Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

CHƯƠNG 3 - ĐỐI THOẠI VỚI VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG - TỪ NHÓM NGƯỜI TRẺ ĐẾN MỘT CHÍNH ĐẢNG LỚN "VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG"

CHƯƠNG III

TỪ NHÓM NGƯỜI ĐẾN MỘT TỔ CHỨC "VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG"

Sự ra đời của một chính đảng Một nhóm người có thể cùng chia sẻ một nỗi đau, cùng đọc một cuốn sách, cùng nói về một đất nước, cùng bất mãn trước một chế độ. Nhưng từ một nhóm người đến một chính đảng là một bước nhảy rất lớn.

Ở đó xuất hiện những câu hỏi mà một nhóm trí thức hay một hội đọc sách không thể né tránh: Ai là thành viên, quyết định? Quyết định bằng cách nào? Tổ chức từ trung ương xuống địa phương ra sao? Làm thế nào để giữ liên lạc, để tuyển người, để truyền bá tư tưởng? Lấy nguồn lực ở đâu?,và quan trọng nhất  nếu giành được độc lập, sẽ xây dựng một quốc gia như thế nào?

Việt Nam Quốc dân Đảng ra đời trong chính khoảng cách ấy, giữa khát vọng cứu nước và nhu cầu biến khát vọng thành một lực lượng chính trị có tổ chức.

1. Không có một ngày sinh tách rời khỏi một quá trình

Ngày 25 tháng 12 năm 1927 thường được xác định là ngày thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng.

Các tài liệu lịch sử trong nước ghi rằng đêm 24 rạng ngày 25 tháng 12 năm 1927, một cuộc họp kín được tổ chức ở Hà Nội và quyết định thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng, với Nguyễn Thái Học đứng đầu. Một số tài liệu mô tả hội nghị đã thảo luận điều lệ, chương trình hành động và cơ cấu tổ chức của đảng.

Nhưng nếu chỉ bắt đầu câu chuyện ở đêm 25 tháng 12, ta sẽ bỏ mất điều quan trọng hơn VNQDĐ không được sinh ra trong một đêm. Đằng sau ngày thành lập ấy là Nam Đồng thư xã, những hoạt động xuất bản, những cuộc gặp gỡ, những mối liên hệ giữa thanh niên ở Hà Nội với các địa phương, những cuộc tranh luận về con đường cứu nước và sự xuất hiện ngày càng rõ của ý tưởng phải có một tổ chức chính trị bí mật.

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Khánh dành riêng một phần cho quá trình từ Nam Đồng thư xã đến việc hình thành VNQDĐ, qua đó cho thấy sự ra đời của đảng cần được đặt trong một tiến trình tổ chức chứ không chỉ được hiểu như một sự kiện đơn lẻ. Điều này rất quan trọng.

Vì lịch sử của một chính đảng không bắt đầu bằng lúc nó có tên. Nó bắt đầu từ lúc một số con người nhận ra rằng, nếu không tổ chức lại, tư tưởng sẽ tan vào những cá nhân riêng lẻ.

2. Từ Nam Đồng đến “chi bộ”

Nam Đồng thư xã trước hết là một không gian của sách và tư tưởng,nhưng chính sự giao tiếp giữa những người cùng quan tâm đến vận mệnh đất nước đã làm thay đổi tính chất của không gian ấy. Những người gặp nhau không còn chỉ hỏi đất nước đang như thế nào?. Họ bắt đầu hỏi chúng ta phải làm gì. Đây là bước chuyển rất lớn.

Một thư xã có thể xuất bản sách. Nhóm trí thức , những hội kín có thể tranh luận, thảo luận. Nhưng một chính đảng phải phân công nhiệm vụ và tạo ra khả năng hành động tập thể.

Theo các nghiên cứu về VNQDĐ, trong quá trình hình thành đã xuất hiện cái gọi là “chi bộ Nam Đồng”, từ đó kết nối với những nhóm yêu nước khác ở các địa phương. Các nguồn khác nhau có thể ghi nhận khác nhau về thời điểm, thành phần và cách gọi của tổ chức tiền thân này; vì vậy cần tránh biến một hồi cố về sau thành biên bản nguyên thủy không thể tranh luận.

Nhưng dù chi tiết nào cần tiếp tục kiểm chứng, có một điều khá rõ đã xuất hiện nhu cầu chuyển từ mạng lưới quan hệ sang một cơ cấu tổ chức. Đó mới là điều đáng chú ý.

3. Tại sao phải là một “đảng”?

Từ “đảng” trong bối cảnh Việt Nam cuối thập niên 1920 không đơn giản có nghĩa là một hội đoàn. Nó hàm chứa ý tưởng về một lực lượng có mục tiêu chính trị, có tổ chức, có kỷ luật và có khả năng hành động nhằm thay đổi chính quyền.VNQDĐ không còn muốn chỉ giáo dục lòng yêu nước.

Họ muốn tạo ra một lực lượng có thể hành động vì mục tiêu độc lập. Đây là bước chuyển từ tư tưởng → tổ chức → quyền lực chính trị. Cũng từ đây, lý tưởng bắt đầu phải đối diện với những yêu cầu rất thực tế. Một người yêu nước có thể hành động một mình. Một chính đảng thì không thể. Nó phải biết ai làm gì, ai chịu trách nhiệm.,  mệnh lệnh đi qua đâu, thông tin được bảo mật như thế nào và một cơ sở bị lộ thì những cơ sở khác có bị kéo theo hay không. Nói cách khác lý tưởng bắt đầu gặp kỹ thuật tổ chức.

4. Điều lệ: khi lý tưởng phải biến thành quy tắc

Một trong những dấu hiệu quan trọng nhất cho thấy VNQDĐ đã bước sang giai đoạn chính đảng là việc xây dựng điều lệ.

Theo một tài liệu tổng thuật về hội nghị thành lập, điều lệ quy định tôn chỉ, mục đích, hệ thống tổ chức, điều kiện gia nhập, nguyên tắc tổ chức và nhiệm kỳ của các cấp bộ. Cơ cấu được mô tả theo các tầng từ chi bộ lên tỉnh bộ, kỳ bộ và tổng bộ.

Điều này có ý nghĩa lớn hơn vẻ ngoài hành chính của nó.Vì một khi đã có điều lệ, câu hỏi không còn là chúng ta có cùng lý tưởng không?. Mà là chúng ta cùng lý tưởng theo những quy tắc nào? Đó chính là lúc một phong trào bắt đầu tạo ra văn hóa tổ chức.

Một tổ chức không thể tồn tại lâu nếu tất cả đều phụ thuộc vào lòng nhiệt tình của một vài cá nhân. Nó cần quy tắc. Quy tắc tạo ra tính liên tục. Tính liên tục tạo ra tổ chức, mà tổ chức mới tạo ra khả năng hành động vượt khỏi phạm vi của từng cá nhân.

5. Tổ chức dọc: từ trung ương đến chi bộ

Các tư liệu về VNQDĐ mô tả hệ thống tổ chức theo chiều dọc: Tổng bộ, Kỳ bộ, Tỉnh bộ và Chi bộ. Một số nguồn còn ghi nhận quy định về số lượng thành viên của chi bộ và nhiệm kỳ của bộ máy cơ sở. Cần hiểu bối cảnh của cơ cấu này. Đây là một tổ chức hoạt động trong điều kiện thuộc địa và bị theo dõi. Vì vậy, tổ chức bí mật không chỉ là một lựa chọn lý luận. Nó còn là một cơ chế sinh tồn.

Nhưng chính ở đây xuất hiện một nghịch lý, bí mật giúp tổ chức tránh bị phát hiện. Nhưng bí mật cũng làm cho thông tin bị phân mảnh. Kỷ luật giúp tổ chức thống nhất. Nhưng kỷ luật quá cao có thể làm giảm khả năng tranh luận. Tập trung quyền lực giúp ra quyết định nhanh. Nhưng tập trung quá mức có thể làm cho sai lầm của trung tâm lan xuống toàn bộ hệ thống. Đây là một bài toán mà không chỉ VNQDĐ phải đối diện. Đó là bài toán phổ quát của mọi tổ chức chính trị hoạt động trong điều kiện nguy hiểm làm thế nào để vừa bảo vệ tổ chức, vừa giữ được khả năng tự kiểm tra chính mình?

6. Những con người khác nhau bước vào cùng một tổ chức

VNQDĐ không phải là một nhóm người hoàn toàn giống nhau. Trong quá trình phát triển, tổ chức thu hút học sinh, sinh viên, giáo viên, công chức, binh lính và một số thành phần xã hội khác. Một số nhóm địa phương cũng được kết nối với tổ chức. Điều đó tạo ra sức mạnh.

Nhưng đồng thời cũng tạo ra khác biệt. Người trí thức quan tâm đến tư tưởng. Người hoạt động địa phương quan tâm đến cơ sở. Người có quan hệ trong quân đội quan tâm đến binh lính. Người làm tuyên truyền quan tâm đến khả năng thuyết phục. Người tổ chức quan tâm đến kỷ luật. Người hành động có thể quan tâm đến thời cơ.

Một chính đảng trưởng thành phải biến những năng lực khác nhau ấy thành một hệ thống bổ trợ cho nhau. Nếu không, sự đa dạng sẽ trở thành chia rẽ. Đây là một trong những bài học quan trọng nhất khi nhìn lại VNQDĐ: một tổ chức không mạnh chỉ vì có nhiều người tài; nó mạnh khi biết đặt những khả năng khác nhau vào đúng vị trí và cùng hướng về một mục tiêu chung.

7. Nguyễn Thái Học: lãnh đạo không đồng nghĩa với một mình quyết định

Nguyễn Thái Học giữ vị trí trung tâm trong quá trình thành lập VNQDĐ. Các nguồn chính thống hiện nay đều xác nhận ông giữ vai trò lãnh đạo tại thời điểm thành lập. Tuy nhiên, cơ cấu ban đầu gồm nhiều nhân vật và nhiều bộ phận khác nhau, cho thấy đây không phải là tổ chức của một cá nhân duy nhất.

Điểm này đáng được nhấn mạnh. Lịch sử thường có xu hướng cá nhân hóa. Một tổ chức lớn được kể lại qua một người. Một cuộc chiến được kể qua một vị tướng. Một phong trào được kể qua một lãnh tụ. Điều đó giúp câu chuyện dễ nhớ. Nhưng lại có thể làm mất đi bản chất của tổ chức. VNQDĐ là sản phẩm của nhiều người.

Nguyễn Thái Học có vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng sự tồn tại của tổ chức phụ thuộc vào mạng lưới cộng sự, cơ sở, người truyền tin, người làm tuyên truyền, người gây quỹ và những người tham gia ở địa phương. Nếu chỉ nhìn vào Nguyễn Thái Học, ta sẽ hiểu được một lãnh tụ, và nhìn vào toàn bộ mạng lưới, ta mới hiểu được một chính đảng.

8. Khi tổ chức bắt đầu nghĩ đến quy mô toàn quốc

Một trong những tham vọng lớn nhất của VNQDĐ là vượt khỏi phạm vi của một nhóm Hà Nội. Điều đó đòi hỏi liên lạc với các địa phương. Các nguồn lịch sử ghi nhận sự phát triển của tổ chức ở nhiều tỉnh Bắc Kỳ và sự liên hệ với những nhóm yêu nước khác. Tuy nhiên, mức độ kiểm soát thực tế của Tổng bộ đối với toàn bộ mạng lưới không phải lúc nào cũng đồng nhất. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng lưu ý rằng địa bàn hoạt động chủ yếu của VNQDĐ trong thời kỳ đầu tập trung ở Bắc Kỳ và tổ chức chưa thực sự tạo được một cơ quan trung ương thống nhất trên phạm vi cả nước.

Đây là một chi tiết rất đáng suy nghĩ. Ý định toàn quốc không đồng nghĩa với năng lực toàn quốc. Một tổ chức có thể tuyên bố đại diện cho cả dân tộc. Nhưng để thực sự trở thành một lực lượng toàn quốc, nó phải có cơ sở xã hội rộng; mạng lưới liên lạc đáng tin cậy; nguồn nhân lực; nguồn tài chính; khả năng truyền thông; năng lực phối hợp; và một chương trình đủ sức tập hợp những nhóm xã hội khác nhau. Khoảng cách giữa tầm nhìn và năng lực thực thi sẽ trở thành một trong những vấn đề lớn của VNQDĐ trong những năm tiếp theo.

9. Một tổ chức bí mật phải học cách vận hành như một “hệ thống”

Các chức năng được phân chia trong tổ chức cho thấy VNQDĐ đã ý thức được rằng một chính đảng không thể hoạt động chỉ bằng nhiệt huyết. Có bộ phận tổ chức, tuyên truyền, tài chính, liên lạc, trinh sát và những bộ phận liên quan đến quân sự.

Một số tài liệu của chính VNQDĐ còn ghi nhận những bộ phận đặc biệt như “ám sát”. Những tên gọi này cần được đặt đúng trong bối cảnh lịch sử và không nên được dùng như những nhãn đạo đức có sẵn để thay thế cho việc nghiên cứu cách tổ chức vận hành.

Điều đáng nghiên cứu ở đây là VNQDĐ đã bắt đầu tư duy bằng chức năng. Một người không thể vừa làm tất cả. Một tổ chức phải phân công, và phân công dẫn đến chuyên môn hóa. Chuyên môn hóa tạo ra hiệu suất. Nhưng chuyên môn hóa cũng tạo ra một nguy cơ mỗi bộ phận có thể bắt đầu nhìn đất nước qua một lăng kính riêng. Bộ phận tuyên truyền nghĩ về thông tin. Bộ phận quân sự nghĩ về lực lượng. Bộ phận tổ chức nghĩ về kỷ luật. Bộ phận lãnh đạo nghĩ về chiến lược.

Nếu không có một cơ chế phối hợp đủ mạnh, toàn bộ hệ thống có thể trở thành tổng của những bộ phận nhưng không tạo được một chiến lược thống nhất.

10. Từ “cứu quốc” đến câu hỏi về chính quyền

Đây là điểm quan trọng nhất của chương này. VNQDĐ không chỉ nói về việc đánh đổ chính quyền thuộc địa. Trong các tư liệu về chương trình hoạt động, mục tiêu cuối cùng còn gắn với việc thiết lập một nước Việt Nam độc lập và cộng hòa. Một số tài liệu do phía VNQDĐ lưu giữ và công bố về sau còn trình bày một quá trình gồm giai đoạn phá hoại và giai đoạn kiến thiết, trong đó giai đoạn sau hướng tới tổ chức chính quyền, giáo dục dân chúng về đời sống dân chủ và cuối cùng xây dựng hiến pháp thông qua một cơ quan đại diện được bầu. Đây là tư liệu quan trọng nhưng cần phân biệt rõ giữa văn bản/chủ trương được VNQDĐ công bố hoặc hồi cố và mức độ mà chương trình ấy có thể được thực thi trong thực tế.

Chi tiết này làm thay đổi cách đọc VNQDĐ. Nếu chỉ nhìn họ như một tổ chức chống Pháp, câu chuyện sẽ dừng ở chữ cứu quốc. Nhưng nếu đọc chương trình chính trị của họ, một câu hỏi khác xuất hiện cứu quốc để làm gì? 

Đánh đổ một chính quyền chưa phải là xây dựng một quốc gia. Độc lập chưa phải là thể chế. Cộng hòa chưa tự động tạo ra dân chủ. Bầu cử chưa tự động tạo ra pháp quyền, và một chính đảng giành được quyền lực chưa có nghĩa là người dân đã thực sự làm chủ quyền lực. Đây chính là khoảng trống mà các chương sau cần đi sâu.

11. Phản đề: có tổ chức chưa có nghĩa là đã có năng lực chính trị

Đây là chỗ cần tránh một cách nhìn quá lãng mạn. VNQDĐ đã có tên gọi. Có điều lệ, hệ thống tổ chức, chương trình, mạng lưới, kỷ luật, những người sẵn sàng hy sinh. Nhưng tất cả những điều đó vẫn chưa đủ để chứng minh một chính đảng đã có năng lực chính trị tương xứng với mục tiêu của mình.

Một tổ chức có thể rất kỷ luật nhưng đánh giá sai thời cơ. Có thể rất dũng cảm nhưng thiếu nguồn lực, phát triển nhanh nhưng kiểm soát mạng lưới không đồng đều, có một chương trình chính trị nhưng chưa đủ khả năng biến chương trình ấy thành chính sách thực tế, và có những con người xuất sắc nhưng thiếu cơ chế kiểm tra quyết định.

Đây không phải là sự phủ nhận VNQDĐ.Ngược lại, chỉ khi nhìn thẳng vào giới hạn, ta mới hiểu đúng quy mô của nỗ lực mà họ đã thực hiện và chỉ khi nhìn thấy cả sức mạnh lẫn giới hạn, bài học lịch sử mới có giá trị cho hiện tại.

12. Hưng Quốc đối thoại: tổ chức là bước chuyển từ Dân Chí sang Dân Lực

Từ góc nhìn Hưng Quốc Học, đây là thời điểm một khái niệm cần được phân biệt rõ:

Dân Chí không phải Dân Lực. Dân Chí là ý chí của con người và cộng đồng về điều mình muốn trở thành. Dân Lực là khả năng biến ý chí ấy thành hành động có tổ chức. Nam Đồng đã góp phần tạo ra môi trường tư tưởng. Nguyễn Thái Học và những người cùng chí hướng đưa tư tưởng ấy vào lựa chọn chính trị. VNQDĐ tìm cách biến lựa chọn ấy thành tổ chức.

Đó là một chuỗi phát triển Dân Trí → Dân Chí → Dân Khí → Dân Lực. Nhưng mũi tên này không tự động có tri thức chưa chắc có ý chí.Có ý chí chưa chắc có can đảm. Có can đảm chưa chắc có tổ chức. Có tổ chức chưa chắc có năng lực, và có năng lực chưa chắc tạo ra được một thể chế tốt.

Chính vì vậy, Hưng Quốc Học không dừng ở câu Dân phải có ý chí , mà hỏi tiếp Ý chí ấy được tổ chức như thế nào? Tổ chức ấy chịu trách nhiệm trước ai? Ai kiểm soát quyền lực của tổ chức,nếu tổ chức giành được quyền lực, quyền lực ấy sẽ được trả lại cho nhân dân bằng cơ chế nào? Đây chính là nơi khái niệm Dân Lực bắt đầu gặp khái niệm Quốc Thể.

13. Một bài học lớn: tổ chức không chỉ để thắng, mà còn để tự giới hạn

Một chính đảng thường nghĩ trước hết về cách giành thắng lợi. Nhưng một chính đảng muốn xây dựng quốc gia còn phải nghĩ đến một câu hỏi khó hơn, sau khi thắng, ai sẽ giới hạn quyền lực của chính mình? Đây là câu hỏi mà lịch sử nhiều cuộc cách mạng đã đặt ra. Một tổ chức có thể được xây dựng để chống lại một quyền lực áp bức.

Nhưng nếu sau đó chính tổ chức ấy trở thành trung tâm quyền lực không bị kiểm soát, vấn đề cũ có thể xuất hiện dưới một hình thức khác.

Bởi vậy, đối với Hưng Quốc Học:

một tổ chức chính trị trưởng thành không chỉ cần khả năng giành quyền lực; nó cần khả năng tự giới hạn quyền lực. Đây là điểm mà chương trình “kiến thiết” của VNQDĐ sẽ cần được nghiên cứu kỹ hơn ở những chương sau.

Không nên đọc nó bằng sự ca ngợi, cũng không nên đọc nó bằng sự phủ nhận, phải đọc từng văn bản. Phải hỏi: Họ nói gì và dự định làm gì? Cơ chế nào bảo đảm điều đó và trong thực tế lịch sử, điều gì đã xảy ra?

14. Người trước mở đường, nhưng con đường chưa hoàn tất

VNQDĐ ra đời là một bước chuyển quan trọng trong lịch sử chính trị Việt Nam hiện đại. Từ những người trí thức trẻ, những cuộc gặp gỡ và những nhóm hoạt động, một chính đảng đã hình thành.

Nhưng sự ra đời của một chính đảng không phải là kết thúc của quá trình trưởng thành chính trị. Nó chỉ mở ra một cấp độ khó hơn. Một khi đã có tổ chức, phải giải quyết vấn đề tổ chức, một khi có tổ chức, phải giải quyết vấn đề chiến lược, một khi có chiến lược, phải giải quyết vấn đề thời cơ,một khi muốn giành chính quyền, phải giải quyết vấn đề lực lượng, và nếu giành được chính quyền, phải giải quyết vấn đề kiến quốc.

Chính vì vậy, câu hỏi của chương tiếp theo không thể chỉ là VNQDĐ chịu ảnh hưởng của ai? Chúng ta  phải hỏi sâu hơn họ đã đọc những học thuyết chính trị nào, và họ đã biến những học thuyết ấy thành một tư tưởng Việt Nam như thế nào?

Ở đây, cái tên không thể bỏ qua là Tôn Dật Tiên. Nhưng chúng ta cũng không thể bắt đầu bằng kết luận rằng VNQDĐ “sao chép” Quốc dân Đảng Trung Quốc, phải trở lại với những văn bản mà thanh niên Việt Nam khi ấy thực sự đọc.

Phải đọc Tôn Dật Tiên trước, sau đó đọc Nam Đồng, rồi đọc VNQDĐ, và cuối cùng mới hỏi một học thuyết đi qua biên giới đã thay đổi như thế nào khi đi vào một dân tộc khác?

15. Quy luật vận hành

Từ sự hình thành của VNQDĐ, có thể rút ra một quy luật đầu tiên của Hưng Quốc Học:

Ý chí chưa phải sức mạnh. Ý chí được tổ chức mới bắt đầu trở thành sức mạnh. Nhưng quy luật ấy còn một vế thứ hai tổ chức chưa phải quốc lực. Tổ chức chỉ trở thành một bộ phận của quốc lực khi nó tạo ra năng lực lâu dài cho xã hội và chịu sự giới hạn của một thể chế đúng đắn. Đó là khoảng cách giữa cứu quốc và hưng quốc.

Cứu quốc đòi hỏi một dân tộc biết đứng lên. Hưng quốc đòi hỏi một dân tộc biết tổ chức mình. Cứu quốc cần ý chí.

Hưng quốc cần ý chí, tri thức, năng lực, thể chế và thời gian. VNQDĐ đã đặt một viên gạch quan trọng trên con đường ấy. Nhưng viên gạch đầu tiên không phải là toàn bộ con đường. Người trước mở đường. Người sau phải hiểu con đường, và người sau nữa phải biết xây tiếp con đường ấy.

Hoàng Phong Nhã 


0 comments:

Đăng nhận xét