Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Tư Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Tư Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015

Bỏ tử hình 7 tội danh

Bộ luật Hình sự sửa đổi được thông qua tại phiên họp của QH sáng nay bỏ hình phạt tử hình đối với 7 tội danh. 

84,01% ĐBQH đã tán thành thông qua dự thảo bộ luật Hình sự sửa đổi. 
7 tội danh tử hình bị bỏ gồm: cướp tài sản; sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; tàng trữ trái phép chất ma túy; chiếm đoạt chất ma túy; phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; chống mệnh lệnh; đầu hàng địch.
Chủ nhiệm UB Tư pháp Nguyễn Văn Hiện cho biết, một số ĐBQH không tán thành hoặc đề nghị cân nhắc việc bỏ hình phạt tử hình ở các tội cướp tài sản và phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia.
bỏ án tử hình, tội phạm tham nhũng, hối lộ, tội phạm kinh tế
Chủ nhiệm UB Tư pháp Nguyễn Văn Hiện. Ảnh: Hoàng Long
UB Thường vụ QH cho rằng nếu cướp tài sản mà xâm phạm tính mạng thì đã có tội giết người có hình phạt tử hình.
Với tội phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, nếu không có mục đích chống chính quyền nhân dân thì hình phạt tù 20 năm, tù chung thân cũng là nghiêm khắc và đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm; nếu có mục đích chống chính quyền nhân dân hoặc nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, thì đã có các quy định phù hợp có hình phạt tử hình.
Bộ luật Hình sự sửa đổi cũng quy định không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình đối với người từ 75 tuổi trở lên, thể hiện tính nhân đạo, chính sách khoan hồng của nhà nước.
Thoát án tử nếu nộp lại tài sản tham ô
Một điểm tranh luận là việc không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tội tham nhũng nhưng khắc phục được hậu quả. Tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo bộ luật đã nâng mức khắc phục từ một nửa lên ba phần tư.
Cụ thể, nếu “Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”, thì được miễn tử hình.
Cũng theo luật được thông qua, tội "cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" được thay thế bằng các tội danh cụ thể, nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, bảo đảm minh bạch, an toàn của môi trường kinh doanh, tránh tùy tiện trong áp dụng.
Có 15 tội danh mới, cụ thể thể hiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. 
Bộ luật có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016.

Chung Hoàng

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Định nghĩa về vi phạm điều 258 Bộ luật hình sự


Nguyên Thạch - (Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước)

Vi phạm điều 258 là:
Xâm phạm quyền độc tài độc đảng
Xâm phạm đến sự lừa mị, dối trá, bưng bít, che giấu sự thật của bầy đàn cộng sản gian manh
Xâm phạm đến quyền dùng bạo lực cưỡng hiếp dân lành
Xâm phạm đến thái độ quì lạy đàn anh Tàu cộng.



Xâm phạm đến quyền lợi riêng tư của đảng và sự sống
Vạch trần hành vi cộng đảng đã triều cống non sông
Liệt kê đảng chuyên sử dụng roi điện, dùi cui, nhà tù, tra tấn, xích còng
Nêu ra cho mọi người thấy đảng hèn với giặc, ác với dân để lập công nô lệ.

Trưng bằng chứng cho toàn dân biết Hồ Chí Minh và đảng CSVN là một tập đoàn tụ tập những tên đồ tể
Điểm mặt những tên tham quan giành ghế, giữ uy quyền
Cho toàn dân thấy rằng đảng cộng sản chẳng vì lợi ích của quốc gia mà chỉ vì bạc, vì tiền
Phân tách XHCN chỉ là một xã hội đảo điên hoang tưởng.


Vạch trần quân đội sẵn sàng thí quân đi nướng
Vi phạm vì tố giác những tên gian tham phản quốc luôn núp dưới trướng vì lợi ích của toàn dân
Liệt kê danh sách một lũ thất học, mê muội, ngu đần
Điểm mặt bọn trung ương đảng là đám mị dân và gian dối.

Chỉ cho mọi người thấy con đường của đảng đi là con đường tăm tối
Đảng là nguyên nhân của bao mối hận thù
Là lớp người hoang tưởng, bảo thủ, xuẩn ngu
Là bạo lực, là nhà tù vĩ đại.


Sẽ bị cho là cạnh tranh với tập đoàn buôn dân, điếm đàng, thương lái
Xuất cảng công dân, trai lao nô, gái đĩ phục vụ ngoại nhân
Đánh động người dân để hiểu rằng xã hội chủ ngĩa là khốn khổ cùng bần
Là cúi mặt sợ hãi, chỉ biết vâng vâng dạ dạ.

Điểm mặt chỉ tên đảng cộng sản toàn những tên tham quan láu cá
Là một phường áo giá túi cơm
Là bọn nịnh bợ quì gối lưng khom
Là quân Thái thú đầu lòn bán nước.
Là loài dã thú hai chân bước ngược
Là thứ ăn hại đẩy đất nước thụt lùi
Là quân hèn hạ trốn nhủi trốn chui
Khi Tổ Quốc ngập vùi trong nguy kịch.

Vi phạm điều 258 là tranh giành với nhà nước về quyền lợi ích
Là chen chân với đảng về mục đích độc quyền
Là vạch mặt lãnh đạo thằng con nào cũng có cuộc sống như tiên
Tài sản, của cải, bạc tiền, vàng khối.

Là tố giác những tham quan, làm mất đi cơ hội
Cán bộ cướp của dân, côn an buôn lậu, quân đội cực giàu
Là đòi đa đảng đa nguyên để tránh độc tài: “Đất nước là tao, luật pháp là tao”
Độc quyền qui hoạch đất đai, phố thị… để làm giàu cho băng đảng

Vi phạm điều 258 sẽ làm cho đảng vô cùng ngán
Vì sẽ không còn được những ngày tháng độc tài
Những tên vua một cõi sẽ mất hẳn ngôi vai
Sẽ không còn cơ hội dài dài cướp cạn.


Là tố giác Bộ chính trị, trung ương đảng thứ chư hầu cho ngoại bang tặc Hán
Là thông tin cho toàn dân biết đảng đã bán quê hương
Là cảnh báo cho dân tộc hiểu ngày hôm nay dưới sự nối giáo của đảng, đất nước đã cùng đường
Đất liền, biển đảo, biên cương giao cho Hán tặc.


Vi phạm điều 258 là nói lên sự thật Việt Nam đã nô lệ thiên triều phương Bắc
“Mật Nghị Thành Đô 1990”, đảng CSVN đã đem toàn bộ xã tắc qui hàng
Vi phạm điều 258 là gióng lên tiếng nấc của một dân tộc lầm than, võ vàng nô lệ

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Pháp luật về lý lịch tư pháp của một số nước trên thế giới

Xây dựng Luật Lý lịch tư pháp (LLTP) là một vấn đề rất mới ở Việt Nam và tương đối phức tạp. Do vậy, tham khảo pháp luật về LLTP của nước ngoài là điều cần thiết. Từ đó, chúng ta tiếp thu những yếu tố hợp lý, vận dụng có chọn lọc phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.



1. Pháp luật LLTP ở Cộng hòa liên bang Đức
Ở CHLB Đức, cơ quan chuyên cung cấp các thông tin cần thiết về công dân cho các cơ quan tư pháp và hành chính có tên gọi là Cơ quan Đăng ký liên bang trung ương (CQĐKTW), có trụ sở chính đặt tại Bonn. CQĐKTW do Văn phòng Tư pháp liên bang quản lý dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp liên bang.
Để các thông tin lưu trữ tại CQĐKTW được cập nhật kịp thời, liên tục và hiệu quả, hiện nay, có ba cơ quan đăng ký được duy trì tại CQĐKTW, đó là:
- Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên;
- Cơ quan đăng ký các vi phạm về thương mại và công nghiệp;
- Cơ quan đăng ký trung ương về thủ tục tố tụng đang diễn ra.
Ba cơ quan đăng ký nêu trên nằm trong CQĐKTW và hoạt động trên cơ sở công nghệ thông tin hiện đại.
1.1. Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương bao gồm cả đăng ký tội phạm thanh niên.
Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương trước hết là một công cụ quản lý tư pháp hình sự, được sử dụng trong xét xử để chứng minh sự phạm tội và để hỗ trợ hoạt động hợp tác quốc tế về tư pháp, tương trợ tư pháp. Mục đích của nó là làm cơ sở cho các quyết định của các cơ quan công tố hình sự, đồng thời phục vụ cho việc chuẩn bị các quy định hành chính cũng như thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học.
Trách nhiệm thông báo cho CQĐKTW các quyết định liên quan phục vụ mục đích đã nêu thuộc về Toà án và các cơ quan công quyền. Nội dung của các thông báo này được đưa vào cơ sở dữ liệu của cơ quan đăng ký. Nội dung chính được đăng ký là các bản án hình sự, các quyết định nhất định của cơ quan hành chính và Toà án, như cấm hành nghề hoặc hoạt động thương mại hoặc rút giấy phép tương ứng và các thông báo liên quan đến việc không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Thông tin từ Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương không phải là thông tin được cung cấp vô hạn và cung cấp cho bất kỳ ai. Tuỳ từng người, cơ quan cụ thể mà thông tin được cung cấp dưới dạng một giấy chứng nhận hành vi hoặc dưới dạng thông tin vô hạn.
Giấy chứng nhận hành vi (hay còn gọi là Phiếu LLTP) được phân ra thành giấy chứng nhận hành vi cá nhân và giấy chứng nhận hành vi chính thức. Giấy chứng nhận hành vi cá nhân sẽ được cấp cho mỗi người từ đủ 14 tuổi trở lên (nếu họ có yêu cầu được cấp loại giấy này) với nội dung là những gì đã được đăng ký liên quan đến người đó. Người này có thể sử dụng giấy chứng nhận hành vi cá nhân vào bất cứ mục đích riêng nào mà họ muốn. Loại giấy này có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong lĩnh vực tuyển dụng lao động, bởi vì người sử dụng lao động bao giờ cũng muốn nhận những người lao động có lý lịch trong sạch và giấy chứng nhận hành vi cá nhân chính là công cụ pháp lý chứng minh điều đó.
Giấy chứng nhận hành vi chính thức được cấp cho cơ quan công quyền trong trường hợp cơ quan công quyền đó đang điều tra về một người cụ thể và cần biết một số thông tin về người đó để hoàn thành việc điều tra thuộc thẩm quyền của họ. Trong trường hợp này, phiếu LLTP cấp cho cơ quan công quyền được gọi là giấy chứng nhận hành vi chính thức.
Chỉ những cơ quan nhất định được quy định cụ thể trong luật mới được quyền tiếp cận các thông tin vô hạn (tức là tất cả các nội dung đăng ký được lưu lại tại cơ quan đăng ký).** Những cơ quan này là Toà án, cơ quan công tố nhằm mục đích thực hiện công lý và cảnh sát hình sự nhằm mục đích ngăn ngừa và truy tố tội phạm.
Các thông tin đăng ký tại Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương có thể dẫn tới việc tăng hình phạt trong các bản án, có thể dẫn tới việc không được tuyển dụng hoặc bị sa thải. Tuy nhiên, các thông tin được đăng ký không phải được lưu trữ mãi mãi, mà sau một khoảng thời gian nhất định và sau một khoảng thời gian khác nữa (thường là dài hơn) các thông tin về người đó sẽ được xoá khỏi cơ sở dữ liệu đăng ký. Độ dài của khoảng thời gian đó thường phụ thuộc vào mức độ hình phạt áp dụng. Thời hạn để xoá án tích trên chứng nhận hành vi thường là từ 3 đến 10 năm và để xoá hoàn toàn là từ 5 đến 20 năm.
Hiện tại, có khoảng 15, 3 triệu quyết định được lưu trữ tại Cơ quan đăng ký trung ương liên quan đến 6, 3 triệu người, trong đó 1, 5 triệu là người nước ngoài. Hàng năm, có khoảng 9, 6 triệu thông tin được cung cấp, nghĩa là trung bình một ngày cung cấp khoảng 40.000 thông tin.
Ngoài Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương, còn có Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên. Các quyết định dựa trên Đạo luật về Toà án thanh niên liên quan đến các tội phạm thanh niên được lưu trữ ở cơ quan đăng ký này; việc cung cấp thông tin từ Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên là rất hạn chế. Nơi nhận các thông tin đó là các toà án hình sự, văn phòng công tố, toà án giám hộ, toà án gia đình và cơ quan phúc lợi thanh niên. Các thông tin đăng ký trong Cơ quan đăng ký tội phạm thanh niên sẽ được loại khỏi cơ quan đăng ký khi người liên quan đó đến 24 tuổi.
1.2. Cơ quan đăng ký trung ương về vi phạm trong công nghiệp và thương mại
Từ năm 1976, ở Đức có một cơ quan đăng ký đặc biệt thuộc Cơ quan đăng ký liên bang trung ương để lưu trữ các thông tin về người đang kinh doanh trên cơ sở các quyết định của Toà án, các cơ quan hành chính và các quyết định phạt liên quan đến người đang kinh doanh. Cơ quan này được gọi là Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại. Thông qua những thông tin về vi phạm trong công nghiệp và thương mại, cơ quan này giúp có thể loại bỏ những người không đáng tin cậy hoặc không phù hợp khỏi việc thực hiện những nhiệm vụ và chức năng nhất định trong lĩnh vực kinh tế.
Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm công nghiệp và thương mại được tổ chức với một phần là cơ quan đăng ký đối với thể nhân và một phần là cơ quan đăng ký đối với pháp nhân và tổ chức. Hiện nay trong cơ quan này có khoảng 440.000 thông tin đăng ký liên quan đến 275.000 thể nhân, 24.000 pháp nhân và tổ chức.
Cơ quan này có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan đăng ký trung ương các quyết định vi phạm trong công nghiệp và thương mại thuộc Toà án và các cơ quan công quyền.
Thông tin từ Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại được cung cấp cho: những người liên quan; các cơ quan hành chính, toà án, văn phòng công tố và cơ quan cảnh sát và được các cơ quan này sử dụng làm cơ sở cho các quyết định của họ như gia nhập, cho phép, ủy quyền và giấy phép. Thông tin này cũng có thể được cung cấp phục vụ cho mục đích thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học.
Thông tin đăng ký tại Cơ quan đăng ký trung ương các vi phạm trong công nghiệp và thương mại bị loại bỏ khi quyết định mà thông tin đăng ký dựa vào bị hủy bỏ. Các thông tin đăng ký này cũng bị xoá bỏ sau một khoảng thời gian nhất định. Đối với thể nhân thời hạn này từ 3-5 năm; đối với pháp nhân và tổ chức, thời hạn này là 20 năm.*
1.3. Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra
Từ năm 1999, Cơ quan đăng ký liên bang thành lập thêm một cơ quan đăng ký quan trọng khác là Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra.
Cơ quan đăng ký trung ương về quy trình tố tụng đang diễn ra lưu trữ các thông tin liên quan đến tất cả vụ việc hình sự đang điều tra của tất cả các cơ quan công tố hình sự tại Cộng hoà liên bang Đức.
Cơ quan đăng ký cho phép cơ quan công tố khi quyết định khởi tố vụ án biết được vụ án có đang bị truy tố bởi một cơ quan công tố khác về cùng một tội chống lại cùng người đó hay không. Các cơ quan công tố hình sự thông báo cho cơ quan đăng ký ngay khi bắt đầu thủ tục tố tụng với những dữ liệu tối thiểu về việc truy tố đang thực hiện. Các thay đổi và bổ sung đối với thông báo trước về quá trình tố tụng cũng được thông báo. Thông báo của cơ quan công tố được lưu bằng các thiết bị điện tử tại cơ quan đăng ký và sẵn sàng cung cấp cho các cơ quan có quyền được nhận các thông tin đó. Các cơ quan có quyền đối với thông tin đó, ngoài các cơ quan công tố ra còn bao gồm dịch vụ phản gián, cơ quan cảnh sát, cơ quan điều tra thuế và hải quan. Những cơ quan này có thể yêu cầu cơ quan đăng ký và nhận thông tin. Phạm vi và thời gian cung cấp thông tin dựa trên tính trọn vẹn của thông tin trong yêu cầu, tính cấp thiết của thông tin, bản chất và phạm vi của quyền đối với thông tin của cơ quan yêu cầu. Cơ quan đăng ký được tự động hoá trên phạm vi rộng và được duy trì với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại.
Việc loại bỏ thủ tục tố tụng cũng được thực hiện một cách tự động sau khi hết hạn theo quy định của pháp luật hoặc sau khi có thông báo về bản án cuối cùng thuộc thẩm quyền của Cơ quan đăng ký tội phạm trung ương.
Hiện nay, Cơ quan đăng ký này lưu trữ khoảng 12 triệu thông tin đăng ký về quá trình tố tụng điều tra. Mỗi ngày làm việc, cơ quan này nhận được khoảng 1.000 yêu cầu và 70.000 thông báo (kể cả vừa thông báo, vừa yêu cầu). Mỗi thông báo được xử lý để đưa vào đăng ký trong khoảng 3 giờ; trong trường hợp khẩn cấp hoặc có đầy đủ thông tin cá nhân thì việc giải quyết một yêu cầu cung cấp thông tin chỉ mất 20 giây.
2. Pháp luật LLTP ở Bỉ*
Giống như ở Đức, ở Bỉ chỉ có một cơ sở dữ liệu LLTP duy nhất đặt tại Brussels có tên gọi là Viện LLTP. Viện LLTP trực thuộc Văn phòng trung ương của Bộ Tư pháp liên bang.
Viện LLTP ra đời từ lâu. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý cho hoạt động của Viện lại chỉ mới được thiết lập bởi một đạo luật ban hành ngày 03/9/1997, có hiệu lực vào tháng 9/2001.
Viện LLTP trung ương có trách nhiệm đăng ký, duy trì và sửa đổi tất cả các dữ liệu có liên quan đến các bản án, quyết định trong lĩnh vực hình sự. Về cơ bản, hệ thống LLTP trung ương là một công cụ tư pháp nhưng đồng thời còn được sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học, thống kê. Công việc này do Vụ tội phạm học của Bộ Tư pháp liên bang thực hiện
Theo quy định thì thông tin được đăng ký tại Viện LLTP là tất cả các bản án hình sự chung thẩm và một số các quyết định mang tính hành chính thứ cấp (như là quyết định cấm hành nghề hoặc cấm kinh doanh hoặc rút giấy phép) do Toà án ban hành.
Bộ phận chịu trách nhiệm chuyển các bản án đến Viện LLTP là bộ phận hành chính của Toà án. Thời hạn chuyển bản án là 3 ngày kể từ khi bản án là chung thẩm và có hiệu lực thi hành. Khi đó, một bản dữ liệu sẽ được thiết lập đối với một người bị kết án. Các dữ liệu cá nhân của người này sẽ được nhập vào cơ sở dữ liệu với các thông tin về tình trạng dân sự của người bị kết án và bản chất của tội phạm đã phạm phải (phân loại tội phạm, ngày và địa điểm phạm tội, cơ quan tư pháp đã tuyên án, cấp xét xử và bản án đã tuyên).
Một vấn đề cần lưu ý là mặc dù pháp luật Bỉ có quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhưng Bỉ không thành lập một Viện LLTP dành riêng cho pháp nhân. Do vậy, chỉ các cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh và bị Toà án kết án mới phải đăng ký với Viện LLTP.
Các loại tổ chức và cá nhân được quyền tiếp cận các thông tin do Viện LLTP quản lý là: các cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp trong lĩnh vực hình sự; các cơ quan hành chính công; các cơ quan tư pháp nước ngoài; cá nhân (yêu cầu cấp bản sao LLTP cho bản thân).
Các cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp trong lĩnh vực hình sự: có quyền tiếp cận rộng rãi đến cơ sở dữ liệu đăng ký tại Viện LLTP. Thẩm phán và công tố viên có quyền tiếp cận trực tiếp đến cơ sở dữ liệu LLTP thông qua định dạng cá nhân. Những người này cũng có thể yêu cầu Văn phòng trung ương của Bộ Tư pháp cung cấp danh sách những cá nhân bị kết án về một hoặc một số tội phạm cụ thể. Loại yêu cầu này chỉ có thể do thẩm phán thực hiện trong trường hợp xác định được một người đã thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án tối đa 3 năm tù.
*** Các cơ quan hành chính công: có thể tiếp cận với mức độ hạn chế đến các thông tin LLTP (với lý do cụ thể và rõ ràng). Các cơ quan này có thể yêu cầu cấp một Chứng nhận tư cách tốt (chưa có vi phạm gì) hoặc một bản trích lục từ cơ sở dữ liệu có liên quan đến một cá nhân cụ thể, nhưng chỉ trong mức độ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ trong thẩm quyền của họ. Danh sách đầy đủ của các cơ quan hành chính công được tiếp cận ở mức độ hạn chế đến các thông tin LLTP do văn bản dưới luật quy định, cụ thể là: Văn phòng Tuyển dụng liên bang (tuyển dụng công chức); Bộ phụ trách cho việc nhập quốc tịch Bỉ; Văn phòng Người nước ngoài liên bang (Bộ Nhập cư và Tỵ nạn); Cơ quan hải quan; Cơ quan thuế.
**Các cơ quan tư pháp nước ngoài: Các cơ quan tư pháp nước ngoài có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Bỉ cung cấp một bản trích lục LLTP và các thông tin bổ sung cần thiết khác trong lĩnh vực hình sự liên quan đến một cá nhân đang bị truy nã với cùng các điều kiện áp dụng cho các cơ quan tư pháp của Bỉ trong một vụ việc tương tự (điều kiện để cơ quan tư pháp nước ngoài yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Bỉ cung cấp thông tin là giữa nước có cơ quan yêu cầu đó và Bỉ phải có hiệp định song phương hoặc cùng là thành viên của một hiệp định đa phương). Bản trích lục này chỉ được trao đổi giữa các cơ quan tư pháp với nhau. Cảnh sát không có quyền trao đổi thông tin về lĩnh vực này. Các đảng phái chính trị, ngân hàng, tổ chức nghề nghiệp không có quyền tiếp cận thông tin trực tiếp từ hệ thống dữ liệu LLTP. Việc cung cấp thông tin về LLTP hoàn toàn khác với việc trao đổi thông tin liên quan đến bản án. Trao đổi thông tin về LLTP của một người bao gồm những thông tin liên quan đến người đó từ quá khứ đến hiện tại và chủ yếu liên quan đến lĩnh vực hình sự, còn trao đổi thông tin về bản án thường ngắn gọn và không bao gồm tất cả các thông tin.
*Yêu cầu của cá nhân: Bất kỳ người dân nào cũng có quyền yêu cầu cấp Giấy chứng nhận LLTP. Thông tin LLTP được cung cấp cho người dân dưới dạng Giấy chứng nhận tư cách hoặc với những thông tin không hạn chế. Giấy chứng nhận tư cách được công dân Bỉ sử dụng trong trường hợp họ muốn được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước hoặc vì mục đích khác như xin cấp giấy phép sử dụng súng. Giấy chứng nhận tư cách có 2 loại: loại I và loại II. Giấy chứng nhận tư cách loại I có thể được chính quyền khu tự trị (cấp thành phố) cấp ngay lập tức. Giấy chứng nhận loại II cấp cho những người thường xuyên phải tiếp xúc với trẻ vị thành niên (như giáo viên) nên phải qua cơ quan công an kiểm tra và thường được chính quyền khu tự trị cấp trong vòng 2 tuần.
Để xin cấp Giấy chứng nhận tư cách trong thời gian cư trú ở Bỉ thì công dân Bỉ (hoặc cá nhân có giấy phép cư trú hợp pháp ở Bỉ) phải nộp đơn cho cơ quan có thẩm quyền thành phố ở Bỉ, nơi họ cư trú. Trong trường hợp công dân Bỉ (hoặc cá nhân có giấy phép cư trú hợp pháp ở Bỉ) muốn xin cấp Giấy chứng nhận tư cách trong đó bao hàm thời gian cư trú ở nước ngoài thì:
- Đương sự phải nộp đơn trực tiếp cho cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đó (nếu cư trú ở một quốc gia EU).
- Đương sự phải nộp đơn cho Vụ Hợp tác pháp luật quốc tế trực thuộc Bộ Ngoại giao liên bang ở Brussels (nếu cư trú ở một quốc gia ngoài EU). Vụ này sẽ yêu cầu đại sứ quán hoặc lãnh sứ quán có liên quan của Bỉ kiểm tra với cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại để đảm bảo rằng cá nhân đó không có vi phạm hoặc bị kết án trong thời gian họ ở nước ngoài. Trên cơ sở các thông tin nhận được, Vụ Hợp tác pháp luật quốc tế sẽ quyết định cấp hay không cấp Giấy chứng nhận tư cách. Mặc dù Giấy chứng nhận này được cấp miễn phí ở Bỉ, nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài khi được đại sứ quán hoặc lãnh sự quán Bỉ yêu cầu vẫn có thể thu phí cho việc cấp các giấy tờ nhất định. Trong trường hợp này, công dân Bỉ sẽ phải chi trả các chi phí liên quan đến việc đó. Cả hai loại giấy chứng nhận tư cách chỉ có giá trị trong vòng 3 tháng. Tất cả các vi phạm (nếu có) được lưu trữ trong hệ thống LLTP trung ương phải được ghi trong giấy chứng nhận tư cách. Sau một khoảng thời gian do pháp luật quy định, các vi phạm này sẽ không được ghi trong chứng nhận tư cách nữa.
Cơ sở pháp lý cho việc cấp giấy chứng nhận tư cách là văn bản năm 1962 do Bộ Nội vụ liên bang ban hành, nhưng văn bản này hiện đã bị hủy bỏ bởi một quyết định của Toà án hành chính cao nhất của Bỉ. Như vậy về nguyên tắc, chính quyền các khu tự trị không có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tư cách và giấy chứng nhận này hiện nay được thay thế bởi trích lục LLTP trung ương mà cơ sở pháp lý của nó chính là Luật LLTP năm 1997. Theo quy định của Luật LLTP thì cá nhân khi có yêu cầu xin cấp phiếu LLTP cho bản thân phải gửi đơn bằng văn bản thông qua fax hoặc bưu điện đến Vụ LLTP trung ương thuộc Bộ Tư pháp liên bang Bỉ. Đơn phải được đương sự ký, bao gồm họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ và lý do xin cấp LLTP. Đương sự có thể gửi kèm một bản sao chứng minh thư và hộ chiếu (nếu có). Vụ LLTP sẽ cấp bản sao LLTP miễn phí. Nhưng trên thực tế, các khu tự trị vẫn cấp Giấy chứng nhận tư cách cho công dân. Đây là một khó khăn, bất cập trong việc cấp bản trích LLTP và hiện nay, các nhà làm luật Bỉ đang nghiên cứu, xem xét để tìm hướng giải quyết.
3. Pháp luật LLTP ở Canada
Khác với Bỉ, Canada không có một văn bản pháp lý riêng quy định về việc tổ chức hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc quản lý và cấp phiếu LLTP. Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu liên quan đến LLTP ở Canada chỉ lưu giữ toàn bộ hồ sơ án đã tuyên (án đã tuyên về hình sự) và hệ thống dữ liệu này do cơ quan cảnh sát quản lý. Do vậy, khi một người muốn có giấy chứng nhận về nhân thân tư pháp của mình (để xin việc làm, xuất cảnh...) hoặc khi cơ quan tuyển dụng lao động muốn biết về nhân thân tư pháp của người mà mình định tuyển dụng, thì họ sẽ đến cơ quan cảnh sát để yêu cầu cung cấp thông tin nếu được sự đồng ý của người đó. Thông tin do cơ quan cảnh sát cung cấp được thể hiện dưới hình thức giấy chứng nhận, trong đó xác nhận người đó có tiền án hay không có tiền án.
Như vậy, ở Canada hệ thống dữ liệu liên quan đến LLTP chỉ thu thập thông tin về hình sự, không thu thập thông tin về dân sự, về hành chính. Cơ quan có trách nhiệm chuyển những bản án hình sự đã tuyên cho cơ quan cảnh sát là toà án.
4. Pháp luật LLTP ở Thụy Điển
ở Thụy Điển, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về LLTP là Tổng cục cảnh sát, trực thuộc Bộ Tư pháp. Tổng cục cảnh sát là cơ quan quản lý dữ liệu đồng thời là cơ quan cung cấp thông tin về án tích.
Dữ liệu án tích được lưu trữ ở Tổng cục cảnh sát không chỉ bao gồm những bản án, quyết định về hình sự mà còn bao gồm những quyết định về hành chính như phạt tiền, phạt vi phạm nội quy... Chính vì nội dung thông tin được lưu trữ trong dữ liệu án tích đa dạng như vậy nên cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin về dữ liệu án tích không chỉ bao gồm toà án, mà còn bao gồm các cơ quan khác như: cơ quan cảnh sát, cơ quan công tố, hệ thống nhà tù, trại giam khi tội phạm đã chấp hành xong hình phạt.
Pháp luật Thụy Điển cũng quy định rõ thẩm quyền tiếp cận, mức độ tiếp cận những thông tin trong dữ liệu án tích của các cơ quan như Tổng cục thuế, Hải quan, Cảnh sát, Viện Kiểm sát, Tổng cục về di dân và một số các cơ quan chính quyền khác.
Có thể nói, mô hình tổ chức, quản lý và hoạt động LLTP của Đức, Bỉ, Canada và Thụy Điển rất hiện đại và hoạt động có hiệu quả rất cao. Phần lớn thông tin được cung cấp cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP là các bản án, quyết định của Toà án. Toà án là cơ quan duy nhất hoặc chủ yếu (theo quy định của pháp luật mỗi nước) chịu trách nhiệm cung cấp các thông tin lên cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về LLTP. Chính vì vậy, cùng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin hịên đại, việc cung cấp thông tin cho các cơ quan, cá nhân luôn đảm bảo kịp thời, nhanh chóng và chính xác. Đây là những mô hình có giá trị tham khảo tốt cho Việt Nam trong quá trình xây dựng Luật LLTP cũng như đề xuất xây dựng trung tâm LLTP phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội*ở Việt Nam. /.
Ths. Nguyễn Minh Phương

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội

Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội


Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay.



Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta hiện nay. Với đặc trưng là tước tự do của người chưa thành niên trong một thời gian nhất định, cách ly các em khỏi môi trường sống bình thường để buộc các em phải học tập, lao động, sinh hoạt trong một cơ sở tập trung có kỷ luật chặt chẽ, việc áp dụng hình phạt này đối với người chưa thành niên không chỉ do các em đã thực hiện những tội phạm mang tính nghiêm trọng và vì vậy cần bị xử lý bằng những chế tài nghiêm khắc mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo vệ cộng đồng trước khả năng các em tiếp tục gây ra những hành vi nguy hiểm cũng như bảo vệ chính các em trước những yếu tố tiêu cực tại môi trường sống, có thể cản trở quá trình phục hồi, cải tạo của các em.* Trong trại giam, thông qua việc dạy văn hoá, dạy nghề, giáo dục đạo đức, lối sống, người chưa thành niên phạm tội sẽ được trang bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết để khi quay trở về với cộng đồng, các em có thể tái hoà nhập, bắt đầu một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, không rơi vào tình trạng “ngựa quen đường cũ”.*
Tuy nhiên, song hành với các ưu điểm nói trên, hình phạt tù có thời hạn cũng chứa đựng những hạn chế nội tại, trong đó phải kể đến những tác động tiêu cực do người chưa thành niên bị cách ly khỏi người thân và môi trường sinh sống bình thường của mình. Việc bị cách ly khỏi xã hội sẽ khiến cho các em có cảm giác mặc cảm, bị bỏ rơi, bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Mặc cảm này lại càng nặng nề hơn vì ở độ tuổi này, con người vẫn còn khuynh hướng lệ thuộc, cần sự bao bọc của gia đình và những người xung quanh. Về phía gia đình và cộng đồng, việc đưa người chưa thành niên phạm tội ra khỏi cộng đồng cũng khiến cho nhiều gia đình và thành viên trong cộng đồng có thái độ xa lánh, miệt thị đối với họ. Hơn thế nữa, thời kỳ niên thiếu là khoảng thời gian quan trọng đối với người chưa thành niên để phát triển các kỹ năng xã hội và học hỏi làm thế nào để giao thiệp với những người khác theo cách chín chắn và lễ phép. Tuy nhiên, người chưa thành niên bị phạt tù lại phát triển các kỹ năng xã hội này trong một môi trường rất không tự nhiên, chỉ kết giao với những người phạm tội khác. Đây là những trở ngại rất lớn đối với quá trình phục hồi và tái hoà nhập của người chưa thành niên phạm tội. Chính vì vậy mà Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em (CƯQTE) và các chuẩn mực quốc tế khác về tư pháp người chưa thành niên đã yêu cầu các quốc gia thành viên* phải bảo đảm rằng chỉ áp dụng hình phạt tù đối với trẻ em như biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất; trong trường hợp buộc phải áp dụng hình phạt tù thì các cơ quan có thẩm quyền cần áp dụng biện pháp trả tự do có điều kiện trong thời gian sớm nhất có thể để giám sát, giáo dục người chưa thành niên tại cộng đồng[1].*
Chúng tôi đề cập đến biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù - một trong những giải pháp để rút ngắn thời hạn phải chấp hành hình phạt trong trại giam của người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Trên cơ sở giới thiệu khái lược về biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù ở một số nước trên thế giới, bài viết này sẽ đưa ra một số phân tích, kiến nghị về việc áp dụng biện pháp này đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta.
I/ Miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù trong pháp luật của một số nước
Miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù là một biện pháp được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới dưới các tên gọi như phóng thích (parole) hay trả tự do có điều kiện (conditional release)[2].* Thực chất, đây là việc trả tự do sớm đối với người đang chấp hành hình phạt tù; sau khi được trả tự do, người đó phải tuân thủ một số điều kiện nhất định do cơ quan có thẩm quyền xác định trong một thời gian tạm gọi là thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách mà người phạm tội vi phạm các điều kiện đặt ra thì tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền có thể thay đổi điều kiện thử thách hoặc có thể buộc người đó phải chấp hành nốt thời hạn còn lại của hình phạt tù trong trại giam. Về bản chất, biện pháp này tương tự như án treo (ở các nước khác gọi là probation - buộc phải chịu thử thách), chỉ khác ở thời điểm áp dụng. Tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và truyền thống lập pháp nhất định, mỗi nước quy định tiêu chí áp dụng, điều kiện, thời gian thử thách, cơ chế xét, quyết định trả tự do có điều kiện, cơ chế giám sát người được trả tự do v.v… khác nhau.
1.* Tiêu chí áp dụng***********
Thông thường, để có thể được xét đưa vào diện miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù (dưới đây, để cho ngắn gọn, xin tạm gọi là “trả tự do sớm có điều kiện”), người phạm tội, phải chấp hành hình phạt thực tế được một thời gian nhất định. Thời hạn này có thể dài, ngắn tùy theo pháp luật của mỗi nước. *Theo pháp luật của Thái Lan, phạm nhân có thể được xét trả tự do sớm có điều kiện nếu đã chấp hành được hai phần ba thời hạn của hình phạt tù[3]. Người bị kết án tù chung thân thì tối thiểu phải chấp hành được 10 năm tù. Còn theo Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Mỹ, phạm nhân của Liên bang đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn từ một năm trở lên theo tiết 18Bộ Tổng luật của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Điều 4205(a)có thể được Ủy ban phóng thích xem xét, quyết định trả tự do sớm có điều kiện nếu đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù; trong trường hợp bị kết án tù chung thân hoặc tù 30 năm thì phải chấp hành được 10 năm[4].*
Người chưa thành niên phạm tội cũng có thể phải chấp hành hình phạt một thời gian nhất định mới có thể được xét trả tự do có điều kiện. Chẳng hạn, Điều 32 Bộ luật Tư pháp Thanh thiếu niên của Kosovo quy địnhrằng:“Thanh thiếu niên bị kết án tù có thể được trả tự do có điều kiện nếu đã chấp hành được ít nhất một phần ba thời hạn của bản án đã tuyên”. Tuy nhiên, theo Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Mỹ, người chưa thành niên phạm tội có thể được trả tự do sớm có điều kiện vào bất cứ thời điểm nào, tùy theo quyết định của Ủy ban phóng thích[5].
Tuy nhiên, không phải phạm nhân nào đủ điều kiện về thời hạn thực tế chấp hành hình phạt cũng có thể được đưa vào diện được xét trả tự do sớm có điều kiện mà thông thường, chỉ những người có thái độ cải tạo tốt mới được hưởng chế độ này. Chẳng hạn, theo Điều 4206 Tiết 18 của Bộ Tổng luật của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Ủy ban Phóng thích chỉ xét phóng thích những phạm nhân về cơ bản tuân thủ tốt quy chế trại giam.
Ngoài ra, pháp luật một số nước có quy định một số trường hợp không được xét trả tự do sớm có điều kiện, chủ yếu do xét thấy có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cộng đồng, ví dụ như trường hợp bị kết án về một tội phạm mang tính bạo lực hoặc buôn bán trái phép chất ma túy mà có sử dụng vũ khí, tái phạm nhiều lần v.v..[6]
Người đủ tiêu chuẩn đưa vào diện xét trả tự do sớm có điều kiện sẽ được cơ quan có thẩm quyền cân nhắc, quyết định có cho phép trả tự do sớm hay không. Trong số nhiều vấn đề cần cân nhắc khi ra quyết định, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét liệu việc trả tự do sớm cho người phạm tội có gây ra nguy cơ mất an toàn cho cộng đồng hay không và liệu có tác dụng thúc đẩy quá trình phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội hay không[7].
2. Điều kiện thử thách:
Nhìn chung, điều kiện thử thách là những điều kiện do cơ quan có quyền quyết định việc trả tự do sớm đặt ra nhằm tạo ra một sự ràng buộc đối với người được trả tự do, giúp người đó quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, tuân thủ pháp luật và khắc phục những nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Những điều kiện này có thể bao gồm hai loại. Thứ nhất là các điều kiện chung (standard conditions). Đây là những điều kiện áp dụng đối với mọi đối tượng được trả tự do sớm, chẳng hạn như (1) trình diện trước cơ quan có thẩm quyền sau khi được trả tự do, (2) định kỳ báo cáo với cán bộ giám sát; (2) không đi khỏi nơi cư trú trừ phi được phép; (4) không làm những việc bị cấm (chẳng hạn như kết giao với những người vi phạm pháp luật, thường xuyên lui tới những địa điểm buôn bán trái phép chất ma túy v.v…)[8].*
Thứ hai là các điều kiện đặc biệt (special conditions). Đây là những điều kiện do cơ quan có thẩm quyền quyết định phù hợp với các đặc điểm về nhân thân và yêu cầu giáo dục, phòng ngừa cụ thể đối với cá nhân người được trả tự do, nhằm giảm thiểu nguy cơ tái phạm và thúc đẩy quá trình phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội cũng như bảo vệ quyền lợi của nạn nhân. Những điều kiện này có thể liên quan đến nơi cư trú cụ thể của người được trả tự do, yêu cầu tham gia vào một số chương trình nhất định để giảm thiểu nguy cơ tái phạm, thúc đẩy khả năng phục hồi, tái hòa nhập, tuân thủ chế độ điều trị y tế, đeo thiết bị giám sát điện tử v.v..[9]
3. *Thời gian thử thách
Thời gian thử thách có thể ngắn hơn, bằng hoặc dài hơn thời hạn còn lại của hình phạt tù.* Chẳng hạn, ở Úc, thời hạn thử thách có thể bằng thời hạn còn lại của hình phạt tù nhưng không quá 5 năm; riêng đối với người bị kết án tù chung thân thì thời hạn này được ghi trong quyết định phóng thích[10].* Bộ luật Tư pháp Thanh thiếu niên của Kosovo quy định thời gian thử thách bằng đúng thời hạn còn lại của hình phạt tù.
4. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, cơ quan có thẩm quyền quyết định cho phép hoặc hủy bỏ biện pháp trả tự do sớm có điều kiện có thể là Ủy ban phóng thích hoặc là một cơ quan tư pháp.* Ở Canađa, Ủy ban Phóng thích Quốc gia là cơ quan quản lý hệ thống phóng thích hiện hành của Liên bang, ở một số tiểu bang cũng có Ủy ban phóng thích của tiểu bang. Ủy ban Phóng thích quốc gia có 34 thành viên chuyên trách, được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 10 năm, và một số thành viên tạm thời được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 01 năm. Nhiệm vụ chính của Ủy ban là đánh giá xem liệu người phạm tội đã sẵn sàng để quay trở về với cộng đồng hay chưa và quyết định có trả tự do sớm đối với người đó hay không[11].
Ở Nhật Bản, Ủy ban Phóng thích khu vực được đặt tại 8 thành phố nơi có trụ sở của Tòa thượng thẩm, chịu trách nhiệm quyết định việc trả tự do sớm có điều kiện, hủy quyết định cũng như giám sát các cán bộ giám quản. Mỗi quyết định của Ủy ban do một hội đồng gồm ba người bàn bạc và quyết định[12]. Còn ở Thái Lan, Tổng cục trưởng Tổng cục cải tạo có quyền quyết định trả tự do sớm có điều kiện. Tuy nhiên, do số phạm nhân đang ở trong hệ thống cải tạo của Thái Lan hiện nay khá lớn nên mỗi trại giam đều thành lập một Ban xét trả tự do sớm có điều kiện.* Các Ban này có trách nhiệm xem xét và lập danh sách phạm nhân đề nghị được trả tự do sớm có điều kiện[13]. Trong khi đó, theo Bộ luật Tư pháp thanh thiếu niên của Kosovo, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định trả tự do sớm có điều kiện cho người chưa thành niên phạm tội[14].
Dù là cơ quan nào thì yêu cầu đặt ra cũng là phải làm sao để bảo đảm rằng cơ quan này được cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan đến người phạm tội[15] và do vậy, vấn đề mấu chốt là trình tự, thủ tục xem xét, quyết định trả tự do sớm có điều kiện.*
5. Trình tự, thủ tục
Trình tự, thủ tục quyết định trả tự do sớm có thể khác biệt nhau đôi chút trong pháp luật của các nước. Ở Mỹ, trong vòng từ 3 đến 6 tháng trước khi trả tự do, cán bộ quản giáo phải gửi bản kế hoạch tái hòa nhập của người phạm tội cho cơ quan giám quản thích hợp để xem xét.* Nếu cán bộ giám quản thấy cần phải áp dụng một số điều kiện đặc biệt đối với người được xét trả tự do thì sẽ đề nghị Ủy ban phóng thích. Ủy ban phóng thích, tự mình hoặc theo yêu cầu của cán bộ giám quản có thể áp dụng những điều kiện đặc biệt đối với người được trả tự do. Khi trả tự do, cán bộ quản giáo sẽ giao cho người được trả tự do bản hướng dẫn người đó đến trình diện cán bộ giám quản trong vòng 72 giờ kể từ khi được trả tự do và giải thích rõ việc không trình diện bị coi là vi phạm điều kiện trả tự do. Khi người được trả tự do đến trình diện, cán bộ giám quản sẽ giao cho người này chứng chỉ trả tự do trong đó nêu rõ những điều kiện mà người này phải tuân thủ do Ủy ban phóng thích quyết định[16].
Ở Canađa, một trong những thủ tục quan trọng khi quyết định trả tự do sớm là đánh giá nguy cơ gây mất an toàn cho cộng đồng. Trước hết, các thành viên của Ủy ban Phóng thích quốc gia sẽ tiến hành đánh giá sơ bộ nguy cơ, trên cơ sở xem xét tất cả các thông tin sẵn có về người phạm tội, bao gồm, chi tiết về sự việc phạm tội, tiền án, các vấn đề xã hội của người phạm tội, như bạo lực gia đình, lạm dụng ma túy hay đồ uống có cồn, tình trạng tâm thần, quan hệ xã hội, nghề nghiệp. Nếu trước đó, người phạm tội đã từng được trả tự do sớm có điều kiện thì còn phải xem xét thái độ cải tạo khi được trả tự do. Tiếp theo, thành viên Ủy ban sẽ cân nhắc xác suất tái phạm đối với nhóm người phạm tội tương tự. Sau khi hoàn thành việc đánh giá sơ bộ nguy cơ, các thành viên Ủy ban sẽ xem xét những yếu tố cụ thể sau: các báo cáo về tâm lý và tâm thần; ý kiến của một số người có liên quan như thẩm phán, cảnh sát, người có uy tín tại cộng đồng; thông tin từ nạn nhân. Ủy ban cũng cân nhắc xem người phạm tội đã được điều trị tâm lý hay các liệu pháp khác nếu cần thiết hay chưa, và có tiến triển tốt hay không; người phạm tội có hiểu rõ tính chất nguy hiểm và hậu quả của tội phạm nay không; kế hoạch tái hòa nhập của người phạm tội có khả thi hay không. Sau khi cân nhắc tất cả những thông tin này, Ủy ban sẽ mở một phiên điều trần với người phạm tội để quyết định có trả tự do sớm cho người đó hay không, cần áp dụng điều kiện gì[17].
Theo khuyến nghị của Hội đồng châu Âu 2003 về trả tự do có điều kiện, cần bảo đảm đối xử công bằng đối với người phạm tội. Để có thể làm được điều này, cơ quan có thẩm quyền quyết định việc trả tự do sớm phải được cung cấp đầy đủ thông tin về người phạm tội, về thái độ của người đó đối với việc trả tự do sớm cũng như các điều kiện cần áp dụng đối với người đó.* Cần tạo điều kiện để người phạm tội được trình bày quan điểm trong quá trình quyết định trả tự do sớm. Cần quy định cơ chế thay đổi các điều kiện thử thách và khi phát hiện thấy có vi phạm thử thách thì có thủ tục để đánh giá vi phạm một cách khách quan, công bằng. Không nên hủy quyết định trả tự do sớm đối với trường hợp vi phạm nhỏ nhặt. Trường hợp bắt buộc phải hủy quyết định thì nên cân nhắc trừ thời gian mà người được trả tự do đã chịu thử thách. Cuối cùng, cần có thủ tục khiếu nại để xem xét lại các quyết định có liên quan đến trả tự do sớm có điều kiện[18].
7.* Cơ quan giám sát
Để theo dõi, hỗ trợ người được trả tự do sớm có điều kiện cũng như những người phạm tội được xử lý bằng các chế tài giáo dục tại cộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới thành lập ra cơ quan giám quản (probation office). Những cơ quan này sẽ phối hợp với các tổ chức phi chính phủ và các tình nguyện viên để giám sát và hỗ trợ người đang chịu thử thách.
Ở Nhật Bản, văn phòng giám quản (probation office) là những cơ quan chịu trách nhiệm đối với việc xử lý người phạm tội dựa vào cộng đồng, bao gồm cả buộc phải chịu thử thách (tương tự như án treo của ta) và trả tự do sớm có điều kiện. Các văn phòng này được đặt tại 50 thành phố nơi có các tòa án quận và chịu sự chỉ đạo của Bộ Tư pháp. Các cán bộ làm việc cho những văn phòng này gồm có ba loại: (1) các cán bộ giám quản của Chính phủ, (2) các cán bộ giám quản tình nguyện, và (3) các cơ sở hỗ trợ phục hồi (tổ chức xã hội). Cán bộ giám quản của Chính phủ là công chức nhà nước. Tuy nhiên, thông thường những cán bộ này không trực tiếp tiến hành mọi công việc mà giới thiệu người bị buộc phải chịu thử thách hoặc người được trả tự do sớm có điều kiện cho cán bộ giám quản tình nguyện. Cán bộ giám quản tình nguyện có vai trò như trợ lý của cán bộ giám quản của Chính phủ và là người trực tiếp giám sát người phải chịu thử thách hoặc người được trả tự do sớm. Đây là những công dân bình thường, tham gia vào hoạt động phục hồi đối với người phạm tội trên tinh thần nhân đạo và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm[19].*
II/ Áp dụng biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam
Chủ trương giảm hình phạt tù, “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” đã được nêu rõ trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Đối với người chưa thành niên phạm tội, chủ trương này cần được ưu tiên thực hiện vì hệ thống chế tài áp dụng đối với đối tượng này hiện nay vẫn còn nặng tính giam giữ. Trong số sáu chế tài có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội[20], chỉ có hai chế tài có thể áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và cả hai chế tài này đều là chế tài tước tự do, đó là đưa vào trường giáo dưỡng hoặc tù có thời hạn[21]. Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù chính là một giải pháp cho phép sớm đưa người chưa thành niên phạm tội bị xử phạt tù quay trở về với cộng đồng để phục thiện, sửa chữa lỗi lầm với sự giúp đỡ và giám sát của gia đình, các cơ quan, đoàn thể xã hội.
Miễn chấp hành có điều kiện phần còn lại của hình phạt tù không phải là giải pháp duy nhất nhằm hạn chế áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, nhưng có thể nói là giải pháp khả thi và thích hợp nhất để thực hiện mục tiêu này trong tình hình hiện nay. Việc hạn chế áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội có thể được thực hiện bằng nhiều cách trong đó việc sửa đổi Điều 74 để rút ngắn mức thời hạn phạt tù áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội; sửa đổi Điều 76 để mở rộng phạm vi miễn chấp hành (vô điều kiện) phần còn lại của hình phạt tù và giảm thời hạn chấp hành hình phạt đối với những đối tượng này. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình phạm tội của người chưa thành niên ngày càng gia tăng với những diễn biến phức tạp, tỷ lệ tái phạm khá cao như hiện nay, bài toán đặt ra là phải làm sao một mặt thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong xử lý, giáo dục người chưa thành niên phạm tội, nhưng mặt khác vẫn phải bảo đảm sự an toàn cho cộng đồng và bảo đảm hiệu quả giáo dục, phục hồi đối với những đối tượng này. Việc sửa đổi, bổ sung Điều 74 và Điều 76 của Bộ luật Hình sự (BLHS) mới chỉ giải quyết được một phần của bài toán là chính sách nhân đạo của các đối tượng này, nhưng không có cơ chế ràng buộc, theo dõi sau khi người chưa thành niên được trả tự do, vì vậy khó có thể bảo đảm phòng ngừa tái phạm. Trong khi đó, biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù vừa cho phép người đang chấp hành hình phạt tù được sớm quay trở lại với cộng đồng, vừa đặt ra các điều kiện chặt chẽ để thử thách người phạm tội, có tác dụng giúp đỡ người đó sống có trách nhiệm, có kỷ luật, tăng quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội.* Do vậy, biện pháp này sẽ có hiệu quả cao trong việc phòng ngừa tái phạm và vì thế có thể nói là một câu trả lời phù hợp cho bài toán này.* Việc áp dụng biện pháp này không chỉ góp phần đạt được mục tiêu của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là “giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”[22] mà còn thực sự vì lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, phù hợp với nguyên tắc chỉ áp dụng hình phạt giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội như biện pháp sau cùng, trong thời gian thích hợp ngắn nhất mà CƯQTE và các chuẩn mực quốc tế khác đã nêu ra.
Mặc dù theo quy định của BLHS hiện hành, đã có rất nhiều con đường để miễn giảm hình phạt đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù như miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc giảm thời hạn chấp hành hình phạt, việc bổ sung biện pháp này vẫn hết sức cần thiết. Theo quy định tại Điều 57 và Điều 76 BLHS, người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn chấp hành toàn bộ hoặc phần còn lại của hình phạt trong ba trường hợp là lập công, mắc bệnh hiểm nghèo và đại xá hoặc đặc xá. Theo các quy định này, phạm vi người chưa thành niên được miễn chấp hành toàn bộ hoặc một phần hình phạt còn hạn chế.* Hơn nữa, việc miễn chấp hành hình phạt không kèm theo điều kiện ràng buộc nào sẽ không thể giải quyết được các nguyên nhân, điều kiện phạm tội và do vậy, khó có hiệu quả trong việc phòng ngừa tái phạm, bảo đảm sự an toàn cho cộng đồng. Còn việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có thái độ cải tạo tốt. Người chưa thành niên được giảm thời hạn chấp hành hình phạt vẫn ở trong trại giam. Do vậy, việc bổ sung biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù sẽ cho phép mở rộng phạm vi người chưa thành niên được sớm quay trở về với cộng đồng, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả giáo dục, phục hồi, phòng ngừa tái phạm với những đối tượng này.
Bên cạnh đó, biện pháp này còn khuyến khích gia đình, các đoàn thể xã hội, cộng đồng tham gia vào việc giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên bị kết án, do vậy rất phù hợp với chủ trương xã hội hoá công tác thi hành án của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời phù hợp với truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc ta. Thực tiễn giáo dục người chưa thành niên phạm tội ở nhiều nước trên thế giới đã cho thấy rằng, người chưa thành niên phạm tội được sửa chữa lỗi lầm trong ngay môi trường sống của mình, với sự quan tâm, giúp đỡ của bà con láng giềng, các đoàn thể xã hội sẽ có khả năng phục hồi tốt hơn, hiệu quả bền vững hơn.**
*Việc bổ sung biện pháp này vào BLHS không gây xáo trộn lớn trong hệ thống pháp luật hiện hành, trước mắt chỉ cần sửa đổi, bổ sung hai điều luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) là Điều 269 Thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt và Điều 309 *Chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp, giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt. Hiện nay, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2008 - 2011 của Quốc hội. Trong thời gian BLTTHS chưa được sửa đổi, có thể quy định vấn đề này trong Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS hoặc có thể lùi thời điểm có hiệu lực của điều luật này cho đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS có hiệu lực.
Cơ chế thi hành biện pháp này về cơ bản tương tự như thi hành án treo và sẽ được quy định chi tiết trong một Nghị định của Chính phủ. Nghị định này sẽ quy định cụ thể về các điều kiện áp dụng, các biện pháp giám sát, hỗ trợ người chưa thành niên trong thời gian thử thách, trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án quyết định chấm dứt thời hạn thử thách hoặc buộc phải chấp hành hình phạt tù. Quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan cũng sẽ được quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Đồng thời, hiện nay Dự án Luật Thi hành án hình sự cũng đang trong quá trình xây dựng. Cơ chế thi hành biện pháp này cũng sẽ được nghiên cứu và quy định trong Dự án Luật này. Sau một thời gian thực hiện, cùng với việc nhân rộng các mô hình tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật như mô hình tại Hải Phòng, đánh giá, rút kinh nghiệm, biện pháp này có thể được áp dụng đối với cả người bị kết án phạt tù đã thành niên khi sửa đổi cơ bản, toàn diện BLHS. *
*
Bảo vệ trẻ em nói chung và người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Mặc dù vậy, thời gian qua, tình hình phạm tội của người chưa thành niên vẫn tiếp tục gia tăng với những diễn biến phức tạp. Làm thế nào để có thể tăng cường hiệu quả và tính bền vững của công tác giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên phạm tội là một câu hỏi mà không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà cả những cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em cũng như những người tbam gia vào hoạt động phòng, chống tội phạm đã trăn trở từ lâu và bài viết này là một trong những gợi ý với mong muốn giải đáp được phần nào câu hỏi đó. Dĩ nhiên, đưa ra giải pháp mới chỉ là một phần của vấn đề, biến giải pháp thành hiện thực mới là mấu chốt. Việc bổ sung biện pháp này sẽ đặt ra những khó khăn không nhỏ về vấn đề kinh phí, nhân sự, khả năng huy động sự tham gia của cộng đồng, của các tổ chức xã hội v.v.. Tuy nhiên, những khó khăn đó đều có thể được khắc phục dần dần thông qua việc lựa chọn một lộ trình cải cách phù hợp, huy động sức mạnh của cộng đồng và xã hội, và đặc biệt cần có sự tin tưởng vào quyết tâm cải tạo của người chưa thành niên./.
*
*
*
******
*
*
******
*

[1] Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, Điều 37 và Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh), Quy tắc 28.

[2] Tuy nhiên, ở một số quốc gia, chẳng hạn như* Canađa, ngoài phóng thích còn có một số biện pháp trả tự do có điều kiện khác như* cho phép vắng mặt tạm thời, giám sát bắt buộc.
Xem http://www.ajic.mb.ca/volumel/chapter12.html#1

[3] Kanokpun Kalyanasuta, Atchara Suriyawong, The Criminal Justice System and community-based Treatment of Offenders in Thailand http://www.unafei.or.jp/english/pdf/PDF_rms/no61/ch17.pdff

[4] Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Điều 2.2.

[5] Sđd, Điều 2.4.

[6] Sđd, Điều 2.2.

[7] Xem Luật Phóng thích 2002 của New Zealand, Điều 28, Luật Cải tạo và Trả tự do có điều kiện của Canađa, Điều 16.

[8] Xem Luật Phóng thích 2002 của New Zealand, Điều 14.

[9] Sđd.* Xem thêm Bộ luật về phạm nhân và người được phóng thích của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Điều 2.40.
[10] http://www.ag.gov.au/www/agd/agd.nsf/Page/Federaloffenders_Paroleconditions



[11] http://www.ajic.mb.ca/volumel/chapter12.html#1

[12] Ministry of Justice Japan, Criminal Justice in Japan, tr 42.

[13] Sđd, chú dẫn số 3.

[14] Sđd, chú dẫn số 5.

[15] United Nations Office on Drugs and Crime, Handbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment, 2007, 54-5.

[16] Sđd, chú dẫn số 4.

[17] http://www.duhaime.org/LegalResources/CriminalLaw/LawArticle-97/Parole-In-Canada.aspx

[18] United Nations Office on Drugs and Crime, Handbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment, 2007, 54-5.

[19] Sđd, chú dẫn số 12.

[20] Bao gồm hai biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng, cùng bốn hình phạt là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn.

[21] Lý do là bởi vì đối tượng này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, mà đối với những tội phạm này thì luật không quy định các chế tài không tước tự do.* Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên cho thấy, có những trường hợp người chưa thành niên phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý, không nhận thức được đầy đủ hậu quả mà hành vi của mình có thể gây ra, ví dụ như cắt trộm đường dây điện thoại. Cũng có những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nhưng lần đầu, do thiếu những kỹ năng sống cần thiết như kỹ năng kiềm chế nóng giận, giải quyết xung đột một cách hoà bình v.v.

[22] Điều 69 Bộ luật Hình sự 1999.


Ths. Nguyễn Thanh Trúc

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của tòa án nhân dân


Tòa án nhân dân có chức năng xét xử các vụ án hành chính, thế nhưng không phải tất cả các loại việc đều có thể khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính, ví dụ: một công chức do có hành vi…bị kỷ luật giáng chức, không đồng ý, công chức A khởi kiện. Vậy, Tòa án có thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của ông A hay không? Bên cạnh đó, mỗi cấp Tòa án có thẩm quyền khác nhau khi giải quyết vụ án hành chính. Ví dụ:…Trong nội dung bài học này, chúng ta sẽ tìm hiểu thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân gồm: thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp Tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ.

I. Thẩm quyền xét xử hành chính theo loại việc

Thẩm quyền xét xử hành chính theo loại việc: Những loại việc nào sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính.

Theo quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính, những khiếu kiện sau đây sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:


1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức

Chủ thể quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý chủ yếu thông quan quyết định hành chính, hành vi hành chính. Ví dụ: quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, quyết định thu hồi đất, hành vi giải quyết việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hành vi tịch thu tang vật vi phạm hành chính, hành vi khám người để ngăn chặn vi phạm hành chính…

Quyết định hành chính, hành vi hành chính là khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, theo quy định của Luật Tố tụng hành chính khác với quyết định hành chính, hành vi hành chính là đối tượng nghiên cứu của Luật Hành chính.

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính:


a. Quyết định hành chính: là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. (Khoản 1 Điều 3)

Như vậy, để có thể là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quyết định hành chính phải thỏa mãn các đặc điểm sau đây:


- Thứ nhất, về hình thức, quyết định hành chính phải thể hiện bằng văn bản

Quyết định hành chính được hiểu là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, được thể hiện dưới những hình thức nhất định tác động đến các đối tượng nhất định trong quá trình hành pháp.

Vì thế, quyết định hành chính được ban hành có thể thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như quyết định bằng miệng, bằng tín hiệu, ám lệnh, văn bản…Nhưng chỉ có những quyết định hành chính được ban hành dưới hình thức văn bản mới là đối tượng xét xử của Toà án. Đây là hình thức thể hiện có nhiều ưu thế về tính chính xác và tính ổn định cao so với các hình thức khác.


- Thứ hai, quyết định đó phải là quyết định hành chính cá biệt

Căn cứ vào tính chất pháp lý, quyết định hành chính gồm 3 loại: Quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm và quyết định cá biệt, trong đó, chỉ có quyết định hành chính cá biệt mới là đối tượng xét xử của Toà án.

Quyết định cá biệt hay còn gọi là quyết định áp dụng quy phạm pháp luật là quyết định được ban hành trên cơ sở các quyết định chủ đạo và quy phạm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có những trường hợp được ban hành trên cơ sở quyết định cá biệt của cơ quan cấp trên.

Quyết định chủ đạo và quyết định quy phạm chứa đựng những quy tắc xử sự chung, tác động đến đối tượng rộng lớn. Quyết định cá biệt là những quyết định chỉ áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể để giải quyết các trường hợp các biệt, cụ thể và có hiệu lực đối với các đối tượng cụ thể trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vì thế quyết định cá biệt trực tiếp xâm hại đến lợi ích của cá nhân, tổ chức.

Tài phán hành chính có mục đích là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước sự xâm hại của các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Các quyết định chủ đạo và quyết định quy phạm thường không đụng chạm trực tiếp đến các quyền lợi của người dân. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước ban hành quyết định chủ đạo và quyết định quy phạm nhằm giải quyết những vấn đề chung theo yêu cầu quản lý Nhà nước và vì lợi ích chung của cộng đồng. Nếu cho phép khiếu kiện cả văn bản pháp quy sẽ dẫn đến nguy cơ làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý. Do đó, theo quy định của pháp luật , chỉ quyết định cá biệt mới thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án.

Ví dụ: Ngày 4/3/2009, doanh nghiệp tư nhân Tam Đảo bị Đội Quản lý thị trường 6B bắt giữ lô hàng không xuất đủ hóa đơn chứng từ đủ hóa đơn chứng từ nên bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 6 xử phạt 70 triệu đồng theo Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT-BCT-BTC-BCA ), trong vòng 24 giờ sau khi kiểm tra hàng hóa, doanh nghiệp không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hàng hóa, nên số hàng trên bị coi là hàng lậu.

Giám đốc doanh nghiệp không đồng ý cho rằng những quy định trong TT 12/2007 là không hợp lý nên ngày 13/8/2009 đã nộp đơn ra Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kiện Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, yêu cầu Tòa án hủy Thông tư 12/2007.

Ngày 19/8, Tòa án nhân dân TP HCM đã ra thông báo bác đơn kiện của doanh nghiệp này với lý do yêu cầu trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Trên thế giới hầu hết các quốc gia đều quy định Toà án hành chính chỉ giải quyết khiếu kiện đối với quyết định hành chính cá biệt như Đức, Trung Quốc, Thuỵ Điển. Tại Điều 35 Luật Tố tụng hành chính Cộng hoà Liên Bang Đức quy định đối tượng bị kiện trước Toà án hành chính “…là chỉ thị, quyết định hay biện pháp do một cơ quan hành chính ban hành điều chỉnh một trường hợp (vụ, việc) cá biệt…”, Điều 2 Luật Tố tụng hành chính Trung Quốc quy định: “…mọi công dân, pháp nhân hay tổ chức có quyền khởi kiện đối với các văn bản hành chính cụ thể của một cơ quan hành chính nhà nước hay một công chức hành chính..”; pháp luật Thuỵ Điển cũng quy định: Đối tượng xem xét của các Toà án hành chính là các quyết định hành chính, tức là quyết định cụ thể, do cơ quan hành chính công ban hành. Bên cạnh đó, pháp luật của một số nước cho phép Toà án kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản pháp quy trong quá trình giải quyết khiếu kiện đối với một quyết định hành chính cá biệt như Pháp với quan niệm rằng: việc có mặt cơ quan tài phán hành chính ngoài mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân còn chính là để quản lý, bảo đảm tính hợp pháp trong hoạt động của nó.

- Thứ ba, trước đây, theo quy định của PLTTGQCVAHC năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006, quyết định hành chính là đối tượng xét xử của Toà án phải là quyết định hành chính lần đầu.

Quyết định hành chính lần đầu là quyết định hành chính được cơ quan nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành lần đầu trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình.

Việc quy định quyết định hành chính lần đầu nhằm phân biệt với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và quyết định giải quyết khiếu nại lần hai theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo. Chỉ các quyết định hành chính lần đầu mới thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án.

Ví dụ: ….

Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về đặc điểm này, trên thực tế có trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại chứa đứng nội dung giải quyết vụ việc và cá nhân, tổ chức không đồng ý với nội dung này, thì có khởi kiện được hay không?

- Thứ tư, quyết định hành chính không thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.

Để đảm bảo bí mật nhà nước trong lĩnh vực phòng, an ninh, ngoại giao, các quyết định hành chính liên quan đến bí mật nhà nước trong những lĩnh vực này sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chính phủ sẽ quy định danh mục các quyết định hành chính này.

Nhằm điều hành hoạt động trong các cơ quan nhà nước, các chủ thể quản lý nhà nước ban hành các quyết định mang tính chất nội bộ. Các quyết định hành chính này có đặc điểm là đối tượng bị áp dụng và chủ thể ra quyết định có mối quan hệ về mặt công tác, được dùng nhằm duy trì hoạt động nội bộ trong bộ máy nhà nước. Để đảm bảo hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, các quyết định hành chính này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ví dụ: quyết định điều động, luân chuyển cán bộ, công chức, quyết định chuyển công tác, quyết định bổ nhiệm cán bộ, công chức…

- Thứ năm, quyết định hành chính phải là quyết định trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án có thể do cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp ban hành) hoặc các cơ quan nhà nước khác không phải là cơ quan hành chính nhà nước (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Bảo hiểm xã hội…), nhưng phải là quyết định trong hoạt động quản lý hành chính, tức là quyết định trong hoạt động chấp hành – điều hành.

Lưu ý: Tên gọi của quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Trước đây, theo quy định của PLTTGQCVAHC, quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng 1 lần đối với 1 hoặc 1 số đối tượng cụ thể… Với quy định này đã dẫn đến sự tranh luận không thống nhất về tên gọi của quyết định hành chính. Chỉ có những quyết định nào mang được ban hành dưới hình thức là “quyết định” mới là đối tượng khởi kiện hành chính, những văn bản có nội dung là quyết định nhưng ban hành dưới hình thức khác (thông báo, công văn…) thì không là đối tượng khởi kiện. Hiện nay, theo quy định của Luật tố tụng hành chính về quyết định hành chính đã giải quyết vấn đề trên: Quyết định hành chính “là văn bản…”. Như vậy, không phân biệt tên gọi, nếu 1 văn bản thỏa mãn những đặc điểm trên đều có thể là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện hành chính.

b. Hành vi hành chính : Bên cạnh quyết định hành chính, hành vi hành chính cũng là đối tượng khiếu kiện hành chính.

Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Hành vi hành chính có các là đối tượng khởi kiện hành chính có các đặc điểm sau:

- Thứ nhất, về chủ thể thực hiện hành vi hành chính:

Có thể là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó.

Như vậy, hành vi hành chính có thể là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan khác và hành vi của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó.

+ Các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật đó là thực hiện hành vi được giao. Ngược lại nếu cơ quan đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì đó là không thực hiện hành vi được giao. Do vậy, hành vi hành chính không chỉ có ở các cá nhân mà có cả ở các cơ quan hành chính. Ví dụ: Điều 163 Luật doanh nghiệp quy định nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan đăng ký kinh doanh, đó là: “Giải quyết việc đăng ký kinh doanh và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.” Như vậy, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp hoặc không cấp giấy đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp đó là hành vi của cơ quan này. Hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai: Luôn là hành vi của cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ

+ Hành vi của người có thẩm quyền trong cơ quan, nhà nước: Là hành vi của cá nhân cụ thể thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, khi xử phạt hành vi vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản xử phạt thành 2 bản và trao cho người vi phạm 1 bản. Nếu người có thẩm quyền không lập biên bản, hành vi này có thể là hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện hành chính.

- Thứ hai, về hình thức thể hiện, hành vi hành chính có thể là hành vi thể hiện dưới dạng hành động hoặc hành vi không hành động.

+ Hành vi hành chính thể hiện dưới dạng hành động: Là vi thực hiện nhiệm vụ, công vụ trái với quy định của pháp luật.

Ví dụ: Hành vi tháo dỡ công trình xây dựng trái phép vượt quá đối tượng vi phạm.

+ Hành vi hành chính thể hiện dưới dạng hành động: Hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: Công ty TNHH đã kiện Cục hải quan thành phố Hồ Chí Minh về hành vi không cấp tờ khai nhập khẩu làm công ty không bán được xe, gây thiệt hại cho công ty.

- Thứ ba, hành vi hành chính là hành vi nhằm thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Như vậy, phạm vi để xác định hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện hành chính với các hành vi khác của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó là hành vi trong phạm vi nhiệm vụ, công vụ được giao.

Trước đây, PLTTGQCVAHC chỉ quy định những hành vi hành chính nào được liệt kê tại Điều 11 mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính. Vì thế, có những hành vi mặc dù là hành vi hành chính nhưng không thể kiện được, ví dụ: hành vi khám người, khám tang vật vi phạm hành chính, hành vi xử phạt vi phạm hành chính… Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, những hành vi hành chính thỏa mãn 2 đặc điểm trên đều có thể là đối tượng khởi kiện hành chính trừ những hành vi hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức, ví dụ: hành vi

Hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai chỉ là hành vi của cán bộ, công chức (cá nhân), không có hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức

Lưu ý:

- Kiện quyết định hành chính hay hành vi hành chính (bổ sung sau).

Nhận xét:

So với PLTTGQCVAHC, Luật TTHC đã mở rộng đối tượng khởi kiện và Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.


2. Khiếu kiện danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Đây loại việc đặc biệt, đối tượng khởi kiện là danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân để chọn ra những đại biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Quyền được bầu cử là quyền Hiến định được quy định tại Hiến pháp năm 1992. Để đảm bảo cho người dân được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, PLTTGQCVAHC sửa đổi bổ sung năm 2006 đã quy định Toà án có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội và danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Khi công dân không có tên mình trong danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, sau khi khiếu nại và được giải quyết nhưng không đồng ý có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền.

Do tính chất đặc thù của khiếu kiện này thủ tục giải quyết được quy định riêng trong Chương XI của Luật.

Mở rộng: Đối tượng khởi kiện theo thủ tục tố tụng hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính chỉ là danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Ở một số quốc gia trên thế giới, những hoạt động bầu cử, kết quả bầu cử…có thể là đối tượng khởi kiện tại Tòa hành chính, ví dụ như Ucraina, vào tháng 2/2010, cựu tổng thống, Bà Yulia Timoshenko, đã kiện Ủy ban bầu cử trung ương (SIK) về kết quả bầu cử tổng thống tại Tòa án hành chính Tối cao (VASU).

3. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống.

Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình.

Quyết định kỷ luật buộc thôi việc thực chất là quyết định hành chính mang tính chất nội bộ của cơ quan, tổ chức áp dụng đối với công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức mình. Tuy nhiên do tính chất đặc biệt của quyết định này: là hình thức kỷ luật cao nhất cao đối với công chức và ảnh hưởng đến quyền có việc làm – quyền được Hiến pháp bảo vệ - của công dân nên quyết định này là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Để có thể là đối tượng khởi kiện hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc có những đặc điểm sau đây:

- Thứ nhất, về hình thức của quyết định: phải bằng văn bản.

- Thứ hai, tên gọi của quyết định kỷ luật buộc thôi việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: phải là quyết định.

Theo quy định của pháp luật cán bộ, công chức, khi kỷ luật buộc thôi việc, phải thể hiện dưới hình thức là quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

- Thứ ba, người bị kỷ luật: công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống.

+ Người bị kỷ luật phải là công chức.

Công chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 4).

Ngoài ra, Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định những người là công chức. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Nghị định 06/2010/NĐ-CP về những người là công chức, công chức có thể là những người làm việc trong cơ quan Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Bộ, cơ quan ngang bộ, các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập, cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, huyện…


Khi những người này bị kỷ luật buộc thôi việc, có thể khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính.

Trước đây, theo quy định của PLTTGQCVAHC và PL cán bộ, công chức năm 2002, cán bộ và viên chức đều thuộc phạm vi điều chỉnh của PL cán bộ, công chức. Khi bị kỷ luật dưới hình thức buộc thôi việc, cán bộ, công chức, viên chức có thể khởi kiện ra Tòa án. Hiện nay, theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2010, có 4 hình thức kỷ luật đối với cán bộ: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm, không áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với cán bộ. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Viên chức năm 2011, có 4 hình thức kỷ luật đối với viên chức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc (Khoản 1 Điều 52). Như vậy, nếu viên chức bị kỷ luật buộc thôi việc, sẽ không thể khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính. Ví dụ: Giảng viên trường Đại học Luật bị kỷ luật buộc thôi việc, giáo viên trường THPT bị hiệu trưởng ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc…

+ Đối với công chức giữ chức vụ: Công chức bị kỷ luật buộc thôi việc phải giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống.

Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Nghị định 06/2010/NĐ-CP, công chức có thể giữ các chức vụ trong các cơ quan khác nhau từ trung ương đến địa phương như Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Phó Tổng kiểm toán Nhà nước, Thứ trưởng, Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, Giám đốc Sở... Những công chức trên đều có thể bị kỷ luật với hình thức buộc thôi việc, tuy nhiên chỉ có công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống khi bị kỷ luật buộc thôi việc mới có thể khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính. Như vậy, nếu thứ trưởng bị kỷ luật buộc thôi việc sẽ không thể khởi kiện theo thủ tục tố tụng hành chính. Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn những chức danh tương đương với Tổng cục Trưởng.

Theo quy định của Nghị định 178/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007 của Chính phủ, các tổ chức của Bộ gồm có: Vụ, Văn Phòng, Thanh tra, Cục, Tổng cục và tương đương, cơ quan địa diện của Bộ ở địa phương và ở nước ngoài (Khoản 1 Điều 15). Trong đó, Cục, Tổng cục và tương đương, và cơ quan đại diện không nhất thiết phải có. Như vậy, tương đương tổng cục trưởng có thể là các chức danh: Chánh Văn phòng Bộ, Chánh Thanh tra Bộ, Cục trưởng, Vụ trưởng.

Tổng cục và tổ chức tương đương thuộc Bộ gồm: Vụ, Văn phòng, Thanh tra, tổ chức nhà nước trực thuộc. Có những Bộ trong cơ cấu tổ chức không có Tổng cục chỉ có Cục (Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ - Cục văn thư và Lưu trữ, Bộ Công thương…)cũng có những Bộ Tổng Cục. Ở những Bộ trong cơ cấu tổ chức có Tổng Cục và Cục (Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn- Tổng cục lâm nghiệp, Tổng Cục Thủy Sản, Tổng Cục Thủy Lợi; Cục Thú y, Cục Chăn Nuôi, Cục Bảo vệ thực vật; Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê; Bộ Tài chính – Tổng cục thuế, Tổng Cục Hải quan…).

- Thứ tư, hình thức kỷ luật: buộc thôi việc

Theo quy định của pháp luật cán bộ công chức, có 6 hình thức kỷ luật hành chính đối với cán bộ, công chức trong quá trình thi hành công vụ: cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức và buộc thôi việc. Chỉ khi quyết định kỷ luật với hình thức buộc thôi việc mới là đối tượng khiếu kiện hành chính. Đối với các hình thức kỷ luật khác như cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, công chức chỉ có quyền khiếu nại mà không được quyền khởi kiện ra Toà án đối với các quyết định kỷ luật trên.

4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

Đây là loại việc đặc biệt có đối tượng khởi kiện là một quyết định giải quyết khiếu nại.

Theo quy định của Luật cạnh tranh năm 2004, cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ việc cạnh tranh là cơ quan Quản lý cạnh tranh (Cục Quản lý cạnh tranh) và Hội đồng cạnh tranh (cụ thể là Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh).

+ Vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật cạnh tranh, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, gồm hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh.

+ Cơ quan Quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ điều tra các vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

+ Hội đồng quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh.

± Hành vi cạnh tranh không lành mạnh: là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng, bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; Xâm phạm bí mật kinh doanh; Ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân biệt đối xử của hiệp hội; Bán hàng đa cấp bất chính.

Ví dụ: Khuyến mãi không đúng của Bột nêm massan:Theo một công bố của Ban Điều tra và Xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thì Công ty Massan đã đưa ra chương trình khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại TP. Hồ Chí Minh.

Cụ thể, công ty này đưa ra chương trình khuyến mại bột canh, người tiêu dùng có thể đem gói bột canh dùng dở đến đổi lấy sản phẩm Massan. Hành vi này được quy định là một trong các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh: “Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử, nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại đang sử dụng do doanh nghiệp khác sản xuất”. Công ty Unilever Bestfood đã khiếu nại về chương trình khuyến mại này tới Sở Thương mại TP.Hồ Chí Minh. Thanh tra Sở đã lập biên bản và yêu cầu đình chỉ chương trình khuyến mại.

- Vietell kiện Mobifone thực hiện chương trình “Đổi sim mạng khác lấy sim Mobifone có 230.000 đồng trong tài khoản”. Cụ thể, khách hàng có sim của mạng khác (cả Viettel) còn tài khoản dưới 15.000 đồng và hạn sử dụng, có thể đổi miễn phí 1 sim MobiZone của Mobifone có sẵn tài khoản 50.000 đồng, mỗi tháng tặng thêm 15.000 đồng trong 12 tháng.

± Hành vi hạn chế cạnh tranh: là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế.

Ví dụ: Cty xăng dầu hàng không VN (Vinapco). Vinapco bị điều tra vì đã thực hiện hai hành vi hạn chế cạnh tranh theo điều 14 Luật cạnh tranh là áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng và lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng. DN bị áp đặt các điều kiện bất lợi và có giao kết hợp đồng bị hủy bỏ với Vinapco là Cty hàng không cổ phần Pacific Airlines (PA) nay là Cty cổ phần hàng không Jestar Pacific Airlines (JPA). Ngày 14/4/2009, Hội đồng xử lý vụ việc ra quyết địnnh xử lý vụ việc. Theo quyết định này, Vinapco bị xử lý vì đã thực hiện hai hành vi hạn chế cạnh tranh theo Điều 14 Luật cạnh tranh và bị xử phạt với mức 0,05% doanh thu của Cty này trong năm 2007.

Khi có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh (cả hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh), Cục quản lý cạnh tranh có trách nhiệm điều tra sơ bộ để xác định có hay không có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không. Nếu không có dấu hiệu vi phạm, việc điều tra sẽ bị đình chỉ. Khi có dấu hiệu vi phạm, nếu là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Cục trưởng Cục quản lý cạnh tranh sẽ ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Khi không đồng ý với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Cục trưởng, cá nhân, tổ chức có thể khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công thương.

Nếu hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh thuộc hành vi hạn chế cạnh tranh, vụ việc sẽ được chuyển đến Hội đồng cạnh tranh. Hội đồng cạnh tranh sẽ lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Tuỳ từng trường hợp, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh sẽ ra quyết định mở phiên điều trần hay trả hồ sơ cho Cục quản lý cạnh tranh để điều tra bổ sung hay ra quyết định giải quyết. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra quyết định bằng cách bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số. Trong trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Hội đồng cạnh tranh.

Như vậy, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc thẩm quyền giải quyền của Toà án là: quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc Cạnh tranh và quyết định giải quyết khiếu nại Bộ trưởng Bộ Công thương đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh.

Hạn chế: Một số vướng mắc về loại khiếu kiện này

BÀI VIẾT TƯƠNG TỰ:
BÀI VIẾT MỚI HƠN :
Chuẩn bị xét xử vụ án hành chính - 06.05
Khái quát Luật Tố tụng hành chính - 06.05
BÀI VIẾT TRƯỚC ĐÓ :
Luật Tố tụng hành chính 2010 sửa đổi Luật đất đai 2003, có gì sai không? - 25.04
Một số thuật ngữ của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 - 09.04
Thời điểm Luật tố tụng hành chính có hiệu lực - Cửa tòa đã rộng mở! - 06.04
Thời điểm Luật tố tụng hành chính có hiệu lực - Ngậm ngùi quy định mới về thời hạn giám đốc thẩm án hành chính - 03.04
Đề cương giới thiệu Luật Tố tụng hành chính 2010 - 26.03

Thẩm quyền xét xử hành chính theo cấp và theo lãnh thổ của TAND
II. Thẩm quyền xét xử hành chính theo cấp và theo lãnh thổ của TAND

Việc nghiên cứu thẩm quyền xét xử hành chính theo cấp và theo lãnh thổ là việc xác định vụ án hành chính cụ thể thuộc về cấp nào (cấp huyện, cấp tỉnh), địa phương nào (huyện nào, tỉnh nào?).

Ví dụ: 1 người từ cư trú ở TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai lên thành phố HCM thăm bạn, qua tuyến đường Điện Biên Phủ (đoạn thuộc quận Bình Thạnh), bị chiến sĩ cảnh sát giao thông của Đội số 4 phòng cảnh sát giao thông đường bộ - Công an Tp Hồ Chí Minh xử phạt 200.000 đ vì hành vi chạy xe lấn tuyến. Không đồng ý với mức phạt trên, người này muốn khởi kiện ra Tòa án nào? Tòa án ở Biên Hòa hay Hồ Chí Minh (thẩm quyền theo lãnh thổ), Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hay TAND Quận 3 (thẩm quyền theo cấp Tòa án)

Để giải quyết vấn đề trên chúng ta cần làm rõ: - Phân định thẩm quyền xét xử hành chính giữa Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án nhân dân cấp tỉnh. (Xác định những khiếu kiện hành chính nào thì thuộc quyền thụ lý của Toà án nhân dân cấp huyện, những khiếu kiện nào thuộc quyền thụ lý của Toà án nhân dân cấp tỉnh)

- Phân định thẩm quyền giữa các TAND địa phương cụ thể trong cùng một cấp. (Khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện, quận, tỉnh, thành phố nào?)

Thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân khác với thẩm quyển giải quyết vụ việc dân sự và vụ án hình sự. Thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự theo lãnh thổ căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn hoặc nơi có bất động sản, thẩm quyền theo cấp Tòa án căn cứ vào giá trị tài sản tranh chấp. Thẩm quyền theo lãnh thổ trong giải quyết vụ án hình sự là nơi thực hiện hành vi phạm tội, thẩm quyền theo cấp căn cứ vào khung hình phạt cao nhất của tội phạm.

Trong tố tụng hành chính, việc xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo cấp và theo lãnh thổ không thể tách rời nhau.

1. Thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Toà án cấp huyện) (Điều 29)

a) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó.

+ Theo cấp: quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, ví dụ: quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân quận, huyện, xã, phường, thị trấn, Chi cục thuế, Công an quận, huyện, phường xã, thị trấn… hoặc những người có thẩm quyền trong các cơ quan trên.

+ Theo lãnh thổ: quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở huyện, quận, thị xã nào, Tòa án ở đó sẽ có thẩm quyền giải quyết.

Ví dụ: A cư trú ở Quận 4, kinh doanh ở Phường Hiệp Bình Chánh quận Thủ Đức, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình Chánh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi kinh doanh băng đĩa lậu 3.000.000 đồng. Không đồng ý, ông A khởi kiệnà Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân Quận TĐ.

Ông B cư trú thánh phố Biên Hòa, Đồng Nai sử dụng xe tải để vận chuyển gỗ từ Bình Thuận về Đồng Nai. Trên đường vận chuyển về Đồng Nai, ông bị Công an huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận kiểm tra và lập biên bản tạm giữ xe vì có hành vi vi phạm hành chính. Ông A đã khiếu nại đến Công an huyện Tánh Linh, không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, ông A khởi kiện. Trong trường hợp này, Toà án nhân dân huyện Tánh Linh là Toà án có thẩm quyền giải quyết.

b) Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án đối với công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó;

+ Thẩm quyền theo cấp Tòa án: Đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc, Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ giải quyết các quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống, ví dụ: Quyết định kỷ luật buộc thôi việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn;

+ Cơ quan, tổ chức của người đứng đầu đã ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc ở đâu, Tòa án nhân dân huyện đó sẽ giải quyết.

Ví dụ: Ông A cư trú ở Quận 5 thành phố HCM là trường phòng Tư pháp Quận 4, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 4 ra quyết định kỷ luật buộc thôi việcà Tòa án nhân dân Quận 4 có thẩm quyền giải quyết.

c) Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án.

Cơ quan lập danh sách cử tri theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân là Ủy ban nhân dân cấp xã. Vì thế, Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện này là Tòa án nhân dân cấp huyện có Ủy ban nhân dân xã lập danh sách cử tri bị khởi kiện.

Ví dụ: Kiện danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội của Ủy ban nhân dân phường 15 Quận 4 thành phố Hồ Chí Minh sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 4.

Như vậy, Toà án nhân dân cấp huyện xét xử các khiếu kiện hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án. Ở đây, dấu hiệu về nơi cư trú của người khởi kiện không được quan tâm.

2. Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Toà án cấp tỉnh) (Điều 30)

a) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính;

- Đây là những quan nhà nước ở trung ương. Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án, Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, vì thế, các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở trung ương sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

- Để tạo điều kiện thuận lợi cho người khởi kiện khi kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước ở trung ương, Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân cấp tỉnh nơi người khởi kiện cư trú hoặc làm việc nếu người khởi kiện là cá nhân, hoặc nơi người khởi kiện có trụ sở (nếu người khởi kiện là tổ chức)

+ Cơ quan ngang Bộ:

Thanh tra Chính phủ
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ủy ban dân tộc
Văn phòng Chính phủ
+ Cơ quan thuộc Chính phủ
Ban Quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Thông tấn xã Việt Nam
Đài tiếng nói Việt Nam
Đài truyền hình Việt Nam
Học viện Chính trị - hành chính quốc gia HCM
Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam
Viện khoa học xã hội Viện Nam
+ Văn phòng Chủ tịch nước
+ Văn phòng Quốc hội

Ví dụ: Ông A cư trú ở tỉnh Vĩnh Phúc có hành vi gây mất trật tự tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự của Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội nên bị Chủ tọa phiên tòa xử phạt 1.000.000 đồng. Không đồng ý, ông A khởi kiện. Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (nơi ông A cư trú) vì ông A kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tọa phiên tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao (người có thẩm quyền trong Tòa án nhân dân tối cao)

Công ty TNHH B có trụ sở tại tỉnh Ninh Bình làm hồ sơ đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư (trụ sở tại Thủ đô Hà Nội) cấp giấy phép đầu tư dự án có vốn đầu tư 700 tỷ đồng nhưng không được phê duyệt đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

b) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại điểm a khoản này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong các cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính;

Đối với những quyết định hành chính, hành vi hành chính của những cơ quan chức năng thuộc các cơ quan nhà nước ở trung ương tại Khoản a và những người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó, thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người khởi kiện có cư trú, làm việc hoặc trụ sở.

Theo quy định tại Theo quy định của Nghị định 178/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007 của Chính phủ, các tổ chức của Bộ gồm có: Vụ, Văn Phòng, Thanh tra, Cục, Tổng cục và tương đương, cơ quan địa diện của Bộ ở địa phương và ở nước ngoài (Khoản 1 Điều 15), như vậy, cơ quan chức năng thuộc Bộ gồm: Thanh tra, Cục, Tổng Cục.

Ví dụ:

- Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ra quyết định xử phạt công ty cổ phần V có trụ sở chính tại quận 1 thành phố Hồ Chí Minh về hành vi phân phối chứng khoán không đúng quy định với mức tiền phạt là 70.000.000 đồng. Không đồng ý, công ty V khởi kiện. Ủy ban Chứng Khoán có trụ sở tại thủ đô Hà Nội. Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông D cư trú ở tỉnh Trà Vinh làm đơn yêu cầu Cục Sở Hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ - có trụ sở tại thủ đô Hà Nội) cấp bằng độc quyền sáng chế đối với máy đào hút bùn nhưng không được giải quyết vì cho rằng máy có kết cấu kỹ thuật giống với chiếc máy đã được bảo hộ. Không đồng ý, ông D khởi kiện. Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án tỉnh nơi ông D cư trú: Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Như vậy, các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở Trung ương sẽ do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người khởi kiện cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết.

Trong trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính;

Ví dụ:

c) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó;

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó, ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, công chức của Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở, chuyên viên của Sở, Cục thuế, Cục Hải quan, Chi cục Quản lý thị trường, Chi cục thú y, …sẽ do Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

- Quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước tỉnh nào sẽ do Tòa án nhân dân tỉnh đó giải quyết.

Ví dụ:

- Công ty TNHH TMDVDL Kim Long bị Cục trưởng Cục thuế ra quyết định truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp từ năm 2001 đến 2003 là 1 tỷ đồng. Không đồng ý, công ty khởi kiện. Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông B cư trú ở tỉnh Long An có mảnh đất tại Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh, bị Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thu hồi và hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất trên để điều chỉnh lại cho phù hợp với diện tích thực tế (do bị trừ hành lang bảo vệ đường bộ). Không đồng ý ông B khởi kiện, Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

d) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án. Trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú tại Việt Nam, thì Toà án có thẩm quyền là Toà án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh;

Đây là quy định mới được bổ sung trong Luật Tố tụng hành chính.

Cơ quan đại diện thực hiện chức năng đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế tiếp nhận và thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại phù hợp với quy định của pháp luật. Cơ quan đại diện ngoại giao theo Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2009 là đại sứ quán (Khoản 1 Điều 4).

Khi khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan này (đại sứ đặc mệnh toàn quyền, đại sứ, công sứ, tham tán công sứ, tham tán, bí thư thứ nhất, bí thư thứ hai, bí thư thứ ba, tùy viên).

Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gồm: cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế. Như vậy, chỉ có quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện ngoại giao (là đại sứ quán) và người có thẩm quyền trong cơ quan này mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Ví dụ:

- Công ty A có trụ sở tại Hoa Kỳ làm đơn xin thành lập Văn phòng đại diện tại Việt Nam nhưng không được cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở Hoa Kỳ chứng nhận và hợp pháp hóa lãnh sự nên đã khởi kiện. Thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà B là Việt Kiều Pháp làm hồ sơ đề nghị Đại sứ quán VN tại Pháp cấp giấy miễn thị thức nhưng không được giải quyết, bà khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Hà Nội.

đ)Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương mà người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án;

- Đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc, Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ giải quyết theo thủ tục sơ thẩm quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương.

Ví dụ:

+ Cấp tỉnh: quyết định kỷ luật buộc thôi việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở, Cục trưởng cục thuế…

+ Bộ: Bộ trưởng

+ Ngành trung ương:

- Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kỷ luật buộc thôi việc làm việc sẽ có thẩm quyền giải quyết.

Ví dụ:

+ Quyết định kỷ luật buộc thôi việc của Bộ trưởng Bộ Công thương đối với chuyên viên D là công chức Vụ Pháp chế Bộ Công thương tại thủ đô Hà Nội sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thủ đô Hà Nội.

+ Bà M (cư trú tại tỉnh Đồng Nai) là chuyên viên Văn phòng II Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại thành phố Hồ Chí Minh bị Bộ trưởng Bộ KH và ĐT ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc, không đồng ý, bà khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

+ Ông N (cư trú ở Quảng Nam) là thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng bị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc, không đồng ý, ông khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh thành phố Đà Nẵng.

+ Bà C cư trú ở Đồng Nai, là chuyên viên Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương bị Giám đốc Sở ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc, nếu không đồng ý, bà khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Chỉ căn cứ vào Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kỷ luật buộc thôi việc làm việc, không quan tâm cơ quan người ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc ở đâu.

e) Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án

Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương và Hội đồng Cạnh tranh. Đây là cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở trung ương, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người khởi kiện cư trú, làm việc (cá nhân) hoặc có trụ sở (tổ chức) sẽ giải quyết.

Ví dụ:

Công ty H có trụ sở tại thành phố Hải Phong bị Cục trưởng Cục Quản lý Cạnh tranh xử phạt 50.000.000 về hành vi bán hàng đa cấp bất chính và, không đồng ý, Công ty H khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công thương yêu cầu hủy quyết định trên, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định bác yêu cầu khiếu nại. Công ty H khởi kiện. Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

g) Trong trường hợp cần thiết, Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện.

Tòa án nhân dân tối cao sẽ hướng dẫn vấn đề này.

Thẩm quyền xét xử hành chínhtheo cấp và theo lãnh thổ có thể được xác định theo nguyên tắc sau:

- Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ giải quyết quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống cùng phạm vi địa giới hành chính của Tòa án.

+ Danh sách cử tri của cơ quan lập danh sách cử tri thuộc huyện mình

- Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ giải quyết:

+ Quyết định hành chính, hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở trung ương: Tòa án nơi người khởi kiện cư trú, làm việc hoặc có trụ sở.

+ Quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan nhà nước cấp tỉnh, Bộ, ngành trung ương: Tòa án nơi người bị kỷ luật làm việc.

+ Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh: Tòa án nơi người khởi kiện cư trú, làm việc hoặc có trụ sở.

Ví dụ: Vụ việc ông Cù Huy Hà Vũ kiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ, vì sao Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trả lại đơn khởi kiện?

Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền (khoản 2 Điều 32)

“Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Toà án cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chánh án Toà án cấp tỉnh giải quyết.

Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Toà án cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Toà án cấp tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân tối cao giải quyết”


Xác định thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện
3. Xác định thẩm quyền trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện (Điều 31)

Đối tượng khởi kiện hành chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức…

Theo quy định của pháp luật, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm bởi các đối tượng trên bằng con đường khiếu nại hoặc khởi kiện, đối với khiếu kiện danh sách cử tri bắt buộc phải khiếu nại trước khi khởi kiện. Như vậy, cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ có thể lựa chọn chon mình 1 trong 2 con đường trên. Một trong những nội dung bắt buộc trong đơn khởi kiện là: Cam đoan không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (điểm g khoản 1 điều 105).

Thế nhưng, có những trường hợp, cá nhân, cơ quan, tổ chức đồng thời vừa khiếu nại đến cơ quan hành chính, vừa khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền. Ví dụ: A bị Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh ra quyết định thu hồi đất, không đồng ý, ngày 30/7/2011, A khiếu nại lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, ngày 01/8/2011, A khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh. Trong trường hợp này, A đã đồng thời vừa khiếu nại, vừa khởi kiện. Thẩm quyền sẽ theo sự lựa chọn của A theo quy định tại khoản 1 Điều 31:

“Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết theo sự lựa chọn của người khởi kiện”

(Tòa án Tối cao hướng dẫn quy định này)


Bài giảng nhằm mục đích học tập môn luật tố tụng hành chính. Vui lòng không sử dụng cho mục đích khác. Bản quyền thuộc về giảng viên Nguyễn Hoàng Yến.


2. Thẩm quyền của Tòa án
Loại việc: Điều 28

- Thẩm quyền theo cấp Tòa án

-->Quy tắc

Quyết định hành chính, hành vi hành chính do CQNN, người có thẩm quyền trong CQNN từ cấp huyện trở xuống thì do cấp huyện giải quyết, lập danh sách cử tri thì luôn luôn huyện

Quyết định hành chính, hành vi hành chính do CQNN, người có thẩm quyền trong CQNN từ cấp lớn hơn cấp huyện thì thuộc thẩm quyền của TÁ cấp tỉnh

- Thẩm quyền theo lãnh thổ

+Qđ hành chính, hành vi hành chính của CQNN, người có thẩm quyền trong CQNN từ cấp địa phương trở xuống (tỉnh, huyện, xã) thì khởi kiện tại TÁ cùng trụ sở với cơ quan hoặc người có thẩm quyền ban hành ra Qđ này

+QĐ hành chính, hành vi hành chính ở cấp TW:

*cá nhân khởi kiện: tại nơi cư trú, nơi làm việc của cá nhân,

* Tổ chức: nơi tổ chức này có trụ sở chính ở đâu

TH không có nơi cú trú, không có nơi làm việc, trụ sở làm việc không ở VN, thì kiện tại nơi cơ quan ra QĐ hay có hành vi

QĐ kỷ luật: kiện nơi người đó đang làm việc

(Giảng viên Lê Việt Sơn tóm tắt)

Vinh quang lớn nhất đời người không phải là không bao giờ vấp ngã, mà là biết đứng dậy sau những lần vấp ngã.
Dien Dan Luat Hoc - CafeLuat.com - Diễn đàn Luật học

Ðề: 2. Thẩm quyền của Tòa án
- Quyết định hành chính (K1, Đ3 Luật TTHC) là văn bản (ko văn bản ko khởi kiện được) do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

Quyết định hành chính là quyết định (pháp lệnh quy định không chặt chẽ) bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.

- Chỉ có QĐ cá biệt thôi (chủ đạo và quy phạm không khởi kiện được) à tại sao: chủ trương đường lối chính sách, quy phạm chung để triên khai đường lối chính sách, phạm vi tác động lớn, đối tượng tác động chưa xác định, trong khi đó QĐ cá biệt tác động trực tiếp đến cá nhân và tính liên tục, thông suốt của quản lý hành chính NN (quy phạm và chủ đạo nào cũng bị kiện thì ko thể quản lý xã hội được)

- QĐ hành chính bị khởi kiện phải là QĐ hành chính lần đầu

+ QĐ hành chính lần đầu là gì? Là QĐ được ban hành lần đầu tiên để giải quyết vụ việc cụ thể, cần phân biệt QĐ hành chính lần đầu với QĐ giải quyết KN lần 1 và 2,

Trừ mục 2 Nghị quyết 04

- QĐ hành chính bị khiếu kiện phải thuộc 1 trong các loại việc được quy định tại Điều 28 Luật TTHC


Vinh quang lớn nhất đời người không phải là không bao giờ vấp ngã, mà là biết đứng dậy sau những lần vấp ngã.

Ðề: 2. Thẩm quyền của Tòa án
Quyết định hành chính lần đầu ?

2. Quyết định hành chính là đối tượng khiếu kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính

Quyết định hành chính là đối tượng khiếu kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính phải là quyết định hành chính lần đầu. Ngoài những quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành lần đầu trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình, thì những quyết định hành chính sau đây cũng được coi là quyết định hành chính lần đầu:

a)Sau khi ban hành quyết định hành chính nhưng chưa có khiếu nại, cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã ban hành quyết định hành chính đó ban hành một quyết định hành chính khác thay thế quyết định hành chính trước, thì quyết định mới được ban hành này là quyết định hành chính lần đầu;

b)Sau khi ban hành quyết định hành chính nhưng chưa có khiếu nại,

cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã ban hành quyết định hành chính đó ban hành một quyết định hành chính khác sửa đổi, bổ sung một số điểm của quyết định hành chính trước, thì phần của quyết định hành chính trước không bị sửa đổi, huỷ bỏ và quyết định sửa đổi, bổ sung một số điểm của quyết định hành chính trước đều là quyết định hành chính lần đầu;

Cần lưu ý là đối với hai trường hợp a và b trên đây nếu các quyết định sau được ban hành sau khi cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã nhận được đơn khiếu nại và các quyết định đó là kết quả giải quyết khiếu nại, thì các quyết định sau là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà không phải là quyết định hành chính lần đầu;

c)Sau khi Toà án nhân dân có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính ra quyết định huỷ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính bị khởi kiện; giao cho cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước giải quyết lại vụ việc đối với phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính đã bị huỷ và kết quả giải quyết lại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã ra quyết định hành chính mới, thì quyết định mới này là quyết định hành chính lần đầu;

d) Sau khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai ra quyết định giải quyết khiếu nại và người có quyết định hành chính đã ra quyết định hành chính sửa đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính đó, thì quyết định hành chính sửa đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trước và phần của quyết định hành chính trước không bị sửa đổi đều là quyết định hành chính lần đầu.

Ví dụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T, quận H, thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông A với hình thức xử phạt chính là phạt tiền 400.000 đồng và hình thức xử phạt bổ sung là buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra. Ông A khiếu nại đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính này và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T đã ra quyết định giải quyết khiếu nại kết luận giữ nguyên quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình.

Ông A khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận H, thành phố H. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận H ra quyết định giải quyết khiếu nại kết luận nội dung khiếu nại là đúng một phần đối với quyết định về hình thức xử phạt bổ sung và yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T sửa đổi quyết định đó.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mới sửa đổi hình thức xử phạt bổ sung thay buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra bằng buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra.

Trong trường hợp này quyết định xử phạt vi phạm hành chính trước với hình thức xử phạt chính là phạt tiền 400.000 đồng và quyết định xử phạt vi phạm hành chính sau với hình thức xử phạt bổ sung là buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T đều là quyết định hành chính lần đầu.

Trích mục 2 Nghị quyết 04