Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn bản dưới luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn bản dưới luật. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Khi văn bản dưới luật “đá” luật

Khi van ban duoi luat da luat
Hiến pháp 1992 bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của người dân

Vẫn còn nhiều văn bản dưới luật trái với luật, thậm chí còn có cả chuyện thông tư đi ngược lại Hiến pháp - đó là thông tin được đưa ra tại phiên họp hôm thứ bảy tuần vừa rồi của UB Thường vụ Quốc hội về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật. UB Pháp luật của Quốc hội dẫn chứng.

Thông tư 02 ngày 13/1/2003 của Bộ Công an về hướng dẫn cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới có quy định “Mỗi người chỉ được đăng ký 1 xe môtô hoặc xe gắn máy”.
Cơ quan ra văn bản dưới luật này (Thông tư về giá trị pháp lý còn thấp dưới cả Nghị định) dường như không đối chiếu với hệ thống pháp luật hiện hành nên dẫn đến việc nó “đá” nhau với Bộ luật Dân sự (tài khoản 1, điều 221 của Bộ luật Dân sự thì tài sản hợp pháp thuộc sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị).
Thậm chí, quy định của Thông tư 02 còn vi hiến khi đã hạn chế quyền sở hữu tài sản của công dân, quyền cơ bản của công dân đã được quy định tại điều 58 Hiến pháp năm 1992!
Cái sự văn bản dưới luật “đá” luật nói trên đã dẫn đến điều gì? Trên thực tế, quy định ở Thông tư 02 đã gián tiếp tạo ra những thủ tục nhiêu khê, gây khó khăn trong các giao dịch mua bán xe máy, buộc người mua xe máy phải chi thêm những khoản tiền vô lý.
Hiện người ta vẫn sắm kìn kìn xe thứ hai, thứ ba khi chi thêm từ 3-6 triệu đồng (tùy mác xe máy) cho việc mua “suất đăng ký” dưới tên người khác. Có điều khoản tiền chi thêm ấy chủ yếu vào tay hệ thống môi giới, chứ không phải người “bán suất đăng ký”, càng không vào “kho ngân sách” vì mua bán trao tay không cần nộp trước bạ, sang tên.
Và thế là mục đích giảm số lượng xe để tiến tới giảm dần số vụ tai nạn giao thông, khắc phục được tình trạng ùn tắc cũng không thực hiện được.
Đó chỉ là một ví dụ điển hình. Theo số liệu tổng hợp bước đầu, từ tháng 11/2003 đến tháng 5/2005, các bộ, ngành đã rà soát, kiểm tra và phát hiện có trên 400 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Trong đó, văn bản có nội dung trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên, sai thẩm quyền cần hủy, bãi bỏ lên tới 4-5%.
Theo Bộ trưởng Tư pháp Uông Chu Lưu, đây là “căn bệnh” xảy ra tương đối lâu rồi và cho đến giờ vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, mọi tổ chức, cá nhân đều hoạt động trên cơ sở tuân theo Hiến pháp và pháp luật.
Hiến pháp là văn bản pháp luật nền tảng và có giá trị cao nhất. Mọi văn bản pháp luật không được trái Hiến pháp. Các văn bản pháp luật cấp dưới không được trái với các văn bản pháp luật cấp trên. Những điều cơ bản này dường như công chức nào cũng đã nghe, đã hiểu và buộc phải nhớ.
Thế nhưng chuyện văn bản dưới luật “đá” luật, thậm chí trái Hiến pháp vẫn tiếp tục xảy ra. Điều đó vừa ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, vừa vô tình tạo “điều kiện” để nhiều kẻ xấu lợi dụng để vừa hành dân lại vừa kiếm được bộn tiền. Bởi vậy, phải mau mau rà soát, bãi bỏ hết những văn bản dưới luật “đá” luật.
Theo Tiền phong

VĂN BẢN DƯỚI LUẬT


Tác giả: Luật học

VĂN BẢN DƯỚI LUẬT:
văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan chấp hành, hành chính ban hành trên cơ sở thi hành hiến pháp, luật, nghị quyết của chính phủ được ban hành để quyết định chính sách cụ thể về xây dựng và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở, hướng dẫn, kiểm tra hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; bảo đảm thực hiện hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân; thực hiện chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo; quyết định chủ trương, chính sách cụ thể về ngân sách nhà nước, tiền tệ; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lí công tác đối ngoại của nhà nước, các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; các biện pháp chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; phê duyệt các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của chính phủ.
Nghị định của Chính phủ bao gồm: a) Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; b) Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lí nhà nước, quản lí kinh tế, quản lí xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Quyết định của thủ tướng Chính phủ được ban hành để quyết định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; quy định chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của thủ tướng Chính phủ.
Quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ.
Quyết định của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc; quy định các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kĩ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; quy định các biện pháp để thực hiện chức năng quản lí ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và những vấn đề được Chính phủ giao.
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao được ban hành để hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử.
Quyết định, chỉ thị, thông tư của viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao quy định các biện pháp để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân các cấp; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.
Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.
Thông tư liên tịch giữa Toà án Nhân dân Tối cao với Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao; thông tư liên tịch giữa bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ với Toà án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.
Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia quản lí nhà nước.

Vì sao luật của VN thường phải sửa?


Cũng được xây dựng theo những như quy trình làm luật bài bản, công phu của các nước khác, song vì sao luật của VN thường "lỗi thời" nhanh chóng, chưa kể đến nhiều quy định chưa từng được đưa vào cuộc sống?
Vi sao luat cua VN thuong phai sua?
Hoạt động làm luật của QH đã có nhiều cải tiến...
Việt Nam đang hy vọng tiến nhanh tới một xã hội được quản lý bằng luật pháp và có đủ luật pháp cho quá trình hội nhập. Tuy đã có nhiều cải tiến trong hoạt động của Quốc hội, nhưng khoảng cách giữa mong muốn với thực tế về luật còn khá xa mà điểm đầu tiên cần xem xét là chất lượng của quá trình xây dựng và thực thi.
Ở Việt Nam, luật có được thông qua hay không phụ thuộc vào đa số các đại biểu Quốc hội, nhưng chất lượng của luật được đánh giá bằng hiệu quả của nó đối với xã hội. Luật có chất lượng cao là luật giúp cho việc quản lý xã hội thuận lợi hơn, giúp cho xã hội phát triển hơn và giúp cho đa số cá nhân, tổ chức chịu tác động của luật nhận rõ trách nhiệm của mình hơn khi chưa có luật.

Thông thường, "Luật" được hiểu đơn giản là quy định được cơ quan có thẩm quyền lập ra nhằm điều chỉnh hành vi của thành viên trong cộng đồng, trong quốc gia. Tuy nhiên, nếu không tuân thủ nghiêm ngặt từng bước của quy trình làm luật, luật có thể trở thành công cụ cho một số nhóm người sử dụng để "hành" dân và doanh nghiệp...

Nhìn chung việc xây dựng và thực thi luật của nước ta cũng bao gồm 5 giai đoạn trên, nhưng thường chỉ được tập trung vào giai đoạn soạn thảo dự luậtthông qua luật. Vì các giai đoạn có liên quan chặt chẽ với nhau nên bất cứ giai đoạn nào làm không tốt cũng sẽ ảnh hưởng xấu tới các giai đoạn còn lại.
giai đoạn xác định nhu cầu và khả năng xây dựng luật, việc xác định nhu cầu đa phần được thực hiện theo kế hoạch từ trên xuống, ít xuất phát từ các vướng mắc trong giải quyết các vấn đề thực tế. Khi có vướng mắc trong thực tế thì cũng không được thống kê theo hệ thống nên khó tổng hợp. Vì vậy có yêu cầu xây dựng luật nhưng cụ thể luật phải giải quyết vấn đề gì thì không rõ.
Do Hiến pháp và các luật đã có không được tuân thủ triệt để nên khó xác định phạm vi của luật mới: có những điều không đưa vào sẽ thiếu nhưng đưa vào lại bị trùng lặp.
Việc thực thi các luật hiện hành không nghiêm nên khó xác định được chính xác khả năng thực thi cũng như chi phí đối với luật mới.
Những yếu tố này khiến cho việc quyết định soạn thảo luật gặp khó khăn hoặc kế hoạch xây dựng luật thiếu cơ sở. Với chất lượng như của các luật đã được xây dựng thì việc thực hiện kế hoạch 20 luật trong năm nay không quá khó tuy nhiên hiệu quả thực sự của luật vẫn còn là câu hỏi khó trả lời.
Với giai đoạn soạn thảo dự luật, do cách làm chưa khoa học nên chúng ta chưa có được đội ngũ xây dựng luật chuyên nghiệp đủ mạnh. Vì vậy việc soạn thảo dự luật được các bộ, ngành tự tiến hành nên khó tránh khỏi lỗi kỹ thuật pháp lý, lỗi ngôn ngữ và bị ảnh hưởng của lợi ích cục bộ.
Cần có ban soạn thảo gồm những chuyên gia rất giỏi về luật, về quản lý và có đạo đức tốt. Họ được làm việc độc lập và có sự phối hợp với các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan. Họ không cần phải lo lắng cho miếng cơm, manh áo của chính họ.
Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay khó có thể chọn được ban chuyên trách như vậy và khó tạo được cơ chế đó nên chất lượng soạn thảo của nhiều dự luật còn chưa cao.
Sang giai đoạn thẩm định, xem xét và thông qua luật, do chất lượng dự luật của giai đoạn cần kỹ thuật cao nhất chưa thực cao nên khó định hình được công việc của các bước trong giai đoạn này.
Các chuyên gia, cán bộ, cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn này không phải luôn có năng lực cao, hoặc không có đủ thời gian hay ngại va chạm nên khó được kết quả cao. Nhiều đại biểu Quốc hội phát biểu khi thảo luận luật tại hội trường còn dài dòng, chung chung và không tập trung vào nội đang bàn.
Do nhu cầu của việc xây dựng luật chưa được khoa học nên gia đoạn này đôi khi mất rất nhiều thời gian mà không có kết luận.
Còn ở giai đoạn triển khai áp dụng luật, đây có thể coi là giai đoạn yếu dễ nhận thấy nhất trong toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi luật ở Việt Nam.
Đa số các luật cần nhiều văn bản dưới luật để thực thi. Tuy vậy, nhiều luật sau khi được ban hành đã nhiều năm nhưng chưa có văn bản dưới luật như yêu cầu. Có thể do chúng ta chưa nhận thức được chức năng thực hiện luật của mỗi bộ, ngành, đơn vị , có thể do việc ban hành luật không kèm theo hướng dẫn cụ thể, nhưng cũng có thể còn nhiều nguyên nhân chủ quan khác khiến cho văn bản dưới luật không có. Văn bản dưới luật không đủ hoặc chất lượng không đảm bảo thì khó có thể thực thi luật được tốt.
Trong buổi họp ngày 22 / 11, Quốc hội đã mạnh dạn chỉ ra những tồn tại về thực thi luật: 60% văn bản dưới luật thiếu , có văn bản dưới luật ra chậm hàng chục năm! Đó là thực tế đau xót nhưng nếu chúng ta dám nói thực thì chúng ta đã có cơ hội để giải quyết.
Việc đào tạo, hướng dẫn, tuyên truyền luật cho các cơ quan thực thi và đối tượng điều chỉnh của luật cũng không được tiến hành bài bản nên khó triển khai áp dụng.
Nhận thức luật kém, thói quen giải quyết công việc theo cảm tính, nể nang và sự hợp tác yếu giữa các cá nhân, tổ chức thực thi làm cho luật khó đưa được vào cuộc sống. Bên cạnh đó năng lực cán bộ của chúng ta trong thực thi luật nhìn chung yếu.
Các tệ nạn xã hội như quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bệnh hình thức, sản xuất manh mún, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và điều kiện kinh tế kém là sự cản trở đáng kể cho quá trình thực thi luật ở Việt nam. Một khi cán bộ hoặc đơn vị thực thi luật pháp không nghiêm thì khó có thể yêu cầu cấp dưới tuân thủ triệt để luật.
Nhìn chung doanh nghiệp, tổ chức, hay cá nhân đều không muốn mình tuân theo luật nếu không nhìn thấy lợi ích thực sự từ luật.
Vì vậy cần có sự quản lý chặt chẽ để đảm bảo công bằng: pháp nhân tuân thủ luật sẽ có lợi, ngược lại nếu vi phạm sẽ bị phạt. Đây là điều chưa thể thực hiện một sớm một chiều tại Việt nam.
Cuối cùng, chuyển sang giai đoạn đánh giá kết quả và sửa đổi. Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, nơi mà luật pháp chưa nghiêm, giai đoạn này ở Việt Nam cũng chưa có những kết quả đáng kể. Ngay việc đơn giản như đánh giá kết quả thực hiện lời hứa của các Bộ trưởng trước quốc hội cũng chưa được thực hiện đầy đủ thì các đánh giá luật vốn rất phức tạp sẽ rất khó thực hiện.
Điểm khó khăn trong đánh giá kết quả là phân được trách nhiệm của từng đối tượng, xác định được nguyên nhân gốc rễ trong từng trường hợp cụ thể để đưa ra biện pháp khắc phục và phòng ngừa. Tuy nhiên, với hệ thống quản lý xã hội còn nhiều bất cập như hiện nay, việc phân định trách nhiệm chưa rõ thì sẽ rất khó để thực hiện.
Khi các số liệu trên không được tổng hợp một cách hệ thống, định kỳ thì việc sửa đổi hay bổ sung luật sẽ thiếu cơ sở. Vì vậy trong thưc tế luật Việt Nam thường hay sửa đổi nhưng sau sửa đổi vẫn còn nhiều bất cập.
Các bước xây dựng và thực thi luật:
Quá trình xây dựng và thực thi luật trải qua nhiều bước tuy nhiên có thể phân thành các giai đoạn chính như sau:
1Xác định nhu cầu và khả năng xây dựng luật:
Đa số các luật được xây dựng xuất phát từ nhu cầu giải quyết các vấn đề phát sinh trong xã hội mà việc thiếu luật là rào cản rất lớn. Số lượng các vướng mắc đã gặp cũng như những vướng mắc trong tương lai do thiếu luật nào đó và hậu quả của chúng cũng như hiệu quả kỳ vọng của luật mới là sức ép để luật ra đời. Luật cũng có thể được xây dựng do kinh nghiệm của các nước đi trước, do sức ép của các tổ chức quốc tế hoặc do tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo. Từ những nhu cầu đó, nội dung của luật đã phần nào được hình thành. Những căn cứ ban đầu này càng cụ thể, chính xác thì việc xây dựng luật càng dễ và có chất lượng cao.
Luật mới sẽ chịu tác động của hiến pháp và các luật đã có ( cả trong nước và các luật quốc tế mà quốc gia công nhận), của cả luật khác sẽ ra đời. Luật mới cũng có thể phải thay thế luật hoặc văn bản dưới luật đang hiện hành.
Trước khi soạn thảo luật cần xem xét khả năng triển khai áp dụng luật đã phù hợp chưa. Khả năng của các cơ quan, ngành đưa ra các văn bản dưới luật có đảm bảo không? Khả năng thực thi của các pháp nhân, người dân chịu tác động của luật sẽ thế nào? Chi phí ước tính cho việc triển khai áp dụng luật là bao nhiêu và so với lợi ích của luật thế nào? Các điều kiện về tài chính, kỹ thuật có đảm bảo thực hiện luật hay chưa? Các yếu tố này ảnh hưởng đến việc khi nào luật nên được thực thi, chi phí cho xây dựng và thực thi luật, các khung hình thưởng phạt trong luật...
Chỉ khi nào yêu cầu của các công đoạn trên được hội tụ đầy đủ thì việc soạn thảo luật mới nên được bắt đầu.
2- Soạn thảo dự luật:
Ở nhiều nước, việc soạn thảo dự luật được tiến hành bởi ban chuyên trách. Ban này gồm có các chuyên gia rất giỏi trong việc tổng hợp, phân tích chính sách và văn bản hoá chúng theo ngôn ngữ luật. Ban này phối hợp chặt chẽ với chuyên gia có trình độ cao trong lĩnh vực liên quan mà luật đề cập.
Đầu vào cho ban soạn thảo dự luật là quyết định soạn thảo dự luật và các tài liệu liên quan trong phần 1. Đầu ra của ban soạn thảo là dự luật hợp hiến, hợp pháp theo định hướng phát triển, đáp ứng được yêu cầu của phần 1. Ngoài ra dự luật còn cần ngắn gọn, đầy đủ, cụ thể và khoa học. Dự luật cần dễ hiểu và không suy luận được theo nhiều chiều. Đầu ra của ban soạn thảo còn cần có liệt kê các văn bản ngay dưới luật với các yêu cầu nội dung để triển khai luật và các văn bản mà luật sẽ thay thế, văn bản nhà nước cần sửa đổi.
Đây là bước có yêu cầu kỹ thuật cao nhất và có thể tốn nhiều thời gian nhất trong quá trình xây dựng luật.
3- Thẩm định, xem xét và thông qua luật:
Việc thẩm định dự luật được tiến hành bởi cơ quan có thẩm quyền cao hơn nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp. Các yếu tố kỹ thuật pháp lý, ngôn ngữ, và khả năng thực thi của dự luật cũng được thẩm định trước khi đưa ra Quốc hội xem xét.
Việc xem xét dự luật có thể được tiến hành qua nhiều bước, trước hết tại quốc hội. Sau khi quốc hội xem xét, dự luật thường được xem xét bởi các đối tượng mà luật điều chỉnh. Sau nữa dự luật có thể được xem xét góp ý của toàn dân.
Thông qua mỗi bước trên dự luật có thêm các yêu cầu điều chỉnh. Ban soạn thảo tổng hợp các ý kiến đó và đưa ra lý lẽ và hành động để hoàn thiện dự luật.
Bước cuối cùng, dự luật được trình quốc hội thông qua.
Đây là công đoạn mang tính pháp lý cao nhất. Sau khi luật đã được thông qua thì việc hiệu chỉnh, sửa chữa sẽ rất phức tạp. Nếu luật đã được ban hành mà có chất lượng chưa cao thì có thể bị vô hiệu hoá hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho đất nước.
4- Triển khai áp dụng luật:
Để luật có hiệu lực thực sự tới các đối tượng điều chỉnh, các bộ ngành chức năng cần có một số lượng lớn các văn bản dưới luật và hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra cần có sự chuẩn bị chu đáo về nhân lực, tài chính, kỹ thuật vv cho quá trình thực thi.
Cần có quá trình đào tạo cho đội ngũ viên chức hiểu và hỗ trợ thi hành luật. Các bước tuyên truyền cũng cần được tiến hành nhằm làm cho đối tượng điều chỉnh của luật hiểu và tuân thủ.
Đối với luật phức tạp cần có thí điểm để kiểm tra, rút kinh nghiệm. Thông qua các bước thí điểm đó các văn bản dưới luật có thể được điều chỉnh cho phù hợp.
Khi quá trình này được thực thi, các pháp nhân, cá nhân chịu tác động của luật có thể phải xem xét, điều chỉnh lại chiến lược, hoạt động của mình.
Quá trình triển khai áp dụng luật là quá trình có sự tham gia của nhiều người nhất. Hiệu quả của luật thu được từ quá trình này. Đây cũng là giai đoạn thể hiện rõ nhất chất lượng của luật.
5- Đánh giá kết quả và sửa đổi:
Nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra, đánh giá luật là xem xét định kỳ kết quả việc thực thi luật trong xã hội. Họ so sánh kết quả đó với mục tiêu của luật và sự so với kết quả đánh giá trước khi có luật. Bản thân các chuyên gia đánh giá là những người rất am hiểu luật, có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra và có khả năng làm việc với nhiều tầng lớp trong xã hội. Mục tiêu, các số liệu đầu vào cho việc xây dựng luật càng cụ thể, chính xác, đầy đủ thì việc đánh giá hiệu quả của luật càng dễ.
Trong quá trình áp dụng luật khó tránh khỏi vướng mắc do luật hoặc các văn bản dưới luật thiếu cụ thể, thiếu chính xác, do người vận dụng chưa hiểu, do sai lệch cố ý hoặc do biến động trong thực tế mà luật chưa đề cập đến. Các nhà quản lý, hành pháp, tư pháp, các đại biểu của dân cần nắm bắt được các vướng mắc này để trực tiếp giải quyết hoặc trình cấp trên để giải quyết kịp thời.
Tất cả các đánh giá, vướng mắc này cần được thông báo tới ban soạn thảo luật nhằm tổng hợp, rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho bản thân luật, các văn bản dưới luật này và các luật sau.
Việc đánh giá kết quả của mỗi luật và yêu cầu điều chỉnh nên được tiến hành mỗi năm ít nhất một lần.
  • Văn Sinh
Việt Báo (Theo_VietNamNet)