Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản lý chất lượng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quản lý chất lượng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

Quản trị công nghệ - Lựa chọn công nghệ



Khái niệm
Lựa chọn công nghệ là quá trình phức tạp và khía cạnh quan trọng nhất của nó là công nghệ được lựa chọn phải hỗ trợ có hiệu quả cho chiến lược của doanh nghiệp.
Lựa chọn công nghệ rất quan trọng đối với việc tạo lợi thế cạnh tranh.Doanh nghiệp phải lựa chọn những công nghệ nào để thực hiện các hoạt động thuộc chuỗi giá trị (Value chain) nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp theo đuổi khi thực hiện chiến lược cạnh tranh. Chẳng hạn, nếu chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp là khác biệt hoá thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn những công nghệ có khả năng tối đa hoá các lợi thế cạnh tranh về mặt tính năng cao, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu, dịch vụ khách hàng tốt hơn.

Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn công nghệ.
Khi lựa chọn công nghệ doanh nghiệp cần xem xét các yếu tố sau :
- Môi trường công nghệ
Có 4 loại môi trường công nghệ.
+ Môi trường công nghệ thay đổi nhanh với tính cạnh tranh cao (1)
+ Môi trường công nghệ thay đổi nhanh với tính cạnh tranh thấp (2)
+ Môi trường công nghệ thay đổi chậm với tính cạnh tranh cao (3)
+ Môi trường công nghệ thay đổi chậm với tính cạnh tranh thấp (4)
Các doanh nghiệp nằm trong môi trường thuộc loại (1) và (2) chọn nhiều công nghệ mới hơn các doanh nghiệp nằm trong môi trường thuộc loại (3) và (4) vì các doanh nghiệp này muốn theo kịp các công nghệ mới để thích ứng với môi trường công nghệ đang thay đổi nhanh.
- Công nghệ
Có thể xem xét giá trị của công nghệ, chu kỳ sống của công nghệ, xu hướng công nghệ trong tương lai (nhờ vào dự báo công nghệ)
- Sản phẩm
Xem xét tính phức tạp của sản phẩm, độ chính xác theo yêu cầu khi chế tạo sản phẩm, kích thước của lô (trường hợp sản xuất theo lô) số lượng model…
- Thị trường
Xem xét thị trường sản phẩm giúp xác định quy mô công nghệ, tính linh hoạt của trình độ công nghệ.

Ngoài các yếu tố trên, có thể xem xét them vấn đề đầu tư; năng lực công nghệ; trình độ tổ chức; quản lý, mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp.

Tiêu chuẩn lựa chọn công nghệ
Tiêu chuẩn cơ bản:
- Tính khả thi về kỹ thuật
- Khả năng thành công về thương mại: nhu cầu, giá cạnh tranh, năng lực sản xuất
- Khả năng đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia
Tiêu chuẩn so sánh:
- Phương pháp tổng điểm tương đối
- Thời gian hoàn vốn
- Sử dụng các tiêu chuẩn tài chính (Net Present Value (NPV), Internal Rate of Return (IRR)…)

Quản trị công nghệ - Đổi mới công nghệ



Khái niệm
Đổi mới khoa học và công nghệ có thể được xem như là biến đổi một ý tưởng thành sản phẩm mới có thể bán được hoặc thành quá trình vận hành trong công nghiệp, trong thương mại hoăc thành phương pháp mới về dịch vụ xã hội. Như vậy, đổi mới bao gồm các biện pháp về khoa học, kỹ thuật thương mại và tài chánh cần thiết để phát triển và thương mại hoá sản phẩm mới, để sử dụng quá trình và vật liệu mới hoặc để đưa ra một phương pháp mới về dịch vụ xã hội. (OECD).

Phân loại đổi mới công nghệ
- Theo tính sáng tạo.
Bao gồm đổi mới gián đoạn (Discontinuous Innovation) và đổi mới liên tục (Continuous Innovation)
+ Đổi mới gián đoạn, còn gọi là đổi mới căn bản (Radical Innovation), thể hiện sự đột phá về sản phẩm và quá trình, tạo ra những ngành mới hoặc làm thay đổi những ngành đã chin muồi. Đổi mới này tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường mới.
+ Đổi mới liên tục, còn gọi là đổi mới tăng dần (Incremental Innovation), nhằm cải tiến sản phẩm và quá trình để duy trì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện có.
- Theo sự áp dụng
+ Đổi mới công nghệ sản phẩm (product technology): đưa ra thị trường một loại sản phẩm mới.
+ Đổi mới công nghệ quá trình (process technology): đưa vào doanh nghiệp hoặc thị trường một quá trình sản xuất mới.
 Đổi mới sản phẩm và quá trình có thể đổi mới gián đoạn hay liên tục.

Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ.
- Th trường
Những nền kinh tế thị trường có thể có lợi thế trong quá trình đổi mới. Nếu thị trường của một loại sản phẩm nào đó được mở rộng thì điều này sẽ thúc đẩy đổi mới. Đổi mới chỉ thật sự hoàn thành sau khi sản phẩm hay quá trình được người sử dụng chấp nhận, do vậy một khía cạnh rất quan trọng của đổi mới là Marketing.
- Nhu cầu
Phần lớn các trường hợp đổi mới công nghệ xuất phát từ nhu cầu. Có thể là do áp lực của môi trường kinh doanh (các yếu tố vĩ mô như chính trị, xã hội, kinh tế, công nghệ…) làm xuất hiện nhu cầu, thí dụ : do áp lực của xã hội về vấn đề ô nhiễm môi trường, các nhà sản xuất ô tô nghiên cứu để chế tạo thiết bị giảm ô nhiễm trang bị cho ô tô. Nhu cầu của người tiêu dung cũng thúc đẩy đổi mới.
- Hoạt động nghiên cứu và phát triển ( R&D)
Nghiên cứu và phát triển là khâu quan trọng trong quá trình đổi mới. Báo cáo về năng lực cạnh tranh của Châu Âu nêu rõ : “Nếu không có cơ sở nghiên cứu khoa học mạnh và đa dạng thì sẽ không hề có bất kỳ một sự cất cánh công nghệ nào cả”. Các doanh nghiệp có ngân sách R&D lớn và nguồn nhân lực R&D có kỹ năng nghiên cứu sẽ thuận lợi trong đổi mới công nghệ.
- Cạnh tranh.
Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển do đó thúc đầy đổi mới.
- Các chính sách quốc gia hỗ trợ đổi mới.
Để khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chính phủ thường có những chính sách thích hợp.

Tác động của đổi mới công nghệ
- Đối với năng suất.
Đổi mới công nghệ thường làm tăng năng suất thể hiện qua việc giảm chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm và giúp các doanh nghiệp đạt được các mục tiêu như nâng cao tính linh hoạt, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hang
- Đối với chất lượng sản phẩm
Công nghệ mới có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Khi đồ thị thống kê chuẩn và đồ thị thống kê thực tế chênh lệch nhau vượt quá giới hạn cho phép, chuông sẽ báo động và nhân viên trực sẽ tiến hành điều chỉnh, ngăn chặn ngay từ đầu việc sản xuất sản phẩm không đảm bảo chất lượng.
- Đối với chu kỳ sống của sản phẩm
Sử dụng công nghệ mới làm rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm vì công nghệ mới có tính linh hoạt cao, có thể đưa ra nhiều model mới.
- Đối với chiến lược kinh doanh
- Về mặt sản xuất (công nghệ), đổi mới có thể làm thay đổi thiết kế sản phẩm, hệ thống sản xuất, thiết bị, vật liệu, kỹ năng, kiến thức của người lao động.
- Về mặt thị trường (khách hàng), đổi mới có thể làm thay đổi thái độ, hành vi của khách hàng, kênh phân phối, phương thức truyền thông …
Điều này có nghĩa là những lĩnh vực hoạt động trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có thể bị thay đổi.
- Đối với việc làm
Phải nâng cao kỹ năng người lao động (huấn luyện, đào tạo) hoặc người lao động mất việc phải chuyển sang việc làm mới

Quá trình đổi mới công nghệ
- Mô hình tuyến tính:
Quá trình đổi mới gồm một chuỗi các hoạt động nối tiếp nhau: R&D, sản xuất và thương mại hoá.
Các yếu tố tạo nên sự thành công của đổi mới:
Sự thích ứng của sản phẩm đối với thị trường: 85%
Sự thích ứng với khả năng của doanh nghiệp: 65%
Tính ưu việt về kỹ thuật của sản phẩm: 52%
Sự quan tâm của ban lãnh đạo: 45%
Môi trường thuận lợi: 32%
Tổ chức phù hợp: 15%
- Mô hình tương tác kết hợp
Trong mô hình tương tác kết hợp cho thấy kết quả của việc phối hợp đồng thời kiến thức của các bộ phận chức năng sẽ thúc đẩy đổi mới, nó gắn các mô hình tuyến tính với nhau và nhấn mạnh đổi mới công nghệ là kết quả của sự tương tác giữa thị trường, khoa học và năng lực của tổ chức. Bản chất của mô hình này là sự liên kết toàn hệ thống, lấy doanh nghiệp làm chủ thể, liên kết các yếu tố của hệ thống đổi mới. Trong hệ thống đổi mới, các doanh nghiệp chịu tác động của các nhân tố cạnh tranh: các đối thủ, các nguồn cung cấp ý tưởng đổi mới các khách hàng, các bạn hàng và đồng minh, các trường đại học, các patent, đồng thời tính đến các điều kiện để đổi mới, cơ sở hạ tàng, đầu tư tài sản, thiết bị….
Phương pháp đổi mới công nghệ
Phương pháp sức đẩy công nghệ:
Vai trò nhà sản xuất quan trọng
Phương pháp sức kéo thị trường
Vai trò người tiêu dùng quan trọng

Quản trị công nghệ - Quản trị R&D



1. Khái niệm hoạt động  R&D
Nghiên cứu (Research) và phát triển (Development) là 1 hoạt động hết sức quan trọng của quản trị công nghệ.
Nghiên cứu được chia thành 2 loại: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
- Nghiên cứu cơ bản tạo ra kiến thức mới hoặc  chân lý khoa học.
- Nghiên cứu ứng dụng nhằm vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn trong doanh nghiệp. Trong khi đó phát triển lại nhằm cải tiến phát minh và đổi mới để đáp ứng nhu cầu riêng của doanh nghiệp.

Hoạt động R&D có thể chia thành 3 lĩnh vực tuỳ theo mục đích nghiên cứu.
- R&D cho các hoạt động  kinh doanh  hiện tại. Nhằm bảo vệ, duy trì vị thế hiện tại, tức là đảm bảo sản phẩm không  bị lạc hậu và cạnh tranh được trên thị trường. Trong trường hợp này mục tiêu của R&D là kéo dài đời sống sản phẩm  hiện có, giảm chi phí sàn xuất  hiện có đưa ra những model mới của sản phẩm hiện có.
- R&D cho các hoạt động kinh doanh  mới. Nhằm tạo ra các hoạt động khinh doanh  mới. Mục tiêu của R&D trong trường hợp  này là tạo ra sản phẩm mới.
- R&D cho nghiên cứu thăm dò (exploratory research). Nhằm tích luỹ kiến thức trong lĩnh vực mà DN đang hoạt động cũng như kiến thức trong những lĩnh vực khác  mà DN cho là quan trọng trong tương lai. Mục tiêu của R&D là khám phá những cơ sở cho công nghệ  mới.

2. Nội dung quản trị R&D:
2.1. Tổ chức hoạt động R&D
- Tập trung: hoạt động R&D đc tập trung để phục vụ cho các đơn vị của doanh nghiệp. Nói chung nhiều công ty lớn có xu hướng có những hoạt động R&D tập trung bao gồm nghiên cứu cơ bản và 1số hoạt động  mang tính chất phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu riêng của nhóm sản phẩm, của hoạt động  kinh doanh hoặc  của các đơn vị mà nó phục vụ. Ngoài ra, các doanh nghiệp có ý định trở thành dẫn đầu về công nghệ cũng thường áp dụng cách này.
- Phân tán: mỗi đơn vị có thể hoạt động  R&D riêng, ví dụ  công ty 3M sản xuất  hơn 40000 loại sản phẩm và được phân thành hơn 40 đơn vị độc lập, mối đơn vị đều có chức năng R&D.

Hoạt động R&D có thể được tổ chức theo các hình thức sau:
- Tổ chức dựa theo ngành: hoạt động R&D đc tổ chức theo ngành KH hoặc KT; ví dụ hoá học, điện tử, năng lượng… Tổ chức theo hình thức này sẽ cung cấp cơ sở KH cho CN của DN.
- Tổ chức dựa theo lĩnh vực KD: hoạt động R&D đượcc tổ chức thành những bộ phận nghiên cứu về sản phẩm và quá trình liên quan đến các lĩnh vực KD.

2.2 . Lựa chọn nhân sự cho hoạt động R&D
- Nhân sự cho hoạt động R&D
            + Người truyền đạt thông tin: Tiếp nhận thông tin từ bên ngoài và truyền đạt, phổ biến cho các bộ phận của DN nhất là bộ phận R&D.
            + Người phát sinh ý tưởng: Là những người  có tính sang tạo, có khả năng psinh nhiều ý tưởng mới. Người phát sinh ý tưởng thường là những nhà nghiên cứu cơ bản, nhưng cũng có thể là nhân viên thuộc các bộ phận của DN.
+ Người giải quyết vấn đề: Có kỹ năng phân tích và có khả năng đề xuất các giải pháp. Người giải quyết vần đề thường là các kỹ sư.
+ Người quản trị R&D: có trách nhiệm quản trị và qtrọng nhất là thực hiện có hq việc hoạch định và kiểm tra dự án R&D.
  - Vai trò của NQT R&D:
            + Đặt ra mtiêu nghiên cứu và xđ các lĩnh vực nghiên cứu.
            + Tìm kiếm, thuê và khuyến khích các nhà nghiên cứu sángtạo.
            + Tạo môi trường làm việc thuận lợi cho các nhà nghiên cứu.
            + Nghiên cứu để tạo ra sp, quá trình mới cad cải tiến hđ.

2.3. Lập ngân sách cho R&D
- Dựa vào sự phân bố ngân sách của năm trứơc. Cách đơn giản nhất là dựa vào chỉ tiêu của năm trước rồi cộng thêm khoản bổ sung do lạm phát.
- Dựa vào mức chi tiêu của đối thủ cạnh tranh. Khi phân tích chi phí R&D của đối thủ, DN có thể xác định được chi phí R&D của mình.
- Tính theo % doanh thu. Dựa vào doanh thu của năm trước để tính chi phí cho R&D.
- Dựa vào khả năng chi trả. Mức đầu tư cho R&D phụ thuộc vào khả năng chi trả của DN.

2.4. Hoạch định, giám sát và đánh giá dự án R&D:
- Mục tiêu của dự án R&D
Dự án R&D tạo ra và kéo dài đời sống của sản phẩm của doanh nghiệp, ngăn ngừa sự lỗi thời của công nghệ. Kéo dài đời sống của sản phẩm có thể thực hiện bằng cách:
+ Cải tiến quá trình sản xuất để giảm chi phí sản xuất  và nâng cao chất lượng sản phẩm.
+ Cải tiến những model sản phẩm hiện có.
+ Tạo ra những model mới.
- Hoạch định dự án R&D
Được  xem là cần thiết để đảm bảo các nguồn lực (nhân lực, nguyên vật liệu, thiết bị và tài chính) phải có sẵn khi được yêu cầu và việc sử dụng  tối ưu các nguồn lực này.
Dự án có tính sáng tạo càng cao thì tính khá chắc chắn càng cao và như vậy rất khó hoạch định sự phát triển của nó.
            + Không  chắc chắn về thị trường . Do khó khăn trong việc dự báo những hoạt động  của đối thủ cạnh tranh và phản ứng của thị trường  đối với hoạt động  đổi mới của DN.
            + Không  chắc chắn về công nghệ. Do công nghệ làm tăng chi phí hoặc  gặp khó khăn về kỹ thuật.
            + Không  chắc chắn về hoạt động kinh doanh. Thường là ngẫu nhiên khó tiên đoán được.
- Các giai đoạn của dự án R&D:
+ Nghiên cứu cơ bản và phát minh.
+ Nghiên cứu ứng dụng và tạo nguyên mẫu chức năng.
+ Tạo nguyên mẫu kỹ thuật và thử nghiệm.
+ Sản xuất thử.
+ Thử nghiệm sản phẩm và cải tiến.
+ Sản xuất  và bán sản phẩm.
- Giám sát sự phát triển của dự án R&D:
Giám sát sự phát triển của dự án R&D đòi hỏi phải chú ý đến tính năng, thời hạn hoàn thành và chi phí. Có thể dựa vào các đồ thị:
+ Tính năng = f (thời gian)
+ Tính năng = f (chi phí)
+ Chi phí tích luỹ = f (thời gian)
- Đánh giá dự án R&D:
Những thông tin cần có để đánh giá về mặt kinh tế  có thể bao gồm:
+ Dòng chi phí theo thời gian.
+ Dòng thu nhập theo thời gian.
+ Xác suất thành công về thương mại và kỹ thuật.

Quản trị chất lượng- Chất lượng sản phẩm



1. Khái niệm về chất lượng sản phẩm
Chất lượng là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong lĩnh vực hoạt động cuả mình. Ví dụ : Chất lượng cuộc sống , chất lượng học tập, chất lượng công việc hay chất lượng của một cái áo, một bài hát…

+ Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể(đối tượng), tạo cho thực thể(đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn( Theo TCVN 5814-1994).
Thuật ngữ “thực thể”, “đối tượng” bao gồm : hàng hóa, hoạt động, quá trình, môt tổ chức hoặc cá nhân.

+ Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị con người, sự vật hay sự việc…là cái tổng thể, tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật, cái làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác (Từ điển Tiếng Việt phổ thông).

+ Chất lượng là mức độ hoàn thiện, đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, thông số cơ bản.(Từ điển phương Tây, Oxford Pocket Dictionary)…
Từ những khái niệm như trên về chất lượng ta thấy rằng mỗi đối tượng, mỗi sự vật đều chứa đựng những đặc trưng, những thuộc tính thể hiện đối tượng hay sự vật đó.

+ Chất lượng chính là tập hợp các tính chất, các đặc trưng… nhằm tạo nên phẩm chất, giá trị cho mỗi đối tượng, mỗi sự vật, sự việc.

Chất lượng sản phẩm là một thuật ngữ được khái quát bằng rất nhiều định nghĩa theo góc nhìn của các nhà quan sát:
- Theo quan điểm của các nhà sản xuất: sản phẩm có chất lượng có nghĩa là đạt được tất cả các tiêu chuẩn kỹ thuật đã đề ra.

- Theo người bán hàng : sản phẩm có chất lượng có nghĩa là sản phẩm bán được nhiều, bán hết nhanh.

- Theo quan điểm của người tiêu dùng: sản phẩm có chất lượng có nghĩa là sản phẩm phù hợp với mong muốn của mình.

 - Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng - (Theo J.M Juran) .

Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của nó, thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn - (Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa -International Organization for Standardization –ISO).

Thỏa mãn nhu cầu là điều quan trọng nhất trong việc đánh giá chất lượng của bất cứ sản phẩm hoặc dịch vụ nào và chất lượng là phương diện quan trọng nhất của sức cạnh tranh..

2. Các thuộc tính chất lượng sản phẩm
Mỗi sản phẩm đều được cấu thành bởi nhiều thuộc tính có giá trị sử dụng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Các thuộc tính này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo một mức chất lượng nhất định của sản phẩm. Các thuộc tính chất lượng được phân chia thành hai nhóm chính : thuộc tính kỹ thuật và thuộc tính kinh tế.

- Thuộc tính kỹ thuật: phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm được quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo và các đặc tính về cơ, lý, hóa của sản phẩm.
Ví dụ: hai sản phẩm có cùng công dụng, chức năng như nhau, sản phẩm nào có tính chất sử dụng cao hơn thì được coi là có chất lượng cao hơn.

- Thuộc tính kinh tế: điều quan trọng không phải chỉ là các tính chất sử dụng, mà cần xem giá bán có phù hợp với sức mua của người tiêu dùng hay không, khi sử dụng sản phẩm có phải tốn nhiều chi phí hay không. Tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng trong sử dụng trở thành một trong những yếu tố quan trọng phản ánh chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Bên cạnh những thuộc tính hữu hình có thể dễ dàng đánh giá mức chất lượng sản phẩm còn có những thuộc tính vô hình khác không thể hiện ở dạng vật chất nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với khách hàng như tên gọi, nhãn hiệu, danh tiếng của sản phẩm..
Theo góc độ kinh doanh, các thuộc tính của sản phẩm được chia thành hai nhóm: thuộc tính công dụng và thuộc tính được cảm thụ bởi người tiêu dùng.

- Thuộc tính công dụng biểu thị giá trị vật chất hay còn gọi là “phần cứng” của sản phẩm, thể hiện công dụng thực chất của sản phẩm. Các thuộc tính thuộc nhóm này phụ thuộc vào bản chất, cấu tạo của sản phẩm, các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, phần này chiếm khoảng 10% đến 40% giá trị sản phẩm.

- Thuộc tính được cảm thụ bởi người tiêu dùng biểu thị giá trị tinh thần hay còn gọi là “phần mềm” của sản phẩm, thuộc tính này xuất hiện khi có sự tiếp xúc, tiêu dùng sản phẩm và phụ thuộc vào quan hệ cung cầu, uy tín của sản phẩm, xu hướng thói quen tiêu dùng, đặc  biệt là các dịch vụ trước và sau khi bán phần này chiếm khoảng 60% đến 80% (có loại lên tới 90%) giá trị sản phẩm.

3. Đặc điểm của chất lượng
+ Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể, đó có thể là sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một tổ chức hay cá nhân.

+ Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các chỉ tiêu, những đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật hay giá trị sử dụng của sản phẩm. Không thể nói tới chất lượng của Diezen của ô tô chỉ là công suất, tải trọng quá mức tiêu thụ, độ tin cây, tuổi thọ của động cơ.....

+ Chất lượng sản phẩm phải được thể hiện trong tiêu dùng, sử dụng, xem xét sản phẩm thoả mãn tới mức độ nào của yêu cầu thị trường cả về mặt giá trị sử dụng và về mặt giá trị. Người tiêu dùng không dễ gì mua một sản phẩm với bất cứ giá nào.

+ Chất lượng sản phẩm gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu cầu của thị trường về mặt kinh tế kỹ thuật, xã hội và phong tục. Phong tục tập quán của một cộng đồng có thể phủ định hoàn toàn những thứ mà ta cho là “có chất lượng”, “có giá trị sử dụng cao”.

Từ những phân tích trên, có thể nói rằng chất lượng tổng hợp của một sản phẩm chính là sự thỏa mãn nhu cầu trên qua các yếu tố sau đây:
* Tính năng kỹ thuật.
* Tính kinh tế.
* Thời điểm  và điều kiện giao nhận.
* Các dịch vụ có liên quan.
* Tính an toàn.
Các yếu tố của chất lượng tổng hợp có thể tóm tắt qua các quy tắc :
- Quy tắc 3P gồm :
1. Performance, Perfectibility (hiệu năng , khả năng hoàn thiện).
2. Price (Giá cả thỏa mãn nhu cầu).
3. Punctuality (thời điểm cung cấp, đúng lúc).
- Quy tắc QCDSS gồm:
1. Quality (chất lượng).                                              4. Service (dịch vụ).
2. Cost (chi phí).                                                         5. Safety (an toàn).
3. Delivery Timing (đúng thời hạn).

Quản trị chất lượng - các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm



__________________________________________________________________ 1 Nhóm yếu tố nguyên vật liệu (Materials)
Đây là yếu tố cơ bản của đầu vào, có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm. Muốn có sản phẩm đạt chất lượng tốt theo yêu cầu thị trường, yêu cầu thiết kế. Điều trước tiên, nguyên vật liệu để chế tạo sản phẩm phải đảm bảo các yêu cầu: Về chất lượng, về số lượng và cung cấp đúng kỳ hạn, đúng lịch sản xuất.

2. Nhóm yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị (Machines)
Nếu yếu tố nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản quyết định tính chất và chất lượng của sản phẩm thì yếu tố kỹ thuật − công nghệ − thiết bị lại có tầm quan trọng đặc biệt, có tác dụng quyết định việc hình thành chất lượng sản phẩm. Trong sản xuất hàng hóa, người ta sử dụng và phối trộn nhiều nguyên vật liệu khác nhau về thành phần, về tính chất, về công dụng. Nắm vững được đặc tính của nguyên vật liệu để thiết kế sản phẩm là điều cần thiết. Song trong quá trình chế tạo, việc theo dõi khảo sát chất lượng sản phẩm theo tỷ lệ phối trộn là điều quan trọng để mở rộng mặt hàng, thay thế nguyên vật liệu, xác định đúng đắn các chế độ gia công để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhìn chung các sản phẩm hiện đại phải có kết cấu gọn nhẹ, thanh nhã, đơn giản, đảm bảo thỏa mãn toàn diện các yêu cầu sử dụng.
Công nghệ: quá trình công nghệ có ảnh hưởng lớn quyết định chất lượng sản phẩm. Đây là quá trình phức tạp, vừa làm thay đổi ít nhiều, hoặc bổ sung, cải thiện nhiều tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng sao cho phù hợp với công dụng của sản phẩm.
Bằng nhiều dạng gia công khác nhau: gia công cơ, nhiệt, hóa học, hóa lý… vừa tạo hình dáng kích thước, khối lượng, hoặc có thể cải thiện tính chất nguyên vật liệu để đảm bảo chất lượng của sản phẩm theo mẫu thiết kế.
Ngoài yếu tố kỹ thuật - công nghệ cần phải chú ý đến việc lựa chọn thiết bị. Kinh nghiệm cho thấy rằng, kỹ thuật và công nghệ được đổi mới, nhưng thiết bị cũ kỹ thì không thể nào nâng cao được chất lượng sản phẩm. Hay nói cách khác nhóm yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị có mối quan hệ tương hổ khá chặt chẽ, không chỉ góp phần vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường, đa dạng hóa chủng loại, nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ.

3. Nhóm yêu tố phương pháp tổ chức quản lý (Methods)
Có nguyên vật liệu tốt, có kỹ thuật − công nghệ − thiết bị hiện đại, nhưng không biết tổ chức quản lý lao động, tổ chức sản xuất, tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, tổ chức vận chuyển, dự trữ, bảo quản sản phẩm hàng hóa, tổ chức sửa chữa, bảo hành ... hay nói cách khác không biết tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh … thì không thể nâng cao chất lượng sản phẩm.

4 Nhóm yếu tố con người (Men)
Nhóm yếu tố con người bao gồm cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộ công nhân viên trong một đơn vị và người tiêu dùng. Đối với các cán bộ lãnh đạo các cấp cần có nhận thức mới về việc nâng cao chất lượng sản phẩm, để có những chủ trương, những chính sách đúng đắn về chất lượng sản phẩm, thể hiện trong mối quan hệ sản xuất và tiêu dùng, các biện pháp khuyến khích tinh thần vật chất, quyền ưu tiên cung cấp nguyên vật liệu, giá cả, tỷ lệ lãi vay vốn … Đối với cán bộ công nhân viên trong một đơn vị kinh tế trong một doanh nghiệp phải có nhận thức rằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm là trách nhiệm và vinh dự của mọi thành viên, là sự sống còn, là quyền lợi thiết thực đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và cũng là của chính bản thân mình. Sự phân chia các yếu tố trên chỉ là quy ước. Tất cả bốn nhóm yếu tố trên đều trong một thể thống nhất và trong mối quan hệ hữu cơ với nhau.

Quản trị chất lượng - Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm



1. Nhu cầu nền kinh tế
Chất lượng của sản phẩm chịu sự chi phối của các điều kiện cụ thể của nền kinh tế, thể hiện ở các mặt: đòi hỏi của thị trường, trình độ, khả năng cung ứng của sản xuất, chính sách kinh tế của Nhà nước… Nhu cầu của thị trường rất đa dạng phong phú về số lượng, chủng loại, kích cỡ, tính năng kỷ thụât …thị trường trong nước khác với thị trường thế giới nhưng khả năng của nền kinh tế thì có hạn : tài nguyên, vốn đầu tư, trình độ kỹ thuật  công nghệ, đổi mới trang thiết bị, kỹ năng, kỹ xảo của cán bộ công nhân viên… Như vậy, chất lượng của sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng hiện thực của toàn bộ nền kinh tế. Nhạy cảm với thị trường là nguồn sinh lực của quá trình hình thành và phát triển các loại sản phẩm, điều quan trọng là phải theo dõi, nắm bắt, đánh giá đúng tình hình và đòi hỏi của thị trường, nghiên cứu, lượng hoá nhu cầu của thị trường, trên cơ sở đó có đối sách đúng đắn. Chính sách kinh tế : Hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm và mức thoả mãn các loại nhu cầu … có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.

2. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật hiện đại trên quy mô toàn thế giới. Cụôc cách mạng này đang thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người. Chất lượng bất kỳ một sản phẩm nào cũng gắn liền với sự phát triển của khoa học − kỹ thuật hiện đại, chu kỳ công nghệ của sản phẩm được rút ngắn, công dụng của sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng, nhưng cũng chính vì vậy không bao giờ thỏa mãn với mức chất lượng hiện tại, mà phải thường xuyên theo dõi biến động của thị trường về sự đổi mới của khoa học kỹ thuật liên quan đến nguyên vật liệu kỹ thuật, công nghệ, thiết bị … để điều chỉnh kịp thời, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển doanh nghiệp ...

3. Hiệu lực của cơ chế quản lý
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết quản lý của Nhà nước, sự quản lý ấy thể hiện bằng nhiều biện pháp: kinh tế − kỹ thuật, hành chính − xã hội ... cụ thể hóa bằng nhiều chính sách nhằm ổn định sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hướng dẫn tiêu dụng, tiết kiệm ngoại tệ như chính sách đầu tư vốn, chính sách giá, chính sách về thuế, tài chính (bao gồm thuế xuất nhập khẩu), chính sách hỗ trợ, khuyến khích của Nhà nước đối với một số doanh nghiệp … Hiệu lực của cơ chế quản lý là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Mặt khác hiệu lực của cơ chế của cơ chế quản lý còn đảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong nước, giữa khu vực quốc doanh, khu vực tập thể, khu vực tư nhân, giữa các nhà doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài.

4 Các yếu tố về phong tục, văn hóa, thói quen tiêu dùng
Ngoài các yếu tố mang tính khách quan như vừa nêu trên, nhu cầu của nền kinh tế, sự phát triển của khoa học − kỹ thuật, hiệu lực của cơ chế quản lý, còn một yếu tố không kém phần quan trọng đó là yếu tố về phong tục, văn hóa, thói quen tiêu dùng, thị hiếu của từng vùng lãnh thổ, từng thị trường. Sở thích tiêu dùng của từng nước, từng dân tộc, từng tôn giáo… không hoàn toàn giống nhau. Do đó, các doanh nghiệp phải tiến hành điều tra, nghiên cứu nhu cầu sở thích của từng thị trường cụ thể, nhằm thỏa mãn những yêu cầu về số lượng và chất lượng.

Quản trị chất lượng - Chi phí chất lượng



1. Khái niệm
Để sản xuất một sản phẩm có chất lượng , chi phí để đạt được chất lượng đó phải được quản lý một cách hiệu quả. Những chi phí đó chính là thước đo sự cố gắng về chất lượng. Sự cân bằng giữa hai nhân tố chất lượng và chi phí là mục tiêu chủ yếu của một ban lãnh đạo có trách nhiệm.
 Theo ISO 8402,  chi phí chất lượng  là toàn bộ chi phí nảy sinh để tin chắc và đảm bảo chất lượng thỏa mãn cũng như những thiệt hại nảy sinh khi chất lượng không thỏa mãn.

2. Phân loại
Theo tính chất, mục đích của chi phí, chúng ta có thể phân chia chi phí chất lượng thành 3 nhóm :
- Chi phí sai hỏng, bao gồm chi phí sai hỏng bên trong và chi phí sai hỏng bên ngoài.         
- Chi phí thẩm định
- Chi phí phòng ngừa

a. Chi phí sai hỏng
Chi phí sai hỏng bên trong
 * Lãng phí
 Tiến hành những công việc không cần thiết, do nhầm lẫn, tổ chức kém, chọn vật liệu sai,v.v.

Có 7 loại lãng phí phổ biến thường gặp :
- Lãng phí do sản xuất thừa: phát sinh khi hàng hóa được sản xuất vượt quá nhu cầu của thị trường khiến cho lượng tồn kho nhiều, nghĩa là :
               + Cần mặt bằng lớn để bảo quản
               + Có nguy cơ lỗi thời cao
               +  Phải sửa chữa nhiều hơn nếu có vấn đề về chất lượng.
               + Nguyên vật liệu, sản phẩm xuống cấp.
               + Phát sinh thêm những công việc giấy tờ.
              +  Sản xuất trước thời biểu mà không do khách hàng yêu cầu cũng sinh lãng phí kiểu nầy. Hậu quả là cần nhiều nguyên liệu hơn, tốn tiền trả công cho những công việc không cần thiết, tăng lượng tồn kho, tăng khối lượng công việc, tăng diện tích cần dùng và tăng thêm nhiều nguy cơ khác.

- Lãng phí thời gian: loại lãng phí này rất thường gặp trong nhà máy và nhiều nơi khác nhưng rất nhiều khi chúng ta lại xem thường chúng.
Người ta thường chia làm 2 loại chậm trễ: bình thường và bất thường.
         + Chậm trễ bình thường : chủ yếu xuất hiện trong qui trình sản xuất và ít được nhận thấy. Ví dụ công nhân phải chờ đợi khi máy hoàn thành một chu kỳ sản xuất, trong khi thay đổi công cụ hay cơ cấu lại sản phẩm.
Chậm trễ bất thường : nảy sinh đột xuất và thường dễ nhận thấy hơn loại trên. Ví dụ, đợi ai đó, đợi vì máy hỏng, nguyên vật liệu đến chậm.
          Các nguyên nhân của lãng phí thời gian là :
+ Hoạch định kém, tổ chức kém.
          + Không đào tạo hợp lý
          + Thiếu kiểm tra
+ Lười biếng
+ Thiếu kỹ luật
Nếu có ý thức hơn và hiểu biết hơn về lãng phí kiểu nầy và tổ chức hành động ngay để thay đổi sẽ giúp chúng ta cải tiến được các kỹ năng giám sát và quản lý. Bằng cách sắp xếp tiến hành nhiều nhiệm vụ cùng một lúc, chúng ta có thể giảm được thời gian chờ đợi.

Lãng phí khi vận chuyển: Trong thực tế, sự vận chuyển hay di chuyển mọi thứ một cách không cần thiết, xử lý lập lại các chi tiết sản phẩm...cũng là lãng phí do vận chuyển.

- Lãng phí trong quá trình chế tạo: Lãng phí trong quá trình chế tạo nảy sinh từ chính phương pháp chế tạo và thường tồn tại trong quá trình hoặc trong việc thiết kế sản phẩm và nó có thể được xóa bỏ hoặc giảm thiểu bằng cách tái thiết kế sản phẩm, cải tiến qui trình. Ví dụ :
+ Thông qua việc cải tiến thiết kế sản phẩm, máy chữ điện tử có ít bộ phận hơn máy chữ cơ học.
+ Hệ thống mã vạch dùng để đẩy mạnh thông tin và máy thu ngân tự động dùng để xử lý các giao dịch tài chính.

- Lãng phí kho: Hàng tồn kho quá mức sẽ làm nảy sinh các thiệt hại sau :
+ Tăng chi phí.
+ Hàng hóa bị lỗi thời
+ Không đảm bảo an toàn trong phòng chống cháy nổ
+ Tăng số người phục vụ và các công việc giấy tờ liên quan
+ Lãi suất
+ Giảm hiệu quả sử dụng mặt bằng.
Muốn làm giảm mức tồn kho trong nhà máy, trước hết mỗi thành viên đều phải nỗ lực bằng cách có ý thức, trước hết không cần tổ chức sản xuất số lượng lớn các mặt hàng bán chậm, không lưu trữ lượng lớn các mặt hàng, phụ tùng dễ hư hỏng theo thời gian, không sản xuất các phụ tùng không cần cho khâu sản xuất tiếp theo. Những nguyên liệu lỗi thời theo cách tổ chức nhà xưởng cũ cần được thải loại và được tiến hành quản lý công việc theo 5S.

- Lãng phí động tác: Mọi công việc bằng tay đều có thể chia ra thành những động tác cơ bản và các động tác không cần thiết, không làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm. Thí dụ, tại sao cứ dùng mãi một tay trong khi bạn có thể dùng hai tay để sản xuất.

- Lãng phí do chất lượng sản phẩm kém: Sản xuất ra sản phẩm chất lượng kém, không sản xuất theo đúng tiêu chuẩn đăng ký hoặc bắt buộc và các bộ phận có khuyết tật là một dạng lãng phí thông dụng khác. Ví dụ, thời gian dùng cho việc sửa chữa sản phẩm (có khi phải sử dụng giờ làm thêm), mặt bằng để các sản phẩm nầy và nhân lực cần thêm để phân loại sản phẩm tốt, xấu.
Lãng phí do sự sai sót của sản phẩm có thể gây ra sự chậm trễ trong việc giao hàng và đôi khi chất lượng sản phẩm kém có thể dẫn đến tai nạn.

Ngoài ra cũng còn những lãng phí khác như : Sử dụng mặt bằng không hợp lý, thừa nhân lực, sử dụng phung phí nguyên vật liệu...

* Phế phẩm
Sản phẩm có khuyết tật không thể sữa chữa, dùng hoặc bán được.

* Gia công lại hoặc sửa chữa lại
Các sản phẩm có khuyết tật hoặc các chỗ sai sót đều cần phải gia công hoặc sửa chữa lại để đáp ứng yêu cầu.

* Kiểm tra lại
Các sản phẩm sau khi đã sửa chữa cũng cần thiết phải kiểm tra lại để đảm bảo rằng không còn sai sót nào nữa.

* Thứ phẩm
Là những sản phẩm còn dùng được nhưng không đạt qui cách và có thể bán với giá thấp, thuộc chất lượng loại hai

* Phân tích sai hỏng
Là những hoạt động cần có để xác định nguyên nhân bên trong gây ra sai hỏng của sản phẩm

Sai hỏng bên ngoài
Sai hỏng bên ngoài bao gồm :
- Sửa chữa sản phẩm đã bị trả lại hoặc còn nằm ở hiện trường
- Các khiếu nại bảo hành những sản phẩm sai hỏng được thay thế khi còn bảo hành.
- Khiếu nại : mọi công việc và chi phí do phải xử lý và phục vụ các khiếu nại của khách hàng.
- Hàng bị trả lại : chi phí để xử lý và điều tra nghiên cứu các sản phẩm bị bác bỏ hoặc phải thu về, bao gồm cả chi phí chuyên chở.
- Trách nhiệm pháp lý : kết quả của việc kiện tụng về trách nhiệm pháp lý đối với sản phẩm và các yêu sách khác, có thể bao gồm cả việc thay đổi hợp đồng.

b. Chi phí thẩm định
Những chi phí này gắn liền với việc đánh giá các vật liệu đã mua, các quá trình, các sản phẩm trung gian, các thành phẩm...để đảm bảo là phù hợp với các đặc thù kỹ thuật. Công việc đánh giá bao gồm :
Kiểm tra và thử tính năng các vật liệu nhập về, quá trình chuẩn bị sản xuất, các sản phẩm loạt đầu, các quá trình vận hành, các sản phẩm trung gian và các sản phẩm cuối cùng, bao gồm cả việc đánh giá đặc tính sản phẩm so với các đặc thù kỹ thuật đã thỏa thuận, kể cả việc kiểm tra lại.
- Thẩm tra chất lượng : kiểm nghiệm hệ thống chất lượng xem có vận hành như ý muốn không.
- Thiết bị kiểm tra : kiểm định và bảo dưỡng các thiết bị dùng trong hoạt động kiểm tra.
- Phân loại người bán : nhận định và đánh giá các cơ sở cung ứng.

c. Chi phí phòng ngừa
Những chi phí này gắn liền với việc thiết kế, thực hiện và duy trì hệ thống quản lý chất lượng tổng hợp. Chi phí phòng ngừa được đưa vào kế hoạch và phải gánh chịu trước khi đi vào sản xuất thực sự. Công việc phòng ngừa bao gồm :
- Những yêu cầu đối với sản phẩm : xác định các yêu cầu và sắp xếp thành đặc thù cho các vật liệu nhập về, các quá trình sản xuất, các sản phẩm trung gian, các sản phẩm hoàn chỉnh.
- Hoạch định chất lượng : đặt ra những kế hoạch về chất lượng, về độ tin cậy, vận hành sản xuất và giám sát, kiểm tra và các kế hoạch đặc biệt khác cần thiết để đạt tới mục tiêu chất lượng.
- Bảo đảm chất lượng : thiết lập và duy trì hệ  thống chất lượng từ đầu đến cuối.
- Thiết bị kiểm tra : thiết kế, triển khai và mua sắm thiết bị dùng trong công tác kiểm tra.
- Đào tạo, soạn thảo và chuẩn bị các chương trình đào tạo cho người thao tác, giám sát viên, nhân viên và cán bộ quản lý .
- Linh tinh : văn thư, chào hàng, cung ứng, chuyên chở, thông tin liên lạc và các hoạt động quản lý ở văn phòng có liên quan đến chất lượng.
- Mối liên hệ giữa chi phí phòng ngừa, chi phí thẩm định và chi phí sai hỏng với khả năng tổ chức đáp ứng những nhu cầu của khách hàng được biểu thị như sau: