Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Trí Hảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Trí Hảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Sửa Hiến pháp đừng bít lối vào TPP



KỲ 1: CÁC NƯỚC CHE ĐẬY, VIỆT NAM LẠI...TRƯNG RA

TS. Võ Trí Hảo
Nguồn: Tuần Việt Nam,
đăng ngày 26/9/2013,
truy cập đường link gốc tại đây

Các quốc gia thành viên WTO đã khôn khéo phân biệt đối xử với DN ngoại quốc bằng các hàng rào thuế quan tinh vi. Trong khi đó, Việt Nam lại trưng bày "vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước" ra vị trí mặt tiền, rồi ra sức thuyết phục họ công nhận mình là nền kinh tế thị trường.

Gia nhập WTO là một cột mốc quan trọng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên sau 7 năm, dường như chúng ta chưa khai thác được hết các lợi ích mà tư cách thành viên WTO mang lại. Bởi hầu hết các nước của WTO, bao gồm cả G7, chưa công nhận VN là nền kinh tế thị trường, bất chấp nỗ lực thuyết phục của lãnh đạo cấp cao của VN trong các cuộc tiếp xúc song phương[1] .


Để kết luận một nền kinh tế vận hành theo quy luật thị trường không, các quốc gia phân tích nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố khuôn khổ pháp lý cho nền kinh tế vận hành, mà đầu tiên là Hiến pháp.

Chỉ cần nhìn vào Điều 15 Hiến pháp 1992 hiện hành (và Điều 51 Khoản 1 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992), sẽ thấy VN phân loại về mặt pháp lý các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế ngay từ trong Hiến pháp và tuyên bố "kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo". Như vậy, ai giữ vai trò chủ đạo, ai thắng trong cuộc chơi không còn được quyết định bởi quy luật cạnh tranh tự do của thị trường nữa, mà quyết định bởi nhà nước.






Để "tuân thủ" Hiến pháp, nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. Muốn vậy, nhà nước không còn cách nào khác là phải ưu tiên, ưu đãi các DNNN. Nếu không, ai thắng ai thua trong cuộc cạnh tranh sẽ do thị trường quyết định.

Thị trường thì khách quan, vô cảm, nên DNNN có thể thắng, có thể thua, có thể chủ đạo hoặc không chủ đạo. Nếu DNNN và thành phần kinh tế nhà nước, vào một lúc nào đó, không giữ được vai trò chủ đạo thì nhà nước đã... vi phạm Hiến pháp.

Bởi vậy, mặc dù không còn duy trì một đạo luật riêng cho DNNN mà thành phần này được điều chỉnh chung trong Luật doanh nghiệp 2005, nhưng ưu tiên ưu đãi vẫn có vô vàn cách. Chẳng hạn, bảo lãnh vay vốn, ưu đãi đất đai, luân chuyển công chức cao cấp giữ các chức vụ quản lý trong DNNN thông qua đó loby chính sách cho các DN này. Rồi bắt buộc các hội thảo sử dụng ngân sách nhà nước phải mua vé máy bay của Vietnam Airlines cho đại biểu tham gia, v.v...

Điều đặc biệt, dường như DNNN không được phép phá sản theo quy luật thị trường, bởi phá sản thì cơ quan chủ quản có thể bị kỷ luật, nên họ phải cứu bằng mọi cách.

Vậy có thể dùng Hiến pháp ra lệnh cho quy luật kinh tế? Và quy luật kinh tế có phải là đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp?

Ông trời đâu có vâng lệnh người; các quy luật kinh tế khách quan đâu có phải là đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp và cũng không biết "giữ thể diện" cho nhà nước với những scandal như Vinashines, Vinalines...

Lùi xa hơn một chút, từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992, luôn khẳng định "vai trò chủ đạo" của thành phần kinh tế tập thể, nhưng nó đã teo tóp từ lâu. Trong thời kỳ bao cấp, cả dân tộc dành 100% nguồn lực cho kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, nhưng hai thành phần kinh tế này có giữ vai trò chủ đạo được không?

Hãy nhìn vào khả năng bảo toàn vốn, tìm kiếm lợi nhuận, đóng góp cho GPD, góp phần cho tình trạng tham nhũng, khả năng tạo công ăn việc làm giữa hai khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, sẽ dự đoán được quy luật kinh tế đang vận động theo hướng nào.



Bảng: Đóng góp của kinh tế nhà nước tại TPHCM giảm dần đều theo thời gian



Thành phần2006-2010201120122013
Kinh tế nhà nước26,6%18,7%18,0%17,3%
Kinh tế ngoài nhà nước50,6%58,3%58,5%58,9%
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài22,8%23,0%23,5%23,8%

(Nguồn: Cục Thống kê TPHCM, dẫn theo Văn Nam, Đóng góp kinh tế nhà nước giảm dần, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 22/9/2013).



Đáng tiếc, tư duy dùng Hiến pháp ra lệnh cho quy luật kinh tế vẫn được tiếp tục duy trì, lựa chọn làm Phương án 1 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Điều 51 Khoản 1 viết: "Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo" (khái niệm "kinh tế tập thể" đã biến mất - VTH).

Quyền lập hiến thuộc về Quốc hội Việt Nam, nhưng quyền công nhận nền kinh tế thị trường thuộc về các quốc gia khác. Mỗi chủ thể đều có ý chí riêng của mình.

Tuy nhiên, điều đáng bàn ở đây, là nghệ thuật che đậy sự phân biệt đối xử. Các quốc gia thành viên WTO đã khôn khéo phân biệt đối xử với DN ngoại quốc bằng các hàng rào thuế quan tinh vi. Trong khi đó, Việt Nam lại trưng bày "vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước" ra vị trí mặt tiền, rồi ra sức thuyết phục họ công nhận mình là nền kinh tế thị trường.

Đặc biệt, hiện nay Việt Nam đang tích cực đàm phán gia nhập TPP, thì việc trưng bày "vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước" trong Hiến pháp, sẽ làm cho Việt Nam gặp không ít bất lợi.

(Còn tiếp)



TS. Võ Trí Hảo (Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM)



[1] Hiện nay chỉ có ASEAN và Ucraina, Nga, Trung Quốc, Venezuela, Nam Phi công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, các thành viên chủ chốt của WTO vẫn chưa công nhận.





------------------------

 Sửa Hiến pháp đừng bít lối vào TPP:

KỲ 2: "Ai cho tiền thì bảo vệ người ấy"


TS. Võ Trí Hảo

Nguồn: Tuần Việt Nam,

đăng ngày 26/9/2013,

truy cập đường link gốc tại đây








Còn chức năng đứng về người lao động lại càng khó tròn vai, bởi "ăn cây nào rào cây ấy", ai cho tiền hoạt động thì bảo vệ người ấy; Công đoàn thời kỳ Đổi mới chưa bao giờ đứng ra tổ chức đình công để đấu tranh quyết liệt quyền lợi cho công nhân.



BTA có rồi, nhưng Quy chế ưu đãi phổ cập (GSP)[1] không thành hiện thực có căn nguyên từ Hiến pháp.

1. Một lý do được chỉ ra là quyền tự do gia nhập hội đã có, nhưng quyền tự do lập hội cho người lao động lại chưa có.

Trong quá trình đàm phán Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA), đoàn đàm phán đã nỗ lực yêu cầu Hoa Kỳ dành cho phía VN Quy chế ưu đãi phổ cập (GSP). Quy chế này nhằm khuyến khích sự phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển bằng cách ưu đãi miễn thuế nhập khẩu 5.000 mặt hàng[2] (trong đó chủ yếu là các hàng thủ công nghiệp, mây tre, cói ngô...).

Ban đầu, phía Hoa Kỳ không chấp nhận, vì quy chế GSP đòi hỏi quốc gia hưởng quy chế GSP phải bảo đảm cho người lao động, tầng lớp công nhân quyền tự do lập hội, bao gồm quyền tự do lập công đoàn.

Công đoàn, quyền tự do lập hội, công nhân, đình công, quyền lợi người lao động
Theo báo Lao động, từ năm 1995 đến 7/2013, có hơn 5.000 cuộc đình công, có cuộc huy động đến 10.000 NLĐ, không có cuộc nào do Công Đoàn lãnh đạo. Ảnh minh họa

Quyền tự do lập công đoàn, giúp "công nhân, người lao động tụ tập với nhau, tự lập hội để nói chuyện với giới chủ", để giúp họ tự bảo vệ mình, mà không phải trông chờ từ nhà nước. Theo ông Nguyễn Đình Lương - nguyên Trưởng đoàn đàm phán BTA, quyền tự do thành lập công đoàn là một trong những chuẩn mực quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), mà Việt Nam là một thành viên[3] .

Trước nỗ lực của phía Việt Nam, cuối cùng phía Hoa Kỳ ghi nhận vào BTA: "phía Hoa Kỳ sẽ xem xét dành GSP cho Việt Nam". Thế nhưng, "thắng lợi" của nỗ lực này không có cơ hội thành hiện thực. Vì phía Hoa Kỳ chưa xem xét GSP chừng nào quyền tự do lập công đoàn của người lao động Việt Nam chưa được bảo đảm, chừng nào Điều 10 Hiến pháp còn duy trì vai trò độc tôn của Công đoàn Lao động Việt Nam (viết hoa, số ít).

Sự độc tôn của công đoàn như vậy là đã điều chỉnh quyền lập hội, lập công đoàn của người lao động theo "cơ chế mậu dịch" của thời kỳ bao cấp. Nghĩa là chỉ có quyền "gia nhập, hoặc không gia nhập, đóng phí hay không đóng phí" mà thôi, chứ không còn quyền chọn lựa ai đó đại diện cho mình.

Ngắn gọn, người lao động không có quyền lập công đoàn, mà chỉ có quyền gia nhập một tổ chức mà Điều 10 Hiến pháp đã thiết kế sẵn.

Người lao động tưởng như đã thoát được "gạo mậu dịch" song còn những thứ "mậu dịch, bao cấp" khác thì có lẽ vẫn chưa thể.

2. Duy trì tính chất "á nhà nước" của Công đoàn nhằm giải quyết những vấn đề gì gì?

Hiện nay, Công đoàn Lao động Việt Nam hưởng quy chế rất đặc biệt, quy chế á nhà nước.

Theo quy chế này, Công đoàn Lao động đứng về phía nhà nước, giúp nhà nước quản lý người lao động, thực hiện một số hành động nhân danh quyền lực nhà nước (ban hành thông tư liên tịch), đặc biệt hưởng ngân sách, giống như một cơ quan nhà nước.

Dùng ngân sách như cơ quan nhà nước, nhưng lại không phải là cơ quan nhà nước. Bởi ở mặt khác, tổ chức này lại khoác chiếc áo của một tổ chức xã hội, nên không cần được sự ủy thác của toàn dân thông qua bầu cử phổ thông, không có nghĩa vụ trả lời chất vấn trước Quốc hội, không phải chịu trách nhiệm trước những người đóng thuế.

3. Chức năng, vai trò thay đổi qua từng thời kỳ lịch sử

Trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, Công đoàn đã có công lao lớn giúp Đảng giành được chính quyền, giúp công nhân đấu tránh chống lại sự bóc lột của giới chủ, đặc biệt là chống lại giới chủ người Pháp. Điều đó cần được tri ân.

Bước sang thời kỳ bao cấp, khái niệm "giới chủ" không còn, mà người sử dụng lao động chính là chính quyền dưới hình thức hợp tác xã, xí nghiệp nhà nước, cơ quan nhà nước. Nên Công đoàn thời kỳ này thay đổi chức năng, không còn nhiệm vụ đấu tranh chống lại người sử dụng lao động, mà phải cổ vũ, ủng hộ người sử dụng lao động, trở thành cánh tay nối dài giúp nhà nước quản lý người lao động.

Bước sang thời kỳ đổi mới, "giới chủ" tái xuất hiện, nhưng chức năng, vị thế của Công đoàn vẫn được tiếp tục duy trì như thời kỳ bao cấp. Công đoàn mới không được quyền thiết lập, công đoàn truyền thống không ra tay giúp công nhân. Những xung đột với giới chủ không còn phương thức hòa bình để giải quyết, công nhân đi đến đình công tự phát ở Bình Dương, Hải Phòng trong những năm 2008-2009, có nơi leo thang đến đập phá nhà máy giống như thời Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Tính chất á nhà nước, làm cho chức năng quản lý nhà nước của Công đoàn thiếu chính danh, thiếu trách niệm giải trình trước Quốc hội và toàn dân. Còn chức năng đứng về người lao động lại càng khó tròn vai, bởi "ăn cây nào rào cây ấy", ai cho tiền hoạt động thì bảo vệ người ấy; Công đoàn thời kỳ Đổi mới chưa bao giờ đứng ra tổ chức đình công để đấu tranh quyết liệt quyền lợi cho công nhân.

Duy trì vai trò độc tôn, hạn chế quyền tự do lập công đoàn của người lao động không chỉ làm ảnh hưởng quyền lợi của tầng lớp thợ thuyền, mà về mặt đối ngoại lại cản trở hội nhập quốc tế.

Trước thềm đàm phán TPP, nhân dịp sửa đổi Hiến pháp, chúng ta nên xem xét cải tổ cơ chế "bao cấp bảo vệ người lao động", cải tổ hệ thống "cửa hàng mậu dịch bốn cấp" (Công đoàn ở TW, tỉnh, huyện, cơ sở). Sao cho những người lao động thực sự được bảo vệ quyền lợi chính đáng.



TS Võ Trí Hảo (Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM)

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Mô hình tài phán hiến pháp Hoa Kỳ – Võ Trí Hảo

1. Cơ sở của mô hình tài phán hiến pháp Hoa Kỳ
Cơ sở hiến pháp - hai đường ranh giới cứng
Hiến pháp Hoa Kỳ được sinh ra với chức năng là một bản văn giới hạn quyền lực nhà nước. Sự giới hạn này được xác định thông qua hai đường ranh giới cứng (xem sơ đồ).*
Sơ đồ: ranh giới cứng [1] được định ra trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Đường ranh giới mềm được xác lập bởi các văn bản luật và dưới luật.
Một hành vi xâm phạm vào đường ranh giới mềm thường thuộc đối tượng của “bảo pháp” (tài phán thông thường), còn hành vi xâm phạm hai đường ranh giới cứng là đối tượng của “tài phán hiến pháp”.
Cơ sở lý luận
Hoa Kỳ là một quốc gia áp dụng triệt để nguyên tắc tam quyền phân định và kìm chế đối trọng. Theo nguyên tắc này, không có cơ quan nhà nước nào là “tối cao” hay “có quyền lực nhà nước cao nhất” mà đều nằm trong thế cân bằng, đối trọng với nhau. Chính vì vậy, bất kỳ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp nào có hành vi xâm phạm đến hiến pháp đều bị xem xét lại. Và founding fathers (tạm dịch: các vị cha lập quốc) đã trao quyền tài phán hiến pháp cho cơ quan tư pháp với lập luận:
- So với hoạt động lập pháp và hoạt động hành pháp, hoạt động tư pháp ít khi xâm hại đến hiến pháp nhất;
- Cần phải trao quyền này cho các cơ quan tư pháp để đủ sức đối trọng lại với “quyền nắm giữ túi tiền thiên hạ” [2] của Nghị viện và “quyền nắm giữ thanh gươm thiên hạ” [3] của Chính phủ. Nếu không thì nhánh quyền lực tư pháp sẽ quá yếu và thế cân bằng, đối trọng bị phá vỡ, nguyên tắc tam quyền phân định bị đe dọa; tự do của nhân dân bị đe dọa;
- Các thẩm phán có đòi hỏi về học vấn, thâm niên công tác, phẩm chất trung thực, tính chuyên nghiệp, tính độc lập cao hơn những người hoạt động trong các cơ quan hành pháp, lập pháp.
Cơ sở thực tiễn ***
Cơ sở thực tiễn cho mô hình tài phán hiến pháp Hoa Kỳ là vụ án John Marbury chống Madison. Vụ án này lần đầu tiên khẳng định quyền tài phán hiến pháp của tòa án thường [4] trên thực tế – cái quyền mà tòa án thường của các nước rất khó thực hiện được. Chính điều đó dẫn đến việc Hoa Kỳ không cần thiết lập một tòa án hiến pháp chuyên biệt như các quốc gia khác mà vẫn sử dụng tòa án thường để thực hiện chức năng tài phán hiến pháp.
2. Cơ quan thực hiện tài phán hiến pháp
Do áp dụng triệt để nguyên tắc tam quyền phân định nên các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và chỉ có các quan hệ đối trọng với nhau mà không có quan hệ tham vấn, thống nhất ý kiến giữa ba cơ quan này như trong mô hình cộng hòa đại nghị thường thấy. Đặc điểm trên dẫn đến việc Hoa Kỳ chỉ áp dụng “tài phán sau” được thực hiện bởi tòa án mà không áp dụng “xem xét khả năng vi hiến” [5] như trong mô hình Hội đồng Hiến pháp của Pháp.
Hiến pháp Hoa Kỳ quy định tòa án tối cao không có quyền xét xử sơ thẩm, nên quyền thụ lý vụ án hiến pháp phải thuộc về tòa cấp dưới. Tại thời điểm diễn ra vụ án Marbury chống Madison, trong hệ thống tòa án cấp dưới của Hoa Kỳ chưa có các tòa chuyên trách nên thẩm quyền giải quyết vụ án hiến pháp được trao cho tòa án thường.
Về sau, Nghị viện Hoa Kỳ đã thiết lập thêm các tòa chuyên trách như tòa vị thành niên, tòa về thuế… bên cạnh tòa án thường nhưng người Mỹ vẫn không thành lập tòa hiến pháp riêng bởi lẽ, hiến pháp không điều chỉnh một lĩnh vực chuyên biệt như tòa về thuế, tòa về người người vị thành niên… mà hiến pháp điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực, các quan hệ xã hội. Mặt khác, tòa án không có bổn phận xem xét những cái trừu tượng, những cái trong tương lai mà tòa án chỉ tìm ra chân lý thông qua những vụ việc cụ thể đã xảy ra (người Mỹ có châm ngôn: chân lý luôn mang tính cụ thể). Do đó, tòa án Hoa Kỳ chỉ xem xét vụ án hiến pháp qua hành vi xâm phạm cụ thể có thể phát sinh từ nhiều lĩnh vực khác nhau [6]. Vì hai lý do này mà người Mỹ vẫn tiếp tục trao quyền tài phán hiến pháp cho tòa án ở tất cả các cấp. Việc xem một vụ án nào đó có phải là vụ án hiến pháp hay không không dựa vào việc nó được giải quyết ở tòa án nào, mà dựa trên cơ sở khi công dân nại rằng quyền của anh ta được quy định trong hiến pháp đã bị xâm hại.
3. Thẩm quyền của tòa án trong quá trình tài phán hiến pháp
Thẩm quyền thụ lý vụ án
ở một số quốc gia, một đảng phái chính trị, một nhóm lợi ích nào đó đều có thể kiện một đạo luật của nghị viện là bất hợp hiến trên cơ sở đối chiếu các quy phạm của đạo luật đó với các quy phạm của hiến pháp mà không cần viện dẫn đến một hành vi xâm phạm quyền hiến định của một thể nhân cụ thể. Tòa án Hoa Kỳ không có thẩm quyền thụ lý các vụ án hiến pháp mang tính trừu tượng như vậy, mà chỉ có thẩm quyền khi có một vụ việc cụ thể trong đó các quyền hiến định bị xâm hại trên thực tế.
Phạm vi ra quyết định của tòa án
Tòa án Hoa Kỳ có thể tuyên bố một hành vi của tổng thống [7], hay của bất kỳ cơ quan lập pháp, hành pháp hay người thi hành công vụ ở liên bang hay tiểu bang là bất hợp hiến và sẽ không có giá trị pháp lý. Đặc biệt, tòa án Hoa Kỳ có quyền xem xét lại tính hợp hiến của một đạo luật do Nghị viện liên bang ban hành. Nhưng khác với tòa tài phán hiến pháp ở một số quốc gia khác, tòa án Hoa Kỳ không tuyên bố hủy bỏ đạo luật bất hợp hiến mà chỉ từ chối áp dụng nó trong một vụ án hiến pháp cụ thể. Tuy nhiên, sự từ chối áp dụng này ở một quốc gia coi trọng án lệ như Hoa Kỳ sẽ có tác dụng như việc tuyên bố hủy bỏ đạo luật bất hợp hiến đó của Nghị viện.
4. Thủ tục tài phán hiến pháp
Thủ tục tài phán hiến pháp theo mô hình Hoa Kỳ hoàn toàn diễn ra tại tòa án thường. Vì vậy, nó giống như thủ tục tố tụng thông thường. Bất kỳ vụ án nào từ lĩnh vực dân sự, kinh tế hành chính, hình sự đều có thể dẫn đến vụ án hiến pháp nếu như công dân nại ra rằng quyền của anh ta được ghi nhận trong hiến pháp đã bị xâm hại.
Điểm khác biệt về mặt thực tế của thủ tục tố tụng của vụ án hiến pháp là nó thu hút sự chú ý của dư luận và có thể gây ảnh hưởng về mặt chính trị, nên việc kháng cáo lên Tòa án tối cao dễ dàng được chấp nhận hơn.
[1] Sở dĩ nó là ranh giới cứng vì nó “bất biến một cách tương đối, độc lập với chính trị” qua thời gian. Nếu ranh giới cứng thứ nhất bị xâm hại, có nghĩa là bộ máy nhà nước bị nhân dân thu hồi những quyền tối cần thiết đối với sự tồn tại của mình, ví dụ như bị tước mất quyền thu thuế. Điều này dẫn đến các chức năng thông thường của nhà nước không thể thực hiện được nữa, dẫn đến việc giải tán bộ máy nhà nước và trật tự hiến pháp cũng không còn. Nếu ranh giới cứng thứ hai bị xâm phạm, các quyền cơ bản (có nội dung gần trùng với nhân quyền) không còn được bảo đảm, mục đích thiết lập nên “một cộng đồng hạnh phúc, thịnh vượng” của nhân dân không* đạt được và cũng dẫn đến trật tự hiến pháp không còn.
Tổng thể các quyền được chia làm hai phần. Bên phải là phần biểu thị quyền nhân dân được làm, bên trái là phần quyền nhân dân đã“trao”cho nhà nước. Đường ranh giới phân định hai phần này cần phải thích ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội, với từng giai đoạn khác nhau. Đây chính là đường ranh giới mềm. Nhằm bảo đảm đường ranh giới mềm được điều chỉnh một cách kịp thời, linh hoạt, quyền điều chỉnh ranh giới được trao cho nhiều cấp cơ quan nhà nước khác nhau.
[2] Gọi như vậy vì trọng tâm của nghị viện tư sản ban đầu là giải quyết các vấn đề về thuế và phân bổ ngân sách quốc gia.
[3] Gọi như vậy vì Tổng thống Hoa Kỳ là Tổng tư lệnh tối cao của quân đội Hoa Kỳ.
[4] Trong mô hình Hoa Kỳ, tất cả các tòa án của liên bang (tạm gọi là tòa án thường) ở tất cả các cấp đều có quyền tài phán hiến pháp.
[5] Hội đồng Hiến pháp của Pháp về bản chất là cơ quan “phòng hiến”đóng vai trò tư vấn cho Tổng thống Pháp về tính chất hợp hiến của đạo luật mà Tổng thống dự định công bố, giống như Vụ pháp chế tham vấn cho Bộ trưởng.
[6] Một số quốc gia cho phép tòa hiến pháp xem xét các vi phạm hiến pháp giả tưởng, nên một đảng phái chính trị có thể nại ra tòa rằng một đạo luật của nghị viện là vi hiến mặc dù trên thực tế nó chưa xâm phạm đến quyền và lợi ích của bất kỳ ai.
[7] Vào năm 1952, Tòa tối cao Hoa Kỳ đã hủy bỏ quyết định trưng dụng ngành thép của Tổng thống Tru -man với lý do: Quyết định trưng dụng ngành công nghiệp thép và vượt quá thẩm quyền của Tổng thống.
(Bài viết đăng trên TCNCLP số 119, tháng 3/2008)
Võ Trí Hảo
Nguon: Nghien Cuu Lap Phap – Van Phong Quoc Hoi
Nguồn bài viết: http://na.gov.vn/Sach_QH/Ban%20ve%20lap%20hien/Chuong3/5.htm

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Đặc trưng của mô hình tài phán hiến pháp Đức


Góc Đức tại Koblenz, nơi hợp lưu của 2 sông Rhein và Mosel - Ảnh: ST



Tài phán hiến pháp tồn tại ở nhiều nước khác nhau, muôn màu muôn vẻ, nhưng đều có thể xếp vào hai nhóm mô hình: mô hình Hoa Kỳ và* mô hình Đức - áo. Tòa án tối cao Liên bang Hoa Kỳ được xem là cơ quan tài phán hiến pháp có quyền lực nhất trên thế giới. Tuy nhiên, mô hình tài phán hiến pháp phổ biến nhất trên thế giới lại thuộc về người Đức. Thông qua việc phân tích bảy đặc trưng của mô hình tài phán hiến pháp Đức, bài viết góp phần lý giải sự thành công của mô hình Đức ở các môi trường chính trị, văn hóa khác nhau, điều mà mô hình Hoa Kỳ không có được.
1. Tài phán hiến pháp tập trung
Trong mô hình Hoa Kỳ, mọi tòa án đều có nghĩa vụ từ chối áp dụng một đạo luật, nếu thấy đạo luật này vi hiến. Những vị cha lập hiến của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 cho rằng không chỉ Tòa án tối cao liên bang, mà tất cả các tòa án các cấp của Liên bang đều có nghĩa vụ vô hiệu hóa các hành vi vi hiến. Nói cách khác, tài phán hiến pháp ở Hoa Kỳ thuộc về cành quyền lực tư pháp nói chung chứ không thuộc riêng về một tòa án nào. Người ta gọi đó là mô hình phi tập trung.
Khi Hans Kelsen(1) lần đầu tiên vào năm 1920 giới thiệu mô hình tài phán hiến pháp áo - Đức, dĩ nhiên ông cũng đã nghiên cứu mô hình Hoa Kỳ. Nhưng nguyên tắc “Nghị viện tối cao” cộng với truyền thống luật thực định lúc đó ở châu Âu còn quá mạnh, nên mô hình phi tập trung không được chấp nhận ở áo năm 1920 cũng như ở Đức năm 1949. Vì nếu một tòa án cấp huyện cũng có thể tuyên bố một đạo luật của Nghị viện là vi hiến, thì “lòng tự trọng của Nghị viện” sẽ bị tổn hại ghê ghớm và điều này là không thể chấp nhận được đối với các nghị sĩ Đức đương thời. áo, Đức bấy giờ hệ thống án lệ không mạnh, cũng tương tự như Việt Nam hiện nay, nếu chấp nhận hệ thống tài phán hiến pháp phi tập trung sẽ dẫn đến sự tổn hại cho nguyên tắc hệ thống pháp luật thống nhất, vì cùng một điều khoản hiến pháp sẽ được các tòa án khác nhau giải thích khác nhau dù hai vụ án có nội dung, đặc điểm giống nhau.
Hans Kelsen cũng phản đối việc áp dụng mô hình Hoa Kỳ ở áo vì lý do chất lượng và quy trình đào tạo thẩm phán. Mô hình phi tập trung đòi hỏi trình độ của tất cả các thẩm phán phải rất cao, không riêng gì thẩm phán tòa án tối cao. Nhưng ở châu Âu đầu thế kỷ 20, cũng như Việt Nam hiện nay, các thẩm phán thường tốt nghiệp luật học, sau đó làm thư ký tòa án một thời gian trước khi được bổ nhiệm làm thẩm phán. Hans Kelsen tin rằng, các thẩm phán như vậy không có đủ kinh nghiệm và kiến thức để thực thi quyền tài phán hiến pháp (2). Ngược lại, ở Hoa Kỳ, muốn đăng ký học chương trình cử nhân luật học, học viên phải tốt nghiệp cử nhân hoặc kỹ sư của một ngành khác. Thêm nữa, tập quán ở Hoa Kỳ thường bổ nhiệm thẩm phán từ các luật sư kỳ cựu chứ không phải từ các nhân viên văn phòng như các thư ký tòa án.
Thay cho lập luận dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập cứng rắn để đi đến tài phán hiến pháp như Alexander Halmilton (3) và John Marshall (4) ở Hoa Kỳ, các luật gia áo - Đức dựa trên quan niệm người bảo vệ hiến pháp (Verfasungshỹter). Người bảo vệ này có thể là một cơ quan chứ không nhất thiết phải là cả hệ thống tư pháp. Vì thẩm quyền tài phán hiến pháp chỉ thuộc về một cơ quan nên người ta gọi mô hình này là mô hình tập trung.
Như vậy, mô hình áo - Đức không đòi hỏi những điều kiện ngặt nghèo như: nguyên tắc tam quyền phân lập cứng rắn, tập quán án lệ mạnh, trình độ thẩm phán rất cao như trong mô hình Hoa Kỳ. Đây là một phần căn nguyên giải thích khả năng xuất khẩu của từng mô hình.
2. Tài phán cụ thể và tài phán trừu tượng
Các tòa án liên bang Hoa Kỳ chỉ có thẩm quyền tài phán hiến pháp đối với các vụ việc cụ thể đã xảy ra và quyền lợi của các chủ thể trên thực tế đã bị xâm hại bởi các hành vi vi hiến. Tòa án liên bang Hoa Kỳ không xem xét các hành vi vi hiến sẽ xảy ra hay có thể xảy ra trong tương lai. Điều này một phần xuất phát từ triết lý “chân lý luôn mang tính cụ thể” của người Mỹ. Sự tự hạn chế thẩm quyền tài phán đồng thời cũng là một nguyên tắc chung trong hoạt động của tòa án Hoa Kỳ, bởi họ quan niệm nếu làm ngược lại, thì tòa án sẽ ngày càng có khuynh hướng can dự nhiều vào chính trị, ảnh hưởng đến thiên chức độc lập của tòa án. Vì nếu tòa án thụ lý cả những vụ án trừu tượng, trong đó nguyên đơn chỉ cần nại ra rằng một đạo luật của Nghị viện là vi hiến mà chưa có các sự kiện, hành vi xảy ra trên thực tế, chưa có chủ thể nào bị xâm hại quyền lợi, rất có thể dẫn đến hiện tượng phe thiểu số trong Nghị viện sau khi thất bại trong việc cản trở phe đa số thông qua một dự luật nào đó sẽ sử dụng tòa án như là “Viện lập pháp thứ ba” để tiếp tục cản trở một dự luật có hiệu lực. Trong giai đoạn tài phán hiến pháp mới hình thành, nhận thức của công chúng về vai trò của nó chưa được rõ ràng, việc trực tiếp tuyên bố một đạo luật là vi hiến sẽ đặt cơ quan tài phán đối chọi trực tiếp với lập pháp và hành pháp. Chánh án Tòa tối cao Liên bang Hoa Kỳ John Marshall trong vụ án Marburry v Madison (5) đã sáng suốt nhận ra bối cảnh chính trị Hoa Kỳ năm 1803 chưa cho phép điều này, nên đã giới hạn thẩm quyền tài phán hiến pháp đối với các vụ việc cụ thể.
Hơn một trăm năm sau, tại thời điểm ra đời mô hình tài phán hiến pháp áo - Đức, bối cảnh chính trị, đặc biệt là nhận thức của công chúng có nhiều thuận lợi hơn cho tài phán hiến pháp. Việc mở rộng quyền tài phán trừu tượng dẫn đến Tòa án hiến pháp Đức - áo có quyền trực tiếp tuyên bố một đạo luật là vi hiến, không còn giá trị pháp lý. Trong mô hình này, thẩm quyền của cơ quan tài phán đã được mở rộng, bao gồm không chỉ tài phán cụ thể, mà cả tài phán trừu tượng, bởi nếu chỉ dừng lại ở tài phán cụ thể sẽ gặp hạn chế trong hai trường hợp:
- Đối với những hành vi vi hiến thụ động như việc Nghị viện không ban hành một đạo luật áp dụng chế tài cần thiết, hoặc đã gián tiếp tạo khe hở cho những người như Chí Phèo của Việt Nam chửi cả làng, dẫn đến quyền được sống trong môi trường văn hóa lành mạnh của họ bị ảnh hưởng. Theo ngôn ngữ hàn lâm có nghĩa là trong một số hoàn cảnh nhất định làm xuất hiện những quyền khách quan. Việc xâm phạm quyền này là trái với hiến pháp, nhưng lại không xác định được người bị hại cụ thể nên không thể trở thành đối tượng của tài phán cụ thể. Thậm chí đối với quyền gắn liền chủ thể, khi có hành vi xâm phạm quyền này đã diễn ra trên thực tế, nhưng người bị hại không khởi kiện thì cũng không thể trở thành đối tượng xét xử của tài phán cụ thể.
- Nếu chờ cho một điều ước quốc tế có hiệu lực và thực tế xâm hại quyền cơ bản của công dân rồi mới đưa ra tòa án hiến pháp có lẽ đã quá muộn, bởi nếu tòa án có tuyên bố điều ước đó là vi hiến, thì dường như chẳng thể nào làm thay đổi hiệu lực của điều ước đó, vấn đề đã vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia (6).
Để hạn chế việc các nhóm lợi ích, phe thiểu số trong Nghị viện lạm dụng tài phán trừu tượng, làm chính trị hóa vấn đề, biến tòa án thành cơ quan chính trị như một diễn đàn lập pháp thứ ba tiếp sau Hạ viện và Thượng viện, mô hình áo - Đức đã đặt ra một số điều kiện hạn chế đối với tài phán trừu tượng như chủ thể có quyền khiếu kiện, đối tượng xét xử, trình tự tố tụng.
3. Chỉ kiểm tra sau, không có chức năng phòng hiến
Giống như các tòa án Liên bang Hoa Kỳ, Tòa án hiến pháp Đức không có chức năng phòng hiến như Hội đồng hiến pháp Cộng hòa Pháp. Sự khác nhau nằm ở thời điểm kiểm tra. Trong khi các nhà lập hiến Pháp chỉ trao cho Hội đồng hiến pháp quyền kiểm tra tính hợp hiến của một dự luật trước khi nó được công bố ra công chúng (7), thì Tòa án hiến pháp Đức về mặt nguyên tắc chỉ kiểm tra tính hợp hiến của một đạo luật sau khi nó có hiệu lực.
Cùng chịu ảnh hưởng của nguyên tắc Nghị viện tối cao, nhưng hai quốc gia láng giềng lại có sự lựa chọn khác nhau. Có lẽ, vì những đạo luật chà đạp lên nhân quyền do Quốc hội Đức quốc xã trước năm 1945 đã gieo rắc nỗi kinh hoàng lên nhân dân Đức nên họ ý thức rằng Nghị viện đã từng làm điều xấu, Nghị viện cũng cần bị kiểm soát bởi một mô hình tài phán hiến pháp đầy đủ. Mặt khác, người Đức cũng nhận thức rõ hai hạn chế lớn của mô hình phòng hiến:
- Mô hình phòng hiến kiểm tra các dự luật sau khi đã được Nghị viện thông qua nhưng chưa được Tổng thống công bố nên rất có thể các phe thiểu số trong Nghị viện sử dụng mô hình này để cản trở dự luật có hiệu lực hoặc chí ít là làm chậm lại việc có hiệu lực của dự luật thêm vài tháng. Sự lạm dụng này thực tế đã diễn ra ở Pháp. Khi đó, Hội đồng hiến pháp đã bị biến thành cơ quan chính trị, nên nhiều người gọi Hội đồng hiến pháp là “viện lập pháp thứ ba”.
- Chỉ có quyền kiểm tra các dự luật chưa có hiệu lực đồng nghĩa với việc Hội đồng hiến pháp Cộng hòa Pháp chỉ có quyền kiểm tra trừu tượng. Nếu sau khi dự luật được Tổng thống Pháp công bố và có hiệu lực, trong quá trình áp dụng, trong một vụ việc cụ thể, sự vi hiến của đạo luật mới có thể được nhìn rõ, nhân dân phải tiếp tục gánh chịu điều sai lầm này, không thể mong chờ gì từ tòa án vì tòa án cũng không chạm tay vào đạo luật đó được. Lúc này, nhân dân chỉ có thể mong chờ vào lòng tốt và sự tích cực của Nghị viện - cơ quan vốn dĩ phải chạy theo các khuynh hướng chính trị chứ không phải lấy công lý làm đầu.
4. Không có quyền lựa chọn thụ lý vụ án hiến pháp
Trong khi Tòa án tối cao Liên bang Hoa Kỳ có quyền lựa chọn kiểm tra tính hợp hiến đối với một số vụ án và từ chối kiểm tra đối với một số vụ án khác mà không cần nêu lý do, thì Tòa hiến pháp Đức có nghĩa vụ thụ lý các vụ án hiến pháp đã được khởi kiện đúng thủ tục tố tụng. Sự khác nhau này không xuất phát từ luật tố tụng hay luật tổ chức tòa án mà là sự khác nhau giữa quyền cơ bản của công dân Hoa Kỳ và công dân Đức. Trong Bill of rights, tu chính thứ tư và tu chính thứ năm của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 chỉ đề cập quyền được xét xử bởi tòa án có bồi thẩm đoàn đối với các vụ án hình sự và không đề cập gì đến các vụ án mà các cơ quan nhà nước là bị đơn. Trong khi đó, khoản 4, Điều 19 Chương các quyền cơ bản của công dân của Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949 quy định: “Nếu một người bị công quyền xâm phạm đến lợi ích, thì con đường khiếu kiện sẽ rộng mở với người đó. Nếu không có quy định khác thì con đường khiếu kiện này sẽ thông qua tòa án”. Sau đó, Điều 93 quy định về thẩm quyền của Tòa án hiến pháp tại khoản 4a đã trực tiếp nhấn mạnh: “Tòa hiến pháp quyết định: … về các khiếu kiện hiến pháp trong đó nguyên đơn nại ra rằng quyền cơ bản của anh ta… đã bị xâm hại bởi các cơ quan công quyền”. Kết hợp hai quy định này với nhau dẫn đến công dân Đức được hưởng quyền bảo vệ bởi tòa án, bao gồm Tòa hiến pháp trước các hành động sai trái của cơ quan công quyền.
5. Có thủ tục tố tụng riêng
Không giống như ở Hoa Kỳ, nơi tố tụng hiến pháp diễn ra tại các tòa án thường theo các luật tố tụng khác nhau (8), các vụ án hiến pháp ở Đức chỉ được xem xét bởi Tòa án hiến pháp và theo một thủ tục tố tụng riêng được quy định ở Đạo luật Tòa án hiến pháp.
*
Thủ tục tố tụng hiến pháp Đức không chỉ khác với mô hình Hoa Kỳ mà cũng khác ngay cả với mô hình áo. Thủ tục tố tụng hiến pháp của áo dựa trên thủ tục tố tụng dân sự (9). Mối quan hệ với thủ tục tố tụng dân sự ở chỗ, thủ tục tố tụng tại Tòa án hiến pháp áo dựa trên nguyên tắc tranh tụng giữa hai bên, thẩm phán không giữ vai trò tích cực như thẩm phán Đức. Mặt khác, Tòa án hiến pháp áo cũng chỉ chú trọng giải quyết lợi ích giữa hai bên tranh chấp trong vụ án, dừng lại ở sự vụ cụ thể mà không chú trọng khái quát nên những nguyên tắc pháp luật, không làm giàu nội dung của hiến pháp. Ngược lại, Tòa hiến pháp Đức không đắm mình vào vấn đề cụ thể trong từng tranh chấp cá biệt, mà nhằm đi đến những quyết định mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa lớn cho đời sống pháp luật (10).
Việc có một thủ tục tố tụng độc lập không phụ thuộc vào thủ tục tố tụng dân sự có những lợi thế nhất định. Thứ nhất, một vụ án hiến pháp thường có ý nghĩa chính trị to lớn chứ không dừng lại ở lợi ích của hai bên tranh tụng, dẫn đến tòa án chịu áp lực chính trị rất lớn. Một thủ tục tố tụng riêng có thể giảm bớt sự tác động trực tiếp của các áp lực chính trị này, bảo vệ tốt hơn sự độc lập của tòa án. Thứ hai, nếu không có thủ tục tố tụng riêng, thì Nghị viện chỉ cần thay đổi một trong số các luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hình sự… là đã có thể tác động đến tố tụng hiến pháp và sự tác động ở đây là giấu mặt, công chúng không dễ gì nhìn thấy. Vì vậy, việc có một thủ tục tố tụng riêng sẽ bảo đảm cho Tòa hiến pháp có một vị trí tốt hơn trong tương quan quyền lực với Nghị viện.
Đây cũng là đặc điểm góp phần quan trọng trong khả năng xuất khẩu của mô hình Đức. Khi một quốc gia muốn xây dựng mô hình tài phán hiến pháp của mình dựa trên mô hình Đức, họ nhập đồng thời cả mô hình tổ chức tòa án và thủ tục tố tụng, bảo đảm sự đồng bộ. Một quốc gia lựa chọn mô hình Hoa Kỳ hay mô hình áo, họ sẽ rất mất nhiều thời gian rà soát lại nhiều thủ tục tố tụng khác nhau, và xác suất vênh nhau giữa một bên là tổ chức tòa án mang tính chất ngoại lai và một bên là các thủ tục tố tụng bản địa là khá lớn, đặc biệt là trong giai đoạn đầu.
6. Tòa sinh đôi
Điểm độc nhất vô nhị trong mô hình tài phán hiến pháp Đức là hệ thống hai Senat (tòa con) song song tồn tại nên nó được gọi là tòa sinh đôi (Zwillingsgericht)(11). Mỗi tòa con có cơ cấu tổ chức và nhân sự độc lập, có thẩm quyền tài phán riêng biệt gần giống như là hai tòa án hiến pháp. Mỗi tòa con có tám thẩm phán, trong đó Hạ viện (12) bổ nhiệm bốn thẩm phán, Thượng viện bổ nhiệm bốn thẩm phán. Các thẩm phán ở các tòa con được lựa chọn từ bốn nguồn khác nhau: thẩm phán từ các tòa án khác, giáo sư luật học, luật sư, chuyên viên từ các cơ quan nhà nước khác.
Hệ thống tòa sinh đôi có hai ưu điểm: Thứ nhất, mỗi tòa con phụ trách một nhóm các khiếu kiện hiến pháp độc lập, dẫn đến vừa đẩy nhanh tiến độ xét xử, vừa bảo đảm tính chuyên môn. Con số tám thẩm phán ở mỗi tòa con so với con số chín thẩm phán của Tòa án tối cao Liên bang Hoa Kỳ được xem là vừa đủ. Thứ hai, trong một chính thể chính trị đa nguyên thì một đảng phái chính trị khó lòng kiểm soát đồng thời được cả hai tòa con. Điều này tạo ra sự độc lập cao hơn của Tòa hiến pháp đối với Nghị viện và Chính phủ.
Tòa con là cơ quan xét xử chủ yếu của Tòa hiến pháp nhưng không phải là duy nhất. Bên cạnh hai tòa con, hoạt động tài phán hiến pháp còn được thực hiện bởi Hội đồng thẩm phán và hệ thống các ban.
Hội đồng thẩm phán bao gồm tất cả các thẩm phán của cả hai tòa con, tức gồm mười sáu thành viên. Nhưng Hội đồng thẩm phán không phải là cơ quan xét xử cao hơn của tòa con. Chức năng chính của Hội đồng thẩm phán cũng không phải là xét xử theo logic chuyện nội bộ nhà mình không quyết được thì đưa ra cho cả làng quyết hộ, mà chức năng chính là bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Hội đồng thẩm phán được sử dụng nhằm khắc phục hiện tượng tòa con 1 và tòa con 2 có quan điểm ngược với nhau ở hai vụ án khác nhau nhưng ít nhiều liên quan cùng một vấn đề. Khi tòa con 2, trong quá trình thụ lý một vụ án thấy rằng phán quyết của mình nếu đưa ra có thể phải dựa trên những lập luận trái ngược với lập luận đã được tòa con 1 sử dụng trong vụ án trước đó, thì tòa con 2 sẽ chuyển vụ án này ra xét xử tại Hội đồng thẩm phán. Quá trình tương tự xảy ra khi tòa con 1 nhận thấy điều này.
7. Phần luận án dài, khuôn mẫu
Mặc dầu là một quốc gia tiêu biểu cho hệ thống luật thực định, nhưng Tòa hiến pháp Đức đã đoạn tuyệt được với tập quán luận án cụt lủn của các nước châu Âu lục địa.
Đối với một vụ án hình sự, thì cấu trúc tam khúc ngắn ngủi của một bản án của các nước theo hệ thống luật thực định (phần một: nhắc lại nội dung cáo trạng; phần hai: luận án dăm bảy dòng; phần ba: tuyên án) là có thể chấp nhận được, vì quan trọng nhất là kết quả phần tuyên án có đúng luật và công bằng hay không. Nhưng một bản án hiến pháp không dừng lại ở tiêu chí công bằng, đúng hiến pháp, mà đóng vai trò là nguồn của luật có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nước khác, là cơ sở cho các tòa án các cấp noi theo. Việc nguyên đơn thắng hay thua trong vụ án hiến pháp không quan trọng bằng việc các nội dung của hiến pháp được làm rõ, được khẳng định. Một vụ án trong đó nguyên đơn thua kiện có giá trị không kém gì một vụ án trong đó nguyên đơn thắng kiện các cơ quan công quyền miễn là chứa đựng các giá trị, các nguyên tắc pháp luật quan trọng. Bởi vậy, bản án hiến pháp cần phải có phần luận án đầy đủ, chi tiết, logic, viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu đến mức không chỉ thẩm phán mà người thông thường cũng có thể hiểu được; và quan trọng, nó phải cụ thể đến mức ở vụ án tương tự tiếp sau người ta khó lòng làm trái những nguyên tắc đã được xác lập ở vụ án trước đó.
Cũng giống với bản án hiến pháp Đức ở điểm: phần luận án đầy đủ, chi tiết, logic, dễ hiểu, nhưng bản án hiến pháp Hoa Kỳ dường như không theo một khuôn mẫu rõ ràng, bởi vì các vụ án này được xem xét theo nhiều thủ tục tố tụng khác nhau. Ngược lại, do có thủ tục tố tụng hiến pháp riêng, nên phần luận án của các bản án hiến pháp Đức đi theo khuôn mẫu chặt chẽ.
Phần luận án của bản án hiến pháp Đức có hai phần chính: phần chứng minh việc thụ lý vụ án là đúng luật, và phần chứng minh cho quyết định của vụ án. Phần thứ nhất có các phần chính như tư cách của đương sự đệ đơn, thời hạn đệ đơn, tiêu chí cạn nguồn (Rechtswegschoepfung), đối tượng xét xử, tiêu chí tính hiến pháp của vụ án, tiêu chí không phải vụ việc vụn vặt, đối chiếu thẩm quyền xét xử của Tòa án hiến pháp, của tòa con.
Phần thứ hai gồm có các phần chính như: hành vi bị khiếu kiện có phù hợp với hiến pháp không. Nếu đối tượng xét xử là một đạo luật thì có phần đối chiếu với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền, phần cân nhắc giữa các lợi ích công cộng khác và lợi ích mà đương sự đang yêu cầu bảo vệ. Nếu đối tượng xét xử là một hành vi áp dụng luật, thì sau phần kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật phải có phần kiểm tra cách áp dụng, biện pháp áp dụng pháp luật trong vụ án có hợp hiến hay không.
Qua việc phân tích bảy đặc trưng của mô hình tài phán hiến pháp Đức cho thấy, ngoại trừ đặc trưng thứ tư có thể dẫn đến hiện tượng quá tải của tòa án hiến pháp, các đặc trưng, đặc biệt là đặc trưng thứ nhất và đặc trưng thứ năm, đều cho thấy mô hình tài phán hiến pháp Đức đều có những ưu điểm tương đối so với mô hình Hoa Kỳ nếu cả hai được đặt trong một môi trường chính trị văn hóa ngoài Hoa Kỳ, ngoài Đức. Điều này lý giải tại sao mô hình Đức đơm hoa kết quả không chỉ ở phương tây mà cả phương đông như Hàn Quốc, Thái Lan (13), không chỉ ở các nước tư bản như Đức, áo, Nhật Bản… mà cả ở thành trì cách mạng Đông Âu sau 1990 như Nga, Ba lan, Tiệp.
Ở*nước ta hiện nay, nhu cầu bảo hiến đang được đặt ra rất cấp thiết. Việc lựa chọn và học tập mô hình bảo hiến nào cần được nghiên cứu thấu đáo phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu bảo hiến theo mô hình tài phán, thì mô hình tài phán hiến pháp Đức là một kinh nghiệm rất đáng tham khảo cho Việt Nam.
(1)***** Hans Kelsen là giáo sư luật học tại Trường đại học tổng hợp Viên, người được xem là tác giả mô hình tài phán hiến pháp áo - Đức. Khi chủ nghĩa phát xít lên cầm quyền thì ông rời bỏ nước áo sang làm giáo sư luật học lần lượt tại Thụy Sỹ, Hoa Kỳ, Với tác phẩm Reine Rechtslehre (Theory of pure law), thì ông trở thành người đại diện cho trường phái luật học Viên. (2)***** Cappelleti (1989:140) according to Georg Vanberg, The politics of constitutional review in Germany, Cambridge University Press, 2005, p 79. (3)***** Alexander Hamilton, Artikel 78 - Ferderalist paper http://www.constitution.org/fed/federa78.htm. (4)***** http://en.wikipedia.org/wiki/Marbury_v._Madison. (5)***** Võ Trí Hảo, Vụ án Marburry chống Madison, Tạp chí nghề luật số 7, tháng 4 năm 2004. (6)***** Trong trường hợp này thì nghị quyết phê chuẩn điều ước quốc tế của Quốc hội Đức có thể bị mang ra Tòa hiến pháp xem xét tính hợp hiến trước khi Tổng thống Đức gửi văn bản bày tỏ sự tự nguyện ràng buộc của nước Đức đối với một điều ước đến các cơ quan quốc tế hữu quan. Đây có thể xem như một ngoại lệ duy nhất, trong đó Tòa hiến pháp đóng vai trò phòng hiến. (7)***** Philipp Mels, Bundesverfassungsgerichtsbarkeit und Conseil de Constitution: ein Vergleich der Verfassungsgerichtsbarkeit in Deutschland ung Frankreich im Spannungsfeld zwischen der Europhie fỹr die Krửnung des Rechtsstaats und der Furch vor einem "gouvernement de judges", Verlag Franz Vahlen Mỹchen, 2003, S306. (8)***** Nếu câu hỏi về tính hợp hiến của đạo luật phát sinh trong một vụ án dân sự thì nó sẽ được xem xét theo thủ tục tố tụng dân sự; nếu phát sinh trong một vụ án hành chính thì sẽ được xem xét theo thủ tục tố tụng hành chính v.v... (9)***** Karl Korinek, Die Verfassungsgerichtsbarkeit im Gefỹge der Staatsfunktionen: Verửffentlichungen der Vereinigung der Deutschen Staatsrechtslehrer Heft 39, Walter de Gruyter 1981, Seit 34 und Art. 93a. Abs2 Nr.a BverfGG. (10)* Philipp Mels, Bundesverfassungsgerichtsbarkeit und Conseil de Constitution: ein Vergleich der Verfassungsgerichtsbarkeit in Deutschland ung Frankreich im Spannungsfeld zwischen der Europhie fỹr die Krửnung des Rechtsstaats und der Furch vor einem "gouvernement de judges", Verlag Franz Vahlen Mỹchen, 2003, S96. (11)* Tạm dịch từ hai từ Bundestag và Bundesrat, nhưng thực ra hai cơ quan này không hoàn toàn tương đương với Thượng viện và Hạ viện của Liên bang Hoa Kỳ. (12)* Hai nước này đã từng áp dụng Mô hình tài phán Hoa Kỳ nhưng mô hình này đã chết yểu trên đất của họ sau chưa đầy một năm. Mô hình Hoa Kỳ ở Thái Lan đã sụp đổ ngay từ vụ án đầu tiên năm 1946 và sụp đổ ở Hàn Quốc dưới thời độc tài của tướng Bắc Chung Hi năm 1968. (13)* Karl Korinek, Die Verfassungsgerichtsbarkeit im Gefỹge der Staatsfunktionen: Verửffentlichungen der Vereinigung der Deutschen Staatsrechtslehrer Heft 39, Walter de Gruyter 1981, Seit 36.
ThS Võ Trí Hảo - Đại học Quốc gia Hà Nội; GS. Philips Kunig - Freie Universitọt G - Berlin

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi