Danh ngôn Nhân cách
Phẩm cách có thể biểu hiện ra trong thời khắc quan trọng, nhưng nó lại hình thành trong thời khắc không quan trọng. Bacon (Anh).
Danh ngôn Sự nghiệp
Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì ý nghĩa, ấy là một đức hạnh thật sự. Senancourt
Danh ngôn Đối nhân xử thế
Khi bạn không thể thực hiện những gì ao ước, bạn nên ao ước những gì có thể làm. Terence
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyên Ngôn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyên Ngôn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013
Năm loại suy nghĩ chính
Chúng ta có năm loại suy nghĩ chính sau đây:
Suy nghĩ tích cực: Dạng suy nghĩ này
mang lại ích lợi cho chính bản thân ta và cho những người khác. Đó là
suy nghĩ với thái độ lạc quan, chấp nhận và khoan dung... Ví dụ khi nhìn
một nửa ly nước, bạn sẽ thấy "nửa ly có nước" thay vì "nửa ly không có
nước", nghĩa là bạn nên tập trung vào cái bạn có và hài lòng với nó hơn
là cảm thấy thất vọng về những gì bạn không có. Hình ảnh nửa ly nước
chính là hình ảnh tượng trưng cho nhiều điều trong cuộc sống của chúng
ta. Chẳng hạn như, khi ta nhìn vào người khác, thay vì tập trung vào
điểm yếu của họ, như nhiều người trong chúng ta thường làm, thì những
suy nghĩ tích cực sẽ hướng chúng ta nhìn vào những điểm mạnh và những
phẩm chất tốt đẹp của họ. Có một câu nói rất hay là “Ăn gì bổ nấy”,
nghĩa là chúng ta sẽ trở thành điều mà chúng ta giữ lấy trong nhận thức.
Giữ lấy những phẩm chất tốt đẹp của người khác trong nhận thức của
mình, cũng như cho tâm trí ta “ăn” những suy nghĩ tích cực, sẽ giúp
những điều tốt đẹp ấy phát triển trong ta. Tương tự như vậy, khi cứ mang
những điểm yếu, nhược điểm của người khác vào nhận thức của mình, chúng
sẽ làm mạnh thêm cho những nhược điểm yếu kém có trong chúng ta. Vì
thế, suy nghĩ tích cực sẽ giúp bạn hạnh phúc hơn rất nhiều trong cuộc
sống.
Suy nghĩ tiêu cực: Là dạng suy nghĩ có
hại cho chính mình và cho những người khác. Đó là những suy nghĩ mang
thái độ giận dữ, hẹp hòi, dằn vặt bản thân hoặc chỉ trích người khác,
phân biệt đối xử...
Suy nghĩ vô ích: Suy nghĩ về quá khứ
hay những điều vượt ngoài tầm kiểm soát của bản thân như: "Tại sao lại
thế?", "Giá như"... bao gồm cả sự nghi ngờ, hối tiếc, ảo tưởng, lo lắng
về những việc nhỏ nhặt...
Suy nghĩ cần thiết: Suy nghĩ để lập kế hoạch cho ngày làm việc của mình: "Tôi cần gặp người ấy vào giờ này", "Tôi phải đi đến nơi đó"...
Suy nghĩ hướng thượng: Là những suy
nghĩ dựa trên nền tảng các giá trị, các phẩm chất của cá nhân hay của
nhân loại như sự bình an, lòng nhân ái, sự hợp tác v.v. Đó là những suy
nghĩ có liên quan đến việc nhận thức ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống, hay
những sự việc diễn ra xung quanh ta. Suy nghĩ hướng thượng không chỉ
liên quan đến những vấn đề hiện thực trước mắt mà còn liên quan đến kết
quả của các hành động. Suy nghĩ hướng thượng giúp chúng ta có một tầm
nhìn xa, không mang tính vị kỷ mà hướng đến lợi ích của tất cả mọi
người. Chúng ta có thể tập trung một cách có ý thức các suy nghĩ này và
làm cho chúng trỗi dậy trong tâm trí mình. Các suy nghĩ hướng thượng
được tích lũy dần dần qua việc tìm hiểu về đời sống tinh thần, suy nghĩ
về ý nghĩa của sự vật và quan sát các hành vi của chúng ta. Suy nghĩ
hướng thượng mang lại cho chúng ta một cảm giác tốt đẹp và một cuộc sống
tràn đầy năng lượng.
Với thái độ tích cực, chúng ta sẽ tạo ra một nguồn năng
lượng dồi dào cho bản thân. Ngược lại, sự tiêu cực sẽ làm cạn kiệt năng
lượng và nội lực bên trong, để lại trong ta cảm giác hoàn toàn trống
rỗng. Và kết quả của sự trống rỗng đó là đau khổ và lo âu. Nếu ta không
biết cách suy nghĩ tích cực thì có thể dẫn đến hiện tượng trầm cảm và
trên thế giới ngày nay, bệnh trầm cảm đang có xu hướng gia tăng ở cả lớp
trẻ lẫn người già.
Khi ai đó đang suy nghĩ tiêu cực, họ thường gây nên sự
sợ hãi trong chính họ và cho những người xung quanh. Chúng ta cần tự đặt
câu hỏi: "Mình thật sự muốn có loại cảm giác nào?". Phần lớn sẽ trả lời
rằng ta muốn bình yên. Khi ta nghĩ những ý tốt lành, lời lẽ của ta sẽ
tốt và việc làm của ta sẽ tốt - thực tế là mọi việc đều sẽ tốt.
Nguồn: Tư duy tích cực - First News và NXB Văn Hóa Sài Gòn
Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013
Tuyên ngôn Thoái vị của Bảo Đại
Bản Tuyên ngôn thoái vị của Bảo Đại công bố ngày 25 tháng 8 năm 1945 chính thức chấm dứt Nhà Nguyễn và chế độ quân chủ ở Việt Nam. Bản Tuyên ngôn được vua Bảo Đại soạn với sự trợ giúp của hoàng thân Vĩnh Cẩn trong đêm 22 tháng 8, 1945 tại điện Kiến Trung, hoàng thành Huế. Sáng hôm sau, khi đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện để tiếp thu bàn giao, lúc đầu Bảo Đại đưa bản Tuyên ngôn cho Trần Huy Liệu. Nhưng ông này hội ý với người đồng hành và tâu với Bảo Đại rằng:
" Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết."
Theo lời yêu cầu của Trần Huy Liệu, chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Đại mặc trào phục và đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp vội vã trước cửa Ngọ Môn, như sau:[1]
"Tôi quan sát các khán giả hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.
Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu."[2]
" Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết."
Theo lời yêu cầu của Trần Huy Liệu, chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Đại mặc trào phục và đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp vội vã trước cửa Ngọ Môn, như sau:[1]
- Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
- Vì nền độc lập của Việt Nam,
- Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.
- Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân ta là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.
- Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.
- Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.
- Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.
- Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:
- --Thứ nhứt: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia .
- --Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.
- --Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.
- Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.
- Việt Nam độc lập muôn năm,
- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm,
- Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945.
"Tôi quan sát các khán giả hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.
Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu."[2]
Chú thích
Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân đồng bào nội các 17-4-1945
Lịch sử được viết bởi những kẻ chiến
thắng. Lịch sử VN đã được viết bởi đảng Cộng Sản VN nên lịch sử ấy không
đáng tin. Chúng ta ghi nhớ các điểm chính dưới đây.
Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Nhật đã khuyến khích 3 nước Đông Dương hãy tuyên bố độc lập ngay.
Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các. ( 1, 2,3 , 4)
(Vua Norodom của Kampuchea cũng tuyên bố độc lập vào ngày 13-3-1945, vua Sisavang Vong của Lào cũng tuyên bố độc lập vào ngày 8-4-1945 ) (3)
Ngày 17-4-1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim, là vị thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất, đã ra mắt quốc dân đồng bào nội các gồm có 10 bộ trưởng là các nhân vật có uy tín và tên tuổi thời bấy giờ. (4, trang 11)
Trong thời gian này, nạn đói năm Ất Dậu diễn ra, chính phủ của Thủ tướng Trần Trọng Kim ra tay cứu trợ, chở gạo từ Miền Nam ra miền Trung và miền Bắc bằng đường xe lửa. Nhưng đảng CS Đông Dương do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo và các đồng chí của ông muốn lợi dụng tình hình lộn xộn để chiếm chính quyền nên đã ngăn không cho xe lửa chạy ra Bắc. Kết quả số người Việt Nam ngoài miền Bắc đã bị chết đói rất nhiều. Dân chết đói là các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Thái Bình và các vùng lân cận Hà Nội và vùng cao nguyên Bắc Phần.
Lợi dụng cuộc Mít-tinh ngày 17-8-1945 của Tổng Đoàn Công Chức Hà Nội chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim, một nhóm người mang theo đỏ, cờ búa liềm với thái độ hùng hổ nhảy lên khán đài giành lấy quyền tổ chức,…Thế là cuộc mít-ting của những công chức hiền lành bổng chốc trở thành cuộc biểu dương của Mặt Trận Việt Minh: “Quả lừa lịch sử bắt đầu chính là từ đây ! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây.”
17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh:“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây! (8) Chú ý lá cờ vàng, 3 sọc đỏ (gọi là cờ quẻ ly vì có sọc ở giữa không liền nét)

(http://thien2012.multiply.com/journal/item/11?&show_interstitial=1&u=%2Fjournal%2Fitem)
Sách sử và báo chí của đảng gọi biến cố đó là “cướp chính quyền” của chính phủ Trần Trọng Kim, còn các văn-nô, thơ-nô gọi đó là Cách mạng mùa Thu!
Nhóm từ “cướp chính quyền” nói về biến cố này là rất chính xác. Xưa nay, để lật đổ một chính quyền tàn ác, độc tài, bất lương thì người dân đứng lên làm cuộc cách mạng lật đổ chính quyền ấy, chứ chính phủ của thủ tướng Trần Trọng Kim ra đời tháng 4-1945 mà từ người đứng đầu cho đến các bộ trưởng là các nhân vật uy tín, tài trí, và là các trí thức cở lớn của VN lúc bấy giờ, thì việc lật đổ chỉ có gọi bằng từ cướp chính quyền.
Tuy tồn tại với thời gian rất ngắn, nhưng nhiều người VN cho rằng chính phủ Trần Trong Kim cũng đã có đủ thời gian để làm nhiều việc hành chánh rất quan trọng mà kết quả là miền Nam Việt Nam được thừa hưởng những thành quả này từ 1945-1975. (4, trang 12)
Họ là chính phủ lương thiện nhất và không từng làm một hành động nào tàn ác, hay tham nhũng; thậm chí chính họ đã thành công trong việc yêu cầu Pháp và Nhật phóng thích tất cả các tù nhân chính trị ngoài côn đảo và các nhà tù trong đất liền; nhờ chính phủ Trần Trọng Kim, mà Lê Duẫn, Phạm Hùng, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Văn Linh được trả tự do rời khỏi Côn Đảo; Đỗ Mười được rời khỏi nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Và về sau nhóm này đã trở thành các con quỷ dữ, đã gây ra cuộc chiến tranh VN 1954-1975, chiến tranh Kampuchea làm chết hơn 5 triệu người VN.
Do đó hành động cướp chính quyền của ông HCM và các đảng viên CS Đông Dương không thể gọi là cách mạng, nên chữ chính xác nhất là “cướp chính quyền”.
(Mấy năm nay, sách sử và báo chí đồng loạt bỏ, không dùng nhóm từ “cướp chính quyền” nữa, với mục đích lừa đảo không muốn cho thế hệ hiện nay biết các việc làm gian manh của đảng CSVN hồi 1945-1954.
Từ khi ra đời 1930 cho đến năm 1954, đảng CS Đông Dương bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Đảng không hề có một văn phòng liên lạc nào của đảng mang tính công khai trên cả 3 miền Bắc Trung Nam, đảng CSĐD không được ai biết tới, chưa từng làm việc gì có ích, và chưa có công lao gì trong cuộc giành độc lập và chống Pháp, nên đảng CSĐD bị giới nhân sĩ, trí thức, sinh viên, học sinh và công chức thời ấy vừa coi khinh vừa sợ hải.
(cập nhật 28-8-2013-
Bùi Tín – Đảng Cộng sản Việt Nam thiếu chính danh
Hoàng Xuân Phú- http://hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu/index.php?page=differentwritings)
Thực tế ấy biểu hiện qua việc ông HCM và đảng cộng sản Đông Dương phải ẩn náu, trốn tránh, lươn lẹo đổi tên soành soạch trong thời kỳ 1945-1951 chỉ cốt nhằm đánh lừa người Việt Nam non trẻ, nhẹ dạ tham gia với họ.
Khi nhìn thấy việc tự biên tự diễn cướp chính quyền tháng 8-1945 coi bộ không được mấy ai ủng hộ, rồi việc tổ chức ở Hà Nội để tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 cũng không có ai tin gì mấy, chuyện diễn trò lừa gạt mời các nhân vật tiếng tăm của các đảng phái quốc gia đứng tên vào nội các của nước VNDCCH cũng không đánh lừa được mấy ai tin… Chính phủ Cách mạng Lâm thời của cộng sản ra đời tháng 2-9-1945 không được người VN và các đảng phải quốc gia coi ra gì, nên HCM kêu gọi thành lập Chính phủ Liên Hiệp ra đời 1-1946. Lợi dụng các đảng phái quốc gia sơ hở, không đề phòng, lực lượng Việt Minh dưới sự chỉ huy của ông Võ Nguyên Giáp và ông Huỳnh Thúc Kháng đã tấn công cơ sở Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội, xử tử nhiều đảng viên hai đảng này, và bắt nhiều người khác. Chính phủ Liên Hiệp tan rã, Vũ Hồng Khanh, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chạy trốn qua Hồng Kông.
Đảng CS Đông Dương với chủ trương chính là tiêu diệt các đảng phái quốc gia, nhưng xem ra không dễ vì giai đoạn 1945-1954 có 10 chính đảng quốc gia và các hội đoàn hoạt động rất mạnh mẻ, đảng CS ĐD không thể tiêu diệt được, nên lại tìm các tiếp cận với các đảng viên của các đảng phái khác để dụ dỗ, tuyên truyền, ai không nghe thì giết trừ hậu họa.
Ông HCM khi ấy đang ở trong độ tuổi khôn ngoan và chín mùi, và có nhiều mưu mô: phải làm một cái gì để tạo công lao, để gây tiếng vang, và dùng chiến thuật tiếp cận để ám sát và tiêu diệt các đảng phái quốc gia. ông HCM đã mời Pháp trở lại Đông Dương qua Hiệp Định Sơ Bộ 1946. Khi Pháp trở lại Đông Dương, HCM hô hào, kêu gọi toàn thể người VN đứng lên chống Pháp! Các đảng phái quốc gia lại mắc bẩy và hòa hợp hòa giải hợp tác với đảng CS Đ D để chống Pháp.
Ban ngày đảng viên cộng sản giả vờ chống Pháp, nhưng đêm đến thì tìm cách mua chuộc, ám sát những ai thuộc các đảng phái quốc gia. Mặt khác, đảng viên CSĐD lại còn mật báo cho Pháp bắt các đảng viên của các đảng phái quốc gia để làm suy yếu lực lượng phe quốc gia.
Nhưng xem ra đảng CS không dễ chiếm lấy lòng dân và không thế chiếm nước Việt Nam vào tay họ vì các đảng phái quốc gia quá mạnh, nên ông HCM đã cõng rắn cắn gà nhà bằng cách qua Trung Quốc tháng 2-1950 để xin Mao Trạch Đông đem quân qua giúp, xin vũ khí đạn dược, và tiền bạc để hoạt động, sai Nguyễn Lương Bằng và Chu Huy Mân trồng và sản suất cây thuốc phiện và cần sa (ở vùng biên giới Tây Bắc), thu hoạch bán lấy tiền hoạt động; đồng thời với mục đích đánh lừa, các hành động tàn ác như ám sát, giết người…của đảng CSĐD làm mọi người ghê tởm, đảng CS Đông Dương đổi tên thành đảng Lao Động VN 1951 để kêu gọi giới học sinh sinh viên tham gia chống Pháp.
Tóm lại, lịch sử VN đã được viết lại bởi đảng CSVN, đó là lịch sử không đáng tin. Chúng ta ghi nhớ các điểm chính dưới đây:
Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các vào ngày 17-4-1945.
Ngày 19-4-1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim đã ra mắt quốc dân đồng bào nội các gồm có 11 nhân vật có uy tín và tên tuổi thời bấy giờ.
Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Nhật đã khuyến khích 3 nước Đông Dương hãy tuyên bố độc lập ngay.
Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các. ( 1, 2,3 , 4)
(Vua Norodom của Kampuchea cũng tuyên bố độc lập vào ngày 13-3-1945, vua Sisavang Vong của Lào cũng tuyên bố độc lập vào ngày 8-4-1945 ) (3)
Ngày 17-4-1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim, là vị thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất, đã ra mắt quốc dân đồng bào nội các gồm có 10 bộ trưởng là các nhân vật có uy tín và tên tuổi thời bấy giờ. (4, trang 11)
Trong thời gian này, nạn đói năm Ất Dậu diễn ra, chính phủ của Thủ tướng Trần Trọng Kim ra tay cứu trợ, chở gạo từ Miền Nam ra miền Trung và miền Bắc bằng đường xe lửa. Nhưng đảng CS Đông Dương do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo và các đồng chí của ông muốn lợi dụng tình hình lộn xộn để chiếm chính quyền nên đã ngăn không cho xe lửa chạy ra Bắc. Kết quả số người Việt Nam ngoài miền Bắc đã bị chết đói rất nhiều. Dân chết đói là các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Thái Bình và các vùng lân cận Hà Nội và vùng cao nguyên Bắc Phần.
Lợi dụng cuộc Mít-tinh ngày 17-8-1945 của Tổng Đoàn Công Chức Hà Nội chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim, một nhóm người mang theo đỏ, cờ búa liềm với thái độ hùng hổ nhảy lên khán đài giành lấy quyền tổ chức,…Thế là cuộc mít-ting của những công chức hiền lành bổng chốc trở thành cuộc biểu dương của Mặt Trận Việt Minh: “Quả lừa lịch sử bắt đầu chính là từ đây ! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây.”
17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim
17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh:“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây! (8) Chú ý lá cờ vàng, 3 sọc đỏ (gọi là cờ quẻ ly vì có sọc ở giữa không liền nét)
(http://thien2012.multiply.com/journal/item/11?&show_interstitial=1&u=%2Fjournal%2Fitem)
Sách sử và báo chí của đảng gọi biến cố đó là “cướp chính quyền” của chính phủ Trần Trọng Kim, còn các văn-nô, thơ-nô gọi đó là Cách mạng mùa Thu!
Nhóm từ “cướp chính quyền” nói về biến cố này là rất chính xác. Xưa nay, để lật đổ một chính quyền tàn ác, độc tài, bất lương thì người dân đứng lên làm cuộc cách mạng lật đổ chính quyền ấy, chứ chính phủ của thủ tướng Trần Trọng Kim ra đời tháng 4-1945 mà từ người đứng đầu cho đến các bộ trưởng là các nhân vật uy tín, tài trí, và là các trí thức cở lớn của VN lúc bấy giờ, thì việc lật đổ chỉ có gọi bằng từ cướp chính quyền.
Tuy tồn tại với thời gian rất ngắn, nhưng nhiều người VN cho rằng chính phủ Trần Trong Kim cũng đã có đủ thời gian để làm nhiều việc hành chánh rất quan trọng mà kết quả là miền Nam Việt Nam được thừa hưởng những thành quả này từ 1945-1975. (4, trang 12)
Họ là chính phủ lương thiện nhất và không từng làm một hành động nào tàn ác, hay tham nhũng; thậm chí chính họ đã thành công trong việc yêu cầu Pháp và Nhật phóng thích tất cả các tù nhân chính trị ngoài côn đảo và các nhà tù trong đất liền; nhờ chính phủ Trần Trọng Kim, mà Lê Duẫn, Phạm Hùng, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Văn Linh được trả tự do rời khỏi Côn Đảo; Đỗ Mười được rời khỏi nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Và về sau nhóm này đã trở thành các con quỷ dữ, đã gây ra cuộc chiến tranh VN 1954-1975, chiến tranh Kampuchea làm chết hơn 5 triệu người VN.
Do đó hành động cướp chính quyền của ông HCM và các đảng viên CS Đông Dương không thể gọi là cách mạng, nên chữ chính xác nhất là “cướp chính quyền”.
(Mấy năm nay, sách sử và báo chí đồng loạt bỏ, không dùng nhóm từ “cướp chính quyền” nữa, với mục đích lừa đảo không muốn cho thế hệ hiện nay biết các việc làm gian manh của đảng CSVN hồi 1945-1954.
Từ khi ra đời 1930 cho đến năm 1954, đảng CS Đông Dương bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Đảng không hề có một văn phòng liên lạc nào của đảng mang tính công khai trên cả 3 miền Bắc Trung Nam, đảng CSĐD không được ai biết tới, chưa từng làm việc gì có ích, và chưa có công lao gì trong cuộc giành độc lập và chống Pháp, nên đảng CSĐD bị giới nhân sĩ, trí thức, sinh viên, học sinh và công chức thời ấy vừa coi khinh vừa sợ hải.
(cập nhật 28-8-2013-
Bùi Tín – Đảng Cộng sản Việt Nam thiếu chính danh
Hoàng Xuân Phú- http://hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu/index.php?page=differentwritings)
Thực tế ấy biểu hiện qua việc ông HCM và đảng cộng sản Đông Dương phải ẩn náu, trốn tránh, lươn lẹo đổi tên soành soạch trong thời kỳ 1945-1951 chỉ cốt nhằm đánh lừa người Việt Nam non trẻ, nhẹ dạ tham gia với họ.
Khi nhìn thấy việc tự biên tự diễn cướp chính quyền tháng 8-1945 coi bộ không được mấy ai ủng hộ, rồi việc tổ chức ở Hà Nội để tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 cũng không có ai tin gì mấy, chuyện diễn trò lừa gạt mời các nhân vật tiếng tăm của các đảng phái quốc gia đứng tên vào nội các của nước VNDCCH cũng không đánh lừa được mấy ai tin… Chính phủ Cách mạng Lâm thời của cộng sản ra đời tháng 2-9-1945 không được người VN và các đảng phải quốc gia coi ra gì, nên HCM kêu gọi thành lập Chính phủ Liên Hiệp ra đời 1-1946. Lợi dụng các đảng phái quốc gia sơ hở, không đề phòng, lực lượng Việt Minh dưới sự chỉ huy của ông Võ Nguyên Giáp và ông Huỳnh Thúc Kháng đã tấn công cơ sở Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội, xử tử nhiều đảng viên hai đảng này, và bắt nhiều người khác. Chính phủ Liên Hiệp tan rã, Vũ Hồng Khanh, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chạy trốn qua Hồng Kông.
Đảng CS Đông Dương với chủ trương chính là tiêu diệt các đảng phái quốc gia, nhưng xem ra không dễ vì giai đoạn 1945-1954 có 10 chính đảng quốc gia và các hội đoàn hoạt động rất mạnh mẻ, đảng CS ĐD không thể tiêu diệt được, nên lại tìm các tiếp cận với các đảng viên của các đảng phái khác để dụ dỗ, tuyên truyền, ai không nghe thì giết trừ hậu họa.
Ông HCM khi ấy đang ở trong độ tuổi khôn ngoan và chín mùi, và có nhiều mưu mô: phải làm một cái gì để tạo công lao, để gây tiếng vang, và dùng chiến thuật tiếp cận để ám sát và tiêu diệt các đảng phái quốc gia. ông HCM đã mời Pháp trở lại Đông Dương qua Hiệp Định Sơ Bộ 1946. Khi Pháp trở lại Đông Dương, HCM hô hào, kêu gọi toàn thể người VN đứng lên chống Pháp! Các đảng phái quốc gia lại mắc bẩy và hòa hợp hòa giải hợp tác với đảng CS Đ D để chống Pháp.
Ban ngày đảng viên cộng sản giả vờ chống Pháp, nhưng đêm đến thì tìm cách mua chuộc, ám sát những ai thuộc các đảng phái quốc gia. Mặt khác, đảng viên CSĐD lại còn mật báo cho Pháp bắt các đảng viên của các đảng phái quốc gia để làm suy yếu lực lượng phe quốc gia.
Nhưng xem ra đảng CS không dễ chiếm lấy lòng dân và không thế chiếm nước Việt Nam vào tay họ vì các đảng phái quốc gia quá mạnh, nên ông HCM đã cõng rắn cắn gà nhà bằng cách qua Trung Quốc tháng 2-1950 để xin Mao Trạch Đông đem quân qua giúp, xin vũ khí đạn dược, và tiền bạc để hoạt động, sai Nguyễn Lương Bằng và Chu Huy Mân trồng và sản suất cây thuốc phiện và cần sa (ở vùng biên giới Tây Bắc), thu hoạch bán lấy tiền hoạt động; đồng thời với mục đích đánh lừa, các hành động tàn ác như ám sát, giết người…của đảng CSĐD làm mọi người ghê tởm, đảng CS Đông Dương đổi tên thành đảng Lao Động VN 1951 để kêu gọi giới học sinh sinh viên tham gia chống Pháp.
Tóm lại, lịch sử VN đã được viết lại bởi đảng CSVN, đó là lịch sử không đáng tin. Chúng ta ghi nhớ các điểm chính dưới đây:
Ngay sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 8-3-1945, Vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11-3-1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các vào ngày 17-4-1945.
Ngày 19-4-1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim đã ra mắt quốc dân đồng bào nội các gồm có 11 nhân vật có uy tín và tên tuổi thời bấy giờ.
Nhìn Lại, Từ Bảo Đại đến Hồ Chí Minh: Hai Bản Tuyên Ngôn Độc Lập
Trong
lich sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai
mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức
tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi
Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 bởi Chủ tịch
Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh. Hai
lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một
lần. Họ chỉ biết hay chỉ được học bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2
tháng 9 mà không biết hay không được học bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày
11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
Bài này nhằm bổ khuyết cho tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích
nội dung và ý nghĩa của từng bản.
Hoàn cảnh được công bố
Bản tuyên ngôn độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại được công bố ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào phần đất này của Đông Nam Á, gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị của cả người Pháp, từ sau khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả khủng khiếp là Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu. Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách mạng vô sản mà luôn cả những người không những không có cảm tình với chế độ quân chủ đương thời mà còn chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế bằng một chế độ dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của bản tuyên ngôn này. Lý do là vì Bảo Đại luôn luôn bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay người Nhật. Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo Đại tuyên bố theo họ chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của người Việt. Thực chất của nó chỉ là “sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo Đại”(1) không hơn không kém. Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có lý do làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Đại có lý do phải chấp nhận yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Lý do của Bảo Đại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và cố gắng thuyết phục ông này chấp nhận làm thủ tướng đầu tiên của chính phủ Nam Triều độc lập. Nguyên văn câu nói của Bảo Đại được Trần Trọng Kim kể lại như sau:
Bản tuyên ngôn độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại được công bố ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào phần đất này của Đông Nam Á, gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị của cả người Pháp, từ sau khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả khủng khiếp là Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu. Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách mạng vô sản mà luôn cả những người không những không có cảm tình với chế độ quân chủ đương thời mà còn chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế bằng một chế độ dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của bản tuyên ngôn này. Lý do là vì Bảo Đại luôn luôn bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay người Nhật. Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo Đại tuyên bố theo họ chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của người Việt. Thực chất của nó chỉ là “sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo Đại”(1) không hơn không kém. Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có lý do làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Đại có lý do phải chấp nhận yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Lý do của Bảo Đại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và cố gắng thuyết phục ông này chấp nhận làm thủ tướng đầu tiên của chính phủ Nam Triều độc lập. Nguyên văn câu nói của Bảo Đại được Trần Trọng Kim kể lại như sau:
“-Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải dứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc.” (2)
Người ta cần phải nhớ là hơn mười
năm trước đó, sau khi du học từ Pháp về tới Huế được hai ngày, ngày
tháng 10 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp chính và
khẳng định chế độ quân chủ của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm
1925 do Hội Đồng Phụ Chính, đứng đầu là Tôn Thất Hân, ký với Toàn Quyền
Đông Dương thời ông còn nhỏ tuổi và đang du học bên Pháp, tước bỏ hầu
hết các quyền hành còn lại của nhà vua trừ các quyền có tính cách nghi
lễ, ân xá, sắc phong, tế lễ…kèm theo nhiều dụ khác nhằm thực hiện những
cải cách qui mô trong nền hành chánh của chính phủ Nam Triều, nhưng đã
bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại. Đảo chính 9 tháng 3 năm 1945 và
lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là
điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi. Ngoài ra theo nhận định
và giải thích nhằm thúc đẩy Trần Trong Kim chịu khó lập chính phủ mới.
Ông nói:
-“Trước
kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn,
nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính
phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ
nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một
chính phủ để lo việc nước.”(3) Hai tiếng “cơ hội” Bảo Đại dùng ở đây cho ta thấy ông từ lâu mong có dịp này. Đồng thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông tuyên cáo chưa phải độc lập hẳn.” Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn có nhu cầu phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập và nhất là để tránh không cho người Nhật “lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta.””(3) Một sự e ngại chỉ có những người có kiến thức về lịch sử và chính trị học mói biết được. Ngoài ra những tiếng “rất có hại cho nước ta” cũng cho người ta thấy đối tương của hành động tuyên cáo độc lập của ông không phải là ngôi vua mà là đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đất nước của ông và thần dân của ông. Cái nhìn và quan điểm này cũng như sự hiểu biết của ông về tình hình thế giới và thế tất bại của người Nhật về sau đã được ông nói rõ trong hồi ký của ông. Riêng đối với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ cũng như chiêu bài Đại Đông Á của họ. Nói cách khác Bảo Đại ở vị thế phải chấp nhận nhập cuộc dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác như ông cũng nói tới trong hồi ký của ông: Độc lập là ước mơ của tất cả mọi người Việt Nam thời đó.
Nội dung bản Tuyên ngôn
Đây
là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba
mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước
Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập,đứng vào khối Đại Đông Á trong chương
trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành
của nước Nhật với nguyên văn như sau:
“
Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ
Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và
nước Nam khôi phục quyền độc lập.“ Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung.
“Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.(4)
Bản
Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm
Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị
thương thư gồm có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ
Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định,
bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện
được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều
đình.
Đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập này của Bảo Đại, người ta cần chú ý tới những chi tiết sau đây:
Thứ
nhất: Gọi là tuyên ngôn nhưng thực sự đây chỉ là một văn kiện hủy bỏ
một điều ước đã được ký kết trước đó vì do tình hình biến chuyển một
trong hai phía đã không tôn trọng những gì mình đã ký kết hay không thực
thi được những gì mình đã ký kết trong một sinh hoạt quốc tế. Điều ước
bị hủy bỏ ở đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Đình Huế và
người Pháp ngày 6 tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản của hòa ước
này là điều khoản thứ nhất, theo đó Việt Nam công nhận và chấp nhận
Quyền Bảo Hộ của nước Pháp và điều khoản thứ mười lăm, theo đó nước Pháp
cam kết bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của các xứ do vua Việt Nam cai
trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự xâm nhập từ bên ngoài và những
cuộc nổi loạn từ bên trong..(5). Sự hủy bỏ này phải được hiểu là do
người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam trước sự bành trướng của
quân đội Nhật và cuối cùng là chính người Pháp đã bị người Nhật lật đổ
trong cuộc Đảo Chính ngày 9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này cũng có tính
cách đơn phương từ phía Bảo Đại với tư cách là người kế vị chính thống
của Triều Đình Nhà Nguyễn căn cứ vào những gì đã xảy ra vào thời điểm
này. Điểm cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa ước trong văn kiện này
được dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ “các” hay “những”
đi kèm và trong tiếng Pháp không có chữ “s” theo sau. Điều này có nghĩa
là bản tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo hộ tức Hòa Ước Giáp Thân 1884
mà thôi thay vì hủy bỏ tất cả các hòa ước đã được ký kết trước đó. Đó là
các Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam
Kỳ theo đó xứ này đã bị nhường dứt cho người Pháp là và trở thành thuộc
địa của họ, không còn thuộc quyền cai trị của Vua và Triều Đình Huế
nữa. Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ do đó chưa được giải quyết ngay nhưng đã
trở thành mối bận tâm và một phần hành quan trọng của chính Bảo Đại ngay
từ buổi nhà vua tiếp kiến Đại Sứ Nhật Yokoyama và của Chính Phủ Trần
Trọng Kim trong gần suốt thời gian chính phủ này tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ
được người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính phủ này và chỉ
chính thức trở về với lãnh thổ quốc gia Việt Nam ngót năm năm sau, vào
giữa tháng 6 năm 1949, và do Bảo Đại với tư cách Quốc Trưởng tiếp nhận
từ tay người Pháp. Đây cũng là một sự kiện ít người biết đến.
Thứ hai: ”Nước Việt Nam sẽ
gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập….giúp cho cuộc
thịnh vượng chung.” Câu này xác định phương thức hoạt động nhằm thực
hiện tư cách độc lập (tự phát triển như một quốc gia độc lập không phụ
thuộc vào nước ngoài cho xứng đáng một quốc gia độc lập) và thế đứng của
Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi mình là một phần tử Đại Đông Á,
đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung). Nên để ý tới khẩu hiệu
Châu Á của Người Á do người Nhật đưa ra trong thời gian này, một khẩu
hiệu hàm chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó còn là thuộc địa của
các đế quốc Âu Châu. Đây cũng là một cách nói trước một cách khéo léo
để ngăn chặn trước sự can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật.
Thứ ba:
“Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc…”.
Câu này nhằm buộc chặt lời hứa của người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự
trung thành với những gì họ đã nói, với quan niệm trung thành như một
truyền thống chung của các dân tộc Á Đông.
Thứ tư:
“”quyết chí hợp tác với nước Nhật đem hết tài sản trong nước để cho đạt
được mục đích như trên.” Mục đích như trên là mục đích gì? Phải hiểu
mục đích này bao gồm hai phần là “tự tiến triển cho xứng đáng một quốc
gia độc lập” và “giúp cho cuộc thịnh vương chung” như là một phần tử của
khối Đại Đông Á.”
Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, cô đọng nhưng rất quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc tình hình thế giới biến chuyển quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận trong và ước tính kỹ càng.
Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?
Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, cô đọng nhưng rất quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc tình hình thế giới biến chuyển quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận trong và ước tính kỹ càng.
Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?
Người
được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư
bộ lại. Điều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị
luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của một
học giả, một người làm báo, và sau đó là một ngự tiền văn phòng tổng lý
của nhà vua cũng như thượng thư bộ lại trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc
Hòe, đương thời là ngự tiền văn phòng tổng lý của Bảo Đại, trong hồi ký
của ông này xác nhận. (6)
Thứ hai
là cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945, cái tên Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ
ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Võ Nguyên Giáp, một trong những
cộng sự viên thân cận nhất của Hồ Chí Minh trong thời gian này, đã viết
trong hồi ký của mình rằng: “Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang
đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các
bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ
với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc
khi đó không nhiều.”(8) Ngay vua Bảo Đại ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi
nhận được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy
Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng, yêu cầu
nhà vua thoái vị nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân
Cách mạng với chủ tịch là “Cụ Hồ Chí Minh” đã không biết Hồ Chí Minh là
ai. Còn Phạm Khắc Hòe, người được Việt Minh gài vào cạnh nhà vua cũng
không biết nốt, phải chạy đi hỏi Tôn Quang Phiệt, một đảng viên Cộng
Sản, rồi Đào Duy Anh nhưng Tôn Quang Phiệt đi vắng và Đào Duy Anh lục
lọi, truy tìm các tài liệu, sách vở ông có nhưng cũng không ra tên này.
Cuối cùng Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới
xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.(9) Tuyên bố Việt Nam độc lập đối
với Hồ Chi Minh vào thời điểm này do đó là cách tự giới thiệu mình tốt
nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và được chấp
nhận như là lãnh tụ đầu tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và
cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối cần thiết, dầu rằng nền độc lập
này hoàn toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là
do những biến cố khác của lịch sử, trong đó quan trọng nhất là Đảo Chính
9 tháng Ba năm 1945, trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp, kèm
theo là bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại nói trên, và cuối
cùng là sự bại trận sau này của người Nhật. Chúng ta cũng cần để ý là
đối với đa số người Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9 là Ngày Độc Lập,
đúng như Nguyễn Hữu Đang, người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ chức ngày
này, gọi qua các văn thư chính thức ông đã gửi cho các cơ quan liên hệ,
trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà Nội (10) và theo bìa in bản tuyên
ngôn của bản đầu tiên năm 1945, do Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt
Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Độc Lập”. (11) Nhưng đối với Hồ Chí Minh
ngày 2 tháng 9 còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Đó là “ngày khép
lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
hòa”, theo lời ông nói với Nguyễn Hữu Đang, “Chú phải nhớ…(12) Tại sao
vậy? Tại vì Hồ Chí Minh phải làm chuyện này trước khi quân Đồng Minh kéo
vô Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã
rồi, không thể đảo ngược đươc.. Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị được nhắc
tới và câu “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại
âm mưu của bọn thực dân Pháp” là nhằm vào mục tiêu này. Hoàn cảnh được công bố
Bản
tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh một mình soạn thảo, một mình đứng tên
và đọc tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng
Chín năm 1945, ngót năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, hơn hai
tuần lễ sau khi Nhật Bản đầu hàng, mười ba ngày sau khi Việt Minh cướp
được chính quyền ở Hà Nội và hai ngày sau khi Bảo Đại chính thức thoái
vị. Vì được công bố sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, sau khi người Nhật
đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người Pháp đã bị người Nhật lật
đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho là thừa, không cần
thiết, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập là
kế vị chính phủ Nam Triều do Bảo Đại thoái vị nhường cho dựa theo chiếu
thoái vị của Bảo Đại. Chiếu này đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới
của ông chấp nhận.
Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong những
điều kiện này đương nhiên kế tục những gì Bảo Đại và chính phủ Trần
Trọng Kim đã làm trước đó, trong đó có Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11
tháng 3 năm 1945. Lập luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương
diện công pháp quốc tế. Một lập luận đơn giản và hoàn toàn dễ hiểu. Câu
hỏi được đặt ra là Hồ Chí Minh, và những cộng sự viên của ông, khi đưa
ra bản tuyên ngôn của mình có biết là trước đó Bảo Đại đã làm công việc
này rồi hay không ? Và biết như vậy tại sao ông lại còn làm lại việc đó
một lần nữa? Cho câu hỏi thứ nhất, câu trả lời là chắc chắn có; Hồ Chí
Minh chắc phải biết là Bảo Đại trước đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo
hộ 1884 rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc này vì ông có nhu cầu phải
làm. Những nhu cầu đó là những nhu cầu gì?
Thứ
nhất là vì từ lâu toàn dân ai nấy đếu khao khát được thấy nước nhà độc
lập, đúng như Bảo Đại đã viết trong hồi ký của ông, độc lập là ước mơ
của mọi người dân Việt (7), cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước ngay
trước và sau ngày 2 tháng 9 năm 1945. Nói tới độc lập vào lúc đó là gõ
đúng tần số của bất cứ một người dân Việt Nam nào từ đó đem lại công lao
và thanh thế cho người chính thức công bố ra điều đó.
Nội dung bản Tuyên Ngôn
Bản Tuyên Ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, vì được phổ biến rộng rãi và hầu như được coi là duy nhất gắn liền với ngày 2 tháng 9, ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên đã được nhiều người đọc, phân tích và tìm hiểu. Trong phần này người viết chỉ nêu lên những gì ít được mọi người nhắc hay để ý đến.
Trong khi Tuyên Cáo của Bảo Đại
đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý nhằm hủy bỏ hòa ước bảo hộ
mà triều đình Huế đã ký trước đó căn cứ vào sự bất lực của người Pháp,
vì người Pháp đã không giữ được cam kết ghi trong điều khoản thứ nhất và
điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này, mà không nhằm vào một đối
tượng- quần chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh nhằm
vào toàn thể người Việt qua lời mở đầu “Hỡi đồng bào cả nước…”. Tuy
nhiên ở những đoạn cuối tác giả lại nhắm vào các nước Đồng Minh. Điều
này phải tinh ý người ta mới nhận ra được. Về tư cách, Bảo Đại nhân
danh Hoàng Đế Việt Nam, người đứng đầu của một quốc gia độc lập đã tồn
tại từ trước khi người Pháp xâm lăng và là người kế thừa chính thống của
các vua Nhà Nguyễn, thì Hồ Chí Minh đã nhân danh “Lâm Thời Chính Phủ
của nước Việt Nam mới.”” Mới là vì đến ngày đó chính phủ này mới chính
thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó phản ảnh hai tư cách của
hai bản chất con người khác nhau. Một người là hoàng đế kế thừa chính
thống của một triều đại đã trị vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước
dù cho là chỉ còn hư vị; người kia là lãnh tụ của một phong trào cách
mạng vừa chủ trương chống Pháp, vừa chủ trương chống Nhật và lật đổ chế
độ quân chủ để giành chính quyền. Văn phong trong bản tuyên ngôn của
Bảo Đại là văn phong bình thường của người cầm quyền; còn văn phong của
Hồ Chí Minh mang tính cách kêu gọi và ở một mức độ nào đó có tính cách
bình dân, kể lể dài dòng và nhất là xách động.
Mở
đầu cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích dẫn một số câu trong phần
đầu của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ và một câu trong Bản Tuyên
Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích dẫn này, vào
lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, đặc biệt là về
lịch sử Hoa Kỳ và thế giới, chắc chắn không nhằm vào quần chúng người
Việt mà nhằm vào người Mỹ và người Pháp. Lý do là Hồ Chí Minh như là một
đảng viên Cộng Sản Quốc Tế chắc chắn đă hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào
thời điểm này đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính tình ở
Á Châu, trong đó có Việt Nam. Được nguời Mỹ công nhận là coi như làm
chủ được chính quyền. Hiểu được như vậy, ngay từ khi còn ở chiến khu Hồ
Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ cung cấp cho ông một
bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ, đồng thời nói về lịch sử nước Mỹ như
là một cách để chinh phục cảm tình của họ. Cũng vậy, với những gì chứa
đựng trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của người Pháp. Có
điều sự trích dẫn nàychỉ nhằm mục tiêu lôi cuốn sự chú ý và cảm tình của
người Mỹ mà thôi. Hồ Chí Minh không cần đi xa hơn nữa và rất có thể ông
cũng không hiểu rõ hơn hay cố tình không hiểu sự khác biệt trong quá
trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của người Mỹ vào cuối thế kỷ
XVIII và của nước Việt Nam thời ông. Vì vậy ông đã áp dụng quan điểm của
người Mỹ về quyền bình đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc
của mọi – người – như-là-những-cá-nhân vào trường hợp Việt Nam như một
– quốc – gia đòi quyền độc lập một cách gượng ép hay ít ra là suy luận
theo quan điểm chủ quan của mình với dụng ý riêng của mình. Cũng vậy với
những gì ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của
Cách Mạng Pháp.
Phần
kế tiếp, Hồ Chí Minh lên án người Pháp và người Nhật, đồng thời ông kể
công cho Việt Minh: “Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã bao lần Việt minh đã
kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật…”, sau đó “đã giúp cho nhiều
người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam
Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ” và kết luận rằng “Sự thật
là dân ta đã lấy lại nước Việt-nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay
Pháp”. Điều như người viết đã nói ở trên là không đúng sự thật. Sự thật
là Chính Phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim đã lấy lại được toàn thể nước Việt
Nam từ trước khi người Nhật đầu hàng kể cả lấy lại xứ Nam Kỳ và Việt
Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của chính phủ Bảo Đại -Trần Trọng
Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945 sau đó. Lý do là vì Việt
Minh “đã có đường riêng của họ rồi”, nói theo Phan Anh, Bộ Trưởng Thanh
Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim và sau này là Bộ Trưởng Bộ Quốc
Phòng trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh.Trong những đoạn này Hồ
Chí Minh đã dùng các từ ngữ ta hay “dân ta” hay “đất nước ta”, nhưng mục
đích không nhằm vào người Việt Nam mà vào người Pháp.
Phần cuối cùng của bản văn, từ
“Bởi thế cho nên…” cho đến hết, lời văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh
không hướng về người Việt mà về cả thế giới. Trong phần này ông xưng là
“chúng tôi, Lâm thời Chính phủ, đại biểu cho toàn dân Việt -nam “ để
tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, kêu gọi các nước Đồng Minh công
nhận quyền độc lập của dân Việt-nam…Phần này Hồ Chí Minh thay vì quyền
được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi – người – như –
những – cá – nhân do Tạo Hóa ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên
ai cũng có, đã nói về quyền hưởng tự do và độc lập của – cả – nước –
Việt – Nam. Điều này hoàn toàn không đúng với tinh thần của bản Tuyên
Ngôn Độc Lập của Người Mỹ và nhất là của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và
Dân Quyền của Cách mạng Pháp mà danh xưng của nó đã nói lên một cách rõ
ràng: Nhân Quyền và Dân Quyền, không thể hiểu sai được. Độc lập không
phải luôn luôn đồng nghĩa với tự do, dân quyền và nhân quyền. Không
những thế, thay vì coi những quyền này là do Tạo Hóa ban cho, Hồ Chí
Minh lại lý luận là vì dân tộc Việt Nam là “Một dân tộc đã gan góc chống
ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về
phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do!
Dân tộc ấy phải được độc lập!”. Lý luận như vậy người ta phải hiểu, theo
Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan góc chống lại những thế lực
đè nén, áp bức mình và không gan góc đứng về phe Đồng Minh, chống
phát-xít là không đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền độc
lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người như là những cá nhân trong
xã hội. Chính vì vậy Luật Sư Trần thanh Hiệp,khi được Đài Á Châu Tự Do
phỏng vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có lý khi ông gọi bản tuyên ngôn
của Hồ Chí Minh này là một bản tuyên ngôn phi nhân quyền,(13) dù cho là
nó đã được chính tác giả của nó trích dẫn và soạn thảo theo của bản
Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp. Nhưng dù nói thế
này hay thế khác sự kiện này đã phản ảnh chủ trương cách mạng bạo lực
của những người Cộng Sản mà Hồ Chí Minh ở đây là một trường hợp điển
hình.
Người ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian quá ngắn và trong tình trạng tác giả của nó còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác. Điều này không đúng vì trước đó từ lâu, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn nhân quyền của người Mỹ rồi. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu chứ không phải chỉ ít ngày trước ngày 2 tháng 9 năm 1945. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được cân nhắc kỹ càng và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có thể hiểu được.
Người ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian quá ngắn và trong tình trạng tác giả của nó còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác. Điều này không đúng vì trước đó từ lâu, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn nhân quyền của người Mỹ rồi. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu chứ không phải chỉ ít ngày trước ngày 2 tháng 9 năm 1945. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được cân nhắc kỹ càng và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có thể hiểu được.
Phạm Cao Dương
(1) Dương Trung Quốc. Việt Nam : Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). HàNội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.
(2) Lệ Thần Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục).Saigon, Nhà Xuất Bản Vĩnh Sơn, 1969. tr. 49.
(3) – nt – , tr. 51.
(4) Dương Trung Quốc, Việt Nam…, tr. 388; Nguyễn Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thời Đại Từ 1900 đến 1970, Quyển II. Saigon, ? , 1970. Fort Smith, AR tái bản ở Hoa Kỳ, ?. tr. 512.; S.M. Bao Dai. Le Dragon d’Annam. Paris, Plon. 1990. Cameron, Allan W. Viet-Nam Crisis, A Documentary History, Volume I: 1940-1956. Ithaca, N.Y. Cornell University Press, 1971.. tr. 31-32. Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau về ngôn từ nhưng hoàn giống nhau về nội dung. David G. Marr trong Vietnam 1945, The quest for Power (Berkeley, University of California Press, 1995, tr. 71) có nói tới các bản tiéng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng Ba. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới, nhưng nhất thời người viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm kiếm.
(5) Taboulet, Georges. La Geste Francaise en Indochine,Histoire par les textes de la France en Indochine des origines à 1914, tome II, Paris, Adfrien – Maisonneuve, 1956. tr. 809 – 812; Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, 1884 – 1945. Saigon,, ? ,1961. Tái bản ở Hoa Kỳ. tr. 322 – 328.
(6) Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế, Thuận Hóa, 1987, tr. 16 -.
(7) Bảo Đại, Le Dragon d’Annam, đã dẫn, tr. 103.
(8) Võ Nguyên Giáp, ”Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên”, trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, 206, tr.. 255.
(9) Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Dình Huế…, tr. 76.
(10) Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật. Thành Phố Hồ Chí Minh, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114 – 115.
(11) Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr.13. Nguyễn Khánh Toàn và Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội, 1980. tr. 812 – 823.
(13) Trần Thanh Hiệp và Trương Giang, “Một Bản Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền”, trên Nhật Báo Người Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007.
(2) Lệ Thần Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục).Saigon, Nhà Xuất Bản Vĩnh Sơn, 1969. tr. 49.
(3) – nt – , tr. 51.
(4) Dương Trung Quốc, Việt Nam…, tr. 388; Nguyễn Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thời Đại Từ 1900 đến 1970, Quyển II. Saigon, ? , 1970. Fort Smith, AR tái bản ở Hoa Kỳ, ?. tr. 512.; S.M. Bao Dai. Le Dragon d’Annam. Paris, Plon. 1990. Cameron, Allan W. Viet-Nam Crisis, A Documentary History, Volume I: 1940-1956. Ithaca, N.Y. Cornell University Press, 1971.. tr. 31-32. Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau về ngôn từ nhưng hoàn giống nhau về nội dung. David G. Marr trong Vietnam 1945, The quest for Power (Berkeley, University of California Press, 1995, tr. 71) có nói tới các bản tiéng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng Ba. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới, nhưng nhất thời người viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm kiếm.
(5) Taboulet, Georges. La Geste Francaise en Indochine,Histoire par les textes de la France en Indochine des origines à 1914, tome II, Paris, Adfrien – Maisonneuve, 1956. tr. 809 – 812; Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, 1884 – 1945. Saigon,, ? ,1961. Tái bản ở Hoa Kỳ. tr. 322 – 328.
(6) Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế, Thuận Hóa, 1987, tr. 16 -.
(7) Bảo Đại, Le Dragon d’Annam, đã dẫn, tr. 103.
(8) Võ Nguyên Giáp, ”Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên”, trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, 206, tr.. 255.
(9) Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Dình Huế…, tr. 76.
(10) Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật. Thành Phố Hồ Chí Minh, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114 – 115.
(11) Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr.13. Nguyễn Khánh Toàn và Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội, 1980. tr. 812 – 823.
(13) Trần Thanh Hiệp và Trương Giang, “Một Bản Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền”, trên Nhật Báo Người Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007.
Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013
TUYÊN BỐ VỀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT QUỐC TẾ 24/10/1970
TUYÊN BỐ VỀ
NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT QUỐC TẾ ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HỮU NGHỊ VÀ HỢP TÁC
GIỮA CÁC QUỐC GIA PHÙ HỢP VỚI HIẾN CHƯƠNG LIÊN HỢP QUỐC
Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970
DECLARATION
ON PRINC PLES OF INTERNATIONAL LAW CONCERNING FRIENDLY RELATIONS AND
CO-OPERATION AMONG STATES IN ACCORDANCE WITH THE CHARTER OF THE UNITED
NATIONS
United Nations General Assembly Resolution 2625 (XXV), 24 October 1970
LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội đồng Liên hợp quốcXác nhận lại một lần nữa những điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc rằng mục đích cơ bản của Liên hợp quốc là giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia
Nhắc lại rằng các dân tộc của Liên hợp quốc được xem xét qua thực tiễn chung sống trong hòa bình với các quốc gia khác như những láng giềng tốt,
Nhận thức tầm quan trọng của việc gìn giữ và củng cố hòa bình quốc tế dựa trên sự tự do, bình đẳng, công bằng và tôn trọng các quyền con người cơ bản và sự phát triển quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia bất chấp sự khác biệt về chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và trình độ phát triển,
Nhận thức rõ tầm quan trọng hết sức to lớn của Hiến chương Liên hợp quốc trong việc phát triển luật điều chỉnh giữa các quốc gia,
Xem xét rằng việc tuân thủ một cách tận tâm những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia và sự thực hiện có thiện chí các nghĩa vụ của các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc là sự quan trọng bậc nhất cho sự gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế và cho việc thực hiện những mục đích khác của Liên hợp quốc,
Ghi nhận rằng những sự thay đổi to lớn về chính trị, kinh tế, xã hội và tiến bộ khoa học đang diễn ra trên thế giới từ khi Hiến chương được thông qua đưa đến thừa nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của những nguyên tắc đó và nhu cầu áp dụng chúng một cách có hiệu quả hơn của các quốc gia,
Nhắc lại nguyên tắc đã được ghi nhận rằng khoảng không vũ trụ, bao gồm mặt trăng và các bộ phận của vũ trụ sẽ không bị chiếm đoạt hoặc đòi hỏi chủ quyền, bởi việc dùng vũ lực hoặc chiếm đóng, hoặc bằng bất kỳ cách thức nào khác, và quan tâm đến thực tế là việc xem xét chúng đang được chuyển đến cho Liên hợp quốc về việc ghi nhận những điều khoản thích hợp với đòi hỏi tương tự,
Đoán chắc rằng việc các quốc gia tuân thủ nghiêm túc nghĩa vụ không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho các quốc gia cùng chung sống trong hòa bình với các quốc gia khác, khi mà trong thực tiễn các hình thức can thiệp không chỉ vi phạm nội dung và tinh thần của Hiến chương mà còn tạo ra các hoàn cảnh có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế,
Nhắc lại nghĩa vụ của các quốc gia từ bỏ các hình thức cưỡng ép về quân sự, chính trị, kinh tế hay bất kỳ hình thức nào khác chống lại độc lập chính trị hay toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào.
Xem xét sự cần thiết là tất cả các quốc gia sẽ từ bỏ việc sử dụng và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại độc lập chính trị hay toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào hoặc bất kỳ hình thức nào không phù hợp với các nguyên tắc của Liên hợp quốc.
Xem xét sự cần thiết của việc các quốc gia giải quyết các tranh chấp của họ bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với Hiến chương,
Xác nhận rằng phù hợp với Hiến chương, tầm quan trọng của sự bình đẳng về chủ quyền và nhấn mạnh rằng, mục đích của Liên hợp quốc chỉ có thể được thực hiện khi mà các quốc gia được hưởng sự bình đẳng về chủ quyền và tuân thủ đầy đủ những yêu cầu của nguyên tắc đó trong các quan hệ quốc tế của mình.
Đoán chắc rằng việc các dân tộc vẫn bị thuộc địa, lệ thuộc, bị bóc lột sẽ là một trở ngại lớn cho việc phát triển hòa bình và an ninh quốc tế.
Tin chắc rằng nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và quyền tự quyết của các dân tộc sẽ là sự đóng góp có ý nghĩa cho luật quốc tế hiện tại, và việc áp dụng có hiệu quả sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, dựa trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền,
Tin chắc rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm mục đích làm chia rẽ toàn bộ hoặc một phần sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hoặc sự độc lập chính trị của quốc gia đó là không phù hợp với những mục đích và nguyên tắc của Hiến chương,
Xem xét một cách tổng thể những điều khoản của Hiến chương và lưu ý đến những nghị quyết tương ứng do các cơ quan có thẩm quyền của Liên hợp quốc thông qua đề cập đến nội dung của những nguyên tắc đó.
Thừa nhận sự phát triển và pháp điển hóa không ngừng của những nguyên tắc sau đây:
a. Nguyên tắc tất cả các quốc gia từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế của mình chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc là bất cứ cách thức nào khác không phù hợp với những mục đích của Liên hợp quốc.
b. Nguyên tắc tất cả các quốc gia giải pháp các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình miễn là không xâm hại đến hòa bình, an ninh và công lý.
c. Nghĩa vụ không can thiệp vào những công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào, phù hợp với Hiến chương này.
d. Nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác phù hợp với Hiến chương
e. Nguyên tắc và quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc
f. Nguyên tắc bình đẳng về bình đẳng chủ quyền của các quốc gia
g. Nguyên tắc các quốc gia sẽ thực hiện một cách thiện chí các nghĩa vụ của mình phù hợp với Hiến chương để đảm bảo rằng việc áp dụng những nguyên tắc đó có hiệu quả trong cộng đồng quốc tế sẽ khuyến khích việc thừa nhận các mục đích của Liên hợp quốc.
Thừa nhận những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia.
1. Long trọng tuyên bố những nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc tất cả các quốc gia từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế của mình chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc là bất cứ cách thức nào khác không phù hợp với những mục đích của Liên hợp quốc.
Tất cả mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế chống lại toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc là bằng bất kỳ cách thức nào không phù hợp với những mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc. Việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực sẽ là sự vi phạm luật pháp quốc tế và không bao giờ được sử dụng như là các biện pháp giải quyết các vấn đề quốc tế.
Chiến tranh xâm lược là tội ác chống lại hòa bình và phải chịu trách nhiệm theo luật pháp quốc tế
Tất cả các quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ mưu đồ chiến tranh xâm lược phù hợp với những mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm vi phạm sự tồn tại của các đường biên giới của các quốc gia khác, hoặc sử dụng như là biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế bao gồm các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến biên giới của các quốc gia.
Cũng như vậy, mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm vi phạm các đường ranh giới quốc tế như giới tuyến ngừng bắn, được thiết lập bằng bởi một thỏa thuận quốc tế mà quốc gia đó là một bên, hoặc tương tự như vậy, có nghĩa vụ phải tuân thủ. Không có bất kỳ điều nào được đề cập ở trên sẽ được hiểu là sự gây tổn hại đến địa vị của các bên đối với quy chế và hiệu lực của các đường ranh giới đó theo các chế độ pháp lý đặc biệt hoặc ảnh hưởng đến trạng thái tạm thời của các quốc gia đó.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ mọi hành động trả đũa bao gồm cả việc sử dụng vũ lực
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ bất kỳ hành động bạo lực nhằm loại bỏ quyền của các dân tộc trong việc soạn thảo nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết đối với quyền của các dân tộc đó được tự quyết, tự do và độc lập.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ chức các lực lượng không chính quy hoặc các nhóm vũ trang bao gồm cả lính đánh thuê để xâm nhập lãnh thổ của các quốc gia khác.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc tổ chức, xúi giục, trợ giúp hoặc tham gia vào các hành vi nội chiến hoặc khủng bố ở một quốc gia khác hoặc là ngầm chấp nhận những hoạt động được tổ chức ở trên lãnh thổ của mình liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các hành vi đó, khi mà các hành vi được mô tả trong khoản này bao hàm một sự de dọa hoặc sử dụng vũ lực.
Lãnh thổ quốc gia không thể bị chiếm đóng quân sự do việc sử dụng vũ lực trái với những điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ quốc gia không thể bị một quốc gia khác chiếm đoạt là kết quả của việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực. Không một sự chiếm đóng lãnh thổ do việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực nào được công nhận là hợp pháp. Không một điều nào nói ở trên sẽ được hiểu như là sự ảnh hưởng đến:
a. Những điều khoản của Hiến chương này hoặc bất kỳ một thỏa thuận quốc tế nào khác có trước Hiến chương này và có hiệu lực theo luật quốc tế
b. Các quyền hạn của Hội đồng Bảo an theo Hiến chương
Tất cả các quốc gia sẽ theo đuổi với thiện chí các cuộc đàm phán nhằm sớm ký kết một điều ước toàn cầu về giải trừ quân bị tổng thể và hoàn toàn dưới sự giám sát quốc tế có hiệu quả và cố gắng chấp nhận những biện pháp nhằm giảm bớt áp lực quốc tế và tăng cường lòng tin giữa các quốc gia.
Tất cả các quốc gia sẽ tuân thủ với thiện chí các nghĩa vụ của mình những nguyên tắc và quy tắc của luật quốc tế được thừa nhận chung đối với việc gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế và sẽ nỗ lực làm cho hệ thống an ninh của Liên hợp quốc dựa trên Hiến chương này ngày càng hiệu quả hơn.
Không một điều nào nói ở trên đây được hiểu là sự mở rộng hoặc thu hẹp bằng bất kỳ cách thức nào phạm vi của các điều khoản của Hiến chương này liên quan đến các trường hợp sử dụng vũ lực được coi là hợp pháp
Nguyên tắc tất cả các quốc gia giải quyết các tranh chấp quốc tế của mình bằng các biện pháp hoà bình mà không làm phương hại đến hòa bình, an ninh và công lý quốc tế.
Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế với những quốc gia khác bằng các biện pháp hòa bình mà không làm phương hại đến hòa bình, an ninh và công lý quốc tế
Mọi quốc gia do vậy sẽ sớm tìm kiếm và chỉ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài hoặc tòa án; sử dụng trung gian khu vực, thỏa thuận hoặc những biện pháp hòa bình khác do các bên lựa chọn. Trong việc tìm kiếm những biện pháp giải quyết tranh chấp, các bên đồng ý rằng những biện pháp hòa bình sẽ là thích hợp đối với những hoàn cảnh cụ thể và bản chất của tranh chấp.
Trong trường hợp không đạt được một giải pháp để giải quyết tranh chấp bằng bất kỳ biện pháp đã nêu ở trên, các bên trong tranh chấp có nghĩa vụ tiếp tục tìm kiếm những biện pháp hòa bình khác để giải quyết tranh chấp mà các bên thỏa thuận.
Các quốc gia trong tranh chấp cũng như các quốc gia khác sẽ từ bỏ bất kỳ hành vi nào có thể sẽ làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại gây nguy hiểm cho việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới, và sẽ hành động phù hợp với những mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc.
Các tranh chấp quốc tế được giải quyết trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và phù hợp với nguyên tắc tự do lựa chọn các cách thức giải quyết tranh chấp. Sự đề nghị, hoặc sự chấp nhận về quá trình giải quyết mà các quốc gia tự nguyện đồng ý đối với các tranh chấp đang tồn tại hoặc trong tương lai mà các bên liên quan sẽ không được coi là vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền.
Không có điều nào được nói ở trên có ảnh hưởng hoặc phương hại đến những điều khoản có thể áp dụng của Hiến chương, đặc biệt là những điều khoản liên quan đến việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.
Nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc.
Không một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, và với bất kỳ lý do nào, vào các công việc đối nội hoặc đối ngoại của một quốc gia khác. Vì thế, can thiệp quân sự và tất cả các hình thức can thiệp hoặc mưu toan đe dọa nhằm chống lại phẩm cách của quốc gia hoặc chống lại cơ sở chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó sẽ được coi là vi phạm luật pháp quốc tế.
Không một quốc gia nào có thể sử dụng hoặc khuyến khích việc sử dụng các biện pháp kinh tế chính trị hoặc bất kỳ cách thức nào khác nhằm cưỡng ép quốc gia khác để từ đó có được sự lệ thuộc vào việc thực hiện các quyền chủ quyền của mình và bảo đảm lợi thế của mình dưới bất kỳ hình thức nào. Ngoài ra, không một quốc gia nào có thể tổ chức, trợ giúp xúi giục, giúp đỡ tài chính khuyến khích hoặc ngầm đồng ý các hoạt động khủng bố, lật đổ hoặc hoạt động quân sự trực tiếp nhằm lật đổ chế độ hiện hành của một quốc gia khác, hoặc can thiệp vào những cuộc nội chiến của một quốc gia khác.
Việc sử dụng vũ lực nhằm loại bỏ bản sắc riêng của các dân tộc là sự vi phạm các quyền không thể tách rời của các dân tộc đó và vi phạm nguyên tắc không can thiệp.
Mỗi quốc gia có quyền không thể tách rời trong việc lựa chọn chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mình mà không có bất kỳ sự can thiệp của các quốc gia khác
Không một điều nào được nói đến ở trên sẽ được hiểu là sự phản ánh những điều khoản có liên quan của Hiến chương Liên hợp quốc trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới.
Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác phù hợp với Hiến chương
Mọi quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các Quốc hội khác trong các lĩnh vực của quan hệ quốc tế để gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, khuyến khích sự ổn định và tiến bộ, lợi ích chung của các dân tộc và hợp tác quốc tế mà không có sự phân biệt về sự khác nhau về chế độ chính trị, kinh tế và văn hóa.
Vì mục đích đó:
a. Mọi quốc gia sẽ hợp tác với các quốc gia khác để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
b. Mọi quốc gia sẽ hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng và tuân thủ các quyền con người và tự do cơ bản trên toàn thế giới và trong việc loại trừ tất cả các hình thức phân biệt về sắc tộc và tôn giáo
c. Mọi quốc gia sẽ thực hiện các quan hệ quốc tế của mình trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, kỹ thuật và thương mại phù hợp với nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ
Các quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc có nghĩa vụ hành động tập thể hoặc riêng rẽ để hợp tác với Liên hợp quốc phù hợp với những điều khoản tương ứng của Hiến chương Liên hợp quốc
Các quốc gia nên hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội cũng như khoa học và công nghệ và đối với việc phát triển sự tiến bộ về văn hóa và giáo dục trên thế giới. Các quốc gia nên hợp tác để phát triển kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển.
Nguyên tắc quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc
Bởi nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc được long trọng ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp quốc, tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định chế độ chính trị và theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa của mình mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài: tất cả các quốc gia có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền này, phù hợp với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc
Mọi quốc gia có nghĩa vụ khuyến khích sự thừa nhận nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, thông qua các hành động tập thể hoặc riêng rẽ phù hợp với những điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc, và thực hiện sự trợ giúp đối với Liên hợp quốc trong việc thực hiện các trách nhiệm do Hiến chương giao phó liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc này, nhằm:
a. Phát triển các quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia
b. Chấm dứt ngay lập tức chế độ thuộc địa, tôn trọng sự tự do thể hiện ý nguyện của các dân tộc thuộc địa
Và nhận thức rõ rằng việc tiếp tục bị thuộc địa, phụ thuộc và bị bóc lột bởi nước ngoài của các dân tộc sẽ là sự vi phạm của nguyên tắc này, cũng như là sự phủ nhận các quyền cơ bản của con người, và sẽ là trái với Hiến chương Liên hợp quốc
Mọi quốc gia có nghĩa vụ khuyến khích, thông qua các hành động tập thể hoặc riêng rẽ sự tôn trọng và tuân thủ các quyền con người và quyền tự do cơ bản phù hợp với Hiến chương
Việc thành lập một quốc gia độc lập có chủ quyền, sự tự do liên kết hoặc hợp nhất với một quốc gia độc lập hoặc dưới bất kỳ quy chế chính trị nào do một dân tộc tự do quyết định sẽ chính là các cách thức thực hiện quyền tự quyết của dân tộc ấy.
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ các hành động vũ lực nhằm tước đi sự soạn thảo những nguyên tắc hiện tại về quyền tự quyết, tự do và độc lập của các dân tộc. Để chống lại những hành động vũ lực nói trên và thực hiện quyền tự quyết của mình, các dân tộc có quyền tìm kiếm và quyền nhận được sự trợ giúp phù hợp với những mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc
Lãnh thổ của một thuộc địa hoặc một lãnh thổ chưa tự quản, theo Hiến chương sẽ có quy chế pháp lý độc lập và tách biệt đối với lãnh thổ của quốc gia quản lý lãnh thổ đó; quy chế độc lập và tách biệt theo Hiến chương này vẫn sẽ tồn tại cho đến khi nhân dân của lãnh thổ thuộc địa hoặc chưa tự quản đó thực hiện quyền tự quyết của mình phù hợp với Hiến chương, đặc biệt là những mục đích và nguyên tắc của nó.
Không một điều nào được nói đến ở trên sẽ được hiểu là trao quyền hoặc khuyến khích bất kỳ hành động nào dẫn đến việc chia cắt, làm suy yếu toàn bộ hoặc một phần sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc sự thống nhất về chính trị của một quốc gia độc lập có chủ quyền thực hiện phù hợp với nguyên tắc về quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc được đề cập đến ở trên, và do đó có một chính quyền đại diện cho toàn thể nhân dân sống trên lãnh thổ đó mà không có sự phân biệt về màu da, tín ngưỡng hoặc chủng tộc.
Tất cả mọi quốc gia sẽ từ bỏ mọi hành động có chủ ý nhằm phá vỡ toàn bộ hoặc một phần thống nhất dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào.
Nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền của các quốc gia
Tất cả mọi quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền. Các quốc gia bình đẳng về quyền và nghĩa vụ và là những thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc tế, bất chấp sự khác biệt về chế độ kinh tế, chính trị và xã hội.
Cụ thể, bình đẳng về chủ quyền bao gồm những nội dung sau:
a. Tất cả các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý
b.Mỗi quốc gia được hưởng các quyền xuất phát từ chủ quyền hoàn toàn
c. Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng tư cách của các quốc gia khác;
d. Sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của quốc gia là bất khả xâm phạm
e. Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của mình.
f. Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tuân thủ một cách đầy đủ và có thiện chí các nghĩa vụ quốc tế của mình và chung sống trong hòa bình với các quốc gia khác
Nguyên tắc các quốc gia thực hiện vợi sự thiện chí các nghĩa vụ của mình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc
Mọi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí các nghĩa vụ của mình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của mình theo những nguyên tắc và quy phạm được luật quốc tế thừa nhận chung
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của mình trong những thỏa thuận có hiệu lực theo những nguyên tắc và quy phạm được luật quốc tế thừa nhận chung.
Khi mà những nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế mâu thuẫn với những nghĩa vụ của các Thành viên Liên hợp quốc thoe Hiến chương Liên hợp quốc thì những nghĩa vụ theo Hiến chương sẽ có ưu thế hơn.
ĐIỀU KHOẢN CHUNG
2. Tuyên bố rằngViệc giải thích và áp dụng những nguyên tắc nêu trên là có sự tương quan với nhau và mỗi nguyên tắc sẽ được hiểu trong mối quan hệ với những nguyên tắc khác. Không một điều nào trong Tuyên bố này sẽ được hiểu là sự vi phạm đối với các điều khoản của Hiến chương hoặc đối với quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên theo Hiến chương hoặc đối với quyền và nghĩa vụ của các dân tộc theo Hiến chương, có lưu ý đến sự soạn thảo những quyền đó trong Tuyên bố này
3. Tuyên bố thêm rằng
Những nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc được ghi nhận trong Tuyên bố này sẽ là những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và vì thế kêu gọi tất cả các quốc gia áp dụng những nguyên tắc đó trong thực hiện các quan hệ quốc tế và phát triển các quốc tế tương ứng trên cơ sở triệt để tuân thủ những nguyên tắc này.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản :Phần III. Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
I. Chủ nghĩa xã hội phản động
A. Chủ nghĩa xã hội phong kiếnDo địa vị lịch sử của họ, quý tộc Pháp và Anh đã có sứ mệnh viết những bài văn châm biếm đả kích xã hội tư sản hiện đại. Trong cuộc Cách mạng Pháp hồi tháng 7 năm 1830, trong phong trào cải cách ở Anh, các giai cấp quý tộc ấy, một lần nữa, lại ngã gục dưới những đòn đả kích của những kẻ bạo phát đáng ghét. Đối với quý tộc thì không thể còn có vấn đề đấu tranh chính trị thật sự được nữa, họ chỉ có cách đấu tranh bằng văn học mà thôi. Nhưng ngay cả trong lĩnh vực văn học cũng không thể dùng cái luận điệu cũ rích của thời kỳ phục tích[12] được nữa. Muốn gây được thiện cảm, quý tộc làm ra vẻ không nghĩ đến lợi ích riêng của mình và lập bản cáo trạng lên án giai cấp tư sản, chỉ là vì lợi ích của giai cấp công nhân bị bóc lột mà thôi. Làm như thế, họ tự giành cho họ cái điều vui thú làm vè chế diễu người chủ mới của họ và ri rỉ bên tai người này những lời tiên tri không tốt lành này khác.
Chủ nghĩa xã hội phong kiến đã ra đời như thế đó là một mớ hỗn hợp những lời ai oán với những lời mỉa mai dư âm của dĩ vãng và tiếng đe doạ cuả tương lai. Tuy đôi khi lời công kích chua chát sâu cay hóm hỉnh của nó đập đúng vào tim gan của giai cấp tư sản, nhưng việc nó hoàn toàn bất lực không thể hiểu được tiến trình của lịch sử hiện đại, luôn luôn làm cho người ta cảm thấy buồn cười.
Các ngài quý tộc đã giương cái bị ăn mày của kẻ vô sản lên làm cờ để lôi kéo nhân dân theo họ, nhưng nhân dân vừa chạy lại thì trông thấy ngay những phù hiệu phong kiến cũ đeo sau lưng họ, thế là nhân dân liền tản đi và phá lên cười một cách khinh bỉ.
Một bộ phận của phái chính thống Pháp và phái " Nước Anh trẻ " đã diễn tấn hài kịch ấy.
Khi những người bênh vực chế độ phong kiến chứng minh rằng phương thức bóc lột phong kiến không giống phương thức bóc lột của giai cấp tư sản thì họ chỉ quên có một điều là chế độ phong kiến bóc lột trong hoàn cảnh và những điều kiện khác hẳn và hiện đã lỗi thời. Khi họ vạch ra rằng dưới chế độ phong kiến, không có giai cấp vô sản hiện đại thì họ chỉ quên có một điều là giai cấp tư sản chính là một sản phẩm tất nhiên của chế độ xã hội của họ.
Vả lại, họ rất ít che đậy tính chất phản động của những lời chỉ chích của họ, cho nên lời lẽ chủ yếu mà họ dùng để buộc tội giai cấp tư sản thì chính là cho rằng dưới sự thống trị của nó, giai cấp tư sản đảm bảo sự phát triển cho một giai cấp sẽ làm nổ tung toàn bộ trật tự xã hội cũ.
Họ buộc tội giai cấp tư sản đã hy sinh ra một giai cấp vô sản cách mạng, nhiều hơn là buộc tội giai cấp đó đã sinh ra giai cấp vô sản nói chung.
Cho nên, trong hoạt động chính trị, họ tích cực tham gia vào tất cả những biện pháp bạo lực chống giai cấp công nhân. Và trong đời sống hàng ngày của họ, mặc dù những lời hoa mỹ trống rỗng của họ, họ vẫn không bỏ qua cơ hội để lượm lấy những quả táo bằng vàng[13] và đem lòng trung thành, tình yêu và danh dự mà đổi lấy việc buôn bán len, củ cải đường, và rượu mạnh.[14]
Cũng hệt như thầy tu và chúa phong kiến luôn luôn tay nắm tay cùng đi với nhau, chủ nghĩa xã hội thầy tu cũng đi sát cánh với chủ nghĩa xã hội phong kiến.
Không có gì dễ hơn là phủ lên chủ nghĩa khổ hạnh của đạo Cơ Đốc một lớp sơn chủ nghĩa xã hội, đạo Cơ Đốc chẳng phải đã cực lực phản đối chế độ tư hữu, hôn nhân và nhà nước đó sao? Và thay tất cả những cái đó, đạo Cơ Đốc chẳng phải đã tuyên truyền việc làm phúc và sự khổ hạnh, cuộc sống độc thân và chủ nghĩa cấm dục, cuộc sống tu hành và nhà thờ đó sao? Chủ nghĩa xã hội Cơ Đốc chẳng qua chỉ là thứ nước thánh mà thầy tu dùng để xức cho nỗi hờn giận của quý tộc mà thôi.
B. Chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản.
Giai cấp quý tộc phong kiến không phải là giai cấp duy nhất đã bị giai cấp tư sản làm phá sản; nó không phải là giai cấp duy nhất có những điều kiện sinh hoạt đang tàn lụi và tiêu vong trong xã hội tư sản hiện đại. Những người thị dân và tiểu nông thời trung cổ là những tiền bối của giai cấp tư sản hiện đại. Trong những nước mà công nghiệp và thương nghiệp phát triển kém hơn, giai cấp đó tiếp tục sống lay lắt bên cạnh giai cấp tư sản thịnh vượng.
Trong những nước mà nền văn minh hiện đại đương phát triển thì đã hình thành một giai cấp tiểu tư sản mới, ngả nghiêng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản; là bộ phận bổ sung của xã hội tư sản, nó cứ luôn luôn được hình thành trở lại; nhưng vì sự cạnh tranh, những cá nhân hợp thành giai cấp ấy cứ luôn luôn bị đẩy xuống hàng ngũ của giai cấp vô sản và hơn nữa là sự phát triển tiến lên của đại công nghiệp, họ thấy rằng đã gần như đến lúc họ sẽ hoàn toàn biến mất với tính cách và bộ phận độc lập của xã hội hiện đại, và trong thương nghiệp, trong công nghiệp và trong nông nghiệp, họ sẽ nhường chỗ cho những đốc công và nhân viên làm thuê.
Trong những nước như nước Pháp, ở đó nông dân chiếm quá nửa dân số thì tự nhiên đã xuất hiện những nhà văn đứng về giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, nhưng đã dùng cái thước đo tiểu tư sản và tiểu nông trong việc phê phán chế độ tư sản, và đã xuất phát từ những quan điểm tiểu tư sản mà bênh vực sự nghiệp của công nhân. Chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản đã được hình thành như thế đó. Xi-xmôn-đi là lãnh tụ của thứ văn học đó, không những ở Pháp mà cả ở Anh nữa.
Chủ nghĩa xã hội ấy phân tích rất sâu sắc những mâu thuẫn gắn liền với những quan hệ sản xuất hiện đại. Nó vạch trần những lời ca tụng giả dối của những nhà kinh tế học. Nó chứng minh một cách không thể bác bỏ được những tác dụng phá hoại của nền sản xuất máy móc và của sự phân công lao động, sự tập trung tư bản và ruộng đất, sự sản xuất thừa, các cuộc khủng hoảng, sự sa sút không tránh được của những người tiểu tư sản và nông dân, sự cùng khổ của giai cấp vô sản, tình trạng vô chính phủ trong sản xuất, tình trạng bất công khá rõ rệt trong sự phân phối của cải, chiến tranh công nghiệp có tính chất huỷ diệt giữa các dân tộc, sự tan rã của đạo đức cũ, của những quan hệ gia đình cũ, của những tính chất dân tộc cũ.
Nhưng xét về nội dung chân thực của nó, thì hoặc là chủ nghĩa xã hội này muốn khôi phục lại những tư liệu sản xuất và phương tiện trao đổi cũ, và cùng với những cái đó, cũng khôi phục lại cả những quan hệ sở hữu cũ và toàn xã hội cũ, hoặc là nó muốn biết những tư liệu sản xuất và những phương tiện trao đổi hiện đại phải khuôn theo cái khuôn khổ chật hẹp của những quan hệ sở hữu cũ, của những quan hệ đã bị và tất phải bị những công cụ ấy đập tan. Trong cả hai trường hợp, chủ nghĩa xã hội này vừa là phản động vừa là không tưởng.
Chế độ phường hội trong công nghiệp, chế độ gia trưởng trong nông nghiệp đó là cái đích tột cùng của nó.
Trong sự phát triển về sau của nó, trào lưu này đã biến thành những lời oán thán hèn nhát[15].
C. Chủ nghĩa xã hội đức hay chủ nghĩa xã hội "chân chính"
Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa của nước Pháp, sinh ra dưới áp lực của một giai cấp tư sản thống trị, biểu hiện văn học của sự phản kháng chống lại nền thống trị ấy, thì được đưa vào nước Đức giữa lúc giai cấp tư sản bắt đầu đấu tranh chống chế độ chuyên chế phong kiến.
Các nhà triết học, các nhà triết học nửa mùa và những kẻ tài hoa ở Đức hăm hở đổ xô vào thứ văn học ấy, những có điều họ quên rằng văn học Pháp được nhập khẩu vào Đức, song những điều kiện sinh hoạt của nước Pháp lại không đồng thời được đưa vào Đức. Đối với những điều kiện sinh hoạt ở Đức, văn học Pháp ấy, đã mất hết ý nghĩa thực tiễn trực tiếp và chỉ còn mang một tính chất thuần tuý văn chương mà thôi. Nó ắt phải có tính chất của một sự tự biện vô vị về sự hiện diện bản tính của con người. Chẳng hạn, đối với những nhà triết học Đức hồi thế kỷ XVIII, những yêu sách của cách mạng Pháp lần thứ nhất chỉ là những yêu sách của những "lý tính thực tiễn" nói chung; và theo con mắt của họ, những biểu hiện của ý chí của những người tư sản cách mạng Pháp chỉ biểu hiện những quy luật của ý chí thuần tuý, của ý chí đúng như nó phải tồn tại, của ý chí thật sự con người.
Công việc độc nhất của các nhà văn Đức là điều hoà những tư tưởng mới của Pháp với ý thức triết học của mình, hay nói cho đúng hơn, là lĩnh hội những tư tưởng của Pháp bằng cách xuất phát từ quan điểm triết học của mình.
Họ đã lĩnh hội những tư tưởng ấy như người ta lĩnh hội một thứ tiếng ngoại quốc thông qua phiên dịch.
Ai cũng biết bọn thầy tu đã đem những chuyện hoang đường vô lý về các thánh Thiên chúa giáo ghi đầy những bản thảo các tác phẩm cổ điển thời cổ dị giáo như thế nào. Đối với văn học Pháp không có tính chất tôn giáo thì các nhà văn học Đức đã làm ngược lại. Họ luồn những điều vô lý về triết học của họ vào trong nguyên bản Pháp. Thí dụ, trong đoạn phê phán của Pháp đối với quan hệ tiền bạc thì họ lồng vào đó những chữ: "sự tha hoá của nhân tính"; trong đoạn phê phán của Pháp đối với nhà nước tư sản thì họ lại lồng vào đó dòng chữ: "việc xoá bỏ sự thống trị của tính Phổ biến - Trừu tượng",v.v...
Việc thay thế triết học của Pháp bằng những lời lẽ triết học rỗng tuyếch ấy, họ gọi là "triết học của hành động"; là "chủ nghĩa xã hội chân chính", là "khoa học Đức về chủ nghĩa xã hội",v.v...
Như thế là văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Pháp đã bị hoàn toàn cắt xén. Và vì trong tay người Đức, văn học ấy không còn là biểu hiện của cuộc đấu tranh của một giai cấp này chống một giai cấp khác nữa, cho nên họ lấy làm đắc ý là đã vượt lên trên "tính phiến diện của Pháp"; là đã bảo vệ không phải những nhu cầu thật sự, mà là nhu cầu về chân lý; không phải những lợi ích của người vô sản, mà là những lợi ích của bản tính con người, của con người nói chung, của con người không thuộc giai cấp nào, cũng không thuộc một thực tại nào, của con người chỉ tồn tại trong một bầu trời mây mù của ảo tưởng triết học mà thôi.
Chủ nghĩa xã hội Đức ấy coi trọng những trò luyện tập vụng về của học sinh của mình một cách hết sức trịnh trọng, và phô trương những trò ấy một cách om sòm kiểu bán thuốc rong, nhưng rồi cũng mất dần tính ngây thơ thông thái rởm của mình.
Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản Đức và nhất là của giai cấp tư sản Phổ chống phong kiến và chế độ quân chủ chuyên chế, tóm lại là phong trào của phái tự do, ngày càng trở nên nghiêm túc hơn.
Thành thử chủ nghĩa xã hội "chân chính" đã được cơ hội mà nó mong mỏi từ lâu, để đem những yêu sách xã hội chủ nghĩa ra đối lập với phong trào chính trị. Nó đã có thể tung ra những lời nguyền rủa cổ truyền chống lại chủ nghĩa tự do, chế độ đại nghị, sự cạnh tranh tư sản, tự do báo chí tư sản, pháp quyền tư sản, tự do và bình đẳng tư sản; nó đã có thể tuyên truyền cho quần chúng rằng trong phong trào tư sản ấy, quần chúng không được gì cả, trái lại còn mất tất cả. Chủ nghĩa xã hội Đức đã quên rất đúng lúc rằng sự phê phán của Pháp, mà chủ nghĩa xã hội Đức là một tiếng vọng nhạt nhẽo, giả định là phải có xã hội tư sản hiện đại cùng với những điều kiện sinh hoạt vật chất tương ứng với xã hội đó và một cơ cấu chính trị thích hợp - tức là tất cả những tiền đề mà nước Đức chính là vẫn đang phải giành lấy.
Đối với nghững chính phủ chuyên chế ở Đức, cùng đám tuỳ tùng của chúng là những thầy tu, thầy giáo, bọn gioong-ke hủ lậu và quan lại thì chủ nghĩa xã hội này đã trở thành một thứ ngoáo ộp hằng ao ước để chống lại giai cấp tư sản đang là một mối lo đối với chúng.
Chủ nghĩa xã hội ấy đã đem cái lối giả nhân giả nghĩa đường mật của nó bổ xung cho roi vọt và súng đạn mà những chính phủ ấy đã dùng để chấn áp những cuộc khởi nghĩa của công nhân Đức.
Nếu chủ nghĩa xã hội "chân chính" do đó đã trở thành vũ khí trong tay các chính phủ để chống lại giai cấp tư sản Đức thì ngoài ra, nó lại còn trực tiếp đại biểu cho một lợi ích phản động, lợi ích của giai cấp tiểu tư sản Đức. Giai cấp những người tiểu tư sản, do thế kỷ XVI truyền lại và từ bấy tới nay, luôn luôn tái sinh dưới nhiều hình thức khác nhau, là cơ sở xã hội thật sự của chế độ đã thiết lập ở Đức.
Duy trì giai cấp ấy, là duy trì ở Đức chế độ hiện hành. Sự thống trị về công nghiệp và chính trị của giai cấp tư sản đang đe doạ đẩy giai cấp tiểu tư sản ấy đến nguy cơ chắc chắn phải suy sụp, một mặt do sự tập trung tư bản và mặt khác do sự xuất hiện giai cấp vô sản cách mạng. Đối với giai cấp tiểu tư sản, chủ nghĩa xã hội "chân chính" hình như có thể làm một công đôi việc.
Cho nên chủ nghĩa xã hội chân chính đã lan ra như một bệnh dịch.
Bọn xã hội chủ nghĩa Đức đã đem những tấm mạng nhện tự biện ra làm thành một cái áo rộng thùng thình thêu đầy những bông hoa từ chương mịn màng và thấm đầy những giọt sương tình cảm nóng hổi, rồi đem loại áo ấy khoác lên "những chân lý vĩnh cửu" gầy còm của họ, điều đó làm cho món hàng của họ càng được tiêu thụ mạnh trong đám khách hàng như vậy.
Còn về phần chủ nghĩa xã hội Đức thì nó dần dần hiểu rõ thêm rằng sứ mệnh của nó là làm đại diện khoa chương cho bọn tiểu tư sản ấy.
Nó tuyên bố rằng dân tộc Đức là một dân tộc mẫu mực và người phi-li-xtanh Đức là một con người mẫu mực. Tất cả những cái xấu xa của những người mẫu mực ấy được nó gán cho một ý nghĩa thần bí, một ý nghĩa cao cả và xã hội chủ nghĩa, khiến cho những cái ấy biến thành những cái ngược hẳn lại. Nhất quán một cách triệt để, nó phản đối xu hướng chủ nghĩa cộng sản muốn "Phá huỷ một cách tàn bạo", và tuyên bố rằng mình vô tư đứng ở trên tất cả mọi cuộc đấu tranh giai cấp. Trừ một số rất ít, còn thì tất cả những tác phẩm tự xưng là xã hội chủ nghĩa ấy hay cộng sản chủ nghĩa lưu hành ở Đức, đều thuộc vào loại văn học bẩn thỉu và làm suy yếu con người ấy[16].
II. Chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa xã hội tư sản
Một bộ phận giai cấp tư sản tìm cách chữa các căn bệnh xã hội, cốt để củng cố xã hội tư sản.Trong hạng này, có những nhà kinh tế học, những nhà bác ái, những nhà nhân đạo chủ nghĩa, những người chăm lo cuộc cải thiện đời sống cho giai cấp lao động, tổ chức việc từ thiện, bảo vệ súc vật, lập ra những hội bài trừ nạn nghiện rượu, nói tóm lại là đủ loại những nhà cải lương hèn kém nhất. Và thậm chí người ta đã xây dựng chủ nghĩa xã hội tư sản này thành một hệ thống hoàn bị.
Lấy một ví dụ là quyển "Triết học về sự khốn cùng" của Pru-đông.
Những nhà xã hội chủ nghĩa tư sản muốn duy trì những điều kiện sinh hoạt của xã hội hiện đại, mà không có những cuộc đấu tranh và những mối nguy hiểm do những điều kiện sinh hoạt ấy nhất định phải sản sinh ra. Họ muốn duy trì xã hội hiện đại nhưng được đẩy trừ hết những yếu tố đảo lộn và làm tan rã nó. Họ muốn có giai cấp tư sản mà không có giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản tất nhiên quan niệm cái thế giới mà nó đang thống trị là thế giới tốt đẹp hơn cả. Chủ nghĩa xã hội tư sản đem hệ thống hoá ít nhiều triệt để cái quan niệm an ủi lòng người ấy. Khi chủ nghĩa xã hội tư sản bắt giai cấp vô sản phải thực hiện những hệ thống ấy của nó và bước vào thành Giê-ru-da-lem mới, thì thực ra, nó chỉ kêu gọi giai cấp vô sản bám lấy xã hội hiện tại, nhưng phải bỏ hết quan niệm thù hằn của họ đối với xã hội ấy.
Một hình thức khác của chủ nghĩa xã hội, ít có hệ thống hơn, nhưng lại thực tiễn hơn, cố làm cho công nhân chán ghét mọi phong trào cách mạng, bằng cách chứng minh cho họ thấy rằng không phải sự cải biến chính trị này khác, mà chỉ có sự cải tiến về điều kiện sinh hoạt vật chất, về quan hệ kinh tế mới có thể có lợi cho công nhân mà thôi. Song nói sự cải biến điều kiện sinh hoạt vật chất, chủ nghĩa xã hội ấy không hề hiểu đó là sự xoá bỏ những quan hệ sản xuất tư sản, một sự xoá bỏ mà chỉ có cách mạng mới có thể làm nổi; nó chỉ hiểu đó là sự thực hiện những cải cách về hành chính ngay trên cơ sở những quan hệ sản xuất tư sản, những cải cách do đó không làm thay đổi chút nào những quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê nhiều lắm thì cũng chỉ làm cho giai cấp tư sản giảm được những chi phí cho việc thống trị của nó làm cho ngân sách nhà nước được nhẹ gánh mà thôi.
Chủ nghĩa xã hội tư sản chỉ đạt được biểu hiện thích đáng của nó, khi nó trở thành một lối nói từ chương đơn thuần.
Mậu dịch tự do, vì lợi ích của giai cấp công nhân! thuế quan bảo hộ, vì lợi ích của giai cấp công nhân! nhà tù xà lim, vì lợi ích của giai cấp công nhân! đó là cái đích tột cùng của chủ nghĩa xã hội xã hội tư sản, điều duy nhất mà Nó nói ra một cách nghiêm túc.
Vì chủ nghĩa xã hội tư sản nằm gọn trong lời khẳng định này: sở dĩ những người tư sản là những người tư sản, đó là vì lợi ích của giai cấp công nhân.
III. Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng - phê phán
Đây không phải là nói đến một loại văn học đã đề ra, trong tất cả các cuộc cách mạng hiện đại, những yêu sách của giai cấp vô sản (tác phẩm của Ba-bớp...).Những mưu đồ trực tiếp đầu tiên của giai cấp vô sản để thực hiện những lợi ích giai cấp của chính mình, tiến hành trong thời kỳ sôi sục khắp nơi, trong thời kỳ lật đổ xã hội phong kiến, thì nhất định phải thất bại, vì bản thân giai cấp vô sản đang ở trong tình trạng manh nha, cũng như vì họ không có những điều kiện vật chất để tự giải phóng, những điều kiện mà chỉ có thời đại tư sản mới sản sinh ra thôi. Văn học cách mạng đi kèm theo những phong trào đầu tiên ấy của giai cấp vô sản, không thể không có một nội dung phản động. Nó tuyên truyền chủ nghĩa khổ hạnh phổ biến và chủ nghĩa bình quân thô thiển.
Những hệ thống xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chính tông, những hệ thống của Xanh-Xi-Mông, của Phu-ri-ê, của ô-oen,v.v..., đều xuất hiện trong thời kỳ đầu, chưa phát triển của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, tức là thời kỳ đã được mô tả ở trên (xem mục "Tư sản và vô sản").
Những người phát sinh ra những hệ thống ấy, thực ra, đều thấy rõ sự đối kháng giữa các giai cấp, cũng như thấy rõ tác dụng của những yếu tố phá hoại nằm ngay trong bản thân xã hội thống trị. Song những người đó lại không thấy những điều kiện vật chất cần cho sự giải phóng của giai cấp vô sản, và cứ đi tìm một khoa học xã hội, những quy luật xã hội, nhằm mục đích tạo ra những điều kiện ấy.
Họ lấy tài ba cá nhân của họ để thay thế cho hoạt động xã hội, lấy những điều kiện tưởng tượng thay thế cho những điều kiện lịch sử của sự giải phóng; đem một tổ chức xã hội do bản thân họ hoàn toàn tạo ra, thay thế cho sự tổ chức một cách tuần tự và tự phát giai cấp vô sản thành giai cấp. Đối với họ, tương lai của thế giới sẽ được giải quyết bằng cách tuyên truyền và thực hành những kế hoạch tổ chức xã hội của họ.
Tuy nhiên, trong khi đặt ra những kế hoạch ấy, họ cũng có ý thức bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân trước hết, vì giai cấp công nhân là giai cấp đau khổ nhất. Đối với họ, giai cấp vô sản chỉ tồn tại với tư cách là giai cấp đau khổ nhất.
Nhưng hình thức chưa phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp, cũng như địa vị xã hội của bản thân họ, làm cho họ tự coi là đứng hẳn ở trên mọi đối kháng giai cấp. Họ muốn cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất cho hết thảy mọi thành viên trong xã hội, kể cả những kẻ đã được hưởng những điều kiện tốt nhất. Cho nên họ luôn luôn kêu gọi toàn thể xã hội, không có phân biệt gì cả và thậm chí họ còn chủ yếu kêu gọi giai cấp thống trị nhiều hơn. Theo ý kiến của họ thì chỉ cần hiểu hệ thống của họ là có thể thừa nhận rằng đó là kế hoạch hay hơn hết trong tất cả mọi kế hoạch về một xã hội tốt đẹp hơn hết trong tất cả mọi xã hội.
Vì vậy, họ cự tuyệt mọi hành động chính trị và nhất là mọi hành động cách mạng, họ tìm cách đạt mục đích của họ bằng những phương pháp hoà bình, và thử mở một con đường đi tới một kinh Phúc âm xã hội mới bằng hiệu lực của sự nêu gương, bằng những thí nghiệm nhỏ, cố nhiên những thí nghiệm này luôn luôn thất bại.
Trong thời kỳ mà giai cấp vô sản còn ít phát triển, còn nhìn địa vị của bản thân mình một cách cũng ảo tưởng, thì bức tranh ảo tưởng về xã hội tương lai là phù hợp với những nguyện vọng bản năng đầu tiên của công nhân muốn hoàn toàn cải biến xã hội.
Nhưng trong những trước tác xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa đó cũng có những yếu tố phê phán. Những trước tác ấy đả kích toàn bộ cơ sở của xã hội đương thời. Do đó, chúng đã cung cấp được những tài liệu rất có giá trị để soi sáng ý thức của công nhân. Những đề nghị tích cực của những trước tác ấy về xã hội tương lại, chẳng hạn, việc thủ tiêu sự đối kháng giữa thành thị và nông thôn[17], xoá bỏ gia đình, xoá bỏ sự thu lợi nhuận cá nhân và lao động làm thuê, tuyên bố sự hoà hợp xã hội và sự cải tạo nhà nước thành một cơ quan đơn thuần quản lý sản xuất, tất cả những luận điểm ấy chỉ mới báo trước rằng đối kháng giai cấp tất phải mất đi, nhưng đối kháng giai cấp này chỉ mới bắt đầu xuất hiện, và những nhà sáng lập ra các học thuyết cũng chỉ mới biết những hình thức đầu tiên không rõ rệt và lờ mờ của nó thôi. Cho nên, những luận điểm ấy chỉ mới có một ý nghĩa hoàn toàn không tưởng mà thôi.
ý nghĩa của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng - phê phán là theo tỷ lệ nghịch với sự phát triển lịch sử. Đấu tranh giai cấp càng gay gắt và càng có hình thức xác định thì cái ý định ảo tưởng muốn đứng lên trên cuộc đấu tranh giai cấp, cái thái độ đối lập một cách ảo tưởng với đấu tranh giai cấp ấy, càng mất hết mọi giá trị thực tiễn, mọi căn cứ lý luận của chúng. Cho nên, nếu như về nhiều phương diện, các nhà sáng lập ra những học thuyết ấy là những nhà cách mạng thì những tôn phái do môn đồ của họ lập ra luôn luôn là phản động, vì những môn đồ ấy khăng khăng giữ lấy những quan niệm đã cũ của các vị thầy của họ, bất chấp sự phát triển lịch sử của giai cấp vô sản. Vì vậy, họ tìm cách, và về điểm này thì họ là nhất quán, làm lu mờ đấu tranh giai cấp và cố điều hoà các đối kháng. Họ tiếp tục mơ ước thực hiện những thí nghiệm về những không tưởng xã hội của họ lập ra từng pha-lan-xte-rơ riêng biệt, tạo ra những ("Home-colonies"), xây dựng một xứ I-ca-ri nhỏ[18], tức là lập ra một Giê-ru-da-lem mới tí hon - và để xây dựng tất cả những lâu đài trên bãi cát ấy, họ tự thấy buộc phải kêu gọi đến lòng tốt và két bạc của các nhà tư sản bác ái. Dần dần họ rơi vào hạng những người xã hội chủ nghĩa phản động hay bảo thủ đã được miêu tả trên kia, và chỉ còn khác bọn này ở chỗ họ có một lối nói thông thái rởm có hệ thống hơn và tin một cách mê muội và cuồng nhiệt vào hiệu lực thần kỳ của khoa học xã hội của họ.
Vì vậy, họ kịch liệt phản đối mọi phong trào chính trị của công nhân, và theo họ thì một phong trào như thế chỉ có thể là do mù quáng thiếu tin tưởng vào kinh Phúc âm mới mà ra.
Phái ô-oen ở Anh thì chống lại phái Hiến chương, phái Phu-ri-ê ở Pháp thì chống lại phái cải cách.
Chú thích:
[12] Đây không phải là nói về thời kỳ Phục tích 1660-1689 ở Anh mà là thời kỳ Phục tích 1814-1830 ở Pháp (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1888)[13] [...]
[14] [...]
[15] Trong bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 thay cho câu: "Trong sự phát triển về sau của nó, trào lưu này đã biến thành những lời oán thân hèn nhát" là câu "Cuối cùng, khi những sự kiện lịch sử không thể bác bỏ đã làm tiêu tan tác dụng an ủi của ảo tưởng thì chủ nghĩa xã hội này đã biến thành những lời oán thân thảm thương"
[16] Cơn bão cách mạng năm 1848 đã quét sạch hết cả cái trào lu thảm hại ấy và đã làm cho những môn đồ của trào lưu này mất hết hứng thú đầu cơ chủ nghĩa xã hội một lần nữa. Người đại biểu chính và điển hình tiêu biểu nhất của trào lưu này là ngài Các Grun. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1890)
[17] Trong bản tiếng Anh xuấtư bản năm 1888 đoạn này được diễn đạt nh sau: "Những biện pháp thực tế mà họ đề ra, chẳng hạn như thủ tiêu sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn.
[18] Pha-lan-xte-rơ là tên gọi những khu di dân xã hội chủ nghĩa mà Sác-lơ Phu-ri-ê hoạch định ra. Ca-bê dùng tên gọi I-ca-ri để gọi đất nước không tưởng của ông và về sau thì dùng để gọi khu di dân cộng sản chủ nghĩa của ông ở Mỹ. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuấtư bản bằng tiếng Anh năm 1888)
Home-colonies (khu di dân trong nước) là tên gọi mà ô-oen dùng để đặt cho những xã hội cộng sản chủ nghĩa kiểu mẫu của ông. Pha-lan-xte-rơ là những lâu đài xã hội do Phu-ri-ê hoạch định ra. I-ca-ri là tên gọi cái đất nước tưởng tợng mà Ca-bê mô tả khi nói đến những tổ chức cộng sản chủ nghĩa trong đất nước ấy. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1890


07:23
Hoàng Phong Nhã