Danh ngôn Nhân cách
Phẩm cách có thể biểu hiện ra trong thời khắc quan trọng, nhưng nó lại hình thành trong thời khắc không quan trọng. Bacon (Anh).
Danh ngôn Sự nghiệp
Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì ý nghĩa, ấy là một đức hạnh thật sự. Senancourt
Danh ngôn Đối nhân xử thế
Khi bạn không thể thực hiện những gì ao ước, bạn nên ao ước những gì có thể làm. Terence
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017
Bí ẩn về thế giới phù thủy cổ đại
Người ta cho rằng buổi bình minh
của văn minh nhân loại tràn ngập bởi ma thuật của các phù thủy, lễ hiến
tế, các nghi thức cầu xin trời đất, ma quỷ. Đó là thời kỳ hoàng kim của
các phù thủy.
Các trò pháp thuật phù thủy rất
thịnh hành ở các nước châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc. Trong một tài liệu
cách đây hàng trăm năm của một du khách người A-rập mô tả rất kỹ buổi hành lễ ở Trung Hoa.
Trước đám đông người, một phù thủy dùng một quả cầu gỗ có buộc dây
thừng và ném nó lên trời. Quả cầu bay cao và biến mất hút, chỉ còn sợi
dây treo lơ lửng. Phù thủy sai một cậu bé bám vào sợi dây để leo lên
trời. Chỉ ít phút sau cậu bé cũng biến mất. Tộc trưởng suy nghĩ và nói
một điều gì đó với phù thủy, lập tức phù thủy dùng dao cắt đứt dây, cắt
rời từng phần cơ thể của cậu bé rơi xuống đất. Quang cảnh đẫm máu làm
cho những người chứng kiến kinh hãi. Nhưng sau đó tộc trưởng lầm rầm
khấn vái một điều gì đó, các bộ phận của cậu bé dính vào nhau và cậu ta
sống lại như bình thường. Buổi hành lễ kết thúc trước sự kinh ngạc của
những người chứng kiến.
Kinh mật tông Phật giáo nói đến việc
các pháp sư tạo ra những đám đông và làm biến mất họ từ hàng nghìn năm
trước. Những người theo môn phái tu luyện này thừa nhận sức mạnh của bùa chú, pháp thuật và cho rằng chúng góp phần tạo nên niềm tin tôn giáo. Những tài liệu hàng nghìn năm ghi nhận vua Pàla (Ấn Độ cổ) "bằng pháp thuật của mình đã tạo ra thuốc trường sinh phân phát cho mọi người để những người già 100 tuổi có thể trẻ lại".
Những lễ nghi của dòng mật tông thường được giữ kín nhưng không bao giờ
thiếu việc niệm thần chú, biểu diễn màn nhảy múa tôn giáo và thiền
định, trong đó các pháp sư (giống với vai trò của các phù thủy) sẽ cầm trịch các buổi hành lễ đó.
Người ta cho rằng, các bài thuốc chỉ có thể mang lại tác dụng khi được các pháp sư đọc thần chú gọi là mantra.
Đó là tuyệt kỹ chỉ có các phù thủy mới làm được. Người ta cho rằng, khi
nghe các âm thanh mantra sẽ làm ma quỷ sợ hãi, biến đi trong phút chốc
và nếu gặp nguy hiểm thì sử dụng các thần chú này.
Các buổi hành lễ của phù thủy không thể thiếu được những vũ điệu được gọi là múa phù thủy.
Đó là các vũ điệu nhằm kích động thần kinh của những người tham gia.
Người ta dùng các động tác tay, chân, lắc lư đầu và các đạo cụ như
chuông, bát hương để tạo ảo giác với những người chứng kiến.
Tại Ai Cập cổ đại người ta dùng các pháp thuật để chiếm được niềm tin của công chúng. Một pháp thuật gia nổi tiếng thời đó là westcar Papyrus
(1.700 năm trước C.N) đã biểu diễn màn chặt đầu và nối lại nguyên vẹn
cho nạn nhân. Những thầy tu cao cấp ở Hy Lạp thời đó trong các buổi hành
lễ ở đền thờ thường dùng pháp thuật mở cửa đền và đốt sáng các ngọn
đuốc mà không cần đến các công cụ.
Ở châu Phi, phù thủy thường là phụ nữ già xấu xí, sống độc thân.
Họ thường hoạt động bí mật vào ban đêm và cũng không ý thức được các
hành động của mình. Họ bị coi là một mối đe dọa đối với cộng đồng vì
người ta cho rằng các tai họa như ốm đau, đói kém mất mùa, thiên tai là
do các phù thủy gây ra theo yêu cầu của kẻ thù. Tại Gana người ta làm
một khu làng để giam giữ cách ly những người làm nghề phù thủy nhằm
tránh tai họa. Ở Nam Mỹ, các bộ tộc da đỏ thường có các phù thủy để làm
phép trị bệnh. Họ tổ chức buổi nhảy múa quanh đống lửa và dùng pháp
thuật lấy trong miệng người bệnh ra các bộ phận bị mắc bệnh.
Thời xa xưa, các pháp thuật phù thủy đã xuất hiện tại Việt Nam. Thầy phù thủy có nhiều quyền năng kỳ lạ: có thể gọi âm binh, luyện bùa, ngải để biến người ta thành u mê.
Phù thủy có thể sai khiến âm binh đi làm việc đồng áng ban đêm như tát
nước, tấn công trả thù người khác. Những thầy phù thủy mỗi khi điều
khiển âm binh xong phải có lễ khao quân, nếu không âm binh sẽ phản lại.
Chỉ được sai âm binh vào buổi đêm và thu lại trước khi trời sáng nếu
không sẽ gặp họa. Nếu làm lộ thiên cơ, âm binh sẽ đánh trả thầy.
Đặc biệt, ở châu Âu thời cổ đại, con người khi ấy còn đổ lỗi dịch bệnh, chết chóc là do phép thuật
của phù thủy hại người. Những quan điểm sai lầm này đã dẫn tới các cuộc
truy sát, hành hình, tra tấn những người bị coi là phù thủy hết sức dã
man. Trong tín ngưỡng châu Âu, phù thủy là những phụ nữ có liên quan đến nữ thần Diana
và là kẻ thù của Kitô giáo thời Trung cổ. Những cuộc săn lùng phù thủy
diễn ra hết sức gắt gao ở miền Nam nước Pháp và Thụy Sĩ trong thế kỉ 14
và 15.
Nhiều người châu Âu còn coi phù thủy là mối nguy hiểm lớn đối với nhân loại.
Vì vậy, các chính phủ và xã hội tổ chức “săn” những người bị cáo buộc
là phù thủy. Hàng ngàn người đã bị buộc tội và bị tra tấn hết sức dã
man. Chủ trương “săn lùng phù thủy” cũng được giới Tin Lành
áp dụng ở Mỹ thời bấy giờ. Cuộc truy lùng kéo dài từ thế kỷ 13 đến thế
kỷ 18 là một trong những trang sử đen tối và nhiều tội ác nhất trong 300
năm.
Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học, người ta đã lý giải được nhiều pháp thuật của phù thủy chỉ là những màn ảo thuật hoặc cách tạo ra các tác động tâm lý.
Nhưng dù sao, phù thủy và các pháp thuật của họ vẫn là một thế giới bí
ẩn đầy hấp dẫn. Nó là chất liệu cho rất nhiều tác phẩm nghệ thuật, mà
điển hình nhất là thế giới phù thủy của cậu bé Harry Potter.
Trên thế giới, duy nhất có lễ hội phù thủy được tổ chức vào ngày 1/5 hằng năm tại thành phố Gossnal (Đức).
Có hàng trăm phù thủy ở khắp các châu lục về đây trình diễn những màn
pháp thuật do họ luyện được. Ở đây có một viện bảo tàng về các dụng cụ
của phù thủy qua các thời kỳ. Hà Lan có trường dạy các pháp thuật phù
thủy, sau khi tốt nghiệp các phù thủy sẽ được cấp chứng chỉ. Giá của
khóa học khá đắt, lên tới hơn 2.000 euro. Một trong những yêu cầu của
các phù thủy là không được dùng pháp thuật để hại người và phải tuân thủ
theo pháp luật.
Tại sao các phù thủy lại bị săn lùng ráo riết?
Nhà
kinh tế học Emily Oster cho biết, theo các ghi chép lịch sử trên toàn
thế giới, các cuộc săn lùng phù thủy thường xảy ra nhiều hơn trong thời
kỳ khí hậu lạnh giá.
Bởi vì khi thời tiết lạnh giá, người dân
khó có thể có được con dê làm đồ lễ tế thần do mùa màng thất thu và
kinh tế khó khăn. Qua nghiên cứu, điều này cũng đúng với thảm họa phù
thủy tại Salem nổi tiếng xảy ra vào năm 1692, với hơn 200 người bị bắt
giam và hàng chục người bị giết vì bị cho là phù thủy. Lúc đấy nhiệt độ
trung bình ở Salem đang trong thời kỳ lạnh giá nhất của một kỷ băng hà
nhỏ.
thể bị quy kết là phù thủy ở Salem. (Ảnh: Livescience)
Trước đây, người ta thường giải thích
rằng, nhiều cô gái ở Salem lúc đó bị cáo buộc là phù thủy do đúng vào
mùa đông năm 1691-1692, con gái của Mục sư Samuel Parris là Betty bị
bệnh qua đời do phù thủy ám. Nhiều cô gái trẻ đã bị dân làng cho là phù
thủy lúc đó đã mắc phải một bệnh tâm lý là chứng cuồng loạn đại chúng.
Tuy nhiên, theo lý thuyết mới giải thích, sự cuồng loạn đó có thể do các điều kiện kinh tế thảm khốc gây ra.
“Qua nghiên cứu các trường hợp liên quan đến phù thủy cho thấy, ngay cả
khi xem xét các sự kiện và hoàn cảnh về tâm lý, văn hóa thì một động
lực chủ chốt dẫn đến hiện tượng đó có liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh
kinh tế”, Oster nói.
Tuy nhiên, lý thuyết mới cho thấy sự cuồng loạn có thể nổi lên từ các điều kiện kinh tế thảm khốc. Khi thiếu nhiên liệu đốt có thể làm cho các căn nhà trở nên u ám và làm cho người ta dễ có cảm giác nhìn thấy phù thủy. "Các
thử nghiệm phù thủy cho rằng, ngay cả khi xem xét các sự kiện và hoàn
cảnh được cho là tâm lý, văn hóa, động lực chủ chốt cơ bản có thể có
liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh kinh tế", Oster.
Sự biến đổi về thời tiết ở Châu Phi cũng
gây ra những vụ cáo buộc phù thủy tại nhiều nơi với nhiều vụ giết người
hành nghề phù thủy vẫn tồn tại. Theo phân tích năm 2003 của nhà kinh tế
học Edward Miguel Berkeley, lượng mưa cực đoan (quá nhiều hoặc quá ít) ở
đây lại trùng hợp với sự gia tăng đáng kể trong số các vụ giết phù thủy
ở Tanzania. Trong đó, nạn nhân thường là phụ nữ lớn tuổi nhất trong một
hộ gia đình.
Tham khảo: Livescience
Tranh cãi quanh dấu vết nghi của tàu Noah vượt đại hồng thủy
Tuyên bố về tàn tích của con tàu Noah trên núi Ararat của các nhà khảo cổ gây nhiều nghi ngờ trong giới khoa học.
Các nhà thám hiểm Thổ Nhĩ Kỳ và Hong Kong, Trung Quốc thuộc tổ chức Liên vụ Quốc tế Tàu Noah (NAMI) năm 2007 tuyên bố phát hiện 7 khoang tàu lớn làm bằng gỗ bị chôn vùi ở độ cao 4.000m so với mực nước biển trên núi Ararat, Thổ Nhĩ Kỳ, theo National Geographic. Họ quay trở lại địa điểm khảo cổ cùng với một đoàn làm phim vào tháng 10/2009.
"Chúng tôi không dám chắc 100% đây là con tàu Noah, nhưng chúng tôi nghĩ rằng 99,9% chính là nó", Yeung Wing-cheung, một nhà làm phim đi cùng với đoàn thám hiểm, cho biết.
Theo Man-fai Yuen, thành viên của tổ chức NAMI, cấu trúc con tàu gỗ trên núi Ararat được chia thành nhiều khoảng trống khác nhau. "Chúng tôi tin rằng đây là con tàu Noah. Nó có đặc điểm giống như mô tả trong các tài liệu lịch sử", Yuen nói.
Dựa vào phương pháp phân tích phóng xạ carbon gỗ của con tàu trên núi Ararat, nhóm nghiên cứu xác định con tàu khoảng 4.800 năm tuổi, trùng với thời gian xảy ra trận đại hồng thủy được ghi chép trong Kinh Thánh.

Các nhà thám hiểm tuyên bố tìm thấy con tàu Noah nằm ở gần đỉnh của ngọn núi Ararat, Thổ Nhĩ Kỳ. (Ảnh: National Geographic).
Theo Kinh Thánh, con tàu Noah đã bảo vệ Noah cùng
gia đình ông và các loài động vật trên Trái Đất trong trận đại hồng thủy
tiêu diệt gần hết nhân loại. Nhiều người theo đạo Cơ đốc tin rằng sau
trận lụt, tàu Noah dạt về núi Ararat và bị chôn vùi bên dưới lớp tuyết
và tro bụi núi lửa.
Tuy nhiên, phát hiện này của NAMI khiến nhiều chuyên gia khoa học và sử gia nghi ngờ. "Tôi chưa từng thấy đoàn thám hiểm nào đi tìm con tàu Noah mà không tuyên bố phát hiện ra nó", Paul Zimansky, nhà khảo cổ học chuyên về Trung Đông tại Đại học Stony Brook, Mỹ, nói.
Jack Sasson, giáo sư nghiên cứu về người Do Thái và Kinh Thánh tại Đại học Vanderbilt ở Tennessee, Mỹ, cho biết cuốn Sáng Thế Ký không hề nhắc tới núi Ararat, mà chỉ nói rằng con tàu dừng lại ở núi Urartu. Bởi vậy, kết luận cho rằng tàn tích trên núi Ararat chính là tàu Noah có thể là nhận định sai lầm.
Paul Zimansk tại Đại học Stony Brook, Mỹ, cũng đồng ý với cách phân tích này. Ông nói rằng không ai liên hệ ngọn núi Ararat với tàu Noah cho đến thế kỷ thứ 10 trước Công nguyên, và cũng không có chứng cứ nào về mặt địa chất cho thấy từng xảy ra một trận đại hồng thủy ở Thổ Nhĩ Kỳ cách đây 4.000 năm.
Ngay cả khi nhóm nghiên cứu NAMI tìm thấy cấu trúc bằng gỗ hoặc thậm chí một con tàu trên núi Ararat, vẫn có những cách giải thích về nó. Đây có thể là một ngôi đền được xây dựng bởi những người theo đạo Cơ Đốc đầu tiên để tưởng nhớ địa điểm con tàu Noah dừng chân, Zimansky cho biết.
Theo các chuyên gia, gỗ trên tàu Noah nếu có thật cũng không thể tồn tại qua hàng nghìn năm. Nếu tàu Noah thực sự mắc kẹt trên đỉnh Ararat, nó sẽ bị những đợt vận động mạnh mẽ của băng hà đẩy xuống vùng thấp hơn từ rất lâu và đã vỡ nát trong quá trình này, không thể để lại dấu tích còn nguyên vẹn.
Thổ Nhĩ Kỳ và NAMI từng tuyên bố sẽ nộp hồ sơ lên UNESCO để được công nhận dấu tích "tàu Noah" này là di sản thế giới, nhưng đến nay Liên Hợp Quốc vẫn chưa nhận được bất cứ đề nghị chính thức nào như vậy.
Các nhà thám hiểm Thổ Nhĩ Kỳ và Hong Kong, Trung Quốc thuộc tổ chức Liên vụ Quốc tế Tàu Noah (NAMI) năm 2007 tuyên bố phát hiện 7 khoang tàu lớn làm bằng gỗ bị chôn vùi ở độ cao 4.000m so với mực nước biển trên núi Ararat, Thổ Nhĩ Kỳ, theo National Geographic. Họ quay trở lại địa điểm khảo cổ cùng với một đoàn làm phim vào tháng 10/2009.
"Chúng tôi không dám chắc 100% đây là con tàu Noah, nhưng chúng tôi nghĩ rằng 99,9% chính là nó", Yeung Wing-cheung, một nhà làm phim đi cùng với đoàn thám hiểm, cho biết.
Theo Man-fai Yuen, thành viên của tổ chức NAMI, cấu trúc con tàu gỗ trên núi Ararat được chia thành nhiều khoảng trống khác nhau. "Chúng tôi tin rằng đây là con tàu Noah. Nó có đặc điểm giống như mô tả trong các tài liệu lịch sử", Yuen nói.
Dựa vào phương pháp phân tích phóng xạ carbon gỗ của con tàu trên núi Ararat, nhóm nghiên cứu xác định con tàu khoảng 4.800 năm tuổi, trùng với thời gian xảy ra trận đại hồng thủy được ghi chép trong Kinh Thánh.
Các nhà thám hiểm tuyên bố tìm thấy con tàu Noah nằm ở gần đỉnh của ngọn núi Ararat, Thổ Nhĩ Kỳ. (Ảnh: National Geographic).
Tuy nhiên, phát hiện này của NAMI khiến nhiều chuyên gia khoa học và sử gia nghi ngờ. "Tôi chưa từng thấy đoàn thám hiểm nào đi tìm con tàu Noah mà không tuyên bố phát hiện ra nó", Paul Zimansky, nhà khảo cổ học chuyên về Trung Đông tại Đại học Stony Brook, Mỹ, nói.
Jack Sasson, giáo sư nghiên cứu về người Do Thái và Kinh Thánh tại Đại học Vanderbilt ở Tennessee, Mỹ, cho biết cuốn Sáng Thế Ký không hề nhắc tới núi Ararat, mà chỉ nói rằng con tàu dừng lại ở núi Urartu. Bởi vậy, kết luận cho rằng tàn tích trên núi Ararat chính là tàu Noah có thể là nhận định sai lầm.
Paul Zimansk tại Đại học Stony Brook, Mỹ, cũng đồng ý với cách phân tích này. Ông nói rằng không ai liên hệ ngọn núi Ararat với tàu Noah cho đến thế kỷ thứ 10 trước Công nguyên, và cũng không có chứng cứ nào về mặt địa chất cho thấy từng xảy ra một trận đại hồng thủy ở Thổ Nhĩ Kỳ cách đây 4.000 năm.
Ngay cả khi nhóm nghiên cứu NAMI tìm thấy cấu trúc bằng gỗ hoặc thậm chí một con tàu trên núi Ararat, vẫn có những cách giải thích về nó. Đây có thể là một ngôi đền được xây dựng bởi những người theo đạo Cơ Đốc đầu tiên để tưởng nhớ địa điểm con tàu Noah dừng chân, Zimansky cho biết.
Theo các chuyên gia, gỗ trên tàu Noah nếu có thật cũng không thể tồn tại qua hàng nghìn năm. Nếu tàu Noah thực sự mắc kẹt trên đỉnh Ararat, nó sẽ bị những đợt vận động mạnh mẽ của băng hà đẩy xuống vùng thấp hơn từ rất lâu và đã vỡ nát trong quá trình này, không thể để lại dấu tích còn nguyên vẹn.
Thổ Nhĩ Kỳ và NAMI từng tuyên bố sẽ nộp hồ sơ lên UNESCO để được công nhận dấu tích "tàu Noah" này là di sản thế giới, nhưng đến nay Liên Hợp Quốc vẫn chưa nhận được bất cứ đề nghị chính thức nào như vậy.
Cập nhật: 17/08/2017
Theo VnExpress
Kho báu của Salomon và Hòm ước vàng
Solomon sinh vào khoảng năm 974 trước Công nguyên. Solomon là vị vua thứ 3 của Israel. Là
con trai của Vua David, Solomon đã thống trị đế chế trải dài từ
Euphrates tới mỏm Bắc của Vịnh Aqaba. Vua Solomon thành lập vương quốc
Edom và được mệnh danh là "nhà thống trị vĩ đại nhất của Israel".
Bí ẩn kho báu của vua Salomon
Ông là người xây dựng Ngôi đền Đầu tiên của người Do Thái ở Jerusalem, sở hữu một lượng vàng lớn và là tác giả của cuốn Book of Proverbs, Ecclesiastes và The Song of Songs.
Solomon trị vì Israel trong gần 40 năm trước khi băng hà vào năm 931
trước Công nguyên. Không những vậy ông còn là người giàu nhất trong lịch
sử.
Theo truyền thuyết lịch sử và văn hóa cổ đại, Salomon thường được gọi là một Quốc Vương lý tưởng, một Ông Vua thánh hiền.
Thực ra ông ta là một bạo chúa, ông
ta đánh thuế nặng nề, thực thi cưỡng bức lao động, bắt thần dân phải xây
dựng một cung điện và miếu thần vô cùng tráng lệ trên núi Jerusalem. Trong Kinh Thánh đã ghi lại chân thực câu chuyện Salomon xây dựng cung điện cho thần Jéhova:
"Salomon cho là cần phải xây cho Thần Jéhova một cung điện thờ, cho
mình một cung điện. Thế là Salomon cho tuyển 8 vạn phu khuân vác, 8 vạn
thợ đục đá và 3600 đốc công đến xây dựng".
Theo Kinh Thánh viết: Salomon ra lệnh 20 vạn người xây dựng miếu thần
đều không phải là người Israel. Ông ta lại chọn trong người Israel được
5 vạn nhân công làm lao dịch. Công trình đó kéo dài đến 7 năm. Điện
thần này hướng từ Đông sang Tây dài 250m, rộng hơn 90m được xây dựng cẩn
trọng chặt chẽ, nguy nga tráng lệ, phía bên trong trang trí vô cùng hoa
mỹ. Thật là một tác phẩm kiến trúc tuyệt vời. Điện thần này đã trở
thành trung tâm tôn giáo và hoạt động chính trị của người Do Thái Cổ, đồng thời cũng là biểu tượng của họ.
Hàng ngày, các giáo đồ đến đây để bái yết và hiến tế thần linh. Đá Thánh A La
được đặt giữa điện thần. Đá Thánh cao 20m rộng 15m, là một tảng đá hoa
cương, được dỡ bởi hai trụ đá cẩm thạch tròn. Phía dưới Đá Thánh là Nham Đường cao 35m, bên trong có bàn thờ, trên bàn thờ đặt một hòm thánh có khắc dòng chữ "Maxi Thập giới" còn gọi là "Mười lời răn của Thánh Jéhova", Jéhova là giáo chủ của Đạo Do Thái. Trong hòm thánh, ngoài những điều răn của Thánh còn có Tây Nại pháp điển.
Hòm Thánh được làm bằng vàng ròng, gọi la Hòm của Jéhova cũng còn gọi là Hòm ước vàng.
Nó được người Do Thái cổ đại coi là Bảo vật giữ nước liên quan đến việc
tồn vong hưng thịnh của dân tộc Do Thái. Ở phía dưới Đá Thánh A La,
Salomon cho xây một căn hầm và một đường hầm bí mật. Theo truyền thuyết
Salomon đã cất giấu ở căn hầm và đường hầm này rất nhiều châu báu và các
đồ vật quý giá. Đó chính là kho báu của Salomon mà cả thế giới đều đã được nghe nói tới.
Suốt hơn 2000 năm, các hoạt động tìm kiếm kho báu của
Salomon và Hòm ước vàng chưa bao giờ ngừng. Vào hồi đầu thế kỷ, có một
số nhà thám hiểm người Anh đã vào Thành Jerusalem. Đầu tiên, họ dùng
tiền vàng hối lộ người gác đêm. Khi đêm đã về khuya, đoàn người lặng lẽ
vào điện thần, cậy tấm đá bên cạnh Đá Thánh
lên, rồi đào đất xúc đổ ra bên ngoài tường. Khi trời đã sáng, họ lại
khuân tấm đá đậy lại như cũ, tuyệt nhiên không để lại dấu vết gì, rồi
lặng lẽ rút ra ngoài. Cứ như vậy, họ bí mật đào suốt 7 đêm liền, cái hố
ngày một sâu, mà không một ai biết. Đến sáng ngày thứ 8, họ bị một thầy
tu Do Thái vô tình phát hiện ra. Các tín đồ gần đấy được thậy tu khua
dậy, tay dao tay gậy kéo tới vây bắt. Mấy nhà thám hiểm thấy vậy sợ quá
vội vàng chạy mất. Về sau, các tín đồ phát hiện ra là người gác đêm đã
bị mấy nhà thám hiểm người Anh mua chuộc, và là họ lấy đá đập chết ông
ta. Từ đó, các tín đồ càng tăng cường bảo vệ điện thần về ban đêm hơn
nữa.
Cũng có một số người cho rằng kho báu của Salomon và
Hòm ước vàng có thể có cách đây 2000 năm. Vào năm 586 trước Công Nguyên
trước khi quân của Vương quốc Babylon vào Thành Jerusalem kho báu đã
được chuyển đến cất giấu ở Đường hầm bí mật Uanbu.
Hầm ngầm Uanbu có một lai lịch rất cổ xưa. Theo truyền thuyết vào hơn 3000 năm trước (khoảng Thế kỷ XI trước Công Nguyên). Jerusalem
bị người Ibux xâm lược. Bố của Salomon là David chỉ huy bộ lạc vây đánh
người Ibux ở Thành Jerusalem. Do Thành Jerusalem cao hiểm trở, người
Ibux lại canh phòng cẩn mật, nên David mãi không hạ được thành. Một đêm,
một viên tướng của David tên là Uanbu thấy khát nước
quá, ông ta rời doanh trại đi xuống dưới khe suối bên thành, phát hiện
ra một cái hang có dòng nước chảy ra, lại nghe thấy trong hang phát ra
những tiếng như thể tiếng gầu đang múc nước. Ông ta thấy lạ quá bèn chui
vào xem, chỉ thấy một chiếc gầu có sợi dây ngược lên phía trên. Nghĩ
một lát ông ta hiểu rằng: Do trong Thành Jerusanlem rất thiếu nước,
người Ibux sống ở đấy đã đào một đường hầm dài ra tận khe suối ngoài
thành. Hàng đêm, người Ibux thường lấy nước qua đường hầm này. Uanbu lập
thức báo cáo với David: Ông ta đã phát hiện ra một đường ngầm để vào
thành và sau đó ông ta dẫn một toán quân ra phía hang đó rồi theo đường
ngầm vào trong thành mở toang cổng thành đón đại quân của David vào đánh
tan người Ibux. David nhanh chóng chiếm được Jérusalem và quyết định
lấy đó làm Thủ đô của Isarel - Vương quốc của người Do Thái.
Bởi vì đường ngầm ấy là do Uanbu tìm ra, lập được
công lớn nên sau này người ta gọi đó là đường hầm Uanbu. Trong Thánh
Kinh cũng có nói tới câu chuyện Uanbu vào thành qua đường ngầm đánh tan
người Ibux, nhưng lại không thấy nói rõ đường ngầm ấy nằm ở đâu. Hơn hai
nghìn năm, mọi người vẫn ôm mối hoài nghi: Rất có thể Đường hầm Uanbu
đang cất giấu kho báu của Salomon và Hòm ước vàng. Nhưng đường hầm Uanbu
nằm ở đâu cũng không có ai biết.
Đến năm 1868, viên Thượng úy Holan, sỹ quan Anh trong lúc đi vãn cảnh ở ngoại ô Jérusalem đã vô tình phát hiện ra một cái hang sâu
khúc khuỷu. Ông ta liền chui vào trong hang, tiến thẳng, leo qua rất
nhiều bậc đất do con người đục nên. Khi đến bên một hồ nước, Holan lại
nhìn thấy một dòng suối. Ông ta ngẩng đầu lên đột nhiên nhìn thấy trên
đỉnh mỏm đá có một cái lỗ tròn, theo đó, ông ta bèn leo lên lỗ hòn đá
bằng một sợi dây leo núi, rồi tiếp tục đi theo đường ngầm, lại leo qua
một cầu thang nữa. Lên cao khoảng 40m, Holan phát hiện ra một đường ngầm
sâu khúc khuỷu dẫn vào động núi tối mò. Đi ra khỏi cái động đó cuối
cùng ông ta vào tới thành Jérusalem. Holan tự hào cho rằng Đường hầm
Uanbu cổ đại đã được chính ông tìm ra. Nhưng ông ta không hề tìm thấy
kho báu của Salomon và Hòm ước vàng trong đường hầm mà người xưa đã kể.
Vì vậy mà có một số người không đồng ý với phán đoán suy luận của Holan.
Họ cho rằng, cái mà viên Thượng úy tìm thấy không phải là Đường hầm
Uanbu cổ đại, mà là một đường hầm khác không nổi tiếng chưa được mọi
người biết tới mà thôi.
Cũng có một số người tin rằng kho báu của Salomon và
Hòm ước vàng vẫn ở trong đường hầm bí mật của thành Jérusalem. Vào những
năm 30 của thế kỷ XX, hai nhà thám hiểm người Mỹ - Hêlibatti và Matăngxtơ,
lặng lẽ chui vào đường hầm mà trong truyền thuyết là do Uanbu tìm ra.
hai người với đèn pin, xẻng và một số đồ dùng thiết yếu cùng một nỗi sợ
hãi, mò mẫm đi vào đường hầm âm u ma quái. Ở trong đó, họ bắt đầu tìm
thấy một nơi có cả đất và những thứ gì đó, họ phát hiện ra có 2 đường
hầm khúc khuỷu sâu tối. Hai người đoán: môt đường có thể là đường ngầm
cũ của người Ibux cổ ra ngoài thành lấy nước, còn đường kia có lẽ là hầm
ngầm bí mật thông với Đá Thánh A La. Và 2 người quyết định đi theo một
trong hai con đường đó. Nhưng đi được khoảng 150m thì hết đường ngầm, họ
gặp những bậc đá ăn lên trên đều đã bị bùn cát lấp tịt, không thể đi
tiếp được nữa. Hai người lấy xẻng ra xúc cát.
Cát xúc ra lại đánh đóng vào đường ngầm phía sau và
đường ngầm dường như bị bùn cát lấp lại nên cát ở trên bậc đá vẫn cứ
chảy xống không ngừng, như thể có ai đó đang cố tình phá hoại, làm cho 2
nhà thám hiểm không thể có cách nào hót sạch chỗ cát cứ chảy ùn ùn trên
bậc đá. Hai người cảm thấy, trên bậc đã có một uy lực vô biên, không thể chống lại sức mạnh thần bí
đang tác quái, họ càng xúc, cát chảy xuống càng nhiều, nếu dừng thì cát
cũng không chảy nữa. Hai người vô cùng sợ hãi, vội vàng theo đường cũ
trở ra ngoài. Sau khi ra ngoài họ ra sức tô vẽ, thêm nếm cái nỗi sợ hãi
trong đường hầm làm cho người nghe phát sợ, sởn cả tóc gáy. Sau này
Hêlibatti đi thuyền buồm vượt Thái Bình Dương, gặp phải cơn bão lớn,
thuyền chìm, chôn thân dươi đáy biển. Từ đó về sau, không còn người nào
biết về đường ngầm thần bí đó, lại càng không có ai đi tìm nó nữa.
Lại có một số nhà khảo cổ cho rằng, Salomon thường
xuyên phái các đoàn thuyền ra khơi xa, mỗi lần quay về thì vàng đều chất
đầy khoang. Vì vậy, họ mạnh dạn suy đoán rằng, rất có thể ở ngoài biển
xa xôi ấy nhất định phải có một hòn đảo châu báu. Đó là
nơi Salomon đã cất giấu kho báu của mình, chỗ vàng kia là từ hòn đảo
châu báu đó ùn ùn chuyển về không dứt. Nhưng câu chuyện vẫn là một bí
mật cho tới nay chưa ai có thể làm sáng tỏ hơn.
Năm 156 sau Công nguyên, nhà hàng hải Tây Ban Nha dẫn
một đoàn thám hiểm đến hòn đảo châu báu nọ thì thấy thổ dân trên đảo
đeo các đồ trang sức đều lấp lánh ánh vàng. Họ đã vô cùng kinh ngạc cho
rằng đã tìm thấy kho báu của Salomon, nên liền đặt tên cho nơi này là Quần đảo Salomon, đó là nguyên do vì sao hòn đảo này có tên gọi là Quốc đảo Salomon. Từ đó về sau, người châu Âu cứ kéo nhau đến quần đảo Salomon để tìm "Kho báu của Salomon".
Do vị trí của quần đảo Salomon nằm ở phía Tây Nam Thái Bình Dương, bao
gồm 6 đảo lớn và gầm 1000 đảo nhỏ nằm rải rác trên diện tích đất biển là
60.000km2, rừng rậm phủ kín 90% diện tích đảo, nên rất khó khăn trong
việc tìm kho báu. Mấy trăm năm trở lại đây, hàng ngàn hàng vạn lượt
người tìm kho báu đã không tìm kiếm được gì ở quần đảo này. Có người cho
rằng, trên quần đảo Salomon làm gì có kho báu của Salomon, đó chẳng qua
chỉ là tin đồn nhảm nhí.
Sự thật về kho báu của Salomon và Hòm ước vàng cho đến tận ngày nay vẫn là một bí ẩn.
Cập nhật: 12/10/2015
H.T (Theo Nền văn minh cổ thế giới)
Các phát minh lỗi lạc của nhân loại
Bánh
xe, cúc áo, thìa, đĩa là những phát minh quan trọng của xã hội loài
người. Chúng hầu hết bắt nguồn từ thời cổ đại và phát triển dần đến ngày
nay.
Những phát minh vĩ đại nhất của nhân loại
Bánh xe
Bánh xe là một trong những phát minh tối
quan trọng của loài người, giúp cải thiện vượt bậc sản xuất, giao thông
cũng như nhiều mặt khác của đời sống con người. Bánh xe ra đời khi nào?
Cho đến nay, đó vẫn còn là một câu hỏi lớn đối với các nhà sử học. Các
nhà khảo cổ tìm thấy chiếc bánh xe cổ xưa nhất tại khu vực Lưỡng Hà có
niên đại khoảng 3.500 trước Công nguyên. Trên các bức vẽ cổ của người
Sume có khắc họa một loại xe chở hàng có gắn bánh tròn bằng gỗ cưa từ
thân cây.
Bánh xe có nan hoa đầu tiên được tạo ra
trên bán đảo Tiểu Á (ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) vào khoảng 2.000 năm
trước Công nguyên và lập tức được du nhập sang khu vực châu Âu và Trung
Quốc, Ấn Độ qua các lái thương. Bánh xe loại này chủ yếu được dùng trong
các loại xe chở người, riêng người Ai Cập thì dùng để vận chuyển hàng
hóa, vật liệu xây dựng. Bánh xe được sử dụng rất rộng rãi tại Hy Lạp cổ
đại và sau đó tại La Mã cổ đại. Ở châu Mỹ, bánh xe được các nhà hàng hải
châu Âu du nhập vào khi họ tìm ra châu Mỹ.
Cúc áo
Thời xưa tổ tiên chúng ta đã biết tết
những sợi đay, sợi vỏ cây làm quần áo và họ dùng xương thú, gai cây thay
cho cúc áo. Người Ai Cập và La Mã cổ đại thì khoét lỗ trên một đầu tấm
vải dùng làm áo rồi luồn đầu kia qua, hoặc buộc thắt nút. Người Trung
Quốc dùng dây rút trong nhiều thế kỷ.
Không ai biết cúc áo do ai phát minh ra.
Một số nhà sử học khẳng định cúc áo có từ thời La Mã, một số khác cho
rằng từ thời Hy Lạp cổ đại, trong khi một nhóm nhà khoa học khác đưa ra
những dẫn chứng về nguồn gốc châu Á của cúc áo.
Những chiếc cúc đầu tiên được đưa vào sử
dụng từ thế kỷ 8 và mãi cho tới tận thế kỷ 18, cúc áo được xem là vật
xa xỉ mà chỉ có nhà giàu mới dám dùng. Vua chúa thì dùng cúc bằng vàng,
bạc. Người nhà giàu dùng xương voi làm cúc. Còn dân thường thì vẫn buộc
thắt nút, hoặc dùng dải rút. Đầu thế kỷ 18, người châu Âu bắt đầu sản
xuất cúc bằng thép và đồng. Tới tận cuối thế kỷ 19, cúc áo vẫn còn là đồ
vật đắt tiền nên người ta khi may áo mới thường tháo cúc từ áo cũ đơm
sang.
Bao cao su
Khoảng 3.000 năm trước, một vị vua đã nghĩ ra cách bảo vệ bản thân khỏi bị lây nhiễm các bệnh hoa liễu trong khi đi "vi hành tình dục". Ông đã dùng bong bóng cá trong quan hệ chăn gối.
Từ "condoms" (bao cao su) được
ra đời vào thế kỷ 17, do khi đó quan ngự y của Vua Anh Carl II có tên là
Condom đã nghĩ ra cách cải tiến chiếc bao nhằm giúp cho vua ngăn ngừa
sinh con ngoài ý muốn và tránh bệnh hoa liễu khi quan hệ với gái. Vị
quan ngự y này đã dùng ruột cừu cắt khúc cán mỏng ra và khâu một đầu lại
làm thành chiếc bao cho Vua dùng. Về sau nhân dân cũng học theo phương
pháp này, song dùng ruột cừu cũng khá tốn kém nên người ta thường phơi
khô để tái sử dụng vài lần nữa.
Tới năm 1839, công nghệ lưu hóa ra đời,
cho phép chế tạo cao su thô thành một dạng vật liệu mới - cao su tinh
chế, có khả năng đàn hồi tốt. Công nghệ này tạo nên một đại cách mạng
đối với bao cao su. Năm 1844, loại bao đầu tiên bằng cao su ra đời và
tới năm 1919 người ta đã sử dụng chất liệu latex làm bao cao su. Đây là
loại chất liệu có độ đàn hồi rất tốt, có thể cán rất mỏng và không có
mùi cao su. Loại bao cao su này được sử dụng cho tới ngày nay.
Thời xa xưa con người đã có rất nhiều
cách để tạo ra lửa. Từ cách chà xát hai tấm vỏ cây vào nhau hàng giờ
liền đến khi phát lửa, cho đến cách dùng đá lửa đập vào nhau... Rồi khi
tạo ra được ngọn lửa thì phải duy trì ngọn lửa khá là công phu.
Năm 1830, nhà hóa học 19 tuổi người Pháp
Charles Soria đã phát minh ra diêm phốt pho, tạo ra từ hợp chất muối
bertollete, phốt pho trắng và keo. Loại diêm này rất dễ sử dụng, khi chà
xát với bất cứ bề mặt cứng nào đều có thể phát ra lửa. Cho nên trong
nhiều phim ta thường thấy những chàng cao bồi quẹt diêm vào gót giày để
châm thuốc hút. Diêm phốt pho không có mùi khó chịu, song có hại cho sức
khỏe do chất phốt pho trắng chứa độc tố gây hại.
Tới 1855, nhà hóa học Johan Lunstrom làm
một thử nghiệm với chất phốt pho đỏ, đồng thời ông tráng một lớp mỏng
chất này lên bề mặt giấy nhám. Kết quả là ông đã tạo ra một loại diêm
mới dễ đánh lửa và ít gây hại hơn cho sức khỏe người dùng. Đây chính là
loại diêm chúng ta đang sử dụng ngày nay.
Giấy vệ sinh
Người La Mã cổ đại dùng một chiếc bàn
chải có cán để làm vệ sinh cá nhân sau khi đi đại tiện. Chiếc bàn chải
này sau đó được ngâm vào hũ nước muối để sử dụng tiếp. Người Viking chùi
bằng khăn, trong khi người thổ dân châu Mỹ thì dùng các loại lá cây
trong tầm với tay, hoặc dùng lõi ngô. Các vị vua Pháp thì cao cấp hơn,
họ dùng giẻ bằng vải lanh.
Người Trung Quốc đi tiên phong trong
việc sử dụng giấy làm vệ sinh cá nhân. Nhưng chỉ có hoàng đế mới được
phép dùng. Mãi tới sau này, khi kỹ thuật in phát triển, giấy mới được sử
dụng rộng rãi cho việc vệ sinh cá nhân (giấy báo cũ, sách cũ...).
Năm 1857, một người Mỹ tên là Joseph
Hayetti đã nghĩ ra cách cắt giấy thành từng tờ vuông vắn và đóng thành
gói. Ông rất tự hào với sáng tạo của mình nên đã in tên mình lên từng tờ
giấy. Không rõ sau này ai đã nghĩ ra cách cuộn tròn giấy vệ sinh như
ngày nay, chỉ biết rằng năm 1890 xưởng giấy "Scott Paper" ở Mỹ đã sản xuất hàng loạt loại giấy vệ sinh này.
Phát minh ra Kim khâu
Con người biết may vá đã hơn 20.000 năm
nay. Người tiền sử đã lột da thú, may chúng lại bằng những dụng cụ thô
sơ như gai cây, đá nhọn. Họ dùi lỗ trên các dụng cụ ấy và xâu gân thú
vào để khâu quần áo. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những chiếc kim bằng đá
hoặc xương thú tại những bãi khai quật có niên đại 17.000 năm ở Tây Âu
và Trung Á. Tại châu Phi, con người đã dùng gân lá dừa làm kim và sợi
cây khô làm chỉ.
Chiếc kim khâu bằng kim loại đầu tiên
được làm tại Trung Quốc và cũng chính tại nước này, vào thế kỷ 3 trước
Công nguyên, con người đã sáng tạo ra cái đê khâu. Những phát minh này
sau đó được đưa sang châu Âu qua các lái buôn.
Cái kéo đầu tiên do người Ai Cập cổ đại
làm ra vào thế kỷ 16 trước Công nguyên. Tuy nhiên, nó được chế tạo từ
một tấm kim loại liền, chứ không phải là hai thanh kim loại bắt chéo
nhau. Loại kéo mà chúng ta dùng ngày nay do Leonardo da Vinci sáng tạo
nên.
Thìa, dĩa và dao
Từ thời La Mã cổ đại, con người đã sử
dụng nhiều bát đĩa bằng gốm sứ tinh xảo phục vụ cho bữa ăn. Nhưng họ ăn
bốc. Những chiếc thìa đầu tiên đã được phát minh ra và sử dụng cách đây
tới 5.000 năm. Người khu vực Lưỡng Hà đã biết nặn đất sét thành hình một
chiếc gáo nhỏ để múc thức ăn. Chiếc thìa bằng kim loại đầu tiên là bằng
bạc do Vua Nga Vla-đi-mia Mặt Trời Đỏ đặt chế tác riêng.
Còn với dĩa, vào khoảng thế kỷ thứ 10
tại châu Á đã xuất hiện một loại dụng cụ ăn mang dáng dấp của dĩa, nhưng
có nhiều răng, trông như cái bàn cào của Trư Bát Giới thu nhỏ. Một trăm
năm sau, phát minh này được du nhập vào châu Âu và tới thế kỷ 16, dĩa
được sử dụng rộng rãi và có hình dạng gần giống ngày nay, với 2 răng có
đầu nhọn dùng để đâm thức ăn.
Tới cuối thế kỷ 18, những con dao to và
dài như mã tấu vốn được sử dụng để cắt thức ăn đã được thay thế bằng
loại dao nhỏ gọn và có mũi cong tròn. Lý do của sự cải tiến này rất đơn
giản: do không còn cần dao nhọn và dài để đâm thức ăn nữa vì đã có dĩa
thực hiện chức năng này.
Phát minh ra Băng vệ sinh
Ngay từ thời đồ đá, con người đã bắt đầu
có những phát minh sáng tạo độc đáo nhằm giải quyết vấn đề hàng tháng
của phụ nữ, sử dụng cỏ khô, lá khô, thậm chí là rong biển. Người Ai Cập
cổ đại đã sáng tạo ra một loại băng vệ sinh mà ngày nay người ta gọi đó
là tampone, tuy nhiên tại Ai Cập ngày đó loại tampone này làm bằng sợi
cói. Người Hy Lạp cổ đại cải tiến tampone, dùng vải quấn quanh một cái
que nhỏ. Tại La Mã cổ đại, phụ nữ dùng vải lụa làm băng vệ sinh, tại
Nhật họ dùng giấy, trong khi phụ nữ châu Phi dùng bó cỏ khô làm bằng vệ
sinh.
Tới đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu dùng
những tấm giẻ lau cũ khâu thành cái túi nhỏ, bên trong nhồi bông. Những
chiếc băng vệ sinh tân tiến này được giặt, phơi khô và dùng đi dùng lại
nhiều lần. Cuối thế kỷ 19, đã từng có một doanh nghiệp châu Âu sản xuất
hàng loạt loại băng vệ sinh giẻ lau này, tuy nhiên do không quảng cáo
nên dây chuyền sản xuất này đã thất bại.
Đầu thế kỷ 20, phụ nữ bắt đầu dùng vải
màn, vải xô. Vào những năm 1920, loại băng vệ sinh làm bằng vải màn bắt
đầu được bày bán tại cửa hàng bách hóa và quảng cáo trên tạp chí. Băng
vệ sinh loại này được gài vào quần lót bằng kim băng, hoặc nối với dây
thắt trên eo.
Bàn chải răng
Cách đây 5.000 năm, con người đã biết
chăm sóc răng lợi. Tại các bãi khảo cổ Ai Cập, các nhà khoa học đã tìm
thấy những chiếc bàn chải răng thời cổ, được làm từ cành cây có sợi tơ ở
đầu.
Tuy nhiên, phải đến năm 1498, hoàng đế
Hoằng Trị nhà Minh (Trung Quốc) mới sáng tạo ra loại bàn chải mà chúng
ta dùng ngày nay. Chiếc bàn chải của vua Hoằng Trị được làm từ xương
thú, còn sợi chải răng thì làm từ lông lợn rừng Siberia.
Năm 1937, con người phát minh ra nylon.
Một năm sau đó, bàn chải bắt đầu được làm từ sợi nylon nhựa, tuy nhiên
chưa phổ biến vì sợi nylon thời đó còn khá cứng, dễ dàng gây tổn thương
cho nướu. Lông lợn rừng do mềm mại hơn nên tiếp tục được sử dụng tới tận
giữa thế kỷ 20.
Cập nhật: 17/11/2017
Theo VNE
Những bộ phận cơ thể không có cũng chẳng sao
Trải
qua quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên, một số cơ quan trong cơ
thể con người xuất hiện thêm hoặc biến mất để tạo thành một bộ máy cơ
thể hoàn chỉnh. Tuy nhiên có một số bộ phận bất chấp quy luật chọn lọc
tự nhiên này và tiếp tục tồn tại trong cơ thể mặc dù chúng không thực
hiện chức năng chính nào.
Mặc dù các bộ phận này không quan trọng
nhưng vì cơ thể con người là một hệ thống nên chúng vẫn phải được giữ
khỏe mạnh vì nếu gặp trục trặc sẽ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ tới
sức khỏe nói chung.
Người Vitruvian - bức vẽ nổi tiếng về mặt giải phẫu
học của Leonardo Da Vinci. (Ảnh: Public domain)
1. Ruột thừa
2. Xương cụt
Tổ tiên loài người từng có một cái đuôi,
tuy vậy nó đã biến mất từ rất lâu. Trải qua quá trình tiến hóa, hiện
dấu tích còn sót lại chính là phần được gọi là xương cụt. Đối với nhiều
loài động vật có vú, đuôi có tác dụng giữ thăng bằng cho cơ thể. Vì vậy,
khi con người bắt đầu tập đi bằng 2 chân thì đuôi cũng từ đó mà trở nên
vô dụng.
3. Núm vú nam giới
Có thể bạn sẽ ngạc nhiên nhưng sự thật
là núm vú nam giới hình thành ngay từ những ngày đầu trong bụng mẹ. Lúc
này, giới tính thai nhi vẫn chưa rõ ràng vì về cơ bản, mỗi bào thai ban
đầu đều mang giới tính nữ và sẽ dần phát triển thành bé trai hay bé gái
phụ thuộc vào lượng testosterone. Đó là lý do tại sao một số nam giới
lại có khả năng tiết ra sữa và nguy cơ ung thư vú cũng không hề nhỏ.
4. Lớp sợi cơ mỏng erector pili và lông
Với nhiều loài sinh vật, khi cần thiết,
các lớp cơ sợi mỏng erector pili sẽ khiến lông dựng đứng lên, làm chúng
trông có vẻ to lớn hơn. Tuy nhiên, điều đó chỉ thực sự tác dụng với
những loài thú có lông chứ không phải là con người.
5. Mí mắt thứ 3
6. Răng khôn
Tuy cũng có vai trò cụ thể chứ không hề
vô dụng nhưng nhắc đến răng khôn là người ta nghĩ ngay đến những cơn đau
đớn. Theo thời gian, quai hàm ở người trở nên nhỏ hơn và vì thế mà răng
khôn không có chỗ để phát triển. Ngoài ra, việc vệ sinh răng miệng cũng
là một phần nguyên nhân bởi khi còn nhỏ, con người từng phải nhổ đi khá
nhiều răng, răng vĩnh cửu mọc lên sau đó đã chiếm hết “đất sống” của răng khôn.
7. Cơ quan Jacobson
8. Amidan
Cập nhật: 13/11/2017
Tổng hợp
Lịch sử tình dục của loài người
Chim làm chuyện ấy,
ong làm chuyện ấy, con người từ thuở sơ khai cũng đã làm chuyện ấy.
Nhưng hoạt động này đã thay đổi như thế nào trong hàng nghìn năm qua, và
thậm chí chỉ trong vài thập kỷ vừa rồi?
Những mốc lịch sử của tình dục
Tình dục gắn liền với
sự tồn tại của nhân loại, nó là phương thức sinh học giúp loài người
nhân giống và tiến hóa. Mô tả đầu tiên về chiếc bao cao su
đã xuất hiện cách đây 15 ngàn năm. Sự hiểu biết của loài người dần dần
thay đổi, nắm rõ điều gì thực sự xảy ra và lịch sử chứng kiến sự thay
đổi chóng mặt trong thời kỳ Phục Hưng.
Nhà triết học gia Hi Lạp Aristotle (384 – 322 BC) đã có những đóng góp lớn cho thuyết sinh học và giống nòi. Chẳng hạn như, lý thuyết của ông chỉ ra rằng sự thụ thai bắt nguồn từ giống nam giới, cấy ghép vào cơ thể nữ giới – đã trở thành cơ sở cho những triết lý sau này.
Những người La Mã cổ đại tổ chức các buổi tiệc, lễ hội ca ngợi Bacchus – thần rượu vang - được coi là những buổi “thác loạn, dâm dục”. Những bữa tiệc này được tổ chức dưới danh nghĩa của thượng viện La Mã khoảng năm 186 trước công nguyên.
Ở phương Đông, nhà triết gia và cũng là một tu sĩ Vatsyayana người Ấn độ đã sáng tạo ra một cuốn sách về nghệ thuật tình dục nổi tiếng “Kama Sutra”, với mục đích đem lại cho con người một cuộc sống đầy hưởng thụ và khoái lạc.
Vào thời Trung Cổ, các giáo hội Châu Âu kiểm soát các hành vi tình dục ngoài hôn nhân và lễ kết hôn đã trở thành một buổi lễ tôn giáo dưới sự giám sát của linh mục.
Bệnh giang mai xuất hiện lần đầu ở các binh lính trong cuộc chiến giữa Pháp và Naple năm 1494. Căn bệnh lây lan nhanh chóng và được biết đến với cái tên “bệnh Pháp”, nó đã làm dấy lên những quy định nghiêm ngặt chống lại nạn mại dâm.
Johann Gutenberg là người đầu tiên thử nghiệm việc chuyển Kinh thánh sang các bản in vào năm 1430, đặt nền móng cho việc in ấn. Đến giữa 1670s, Rochester John Wilomt đã lần đầu tiên xuất bản cuốn sách mang nội dung khiêu dâm “Sosom”
Năm 1677, Anton Leewenhok đã nghiên cứu tinh dịch bằng việc sử dụng kính hiển vi. Ông đã khám phá ra rằng tinh dịch thực chất bao gồm tinh trùng trộn lẫn với các chất dịch. Bản thân tinh trùng là một loại tế bào sinh sản vô cùng nhỏ bé nên không thể quan sát bằng mắt thường, còn tinh dịch là chất dịch chúng ta có thể nhìn thấy khi chúng được xuất ra khỏi cơ thể.
Cuộc cách mạng công nghiệp 1760 – 1850 là một bước ngoặt quan trọng dẫn đến sự thay đổi lớn trong quan hệ hôn nhân và tình dục.
Chính xác 150 năm sau khi Anton Leeuwenhoek nghiên cứu tinh trùng, tiến sĩ phôi học Karl Ernst von Baer đã khám phá ra sự tồn tại của trứng trong cơ thể nữ giới.
Khái niệm “ tình dục khác giới” và “ đồng tính” thực chất không phải là một cách nói khoa học. Vào năm 1886, một nhà hoạt động giấu tên người Phổ đã đặt ra cái tên này cho nhưng người “gay” để chống lại các điều luật của luật hình sự.
Hơn 2000 năm sau khi Aristotle khẳng định rằng nam giới là nguồn gốc của sự sinh sản, Tiến sĩ Martin Berry đã tìm ra rằng điều đó phải cần đến sự đóng góp của cả 2 giới, và sự hình thành nòi giống bắt đầu khi tinh trùng thụ tinh với một trứng.
Trong thập kỉ 1880, điện đã mở ra phương thức chữa trị mới cho chứng điên lọan ở phụ nữ - được Hipocrate mô tả vào khoảng 450 BC. Máy rung đã được sử dụng để chữa trị cho các nữ bệnh nhân bị lo lắng, mất ngủ, ham muốn tình dục quá mức... Đến năm 1902, Hamilton Beach đã nộp bằng sáng chế cho thiết bị này.
Vào năm 1882, Tiến sĩ Wilheim Mensinga đã phát minh ra màng tránh thai và nó nhanh chóng trở thành một phương thức hiệu quả giúp ngăn ngừa mang thai ngoài ý muốn.
Năm 1886, nhà tâm thần học Sigmund Freud đã tiến hành những nghiên cứu của mình tại Áo. Sau đó ông đã đưa ra các thuyết về tình dục - trở thành cơ sở của thuyết phân tâm học suốt thể kỉ 20.
Năm 1916, Margaret Sanger mở phòng khám thai đầu tiên tại Brooklyn, New York, tuy nhiên 10 ngày sau đó, cảnh sát đã đóng cửa nó. Sau đó, cô phải ra tòa và bị ngồi tù vì đã vi phạm luật Comstock.
Năm 1919, Frederick Killian đã đặt nền móng cho việc sản xuất bao cao su hiện đại. Thay vì sử dụng chất liệu bằng da động vật hay vải, ông đã sử dụng cao su lỏng, đem lại hiệu quả cao.
Đến thập kỉ 1920, các nhà khoa học đã có thể theo dõi chu kỳ sinh sản hàng tháng của phu nữ. Dựa vào thông tin đó, các nhà khoa học Nhật và Úc đã phát mình ra phương pháp hô hấp giúp ngăn ngừa mang thai.
Năm 1947, Đại học Indiana mở ra viện Nghiên cứu Tình dục, nơi đào tạo ra nhà tình dục học nổi tiếng Alfed Kinsey. Ông đã cho xuất bản “Hành vì tình dục ở nam giới” đưa ra những lời chỉ trích cho hành vi cũng như những hiện tượng bất thường ở nam giới.
Bác sĩ phụ khoa người Đức Ernest Gräfenberg đã cho xuất bản “ vai trò của niệu đạo trong sự cực khoái ở nữ giới” trong tạp chí Giới tính quốc tế chỉ ra sự tồn tại của tuyến tiền liệt ở nữ hay còn gọi là điểm G.
Năm 1953, Hugh Hefner đã cho ra đời ấn phẩm đầu tiên “Playboy” và nó nhanh chóng trở thành cuốn tạp chí khiêu dâm được yêu thích nhất, tẩu tán 1 triệu bản trong 5 năm.
Ngày 11 tháng 5 năm 1960, Cục quản lý dược phẩm Mỹ đã chứng nhận cho loại thuốc tránh thai đầu tiên được thương mai hóa.
Những cuốn sách như “ Cơ thể của chúng ta “ hay “ Niềm vui của Sex” được xuất bản vào năm 1971 và 1972 đã phản ánh sự cởi mở ngày càng tăng của xã hội Mỹ với vấn đề tình dục. Sau đó, những đạo luật hạn chế phá thai cũng như kiểm soát vấn đề sinh sản ở phụ nữ chưa kết hôn đã được ban hành.
Năm 1998, Cục quản lý Dược phẩm Mỹ đã thông qua đạo luật cho phép bán sản phẩm sildenafil citrate – được biết đến như Viagra.
Năm 2000, Hà Lan trở thành nước đầu tiên chấp nhận việc hôn nhân đồng giới. Năm 2003, Bỉ là nước thứ hai thông qua đạo luật này.
Tính đến nay đã có 19 quốc gia trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới – gồm Argentina, Bỉ, Bồ Đào Nha, Brazil, Canada, Đan Mạch, Iceland, Ireland, Luxembourg, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Nam Phi, Phần Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Uruguay, và Vương quốc Anh (trừ Bắc Ireland). Một số tiểu bang của Hoa Kỳ và Mexico cũng đã công nhận hôn nhân đồng giới.
Cập nhật: 17/11/2017
Tổng hợp


12:37
Hoàng Phong Nhã