Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp Luật Thương Mại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp Luật Thương Mại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Chính sách khoan hồng và tác động phá vỡ các - ten

Việt Nam là một trong số các quốc gia đã ban hành Luật Cạnh tranh trong đó có những quy định về cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam chưa có quy định về chính sách khoan hồng dành cho các thành viên tham gia các thỏa thuận này nếu họ chủ động khai báo và cung cấp chứng cứ cho cơ quan điều tra.



**** Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một công cụ vô cùng hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Cạnh tranh góp phần đào thải các chủ thể kinh doanh kém hiệu quả, giữ lại những chủ thể kinh doanh sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Nói cách khác, cạnh tranh như một bàn tay vô hình dẫn dắt các chủ thể kinh doanh, thúc đẩy các chủ thể này tìm giải pháp tăng năng suất lao động, không ngừng cải tiến công nghệ để tăng chất lượng, giảm giá thành sản phẩm và hệ quả là các nguồn lực trong xã hội được phân bổ một cách có hiệu quả và người tiêu dùng nói riêng và toàn xã hội nói chung được hưởng lợi.*
Tuy nhiên, các chủ thể kinh doanh làm như vậy xuất phát từ lợi ích của chính bản thân mình. Với tư cách là một quy tắc chung, khi các đối thủ cạnh tranh phải cạnh tranh mạnh mẽ với nhau để giành giật thị trường, sẽ có một áp lực rất lớn lên họ để hạ chi phí, cải thiện chất lượng hàng hoá, dịch vụ nhằm thu hút khách hàng, người tiêu dùng về phía mình. Những doanh nghiệp làm ăn phi hiệu quả sẽ là những doanh nghiệp bị thiệt hại đầu tiên do phải thu hẹp quy mô sản xuất và rút khỏi thị trường. Một số doanh nghiệp thì bị áp lực để buộc phải sáp nhập với các doanh nghiệp khác. Điều này sẽ sản sinh ra một quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và chỉ những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả mới có thể tồn tại trên thị trường.
Lợi ích to lớn khác của cạnh tranh là nâng cao hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp kinh doanh bởi vì nguồn lực chỉ được phân bổ tới những doanh nghiệp làm ăn thực sự hiệu quả chứ sẽ không đến với những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, lãng phí.
Cuối cùng, cạnh tranh cũng thúc đẩy hiệu quả sản xuất bằng cách cho phép các doanh nghiệp khai thác lợi thế kinh tế do quy mô có được nhờ phục vụ một cơ số khách hàng rất lớn, thứ mà có thể không được khai thác hoặc chưa được phục vụ đầy đủ ([1]). Một vấn đề ngay lập tức được đặt ra là liệu các chủ thế kinh doanh có chấp nhận tiếp tục tham gia vào một cuộc chơi khốc liệt như vậy khi họ có con đường khác để duy trì sự tồn tại và phát triển trên thị trường. Thực tế đã có câu trả lời cho vấn đề này, đó là sự ra đời của các -ten.
Các -ten là tổ chức được các đối thủ cạnh tranh (các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc cùng bán một loại sản phẩm) lập ra để phối hợp, điều hoà hoạt động giữa các doanh nghiệp thành viên tham gia các -ten, nhất là điều hoà, phối hợp các hành động về ấn định giá cả, phân chia thị trường, kiểm soát sản lượng. Thực tế, các -ten không chỉ là phương tiện làm triệt tiêu cạnh tranh giữa các thành viên tham gia các -ten mà còn có thể là phương tiện triệt tiêu cạnh tranh trên toàn thị trường, phối hợp hành động giữa các đối thủ cạnh tranh để bắt chước, xử sự giống như một nhà độc quyền hoặc gần độc quyền trong nền kinh tế. Bằng cách làm như vậy, các thành viên các -ten có thể bóc lột những bạn hàng, đối tác thương mại của mình (người tiêu dùng, nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, nhà phân phối sản phẩm), tối đa hoá lợi nhuận trên thị trường bằng cách bóc lột người khác và triệt tiêu một cách căn bản các áp lực cạnh tranh trên thị trường ([2])
Thực tiễn cho thấy, không dễ để có thể phát hiện và xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này vì các thủ đoạn thông đồng của các công ty khá tinh vi. Cơ quan điều tra phải tiến hành khám xét và dùng nhiều nghiệp vụ để có thể thu thập được chứng cứ và điều này không phải lúc nào cũng có thể đem lại hiệu quả. Tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, cơ quan điều tra phải cài người nằm trong hệ thống các công ty là thành viên các -ten để thu thập chứng cứ. Đây là một biện pháp có hiệu quả, nhưng để lọt vào vị trí có thể thu thập được các chứng cứ là việc làm hết sức khó khăn và tốn kém về mặt thời gian, công sức và tiền của, thậm chí là nguy hiểm cho nhân viên thâm nhập. Liệu phát hiện và xử lý các -ten có phải là điều thực sự quá khó khăn?* *
1. Những điểm yếu của các -ten
Để có thể đạt được và duy trì một thỏa thuận cho các -ten không phải là điều dễ dàng. Một trong những khó khăn mà các -ten vấp phải chính là bài toán chi phí. Việc thành lập và duy trì sự tồn tại của các -ten luôn phát sinh ra chi phí phối hợp hành động và đương nhiên chi phí này phải thấp hơn lợi ích mà việc thông đồng đó mang lại. Một các -ten càng khó khăn để có thể thỏa thuận ấn định được giá và phân chia thị trường cũng như giám sát việc tuân thủ của các thành viên đối với các thỏa thuận đó thì chi phí để tạo ra các -ten đó càng lớn ([3]). Bên cạnh đó, khi pháp luật có những chế tài nghiêm khắc kết hợp với sự đấu tranh mạnh mẽ từ phía cơ quan điều tra thì bảo mật các -ten cũng phát sinh ra một khoản chi phí đáng kể.
Nhân tố vô cùng quan trọng nêu trên thực tế không phải là vấn đề chính mà là sự thiếu niềm tin lẫn nhau của các bên tham gia, đây mới thực sự là điểm yếu của các -ten. Các ten là một liệu pháp mà các bên chọn để tránh việc phải đối đầu với nhau trong quá trình tồn tại trên thị trường. Bản chất của các -ten chính là một dạng hợp đồng nhưng điều khác biệt duy nhất giữa các -ten và các hợp đồng chính là sự bất hợp pháp của nó.
Trong quan hệ hợp đồng có một quyền lực khác đảm bảo cho việc thực thi các cam kết trong hợp đồng, ngoài sự tự nguyện thực hiện của các bên, chính là pháp luật. Như vậy, sự hiện diện của pháp luật đã khiến cho các bên tham gia luôn có ý thức thực hiện nghĩa vụ của mình và bên còn lại có thể có niềm tin vào sự đảm bảo cho quyền lợi của mình, từ đó, đảm bảo tính ổn định của các thỏa thuận. Không có được sự đảm bảo của pháp luật, các thỏa thuận của các -ten luôn đứng trước sự nghi ngờ lẫn nhau giữa các bên tham gia. Chính điều này là yếu tố tiềm tàng khiến cho các -ten luôn trong trạng thái sẵn sàng bị phá vỡ. Vậy yếu tố niềm tin này có thể dẫn tới những khả năng nào khiến các -ten bị phá vỡ?
Thứ nhất, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như giảm sản lượng hoặc ấn định giá, các bên tham gia trong các -ten phải cùng phối hợp hành động, theo đó họ phải tuân thủ bán cùng một mức giá, cung ứng một khối lượng hàng hóa nhất định như cam kết. Tuy nhiên, lợi nhuận là cái đích mà các bên cùng hướng tới, do đó khi thị trường trở nên khan hiếm thì tự bản thân mỗi bên sẽ bị chính lợi nhuận thúc đẩy dẫn đến tăng lượng hàng cung ứng của mình lên hơn so với các thành viên khác, lúc đó sự vi phạm thỏa thuận sẽ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp đó và thiệt hại cho các doanh nghiệp còn lại. Tương tự như vậy, trong trường hợp các bên ngầm thỏa thuận ấn định tăng giá và một thành viên tự ý phá bỏ thỏa thuận, giảm giá bán, lúc đó doanh thu của thành viên đó sẽ tăng và các thành viên khác sẽ chịu thiệt hại.
Thứ hai, không phải trong một các -ten, tất cả các thành viên đều được chia lợi ích như nhau. Trong một các -ten, thông thường có một số thành viên có quyền lực lớn hơn các thành viên khác, do vậy khi hưởng thành quả từ việc thực thi các -ten, các thành viên yếu thế hơn thường chịu thiệt thòi hơn. Kinh doanh là sự hợp tác khi cần tạo ra chiếc bánh nhưng sẽ là cạnh tranh khi đến lúc chia phần chiếc bánh đó ([4]). Theo cách nhìn nhận này, khi các -ten được duy trì trong một khoảng thời gian càng dài thì mâu thuẫn về lợi ích giữa các thành viên càng trở nên sâu sắc và vấn đề phân chia lợi ích trở thành nhân tố thúc đẩy sự phá vỡ các -ten để xác lập tỉ lệ chia mới mà các thành viên yếu thế cho rằng hợp lý hơn, hoặc xa hơn nữa là tạo ra cuộc lật đổ và chiếm lĩnh vị thế mà họ sẽ có miếng bánh to hơn.
Thứ ba, khi một các -ten bị bại lộ, các thành viên đóng vai trò lãnh đạo hoặc các thành viên có thái độ ngoan cố hơn trong các -ten thông thường sẽ b? pháp luật trừng phạt nặng nề hơn và sự trừng phạt này có thể dẫn tới thiệt hại vô cùng lớn cho thành viên đó. Thiệt hại này nếu không dẫn tới phá sản thì cũng khó có thể phục hồi sức mạnh trong một thời gian ngắn, và đó là cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh khác, đây chính là điều lo ngại giữa các thành viên các ten.
Có quan điểm cho rằng, thương trường là chiến trường, trong kinh doanh sẽ luôn có người thắng và kẻ bại. Về điều này, Gore Vidal đã viết rằng: “Chỉ thành công thôi chưa đủ, phải làm sao cho kẻ khác thất bại nữa”. Bernard Baruch - nhà tài phiệt ngân hàng hàng đầu của thế kỷ 20 lại có quan điểm trái ngược với Gore Vidal, ông cho rằng: “Không cần phải thổi tắt ánh sáng của người khác để mình tỏa sáng”. Điều này có nghĩa là hoạt động kinh doanh không hề hoàn toàn giống như một cuộc chiến. Để thành công, các bên đều phải biết lắng nghe và phải xây dựng được các mối quan hệ chiến lược, thậm chí với cả đối thủ cạnh tranh của mình. Có thể thấy nếu như quan điểm về kết cục tất cả đều thắng (win-win) của Bernard Baruch là sợi dây dẫn dắt và đem lại niềm tin giúp các bên đến với nhau để hình thành nên các -ten, thì điều Gore Vidal nói lại là vấn đề đeo đuổi các bên, đem lại sự nghi kỵ giữa họ trong suốt quá trình thực hiện các -ten đó. Một khi các bên ý thức được thương trường là chiến trường thì kẻ thắng là kẻ ra tay trước. Do đó, nếu pháp luật có một cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho thành viên đầu hàng khai báo và cung cấp các chứng cứ về sự tồn tại của các -ten mà mình tham gia thì tính ổn định của một các -ten càng trở nên yếu ớt hơn bao giờ hết, vì ai cũng muốn mình là kẻ ra tay trước. Cơ chế miễn trừ này, theo pháp luật một số nước, được gọi là chính sách khoan hồng (leniency policy).
2. Chính sách khoan hồng
Trong pháp luật về chống các -ten, chính sách khoan hồng là chính sách mà nhà nước giành quyền miễn trừ khỏi các chế tài áp dụng đối với các thành viên tham gia các -ten chủ động khai báo, cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh sự tồn tại của các -ten và hợp tác với cơ quan điều tra. Hiện nay có nhiều quốc gia đã áp dụng chính sách này trong cuộc chiến chống các -ten trong đó có Hoa Kỳ, Cộng đồng Châu Âu, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia... Tuy còn có một số điểm khác nhau nhưng nhìn chung, chính sách khoan hồng sau khi ra đời đã khẳng định được vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cơ quan điều tra phát hiện và xử lý các -ten.
a) Tại Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong số ít quốc gia có luật chống độc quyền sớm nhất và cũng là quốc gia đầu tiên có chính sách khoan hồng đối với thành viên tham gia các -ten. Luật chống các -ten của Hoa Kỳ còn được gọi là Luật chống tờ -rớt (anti-trust) ra đời năm 1890 với tên gọi là Luật Sherman, tuy nhiên tại thời điểm đó chính sách khoan hồng chưa được áp dụng. Đến năm 1978, chính sách khoan hồng dành cho doanh nghiệp ra đời và được sửa đổi vào năm 1993. Sau đó, vào năm 1994 Bộ Tư pháp Hoa Kỳ tiếp tục ban hành chính sách khoan hồng dành cho cá nhân (giám đốc, lãnh đạo và những người lao động trong công ty tham gia các -ten). Tới nay, Hoa Kỳ áp dụng song song hai chính sách khoan hồng, một là dành cho công ty và một là dành cho các cá nhân. Kể từ khi ra đời, chính sách này đã đem lại thành công lớn cho các cuộc điều tra chống các -ten, đem về cho chính phủ Hoa Kỳ hơn 2 tỷ đô-la tiền phạt các doanh nghiệp vi phạm[5]. Theo đánh giá của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, sẽ rất khó khăn đối với cơ quan điều tra để có thể phát hiện và xử lý một số các -ten nếu không có chính sách khoan hồng, điển hình trong số đó là một số vụ nổi tiếng như Vitamins, DRAM, Graphite Electrodes hay Fine Arts Auctions. Chính sách khoan hồng của Hoa Kỳ có những điểm đáng chú ý là:
Thứ nhất, để được hưởng quyền miễn trừ từ chính sách khoan hồng thì điều kiện tiên quyết là tại thời điểm mà cá nhân hay doanh nghiệp khai báo thì cơ quan điều tra chưa nhận được thông tin nào về hành vi vi phạm từ bất kỳ nguồn nào. Như vậy, chính sách khoan hồng của Hoa Kỳ chỉ miễn trừ cho chủ thể đầu tiên trong các -ten khai báo với cơ quan điều tra. Việc miễn trừ trong trường hợp này là miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm, cá nhân hay doanh nghiệp thỏa mãn điều kiện và được hưởng quyền miễn trừ từ chính sách khoan hồng sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và không bị nộp bất kỳ một khoản tiền phạt nào.
Thứ hai, doanh nghiệp hoặc cá nhân khai báo phải không có hành vi cưỡng ép người khác tham gia vào các -ten hoặc không là thành viên đóng vai trò lãnh đạo trong các -ten. Đây thực sự là một sự trừng phạt mạnh mẽ đối với các cá nhân hoặc doanh nghiệp đóng vai trò lôi kéo, lãnh đạo các -ten. Khi bắt đầu lôi kéo để thành lập nên một các -ten, cá nhân và doanh nghiệp đó phải hiểu rằng, họ không còn con đường nào để rút lui trong khi khả năng bị phát hiện không phải là nhỏ và các thành viên khác có thể rút lui an toàn với chính sách khoan hồng.
Thứ ba, chính sách khoan hồng của Hoa Kỳ có quy định nếu công ty thỏa mãn điều kiện được hưởng miễn trừ thì giám đốc, lãnh đạo và các nhân viên của công ty sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với điều kiện họ phải thành khẩn thừa nhận và khai báo đầy đủ hành vi vi phạm của mình đồng thời với việc khai báo hành vi vi phạm của công ty và tiếp tục hỗ trợ cơ quan điều tra phát hiện và xử lý các -ten đó. Trong trường hợp công ty khai báo không thỏa mãn các điều kiện để được hưởng miễn trừ thì giám đốc, lãnh đạo và nhân viên chỉ được hưởng miễn trừ của chính sách khoan hồng nếu họ tự nguyện khai báo với cơ quan điều tra với tư cách cá nhân. Đối với trường hợp nhân viên của công ty thành viên khai báo các -ten với tư cách cá nhân và công ty này đến sau nhân viên của mình thì quyền miễn trừ lúc này chỉ dành cho nhân viên vì công ty đã không thỏa mãn điều kiện tiên quyết đã nói ở trên. Với chính sách khoan hồng như vậy, Hoa Kỳ đã không những tạo ra một cuộc đua giữa các công ty là thành viên của các -ten với nhau mà còn là cuộc đua thực sự giữa công ty với chính các nhân viên của mình để giành quyền miễn trừ.
Thứ tư, chính sách khoan hồng dành cho công ty hiện hành đã bổ sung mục B theo đó doanh nghiệp khai báo các -ten sẽ vẫn được hưởng quyền miễn trừ sau khi cuộc điều tra đã được tiến hành nếu thỏa mãn mọi điều kiện như trường hợp trước khi cuộc điều tra tiến hành, cơ quan điều tra phải chưa có chứng cứ nào chống lại công ty đó và việc áp dụng chính sách khoan hồng này phải không được tạo ra sự bất công bằng đối với doanh nghiệp khác. Sự công bằng được nói đến ở đây được căn cứ trên bản chất của hành vi, sự thành khẩn của công ty, vai trò của công ty trong các -ten và một yếu tố quan trọng là thời điểm mà công ty khai báo với cơ quan điều tra.*
b) Tại Nhật Bản
Tương tự với Hoa Kỳ, Nhật Bản cũng có chính sách khoan hồng dành cho các thành viên tham gia các -ten tự nguyện khai báo với cơ quan điều tra. Tuy vậy, chính sách khoan hồng của Nhật Bản có đôi chút khác biệt với Hoa Kỳ.
Chính sách khoan hồng của Nhật Bản được đưa vào áp dụng từ Luật Chống độc quyền (AMA) có hiệu lực từ tháng 4/2006. Tuy mới được áp dụng nhưng đến tháng 5/2007, ủy ban Thương mại công bằng của Nhật Bản (JFTC) đã nhận được sự khai báo của tổng cộng 105 công ty, trong đó có tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi[6].
Theo quy định tại Điều 7-2 của AMA, để được miễn trừ toàn bộ tiền phạt, thành viên tham gia các -ten phải: (1) Khai báo hành vi tham gia các -ten và cung cấp các tài liệu, bằng chứng về hành vi phản cạnh tranh lên JFTC, (2) Việc khai báo và cung cấp chứng cứ này phải tiến hành trước khi JFTC mở cuộc điều tra, (3) Công ty khai báo phải chấm dứt hành vi vi phạm trước khi JFTC tiến hành điều tra, (4) Công ty khai báo phải cung cấp các thông tin bổ sung theo yêu cầu của JFTC và (5) Công ty khai báo chưa từng có hành vi ép buộc chủ thể khác tham gia các -ten cũng như ngăn cản họ chấm dứt việc tham gia các -ten.*
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, khác với chính sách của Hoa Kỳ như đã nói ở trên, chính sách khoan hồng của Nhật Bản vẫn áp dụng đối với cả các thành viên đóng vai trò chỉ huy, lãnh đạo các -ten miễn là họ thỏa mãn các điều kiện nêu trên, đặc biệt là điều kiện (5). Bên cạnh đó, không chỉ dành quyền miễn trừ cho doanh nghiệp đầu tiên khai báo các -ten như Hoa Kỳ, Nhật Bản còn dành cho các doanh nghiệp thứ hai và thứ ba thỏa mãn các điều kiện tương tự như trên khai báo trước khi JFTC tiến hành điều tra. Theo quy định của AMA, doanh nghiệp khai báo thứ hai sẽ được miễn trừ 50% tiền phạt và doanh nghiệp thứ ba khai báo sẽ được miễn 30% tiền phạt. Tuy nhiên, sự miễn giảm dành cho các doanh nghiệp thứ hai và thứ ba ở đây chỉ đối với khoản tiền phạt mang tính phi hình sự, các doanh nghiệp này vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tham gia vào các -ten.
Ngoài ra, chính sách khoan hồng của Nhật Bản quy định trong trường hợp doanh nghiệp khai báo vào thời điểm JFTC bắt đầu tiến hành điều tra hoặc trong vòng 20 ngày sau đó, doanh nghiệp khai báo chỉ được miễn 30% tiền phạt và không quá ba doanh nghiệp được hưởng sự miễn giảm này.
Đối với cá nhân, Luật Chống độc quyền của Nhật Bản không quy định biện pháp phạt tiền mang tính chất phi hình sự như đối với công ty, mà mỗi cá nhân tham gia các -ten sẽ bị phạt tù tới 03 năm hoặc bị phạt tiền mang tính chất hình sự tới 05 triệu yên. Nhật Bản không có chính sách khoan hồng riêng dành cho cá nhân như Hoa Kỳ nhưng theo chính sách khoan hồng mà AMA đưa ra thì các lãnh đạo, nhân viên của công ty đầu tiên khai báo tới JFTC cũng sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Các lãnh đạo và nhân viên của các công ty khai báo sau sẽ vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tham gia vào các -ten.*
c, Từ phân tích trên, ta có thể thấy chính sách khoan hồng của Nhật Bản và của Hoa Kỳ mang đặc trưng của các trường phái khác nhau. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau này, như tuổi đời của pháp luật chống độc quyền, tuổi đời của chính sách khoan hồng hay từ thực tiễn đấu tranh chống các -ten của cơ quan cạnh tranh. Tuy vậy, với bản chất của chính sách khoan hồng là phá vỡ các -ten từ bên trong, thì sự hợp lý và hiệu quả của nó lại không phải do sự áp đặt ý chí chủ quan của nhà làm chính sách, mà phải xuất phát từ tâm lý và lợi ích của chính các thành viên các -ten.
Trong sự khác biệt giữa các trường phái chính sách khoan hồng này, có hai vấn đề đáng quan tâm và cũng là các vấn đề nòng cốt ảnh hưởng đến hiệu quả là số lượng thành viên tham gia các -ten được hưởng khoan hồng và mức miễn trừ dành cho các thành viên khai báo. Đã có nhiều tranh luận về tính hợp lý của các chính sách này như nên dành quyền miễn trừ cho thành viên các -ten đầu tiên khai báo và hợp tác với cơ quan điều tra, hay là dành quyền miễn trừ cho nhiều hơn một thành viên và mức miễn trừ dành cho thành viên khai báo nên là toàn bộ hay chỉ giảm một phần trách nhiệm.
Nếu phân tích một cách định tính thì các quan điểm này đều có sự hợp lý nhất định. Chính sách khoan hồng của Hoa Kỳ chỉ dành quyền miễn trừ cho thành viên đầu tiên khai báo với cơ quan điều tra về các -ten mà mình tham gia. Chính sách này có tác động thúc đẩy một cách mạnh mẽ các thành viên tham gia các -ten trong cuộc chạy đua giành suất miễn trừ duy nhất để tránh thiệt hại và kẻ sống sót là kẻ ra tay trước, như vậy cơ quan điều tra sẽ nhanh chóng phát hiện ra các -ten hơn. Nhưng điểm hợp lý trong chính sách của Nhật Bản lại nằm ở chỗ, các thành viên thứ hai và thứ ba ra khai báo sẽ cung cấp được các chứng cứ sâu hơn về các -ten nên vụ việc sẽ được điều tra toàn diện hơn. Về điều này, các học giả của đại học Kyoto Sangyo Nhật Bản ([7])đã lượng hóa lợi ích của các bên trong các -ten và sử dụng thuyết trò chơi để kết luận về tính ổn định của các -ten dưới tác động của chính sách khoan hồng để từ đó, đưa ra nhận định về số lượng hợp lý các thành viên sẽ được hưởng chính sách này.
Với việc áp dụng trò chơi nghịch lý của tù nhân với giả định cấu trúc của thị trường là độc quyền nhóm và thực hiện với hai trường hợp là số người chơi là hai và số người chơi là bảy. Trong trò chơi này, mỗi người chơi không được biết về cách đi của những người còn lại. Điều này có nghĩa là các bên tham gia vào các -ten đều nhận thức được rằng có tồn tại khả năng các -ten sẽ bị cơ quan phát hiện, họ đều độc lập trong việc quyết định có khai báo với cơ quan điều tra hay không và cũng không biết được hành vi của những thành viên còn lại. Cách thức thưởng phạt trong trò chơi này là thành viên nào khai báo trước sẽ được hưởng miễn giảm. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành bốn buổi thực nghiệm tại đại học Kyoto Sangyo năm 2004 trong đó một buổi là với trường hợp trò chơi có hai người (có mười bốn nhóm) và ba buổi với trường hợp trò chơi có bảy người (có mười hai nhóm).
Với kết quả thu được, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hai kết luận như sau:
(1) Các -ten càng có nhiều thành viên thì khả năng duy trì nó là càng nhỏ
(2) Sự thay đổi về số lượng thành viên được hưởng miễn trừ không có ảnh hưởng lớn đến khả năng duy trì các -ten của họ. Hay nói cách khác, việc hạn chế số lượng công ty được hưởng miễn trừ không có tác động mấy tới việc thúc đẩy họ nhanh chóng khai báo các -ten.
Các nhà nghiên cứu lập luận rằng, với quy mô trung bình của các -ten trên thế giới là sáu thành viên thì quy mô bảy người chơi trong thực nghiệm của họ đã đáp ứng được thực tế đó và thực nghiệm cho thấy, với chính sách khoan hồng thì hầu hết sự thông đồng của các nhóm bảy người đều dễ dàng bị phá vỡ. Do đó, chính sách khoan hồng thực sự có hiệu quả đối với các các -ten có quy mô thông thường hiện nay.*
Với cách tiếp cận vấn đề tương tự, Cécile Aubert, Patrick Rey, William E. Kovacic đã sử dụng phương pháp lượng hóa lợi ích của các thành viên của các -ten và so sánh lợi ích đó giữa các trường hợp duy trì và phá vỡ các -ten dưới tác dụng của chính sách khoan hồng, giữa các mức miễn giảm của chính sách khoan hồng với nhau ([8]). Dựa vào kết quả nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng, mức giảm trách nhiệm không đủ lớn sẽ không kích thích các thành viên phá vỡ các -ten. Điều này có nghĩa là chính sách khoan hồng không miễn trách nhiệm cho thành viên đầu tiên khai báo các -ten sẽ không có hiệu quả bằng chính sách miễn trách nhiệm cho đối tượng này.
Như vậy, thực tiễn và lý luận đã chứng minh chính sách khoan hồng thực sự là một công cụ hữu hiệu của cơ quan quản lý cạnh tranh trong cuộc chiến chống lại các -ten. Việt Nam cũng là một trong số các quốc gia đã ban hành Luật Cạnh tranh trong đó có những quy định về cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam chưa có quy định về chính sách khoan hồng dành cho các thành viên tham gia các thỏa thuận này nếu họ chủ động khai báo và cung cấp chứng cứ cho cơ quan điều tra. Do đó, để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn điều tra và xử lý các -ten, cần thiết phải có sự nghiên cứu và bổ sung một c ¸ch hîp lý chÝnh s¸ch nµy vµo ph¸p luËt c¹nh tranh cña ViÖt Nam trong thêi gian tíi. [1] Xem South Asia Watch on Trade, Economics and Environment, Competition Policy in Small Economies (Chính sách cạnh tranh ở các quốc gia có nền kinh tế nhỏ) trang 14 (năm 2002). *

[2]Tiêu chí đánh giá tính bất hợp pháp của các -ten trong Luật cạnh tranh Hoa Kỳ, Cộng đồng Châu Âu, Nhật Bản và một số bình luận về Luật cạnh tranh của Việt Nam, Ths. Nguyễn Văn Cương, Nxb Tư pháp

[3]Bishop and Walker (1999)

[4] A.M Brandenburger và B. J Nalebuff, Cạnh tranh hợp hay lý thuyết trò chơi trong kinh doanh, NXB Thống kê H. 2004.

[5]Cracking Cartels With Leniency Programs - Scott D. Hammond, Deputy Assistant Attorney General for Criminal Enforcement Antitrust Division, U.S. Department of Justice.

[6] Nguồn: ủy ban Thương mại công bằng Nhật Bản (JFTC).

[7] Chi tiết về thực nghiệm này được trình bày trong tài liệu An Experimental Study of Leniency Programs - Yasuyo Hamaguchi, Toshiji Kawagoe February 17, 2005. http://www.rieti.go.jp/en/publications/summary/05020003.html

[8] Chi tiết về nghiên cứu này có thể tìm tại The impact of leniency and whistle-blowing
(Bài viết đăng trên TCNCLP số 117, tháng 2/2008)


Phan Công Thành

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi

Nhân tố tác động và nội dung điều chỉnh trong chính sách cạnh tranh của Liên minh châu Âu

Mỗi quốc gia đều xác định riêng cho mình một chính sách cạnh tranh, bao gồm các nguyên tắc và quan điểm dài hạn về một môi trường cạnh tranh của nền kinh tế, thông qua việc phân bổ có hiệu quả các nguồn tài nguyên hữu hạn. Chính sách cạnh tranh thường tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:
- Duy trì cạnh tranh và chống độc quyền;
- Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thông qua việc cấm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, mang tính lừa dối;
- Bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ, hoạt động độc lập trước sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp lớn;
- Giải quyết các vấn đề kinh tế gắn liền với chính trị và xã hội.
Trong những năm gần đây, pháp luật và chính sách cạnh tranh của Liên minh châu Âu (EU) đã thay đổi một cách đáng kể bởi những tác động từ những yếu tố nội khối cũng như những yếu tố quốc tế. EU ngày càng mở rộng với 27 quốc gia thành viên, đồng nghĩa với nó là 27 đạo luật cạnh tranh và 27 cơ quan tài phán khác nhau. Đáng chú ý là các quốc gia thuộc Trung và Đông Âu, khi gia nhập EU, không có nền tảng chính sách cạnh tranh và kinh tế thị trường như các quốc gia thành viên trước họ. Chính vì vậy, nhu cầu thay đổi chính sách cạnh tranh là đòi hỏi nội tại của chính EU để làm sao có được sự hài hòa giữa chính sách cạnh tranh của toàn khối và các quốc gia thành viên. Hơn nữa, xu thế toàn cầu hóa cũng đòi hỏi chính sách cạnh tranh của EU phải có những thay đổi cho phù hợp hơn. Pháp luật cạnh tranh thường tồn tại ở cấp độ quốc gia, trong khi các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia – như bản thân tên gọi của nó – lại không chịu giới hạn bởi các đường biên giới địa lý. Điều này đòi hỏi pháp luật cạnh tranh của EU phải thay đổi cho phù hợp với pháp luật của thế giới mà điển hình như Mỹ, Nhật, Trung Quốc và WTO…
Biểu hiện rõ nhất của sự thay đổi chính sách cạnh tranh EU là một chương trình hiện đại hóa và những cải cách thủ tục hành chính liên quan đến việc sáp nhập doanh nghiệp đã được Ủy ban châu Âu đệ trình, nhằm làm cho “EU trở thành nền kinh tế năng động và cạnh tranh nhất thế giới đến năm 2010” như mục tiêu đã được đưa ra tại cuộc họp của Hội đồng châu Âu ở Lisbon tháng 3/2000. Quan điểm chủ đạo của sự thay đổi này là điều chỉnh chính sách cạnh tranh tổng thể, đặc biệt là các thể chế cạnh tranh ở tầm Liên minh cũng như các quốc gia thành viên, trên cơ sở đó, điều chỉnh chính sách cạnh tranh trong các ngành, đặc biệt là những ngành ít nhiều vẫn thuộc sở hữu nhà nước như năng lượng, viễn thông, vận tải… Cuối cùng, chính sách cạnh tranh của EU được điều chỉnh để hướng đến một chiến lược toàn cầu trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và sự hợp tác với các đối tác thương mại lớn khác như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc…
Những phân tích ở trên cho thấy rằng, chính sách cạnh tranh không phải là yếu tố nhất thành bất biến, mà nó có sự khác biệt giữa các quốc gia cũng như có sự thay đổi theo từng thời kỳ ở từng quốc gia và thậm chí, cả ở tầm liên minh quốc gia như EU.
1. Nội dung của chính sách cạnh tranh của Liên minh châu Âu
Chính sách cạnh tranh, được quy định tại Hiệp định Rome năm 1957 - Hiệp định thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu,thể hiện trên ba lĩnh vực sau:
- Chính sách chống độc quyền và các thỏa thuận phản cạnh tranh (cartel)[1];
- Chính sách kiểm soát sáp nhập doanh nghiệp;
- Chính sách kiểm soát trợ cấp nhà nước.
Theo chính sách này, các quy tắc được áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động ở thị trường thống nhất mà không quan tâm đến hình thức sở hữu của chúng. Các quốc gia thành viên có cơ quan thực thi luật cạnh tranh của họ, còn Ủy ban Châu Âu (Ủy ban) chịu trách nhiệm điều tra các vi phạm chính sách. Ủy ban có quyền lực đặc biệt bao gồm ấn định mức tiền phạt, buộc thay đổi các thỏa thuận sáp nhập và ngăn chặn hoạt động trợ cấp của nhà nước. Tuy nhiên, các quyết định này có thể bị kháng cáo ở Tòa án châu Âu.
Chính sách chống độc quyền và các thỏa thuận phản cạnh tranh (cartel)
Chính sách chống độc quyền được quy định tại Điều 82 của Hiệp định Rome, theo đó, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là hành vi: “bị coi là đi ngược với thị trường chung và bị cấm, trong chừng mực mà thương mại giữa các nước thành viên có khả năng bị ảnh hưởng, hành vi của một hoặc nhiều doanh nghiệp khai thác một cách lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường chung hoặc trên một phần của thị trường chung”. Chính sách cạnh tranh của EU không ngăn cản vị trí thống lĩnh của các doanh nghiệp, bởi suy cho cùng, nhiều doanh nghiệp có được vị trí này là do kết quả của quá trình kinh doanh trên thương trường. Chính sách cạnh tranh của EU thể hiện rất rõ quan điểm ngăn cản việc lạm dụng vị trí thống lĩnh như các hành vi bán dưới giá thành làm suy yếu đối thủ, hoặc các thỏa thuận cung cấp và phân phối độc quyền để loại bỏ đối thủ cạnh tranh… Một ví dụ điển hình trong vấn đề này là trường hợp của công ty Microsoft: Với tư cách là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trong lĩnh vực sản xuất phần mềm máy tính, Microsoft đã buộc khách hàng chỉ có thể mua được máy tính nếu chấp nhận mua kèm hệ điều hành Windows của mình. Ủy ban đã đệ trình các biện pháp để ngăn cản hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh này như phạt tiền, buộc Microsoft phải li-xăng công nghệ, hoặc buộc Microsoft phải chia nhỏ doanh nghiệp thông qua việc bán một lượng tài sản nhất định.
Bên cạnh chính sách chống độc quyền là chính sách chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, được quy định tại Điều 81 của Hiệp định Rome, theo đó “nghiêm cấm mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định liên kết doanh nghiệp và mọi dạng thỏa thuận có khả năng ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước thành viên và có mục đích hoặc hậu quả ngăn cản, hạn chế và làm sai lệch quy luật cạnh tranh trên thị trường chung”. Quy định này áp dụng đối với các thỏa thuận theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành và các thỏa thuận theo chiều dọc giữa các doanh nghiệp thuộc cùng một chuỗi sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Liên quan đến lĩnh vực này, Ủy ban có quyền rất lớn trong việc tiến hành điều tra, bao gồm vào trụ sở của các doanh nghiệp mà không cần báo trước để xem xét các tài liệu nội bộ của doanh nghiệp, có quyền truy cứu bất cứ doanh nghiệp nào vi phạm pháp luật và áp dụng mức phạt tiền lên đến 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp. Một ví dụ điển hình chứng minh cho quyền lực rất lớn này của Ủy ban, đó là vào tháng 11/2001, Ủy ban đã áp dụng mức phạt tiền lên đến 855 triệu euro đối với các bên trong một cartel sản xuất vitamin, đó là hai hãng dược phẩm Roche và BASF. Trước đó, mức phạt cao nhất mà EU đã áp dụng là 272 triệu euro đối với cartel tàu biển vào năm 1998. Mức phạt tiền cao hay thấp chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm, quy mô và thời gian tồn tại của cartel cũng như thái độ hợp tác của các doanh nghiệp đối với Ủy ban.
Tuy nhiên, điều cần lưu ý là, chính sách cạnh tranh của EU không cho rằng mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp đều là vi phạm pháp luật. Trong trường hợp, thỏa thuận giữa các doanh nghiệp mang lại lợi ích lớn hơn những hạn chế cạnh tranh thì Ủy ban có quyền cho phép thực hiện những thỏa thuận như vậy, nhằm đảm bảo tính hợp tình và hợp lý của các quy tắc cạnh tranh. Trường hợp này được gọi là “miễn trừ ngăn cản”, tức là Ủy ban đưa ra những miễn trừ thay vì ngăn cản thỏa thuận giữa các doanh nghiệp.
Chính sách kiểm soát sáp nhập doanh nghiệp
Việc sáp nhập doanh nghiệp có thể đưa đến sự ra đời một doanh nghiệp mới có vị trí thống lĩnh. Điều này có thể sẽ làm sai lệch thị trường và không đảm bảo cạnh tranh. Chính vì vậy, hành vi sáp nhập hay hợp nhất doanh nghiệp cũng là đối tượng quan tâm đặc biệt trong chính sách cạnh tranh của EU. Tuy nhiên, cần lưu ý là hoạt động sáp nhập chỉ bị ngăn cản nếu nó tạo ra hoặc nâng cao vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp và làm ảnh hưởng đến hiệu quả cạnh tranh. Năm 1990, chính sách cạnh tranh EU đã có bổ sung đối với vấn đề sáp nhập. Theo đó, các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp có tổng doanh thu trên 5 tỷ euro chỉ được sáp nhập khi có sự phê chuẩn đồng ý của Ủy ban. Thủ tục sáp nhập được diễn ra theo hai bước. Giai đoạn kiểm tra sơ bộ diễn ra trong vòng một tháng. Đây là giai đoạn các chuyên gia xem xét và đưa ra quyết định việc sáp nhập có tác động đến cạnh tranh hay không. Kết quả của giai đoạn này là (i) doanh nghiệp bị từ chối cho phép sáp nhập, hoăc (ii) được cho phép thực hiện sáp nhập ngay, hoặc (iii) Ủy ban phải mở thủ tục xem xét hoạt động sáp nhập.
Thực tế cho thấy, chỉ có khoảng 10% vụ việc đệ trình lên Ủy ban phải mở thủ tục xem xét sáp nhập. Giai đoạn này kéo dài tối đa 4 tháng, dựa trên các báo cáo chính thức của các bên có liên quan và có thể tham vấn Ủy ban tư vấn bao gồm đại diện cơ quan quản lý cạnh tranh của các quốc gia thành viên. Sau đó, các chuyên gia sẽ xem xét khả năng tác động của việc sáp nhập đối với thị trường và đưa ra quyết định cuối cùng. Đó có thể là quyết định cho phép hoặc không cho phép tập trung kinh tế, hoặc cũng có thể là trả lại hồ sơ do vụ việc không thuộc thẩm quyền của Ủy ban châu Âu.
Để đảm bảo cho hoạt động sáp nhập của các doanh nghiệp được xử lý một cách thấu đáo, tháng 12/2001, Ủy ban đã đề xuất một quy tắc bổ sung, được gọi là quy tắc “dừng đồng hồ” theo đó, các bên trong vụ sáp nhập có thể xin tạm dừng thủ tục xem xét sáp nhập để có thêm thời gian đàm phán về các khả năng thực hiện nhằm thuyết phục Ủy ban trong việc đưa ra quyết định phê chuẩn.
Chính sách kiểm soát trợ cấp nhà nước
Vấn đề kiểm soát trợ cấp nhà nước đối với doanh nghiệp được quy định tại Điều 87 và 88 của Hiệp định Rome, cụ thể là “tất cả các biện pháp trợ cấp do các quốc gia thành viên thực hiện hoặc bằng cách sử dụng các nguồn lực của quốc gia đó dưới bất kỳ hình thức nào, trong chừng mực mà các biện pháp trợ cấp đó liên quan đến các giao dịch giữa các quốc gia thành viên, mà làm sai lệch hoặc đe dọa làm sai lệch cạnh tranh bằng việc hỗ trợ một nhóm doanh nghiệp hoặc một nhóm ngành nghề sản xuất” thì bị coi là đi ngược với thị trường chung.
Thời gian gần đây, trợ cấp nhà nước ở các quốc gia thành viên EU đã giảm đáng kể song vẫn chiếm khoảng 80 tỷ euro, bằng khoảng 1% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của toàn EU. Trợ cấp của nhà nước có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như miễn hoặc giảm thuế đối với doanh nghiệp. Các quốc gia thành viên có thể trợ cấp cho các doanh nghiệp trong nước nhằm giúp họ đối mặt với cạnh tranh có thể đến từ các quốc gia còn lại. Điều này sẽ tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh trong Liên minh và sẽ làm sai lệch cạnh tranh. Điều đặc biệt cần quan tâm là các công ty thuộc sở hữu nhà nước được trợ cấp để cạnh tranh với các đối thủ thuộc khu vực tư nhân. Trong các trường hợp này, Ủy ban có quyền ngăn cản hoặc buộc phải thu hồi các khoản trợ cấp.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, trợ cấp của nhà nước có thể xem là chấp nhận được, chẳng hạn như trợ cấp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế ở những vùng kém thuận lợi, bảo tồn văn hóa và di sản và các dự án vì lợi ích chung của Châu Âu.
Năm 2001, Ủy ban đã công bố “bảng điểm” trợ cấp nhà nước của từng quốc gia thành viên đối với các doanh nghiệp của nó. Việc công bố như vậy nhằm làm cho các Chính phủ phải nhìn nhận lại chính sách trợ cấp của mình, đồng thời tạo ra sự minh bạch và có căn cứ cho các phán quyết của Ủy ban liên quan đến vấn đề này.
Cơ quan chịu trách nhiệm chính thi hành chính sách cạnh tranh của EU là Ủy ban châu Âu. Các quốc gia thành viên trao cho Ủy ban vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển một thị trường thống nhất và đấu tranh cho tự do hóa thương mại. Trong việc thực thi chính sách cạnh tranh, Ủy ban đã thể hiện rất rõ vai trò này thông qua việc ngăn cản hoặc phê chuẩn việc sáp nhập doanh nghiệp hoặc các hoạt động điều tra trợ cấp nhà nước ở các quốc gia thành viên. Có thể dẫn chứng ra đây một ví dụ thể hiện rất rõ vai trò của Ủy ban trong việc đảm bảo công bằng và thúc đẩy tự do hóa thương mại nội khối. Cụ thể là Electricité de France - một doanh nghiệp của Pháp - đã tiến hành mua lại các doanh nghiệp nhà nước cùng ngành trên toàn châu Âu. Phản ứng trước vấn đề này, Chính phủ Tây Ban Nha và Ý đã dọa rằng họ sẽ can thiệp để ngăn cản quyền bỏ phiếu của các nhà đầu tư Pháp trong các doanh nghiệp này nếu Chính phủ Pháp không mở cửa thị trường năng lượng của mình. Mâu thuẫn trở nên căng thẳng và buộc Ủy ban phải can thiệp. Một mặt Ủy ban cho rằng sự đe dọa của Chính phủ Ý và Tây Ban Nha là mang tính phân biệt, có khả năng dẫn đến vi phạm chính sách cạnh tranh, nhưng mặt khác, Ủy ban cũng hứa sẽ điều tra các hành vi của Electricité de France bị cáo buộc là phản cạnh tranh. Rõ ràng vai trò của Ủy ban đã thể hiện đúng lúc nhằm làm cho chính sách cạnh tranh được thi hành trên thực tế.*
2. Những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách cạnh tranh của Liên minh châu Âu
2.1 Nhu cầu phát triển và tăng cường liên kết nội khối ở EU: tự do cạnh tranh và tự do hóa thương mại giữa các quốc gia thành viên
Sự phát triển không ngừng của các hoạt động kinh tế và xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi các quốc gia ngày càng phải thừa nhận và thúc đẩy hơn nữa tự do thương mại và tự do cạnh tranh. Đối với Liên minh châu Âu, chính sách cạnh tranh cũng phải thay đổi dưới tác động của nhân tố này. Yêu cầu tự do hóa thương mại và cạnh tranh buộc EU phải thay đổi nội dung của chính sách cũng như thay đổi các thể chế bảo đảm thi hành chính sách cạnh tranh..
Tự do hóa thương mại và cạnh tranh tác động đến nhu cầu điều chỉnh nội dung chính sách cạnh tranh
Dưới tác động của tự do hóa, chính sách cạnh tranh của EU đặc biệt chú ý đến sự thay đổi trong các ngành như viễn thông, năng lượng, giao thông vận tải… Đó là vì những ngành này ít nhiều vẫn thuộc sở hữu nhà nước. Một số quốc gia đã tiến hành tư nhân hóa các ngành này nhưng trên thực tế các doanh nghiệp nhà nước sau khi được tư nhân hóa vẫn có vị trí thống lĩnh thị trường, bởi vậy chính sách cạnh tranh cần tiếp tục có những tác động mạnh mẽ hơn đến khu vực này. Để thực hiện mục tiêu này, chính sách cạnh tranh của EU phải tính đến “độc quyền tự nhiên”. Độc quyền tự nhiên được hiểu là hiện tượng xảy ra trên thị trường khi toàn bộ sản phẩm của thị trường đó nếu được cung cấp bởi một doanh nghiệp thì sẽ ở mức giá thấp hơn so với việc có hai hay nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp sản phẩm đó. Điều này là do tính chất của sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp quyết định. Nói cách khác, độc quyền tự nhiên là mô hình tối ưu trong những lĩnh vực nhất định, khi mà chỉ cần một nhà sản xuất là đủ khả năng cung cấp sản phẩm cho thị trường với hiệu quả kinh tế cao nhất. Vì thế, nếu cho phép các nhà cung cấp khác tham gia vào thị trường sẽ dẫn tới “sự canh tranh lãng phí”. Ví dụ như trong ngành sản xuất và kinh doanh điện, việc có nhiều nhà sản xuất điện cạnh tranh trên thị trường sẽ làm giảm giá bán điện và nâng cao chất lượng điện được cung cấp. Tuy thế, trong một quốc gia thì không nhất thiết mỗi nhà sản xuất điện phải xây dựng một hệ thống dây truyền tải riêng biệt. Đó là điều không thể làm được đối với tất cả các doanh nghiệp, vì nó đòi hỏi chi phí rất lớn cũng như gây ra sự lãng phí không cần thiết. Chính vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất điện chỉ cần cùng sử dụng một hệ thống đường truyền tải là đủ. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp nắm giữ hệ thống truyền tải điện sẽ trở thành nhà độc quyền và hiện tượng đó được gọi là độc quyền tự nhiên. Những ví dụ khác về độc quyền tự nhiên có thể tìm thấy trong các ngành như vận tải đường sắt, đường hàng không hay viễn thông. Trong các trường hợp này, độc quyền tự nhiên tồn tại ở chỗ chỉ cần một nhà cung cấp hệ thống đường ray, một nhà cung cấp nhà ga sân bay và tương tự như vậy chỉ cần một doanh nghiệp cung cấp đường trục viễn thông là đủ. Các yếu tố mà ở đó, độc quyền tự nhiên tồn tại được gọi là các “phương tiện thiết yếu”. Người ta gọi đây là độc quyền tự nhiên bởi vì có một ly do “tự nhiên” cho độc quyền tồn tại, đó là bản thân sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải có một mức độ kinh tế nhất định mới có thể cung cấp được sản phẩm đó ở hiệu quả cao nhất. Và do vậy, độc quyền tự nhiên là một rào cản được hình thành tự nhiên trong thị trường. Việc xác định rõ ranh giới của độc quyền tự nhiên là điều rất quan trọng trong việc quy định độc quyền của một số ngành nhất định.
Chính sách cạnh tranh của EU không chỉ tập trung vào việc tư nhân hóa các lĩnh vực này mà cần phải xác định rõ và có sự phân tách giữa độc quyền tự nhiên và cạnh tranh tiềm năng. Có như vậy, mới đảm bảo tự do cạnh tranh mà vẫn duy trì được sự kiểm soát của Chính phủ các quốc gia thành viên đối với các lĩnh vực độc quyền tự nhiên.*
Tự do hóa thương mại và cạnh tranh tác động đến nhu cầu điều chỉnh thể chế
Mặc dù Ủy ban đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách cạnh tranh, song nhu cầu về tự do hóa thương mại khiến cho các quốc gia thành viên thường phàn nàn rằng, Ủy ban có quyền lực quá lớn và chính sách cạnh tranh không được thi hành một cách độc lập. Có thể viện dẫn ra đây những trường hợp xung đột giữa các quốc gia thành viên và EU liên quan đến các vụ sáp nhập và tập trung kinh tế. Năm 1992, các doanh nghiệp nhà nước của Pháp và Ý mong muốn mua lại một nhà máy sản xuất máy bay loại nhỏ của Canada (vụ De Havilland). Tuy nhiên, Ủy ban đã ngăn cản hoạt động mua bán này bởi họ cho rằng, nó sẽ dẫn đến sự tập trung quá mức trên thị trường sản xuất các loại máy bay nhỏ. Chính phủ Pháp và Ý đã kịch liệt phản đối vì cho rằng đây là sự can thiệp không có căn cứ, nhưng cũng không thể đảo ngược được quyết định của Ủy ban. Những tranh chấp tương tự như vậy chắc chắn sẽ trở nên phổ biến hơn trong thời gian tới khi chính sách cạnh tranh được áp dụng cả trong các ngành vốn vẫn được bảo hộ bởi các Chính phủ của các quốc gia thành viên, như viễn thông, bưu chính, năng lượng và giao thông.
Mặc dù châu Âu đã chính thức thiết lập thị trường chung nhưng nhiều lĩnh vực vẫn duy trì ở cấp độ quốc gia. Chính vì vậy, xung đột giữa Ủy ban và các quốc gia thành viên là điều không thể tránh khỏi. Các quốc gia thường ủng hộ các doanh nghiệp trong một số lĩnh vực sáp nhập hoặc hợp nhất để có thể cạnh tranh hiệu quả hơn trên thị trường quốc tế, trong khi điều này rất khó nhận được sự phê chuẩn của Ủy ban. Các quốc gia thường cho rằng, thị trường trong mỗi vụ việc tồn tại ở cấp độ quốc gia, do đó Ủy ban không nên can thiệp vào. Vấn đề này nên trao cho cơ quan quản lý cạnh tranh của các quốc gia thành viên thực hiện.
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cạnh tranh EU hiện nay là một bộ phận của Ủy ban. Ủy ban bao gồm đại diện của các quốc gia thành viên và hoạt động theo nguyên tắc tập thể. Về nguyên tắc, hoạt động của Ủy ban và các thành viên của nó không chịu sức ép chính trị từ các Chính phủ của các quốc gia thành viên, nhưng điều này không phải lúc nào cũng được thực hiện triệt để trên thực tế. Lấy một ví dụ minh chứng cho điều này. Trong vụ De Havilland, Ủy ban đã phân chia thành hai luồng quan điểm khác nhau đối với quyết định ngăn cản thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Trong vụ việc này, Chính phủ Pháp và Ý đã đặt những áp lực mạnh mẽ lên đại diện của họ tại Ủy ban với mong muốn thỏa thuận được thực hiện. Sự chia rẽ quan điểm trong Ủy ban bắt nguồn từ các sức ép chính trị khiến cho Ủy viên cạnh tranh phải dọa sẽ từ chức nếu thỏa thuận này được phép thực hiện. Do ủy viên Ủy ban được chỉ định mang tính chính trị nên thường có nguy cơ là các Chính phủ quốc gia của họ sẽ cố gắng can thiệp vào các quyết định quan trọng. Hệ thống hiện tại sẽ tạo ra nguy cơ xuất hiện hành vi mang lại lợi ích chính trị nhiều hơn là đảm bảo được sự tự do cạnh tranh và tự do hóa thương mại. Nhìn sang lĩnh vực ngân hàng, câu hỏi đặt ra là tại sao đồng euro lại có thể đảm bảo được giá trị của nó và được chấp nhận một cách rộng rãi như vậy? Đó là vì Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) đặt tại Frankfurt (Đức) có quyền lực đặc biệt trong việc ấn định tỷ suất lợi nhuận của đồng euro cũng như có sự độc lập về chính trị. Hơn nữa, ECB một mặt tự đưa ra những quyết định quan trọng nhưng mặt khác, vẫn có mối liên hệ mật thiết với ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên. Điều này khiến cho các quốc gia thành viên có thể tham gia được vào hoạt động của hệ thống tiền tệ của toàn Liên minh.*
Học tập kinh nghiệm thiết kế mô hình ECB, nhiều quan điểm cho rằng cần tách cơ quan cạnh tranh EU ra khỏi Ủy ban. Cơ quan này sẽ hoạt động độc lập và không chịu bất kỳ sức ép chính trị nào, chỉ tập trung vào việc áp dụng pháp luật cạnh tranh đối với các vấn đề sáp nhập và chống độc quyền. Lúc này Ủy ban đóng vai trò là người giám sát hoạt động của Cơ quan cạnh tranh EU, sẽ can thiệp trong các trường hợp chính sách cạnh tranh có quan hệ với các vấn đề khác như môi trường, việc làm… Tuy nhiên, trước khi đưa ra quyết định, Ủy ban phải giải thích rõ lý do của các quyết định đó. Như vậy, thay vì cơ chế hiện nay là Tòa án châu Âu giám sát Ủy ban (cũng là giám sát cơ quan cạnh tranh EU vì cơ quan này trực thuộc Ủy ban) là cơ chế Ủy ban giám sát cơ quan cạnh tranh EU khi cơ quan này được tách ra độc lập. Như vậy, kháng cáo các quyết định của cơ quan cạnh tranh EU có thể gửi tới Ủy ban. Khác với kháng cáo gửi tới Tòa án, nơi có một thủ tục tương đối phức tạp thì Ủy ban có thể cung cấp một thủ kháng cáo rút gọn nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên tranh chấp.*
Tóm lại, vì những lý do trên mà các quốc gia thành viên đòi hỏi quyền lực của Ủy ban phải được chia sẻ. Sự chia sẻ này diễn ra trên hai phương diện:
- Thứ nhất, chia sẻ quyền lực giữa Ủy ban và các cơ quan quản lý cạnh tranh của các quốc gia thành viên.
- Thứ hai, cần tách cơ quan cạnh tranh ra khỏi bộ máy của Ủy ban, tức là tăng tính độc lập hơn cho cơ quan cạnh tranh của Liên minh.
Một lý do khác dẫn đến đòi hỏi phải điều chỉnh chính sách cạnh tranh của EU là thủ tục hành chính rườm rà và nguồn lực có hạn của Ủy ban châu Âu. Trước hết phải nói đến là sự quá tải trong công việc của Ủy ban. Với quy định về việc phải báo cáo Ủy ban và chỉ khi nào có sự phê chuẩn thì việc sáp nhập mới được diễn ra, và trong điều kiện sự gia tăng nhanh chóng của các vụ sáp nhập trên toàn thế giới thì số lượng hồ sơ gửi đến Ủy ban ngày càng nhiều. Nếu như năm 1994 chỉ có 95 vụ thì đến năm 1997 đã là 172 vụ. Con số này tăng lên đến 345 vụ vào năm 2000. Gần đây những vụ sáp nhập có phần giảm đi nhưng chắc chắn, đây chỉ là giảm tạm thời, trong ngắn hạn do sự suy giảm kinh tế toàn cầu. Xu thế tất yếu là số lượng các vụ sáp nhập sẽ ngày càng tăng trong thời gian tới.
Điều đáng chú ý là để đảm bảo khả năng thuyết phục Ủy ban ủng hộ việc sáp nhập, các doanh nghiệp đã đệ trình những bộ hồ sơ khổng lồ để giải thích cho hoạt động của mình. Đây là một gánh nặng rất lớn đối với các hoạt động của Ủy ban bởi vì Ủy ban phải chịu sức ép rất lớn của đòi hỏi giải quyết nhanh nhưng vẫn đảm bảo công bằng. Để giải quyết vấn đề này, Ủy ban đề xuất việc tính phí đối với các hồ sơ thông báo sáp nhập. Theo đó, mức phí cơ bản có thể được áp dụng là 30 nghìn euro cho mỗi hồ sơ sáp nhập. Tuy nhiên, mức phí này có thể điều chỉnh tùy thuộc vào quy mô và tính phức tạp của việc sáp nhập. Nguồn thu này sẽ được sử dụng để tăng thêm nguồn lực cho Văn phòng cạnh tranh của Ủy ban.
Để giải quyết vấn đề này, Ủy ban còn đệ trình giải pháp theo đó tăng tính chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với chính hoạt động của chúng. Cơ chế này còn gọi là sự tự điều chỉnh của các doanh nghiệp trong việc tuân thủ chính sách cạnh tranh. Cơ chế này khuyến khích các doanh nghiệp giám sát người quản lý của nó và giám sát cả các đối thủ cạnh tranh nhằm đảm bảo cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Để phát huy vai trò của doanh nghiệp và qua đó là làm giảm áp lực công việc cho mình, Ủy ban một mặt khuyến khích các doanh nghiệp báo cáo về các hành vi phản cạnh tranh thông qua việc coi đó là tình tiết giảm nhẹ và có thể được hưởng khoan hồng sau này, nhưng mặt khác, Ủy ban cũng đưa ra những chế tài xử phạt nặng nếu doanh nghiệp không báo cáo về các hành vi phản cạnh tranh. Quy định này được nhiều người ví như hình ảnh cây gậy và củ cà rốt trong thi hành chính sách cạnh tranh của Ủy ban.*
Tuy nhiên, về phía các doanh nghiệp, họ luôn mong muốn Ủy ban đưa ra những chính sách cạnh tranh mang tính dài hạn bởi vì thị trường toàn cầu đang phát triển rất nhanh. Đến đây, Ủy ban phải giải quyết hai vấn đề là làm sao để ban hành chính sách cạnh tranh mang tính dài hạn và có thể dự đoán, đồng thời Ủy ban không nên quá sa đà vào các công việc hàng ngày. Đây cũng là lý do đòi hỏi phải có những cải cách về chức năng của Ủy ban trong việc thực thi chính sách cạnh tranh thời gian tới.
Bên cạnh các lý do nói trên, một nguyên nhân khác đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách cạnh tranh là EU vẫn chưa có một quy chế phối hợp giữa các thể chế cạnh tranh của Liên minh và thể chế cạnh tranh của các quốc gia thành viên. Theo chính sách cạnh tranh của EU thì Ủy ban chịu trách nhiệm điều tra các vụ thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh, nhưng không có quyền truy tố hình sự. Chỉ cơ quan quản lý cạnh tranh quốc gia mới có quyền áp dụng chế tài hình sự đối với các cá nhân lãnh đạo doanh nghiệp có hành vi phản cạnh tranh. Một số quốc gia thuộc EU đã đưa vào luật cạnh tranh của mình chế tài hình sự như Áo, Pháp, Đức và Ailen. Tuy nhiên, cơ chế này dẫn đến sự bất cập là Ủy ban, mặc dù điều tra các vụ việc cạnh tranh lớn, nhưng không có quyền năng trong lĩnh vực hình sự trong khi các quốc gia thành viên có quyền năng này thì chỉ điều tra các vụ việc nhỏ, mang tính địa phương. Một bất cập nữa có thể nảy sinh là nếu hành vi phạm tội xảy ra ở một quốc gia, nhưng việc thu thập bằng chứng lại ở quốc gia khác thì cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý cạnh tranh quốc gia cũng cần phải được hoàn thiện hơn.
Để khắc phục vấn đề này, Ủy ban cố gắng đi tìm các biện pháp chế tài khác thay thế cho chế tài hình sự. Một trong các đề xuất được đưa ra hiện nay là thay vì xử lý hình sự đối với các cá nhân lãnh đạo trong doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, pháp luật nên cho phép áp dụng hình thức phế truất chức danh lãnh đạo doanh nghiệp của một cá nhân trên phạm vi toàn châu Âu. Làm như vậy sẽ giảm bớt việc áp dụng chế tài hình sự đồng thời vẫn xử lý được hành vi vi phạm của các cá nhân.
Cuối cùng, các quốc gia thành viên thường cho rằng, cơ chế phối hợp giữa Ủy ban và cơ quan quản lý cạnh tranh quốc gia đơn thuần chỉ là chủ thể phụ thuộc vào Ủy ban, Ủy ban tước đi thẩm quyền tài phán quốc gia của họ. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải xây dựng một cơ chế mới, theo đó quan hệ giữa Ủy ban và cơ quan cạnh tranh quốc gia là quan hệ đối tác chứ không phải là quan hệ phụ thuộc như hiện nay.
2.2. Quá trình toàn cầu hóa và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế khu vực EU với các đối tác khác trên thế giới
Toàn cầu hóa có ảnh hưởng lớn đến chính sách cạnh tranh của các quốc gia. Điều này là bởi vì, chính sự phát triển của khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa đã biến nhiều thị trường quốc gia thành thị trường thế giới. Chẳng hạn việc nối liền các tuyến đường sắt giữa vùng trung tâm với các vùng xa xôi, hẻo lánh như tuyến đường sắt Thanh Hải - Tây Tạng của Trung Quốc hay các tuyến đường sắt xuyên Á đã và đang được xây dựng sẽ làm phá vỡ tính độc lập của các vùng lãnh thổ và các quốc gia. Sự phát triển nhanh chóng của các thị trường quốc tế như vậy đã tác động vào chính sách cạnh tranh theo hướng chính sách cạnh tranh buộc phải mở rộng và tính đến những tình huống mới phát sinh mang tính quốc tế. Chẳng hạn như việc sáp nhập giữa các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu như trước đây các chính sách cạnh tranh chủ yếu quan tâm đến các doanh nghiệp nội khối, thì nay điều đó là chưa đủ. Những vụ sáp nhập giữa các doanh nghiệp của EU với Hoa Kỳ và các quốc gia khác diễn ra khá phổ biến thời gian qua là ví dụ cho điều này[2]. Vấn đề đặt ra là nếu các cơ quan thi hành pháp luật không có hiểu biết đầy đủ về hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài hoặc thiếu quyền hạn pháp lý để xử lý các hành động đó, có thể sẽ không bảo vệ được nền kinh tế của mình khỏi nguy cơ do cạnh tranh gây ra. Hơn nữa, nếu không có một cơ chế phối hợp giữa các quốc gia thì đôi khi có thể dẫn đến tình trạng vì lợi ích chính trị mà các quốc gia không công nhận lẫn nhau các phán quyết của cơ quan cạnh tranh mỗi nước. Điều đó sẽ có thể dẫn đến xung đột giữa các quốc gia và kết quả là các doanh nghiệp sẽ chẳng có lợi gì từ những xung đột chính trị đó. Ví dụ cho trường hợp này là năm 2000 và năm 2001, Hoa Kỳ đã phản đối kịch liệt việc Ủy ban châu Âu cho phép hai trường hợp sáp nhập của BOC và Air Liquide cũng như trường hợp sáp nhập của Generel Electric (GE) và Honeywell. Đối với vụ GE và Honeywell, tháng 10/2000, cơ quan cạnh tranh của Mỹ thông báo rằng tổ hợp công nghiệp GE muốn mua công ty hàng không và điện tử Honeywell với giá 45 tỷ đô la. Cơ quan cạnh tranh thuộc Ủy ban châu Âu cũng ra thông báo tương tự như vậy vào tháng 2/2001. Nhưng hai cơ quan này đã đi đến những phán quyết khác nhau. Có tình trạng này là vì hai cơ quan cạnh tranh đã sử dụng các tiêu chí khác nhau trong việc xem xét sáp nhập. Về phía Ủy ban châu Âu, họ cho rằng việc sáp nhập này sẽ dẫn đến thâu tóm ngành và kết quả là sẽ loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường. Trong khi đó, phía cơ quan cạnh tranh Hoa Kỳ nhận định người tiêu dùng sẽ có lợi trong vụ sáp nhập này. Như vậy, mỗi cơ quan cạnh tranh đánh giá hành vi sáp nhập trên các tiêu chí khác nhau nên dẫn đến kết quả hoàn toàn trái ngược nhau. Với kết quả này, hai doanh nghiệp thuộc hai nền kinh tế khác nhau chẳng có lợi gì bởi họ chỉ được thừa nhận từ một phía, trong khi hoạt động của họ ngày càng trở nên mang tính quốc tế và đa quốc gia.
Để giải quyết các vấn đề trên và để nâng cao khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế khác, EU đề xuất một chính sách cạnh tranh toàn cầu theo đó, chính sách cạnh tranh cần trở thành chủ đề quan tâm của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trong việc điều chỉnh chính sách cạnh tranh, EU còn hướng đến xây dựng một tổ chức cạnh tranh quốc tế (viết tắt là WCO)[3], nhằm tạo ra sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý cạnh tranh của tất cả các quốc gia. Theo quan điểm của EU, WCO sẽ đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật cạnh tranh theo hướng xóa bỏ sự phân biệt đối xử và trong trường hợp có tranh chấp giữa các cơ quan quản lý cạnh tranh quốc gia, WCO sẽ đóng vai trò là trọng tài xét xử các tranh chấp đó. Ngoài ra, WCO cũng sẽ trợ giúp việc xây dựng cơ chế thực thi chính sách cạnh tranh ở các quốc gia đang phát triển. Hoạt động đó cuối cùng là nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh tốt cho các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia hoạt động. Thực tế thì trong số các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia của thế giới, các doanh nghiệp của EU chiếm một số lượng đáng kể. Chính sách này của EU suy đến cùng cũng là để phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp trong khối.
1 Nhiều tác giả tách chính sách chống độc quyền và chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thành hai lĩnh vực thì khi đó, chính sách cạnh tranh của châu Âu được thể hiện trên 4 lĩnh vực.
2 Chẳng hạn như việc sáp nhập giữa công ty Generel Electric (GE) của Mỹ với công ty Honeywell của EU năm 2001, việc sáp nhập giữa doanh nghiệp của EU và Nam Phi là Lonrho và Gencor năm 1996.

3WCO là viết tắt của chữ tiếng Anh World Competition Orrganization


Ths. Đào Ngọc Báu

Nguon: Nghien Cuu Lap Phap - Van Phong Quoc Hoi