4. Độc lập tư pháp và bảo đảm độc lập tư pháp ở nước ta hiện nay
So với các nước phát triển, ở các nước chậm phát triển trong đó
có Việt Nam, người dân ít được hưởng những thành quả của một nền tư
pháp độc lập. Bởi vì sự độc lập thực sựcủa tư pháp về nguyên tắc chỉ có
thể có trong bối cảnh có sự phân quyền rõ ràng giữa lập pháp, hành pháp
và tư pháp. Do vậy, việc thiếu vắng tư pháp độc lập trong các thời kỳ
phong kiến, thực dân và cả trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp như
ở nước ta trước đây cũng là một điều dễ giải thích. Hình
ảnh được ngưỡng mộ và tôn thờ của người dân ngày xưa là Bao Công - tượng
trưng cho nền công lý thời phong kiến ở Trung Quốc và các nước Đông Á
khác như Việt Nam – hiện không còn thích hợp với những yêu cầu của công
việc xét xử hiện nay. Đó là bởi trong cơ chế tư pháp ấy không có luật sư
bào chữa, mọi sự đều phải trông chờ vào tính công minh chính đại của
một ông quan thực thi cả quyền hành chính và quyền xét xử. Hình ảnh
người phạm nhân được dẫn công đường chưa được xét xử nhưng đã mang sẵn
cái gông trên cổ và phải quỳ mọp gối trước mặt ông quan huyện in sâu vào
tâm trí người dân như một sự khiếp hãi hơn là một ấn tượng về công lý,
dẫn đến câu ngạn ngữ cửa miệng của họlà “Vạn bất đắc dĩ mới đến cửa
quan”. Đáng tiếc là câu này hiện ít nhiều vẫn còn được người dân sử dụng
ở nước ta, trong đó “cửa quan” ở đây được dùng để chỉ trụ sở của các cơ
quan nhà nước, bao gồm cả tòa án. Ý nghĩa sâu xa của câu thành ngữ này
nằm ở chỗ nhiều người dân không tin tưởng vào khả năng tìm kiếm công lý
ở hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan tòa án nói riêng, nên
việc họ phải đến đó để trình bày, nhờ giải quyết sự việc chỉ là việccùng
bất đắc dĩ.Hệ thống tư pháp hiện nay ở nước ta chỉ mới được xây
dựng từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi thành lập Nhà nước Việt
Nam Dân chủ cộng hòa. Về hình thức, tính độc lập tư pháp cũng được quy
định trong các Hiến pháp từ trước tới nay (xem mục trên, các ghi chú 9
và 10), tuy nhiên, trên thực tế tính độc lập của các tòa án ở Việt Nam
từ trước tới nay chưa bao giờ được bảo đảm đúng như các tiêu chuẩn chung
trên thế giới.Nhìn lại thực trạng nền tư pháp của Việt Nam, mặc dù có
những thành công rất đáng kể góp phần không nhỏ trong công cuộc giải
phóng và bảo vệ Tổ quốc cũng như bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
người dân nhưng trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều tồn tại, gây không ít
khó khăn nhất định cho công cuộc đổi mới và xây dựng nhà nước pháp quyền
hiện nay. Song rất mừng là Đảng và Nhà nước đã nhận thức rõ những tồn
tại của hệ thống tư pháp hiện hành vàđang tiến hành công cuộc cải
cách nó. Nhiệm vụ trước tiên của công cuộc cải cách này phải nhìn nhận
lại vấn đề tư pháp kể cả về mặt lý luận và về mặt thực tiễn, mà thể hiện
ở những khía cạnh cơ bản như sau[16]:
(i) Hoạt động tư pháp của Việt Nam
không hoàn toàn giống như của các nhà nước tư bản, vì nó không chỉ bao
gồm có các cơ quan xét xử, mà còn có cả các cơ quan điều tra, công tố và
những cơ quan hoạt động bảo trợ tư pháp khác như: công chứng, luật sư,
pháp y… Khái niệm tư pháp của Việt Nam được sử dụng như khái niệm tư
pháp của Trung quốc, từ tiếng Hán cổ. Điều này chứng tỏ sự phân quyền
của nhà nước chúng ta không được chuẩn tắc theo các quy định của nhà
nước pháp quyền, không có sự phân quyền rạch ròi giữa hành pháp và tư
pháp. Quyền hành pháp của chúng ta không bao gồm quyền công tố buộc tội
của Viện Kiểm sát. Chính phủ – hành pháp trước hết phải được hiểu ở tầm
hẹp nhất là phải giữ gìn trị an cho người dân, phòng và chống tội phạm.
Muốn thực hiện tốt quyền này mà không có quyền công tố buộc tội thì
không thể nào đảm đương được. Chính phủ quản lý rất tốt mọi mặt, trong
đó có cả phát triển kinh tế, mà tội phạm đầy rẫy thì cũng không thể nào
đứng vững được.
(ii) Nguyên tắc độc lập của tòa án chưa được tuân thủ một cách
triệt để ở nước ta, bởi lẽ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt
Nam vẫn phải theo theo nguyên tắc tập quyền. Nguyên tắc tập quyền không
thể là cơ sở cho sự độc lập của tòa án bởi nó dẫn đến việc quyết định
của tòa án khó tránh khỏi phụ thuộc vào sự chỉ dẫn, sự can thiệp của các
cơ quan nhà nước khác. Trên thực tế, mặc dù nguyên tắc về tính độc lập
của toà án đã được ghi nhận chính thức trong Hiến pháp và nhiều văn bản
pháp luật khác, song nó chưa được tất cả các cơ quan Đảng và Nhà nước
thực sự tôn trọng và tuân thủ. Hiện tượng can thiệp vào hoạt động xét xử
của tòa án và thẩm phán còn diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cấp độ, dưới
nhiều hình thức, khiến cho các tòa án và thẩm phán trong nhiều trường
hợp không thể quyết định vụ việc một cách khách quan, vô tư, chỉ tuân
theo luật pháp. Nhìn chung tư pháp ở nước ta vẫn còn mang đặc
điểm của thời kỳ chiến tranh, bao cấp; chưa nghiêng hẳn về bảo vệ công
lý. Tòa án không phải là cấp xét xử cuối cùng, vẫn chịu sự giám sát của
các cơ quan nhà nước khác. Ở đây, nếu thiếunhững điều kiện đảm bảo thực
hiện thì sự độc lập của tòa án chỉ là một tuyên bố mà không thểthực hiện
trong thực tế.
(iii) Quá trình xét xử của tòa án ở Việt
Nam chưa thực sự theo nguyên tắc tranh tụng mà vẫn nặng theo nguyên tắc
xét hỏi, luật sư chỉ đóng vai trò thứ yếu. Ở đây, không hẳn là việc
chuyển hoàn toàn sang mô hình tố tụng tranh tụng là phù hợp với điều
kiện ở nước ta, song việc duy trì quá lâu mô hình tố tụng buộc tội mà
chậm cải tổ rõ ràng đang tạo ra sự bất bình đẳng lớn giữa các bên tham
gia tố tụng, ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động xét xử. Đó là chưa
kể hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay vẫn thiên về xu
hướng bắt nhầm còn hơn bỏ sót. Vì vậy, người có hành vi mặc dù chỉ ở mức
độ phát hiện tội phạm đều có thể bị bắt giam để tiến hành điều tra để
buộc tội, mà rất ít khi dựa trên các quyết định có hiệu lực của tòa án.
Nhiều vụ án không có đủ bằng chứng để kết tội phải hoãn phiên tòa để
tiến hành điều tra bổ sung. Về các vụ việc dân sự, khi xét xử tòa án
chưa thực sự tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên, nhiều trường hợp
có sự can thiệp của Viện Kiểm sát, nhiều trường hợp thẩm phán phải tự đi
thu thập các chứng cứ.
(iv) Khác với nhiều nước, phạm vi xét xử của tòa án Việt Nam hiện
nay vẫn chưa phủ hết mọi hoạt động của xã hội, có những lĩnh vực hoạt
động của nhà nước vẫn chưa thuộc phạm vi xét xử của tòa án. Trong khi
đó, có những lĩnh vực đáng lẽ phải thuộc quyền xét xử của tòa án thì lại
bị bỏ sót. Cụ thể, theo luật nhân quyền quốc tế, việc tước tự do của
con người trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều phải do tòa án quyết định (tức
là theo thủ tục tư pháp) tuy nhiên, theo pháp luật hiện hành của nước
ta, việc đưa trẻ em làm trái pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự vào các trường giáo dưỡng, đưa phụ nữ mại dâm vào các
trung tâm phục hồi nhân phẩm, đưa người nghiện ma túy vào các trung tâm
cai nghiện… vẫn theo thủ tục hành chính, do các cơ quan hành chính quyết
định. Trong tất cả những trường hợp này, không thể nói rằng đó không
phải là tước tự do, vì thời hạn quản chế trong các cơ sở đã nêu ngắn
nhất là sáu tháng, dài nhất tới hai năm[17].
(v) Kinh phí hoạt động của hệ thống tòa án ở nước ta hiện vẫn phụ
thuộc chặt chẽ vào các cơ quan nhà nước khác, đồng thời phụ thuộc vào
các tòa án cấp trên. Tình trạng này khiến cho các tòa án khó tránh khỏi
sự tác động của các cơ quan nhà nước khác, cũng như khiến cho các tòa án
cấp dưới khó duy trì sự độc lập xét xử với tòa án cấp trên. Trong khi
đó, các thẩm phán, hội thẩm và những chức danh tư pháp khác làm việc
trong tòa án ở nước ta hiện vẫn chưa có một hiệp hội nghề nghiệp riêng.
Mặc dù về nguyên tắc, họ có thể tham gia Hội Luật gia Việt Nam song tổ
chức này quá rộng (bao trùm tất cả những người có chuyên môn và làm việc
trên lĩnh vực pháp luật) trong khi năng lực yếu, tổ chức và hoạt động
mang nặng tính hình thức và quan liêu nên không phải và thực tế chưa
từng là diễn đàn thích hợp để xúc tiến việc đào tạo chuyên môn cũng như
để bảo vệ quyền độc lập xét xử của thẩm phán.
(vi) Việc bổ nhiệm thẩm phán ở nước ta hiện dựa rất nhiều vào các
tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, trong khi lẽ ra cần nhấn mạnh các
tiêu chuẩn về chuyên môn và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Do đó, nhiều
thẩm phán được bổ nhiệm nhưng vẫn còn yếu kém về phẩm chất và năng lực.
Đó là chưa kể quy trình bổ nhiệm có sự tham gia của quá nhiều chủ thể
ngoài ngành, khiến áp lực đè lên các thẩm phán rất lớn, tất yếu khiến họ
bị phụ thuộc và không thể giữ được tính độc lập trong hoạt động nghề
nghiệp nếu như muốn được bổ nhiệm hoặc tái bổ nhiệm. Trong khi đó, việc
đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ thẩm phán ở nước ta tồn tại những vấn đề
bất hợp lý, minh chứng là số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học luật
trong những năm gần đây rất nhiều song ngành tòa án hiện vẫn kêu thiếu
thẩm phán, đặc biệt là ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Thêm vào
đó, trong những năm vừa qua, ở nhiều địa phương một số người chỉ có
trình độ đại học luật tại chức mà vẫn được bổ nhiệm thẩm phán, trong khi
có hàng ngàn cử nhân luật chính quy tốt nghiệp loại khá, giỏi vẫn thất
nghiệp.
(vii) Nước ta hiện vẫn áp dụng chế độ bổ nhiệm thẩm phán
theo định kỳ. Các thẩm phán, mặc dù mức lương có cao hơn so với mức
lương chung của các ngành khác, song vẫn thấp so với nhu cầu bảo đảm đời
sống và tích lũy cho họ và gia đình. Đây cũng là những yếu tố mà theo
kinh nghiệm quốc tế thường có ảnh hưởng lớn đến tính độc lập trong hoạt
động nghề nghiệp của thẩm phán.
(viii) Mặc dù ở nước ta, việc phân công thẩm phán xét xử
các vụ việc về nguyên tắc là vấn đề nội bộ quản lý của các tòa án, tuy
nhiên, trong thực tế nguyên tắc này không phải lúc nào cũng được tôn
trọng. Quan trọng hơn, trong hoạt động của các tòa án, một số quy tắc
“bất thành văn” như báo cáo án, thỉnh thị án, duyệt án… vẫn được áp dụng
một cách phổ biến. Cho dù những quy tắc này thường được biện hộ như là
sự “tham khảo” về chuyên môn nhưng thực tế không hẳn như vậy. Những quy
tắc này rõ ràng mâu thuẫn với những nguyên tắc và yêu cầu về tính độc
lập của tòa án và thẩm phán vì nó cho phép các tòa án cấp trên can thiệp
vào công việc xét xử của tòa án cấp dưới, cũng như cho phép lãnh đạo
các tòa án can thiệp vào quyền quyết định độc lập của các thẩm phán.
(ix) Hiện pháp luật nước ta chưa có những quy định cụ thể
về việc giữ bí mật nghề nghiệp và quyền miễn trừ của thẩm phán. Điều này
có thể gây rủi ro cho các thẩm phán trong hoạt động nghề nghiệp và ảnh
hưởng đến việc xét xử độc lập của họ. Đây cũng là sự bất cập của pháp
luật nước ta so với các quy định có liên quan của pháp luật quốc tế. Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, trọng tâm của cải cách tư pháp hiện nay là đảm bảo cho nguyên tắc toà án độc lập có hiệu lực trên thực tế. Cụ thể, cải cách tư pháp cần lưu ý những vấn đề sau:Thứ nhất, bảo
đảm quyền tư pháp được phân công, phân nhiệm rõ ràng. Ở đây, mọi công
cuộc cải cách tư pháp từ khi có cách mạng tư sản cho đến hiện nay đều
phải xoay quanh nguyên tắc độc lập của tòa án. Vì lẽ đó, cuộc cải cách
tư pháp của chúng ta cũng không thể nào nằm ngoài quy luật trên. Khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng với sự dần dần càng đi đến chỗ
đoạn tuyệt với cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp, hoạt động của các cơ
quan tư pháp càng ngày càng có ý nghĩa, thì việc cải cách tư pháp đang
trở nên ngày một bức xúc.Đấu tranh cho nguyên tắc độc lập của toà án
cũng là cuộc chiến lâu dài của nhiều nhà nước trên thế giới.
Như đã đề cập ở các phần trên, nguyên tắc toà án độc lập là nguyên
tắc quan trọng trong tổ chức hoạt động bộ máy nhà nước, được nhiều Hiến
pháp quy định thành nguyên tắc hiến định. Với chúng ta hiện nay, có lẽ
trước hết cần phải chỉnh lại khái niệm tư pháp cho phù hợp với các nước
trên thế giới, sau đấy phải tìm ra những biện pháp bảo đảm cho nguyên
tắc độc lập được thực hiện trên thực tế.
Trước hết, Viện Kiểm sát cần trả lại chức năng buộc tội
cho hành pháp, hoặc ngược lại, nếu còn để Viện Kiểm sát thực hiện chức
năng buộc tội thì ViệnKiểm sát phải trực thuộc hành pháp. Viện Kiểm sát
không nên kiêm chức năng kiểm sát xét xử.Điều tra là hoạt động quan
trọng bậc nhất của tố tụng và là khâu đầu tiên, đồng thời cũng là khâu
có tính quyết định nhất trong toàn bộ quy trình hoạt động xét xử của tòa
án tiếp theo. Tất cả các hoạt động công tố, xét xử dù thế nào chăng nữa
cũng phải căn cứ vào kết quả xác thực của các hoạt động điều tra. Vì
vậy hoạt động điều tra phải gắn chặt hoặc ít nhất là dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của hoạt động buộc tội.Cũng liên quan đến khía cạnh trên, cần
nghiên cứu và thay đổi nhiều quy định pháp luật về tổ chức bộ máy, quy
chế hoạt động, quan hệ với các cơ quan nhà nước khác… của hệ thống tòa
án để giảm thiểu sự can thiệp, tác động, cả trực tiếp và gián tiếp, của
các chủ thể bên ngoài, qua đó bảo đảm tính độc lập thực sự của các tòa
án. Đây là một sự thay đổi to lớn và khó khăn, vì nó liên quan đến một
loạt vấn đề trong đó có những vấn đề động chạm đến quan hệ giữa các cấp
ủy đảng với các tòa án và thẩm phán. Mặc dù vậy, sự thay đổi là rất cần
thiết, và mức độ, chiều sâu của sự thay đổi tỷ lệ thuận với hiệu quả
hoạt động của hệ thống tòa án.
Thứ hai, cần mở rộng đối tượng xét xử của tư pháp. Trong
nhà nước pháp quyền với cơ chế phân quyền, Quốc hội và Chính
phủ cũng phải hoạt động trong phạm vi khuôn khổ của Hiến pháp. Vấn đề
đặt ra là cần phải có sự kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp của
các cơ quan này. Lịch sử của các nhà nước tư sản đã chứng minh không một
chủ thể nào có thể làm tốt hơn chức năng này bằng hoạt động xét xử của
tòa án. Trong nghị quyết của Đảng đã có quyết định về việc thành lập tòa
án hiến pháp để xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp của bất kỳ cơ quan
tổ chức nhà nước nào. Đó là một trong những biểu hiện quyết tâm của
Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Vấn đề ở
đây là tổ chức thực hiện chủ trương đó như thế nào. Liên quan đến vấn đề trên, thực tế từ trước tới nay ở nước ta, tòa án luôn được nhấn mạnh là cơ quan xét xử.
Chính vì vậy, hệ thống tòa án ở nước ta về cơ bản mới chỉ làm tốt nhiệm
vụ bảo vệ Nhà nước và ở mức độ nhất định là bảo vệ các quyền lợi hợp
pháp của công dân trước sự xâm hại của các công dân và chủ thể phi nhà
nước khác. Tòa án ở nước ta từ trước đến nay chưa thể coi là đã đóng vai
trò thực sự của một cơ quan bảo vệ công lý, theo nghĩa là bộ
máy hay lá chắn giúp bảo vệ công dân trước những vi phạm các quyền và
lợi ích hợp pháp của chính các cơ quan và công chức nhà nước. Như vậy,
để đổi mới hệ thống và bảo đảm tính độc lập của tòa án, trước tiên cần
thay đổi nhận thức hay cách tiếp cận về tòa án, cần xem đó là cơ quan bảo vệ công lý thay bằng, hay đồng thời với việc coi đó là cơ quan xét xử.
Thứ ba, cần chuyển mạnh phương thức xét xử từ tố
tụng buộc tội sang tố tụng tranh tụng. Điều này không chỉ liên quan đến
những thay đổi về pháp luật tố tụng, mà còn đến việc giáo dục, chuyển
đổi nhận thức và thái độ của các thẩm phán, hội thẩm và thư ký tòa án.
Ngoài ra, thay đổi về vấn đề này còn cần gắn với việc mở rộng vai trò
của luật sư trong hoạt động tố tụng. Thêm vào đó, cần có những giải pháp
hiệu quả về kinh phí hoạt động của hệ thống tòa án nhằm bảo đảm các tòa
án không phụ thuộc vào bất cứ cơ quan nào, kể cả vào các tòa án cấp
trên, về kinh phí hoạt động. Ở nhiều quốc gia, pháp luật quy định một tỷ
lệ phần trăm nhất định ngân sách nhà nước hay ngân sách địa phương
đương nhiên phải phân bổ cho hoạt động của tòa án; điều này giúp các tòa
án không bị ràng buộc bởi cơ chế “xin-cho” kinh phí, từ đó không phải
phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước khác hay vào tòa án cấp trên. Đây có
thể là một kinh nghiệm tốt với nước ta.
Thứ tư, mặc dù là độc lập để đảm bảo phán xử công bằng, nhưng tòa án vẫn phải chịu sự giám sát. Hoạt
động giám sát của người dân cũng như của nhiều tổ chức xã hội cũng như
trong bản thân của cơ cấu nhà nước đối với hoạt động của cơ quan nhà
nước là biểu hiện của dân chủ cũng như là sự văn minh của nhân loại. Với
nguyên tắc này, hoạt động xét xử của tòa án cũng phải chịu sự giám sát
của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Tuy nhiên, việc giám sát các
hoạt động xét xử của tòa án phải khác với việc giám sát hoạt động của
các cơ quan nhà nước khác ở điểm không được tự tiện thay đổi các quyết
định án đã được xét xử của tòa án. Việc thay đổi các quyết định án phải
tuân theo thủ tục tố tụng các cấp xét xử của hệ thống tòa án: án sơ thẩm
phải được kiện lên phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Nhưng trong
trườnghợp có quá nhiều án phải xử đi xử lại, thì phải xem xét lại chất
lượng của việc bổ nhiệm thẩm phán của các cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm
thẩm phán. Cách đây không lâu, vấn đề “án đụng trần” được báo
chí luận bàn rất sôi nổi. Có nhiều ý kiến rất khác nhau của các nhà
khoa học và các nhà quản lý cao cấp. Có quan điểm cho rằng, nếu Hội đồng
Thẩm phán xét xử sai thì chuyển sang cho Uỷ ban thường vụ
Quốc hội (UBTVQH)xử và nếu UBTVQH xử sai thì lại chuyển sang cho Quốc
hội. Làm như vậy là vi phạm nguyên tắc xét xử độc lập của tòa án. Cải
cách tư pháp là phải làm sao giữ cho nguyên tắc này không bị vi phạm chứ
không phải là đặt vấn đề để rồi đưa đến chỗ nghi ngờ nó. Việc tòa án
sai chỉ có thể được sửa bằng một quyết định của tòa án, theo một trình
tự tố tụng, mà không thể bằng một quyết định của các cơ quan ngoài tòa
án. Cũng như các hoạt động khác của Nhà nước phải đặt dưới sự kiểm tra
giám sát của công luận, tòa án cũng phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát
của công luận. Nhưng không phải vì thế mà có thể can thiệp vào nguyên
tắc độc lập của tòa án, thay tòa án ra quyết định bản án hoặc làm ảnh
hưởng đến các quyết định của tòa án. Công lý phải nhanh, công lý cũng
phải có điểm dừng và công lý đến chậm cũng bằng như là không có công lý.
Nếu vin vào lập luận cho rằng quyết định của tòa án sai mà không thi
hành, thì đó là sai lầm lớn tạo nên sự bất tin của nhân dân đối với Nhà
nước.
Thứ năm, giải thích Hiến pháp và luật phải là một trong
những biểu hiện thẩm quyền của quyền tư pháp. Theo quy định của Hiến
pháp, UBTVQH có thẩm quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật. Nhưng cho
đến nay, UBTVQH không thực hiện được chức năng này, bởi lẽ, về nguyên
tắc đó là cơ quan lập pháp chứ không phải là cơ quan áp dụng luật.
Nguyên tắc “Người làm được việc lớn thì tất nhiên bao giờ cũng làm được
việc nhỏ” của hệ thống luật La Mã cổ đại trong điều kiện hiện nay có lẽ
không phù hợp và nếu còn đi chăng nữa thì đấy là hoạt động lập pháp chứ
không phải là giải thích luật. Lập pháp là chức năng của Quốc hội và
thông qua pháp lệnh cũng thuộc chức năng của UBTVQH. Muốn giải thích
được các điều luật một cách chính xác thì phải trăn trở với nó, vì vậy
buộc phải đặt việc giải thích trong một vụ việc cụ thể, gắn với các sự
kiện pháp lý cụ thể. Chỉ có Tòa án với nguyên tắc nghĩa vụ phải xét xử
của thẩm phán mới có điều kiện cũng như nghĩa vụ giải thích các điều
luật. Điều này có nghĩa là giải thích điều luật phải gắn với một trường
hợp cụ thể mà không thể là giải thích chung chung, rơi vào tình trạng
của việc giải thích trừu tượng. Việc trao quyền này cho UBTVQH tức là
không phân biệt rõ và thậm chí còn là nhầm lẫn giữa lập pháp và tư pháp.Thứ sáu, đảm
bảo cho tòa án độc lập chính là đảm bảo cho thẩm phán độc lập. Sự độc
lập của tòa án không chỉ giản đơn có trong giai đoạn xét xử bằng một
tuyên bố của Hiến pháp, mà còn cần phải mở rộng sự độc lập này ra khỏi
phạm vi xét xử và cả những cơ chế chính sách khác kèm theo. Nguyên tắc
độc lập của toà án khi xét xử không chỉ được tuyên bố trong bản văn Hiến
pháp mà tự nhiên nó có thể thực hiện trên thực tế. Muốn có được sự thực
hiện nguyên tắc trên phải cần một loạt những đảm bảo kèm theo cả về thể
chế luật pháp lẫn chủ trương,chính sách.Điều 130 Hiến pháp hiện hành
quy định:“Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập, và chỉ tuân theo
pháp luật”. Theo quy định này, nguyên tắc độc lập của tư pháp được tuyên
bố ở một công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng – khi xét xử. Sự độc
lập của toà án không thể có được nếu chỉ dừng lại đơn thuần ở khâu xét
xử. Không thể có sự độc lập khi xét xử trong khi các công đoạn khác của
cả một quy trình tố tụng không được tuyên bố là độc lập, nhất là trong
cuộc sống, thẩm phán và hội thẩm vẫn còn phải phụ thuộc vào lập pháp, vào hành pháp, vào các chủ thể nắm quyền lực khác của Nhà nước.Vì
lẽ đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc cải cách tư
pháp hiện nay là nhanh chóng tổ chức hoạt động xét xử của tư pháp vượt
ra khỏi vòng cương tỏa của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính
được tổ chức ra nhằm mục đích quản lý, mà không phải dành cho hoạt động
của tư pháp - xét xử.
Như đã đề cập ở các phần trên, để bảo đảm cho thẩm phán độc lập,
cần đáp ứng một số điều kiện, trong đó có những điều kiện xin nhắc lại
và làm rõ thêm dưới đây trên cơ sở gắn với hoàn cảnh của Việt Nam:
- Tăng cường trách nhiệm của thẩm phán: Một xã hội tốt đòi hỏi phải có các thể chế pháp lý vô tư và công bằng. Điều này có nghĩa là phải đảm
bảo sự độc lập trong quá trình ra quyết định của tư pháp không bị
chi phối bởi sự can thiệp của bất kể chủ thể nào. Một hệ thống tư pháp
độc lập đối với cả sự can thiệp của Chính phủ và ảnh hưởng của các bên
có liên quan trong tranh chấp là sự hỗ trợ tốt nhất cho sự hiệu lực của
pháp luật. Nếu luật pháp hay toà án bị xem xét là thiên vị hay tuỳ tiện
thì trật tự xã hội sẽ bị suy giảm. Để có sự công bằng, cần phải có các
thể chế làm cho các thẩm phán phải chịu trách nhiệm về hành động của
mình. Sự độc lập của hệ thống tư pháp cần phải đi cùng với cơ chế trách
nhiệm giải trình trong hệ thống tư pháp. Khi các thẩm phán phải chịu
trách nhiệm về những hành động của mình, thì hệ thống tư pháp trở nên có
hiệu quả hơn và các thẩm phán có thể giải quyết các vụ kiện một cách
nhanh chóng và công bằng hơn.
- Đảm bảo thẩm phán có nhiệm kỳ vững chắc và lâu dài: Các
thẩm phán không thể có một thái độ trung thành với Hiến pháp và các
quyền tự do của người dân nếu nhiệm kỳ của họ chỉ có tính cách tạm thời
theo một thời hạn nhất định. Một khi chỉ được bổ nhiệm trong một nhiệm
kỳ ngắn ngủi dù theo bất cứ một thể thức nào hoặc do bất cứ một ngành
quyền nào cũng vậy, các thẩm phán sẽ không thể có được một tinh thần độc
lập và cương quyết. Nếu quyền bổ nhiệm được giao phó cho ngành hành
pháp hoặc cho ngành lập pháp thì lẽ đương nhiên phải tùy thuộc vào một
trong hai ngành này vì họ phải lấy lòng những người bổ nhiệm. Nếu quyền
bổ nhiệm lại được giao cho dân chúng, tức là chức vụ chánh án phải do
dân chúng bầu cử, thì cũng sẽ là lẽ đương nhiên thẩm phán muốn đắc
cử thì buộc phải lấy lòng người dân, mà không cần đếm xỉa gì đến Hiến
pháp và luật pháp[18].Ngoài những lý
do kể trên, còn một lý do khác rất quan trọng để cho các thẩm phán có
một nhiệm kỳ dài. Đó là lý do liên quan đến những điều kiện chuyên
môn của thẩm phán. Một xã hội càng tự do bao nhiêu thì luật lệ của nó
càng rắc rối, tỉ mỉ và phức tạp bấy nhiêu. Càng ngày các vụ việc xét xử
càng nhiều thêm, các vụ tranh luận càng ngày càng phức tạp hơn, cố nhiên
kiến thức về luật pháp để xét xử càng ngày càng đòi hỏi cao hơn. Các
thẩm phán xét xử ngày càng đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ cao hơn. Với
nhiệm kỳ dài sẽ có tác dụng tăng cường chuyên môn nghiệp vụ lẫn sự độc
lập của các thẩm phán.
- Chế độ lương bổng cho thẩm phán phải được bảo đảm: Ngoài
nhiệm kỳ có tính chất bền vững lâu dài của các thẩm phán, có lẽ không
có một yếu tố nào lại có thể thuận tiện hơn để duy trì tính cách độc lập
của họ bằng điều khoản quy định những phương tiện sinh sống của họ.
Những bản tính của thẩm phán và chánh án của họ có thể cũng gần giống
như của người trong bộ máy hành pháp; vì họ đều là những người cần phải
thực thi pháp luật nên giống như hành pháp, thẩm phán cũng đòi hỏi phải
có tính quyết đoán và cũng phải dám chịu trách nhiệm.
- Bảo đảm một số điều kiện làm việc khác cho thẩm phán. Cụ
thể, cần rà soát những tiêu chuẩn hiện hành về bổ nhiệm, tái bổ nhiệm
và miễn nhiệm thẩm phán để loại bỏ hoặc giảm bớt các tiêu chuẩn không
liên quan đến năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, nhằm bảo đảm
không có sự phân biệt đối xử về bất cứ yếu tố gì trong các quá trình
này, từ đó chọn ra được những thẩm phán có năng lực và đạo đức tốt, cũng
như khuyến khích những người có năng lực và đạo đức tốt cống hiến cho
hệ thống tòa án. Thêm vào đó, cần rà soát và sửa đổi quy chế hoạt động
của các tòa án nhằm giảm thiểu khả năng thẩm phán phải phụ thuộc vào
lãnh đạo của các tòa án trong hoạt động nghề nghiệp, trong đó bao gồm
việc loại bỏ các quy tắc “bất thành văn” như báo cáo án, thỉnh thị án,
duyệt án… Ngoài ra, cần ban hành các quy định pháp luật cụ thể về việc
giữ bí mật nghề nghiệp và quyền miễn trừ của thẩm phán nhằm bảo vệ họ
khỏi những rủi ro nghề nghiệp, qua đó tránh cho họ không bị phụ thuộc
vào các chủ thể khác. Ở mức độ rộng hơn, cần xây dựng một cơ chế để bảo
đảm sự độc lập của thẩm phán trước sự tác động trong và ngoài tòa án. Cụ
thể, hiện ở nước ta, tòa án vẫn được coi là một cơ quan hành chính, còn
thẩm phán thì được coi là một dạng công chức trong hệ thống hành chính.
Một khi còn nhận thức như vậy, sẽ rất khó bảo đảm tính độc lập của tòa
án với các cơ quan nhà nước khác cũng như tính độc lập của thẩm phán với
các chủ thể quản lý hành chính. Vì vậy, cần thay đổi nhận thức theo
hướng thừa nhận vị trí đặc biệt của tòa án và của thẩm phán, đồng thời
thay đổi quan niệm về mối quan hệ “trên – dưới” giữa lãnh đạo các tòa án
và các thẩm phán, giữa tòa án cấp dưới và tòa án cấp trên…
Tóm lại, để cải cách hoạt động của các cơ quan
thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam, trước hết phải hiểu được đúng nguyên
nghĩa quyền tư pháp. Quyền tư pháp là một quyền độc lập chỉ được dùng
để chỉ cho hoạt động xét xử của tòa án, không nên được dùng cho cả các
cơ quan điều tra và nhất là cho cả cơ quan công tố buộc tội của Viện
kiểm sát như hiện nay - những quyền này đều là một phần của quyền hành
pháp. Quyền tư pháp phải được mở rộng đối tượng xét xử kể các các hành
vi lập pháp và hành pháp. Trong tương lai không xa, các hoạt động của
các cơ quan lập pháp và cả hành pháp cũng phải đặt trong vòng xét xử của
toà án. Khác với thời kỳ chiến tranh, cũng như thời bao cấp, tư pháp
chỉ được xem xét như là một trong các ban ngành như các bộ của hành
pháp, vì nó chỉ được hiểu là một trong những lĩnh vực cần quản lý
của Nhà nước như các lĩnh vực ban ngành khác mà thôi, mà phải là một
ngành độc lập có khả năng xét xử cả các hành vi của lập pháp và hành
pháp. Cuối cùng, cải cách tư pháp cần trao cho tòa án quyền giải thích
Hiến pháp và pháp luật, đồng thời phải đặc biệt chú ý đến bảo đảm tính
độc lập cho thẩm phán./.
[1] Ở đây, cần thấy rằng cũng giống như mọi thể chế chính trị khác,
dân chủ tư sản cũng tồn tại những khiếm khuyết nhất định. Nhưng như
Churchill đã nhận định: “Mặc dù không phải là một chế độ hoàn hảo, nhưng
dân chủ [tư sản] còn khá hơn bất kỳ một chế độ nào đã từng có trong
lịch sử loài người”. Sau này, Thủ tướng Ấn độ Nehru cũng đồng tình: “Dân
chủ là một chế độ tốt vì mọi chế độ khác đều tệ hơn rất nhiều”.
[2]Xem, Joef Thesing: Nhà nước pháp quyền, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002, tr.126.
[3] Được thông qua tại Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 7 về phòng
chống tội phạm và đối xử với người phạm tội, tổ chức tại Milan từ ngày
26/8 đến ngày 6/9/1985, sau đó được thông qua bằng Nghị quyết 40/32 ngày
29/11/1985 và Nghị quyết 40/146 ngày 13/12/1985 của Đại hội đồng Liên
hợp quốc.
[4] Cần thấy rằng quy định này khác so với một số chức danh trong
bộ máy nhà nước. Cụ thể, theo luật quốc tế, các nhà nước có thể hạn chế
hoặc không thừa nhận quyền tự do lập hội, biểu tình, bãi công của một số
chức danh đặc biệt như lực lượng cảnh sát, an ninh, phòng cháy chữa
cháy, hay kể cả quân đội, nhằm bảo đảm sự ổn định và lợi ích chung của
toàn xã hội.
[5] CCP khảo sát 550/800 bản Hiến pháp thành văn đã được ban hành
trên thế giới từ năm 1789, trong đó hơn 90% được thông qua sau Chiến
tranh Thế giới II. Số liệu khảo sát ở mục này cập nhật đến ngày
22/5/2008. Xem dữ liệu của CCP tại
http://www.constitutionmaking.org/reports.html.
[8] Ở Việt Nam, hai bản Hiến pháp năm 1956 và 1967 của chính quyền
miền Nam quy định theo mô thức này. Cụ thể, Điều 4 bản Hiến pháp năm
1956 quy định: “Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ tự do,
dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một
quy chế bảo đảm tính cách độc lập”.
Điều 70 và 71 bản Hiến pháp này nhắc lại nguyên tắc độc lập tư pháp
dưới góc độ tính độc lập của thẩm phán: “Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở
Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người
trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án” (Điều 70);
“Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật
pháp và quyền lợi quốc gia” (Điều 71).
Theo Điều 3 bản Hiến pháp năm 1967: “Ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp
và Tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của
ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật
tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản tự do, dân chủ và công bằng
xã hội”. Thêm vào đó, Điều 76 bản Hiến pháp này còn quy định thêm: “(1)
Quyền Tư pháp độc lập, được ủy nhiệm cho Tối Cao Pháp Viện và được hành
xử bởi các Thẩm phán xử án”.
[9] Cụ thể, Điều 69 Hiến pháp 1946 quy định: “Trong khi xét xử, các
viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can
thiệp”. Theo Điều 131 Hiến pháp 1960: “Khi xét xử, thẩm phán và hội
thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Theo Điều 131 Hiến
pháp 1980: “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật”. Cũng theo Điều 130 Hiến pháp 1992:“Khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
[10] Trong các Hiến pháp của Việt Nam (kể cả hai Hiến pháp của
chính quyền miền Nam giai đoạn 1954-1975), Hiến pháp 1946 và Hiến pháp
1956 không có quy định về nhiệm kỳ của thẩm phán. Các bản Hiến pháp còn
lại có quy định về vấn đề này nhưng với những mức độ khác nhau. Cụ
thể, Hiến pháp 1960 (Điều 129), nhiệm kỳ của Chánh án, Phó Chánh án và
thẩm phán Toà án nhân dân các cấp theo nhiệm kỳ của cơ quan bầu ra mình,
còn nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân tối cao là hai năm
rưỡi, của Toà án nhân dân địa phương là hai năm. Hiến pháp 1980 (các
Điều 129 và 130) cũng quy định tương tự. Theo Hiến pháp 1992 (Điều 128),
nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc
hội, còn nhiệm kỳ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ở Toà án nhân dân
các cấp do luật định. Hiến pháp 1967 chỉ quy định về nhiệm kỳ của thẩm
phán Tối cao pháp viện (Điều 80 khoản 3) là sáu năm.
[13] Trong các Hiến pháp của Việt Nam (kể cả hai hiến pháp của
chính quyền miền Nam giai đoạn 1954-1975), các Hiến pháp
1946,1960,1980,1992 và Hiến pháp 1956 ở miền Nam không có quy định về
lương của thẩm phán hay ngân sách của tòa án. Chỉ riêng Hiến pháp 1967 ở
miền Nam có một quy định về ngân sách của Tối cao Pháp viện (Điều 83),
trong đó nêu rằng: “Tối Cao Pháp Viện có ngân sách tự trị và có quyền
lập qui để quản trị ngành tư pháp”.
[16] Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2009 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
[17] Xem Pháp lệnh Xử lý Vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008 (hiện đang được nâng cấp thành luật).
[18] Xem Luận về Hiến pháp Hoa kỳ (The federalist papers), Việt Nam Khảo dịch xã, Sài Gòn, 1959 tr 225.
GS, TS. Nguyễn Đăng Dung – Chủ nhiệm Bộ môn Luật Hiến pháp –
Hành chính, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; TS. Vũ Công Giao – Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguồn: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/tu-phap-111oc-lap-mot-so-van-111e-ly-luan-va-thuc-tien-ky-1