừa tái phạm và vì thế có thể nói là một câu trả lời phù hợp cho bài toán này.* Việc áp dụng biện pháp này không chỉ góp phần đạt được mục tiêu của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là “giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”[22] mà còn thực sự vì lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, phù hợp với nguyên tắc chỉ áp dụng hình phạt giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội như biện pháp sau cùng, trong thời gian thích hợp ngắn nhất mà CƯQTE và các chuẩn mực quốc tế khác đã nêu ra.
Mặc dù theo quy định của BLHS hiện hành, đã có rất nhiều con đường để miễn giảm hình phạt đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù như miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc giảm thời hạn chấp hành hình phạt, việc bổ sung biện pháp này vẫn hết sức cần thiết. Theo quy định tại Điều 57 và Điều 76 BLHS, người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn chấp hành toàn bộ hoặc phần còn lại của hình phạt trong ba trường hợp là lập công, mắc bệnh hiểm nghèo và đại xá hoặc đặc xá. Theo các quy định này, phạm vi người chưa thành niên được miễn chấp hành toàn bộ hoặc một phần hình phạt còn hạn chế.* Hơn nữa, việc miễn chấp hành hình phạt không kèm theo điều kiện ràng buộc nào sẽ không thể giải quyết được các nguyên nhân, điều kiện phạm tội và do vậy, khó có hiệu quả trong việc phòng ngừa tái phạm, bảo đảm sự an toàn cho cộng đồng. Còn việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có thái độ cải tạo tốt. Người chưa thành niên được giảm thời hạn chấp hành hình phạt vẫn ở trong trại giam. Do vậy, việc bổ sung biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù sẽ cho phép mở rộng phạm vi người chưa thành niên được sớm quay trở về với cộng đồng, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả giáo dục, phục hồi, phòng ngừa tái phạm với những đối tượng này.
Bên cạnh đó, biện pháp này còn khuyến khích gia đình, các đoàn thể xã hội, cộng đồng tham gia vào việc giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên bị kết án, do vậy rất phù hợp với chủ trương xã hội hoá công tác thi hành án của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời phù hợp với truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc ta. Thực tiễn giáo dục người chưa thành niên phạm tội ở nhiều nước trên thế giới đã cho thấy rằng, người chưa thành niên phạm tội được sửa chữa lỗi lầm trong ngay môi trường sống của mình, với sự quan tâm, giúp đỡ của bà con láng giềng, các đoàn thể xã hội sẽ có khả năng phục hồi tốt hơn, hiệu quả bền vững hơn.**
*Việc bổ sung biện pháp này vào BLHS không gây xáo trộn lớn trong hệ thống pháp luật hiện hành, trước mắt chỉ cần sửa đổi, bổ sung hai điều luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) là Điều 269 Thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt và Điều 309 *Chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp, giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt. Hiện nay, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2008 - 2011 của Quốc hội. Trong thời gian BLTTHS chưa được sửa đổi, có thể quy định vấn đề này trong Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS hoặc có thể lùi thời điểm có hiệu lực của điều luật này cho đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS có hiệu lực.
Cơ chế thi hành biện pháp này về cơ bản tương tự như thi hành án treo và sẽ được quy định chi tiết trong một Nghị định của Chính phủ. Nghị định này sẽ quy định cụ thể về các điều kiện áp dụng, các biện pháp giám sát, hỗ trợ người chưa thành niên trong thời gian thử thách, trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án quyết định chấm dứt thời hạn thử thách hoặc buộc phải chấp hành hình phạt tù. Quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan cũng sẽ được quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Đồng thời, hiện nay Dự án Luật Thi hành án hình sự cũng đang trong quá trình xây dựng. Cơ chế thi hành biện pháp này cũng sẽ được nghiên cứu và quy định trong Dự án Luật này. Sau một thời gian thực hiện, cùng với việc nhân rộng các mô hình tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật như mô hình tại Hải Phòng, đánh giá, rút kinh nghiệm, biện pháp này có thể được áp dụng đối với cả người bị kết án phạt tù đã thành niên khi sửa đổi cơ bản, toàn diện BLHS. *
*
Bảo vệ trẻ em nói chung và người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Mặc dù vậy, thời gian qua, tình hình phạm tội của người chưa thành niên vẫn tiếp tục gia tăng với những diễn biến phức tạp. Làm thế nào để có thể tăng cường hiệu quả và tính bền vững của công tác giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên phạm tội là một câu hỏi mà không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà cả những cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em cũng như những người tbam gia vào hoạt động phòng, chống tội phạm đã trăn trở từ lâu và bài viết này là một trong những gợi ý với mong muốn giải đáp được phần nào câu hỏi đó. Dĩ nhiên, đưa ra giải pháp mới chỉ là một phần của vấn đề, biến giải pháp thành hiện thực mới là mấu chốt. Việc bổ sung biện pháp này sẽ đặt ra những khó khăn không nhỏ về vấn đề kinh phí, nhân sự, khả năng huy động sự tham gia của cộng đồng, của các tổ chức xã hội v.v.. Tuy nhiên, những khó khăn đó đều có thể được khắc phục dần dần thông qua việc lựa chọn một lộ trình cải cách phù hợp, huy động sức mạnh của cộng đồng và xã hội, và đặc biệt cần có sự tin tưởng vào quyết tâm cải tạo của người chưa thành niên./.
*
*
*
******
*
*
******
*
[1] Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, Điều 37 và Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh), Quy tắc 28.
[2] Tuy nhiên, ở một số quốc gia, chẳng hạn như* Canađa, ngoài phóng thích còn có một số biện pháp trả tự do có điều kiện khác như* cho phép vắng mặt tạm thời, giám sát bắt buộc.
Xem http://www.ajic.mb.ca/volumel/chapter12.html#1
[3] Kanokpun Kalyanasuta, Atchara Suriyawong, The Criminal Justice System and community-based Treatment of Offenders in Thailand http://www.unafei.or.jp/english/pdf/PDF_rms/no61/ch17.pdff
[4] Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Điều 2.2.
[5] Sđd, Điều 2.4.
[6] Sđd, Điều 2.2.
[7] Xem Luật Phóng thích 2002 của New Zealand, Điều 28, Luật Cải tạo và Trả tự do có điều kiện của Canađa, Điều 16.
[8] Xem Luật Phóng thích 2002 của New Zealand, Điều 14.
[9] Sđd.* Xem thêm Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Điều 2.40.
[10] http://www.ag.gov.au/www/agd/agd.nsf/Page/Federaloffenders_Paroleconditions
[11] http://www.ajic.mb.ca/volumel/chapter12.html#1
[12] Ministry of Justice Japan, Criminal Justice in Japan, tr 42.
[13] Sđd, chú dẫn số 3.
[14] Sđd, chú dẫn số 5.
[15] United Nations Office on Drugs and Crime, Handbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment, 2007, 54-5.
[16] Sđd, chú dẫn số 4.
[17] http://www.duhaime.org/LegalResources/CriminalLaw/LawArticle-97/Parole-In-Canada.aspx
[18] United Nations Office on Drugs and Crime, Handbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment, 2007, 54-5.
[19] Sđd, chú dẫn số 12.
[20] Bao gồm hai biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng, cùng bốn hình phạt là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn.
[21] Lý do là bởi vì đối tượng này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, mà đối với những tội phạm này thì luật không quy định các chế tài không tước tự do.* Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên cho thấy, có những trường hợp người chưa thành niên phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý, không nhận thức được đầy đủ hậu quả mà hành vi của mình có thể gây ra, ví dụ như cắt trộm đường dây điện thoại. Cũng có những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nhưng lần đầu, do thiếu những kỹ năng sống cần thiết như kỹ năng kiềm chế nóng giận, giải quyết xung đột một cách hoà bình v.v.
[22] Điều 69 Bộ luật Hình sự 1999.
Ths. Nguyễn Thanh Trúc
Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi
Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay.
Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay. Với đặc trưng là tước tự do của người chưa thành niên trong một thời gian nhất định, cách ly các em khỏi môi trường sống bình thường để buộc các em phải học tập, lao động, sinh hoạt trong một cơ sở tập trung có kỷ luật chặt chẽ, việc áp dụng hình phạt này đối với người chưa thành niên không chỉ do các em đã thực hiện những tội phạm mang tính nghiêm trọng và vì vậy cần bị xử lý bằng những chế tài nghiêm khắc mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo vệ cộng đồng trước khả năng các em tiếp tục gây ra những hành vi nguy hiểm cũng như bảo vệ chính các em trước những yếu tố tiêu cực tại môi trường sống, có thể cản trở quá trình phục hồi, cải tạo của các em.* Trong trại giam, thông qua việc dạy văn hoá, dạy nghề, giáo dục đạo đức, lối sống, người chưa thành niên phạm tội sẽ được trang bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết để khi quay trở về với cộng đồng, các em có thể tái hoà nhập, bắt đầu một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, không rơi vào tình trạng “ngựa quen đường cũ”.*
Tuy nhiên, song hành với các ưu điểm nói trên, hình phạt tù có thời hạn cũng chứa đựng những hạn chế nội tại, trong đó phải kể đến những tác động tiêu cực do người chưa thành niên bị cách ly khỏi người thân và môi trường sinh sống bình thường của mình. Việc bị cách ly khỏi xã hội sẽ khiến cho các em có cảm giác mặc cảm, bị bỏ rơi, bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Mặc cảm này lại càng nặng nề hơn vì ở độ tuổi này, con người vẫn còn khuynh hướng lệ thuộc, cần sự bao bọc của gia đình và những người xung quanh. Về phía gia đình và cộng đồng, việc đưa người chưa thành niên phạm tội ra khỏi cộng đồng cũng khiến cho nhiều gia đình và thành viên trong cộng đồng có thái độ xa lánh, miệt thị đối với họ. Hơn thế nữa, thời kỳ niên thiếu là khoảng thời gian quan trọng đối với người chưa thành niên để phát triển các kỹ năng xã hội và học hỏi làm thế nào để giao thiệp với những người khác theo cách chín chắn và lễ phép. Tuy nhiên, người chưa thành niên bị phạt tù lại phát triển các kỹ năng xã hội này trong một môi trường rất không tự nhiên, chỉ kết giao với những người phạm tội khác. Đây là những trở ngại rất lớn đối với quá trình phục hồi và tái hoà nhập của người chưa thành niên phạm tội. Chính vì vậy mà Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em (CƯQTE) và các chuẩn mực quốc tế khác về tư pháp người chưa thành niên đã yêu cầu các quốc gia thành viên* phải bảo đảm rằng chỉ áp dụng hình phạt tù đối với trẻ em như biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất; trong trường hợp buộc phải áp dụng hình phạt tù thì các cơ quan có thẩm quyền cần áp dụng biện pháp trả tự do có điều kiện trong thời gian sớm nhất có thể để giám sát, giáo dục người chưa thành niên tại cộng đồng[1].*
Chúng tôi đề cập đến biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù - một trong những giải pháp để rút ngắn thời hạn phải chấp hành hình phạt trong trại giam của người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Trên cơ sở giới thiệu khái lược về biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù ở một số nước trên thế giới, bài viết này sẽ đưa ra một số phân tích, kiến nghị về việc áp dụng biện pháp này đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta.
I/ Miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù trong pháp luật của một số nước
Miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù là một biện pháp được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới dưới các tên gọi như phóng thích (parole) hay trả tự do có điều kiện (conditional release)[2].* Thực chất, đây là việc trả tự do sớm đối với người đang chấp hành hình phạt tù; sau khi được trả tự do, người đó phải tuân thủ một số điều kiện nhất định do cơ quan có thẩm quyền xác định trong một thời gian tạm gọi là thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách mà người phạm tội vi phạm các điều kiện đặt ra thì tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền có thể thay đổi điều kiện thử thách hoặc có thể buộc người đó phải chấp hành nốt thời hạn còn lại của hình phạt tù trong trại giam. Về bản chất, biện pháp này tương tự như án treo (ở các nước khác gọi là probation - buộc phải chịu thử thách), chỉ khác ở thời điểm áp dụng. Tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và truyền thống lập pháp nhất định, mỗi nước quy định tiêu chí áp dụng, điều kiện, thời gian thử thách, cơ chế xét, quyết định trả tự do có điều kiện, cơ chế giám sát người được trả tự do v.v… khác nhau.
1.* Tiêu chí áp dụng***********
Thông thường, để có thể được xét đưa vào diện miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù (dưới đây, để cho ngắn gọn, xin tạm gọi là “trả tự do sớm có điều kiện”), người phạm tội, phải chấp hành hình phạt thực tế được một thời gian nhất định. Thời hạn này có thể dài, ngắn tùy theo pháp luật của mỗi nước. *Theo pháp luật của Thái Lan, phạm nhân có thể được xét trả tự do sớm có điều kiện nếu đã chấp hành được hai phần ba thời hạn của hình phạt tù[3]. Người bị kết án tù chung thân thì tối thiểu phải chấp hành được 10 năm tù. Còn theo Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Mỹ, phạm nhân của Liên bang đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn từ một năm trở lên theo tiết 18Bộ Tổng luật của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Điều 4205(a)có thể được Ủy ban phóng thích xem xét, quyết định trả tự do sớm có điều kiện nếu đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù; trong trường hợp bị kết án tù chung thân hoặc tù 30 năm thì phải chấp hành được 10 năm[4].*
Người chưa thành niên phạm tội cũng có thể phải chấp hành hình phạt một thời gian nhất định mới có thể được xét trả tự do có điều kiện. Chẳng hạn, Điều 32 Bộ luật Tư pháp Thanh thiếu niên của Kosovo quy địnhrằng:“Thanh thiếu niên bị kết án tù có thể được trả tự do có điều kiện nếu đã chấp hành được ít nhất một phần ba thời hạn của bản án đã tuyên”. Tuy nhiên, theo Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Mỹ, người chưa thành niên phạm tội có thể được trả tự do sớm có điều kiện vào bất cứ thời điểm nào, tùy theo quyết định của Ủy ban phóng thích[5].
Tuy nhiên, không phải phạm nhân nào đủ điều kiện về thời hạn thực tế chấp hành hình phạt cũng có thể được đưa vào diện được xét trả tự do sớm có điều kiện mà thông thường, chỉ những người có thái độ cải tạo tốt mới được hưởng chế độ này. Chẳng hạn, theo Điều 4206 Tiết 18 của Bộ Tổng luật của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Ủy ban Phóng thích chỉ xét phóng thích những phạm nhân về cơ bản tuân thủ tốt quy chế trại giam.
Ngoài ra, pháp luật một số nước có quy định một số trường hợp không được xét trả tự do sớm có điều kiện, chủ yếu do xét thấy có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cộng đồng, ví dụ như trường hợp bị kết án về một tội phạm mang tính bạo lực hoặc buôn bán trái phép chất ma túy mà có sử dụng vũ khí, tái phạm nhiều lần v.v..[6]
Người đủ tiêu chuẩn đưa vào diện xét trả tự do sớm có điều kiện sẽ được cơ quan có thẩm quyền cân nhắc, quyết định có cho phép trả tự do sớm hay không. Trong số nhiều vấn đề cần cân nhắc khi ra quyết định, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét liệu việc trả tự do sớm cho người phạm tội có gây ra nguy cơ mất an toàn cho cộng đồng hay không và liệu có tác dụng thúc đẩy quá trình phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội hay không[7].
2. Điều kiện thử thách:
Nhìn chung, điều kiện thử thách là những điều kiện do cơ quan có quyền quyết định việc trả tự do sớm đặt ra nhằm tạo ra một sự ràng buộc đối với người được trả tự do, giúp người đó quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, tuân thủ pháp luật và khắc phục những nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Những điều kiện này có thể bao gồm hai loại. Thứ nhất là các điều kiện chung (standard conditions). Đây là những điều kiện áp dụng đối với mọi đối tượng được trả tự do sớm, chẳng hạn như (1) trình diện trước cơ quan có thẩm quyền sau khi được trả tự do, (2) định kỳ báo cáo với cán bộ giám sát; (2) không đi khỏi nơi cư trú trừ phi được phép; (4) không làm những việc bị cấm (chẳng hạn như kết giao với những người vi phạm pháp luật, thường xuyên lui tới những địa điểm buôn bán trái phép chất ma túy v.v…)[8].*
Thứ hai là các điều kiện đặc biệt (special conditions). Đây là những điều kiện do cơ quan có thẩm quyền quyết định phù hợp với các đặc điểm về nhân thân và yêu cầu giáo dục, phòng ngừa cụ thể đối với cá nhân người được trả tự do, nhằm giảm thiểu nguy cơ tái phạm và thúc đẩy quá trình phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội cũng như bảo vệ quyền lợi của nạn nhân. Những điều kiện này có thể liên quan đến nơi cư trú cụ thể của người được trả tự do, yêu cầu tham gia vào một số chương trình nhất định để giảm thiểu nguy cơ tái phạm, thúc đẩy khả năng phục hồi, tái hòa nhập, tuân thủ chế độ điều trị y tế, đeo thiết bị giám sát điện tử v.v..[9]
3. *Thời gian thử thách
Thời gian thử thách có thể ngắn hơn, bằng hoặc dài hơn thời hạn còn lại của hình phạt tù.* Chẳng hạn, ở Úc, thời hạn thử thách có thể bằng thời hạn còn lại của hình phạt tù nhưng không quá 5 năm; riêng đối với người bị kết án tù chung thân thì thời hạn này được ghi trong quyết định phóng thích[10].* Bộ luật Tư pháp Thanh thiếu niên của Kosovo quy định thời gian thử thách bằng đúng thời hạn còn lại của hình phạt tù.
4. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, cơ quan có thẩm quyền quyết định cho phép hoặc hủy bỏ biện pháp trả tự do sớm có điều kiện có thể là Ủy ban phóng thích hoặc là một cơ quan tư pháp.* Ở Canađa, Ủy ban Phóng thích Quốc gia là cơ quan quản lý hệ thống phóng thích hiện hành của Liên bang, ở một số tiểu bang cũng có Ủy ban phóng thích của tiểu bang. Ủy ban Phóng thích quốc gia có 34 thành viên chuyên trách, được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 10 năm, và một số thành viên tạm thời được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 01 năm. Nhiệm vụ chính của Ủy ban là đánh giá xem liệu người phạm tội đã sẵn sàng để quay trở về với cộng đồng hay chưa và quyết định có trả tự do sớm đối với người đó hay không[11].
Ở Nhật Bản, Ủy ban Phóng thích khu vực được đặt tại 8 thành phố nơi có trụ sở của Tòa thượng thẩm, chịu trách nhiệm quyết định việc trả tự do sớm có điều kiện, hủy quyết định cũng như giám sát các cán bộ giám quản. Mỗi quyết định của Ủy ban do một hội đồng gồm ba người bàn bạc và quyết định[12]. Còn ở Thái Lan, Tổng cục trưởng Tổng cục cải tạo có quyền quyết định trả tự do sớm có điều kiện. Tuy nhiên, do số phạm nhân đang ở trong hệ thống cải tạo của Thái Lan hiện nay khá lớn nên mỗi trại giam đều thành lập một Ban xét trả tự do sớm có điều kiện.* Các Ban này có trách nhiệm xem xét và lập danh sách phạm nhân đề nghị được trả tự do sớm có điều kiện[13]. Trong khi đó, theo Bộ luật Tư pháp thanh thiếu niên của Kosovo, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định trả tự do sớm có điều kiện cho người chưa thành niên phạm tội[14].
Dù là cơ quan nào thì yêu cầu đặt ra cũng là phải làm sao để bảo đảm rằng cơ quan này được cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan đến người phạm tội[15] và do vậy, vấn đề mấu chốt là trình tự, thủ tục xem xét, quyết định trả tự do sớm có điều kiện.*
5. Trình tự, thủ tục
Trình tự, thủ tục quyết định trả tự do sớm có thể khác biệt nhau đôi chút trong pháp luật của các nước. Ở Mỹ, trong vòng từ 3 đến 6 tháng trước khi trả tự do, cán bộ quản giáo phải gửi bản kế hoạch tái hòa nhập của người phạm tội cho cơ quan giám quản thích hợp để xem xét.* Nếu cán bộ giám quản thấy cần phải áp dụng một số điều kiện đặc biệt đối với người được xét trả tự do thì sẽ đề nghị Ủy ban phóng thích. Ủy ban phóng thích, tự mình hoặc theo yêu cầu của cán bộ giám quản có thể áp dụng những điều kiện đặc biệt đối với người được trả tự do. Khi trả tự do, cán bộ quản giáo sẽ giao cho người được trả tự do bản hướng dẫn người đó đến trình diện cán bộ giám quản trong vòng 72 giờ kể từ khi được trả tự do và giải thích rõ việc không trình diện bị coi là vi phạm điều kiện trả tự do. Khi người được trả tự do đến trình diện, cán bộ giám quản sẽ giao cho người này chứng chỉ trả tự do trong đó nêu rõ những điều kiện mà người này phải tuân thủ do Ủy ban phóng thích quyết định[16].
Ở Canađa, một trong những thủ tục quan trọng khi quyết định trả tự do sớm là đánh giá nguy cơ gây mất an toàn cho cộng đồng. Trước hết, các thành viên của Ủy ban Phóng thích quốc gia sẽ tiến hành đánh giá sơ bộ nguy cơ, trên cơ sở xem xét tất cả các thông tin sẵn có về người phạm tội, bao gồm, chi tiết về sự việc phạm tội, tiền án, các vấn đề xã hội của người phạm tội, như bạo lực gia đình, lạm dụng ma túy hay đồ uống có cồn, tình trạng tâm thần, quan hệ xã hội, nghề nghiệp. Nếu trước đó, người phạm tội đã từng được trả tự do sớm có điều kiện thì còn phải xem xét thái độ cải tạo khi được trả tự do. Tiếp theo, thành viên Ủy ban sẽ cân nhắc xác suất tái phạm đối với nhóm người phạm tội tương tự. Sau khi hoàn thành việc đánh giá sơ bộ nguy cơ, các thành viên Ủy ban sẽ xem xét những yếu tố cụ thể sau: các báo cáo về tâm lý và tâm thần; ý kiến của một số người có liên quan như thẩm phán, cảnh sát, người có uy tín tại cộng đồng; thông tin từ nạn nhân. Ủy ban cũng cân nhắc xem người phạm tội đã được điều trị tâm lý hay các liệu pháp khác nếu cần thiết hay chưa, và có tiến triển tốt hay không; người phạm tội có hiểu rõ tính chất nguy hiểm và hậu quả của tội phạm nay không; kế hoạch tái hòa nhập của người phạm tội có khả thi hay không. Sau khi cân nhắc tất cả những thông tin này, Ủy ban sẽ mở một phiên điều trần với người phạm tội để quyết định có trả tự do sớm cho người đó hay không, cần áp dụng điều kiện gì[17].
Theo khuyến nghị của Hội đồng châu Âu 2003 về trả tự do có điều kiện, cần bảo đảm đối xử công bằng đối với người phạm tội. Để có thể làm được điều này, cơ quan có thẩm quyền quyết định việc trả tự do sớm phải được cung cấp đầy đủ thông tin về người phạm tội, về thái độ của người đó đối với việc trả tự do sớm cũng như các điều kiện cần áp dụng đối với người đó.* Cần tạo điều kiện để người phạm tội được trình bày quan điểm trong quá trình quyết định trả tự do sớm. Cần quy định cơ chế thay đổi các điều kiện thử thách và khi phát hiện thấy có vi phạm thử thách thì có thủ tục để đánh giá vi phạm một cách khách quan, công bằng. Không nên hủy quyết định trả tự do sớm đối với trường hợp vi phạm nhỏ nhặt. Trường hợp bắt buộc phải hủy quyết định thì nên cân nhắc trừ thời gian mà người được trả tự do đã chịu thử thách. Cuối cùng, cần có thủ tục khiếu nại để xem xét lại các quyết định có liên quan đến trả tự do sớm có điều kiện[18].
7.* Cơ quan giám sát
Để theo dõi, hỗ trợ người được trả tự do sớm có điều kiện cũng như những người phạm tội được xử lý bằng các chế tài giáo dục tại cộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới thành lập ra cơ quan giám quản (probation office). Những cơ quan này sẽ phối hợp với các tổ chức phi chính phủ và các tình nguyện viên để giám sát và hỗ trợ người đang chịu thử thách.
Ở Nhật Bản, văn phòng giám quản (probation office) là những cơ quan chịu trách nhiệm đối với việc xử lý người phạm tội dựa vào cộng đồng, bao gồm cả buộc phải chịu thử thách (tương tự như án treo của ta) và trả tự do sớm có điều kiện. Các văn phòng này được đặt tại 50 thành phố nơi có các tòa án quận và chịu sự chỉ đạo của Bộ Tư pháp. Các cán bộ làm việc cho những văn phòng này gồm có ba loại: (1) các cán bộ giám quản của Chính phủ, (2) các cán bộ giám quản tình nguyện, và (3) các cơ sở hỗ trợ phục hồi (tổ chức xã hội). Cán bộ giám quản của Chính phủ là công chức nhà nước. Tuy nhiên, thông thường những cán bộ này không trực tiếp tiến hành mọi công việc mà giới thiệu người bị buộc phải chịu thử thách hoặc người được trả tự do sớm có điều kiện cho cán bộ giám quản tình nguyện. Cán bộ giám quản tình nguyện có vai trò như trợ lý của cán bộ giám quản của Chính phủ và là người trực tiếp giám sát người phải chịu thử thách hoặc người được trả tự do sớm. Đây là những công dân bình thường, tham gia vào hoạt động phục hồi đối với người phạm tội trên tinh thần nhân đạo và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm[19].*
II/ Áp dụng biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam
Chủ trương giảm hình phạt tù, “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” đã được nêu rõ trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Đối với người chưa thành niên phạm tội, chủ trương này cần được ưu tiên thực hiện vì hệ thống chế tài áp dụng đối với đối tượng này hiện nay vẫn còn nặng tính giam giữ. Trong số sáu chế tài có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội[20], chỉ có hai chế tài có thể áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và cả hai chế tài này đều là chế tài tước tự do, đó là đưa vào trường giáo dưỡng hoặc tù có thời hạn[21]. Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù chính là một giải pháp cho phép sớm đưa người chưa thành niên phạm tội bị xử phạt tù quay trở về với cộng đồng để phục thiện, sửa chữa lỗi lầm với sự giúp đỡ và giám sát của gia đình, các cơ quan, đoàn thể xã hội.
Miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù không phải là giải pháp duy nhất nhằm hạn chế áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, nhưng có thể nói là giải pháp khả thi và thích hợp nhất để thực hiện mục tiêu này trong tình hình hiện nay. Việc hạn chế áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội có thể được thực hiện bằng nhiều cách trong đó việc sửa đổi Điều 74 để rút ngắn mức thời hạn phạt tù áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội; sửa đổi Điều 76 để mở rộng phạm vi miễn chấp hành (vô điều kiện) phần còn lại của hình phạt tù và giảm thời hạn chấp hành hình phạt đối với những đối tượng này. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình phạm tội của người chưa thành niên ngày càng gia tăng với những diễn biến phức tạp, tỷ lệ tái phạm khá cao như hiện nay, bài toán đặt ra là phải làm sao một mặt thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong xử lý, giáo dục người chưa thành niên phạm tội, nhưng mặt khác vẫn phải bảo đảm sự an toàn cho cộng đồng và bảo đảm hiệu quả giáo dục, phục hồi đối với những đối tượng này. Việc sửa đổi, bổ sung Điều 74 và Điều 76 của Bộ luật Hình sự (BLHS) mới chỉ giải quyết được một phần của bài toán là chính sách nhân đạo của các đối tượng này, nhưng không có cơ chế ràng buộc, theo dõi sau khi người chưa thành niên được trả tự do, vì vậy khó có thể bảo đảm phòng ngừa tái phạm. Trong khi đó, biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù vừa cho phép người đang chấp hành hình phạt tù được sớm quay trở lại với cộng đồng, vừa đặt ra các điều kiện chặt chẽ để thử thách người phạm tội, có tác dụng giúp đỡ người đó sống có trách nhiệm, có kỷ luật, tăng quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội.* Do vậy, biện pháp này sẽ có hiệu quả cao trong việc phòng ngừa tái phạm và vì thế có thể nói là một câu trả lời phù hợp cho bài toán này.* Việc áp dụng biện pháp này không chỉ góp phần đạt được mục tiêu của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là “giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”[22] mà còn thực sự vì lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, phù hợp với nguyên tắc chỉ áp dụng hình phạt giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội như biện pháp sau cùng, trong thời gian thích hợp ngắn nhất mà CƯQTE và các chuẩn mực quốc tế khác đã nêu ra.
Mặc dù theo quy định của BLHS hiện hành, đã có rất nhiều con đường để miễn giảm hình phạt đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù như miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc giảm thời hạn chấp hành hình phạt, việc bổ sung biện pháp này vẫn hết sức cần thiết. Theo quy định tại Điều 57 và Điều 76 BLHS, người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn chấp hành toàn bộ hoặc phần còn lại của hình phạt trong ba trường hợp là lập công, mắc bệnh hiểm nghèo và đại xá hoặc đặc xá. Theo các quy định này, phạm vi người chưa thành niên được miễn chấp hành toàn bộ hoặc một phần hình phạt còn hạn chế.* Hơn nữa, việc miễn chấp hành hình phạt không kèm theo điều kiện ràng buộc nào sẽ không thể giải quyết được các nguyên nhân, điều kiện phạm tội và do vậy, khó có hiệu quả trong việc phòng ngừa tái phạm, bảo đảm sự an toàn cho cộng đồng. Còn việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có thái độ cải tạo tốt. Người chưa thành niên được giảm thời hạn chấp hành hình phạt vẫn ở trong trại giam. Do vậy, việc bổ sung biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù sẽ cho phép mở rộng phạm vi người chưa thành niên được sớm quay trở về với cộng đồng, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả giáo dục, phục hồi, phòng ngừa tái phạm với những đối tượng này.
Bên cạnh đó, biện pháp này còn khuyến khích gia đình, các đoàn thể xã hội, cộng đồng tham gia vào việc giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên bị kết án, do vậy rất phù hợp với chủ trương xã hội hoá công tác thi hành án của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời phù hợp với truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc ta. Thực tiễn giáo dục người chưa thành niên phạm tội ở nhiều nước trên thế giới đã cho thấy rằng, người chưa thành niên phạm tội được sửa chữa lỗi lầm trong ngay môi trường sống của mình, với sự quan tâm, giúp đỡ của bà con láng giềng, các đoàn thể xã hội sẽ có khả năng phục hồi tốt hơn, hiệu quả bền vững hơn.**
*Việc bổ sung biện pháp này vào BLHS không gây xáo trộn lớn trong hệ thống pháp luật hiện hành, trước mắt chỉ cần sửa đổi, bổ sung hai điều luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) là Điều 269 Thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt và Điều 309 *Chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp, giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt. Hiện nay, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2008 - 2011 của Quốc hội. Trong thời gian BLTTHS chưa được sửa đổi, có thể quy định vấn đề này trong Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS hoặc có thể lùi thời điểm có hiệu lực của điều luật này cho đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS có hiệu lực.
Cơ chế thi hành biện pháp này về cơ bản tương tự như thi hành án treo và sẽ được quy định chi tiết trong một Nghị định của Chính phủ. Nghị định này sẽ quy định cụ thể về các điều kiện áp dụng, các biện pháp giám sát, hỗ trợ người chưa thành niên trong thời gian thử thách, trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án quyết định chấm dứt thời hạn thử thách hoặc buộc phải chấp hành hình phạt tù. Quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan cũng sẽ được quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Đồng thời, hiện nay Dự án Luật Thi hành án hình sự cũng đang trong quá trình xây dựng. Cơ chế thi hành biện pháp này cũng sẽ được nghiên cứu và quy định trong Dự án Luật này. Sau một thời gian thực hiện, cùng với việc nhân rộng các mô hình tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật như mô hình tại Hải Phòng, đánh giá, rút kinh nghiệm, biện pháp này có thể được áp dụng đối với cả người bị kết án phạt tù đã thành niên khi sửa đổi cơ bản, toàn diện BLHS. *
*
Bảo vệ trẻ em nói chung và người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Mặc dù vậy, thời gian qua, tình hình phạm tội của người chưa thành niên vẫn tiếp tục gia tăng với những diễn biến phức tạp. Làm thế nào để có thể tăng cường hiệu quả và tính bền vững của công tác giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên phạm tội là một câu hỏi mà không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà cả những cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em cũng như những người tbam gia vào hoạt động phòng, chống tội phạm đã trăn trở từ lâu và bài viết này là một trong những gợi ý với mong muốn giải đáp được phần nào câu hỏi đó. Dĩ nhiên, đưa ra giải pháp mới chỉ là một phần của vấn đề, biến giải pháp thành hiện thực mới là mấu chốt. Việc bổ sung biện pháp này sẽ đặt ra những khó khăn không nhỏ về vấn đề kinh phí, nhân sự, khả năng huy động sự tham gia của cộng đồng, của các tổ chức xã hội v.v.. Tuy nhiên, những khó khăn đó đều có thể được khắc phục dần dần thông qua việc lựa chọn một lộ trình cải cách phù hợp, huy động sức mạnh của cộng đồng và xã hội, và đặc biệt cần có sự tin tưởng vào quyết tâm cải tạo của người chưa thành niên./.
*
*
*
******
*
*
******
*
[1] Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, Điều 37 và Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh), Quy tắc 28.
[2] Tuy nhiên, ở một số quốc gia, chẳng hạn như* Canađa, ngoài phóng thích còn có một số biện pháp trả tự do có điều kiện khác như* cho phép vắng mặt tạm thời, giám sát bắt buộc.
Xem http://www.ajic.mb.ca/volumel/chapter12.html#1
[3] Kanokpun Kalyanasuta, Atchara Suriyawong, The Criminal Justice System and community-based Treatment of Offenders in Thailand http://www.unafei.or.jp/english/pdf/PDF_rms/no61/ch17.pdff
[4] Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Điều 2.2.
[5] Sđd, Điều 2.4.
[6] Sđd, Điều 2.2.
[7] Xem Luật Phóng thích 2002 của New Zealand, Điều 28, Luật Cải tạo và Trả tự do có điều kiện của Canađa, Điều 16.
[8] Xem Luật Phóng thích 2002 của New Zealand, Điều 14.
[9] Sđd.* Xem thêm Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Điều 2.40.
[10] http://www.ag.gov.au/www/agd/agd.nsf/Page/Federaloffenders_Paroleconditions
[11] http://www.ajic.mb.ca/volumel/chapter12.html#1
[12] Ministry of Justice Japan, Criminal Justice in Japan, tr 42.
[13] Sđd, chú dẫn số 3.
[14] Sđd, chú dẫn số 5.
[15] United Nations Office on Drugs and Crime, Handbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment, 2007, 54-5.
[16] Sđd, chú dẫn số 4.
[17] http://www.duhaime.org/LegalResources/CriminalLaw/LawArticle-97/Parole-In-Canada.aspx
[18] United Nations Office on Drugs and Crime, Handbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment, 2007, 54-5.
[19] Sđd, chú dẫn số 12.
[20] Bao gồm hai biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng, cùng bốn hình phạt là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn.
[21] Lý do là bởi vì đối tượng này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, mà đối với những tội phạm này thì luật không quy định các chế tài không tước tự do.* Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên cho thấy, có những trường hợp người chưa thành niên phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý, không nhận thức được đầy đủ hậu quả mà hành vi của mình có thể gây ra, ví dụ như cắt trộm đường dây điện thoại. Cũng có những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nhưng lần đầu, do thiếu những kỹ năng sống cần thiết như kỹ năng kiềm chế nóng giận, giải quyết xung đột một cách hoà bình v.v.
[22] Điều 69 Bộ luật Hình sự 1999.
Ths. Nguyễn Thanh Trúc
Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi


19:50
Hoàng Phong Nhã
