Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến lược. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến lược. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

Thử Nhìn Vào Lực Lượng Hải Quân Của Cộng Sản Việt Nam

Thử Nhìn Vào Lực Lượng Hải Quân Của Cộng Sản Việt Nam

Á Châu-Thái Bình Dương có một vai trò quan trọng vì là tuyến đường hàng hải đông đúc nhất thế giới.  Hàng ngày có khoảng 1000 lượt tàu thương mại qua lại giữa eo biển Malacca và Singapore.  Và theo báo cáo của Cơ Quan Hàng Hải quốc Tế thì mỗi năm cũng có khoảng 200  vụ cướp biển xảy ra tại vùng này.
Các quốc gia trong vùng thường được vũ trang bằng các tàu tuần tra xa bờ (OPV- Offshore Patrol Vessel) được trang bị bằng các súng  cỡ 40-76 mm, hoặc nhỏ hơn.  Để bảo vệ an ninh cho các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) thì họ sử dụng các tầu lớn Corvette.  Riêng Việt Nam thì chính quyền cộng sản cố gắng tiến thẳng lên hiện đại bằng một hạm đội có tàu thuyền vượt trội các nước nhỏ trong vùng.
Việt Nam cố xây dựng một hạm đội nhỏ để bảo vệ đường biển quá dài
Cộng sản Việt Nam cố gắng mua cho hải quân nhiều tàu có hỏa lực mạnh như tàu ngầm Kilo, tàu hộ vệ tên lửa Gepard, Molniya, Sigma và nhiều tàu bổ trợ hiện đại.  Theo bản báo cáo hiện nay của hải quân Việt Nam thì đáng chú ý lả :
Tàu ngầm: Việt Nam đã mua của Nga 6 tàu ngầm Kilo 636 – MV,  mệnh danh là sát thủ  tàu sân bay.  Tàu này có tốc độ 22 km giờ khi nổi và  40 km giờ khi lặn.  Tầm họat động là 640  km khi lặn và đoàn thủy thủ là 52 người.  Tàu được trang bị máy radar Kilo giúp phát hiện các tàu ngầm khác rất xa.  Tàu cũng có tên lửa hành trình NOVATOR CLUB S,  6 ống phóng ngư lôi, 24 qủa mìn, và  8 tên lữa phòng không.
Ngoài ra  hải quân Việt Nam cũng còn 2 tầu ngầm nhỏ khác mua từ Triều Tiên năm 1997.
Tầu chiến hạng nặng: Thành phần quan trọng thứ hai của hải quân Việt Cộng hiện nay là các tầu chiến hạng nặng.  Năm 2011 Nga đã chuyển giao cho Việt Nam hai tầu hộ vệ lớp Gepard  3.9.  Hợp đồng mua bán này được ký kết vào năm  2006.  
  
Cũng và mùa thu năm 2011 Việt Cộng đàm phán  mua 4 chíến hạm  Sigma của Hoà Lan.  Loại tàu này tương đương với loại Gepard của Nga.  Rút  cuộc, Việt Cộng chỉ nhận được của Hòa Lan  hai   chiếc Sigma, cò hai chiếc kia thì phải đóng tại Việf Nam.
Tàu Gepard và Sigma là loại tầu lớn với kích thước 102+13,6+3,5 m.  Vận tốc tối đa là 27 hải lý/giờ. Thời gian hoạt động trên biển là 15 ngày, và chạy bằng ba động cơ, 1 diesel và 2 gas.  Tàu được trang bị giàn phóng U-RAN, phóng tên lửa hành trình và có một sàn đỗ cho máy bay trực thăng,  Hiện tại Gerard được coi là chiến hạm hiện đại nhất trong khu vực. 
Chiến hạm “thần sấm” (Molniya):  Tàu này có vận tốc tối đa là 27 hải lý/giờ và có tầm hoạt động 2400 hải lý.  Với một thủy thủ đoàn 44 người, tàu có thể hoạt động trong10    ngày. Tàu được trang bị giàn phóng U-RAN với tên lửa hành trình KH-35 và Moskit.  Loại tên lửa này có  cự ly tác chiến 130 km, đầu nổ nặng 145 kg và tốc độ tối đa là 300    m/s.
Chiến hạm Tarantul: Tàu này có kích thước 56+10+2,14m.  Vận tốc tối đa là 42 hải lý/giờ nhưng có thể chạy chậm với tốc độ 12 hải lý/giờ.  Thủy thủ đoàn là 39 người.  Tàu được trang bị radar tìm kiếm mục tiêu Monolit.  Ngoài ra còn được trang bị tên lửa hành trình đối hạm. 16 tên lửa phòng không, 1 khẩu pháo 76/mm  bắn xa 15/km và hai khẩu pháo 30  m/m.
Chiến hạm OSA II:  Tàu này được làm bằng hợp kim nhẹ và có tốc độ 40 hải lý/giờ.  Vũ khí chính là bốn hỏa tiễn  P15/SS – N2B có khả năng đánh chìm một chiến hạm to gấp 10 lần ở khoảng cách 80  km.  Ngoài ra tàu còn được trang bị 4 đại bác 30/mm  để đề phòng hơn là chiến đấu.  Tàu này giống tàu phóng ngư lôi nhưng cự ly tiếp cận nhỏ hơn và tốc độ chạy nhanh hơn.
Chiến hạm Hổ A:  Chiến hạm này có vận tốc là 32 hải lý/giờ, trang bị tên lửa URAN với tầm bắn 130 km và đầu đạn nổ nặng 145 kg. Ngoài ra tàu còn có một khẩu pháo      76 mm với tầm bắn 150 km và 316 viên đạn.
Tàu tuần tra Svetiyak:  Tàu này có vận tốc 30 hải lý/giờ, được trang bi ̣16 tên lửa phòng không, một súng 76 mm  và một pháo phòng không 30 mm.
Nếu cộng thêm tất cả các loại tàu khác như tàu vét mìn, tàu đổ bộ, tàu vận tải, tàu bệnh viện và tàu hỗ trợ thì hải quân Việt Cộng hiện có 122 chiếc tàu.  Với tổng số binh sĩ phục vụ là 50.000 người, lực lượng hải quân này được sếp thứ nhì Đông Nam Á, chỉ đứng sau hải quân Indonesia.
Hải quân Việt Cộng đang ở trong tình trạng phát triển mạnh.  Hà Nội mong nuốn xây dựng một hạm đội mạnh có khả năng buộc Bắc Kinh tự kiềm chế và từ bỏ tham vọng độc chiếm biển Đông. 
Hoa Kỳ có thể cho Việt Cộng vay tiền mua vũ khí
Sau khi tổng thống Mỹ Obama tuyên bố gỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, thì việc mua bán vũ khí giữa hai nước đã trở nên dễ dàng hơn trước nhiều.
Trước kia, khoảng 80% vũ khí trang bị của Việt Cộng có xuất xứ từ Nga.  Moscow dự kiến sẽ giữ được vị trí số một này nhưng gần đây một vài quốc gia Âu Châu và Israel đã bắt đầu xâm nhập vào thị trường.  Sau khi TT. Obama tuyên bố gỡ bỏ hoàn toàn việc cấm mua bán vũ khí sát thương thì Mỹ cũng đang tính toán làm một việc tương tự.
Washington hiện đang nhanh chóng hoàn tất công tác chuyển giao 6 tàu tuần tra cao tốc DEFIANT cho Việt Nam để giúp quản lý tốt hơn vùng biển thuộc chủ quyền.  Mỹ biết rằng trong năm 2017 Việt Cộng sẽ chi 1,6 tỷ USD cho lãnh vực mua xắm quốc phòng và một số vũ khí đã lọt vào tầm ngắm của Hà Nội 
Trên biển dường như Hà Nội đã chấm những máy bay chống ngầm O36.Orion của tập đoàn Lockheed Martin, nhưng Việt Cộng đồng thời cũng cần một khoản tiền trợ giúp để mua hàng. Nếu Hà Nội quyết định ký kết một hợp đồng mua bán vũ khí lớn thì việc chi  trả phí tổn có thể giải quyết bằng việc cho vay hoặc trả chậm trong thời gian.
Ngoài việc Lockheed Martin có thể bán chịu cho Hà Nội máy bay F16 thì nhiều hãng khác cũng có thể hành động tương tự như việc cung cấp cho Hà Nội 6 tàu tuần tra cao tốc DEFIANT như đã nói ở trên.  Việc mua bán này, tùy theo tình hình chiến lược trong khu vực sẽ được Hoa Kỳ dàn xếp nhanh chóng, chứ không còn là một việc khó giải quyết như xưa.
Hà Nội và cơ hội cần nắm bắt
Cộng sản Việt  Nam bắt buộc phải tài giảm bịnh bị giữa năm 1987 vì tình trạng kinh tế rơi vào thời kỳ nguy kịch.  Hà Nội phải tăng cường công tác binh vận để giữ vững tinh thần quân đội và giữ cho lòng dân không xao xuyến.
Tình trạng thiếu hụt ngân sách thường trực là nguyên do khiến cho Hà Nội không có đủ tài nguyên để mua xắm vũ khí quốc phòng cần thiết.  Hà nội không còn một đồng minh nào trên thế giới để có thể nhờ vả cũng không còn bạn bè thân thiết nào để vay mượn.
Năm 1995 Nhật Bản cho Hà nội vay 370 triệu USD với lãi xuất nhỏ.  Bắt đâu từ năm này, tình hình có vẻ khá hơn vả kinh tế cuùa Việt Nam tốt đẹp hơn.  Sau khi  bãi bỏ “cấm vận” năm 1995, Hoa Kỳ cũng bắt đầu tăng gia đầu tư vào Việt Nam và từ con số 0 đã nhanh chóng vượt lên hàng số 6 trong những nước làm ăn với Hà Nội.
Sau khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt, Washington nhiều lần cho thế giới biết rằng một trong những quan tâm an ninh chính yếu của Mỹ là giữ cho dầu hỏa được lưu thông tự do giữa những nơi tiêu thụ và những nơi sản xuất.
Cho đến nay sự vận chuyển dầu hỏa trên thế giới vẫn được thực hiện bằng đường thủy.  Có hai eo biển chính thức đợc coi là cửa ngõ của sự vận chyển này.  Thứ nhất, eo biển Dormuz là cửa ngõ phát xuất từ vịnh Ả Rập ra các nơi tiêu thụ nằm rải rác trên khắp mặt địa cầu.  Eo biển này được hải lực Mỹ bảo vệ để giữ vững lưu thông trong suốt thập kỷ  1980. 
Thứ hai, eo biến đặc biệt quan trọng là eo biến Malacca ở vùng Á Châu-Thái Bình Dương.   Eo biển này nằm giữa bán đảo Malay của Mã Lai Á và đảo Sumatra của Nam Dương.  Biển Đông là hải lộ thứ hai của thế giới và lúc nào cũng tấp nập tàu thuyền qua lại.
Khi Bắc Kinh cho Hoa Kỳ biết vào khoảng tháng 3/2010 là họ coi Biển Đông như vùng “quyền lợi cốt lõi” và công bố vào tháng 5/2010 bản đồ  hình “lưỡi bò” chín đoạn bao gồm 80% diện tích Biển Đông trong đó có eo biển Malacca thì Hoa Kỳ đánh giá đây là một thách thức nguy hiểm.  Biển Đông trở thành một vị trí thiết yếu trong “Chiến Lược An Ninh Mới” của Hoa Kỳ.
Hơn 60% khối lượng hàng chuyên chở bằng đường biển phải đi qua vùng này.  Trong khối lượng đó 90% là dầu lửa của Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản.  Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục lấn chiếm thì an ninh bị trực tiếp đe dọa và đó là một vấn đề không thế nào chấp nhận được.
Trước hành động thiếu trách nhiệm của Trung Quốc. Ngũ Giác Đài được lệnh nghiên cứu nghiêm chỉnh khả năng gây chiến của Bắc Kinh.  Sau một năm nghiên cứu báo cáo cho biết không lực Hoa Kỳ tại các đảo Guam và Okinawa vượt trội quá xa không lực của ban nước Trung Hoa, Nga và Triều Tiên gộp lại.  Kết luận là Trung Quốc chưa thể tiến hành chiến tranh với Hoa Kỳ. 
Báo cáo này trang bị tư tưởng cho ngoại trưởng Hillary Clinton và tại Diễn Đàn An Ninh Á Châu (ARF) họp tại Hà Nộ ngày 23/7/2010 bà tuyên bố : “Hoa Kỳ sẽ trở lại Á Châu.  Chủ quyền kinh tế trên biển chỉ có thể xác định dựa trên chủ quyền đã được xác nhận về đất và đảo”.  Với lời tuyên bố này, Hoa Kỳ chính thức phủ nhận đường “lưỡi bò” và bác bỏ chủ quyền của Bắc Kinh trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông thái độ và hành động của Trung Quốc được đánh giá là tham lam và vội vã.  Tham lam vì Trung Quốc đã đòi hỏi những gì không thể đòi hỏi được.  Vội vã vì Trung Quốc chưa đủ sức hậu thuẫn cho những đòi hỏi của mình để đi đến thành công,
Riêng đối với Việt Nam, việc Hoa Kỳ trử lại Á Châu đang mở ra một cơ hội mới để điều chỉnh chiến lược liên kết: nghĩa là muốn sinh tồn thì phải liên kết với kẻ mạnh, dù chỉ là liên kết giai đoạn.
Liên kết vơi kẻ mạnh giờ đây là liên kết với Hoa Kỳ và từ giã hàng ngũ xã hội chủ nghĩa tàn rụi của Bắc KInh.  Tình nghĩa đồng minh cộng sản đã thực sự chấm dứt.  Còn lại chỉ là tham vọng nấp sau chủ nghĩa bá quyền.
Nguyễn Cao Quyền
Tháng 2 năm 2017

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Quyền Lợi Quốc Gia & Mưu Đồ Múa Rối Biển Đông


VTT ZZMAR13. 12 vietnam bien dong
I. Thế Nào  Quyền Lợi Quốc Gia
Quyền lợi quốc gia đối chiếu với các thuật ngữ “National Interest” [Anh ngữ], “Intérêt National” và “Raison d’État” [Pháp ngữ].  Theo những quan điểm trên, quyền lợi quốc gia gồm [a] các quan tâm và tham vọng về mặt quyền lực quân sự, kinh tế, văn hoá [b] mà một quốc gia đôn đốc thành lợi ích cốt lõi, thành quốc sách hay định hướng căn bản.
Về mặt quốc sự, quyền lợi quốc gia thường có những thuật ngữ bổ túc, liên đới như quyền tự quyết, quyền bá chủ, an ninh quốc gia, bí mật quốc gia, bí mật quân sự, v.v.
Về mặt quốc gia sinh tồn, quyền lợi quốc gia thường phát xuất từ các nhu cầu phúc lợi, thịnh vượng, phát triển kinh tế, sáng tạo kỹ thuật, lãnh đạo tài chính, hiệp thương, v.v.
Về mặt văn hoá, quyền lợi quốc gia bao gồm những truyền thống tư tưởng, ý thức hệ chỉ đạo; những tập tục, tín ngưỡng làm mạch sống tinh thần của dân tộc hay của nhóm người lãnh đạo quốc gia. Trong lãnh vực này có thêm “quyền lực mềm” — Soft power do GS Joseph Nye của Đại học Harvard đề xướng.
Quyền lợi quốc gia, về mặt quốc tế công pháp, thường bầy tỏ sắc thái chính trị ngoại giao thực tiễn – Realpolitik,[1] đôn đốc quyền lực trong mọi giao dịch đối ngoại, nhất là khi có đối thủ/thù địch rõ rệt.
1. Quyền Lợi Quốc gia của Hoa Kỳ
Vì quyền lợi quốc gia đặt trên căn bản phát triển kinh tế, xã hội  song song với hệ thống bảo vệ an ninh, quốc phòng, nên Hoa Kỳ ngay từ Đệ Nhị Thế Chiến thường đôn đốc phát triển liên hợp tài chính quân sự kỹ nghệ [financial military industrial complex],[2] sẵn sàng nuôi dưỡng các đại cơ sở chiến lược về quốc phòng[3] và năng lượng[4] như BAE Systems, Lockheed Martin, Boeing, Northrop Grumman, General Dynamics, Raytheon, EADS, Halliburton, v.v. với tác dụng hỗ trợ Quốc Phòng Pentagon và mọi khía cạnh an ninh quốc gia.
Thật vậy, từ chiến lược phòng thủ an ninh hoà bình của Hoa Kỳ thường xuất phát song hành hiện tượng hợp lý hoá xung đột[5] bằng chiến tranh lạnh với chiến lược kiềm chế/be bờ,[6] như chiến tranh lạnh,[7] chiến tranh khu vực,[8] và gần đây chiến lược hỗ trợ các cuộc Nổi Dậy Ả Rập.[9] 
Về mặt nổi/chính trị/ý thức hệ/, Hoa Kỳ luôn luôn đôn đốc lý tưởng dân chủ tự do, bảo trọng nhân quyền và sự thịnh vượng chung trên toàn cầu, nên sẵn sàng ra tay phát triển các quốc gia kém mở mang, cứu độ các dân tộc nạn nhân của bạo quyền Phát Xít, Cộng Sản quốc tế, hoặc phòng ngừa viễn tượng chiến tranh đề phòng [10] khủng bố phá hoại [preventive war] do các nhóm phiệt Ả Rập cuồng tín Taliban, al-Qaeda v.v. gây biến tại New York, Virginia-Washington, DC, Pensylvania[11] và trên khắp thế giới.
Về mặt đáy, Hoa Kỳ ứng dụng lý do tồn tại[12] của quyền lợi quốc gia theo yêu sách của tổ hợp tài chính quân sự kỹ nghệ, song song với nhu cầu phát triển quốc gia, thêm phương tiện nuôi dân Hợp Chúng Quốc.
Theo chiều hướng đó, nhà sách lược, nguyên Cố vấn An ninh, nguyên Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Condoleezza Rice đã ghi nhận trong bài tham luận, “Promoting the national interest,” Foreign Affairs Jan/Feb 2000, Volume 79, Issue 1: 
With no Soviet threat, America has found it exceedingly difficult to define its “national interest.” Foreign policy in a Republican administration should refocus the country on key priorities: building a military ready to ensure American power, coping with rogue regimes, and managing Beijing and Moscow. Above all, the next president must be comfortable with America’s special role as the world’s leader… 
[lược dịch: không có nguy cơ Nga Xô, Hoà Kỳ khó định nghĩa rõ “quyền lợi quốc gia” của mình.  Ngành ngoại giao Hoa Kỳ của chính phủ Cộng Hoà nên đặt trọng tâm vào những ưu tiên chỉ đạo như sau: cập nhật hoá thế lực quân sự để  đương đầu với các chính thể gian giảo và cầm chừng Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh.  Nhất thiết, Tổng Thống kế vị (George W. Bush, LNĐ chú thích) phải thích nghi với vai trò lãnh đạo thế giới…] 
Cũng vì quyền lợi quốc gia, Hoa kỳ đã đôn đốc Chiến lược xoay trục về Á Châu-Thái Bình Dương thành một vòng vây từ Đông Bắc Á qua Ấn Độ Dương:
  • Tại Hội nghị Đối Thoại Shangri-La đầu tháng 6/2012 tổ chức tại Singapore, Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, ông Leon Panetta cho biết Mỹ sẽ khai triển 60% lực lượng hải quân về khu vực nầy. Vai trò chính yếu của chiến lược xoay trục là Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương với hai hạm đội 7 và hạm đội 3 cùng với những căn cứ quân sự của Mỹ trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương đảm trách.
  • Cũng trong năm 2012, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại một cuộc họp của các nhà ngoại giao ở Washington phát biểu rằng: chiến lược hướng về Á Châu-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ sẽ là ưu tiên hàng đầu khi Hoa Thịnh Đốn ra khỏi một thập niên thực hiện các nỗ lực quân sự ở Iraq và Afghanistan.Từ đó, thế giới chứng kiến sự trổi dậy mạnh mẽ, liên tục từ kinh tế đến quân sự trong hai thập niên của Trung Cộng. Hoa Kỳ không thể không biết đến điều đó và chiến lược xoay trục không nằm ngoài mục đích trước hết bảo vệ, củng cố quyền lợi của mình cũng như của các đồng minh thân cận nơi đây, sau nữa ngăn chận tham vọng bành trướng và làm chủ Biển Đông của Trung Cộng.
2. Quyền Lợi Quốc gia của Trung Quốc
Đối với Trung Quốc, một siêu cường quốc hạng nhì đang nhô lên, quyền lợi quốc gia là tham vọng phát triển một nền kinh tế ồ ạt, nhiều lượng, ít phẩm, cốt để cầm hơi cho hơn một tỷ 3 trăm triệu dân tạp chủng Hán, Thanh, Mông Cổ, Hồi, Tây Tạng, nhưng thật ra là để củng cố Đảng cộng phỉ đương cuộc. 
Quyền lợi quốc gia khi đôn đốc quá mức, nhất là khi tập trung trong tay đại cường quốc tham lam, bất chính như Cộng sản Trung Quốc, dễ chuyển thế thành bá quyền thống trị dưới hình thức tân đế quốc nhằm:
  • “thuộc địa hoá” những khu vực kém mở mang tại Phi Châu, Trung Đông, Nam Mỹ, Đông Nam Á, cốt để trục lợi và làm giầu cấp tốc, không đếm xỉa tới tình trạng phá sản, xuống cấp nơi khai thác.
  • lấn ranh, mua rừng, khai thác quặng Bauxite với giá rẻ mạt của Việt Nam;
  • xây đập thủy điện trên sông Lan Thương (tên Trung Hoa của sông Mékong), “lợi bất cập hại”– ảnh hưởng đến giao thông hàng hải, thủy lợi, bất chấp mọi phá phách thủy lộ, ô nhiễm môi sinh nơi dòng dưới, tức Mékong [Mae Nam Khong], tại Lào, Thái Lan, Kampuchia và dòng Cửu Long, tại Nam Việt;
  • cũng như đã tìm cách phóng đường tầu cao tốc Đông Phương nối Thượng Hải, Nam Kinh với Malaysia, Singapore, mà không ngần ngại lấn đất Myanmar [Miễn Điện], Lào, Kampuchia, Thái Lan. Dân làng Bopiat, Boten, miền bắc nước Lào là những nạn nhân đầu tiên của chương trình phóng đường sắt, khi công trình này phá ấp, cắt làng cốt để thực hiện quyền lợi khai mở mạch sống thăng cấp của Trung Quốc. 
2014 MAY 9 HẢI QUÂN CSTQ 300
II. Múa Rối Biển Đông Song Cực
Trên đất liền, Trung Quốc sẵn sàng lấn át, xâm nhập dù chưa minh thị xoá bỏ ranh giới giữa các quốc gia lân cận, như họ từng làm với Mông Cổ và Tây Tạng.  Dù sao, Chu Ân Lai đã từng thổ lộ: “Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong đảng Lao Động Việt Nam mở cho một con đường xuống Đông Nam Á”. 
Nhưng tham vọng trường kỳ của Trung Quốc thực sự là độc chiếm Biển Đông mà thuật ngữ của họ chỉ định là Nam Trung Quốc Hải (南中國海), hay gọi tắt là Nam Hải (南海), vì đối với Trung Quốc mặt biển đó là thủy lộ giao thông hàng hải, khai thác hải sản và bề thế chiến lược quân sự; còn đáy biển và thềm lục địa là cơ sở khai thác tài nguyên thiên nhiên, dầu hoả và khí đốt mà nhu cầu tân trang trong nước và nền kỹ nghệ cấp tốc của họ đang đòi hỏi.  Do đó, Trung Quốc thường tuyên bố lợi ích của họ ở Biển Đông là một trong những “lợi ích cốt lõi”.
1. Thủ Đoạn Xâm Chiếm Biển Đông 
Từ năm 1946, Trung Quốc liên tục mưu đồ chiếm đoạt Biển Đông qua nhiều giai đoạn và hình thức tranh giành khác nhau:
  • Tháng 12-1946, Tưởng Giới Thạch cử binh sĩ ra “giải giới quân đội Nhật” tại Hoàng Sa và Trường Sa, theo sự thỏa thuận của các nước đồng minh chống Nhật.
  • Nhân dip này, một số nhà địa lý và sử học gia Trung Hoa cùng nhau phác họa thủy đồ “11 đoạn”, in ấn vào tháng 10, năm 1947.  Sau khi lên nắm chính quyền, Chính phủ Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa [CSTQ] đã phê duyệt bản thủy lộ này dưới hình thức “đường 9 đoạn” vào năm 1953, trong khi quân đội của Tưởng Giới Thạch đã rút khỏi đảo Phú Lâm. Đó là nguồn gốc của cái gọi là “đường lưỡi bò” lấn át toàn cõi Biển Đông.
  • Hai năm sau Hiệp Định Genève [1954], khi Quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương [1956] Việt Nam Cộng Hòa nhận lãnh quyền quản trị các đảo phía tây của Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.  Do đó công hàm do Thủ tướng CS Phạm Văn Đồng ký vào ngày 14 tháng 9 năm 1958, để trả nợ viện trợ quân sự TQ thời đánh chiếm Điện Biên Phủ, là vô hiệu, vô giá trị, vì chính phủ ông ta không có thẩm quyền lãnh thổ để công nhận lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý, áp dụng cho cả Quần đảo Tây Sa (Xisha/QĐ Hoàng Sa/ParacelIslands] và Quần đảo Nam Sa (Nansha/Quần đảo Trường Sa/Spratly Islands, vốn nằm phía nam vĩ tuyến 17. 
  • Trong những ngày 17/1-20/1/1974, Trung Quốc xua lực lượng hải quân tới chiếm các đảo thuộc phía tây quần đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam Cộng Hoà. Tàu chiến Hoa Kỳ có mặt ngoài khơi đã làm ngơ cho Trung Quốc hành động, lấy cớ Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ký Thông cáo chung Thượng Hải năm 1972, và sau đó Hoà Đàm Paris, 1973.
  • Trung Quốc vẫn tùy tiện đánh chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa do Việt Nam kiểm soát, và đột ngột chiếm đóng đá Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Ga Ven, đá Gạc Ma, đá Su Bi trong tháng 4, 1988.  Nhưng mãi tới tháng 2, 1995, Trung Quốc mới thực sự chiếm cứ toàn quần đảo Trường Sa.
  • Bắc Kinh chính thức hóa thủy đồ hình chữ U, khi nhà cầm quyền này đưa bản đồ đường 9 đoạn hình lưỡi bò vào văn kiện gửi Ủy ban Liên hợp quốc về thềm lục địa mở rộng, ngày 7 tháng 5, 2009.
  • Ngày 26/5/2011, 3 tàu Hải giám của Trung Quốc thực hiện một vụ gây hấn trắng trợn khi cắt đứt cáp thu địa chấn của tầu Binh Minh 02 đang hoạt động cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên), nằm trong vùng vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
  • Từ ngày 8/4 đến 18/6/2012, diễn ra cuộc đối đầu tại vùng bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham giữa Trung Quốc với Philippines.
  • Ngày 21/6/2012, Trung Quốc thành lập “thành phố Tam Sa” (thuộc Hoàng Sa – Việt Nam) và Khu cảnh bị, nhằm thiết lập cứ điểm tại Biển Đông để kiểm soát Biển Đông. Việc thành lập “thành phố Tam Sa” và Khu cảnh bị Tam Sa là bước phát triển mới của chiến lược bá quyền Biển Đông của Trung Quốc. Tam Sa mở đầu giai đoạn mới Trung Quốc tranh đoạt Biển Đông, tích cực tranh chấp, tích cực khai thác, tạo ra những xung đột lợi ích ngày càng gay gắt với các nước trong khu liên hệ.
  • Việc 6 triệu hộ chiếu mới của TQ được in hình bản đồ “đường lưỡi bò” gặp phải sự phản đối của nhiều quốc gia trên thế giới vì bản đồ “đường lưỡi bò” được in trong hộ chiếu mới, vi phạm chủ quyền các quốc gia trong khu Đông Nam Á.
     
  • Đối với Việt Nam, Trung Quốc vẫn chủ trương tranh chấp mạnh ngoài Biển Đông, vì họ biết rõ lãnh tụ CSVN sẵn sàng nhượng bộ — “thà mất nước, chứ không mất đảng.” Do đó, từ đầu tháng 5 năm 2014, Trung Quốc mạnh bạo chỉ thị Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) đặt giàn khoan Hải Dương 981 (HD 981) trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý thuộc chủ quyền Việt Nam, với sự yểm trợ của hải quân và không quân.
2014 MAY 10 GIAN KHOANvi-tri-gian-khoan-5204-1399250749.jpg
gian-khoan-5529-1399257886.jpg
Vị trí giàn khoan (chấm đen vuông) mà Trung Quốc đặt trái phép trên vùng biển Việt Nam. Ảnh: PVN
  • Trong năm 2015, Trung Quốc ráo riết bồi đắp và quân sự hóa bốn đảo Đá Chữ Chập (Fiery Cross Reef), Đá Subi (Subi Reef), Đá Vành Khăn (Mischief Reef) và đá Gạc Ma (Johnson’s Reef). 
Hiện Trung Quốc đang tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng các đảo nhân tạo trên.  Trung Quốc khi bồi đắp đảo nhân tạo tại Trường Sa, nhằm khẳng định chủ quyền ở Biển Đông đã nạo vét, bồi đắp các đảo để xây trên đó các đường băng, đồn bốt và cả những thị trấn nhỏ, đã gây nguy hại cho các hệ sinh thái biển.  Hoạt động quân sự của Trung Quốc trên Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa khiến Mỹ có lý khi không chấp nhận hoạt động trái luật quốc tế này. 
Theo luật biển quốc tế, một quốc gia có chủ quyền với các bãi đá tự nhiên được phép quản lý vùng hải phận 12 hải lý quanh các bãi đá này. Ngoài ra, các bãi chìm ở giữa đại dương không đủ điều kiện để tuyên bố bất cứ chủ quyền biển nào. Do đó, các đảo nhân tạo và đồn bốt cũng không đủ điều kiện để xác định chủ quyền trên biển hay quyền chủ quyền theo luật pháp quốc tế mặc dù chủ sở hữu các thực thể này vẫn có thể duy trì vùng quản lý lưu thông tàu thuyền trong phạm vi 500 m để đảm bảo an toàn hàng hải. 
Trong ngày 27 tháng 10, năm 2015, khu trục hạm mang tên USS Lassen của hải quân Mỹ có trang bị tên lửa dẫn đường đã tiến vào khu vực 12 hải lý xung quanh hai bãi đá Subi và Vành Khăn, nơi Trung Quốc cho bồi đắp thành các đảo nhân tạo trong thời gian qua. Dù Hoa Kỳ khẳng định việc tàu USS Lassen tuần tra quần đảo Trường Sa hôm 27 tháng 10 vừa qua là một phần của của hoạt động tự do hàng hải, tuân thủ luật pháp và thông lệ quốc tế, nhưng nhiều nhà quan sát cho rằng hành động mới này của nước Mỹ là nhằm thách thức Trung Quốc, nước đơn phương tuyên bố chủ quyền của mình đến 90% diện tích biển Đông.
2. Kỹ Thuật Xâm Lăng: Xả Láng trong Khu Vực; Tháu Cáy & Mặc Cả Song Phương giữa hai Siêu Cường Quốc
Xả Láng
Từ nhu cầu tìm dưỡng khí sinh tồn tới xả láng, lộng hành phóng đại “lưỡi bò” liếm láp toàn khu vực Đông Nam Á, cụ thể là việc điều động các tầu hải quân đến hăm doạ các nước trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông, hay ngoan cố há miệng rồng nuốt chửng vô tội vạ những cọc mốc ranh giới, rừng già, đất đỏ bauxite, đất làng của những người đàn em thấp kém, quỵ luỵ, thì “quyền lợi quốc gia” theo xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc hoàn toàn bất chính, chẳng khác gì thủ đoạn cướp bóc, thổ phỉ của lũ cướp cạn, phường hải tặc.
Tại khu vực Đông Nam Á, tuy Trung Quốc chưa lộ liễu chiếm đoạt các nước láng giềng dưới hình thức “thuộc địa”, nhưng sẵn sàng thu hút các tiểu quốc này thành các “tỉnh tự trị” trong cộng đồng thịnh vượng Trung Hoa, dưới sự quản trị và bảo trợ kinh tài của họ.  Hơn nửa thế kỷ nay, CSVN thu gọn trong vòng kiểm toả chính trị và kiểm soát kinh tài đó, như một sao ảnh thu gọn, hay dấu ấn mực đỏ của cơ sở Hán Cộng.  Lào, Kampuchia chỉ là những cửa ngõ phóng lộ xuyên Nam.  Kể cả Thái Lan cũng sẵn sàng chia sẻ cơ hội ăn có với Hán Cộng.
Tháu Cáy
Vậy hiện tượng Trung Cộng lũng đoạn thế lực chính trị kinh tài trong khu vực không nhằm đối tác với các tiểu quốc giáp ranh, mà thật ra là để chuẩn bị đương đầu với Hoa Kỳ, vốn là đương kim đệ nhất đại cường quốc, trong giai đoạn khai triển ảnh hưởng bá chủ và thi thố thống trị Đông Nam Á và có thể cả toàn cầu trong tương lai.
Thật rõ ràng, từ đầu thế kỷ 21, trên đấu trường kinh tài khai thác toàn cầu, Hoa Kỳ và Trung Quốc duy trì một thế lực độc quyền nhị cực [bipolar Oligopoly].[13]  Cả thế giới, trong đó có Đông Nam Á, đang tùy thuộc vào cung cách quản trị tài lực lẫn kỹ thuật sản xuất và phân phối nhu yếu phẩm dưới chướng của hai “đầu nậu” siêu đẳng này: một thương gia chuyên cẩn, lý tài [Hoa-Kỳ] và một gian thương ma mãnh, bất nhân [Trung Quốc].
Vậy hành động của Trung Quốc nhằm lũng đoạn Đông Nam Á về mặt ảnh hưởng và chiếm đoạt cơ sở trục lợi môi trường trên đất liền cũng như nơi Biển Đông và thềm lục địa có tác dụng
[a] thách đố và thử lửa/trắc nghiệm Hoa Kỳ mà Trung Quốc coi là đối thủ đáng kể trong cuộc chạy đua giành giật quyền lợi; 
[b] nên đã lớn tiếng công khai vạch làn ranh của quyền lợi cốt lõi mà Trung Quốc muốn chấp hữu và rao hàng từ Nam Hải (南海), tức Biển Đông.
Ngày 23/11/2013, Trung Quốc đơn phương tuyên bố thiết lập “Vùng Nhận Dạng Phòng Không” (Air Defense Identification Zone, viết tắt ADIZ)[14] trùng lấp lên không phận của Nhật Bản và Nam Hàn khiến Hoa Kỳ phải đưa pháo đài bay B-52 bay qua đây để phản đối hành động nguy hiểm này và đồng thời hỗ trợ tinh thần cho đồng minh.  Trong năm 2014, việc Trung Quốc chỉ thị Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) đặt giàn khoan Hải Dương 981 (HD 981) trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam cũng cùng ý đồ thách đố và thử lửa Hoa Kỳ, đồng thời coi thường phản ứng nèn nhát của đàn em CSVN.
Như đã trình bày trước đây, trong năm 2015, Trung Quốc ráo riết bồi đắp và quân sự hóa bốn đảo Đá Chữ Chập (Fiery Cross Reef), Đá Subi (Subi Reef), Đá Vành Khăn (Mischief Reef) và đá Gạc Ma (Johnson’s Reef), cũng chỉ là một hành vị tháu cáy đơn phương tuyên bố chủ quyền của mình tại biển Đông. 
Mặc Cả Chày Cối
Do đó cách vơ vét quyền lợi và thế lực lố lăng của Trung Quốc trong cuộc thi đua kiểm soát lãnh thổ và lãnh hải tại Đông Nam Á:  
[a] khởi đầu bằng cách chơi xả láng, làm chuyện “đã rồi”;
[b] kế đến là tháu cáy, rêu rao với đối tác có “máu mặt” [Hoa Kỳ] để đòi hỏi tối đa, yêu sách tới tận cùng; 
[c] mong sau này đạt thế “thượng phong” trong việc mặc cả, cao tay chia chác với độc thủ Hoa Kỳ. 
Đó là thủ đoạn “ăn thua đủ” trong canh bạc bát nháo tại Đông Nam Á.
III. Lợi và Hại Của Cuộc Thi Thố Thế Lực Viễn Biên
Ngắn Hạn: Những Gì Hiển Nhiên Trước Mắt
Đối với Trung Quốc, cuộc chạy đua phô trương lực lượng viễn chinh trên lãnh thổ và lãnh hải chấp hữu ngoài biên cương có nhiều điểm lợi tức thì. 
Trước tiên là cung cấp ngay một số công ăn việc làm theo diện xuất cảnh lao động bằng bạo lực quân sự hay đặc nhiệm kinh tài, khai thác viễn biên.
Việc đầu tư cơ sở và nhân lực biệt phái tại các địa điểm kinh doanh tân tạo hay các khu chiến thuật mới chiếm cứ có tác dụng giải toà áp lực nhân dân chống đối tại Trung Quốc, khi tác động viễn chinh khai khẩn, hứa hẹn phát triển bề thế sinh tồn cũng đòi hỏi sự gia tăng của áp lực an ninh quân phiệt trong nước. Chế độ cộng sản nhờ vậy bớt lo lắng, được thể tự vệ, câu giờ củng cố đảng vụ.
Song song, Hoa Kỳ cũng bắt đầu e ngại Trung Quốc, tìm cách về lại Châu Á một mặt để be bờ, kiềm chế Trung Quóc, mỗi lúc lộ diện vong ân, bất nghĩa, bất tín; mắt khác cũng để tái đầu tư hay phát động lại cơ sở và ảnh hưởng kinh tài tại Châu Á, vốn nhiều đặc sản và cũng là môi trường hứa hẹn tiêu thụ mà Hoa Kỳ đã ngoảnh mặt bỏ lỡ cơ hội khai khẩn trước đây, để hoà hoãn với Nga Hoa, sau Hiệp Định Paris, 1973.
Riêng việc Tổng Thống Obama và Ngoại Trưởng Clinton úp mở cảnh cáo Trung Quốc hay công khai tuyên bố “Thế kỷ 21 là thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ”[15] cũng phần nào gây lại niềm tin cho các đồng minh trong khu vực và sự phấn khởi tại Hoa Kỳ, với triển vọng khôi phục nền kinh tế đang suy thoái. TT Obama được tái đắc cử cũng nhờ vào việc định hướng đầu tư làm nhà buôn súng đạn, quân nhu, chiến cụ, hay kỹ thuật tiền phong cho vùng Châu Á-Thái Bình Dương, thay vì làm cảnh sát dã chiến tại Trung Đông.
Cái “Hại” tức thì trong khu vực là mấy tiểu quốc, dẫn đầu là Việt Nam, rồi Lào, Kampuchia [Cao Mên] trở thành những con vật thí mạng cùi cho các phòng thí nghiệm nóng, chỗ tham lam, chỗ gian lận, nhưng cùng một lò độc đoán vị kỷ: có khi nào các nhà bác học hỏi ý mấy con chuột chù, con ễng ương, ếch nhái, con khỉ đỏ đít cảm tưởng ra sao, mong muốn gì trước khi “bị” đem vào phòng thí nghiệm, mổ bụng, xẻ đầu, bẻ tay, cưa chân?  Việt Nam, Lào, Kampuchia từng bị xẻ thân, cướp hồn như vậy, từ thế hệ này sang thế hệ khác, cũng chỉ vì ở chung cái thế “chiến-lược-địa-độc”— cái địa thế chính trị/géopolitique[16] khốn đốn, cái ngã tư bão tố, hưởng ít, chịu nhiều — nơi mà lãnh tụ địa phương thì hèn hạ; đầu đảng cầm quyền thì phục tùng ngoại bang để cố vị chia lời; dân thì miệt mài chịu đựng tới độ ù lì, vô cảm, vì chán nản, vì bất lực.
Trung Hạn: Những Gì Ắt Phải Xẩy Ra
Tác phong bát nháo, kiêu căng của Trung Quốc dần dà đã làm các quốc gia trong khu vực bắt đầu tỏ thái độ bất bình, lo ngại:  
  1. Dưới sự quan sát và thế trợ lực của Hoa Kỳ, Philippines khẳng định lập trường cứng rắn với Trung Quốc: [a] tố cáo tàu và trạm “canh gác” của Trung Quốc xâm nhập lãnh hải tại vùng bãi cạn Scarborough;[b] chính thức đổi tên vùng biển tranh chấp với Trung Quốc là Biển Tây Philippines. Nhưng trong năm 2016, tân Tổng Thống Philippines, Rodrigo Duterte không tiếp tục tuyến đầu với Trung Quốc vì thấy “ít có lợi hơn” trong xung đột với Trung Quốc về Biển Đông.
  2. Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa đã khẳng định loại hộ chiếu mới của Trung Quốc in chìm hình bản đồ với đường 9 đoạn bao gồm các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông là “xảo trá” và “phản tác dụng”. Philippines và cả Việt Nam cũng đã quyết định không đóng dấu thị thực vào quyển hộ chiếu mới của Trung Quốc, bên trong có in tấm bản đồ lưỡi bò khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh trên hầu như toàn bộ vùng Biển Đông.
  3. Chính quyền cứng rắn của tân thủ tướng Nhật Shinzo Abe  đang tăng cường bảo đảm an ninh vùng biển quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Nhật Bản thấy họ phải chọn con đường tự bảo vệ. Các tàu chở dầu của Nhật Bản có thể cải biến thành mẫu hạm nhanh chóng, đội ngũ nhân sự cấp sĩ quan lái thương thuyền và hàng không dân sự được huấn luyện như các sĩ quan Hải quân và Không quân.  Một Nhật Bản ra khỏi ràng buộc của bản Hiến Pháp “hòa bình”, nếu được tái võ trang, sẽ giúp làm cho các đụng chạm giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ bớt nảy lửa.  Chính sách Hoa Kỳ chuyển hướng về Á châu không có nghĩa là chuyển một ít quân đến Úc châu, đưa 60% hạm đội đến Tây Thái Bình Dương mà chính yếu là thay đổi cách nhìn chiến lược trong đó Nhật Bản cần được xem là một yếu tố tích cực chứ không phải là một con cờ nép bóng dưới sự che chở của Hoa Kỳ.
  4. Nhật Bản cũng sẵn sàng trợ giúp Miến Điện nhằm mục đích kềm hãm ảnh hưởng của Trung Quốc. Việc Tokyo hỗ trợ Miến Điện có thể đóng một vai trò tích cực trong việc hậu thuẫn cho sự thay đổi chiến lược của Mỹ, đó là dân chủ hóa và phát triển kinh tế của Miến Điện. Vào cuối năm ngoái, ông Barack Obama đã trở thành tổng thống Mỹ đương nhiệm đầu tiên đi thăm Miến Điện, một dấu hiệu chứng tỏ sự khôi phục uy tín đáng kể của nước này trên trường quốc tế, và chính sách chuyển trục sang châu Á của Washington.
  5. Hải quân Ấn Ðộ cũng sẽ bảo vệ các nỗ lực dò tìm dầu khí với Việt Nam tại Biển Đông, chống những hành động hiếu chiến của Trung Quốc. Trung Quốc hiện đại hóa lực lượng hải quân, đã làm tăng những quan ngại của Ấn Ðộ, và như tất cả các thế lực hải quân khác trong khu vực, Ấn Ðộ đang chuẩn bị để đối phó với tình huống xấu nhất.Thái độ hiếu chiến của Bắc Kinh trong nỗ lực theo đuổi các đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông sẽ buộc Ấn Ðộ phải hợp tác chặt chẽ hơn với Việt Nam và Philippines, gián tiếp với Hoa Kỳ.Trong những năm tới đây, sự kình địch này tiếp tục tiến triển theo hướng gia tăng hay giảm dần sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới các hệ quả từ chiến lược hướng Á của Mỹ và cấu trúc cân bằng mới tại châu Á. Quan hệ đồng minh với Washington do vậy có thể coi là điều tự nhiên đối với Delhi, nhưng Ấn Độ vẫn phải tránh khiêu khích không cần thiết với Bắc Kinh.
Vô hình chung, tác phong gây hấn của Trung Quốc dần dà đã đẩy các quốc gia trong khu vực nghiêng về phía Hoa Kỳ, mỗi lúc trở thành quốc gia đồng minh khả vọng, có thể trông mong được.
Ngoài ra, thái độ kiêu binh của Trung Quốc đã giúp Hoa Kỳ lấy cớ đẩy mạnh chương trình tân trang vũ khí và quân bị, tạo dựng thêm chiến hạm, chiến thuyền loại giáp chiến biệt kích [Littoral Special Operation Combat], thường được dùng để chuyển quân biệt kích Navy SEALs trong những cuộc giáp chiến ven bờ biển.  Đó là dịp may giúp chính phủ Hoa Kỳ có cơ hội nuôi dưỡng các đại cơ sở chiến lược về quốc phòng, như trình bầy phía trên.
Ngoài ra còn cho thấy thế bá chủ của Trung Quốc và Hoa Kỳ tại Đông Nam Á và Thái Bình Dương không thể thực hiện dưới dạng độc quyền nhị cực [G2-bipolar Oligopoly] như các siêu cường quốc mong muốn, mà phải chuyển thành thế tam cực [G3-TQ/HK/Ấn], hay tứ cực [G4-TQ/HK/Ấn/Nhật] hay tốt hơn cả là thế Đa Cực liên hệ tới khu vực, trong đó ít ra phải có vai trò tích cực của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)[17] và các quộc gia liên đới để thực sự ứng dụng thuật “Mặc Cả Đa Phương”[18] trong canh bạc sinh tồn và thịnh vượng toàn cầu, nay tập trung tại Châu Á.
Dài Hạn: Theo Tiến Hoá Tự Do, Công Bằng Nhân Bản
Canh bạc ngày nay có phần khác với mãnh lực chủ nghĩa Đế Quốc Trọng Thương của những thế kỷ trước khi chính sách bá chủ kinh tế thu lời một chiều đã dần dà chuyển nhượng tới chính sách đa phương hưởng lợi, giữa những đối tác có quyền lợi liên hệ, như định lý “phải trả lại cho César những gì thuộc về César”:[19] Bênh vực quyền lợi theo định hướng phát triển toàn cầu là cần thiết, nhưng vị trí khu vực và dân tộc chủ nghĩa vẫn là bàn đạp, là giải đáp cho mọi vấn nạn, cũng như mọi hy vọng cấu tạo phát triển tương xứng liên quan tới khu vực và quốc gia quy định.
Do đó chúng ta cần rõ hiện tượng thuần kinh tế không còn đơn giản, biệt lập, mà cần sự hỗ trợ của áp lực chính trị từ những thành phần đối tác, dù nhỏ nhoi, nhưng vẫn là những thành tố chiến lược và chiến thuật “bất khả ly”: bàn tay năm ngón, thiếu ngón nào, cũng chênh lệch “nắm tay”, cũng làm suy giảm bề thế toàn diện của công thức, của hiệu lực hữu dụng chung.
Thuật “Mặc Cả Đa Phương” sẽ đưa tới định lý “Cân Bằng Nash” [Nash Equilibrium].[20] Theo Nash, qua sự lựa chọn của chiến lược hỗn hợp mà kết quả cho mỗi người chơi [đối tác tranh chấp] là các giá trị kỳ vọng lớn nhất có thể ứng với chiến lược hỗn hợp của các người chơi khác, thì các quốc gia trong cuộc tranh chấp về Biển Đông phải áp dụng chiến thuật sao cho sự lựa chọn là tối ưu nhất, để đạt tới một thế cân bằng khả chấp: khi thiếu một bước là thiệt, thêm một bước là “hố“ và mất cả.  Sự tính toán thông minh đặt ở chỗ biết tới, biết yêu sách, mặc cả hữu hiệu và biết ngưng đúng lúc, đúng mức cần thiết cho mình, một cách thực tế. 
Căn cứ vào trò chơi “mặc cả” kinh bang tế thế khu vực một cách thông minh có hứa hẹn một giải pháp cân bằng theo định lý Nash, thì hiểm hoạ chiến tranh giữa các siêu cường quốc và các đồng minh liên hệ sẽ không xẩy ra.  Nếu các tiểu quốc cũng thông minh biết dựa lưng đúng chỗ, thì cũng thoát cảnh “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi không chết, cũng bị thương”.
Sau cuộc thi đua vũ khí thời chiến tranh lạnh, Nga Xô đã phải gác kiếm, khép xưởng ý thức hệ chủ trương bom đạn trường kỳ, để về lại cuộc sống bình thường của con gấu[21] sở thú hay của gánh “xiếc” làng. 
Nay cuộc thi thố quyền lực của Trung Quốc tới mức bá quyền hung hăng con bọ xít không thể tự nó trở thành cơn gió tụ phấn kết hoa, đem lại mùa gặt hái đáng kể. Mà chỉ là những cuồng phong phá phách làng xóm, phương hại tới môi trường sinh sống của khu vực, của toàn cầu. Vây, kỹ thuật thống trị và mưu đồ xâm lăng Hán cộng có triển vọng phá sản khi [a] dân chúng tự loạn, biên cương tự tan; [b] ngân hàng, bất động sản tự đổ; [c] xe cộ tự móp, máy bay tự rớt; [d] tàu hoả tự đâm, tàu bè tự chìm; [e] sản phẩm kỹ nghệ, hàng hoá tiêu thụ, thực phẩm, thuốc men tự phế thải… Lúc đó, chế độ Trung Cộng sẵn sàng tự nổ, tự hủy, nhường chỗ cho thế quân bình quyền lực[22] và sinh hoạt dân chủ đa nguyên,[23] trọng sinh và pháp trị. 
Lúc đó, hoà bình, thịnh vượng mới thực sự khai triển một cách tự nhiên, quân bình, toàn diện tại Đông Nam Á và từ đó ảnh hưởng mỹ mãn tới đà tiến hoá công bằng nhân bản toàn cầu.
IV. Kết Luận
Biển Ðông là điểm nóng chiến lược tại Đông Nam Á, một mặt đòi hỏi sự đoàn kết khu vực để tự bảo vệ trước mọi mưu toan xâm lược thôn tính của bá quyền Trung Cộng, mặt khác đốc thúc hội nhập cộng đồng pháp trị toàn cầu để thực thi công bằng quốc tế, theo định hướng kết sinh hoà bình thịnh vượng, trên căn bản dân chủ tự do chân chính.
Để đối phó với thế lực bá chủ thôn tính của Trung Cộng, các quốc gia lâm nạn hay thất thế có những biện pháp nào để giải toả áp lực xâm lược một cách hiện hữu?
Trước hết, về mặt căn bản quốc tế công pháp, mỗi quốc gia đều có chủ quyền ngang nhau trong cộng đồng thế giới đa dạng; đều có chính nghĩa bảo trọng quyền lợi quốc gia mình một cách tương xứng, đúng mức, nhờ đó thực hiện công bằng quốc tế.
Vậy trước hanh vi xâm lược của Trung Quốc chủ trương thu nhập toàn cõi hải phận đang tranh chấp, các quốc gia giáp biển phải thực hiện một số biện pháp đối tác như sau:
1. Các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á cần dấn thân hội nhập trong thế liên đới hỗ trợ phát triển và sinh tồn, vừa để thực hiện quyền lợi quốc gia mỗi bên, vừa để bảo trọng quyền lợi chung của toàn khu Đông Nam Á.  Đây là cơ hội thuận lợi để các quốc gia thành viên của ASEAN [a] thực thi sứ mạng [b] và cập nhật hoá trách nhiệm tự vệ [c] của Tổ chức.
2. Khai triển sứ mạng của tổ chức ASEAN, cần củng cố liên minh khu vực, từ ngoại giao tới an ninh khu vực, nhằm hợp lực ngăn cản tức khắc chiến lược “tằm ăn dâu” của Trung Quốc.  Nếu để quá lâu, hiện trạng lằng nhằng giây mơ rễ má này sẽ trở thành một thực trạng chấp hữu chẳng đặng đừng, khi hành vi quấy nhiễu, liên tục chiếm đoạt, độc quyền vây biển, lấn đất, lấn đảo đã kết đủ cơ sở và hiệu lực.
3. Khước từ mọi cuộc thảo luận song phương giàn xếp chia chác tay đôi, vì hành động xé lẻ như vậy sẽ vô cùng bất lợi, đồng thời mặc nhiêm công nhân vị trí chủ thể của Trung Quốc.  Mọi thảo luận trên phải có tính cách đa phương, thực hiện theo diện liên đới hay liên hiệp giữa tất cả các quốc gia có quyền lợi chung về Biển Đông Nam Á, căn cứ vào vị thế lãnh thổ và lãnh hải của mỗi quốc gia liên hệ.
4. Cần tôn trọng và đôn đốc Công ước LHQ về Luật Biển 1982, United Nations Convention on Law of the Sea, viết tắt UNCLOS, vốn là cơ chế pháp lý quốc tế kiểm soát trật tự toàn cầu trên và dưới mặt biển cả.[24]
5. Cần huy động thế liên kết toàn cầu, căn cứ vào [a] chủ trương quốc tế giải quyết xung khắc bằng giải pháp đa phương và ôn hòa, [b] trên căn bản bảo vệ tự do lưu thông hàng không và hàng hải trong hải phận quốc tế và không phận biển Đông, mà Hoa Kỳ sẵn sàng bênh vực, để thực thi trật tự thịnh vượng hoà bình chung.
Riêng đối với Việt Nam,
Cần bảo vệ quyền lợi quốc gia, từ Biển Đông tới bờ cõi, từ biên giới tới khắp môi trường sinh tồn, kinh tế, văn hoá để thực thi chủ quyền dân tộc, một cách chân chính, toàn diện và hữu hiệu.
Vậy, đã tới lúc CSVN tự giải thể, chuyển thẻ đỏ thành thẻ xanh, tự ý xé toạc giấy tuỳ thân Mác-Xì-Lê-Mao-Hồ để bớt đi cái nhục nhã làm bô khạc nhổ đờm Hán tộc, do cái “lưỡi bò” thối tha, ung nhọt văng tới. 
Đã tới lúc CSVN chấm dứt “sinh thái” ác với dân, hèn với giặc và nhất quyết không còn làm đặc viên KGB theo kinh nghiệm ông Hồ, hay làm mật vụ, gián điệp tay sai Trung Cộng theo chân mấy quan thái thú Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang.
Đã tới lúc CSVN hồi hướng dân tộc, tự giác nhường chổ cho một chính thể dân cữ với một đoàn ngũ người Việt thuần túy:
  • biết lo cho chính nghĩa quốc gia, phẩm giá và an sinh dân tộc;
  • biết tranh đấu, mặc cả, tranh thủ cho quyền lợi vẹn toàn, chính đáng của Nước Việt;
  • biết ứng dụng thế kết sinh lực lượng khu vực căn cứ vào sứ mạng của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á [ASEAN] nhằm ba trục [a] cộng đồng an ninh chính trị khu vực, [b], cộng đồng kinh tế khu vực, và [c] cộng đồng văn hoá, xã hội khu vực,[25] như các nước Đông Nam Á và khối ASEAN đã quyết tâm đấu tranh ngoại giao về vấn đề Biển Đông, dẫn đến việc ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc.
Tại Hải ngoại,
Mọi công dân thế giới tự do gốc Việt, còn ý thức và tôn trọng vận mệnh nước Việt Nam, cần đóng góp vào việc hỗ trợ và gây áp lực:
[a] hệ thống hoá ảnh hưởng chính trị với các tổ chức và chính quyền sở tại [Hoa Kỳ, Đức, Nhật, Âu, Úc] để cùng các cơ sở điều nghiên chiến lược, các viên chức đặc trách ngoại giao, kinh tài, quân sự, thấy rõ thế “chân vạc” giữa lực lượng quốc tế, khu vực và Việt Nam để nhận trách nhiệm bảo trọng an ninh, chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội ở mức độ công bằng, khả chấp tại môi trường và khu vực;
[b] đòi hỏi mọi sự hỗ trợ trực tiếp của Hoà Kỳ, Âu, Úc hay gián tiếp qua Ấn Độ, Nhật Bản dành cho Việt Nam, kể cả diện quân sự, phải ứng dụng song song với triển vọng dân chủ hóa và phát triển kinh tế của Việt Nam, có lợi cho dân tộc Việt, hơn là chỉ nhằm củng cố địa vị của nhà cầm quyền, như họ đã từng làm trước đây, thời đệ Nhất và đệ Nhị Cộng Hoà, tại Miền Nam Việt Nam;
[c] về mặt công lý và nền tảng pháp lý, cần lượng giá chính xác và đúng mức quyền lợi quốc gia, liên quan tới ranh giới lãnh thổ, lãnh hải, tới phần sở hữu tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tại Biển Đông, căn cứ vào tài liệu lịch sử, hành chính, pháp lý đối chiếu và thực trạng chấp hữu, quản thủ tài sản quốc gia; cũng như căn cứ vào luật quốc tế công pháp và Luật Biển liên quan tới nội vụ.
Trên trang web ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do, “trong một cuộc phỏng vấn dân biểu Alan Lowenthal về yếu tố Trung Quốc trong quan hệ Mỹ-Việt, ông trả lời rằng Việt Nam muốn tiến gần với Mỹ để đối đầu với Trung Quốc thì phải thực hiện nhân quyền cho dân của họ, và ông nhắc lại nhiều lần đây đúng là thời điểm trọng yếu để gây áp lực để Việt Nam thực hiện điều đó.
Việt Nam trong tình huống này khi Trung Quốc đã tỏ lộ dã tâm, thì phải biết làm gì để có thể được giúp một cách hữu hiệu. Thực ra người Mỹ không cần cung cấp vũ khí hay viện trợ quân sự ồ ạt và lộ liễu. Có thể mường tượng, giả sử lúc chiến tranh, Mỹ chỉ cần cho Việt Nam tin tức tình báo về cuộc điều động binh lực của Trung Quốc, cho biết rõ tọa độ tàu ngầm, tàu nổi, phi cơ đang trên đường tới mục tiêu…  thì cũng là một lợi thế hiếm có cho Việt Nam, hoàn toàn trong khả năng quân đội Mỹ làm được.”
Vậy, để khai triển diễn tiến trên, chúng ta, người dân Việt trong và ngoài nước có tư cách và quyền đòi hỏi đối phương, giặc ngoại bang và nội xâm, phải trả lại cho Việt Nam những gì của Việt Nam, không thừa, không thiếu.
Đồng thời cũng phải trả lại cho dân tộc Việt Nam những gì của người dân Việt, không thiếu, không thừa.  Đó là quyền tự quyết của người dân Việt thu hồi lại [a] nền dân chủ chân chính của họ, [b] trên đất nước vẹn toàn của họ.
Phải như vậy mới yên ổn, mới tồn tại.  Đó cũng là hiện tượng tích cực mà Thomas Friedman gọi là “thế giới phẳng”/The World Is Flat [26] qua sự phát triển toàn cầu hóa từ những năm đầu của thế kỷ 21 khi những nhân tố lớn liên quan đến kinh tế và khoa học kỹ thuật trên thế giới cùng nhau tác động, khiến cho các mô hình văn hoá, chính trị và xã hội đã được thay đổi và thế giới trở nên phẳng, quân bình hơn, khi sự tiếp xúc giữa các cá nhân trở nên dễ dàng và chặt chẽ hơn trước.
LƯU NGUYỄN ĐẠT, PhD,LLB/JD, LLM
May 17, 2014 — cập nht October 8, 2016

GHI CHÚ
[1] Realpolitik/real politics
[2] financial military industrial complex or military–industrial–congressional complex, refers to policy and monetary relationships which exist between legislators, national armed forces, and the military industrial base that supports them. These relationships include political contributions, political approval for military spending, lobbying to support bureaucracies, and oversight of the industry. It is a type of iron triangle. The term is most often used in reference to the system behind the military of the United States, where it gained popularity after its use in the farewell address of President Dwight D. Eisenhower on January 17, 1961, though the term is applicable to any country with a similarly developed infrastructure.
[3] Defense/Pentagon
[4] Energy Services Group
[5] conflict justification
[6] containment strategy
[7] cold war, Korea war, Vietnam war,
[8] Desert Storm war, Iraq war, Afghanistan war
[9] Arab Springs.
[10] preventive war
[11] September 11 attacks
[12] raison d’être/raison d’État
[13] bipolar Oligopoly. A situation in which a particular market is controlled by a small group of firms. 
An oligopoly is much like a monopoly, in which only one company exerts control over most of a market. In an oligopoly, there are at least two firms controlling the market.
[14] 
Vùng Nhận Dạng Phòng Không” (tiếng Anh: Air Defense Identification Zone, viết tắt tiếng Anh: ADIZ) là vùng bầu trời do một quốc gia tự ấn định ra và đòi hỏi mọi máy bay dân sự xâm nhập vùng này phải nhận dạng, minh định vị trí, và chịu sự kiểm soát của quốc gia đó. Vùng nhận dạng phòng không không đồng nghĩa với không phận nhưng được coi như khu vực song hành với an ninh quốc phòng.  Các máy bay bay ngang vùng nhận dạng của một quốc gia phải tuân thủ các yêu cầu chung, chẳng hạn như các máy bay khi vào ADIZ đều phải nộp trước lộ trình bay; thiết lập liên lạc hai chiều đối đáp trong thời gian sớm nhất và chính xác nhất với nước quản lý ADIZ; thông báo vị trí, lắp thiết bị nhận dạng radar thứ cấp, tuân thủ hành lang bay mà nước đó quy định, và khi bay qua các điểm báo cáo, bắt buộc đều phải báo cáo với cơ quan đang quản lý ADIZ.  Nếu máy bay nào không tuân thủ các yêu cầu của quốc gia đặt ra vùng nhận dạng thì có thể chịu sự can thiệp của máy bay quân sự của nước lập ra ADIZ yêu cầu nhận dạng và buộc phải rời khỏi khu vực này ngay lập tức và chịu những biện pháp phạt khác.
[15] “Thế kỷ 21 là thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ”, Anh Ngọc, VNExpress, Thứ sáu, 11/11/2011,
[16]géopolitique: rapports entre la géographie et la politique des Etats.
[17] The Association of Southeast Asian Nations, commonly abbreviated ASEAN is a geo-political and economic organization of 10 countries located in Southeast Asia, which was formed on 8 August 1967 by Indonesia, Malaysia, the Philippines, Singapore and Thailand.Since then, membership has expanded to include Brunei, Burma (Myanmar), Cambodia, Laos, and Vietnam. Its aims include the acceleration of economic growth, social progress, cultural development among its members, the protection of the peace and stability of the region, and to provide opportunities for member countries to discuss differences peacefully.
[18] “Mặc Cả Đa Phương” The Nash-Harsanyi-Selten Pluralistic Bargaining Model [NHS-PBM]
[19] il faut rendre à césar ce qui appartient à César
[20] Định lý Cân bằng Nash là một định lý trong lý thuyết trò chơi – một nhánh của toán học ứng dụng. Định lý này được đặt tên theo John Forbes Nash, do ông là người đã đề xướng ra. Nó được dùng để nghiên cứu các chiến thuật sao cho sự lựa chọn là tối ưu nhất
[21] Con gấu/The Russian Bear/Tiêu biểu cho Nước Nga. The Russian Bear is a widespread symbol for Russia, used in cartoons, articles and dramatic plays since as early as the 17th century, and relating alike to Tsarist Russia, the Soviet Union and the present-day Russian Federation.
[22] bargaining equilibrium/balance of power
[23] democratic pluralism/ sinh hoạt dân chủ đa nguyên
[24] The United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS), also called the Law of the Sea Convention or the Law of the Sea treaty, is the international agreement that resulted from the third United Nations Conference on the Law of the Sea (UNCLOS III), which took place from 1973 through 1982. The Law of the Sea Convention defines the rights and responsibilities of nations in their use of the world’s oceans, establishing guidelines for businesses, the environment, and the management of marine natural resources. The Convention, concluded in 1982, replaced four 1958 treaties. UNCLOS came into force in 1994, a year after Guyana became the 60th state to sign the treaty.To date, 161 countries and the European Community have joined in the Convention. However, it is uncertain as to what extent the Convention codifies customary international law.

[25] The ASEAN Community is comprised of three pillars, namely the ASEAN Political-Security CommunityASEAN Economic Community and ASEAN Socio-Cultural Community. Each pillar has its own Blueprint, and, together with the Initiative for ASEAN Integration (IAI) Strategic Framework and IAI Work Plan Phase II (2009-2015), they form the Roadmap for and ASEAN Community 2009-2015.
In their relations with one another, the ASEAN Member States have adopted the following fundamental principles, as contained in the Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia (TAC) of 1976:
  1. Mutual respect for the independence, sovereignty, equality, territorial integrity, and national identity of all nations;
  2. The right of every State to lead its national existence free from external interference, subversion or coercion;
  3. Non-interference in the internal affairs of one another;
  4. Settlement of differences or disputes by peaceful manner;
  5. Renunciation of the threat or use of force; and
  6. Effective cooperation among themselves.
[26] Thomas Friedman, The World is Flat (1st ed.). Farrar, Straus and Giroux. 2005. ISBN 0-374-29288-4.

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

George Kennan: Người bày mưu đánh bại Liên Xô

george kennan
Tác giả: Hoàng Anh Tuấn

Đối với nhiều thế hệ quan chức ngoại giao Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, George Kennan (sinh ngày 16/2/1904 và mất ngày 17/3/2005) được coi là nhà ngoại giao kỳ cựu và vĩ đại nhất. George Kennan được coi là cha đẻ của một trong những chiến lược lớn nhất, dài nhất, tốn kém nhất và được thực thi liên tục bởi nhiều đời Tổng thống Mỹ trong suốt 45 năm, từ năm 1946-1990, đó là Chiến lược Kiềm chế (Containment Strategy).
George Kennan gia nhập Bộ Ngoại giao Mỹ năm 1926 ngay sau khi tốt nghiệp Đại học Princeton. Kennan đã chọn “nghiệp” nghiên cứu về Liên Xô, làm việc tại nhiều phái đoàn ngoại giao Mỹ ở châu Âu, đọc thông viết thạo tiếng Nga, hiểu được tâm lý, văn hóa Nga và nhanh chóng trở thành chuyên gia hàng đầu về Nga, Liên Xô của Bộ Ngoại giao Mỹ nói riêng và nước Mỹ nói chung.
Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, quan hệ giữa Liên Xô với Mỹ và Anh là quan hệ đồng minh và ba nước này là nòng cốt của phe Đồng minh chống lại Khối trục Phát-xít (gồm Nhật, Italia và Đức). Thực ra đây là một liên minh có tính tình thế với mục đích đánh bại các nước Phát-xít vì sự tồn tại của chính mình, chứ kỳ thực các lợi ích, giá trị chung để gắn kết quan hệ liên minh 3 nước không nhiều.
Do đó, sau khi kẻ thù chung là phe Phát-xít bị đại bại, các nghi ngờ về ý đồ chiến lược cũng như sự rạn nứt liên minh giữa Liên Xô với Mỹ, Anh và Phương Tây là đương nhiên. Lúc này cả hai phe do Mỹ và Liên Xô cầm đầu đều có nhu cầu tập hợp đồng minh, bảo vệ khu vực ảnh hưởng đã được phân chia theo các Hiệp định Yalta và Postdam, đồng thời cạnh tranh quyết liệt về quyền lực và ảnh hưởng tại các khu vực khác trên thế giới.
Tuy nhiên, do quan hệ đồng minh và hợp tác Mỹ-Anh-Xô được xây dựng và củng cố trong suốt cuộc chiến, nên người dân các nước này có thái độ hữu nghị và tình cảm tương đối tốt với nhau. Trong bối cảnh mới khi không còn coi nhau là “bạn”, là “đồng minh”, và vì cuộc chiến sinh tồn mới nên cả hai phía đều phải tìm các lý do “hợp lý” để có thể coi nhau như những kẻ thù không đội trời chung.
Đặc biệt nước Mỹ cần tìm một “con ngáo ộp” đủ lớn, đủ mạnh để tập hợp lực lượng đồng minh, củng cố sự thống nhất và đoàn kết cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm thiết lập một trật tự mới do Mỹ lãnh đạo. Trong bối cảnh đó Mỹ rất cần có một sự đánh giá mới về Liên Xô nhằm xây dựng chiến lược mới.
Ngày 3/2/1946, Bộ Ngoại giao Mỹ gửi Bức điện mật số 284 cho Sứ quán Mỹ tại Moscow, yêu cầu phân tích và đánh giá 5 điểm sau về Liên Xô:
  1. Các nét cơ bản về Tầm nhìn của Liên Xô thời hậu chiến;
  2. Cơ sở của Tầm nhìn này là gì;
  3. Khả năng hiên thực hóa chính sách này trong các tuyên bố, văn kiện chính thức;
  4. Các tiếp xúc hoặc đánh giá bên ngoài về việc thực hiện chính sách này;
  5. Cách thức đối phó của Mỹ.
Khi đó George Kennan là Đại biện lâm thời của Mỹ tại Moscow (do Đại sứ vắng mặt) và đây là lúc Kennan thể hiện dấu ấn và khả năng của mình. Ngày 22/2/1946, George Kennan đích thân thảo một bức điện dài (gần 20 trang). Đây là một điều rất không bình thường. Vì do lý do bảo mật nên giữa Bộ Ngoại giao các nước và các Sứ quán bên ngoài hiếm khi trao đổi các bức điện dài như vậy. Và cũng chính vì lý do này nên bức điện trả lời của George Kennan được gọi là The Long Telegram (Bức điện tín dài).
Trong bức điện này, George Kennan không chỉ trả lời cặn kẽ các câu hỏi trên, mà còn phân tích một cách toàn diện về các vấn đề sau: (i) Tư duy đối ngoại của Nga/Liên Xô; (ii) Tại sao Nga/Liên Xô lại có tư duy này; (iii) Tư duy này được thể hiện ra sao trên thực tế và Liên Xô sẽ hành động như thế nào; (iv) Chiến lược mới mà Liên Xô sẽ áp dụng có các tác động và hệ quả ra sao đối với Mỹ và đồng minh; (v) Mỹ cần có các chiến lược gì để đối phó với Liên Xô.
Cụ thể, George Kennan cho rằng:
Một, tư duy đối ngoại của Liên Xô xuất phát từ truyền thống tư duy lâu đời của người Nga hình thành từ hình thể địa lý đất nước, truyền thống văn hóa và tâm lý, đó là luôn ở trong trạng thái bất an, cho rằng các đế quốc châu Âu luôn tìm cách làm suy yếu nước Nga. Ý thức hệ không tác động nhiều đến tư duy này.
Hai, người Nga không có văn hóa thỏa hiệp chính trị kiểu Mỹ-Anh, do đó không thể chung sống theo kiểu “cùng tồn tại hòa bình” với Mỹ và Anh, mà chỉ có kiểu đấu tranh “một mất, một còn”. Do đó, Mỹ và phương Tây sẽ không thể chung sống hòa bình với Liên Xô, mà quan hệ sẽ là đối đấu cho đến khi một trong hai bên bị sụp đổ. Cuộc đấu này sẽ kéo dài và Liên Xô rất kiên trì, do đó Mỹ cần phải chuẩn bị một chiến lược dài hơi.
Ba, để đối phó với Liên Xô, Kennan cho rằng Mỹ cần xây dựng một chiến lược mới, đó là Chiến lược Kiềm chế nhằm kiềm chế Liên Xô một cách toàn diện. Kennan cũng cho rằng Mỹ cần phải củng cố trận địa của mình là 3 trung tâm gồm Mỹ, Nhật, và châu Âu. Kennan dự đoán sự cạnh tranh ảnh hưởng diễn ra khốc liệt nhất tại Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Phân tích này là một trong các nguyên nhân đưa đến sự ra đời của Kế hoạch Marshall giúp phục hồi kinh tế Nhật và châu Âu sau chiến tranh.
Bốn, Kennan cho rằng việc kiềm chế chỉ tập trung chủ yếu trong lĩnh vực chính trị và kinh tế. Theo Kennan, Liên Xô cũng có điểm yếu về tâm lý là “ngại” đối đầu trực diện, do đó nếu Mỹ và phương Tây thi hành chính sách kiềm chế một cách kiên định không ngại va chạm và kiên quyết giành giật ảnh hưởng với Liên Xô thì Liên Xô sẽ phải chùn bước.
Bức điện sau khi gửi đã gây “chấn động” trong giới ngoại giao Mỹ. Tuy nhiên, phần lớn nội dung vẫn chưa được phản ánh đầy đủ lên giới lãnh đạo cấp cao. Thất vọng nhưng không bỏ cuộc, George Kennan lấy phần lớn nội dung trong bức điện gửi ngày 22/3/1946 sửa lại thành bài báo ký bút danh “X” và đăng trên Tạp chí Foreign Affairs số tháng 7/1947. Từ đây, bài báo đã gây lên một cơn “địa chấn” trong giới nghiên cứu chiến lược và hoạch định chính sách Mỹ và giúp định hình ra Chiến lược Kiềm chế của Mỹ sau này.
Mặc dù được coi là cha đẻ của Chiến lược kiềm chế, nhưng điều trớ trên là chính Kennan đã có lúc bị những kẻ “Diều hâu” (the Hawks) chỉ trích là “Bồ câu” (the Dove) do: (i) quá “mềm yếu” với Liên Xô; (ii) không chủ trương đối đầu về quân sự, mà chỉ chủ yếu đối đầu về ngoại giao, chính trị và kinh tế; (iii) Chiến lược Kiềm chế của Kennan chủ yếu mang tính phòng thủ.
Sau đó Chiến lược Kiềm chế của Kennan bị giới “Diều hâu” trong chính giới Mỹ bắt cóc, và được Paul Nitze, người thay Kennan làm Vụ trưởng Chính sách đối ngoại tại Bộ Ngoại giao bổ sung thêm yếu tố kiềm chế quân sự, còn Ngoại trưởng khét tiếng “diều hâu” John Foster Dulles dưới thời Tổng thống Dwight Eisenhower thì “bác bỏ” Chiến lược kiềm chế của Kennan, mà đòi chuyển sang Chiến lược đẩy lui Chủ nghĩa cộng sản (Rollback). Còn bản thân Kennan vẫn không thay đổi lập trường “bồ câu”, chỉ trích mạnh mẽ sự can thiệp quân sự của Mỹ tại Triều Tiên và Afghanistan.
Cho đến nay, sau khi Liên Xô và khối Đông Âu đã sụp đổ gần một phần tư thế kỷ, nhìn lại chính sách của Mỹ và phương Tây hiện nay đối với Nga rõ ràng có lý do để tin rằng các đánh giá của Mỹ và phương Tây về Nga không có nhiều thay đổi và dường như Chiến lược kiềm chế đang “đội mồ” sống dậy trở lại.
TS. Hoàng Anh Tuấn là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân, không phải quan điểm của cơ quan nơi tác giả công tác.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

Ma trận phá hoại của Trung Quốc bắt đầu tác oai tác quái với kinh tế Việt Nam




Ngọc Việt
đăng ngày 20/09/2016


Người Trung Quốc đã chuẩn bị mọi kế sách thâm sâu cho việc hình thành “ma trận phá hoại”. Vì vậy muốn đối phó hiệu quả thì phải có một hệ thống bao gồm...
VOA ngày 8/12/2015 đưa tin. một số người dân Đà Nẵng đã né luật để giúp người Trung Quốc mua đất ven biển hướng ra Biển Đông. Trước thông tin này, nhiều người nhận định đây là hành vi rất tai hại cho đất nước Việt Nam.
Song với người viết thì hành động “cõng rắn cắn gà nhà” của một nhóm người Việt Nam “không yêu nước” ấy không quá nguy hại, bởi lẽ nó có thể ngăn chặn được. Sự nguy hại thực sự lại nằm ở phía sau hành động của người Trung Quốc.
Như người viết từng phân tích qua bài “Quy trình ngược tinh vi”, Trung Quốc luôn tìm cách hợp pháp hoá những hành vi gây hại của họ, để từ đó triệt hạ đối phương một cách dễ dàng và tác hại đạt mức cao nhất.
Khi đối phương ngấm đòn thì họ bắt đầu gây nhiễu loạn, từ đó tạo ra hiệu ứng phải điều chỉnh cơ chế quản lý của cả một quốc gia để đối phó với “nhân tai” Trung Quốc. Lúc đó một “ma trận phá hoại” được người Trung Quốc giăng ra với bao hệ luỵ cho cả một đất nước.
Người Trung Quốc có thể thay đổi sở hữu tại một vài doanh nghiệp Việt Nam, khiến cho luật pháp của Việt Nam phải bổ sung, sửa đổi nhưng không dễ ngăn chặn. Ảnh minh họa: pbs.org
Trong bài “Cần cảnh giác với ma trận phá hoại kinh tế Việt Nam từ Trung Quốc”, người viết đã phân tích, sự nguy hiểm bởi “ma trận phá hoại” của người Trung Quốc là, chỉ cần vài tác nhân mang “yếu tố” Trung Quốc gây hại đã có thể khiến cả một nền kinh tế phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề.
Và theo cá nhân người viết thì có thể nhận diện, hiện nay kinh tế Việt Nam đã bị hoành hành bởi cái “ma trận phá hoại” ấy của người Trung Quốc.
Theo VnExpress, ngày 26/7 vừa qua, ông Trần Văn Sơn, Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư Đà Nẵng đã cho biết, chỉ cần góp vốn, mua cổ phần rất nhỏ tại các doanh nghiệp, dự án...nhiều người Trung Quốc đã có thể trở thành nhà đầu tư, sử dụng đất tại Việt Nam.
Song nhiều người đến Đà Nẵng không phải để kinh doanh, mà là muốn có giấy chứng nhận đầu tư để làm việc khác. Và ông Sơn đã đề nghị cần sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam. [2]
Trong khi đó, ông Lưu Phước Lộc - Giám đốc Công ty chế biến gỗ Mtrade, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Dương cũng cho biết, hiện nay đang có làn sóng các doanh nghiệp gỗ của Trung Quốc đầu tư vào tỉnh Bình Dương.
Nguy hại là ở chỗ họ đội lốt doanh nghiệp Việt Nam, mang hàng hoá gần như thành phẩm sang hoàn tất, để lấy xuất xứ Việt Nam xuất khẩu. Ông Lộc đề xuất Bộ Công thương nên có chính sách về xuất xứ rõ ràng hơn. [4]
Như vậy là hệ thống luật pháp Việt Nam phải có những bồ sung, sửa đổi để có thể tránh thiệt hại cho kinh tế - xã hội vì những yếu tố gây hại từ Trung Quốc.
Tuy nhiên, đối phó virus từ “ma trận phá hoại” của người Trung Quốc là cực kỳ khó khăn, trong khi đó Việt Nam lại có thể phải gánh hậu quả, bởi những biện pháp phá “ma trận phá hoại” có nguy cơ làm thiệt hại cho những đối tác quan trọng khác của Việt Nam.

Trung Quốc "nẫng tay trên" những lợi ích to lớn của người dân, doanh nghiệp Việt Nam từng ngày
VOA ngày 18/12/2015 dẫn lời một nhà hoạt động xã hội Nhật Bản cho biết, các cánh tay của doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam là rất đáng lo ngại.
Điều nguy hiểm là người Trung Quốc đang gây thiệt hại cho người dân, cho doanh nghiệp Việt Nam một cách rõ ràng, không cần sự tiếp tay của người Việt Nam.
Hành động của họ rất cụ thể nhưng các cấp chính quyền Việt Nam không thể ngăn chặn hay xử lý, bởi lẽ nó không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam. Điều đó cho thấy, lợi ích của Việt Nam đang bị mất đi một cách "hợp pháp."
Theo Infornet, ông Trần Văn Sơn, Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư Đà Nẵng cho biết, Luật Đất đai của Việt Nam không cho phép người nước ngoài sở hữu đất đai tại Việt Nam.
Vì vậy, người Trung Quốc mua cổ phần hay liên doanh với công ty trong nước theo tỳ lệ, bên Việt Nam 51% nhưng góp vốn bằng quyền sử dụng đất - bên Trung Quốc 49%. Từ đó hình thành nên doanh nghiệp đầu tư trong nước và được cấp phép hoạt động. 
Tuy nhiên, khi đi vào hoạt động, phía Trung Quốc mua hết 51% cổ phần của phía Việt Nam, điều đó được Luật Doanh nghiệp cho phép.
Lúc này doanh nghiệp đã trở thành “mình ong xác ve” – doanh nghiệp trong nước nhưng thuộc sở hữu 100% của người Trung Quốc, trong đó bao gồm cả quyền sử dụng đất.
Thế là người Trung Quốc có thể sở hữu đất hợp pháp dưới danh nghĩa doanh nghiệp, nhưng luật pháp Việt Nam lại không thể điều chỉnh hành vi này.
71 người Đà Nẵng đứng tên mua 137 lô đất cho người Trung Quốc. Ảnh: Hữu Khá / Báo Tuổi Trẻ.
Và không chỉ dừng lại ở việc sở hữu đất, người Trung Quốc còn tìm cách trốn thuế. Điều 46 Nghị định 118 quy định các tổ chức khi mua cổ phần, góp vốn thì không cần thay đổi giấy chứng nhận đầu tư. Điều này khiến cho nhà đầu tư Trung Quốc thực hiện chuyển nhượng nội bộ để trốn thuế.
Dù nhận diện được sự thay đổi sở hữu chủ, nhưng không có căn cứ xác định hoạt động chuyển nhượng, vì thế có vụ chuyển nhượng giá trị ngàn tỷ VND không thu được thuế. [3]
Còn theo ông Lưu Phước Lộc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, nếu không có biện pháp cụ thể, rất có thể các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam sẽ “chết”.
Doanh nghiệp Việt Nam bị mất đơn đặt hàng hằng ngày, khiến cho thị trường thì còn đó, nhưng miếng bánh đã nằm trong tay người khác. Doanh nghiệp Trung Quốc mang danh doanh nghiệp Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu và khi TPP có hiệu lực thì Trung Quốc sẽ lấy hết lợi thế ưu đãi của Việt Nam. [4]

Mớ bòng bong bổ sung, sửa đổi quy phạm pháp luật để phá “ma trận phá hoại” của Trung Quốc và hệ luỵ cho kinh tế đất nước
Có thể thấy rằng, gánh nặng pháp lý hay nói cách khác là những quy định nhiều phân đoạn của pháp luật Việt Nam đang là rào cản đối với các nhà đầu tư, cả trong nước và quốc tế.
Chính phủ kiến tạo vừa mới kiện toàn, đang đặt mục tiêu đơn giản hoá thủ tục hành chính, cắt giảm nhiều tầng nấc trong quản lý, bãi bỏ nhiều quy định “con” để Việt Nam có hành lang pháp lý thông thoáng, thu hút và khuyến khích đầu tư.
Vậy mà khi chưa cắt giảm được bao nhiêu thì “ma trận phá hoại” của Trung Quốc đã làm phát sinh thêm nhiều quy định.
Song bổ sung ra sao, sửa đổi như thế nào, để quy định của pháp luật không còn là rào cản đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng như hợp tác – đầu tư thì không dễ nhận diện và thực hiện.
Sẽ có tình trạng “9 người 10 ý” trong việc đề xuất bổ sung, sửa đổi quy định của luật pháp để đối phó với “ma trận phá hoại” Trung Hoa. 
Không những vậy, một nghiệp vụ kinh tế phát sinh có thể được điều chỉnh bởi nhiều loại quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực mà nghiệp vụ kinh tế phát sinh đó có liên quan, từ đó sẽ có những bất khả kháng trong bổ sung, sửa đổi quy phạm pháp luật vì “lợi bất cập hại” cho đất nước.
Từ thực tiễn đó, việc nhận diện yêu cầu bổ sung, sửa đổi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trở thành mớ bòng bong với cơ quan quản lý nhà nước. Xin đưa ra ví dụ thực tế.
Theo VnExpress, tại buổi làm việc giữa đoàn công tác trung ương với UBND thành phố Đà Nẵng, Giám đốc Sở Kế hoạch & đầu tư Đà Nẵng đề nghị cần sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư quy định thời hạn hoạt động tối đa cho các dự án nhỏ, để cơ quan cấp chứng nhận đầu tư có cơ sở xử lý.
Cần bổ sung quyền cho cơ quan đăng ký đầu tư xem xét về tính khả thi, khả năng đáp ứng tài chính, để xem xét và quyết định đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài…[2]
Có lẽ, chỉ cần nhìn vào vài nội dung đề xuất bổ sung, sửa đổi Luật Đầu tư là có thể khiến cho nhiều nhà đầu tư ái ngại khi quyết định đầu tư vào Việt Nam, vì nó quá nhiêu khê với người làm ăn chân chính.
Còn những đề xuất thì không thực tế, thậm chí trái với nguyên lý hoạt động kinh tế. Bởi lẽ, một nhà đầu tư có thể bắt đầu với một dự án nhỏ thăm dò, khi đó họ phải được tạo điều kiện tốt, như vậy từ đó họ mới có niềm tin để quyết định mở rộng đầu tư.
Trong khi đó, theo ông Lưu Phước Lộc thì mục đích của các doanh nghiệp Trung Quốc là họ muốn lấy C/O (xuất xứ) của Việt Nam, nên để ngăn chặn tình trạng này Bộ Công Thương phải có quy định với mẫu C/O cụ thể.
Chẳng hạn, bắt buộc doanh nghiệp phải tuân thủ sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam theo từng tỷ lệ: 100%, 70% và 50%. Còn đối với những sản phẩm có tỷ lệ nội địa hóa dưới 30% thì dứt khoát không cấp C/O. [4]
Đề xuất của ông Lưu Phước Lộc nghe thì có vể hợp lý nhưng không thực tế, bởi lẽ doanh nghiệp nước ngoài muốn nội địa hoá thì phải từng bước để kiểm tra khả năng và giúp người Việt Nam làm quen với công nghệ của họ.
Do vậy khởi đầu cho một quy trình sản xuất, tỷ lệ nội địa hoá có thể sẽ thấp hơn 30%. Thế là một rào cản với hội nhập đã được dựng lên cho nhà đầu tư và đương nhiên thiệt hại cho kinh tế Việt Nam là rất lớn.
Rõ ràng, việc đối phó với “ma trận phá hoại” của người Trung Quốc quả là nan giải. Càng tìm cách ngăn chặn nguy cơ gây thiệt hại từ người Trung Quốc thì ngược lại càng làm tăng nguy cơ gây thiệt hại cho những đối tác khác.
Cái “ma trận phá hoại” đã đưa việc bổ sung, sửa đổi quy phạm pháp luật, đưa quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý tại một quốc gia vào “mê hồn trận” với cái tỉ lệ nghịch chết người: Nếu giảm thiệt hại từ Trung Quốc sẽ tăng thiệt hại từ đối tác khác.

Làm sao phá được “ma trận phá hoại” của Trung Quốc để tránh hậu hoạ cho đất nước?
Có thể thấy rằng, việc nhân diện nguy cơ từ “ma trận phá hoại” của người Trung Quốc là chậm và bị động với cả hệ thống doanh nghiệp và cơ quan chức năng tại Việt Nam.
Tất cả những đề xuất bổ sung, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật đều ở tình trạng chống chứ không còn thời gian để phòng nữa. Khi cơ quan chức năng hay doanh nghiệp dựa trên thực tế thiệt hại để đề xuất giải pháp thì giải pháp sẽ không thực tế và không kịp thời.
Như người viết đã từng phân tích, “ma trận phá hoại” từ Trung Hoa đại lục đã là những loại virus có thể phá hoại khắp thế giới. Do vậy, đối phó với nó thì phải bắt đầu từ nhận diện nguy cơ tiềm tàng.
Người Trung Quốc đã chuẩn bị mọi kế sách thâm sâu cho việc hình thành “ma trận phá hoại”. Vì vậy muốn đối phó hiệu quả thì phải có một hệ thống bao gồm cả giải pháp, phương pháp, biện pháp khoa học và thực tế. Song quan trọng nhất vẫn là nhận thức được bản chất vấn đề.
Trong khi TPP thì chưa vận hành, nhưng hàng ngày hàng giờ virus từ “ma trận phá hoại” đang gây thiệt rất lớn cho người dân, doanh nghiệp và đất nước.
Người viết cho rằng, không thể liệt kê những kẽ hở của luật pháp Việt Nam khiến cho virus tử thần từ “ma trận phá hoại” Trung Hoa, bởi lẽ những bổ sung, sửa đổi sẽ lên đến con số hàng trăm ngàn khoản mục và như thế “mê hồn trận” càng khủng khiếp hơn.
Do vậy, nhận diện bản chất vấn để qua triết lý kinh doanh và cơ chế hợp tác của người Trung Quốc là điều quan trọng nhất trong việc xây dựng kế sách phá “ma trận phá hoại” Trung Hoa.
Có thể thấy rằng, Singapore là một quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào Trung Quốc, nhưng chính phủ Singapore vẫn có thể xây dựng đất nước Singapore thành bến đậu tốt nhất cho mọi con thuyền lợi ích thả neo.
Vì vậy, Việt Nam có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm của Singapore trong quá trình đối phó với “ma trận phá hoại” Trung Hoa. 
Tài liệu tham khảo:
Ngọc Việt
Source : http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Ma-tran-pha-hoai-cua-Trung-Quoc-bat-dau-tac-oai-tac-quai-voi-kinh-te-Viet-Nam-post170130.gd
Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=10796