Knowledge

Knowledge
Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Có 5 tính cách này, bạn sẽ hạnh phúc


Trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu tâm lý học cho rằng 2 đặc điểm tính cách (trong mô hình 5 đặc điểm tính cách Big Five) có ảnh hưởng quan trọng nhất đến hạnh phúc của một cá nhân.
Đó là tính hướng ngoại (extroversion) và tâm lý bất ổn (neuroticism). Người hướng ngoại và không bị tâm lý bất ổn thường có mức độ hạnh phúc cao hơn.
Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy hạnh phúc con người không đơn giản như vậy.
Có 5 tính cách này, bạn sẽ hạnh phúc
"Bạn cứ lịch sự, gọn gàng và bốc đồng như mình muốn mà chẳng phải giảm bớt hạnh phúc"
Các nhà nghiên cứu tâm lý ở đây đã nghiên cứu trên 706 đàn ông và phụ nữ có độ tuổi trung bình là 36 và nhận thấy 5 đặc điểm tính cách dưới đây có thể mang lại hạnh phúc. Nếu bạn sở hữu bất kỳ 1 trong 5 tính cách này, bạn đều có thể hạnh phúc nhiều hơn ở trên nhiều phương diện cuộc sống. Năm đặc điểm tính cách đó là:
1. Sự nhiệt tình
2. Dễ chịu, thoải mái với bản thân mình (low withdrawal)
3. Tính cần cù, chịu khó
4. Sự quan tâm, thông cảm với người khác
5. Có óc tò mò (về trí tuệ), ham hiểu biết
Sự nhiệt tình
Những người nhiệt tinh thường vui vẻ, thân thiện, cởi mở và dễ biểu đạt cảm xúc. Và có lẽ không ngạc nhiên lắm rằng những người sôi nổi nhiệt tình thường có cuộc sống hạnh phúc.
Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng sự nhiệt tình là một kết quả độc lập trong việc thỏa mãn cuộc sống, cảm xúc tích cực, ít cảm xúc tiêu cực, phát triển cá nhân, có các mối quan hệ tích cực, có mục đích sống rõ ràng, nhiệt huyết...
Dễ chịu, thoải mái với bản thân mình
Một cách đơn giản, điều này nghĩa là bạn có mối quan hệ dễ dàng với chính bản thân mình. Những người có đòi hỏi cao với bản thân thường hay bối rối, tức giận thường có xu hướng tự trọng cao, dễ lo âu, trầm cảm.
Ngược lại, người hài lòng với bản thân mình thường có tính tự chủ cao hơn,làm chủ môi trường và phát triển bản thân; bên cạnh đó còn có cả những đặc điểm của người có tính cách nhiệt tình.
Cần cù, chịu khó
Những người cần cù thường có định hướng mục tiêu rõ ràng, hiệu quả" - nhà tâm lý học người Mỹ Scott Barry Kaufman giải thích, và nói thêm: "Cần cù, chăm chỉ có mối liên hệ mật thiết với tính bền bỉ - say mê và quyết tâm theo đuổi mục tiêu dài hạn".
Bởi vậy những người trong chúng ta nếu có kế hoạch cụ thể, làm việc chăm chỉ, dồn trọng tâm vào mục tiêu rõ ràng thường đạt kết quả tốt hơn, và do đó sẽ hạnh phúc hơn.
Lòng cảm thông
Nếu bạn là người biết cảm thông, bạn quan tâm tới những người khác - nghĩa là thấu hiểu cuộc sống của họ. Sự cảm thông đến từ việc đồng cảm với mọi người, và nghiên cứu chỉ ra rằng càng nhiều đồng cảm, thì bạn càng thấy hạnh phúc.
Cùng với quan tâm tới người khác, bạn cũng không quên phát triển chính mình.
Tình tò mò, ham hiểu biết
Nếu bạn thấy hào hứng với các vấn đề phong phú của cuộc sống, phản chiếu qua kinh nghiệm của mình, bàn luận về các chủ đề triết luận, đọc các cuốn sách khó và cởi mở với các ý tưởng mới mẻ, bạn thực sự có trí tò mò cao.
Nghiên cứu chỉ ra rằng 5 đặc điểm trên đây là quan trọng nhất trong việc dự đoán hạnh phúc, nhưng sự quyết đoán và cởi mở sáng tạo là tiên đoán ở khía cạnh nào đó.
Và những phát hiện cho thấy ba đặc điểm đáng ngạc nhiên không ảnh hưởng đối với hạnh phúc là: lịch sự, trật tự và biến động.
Vì vậy, bạn cứ lịch sự, gọn gàng và bốc đồng như mình muốn mà chẳng phải giảm bớt hạnh phúc.
Kaufman kết luận bằng cách nhấn mạnh rằng nghiên cứu này đang ngày càng chứng tỏ rằng bạn có thể thay đổi cá tính của mình. Vì vậy nếu chưa có bất kỳ 5 tính trạng quan trọng nhất cho hạnh phúc, hãy thoải mái! Bạn có thể thay đổi để trở thành con người mình muốn.
Mô hình tích cách 5 yếu tố (Big Five)
Các nhà khoa học tin rằng ai cũng có năm yếu tố tính cách của mô hình này, đó chính là : hướng ngoại (extraversion), tận tâm (conscientiousness), dễ chịu (agreeableness), sẵn sàng trải nghiệm (openness to experience) và neuroticism (tâm lý bất ổn). Mô hình này không dán nhãn loại tính cách của bạn (ví dụ phân loại bạn là INTJ hay INTP…) mà là kiểm tra xem bạn có bao nhiêu phần trăm, bao nhiêu điểm cho từng mặt tính cách trong năm tính cách này.
Song Nguyên (Theo Independent)

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Những hiểu lầm phổ biến về hành vi con người (phần 2)


1. Không ai có thể hiểu bạn muốn gì, trừ khi bạn trao đổi thẳng thắn về điều bạn muốn 
Nhiều người cho rằng mình có thể hiểu người khác thông qua việc quan sát ngôn ngữ cơ thể. Báo đài thường xuyên chỉ các mẹo dùng để đoán xem người khác có nói dối không. Sự thật là không ai, kể cả những nhà tâm lý học, có thể đọc được chính xác cảm xúc không nói thành lời dựa trên những cử động của cơ thể. Nhà tâm lý học Paul Ekman đã kiểm tra khả năng của con người trong việc phát hiện sự lừa dối ở những người xa lạ (2009). Theo mức trung bình thì mức độ chính xác của những người tham gia đạt khoảng 53%.Trong nhiều trường hợp, chúng ta “đọc được” cảm xúc của bạn bè, người thân. Đó là vì sự thân thuộc, hiểu biết. Đừng lầm lẫn rằng bạn có thể áp dụng những công thức tương tự để “đọc hiểu” những người xa lạ. Kết luận ở đây là: Tốt nhất là bạn không nên giả định rằng bạn hiểu điều gì đang diễn ra trong đầu 1 ai đó … trừ khi họ kể với bạn.
Điều này giúp bạn ra sao trong cuộc sống ?
Nếu bạn muốn biết ai đó đang nghĩ gì, hãy hỏi họ. Nếu bạn muốn nói truyền đạt với người khác, hãy diễn tả rõ ràng, đừng trông chờ người khác có thể đọc hiểu bạn.
Và hãy cảnh giác với người nào đó khi họ nói rằng mình là chuyên gia trong việc đọc ngôn ngữ cơ thể. Nếu như ngôn ngữ cơ thể chuyển tải 1 thông điệp rõ ràng thì bạn không cần 1 “chuyên gia” để đọc được nó.
2. Không nên tặng hai lần một món quà 
Muốn thay đổi hành vi của ai đó? Bạn có thể làm được dễ dàng nếu bạn thực hiện hai trong số các kỹ thuật tâm lý cơ bản nhất – Thưởng và Phạt (Skinner, 1976). Một ví dụ đơn giản, khi đứa trẻ làm một việc đúng như dọn đồ chơi gọn gàng sau khi chơi, bạn thưởng cho nó món kem nó thích. Ngược lại, nếu đứa trẻ có hành động không mong muốn như đập phá đồ chơi khi tức giận, bạn phạt nó bằng việc không cho chơi điện tử một thời gian nhất định.
Đọc thêm thuyết hành vi tại đây
Tuy nhiên bạn nên lưu ý rằng giá trị của thưởng và phạt sẽ thay đổi theo thời gian. Nếu bạn đưa cho một đứa trẻ một que kem lần một thì đứa trẻ có thể đòi hai que kem ở lần tiếp theo. Tương tự, đứa trẻ có thể “lờn” với hình phạt nghiêm khắc của bạn. Vì vậy, nên có sự thay đổi thưởng và phạt liên tục.
Điều này giúp bạn ra sao trong cuộc sống ?
Nếu bạn biết phối hợp hai kỹ thuật Thưởng và Phạt, cung với sự Kiên nhẫn, bạn sẽ có thể kiểm soát hành vi của người khác mà họ không hề nhận biết.
3. Đừng hứa khi đang vui, đừng quyết định khi đang buồn
Trong chương trình “The Tonight Show” có một chuyên mục gọi là Jaywalking. Người dân được tiếp cận ngẫu nhiên trên các đường phố và được yêu cầu trả lời một số câu hỏi đố đơn giản. Ví dụ như: “Ai là Phó Tổng Thống Mỹ”, “Mý có bao nhiêu Bang.”,… Tuy nhiên rất nhiều người trả lời sai hoặc thậm chí không thể trả lời. Vì sao vậy? Đó là vì họ bị phỏng vấn ngay tại chỗ, không có thời gian để lục lọi trí nhớ, và thêm nữa là ống kính máy quay ngay trước mặt. Điều đó làm cho người dân bị đặt vào trạng thái lo lắng.


Từ thời nguyên sinh, con người buộc phải luôn tìm cách đối phó với hiểm nguy từ thiên nhiên, chính vì thế “lo lắng” được xem như là một trong những trạng thái căn bản để sinh tồn. Khi lo lắng, bộ não chúng ta sẽ tự động tập trung tối đa năng lượng để giải quyết hiểm họa, vì thế tư duy giảm sút rất nhanh. Vì thế, khi lo lắng, chúng ta sẽ không thể hoàn thành tốt công việc (Yerkes & Dodson, 1908)
Điều này giúp bạn ra sao trong cuộc sống ?
Khi bạn ở trong hoàn cảnh không được chuẩn bị trước, nên cố tạo chút thời gian để thu thập suy nghĩ của bạn và bình tĩnh lại nếu bạn cảm thấy căng thẳng. Đừng hứa khi đang vui, đừng quyết định khi đang buồn, đừng để cảm xúc đánh lừa khả năng suy nghĩ thông suốt của bạn.
4. Hiểu rõ năng lực bản thân
Ai cũng nghĩ người hiểu rõ ta nhất không ai khác chính là bản thân, “Know thyself”. Có vẻ đơn giản như vậy.
Tuy nhiên khi một việc xui xẻo xảy ra, chúng ta hay đổ lỗi cho hoàn cảnh (fundamental attribution error) Nói cách khác, chúng ta lấy lý do tự bào chữa cho chính mình.
Nhưng khi đánh giá người khác, ta mặc định chuyện xảy ra là do người khác yếu kém nên cớ sự mới xôi hỏng bỏng không. Tâm lý học gọi đây là hiệu ứng diễn viên-người quan sát (Actor-Observer effect) (Asch, 1946, Jones & Nisbett, 1972). Nếu ai đó làm sai, đơn giản lý do là từ chính họ mà ra, không phải do hoàn cảnh bắt buộc.
Khi chúng ta đánh giá năng lực mình so với người khác, con người có xu hướng đánh giá cao bản thân và đánh giá thấp người khác (Suls, Lemosk, &Stewart, 2002; Kruganski & Mayselers, 1990).
Điều này giúp bạn ra sao trong cuộc sống ?
Bạn nên hiểu rằng, người khác nhìn vào bạn khác với những gì bạn tự nhìn thấy ở chính mình, và điều đó hoàn toàn bình thường. Đừng vội kết luận rằng họ ghen ghét đố kỵ với bạn. Điểm mấu chốt là bạn nên học cách lắng nghe từ những người khác, áp dụng hợp lý để trở nên hoàn thiện hơn.
Gao N lược dịch từ Ten Interesting Things about Human Behavior
Lan T biên tập và bổ sung


Những hiểu lầm phổ biến về hành vi con người (phần 1)

 1. Thay đổi thái độ từ hành vi 
Khi tôi trình bày nguyên tắc này lần đầu tiên, tôi đã nhận đuợc rất nhiều ánh mắt không đồng tình. Mọi người thường phản ứng như sau:
“Không phải nguợc lại sao? Không phải thái độ ảnh hưởng tới hành vi sao?”
“Thật nực cười! Tôi có những giá trị bản thân và luôn sống theo nó! “
Không, nó không có nghĩa là chúng ta hay thay đổi, cũng không có nghĩa là thái độ không bao giờ có ảnh hưởng đến hành vi. Tất nhiên thái độ ảnh hưởng đến hành vi, thế nhưng các nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng hành vi của chúng ta cũng có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ dưới những hoàn cảnh phù hợp ( Eagly & Chaiken,1993).
Điều này giúp bạn ra sao trong cuộc sống ?
“Hãy hành động như người mà bạn muốn trở thành và bạn có thể trở thành con người đó”. Đó là điều đáng kinh ngạc mà bộ não của chúng ta có thể thực hiện bất kể hành động và thái độ của chúng ta có trái ngược đi nữa. Bạn có thể học cách yêu thích một thứ gì đó, hoặc ít nhất là trở nên thoải mái hơn với nó  bằng cách “tiếp tục”.
Trong “So good, they can’t ignore you“, tác giả Cal Newport cũng đưa lời khuyên về việc tìm kiếm “niềm đam mê”. Theo Newport, thật sự khái niệm “đam mê” không hề tồn tại ngay từ ban đầu, mà nó là kết quả của quá trình liên tục cải thiện và nâng cao năng lực bản thân, và dần dần về sau khi kỹ năng giúp bạn đạt được những sự thoải mái trong cuộc sống cũng như hiểu được tính chất công việc, dần dần bạn sẽ trở nên yêu thích và đam mê công việc. Điều này cũng giống như với việc thay đổi thái độ từ hành vi. Nếu bạn vẫn loay hoay tìm kiếm hạnh phúc, hãy cứ bắt tay làm việc gì đấy – bất kể việc gì, những kinh nghiệm thu thập được sẽ giúp bạn có cái nhìn đa dạng và thực tế hơn cho câu hỏi “Đam mê của tôi là gì? Thái độ của tôi là gì?”.

2. Con người có thể là không nhất quán. Và đó là điều bình thường

Một cô bạn thân thiết bỗng thay đổi ý kiến xoành xoạch. Trong một cuộc tranh luận, một người có thể có cái nhìn rất lành mạch, hợp lý, thế nhưng trong một cuộc tranh luận khác, họ lại trở nên thiên vị rõ rệt. Hẳn nhiên chúng ta sẽ cảm thấy khó hiểu và thất vọng, và kết luận người đó là vô lý.
Nhưng thật ra, con người là một thực thể rất phức tạp. Mặc dù chúng ta có thể suy nghĩ rất lý trí, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc chúng ta luôn luôn làm được như vậy ( Shermer,1997). Chúng ta bị giằng xé giữa hai cảm xúc và không quyết định được mình nên làm gì.
Điều này giúp bạn ra sao trong cuộc sống ?
Hiểu rằng sự không nhất quán là một phần bình thường của bản chất con người.
Bạn đã từng cố gắng thuyết phục ai đó rằng những quan điểm của người đấy là không nhất quán và do đó những quan điểm đó là sai? Đó không phải là cách để xây dựng mối quan hệ. Hãy xem xét về khả năng những nhìn nhận của bạn là sai và hãy tìm hiểu xem tại sao quan điểm của người đó lại không nhất quán so với những nhận định trước của họ.
Một khả năng nữa là hãy đừng bận tâm đến người nói là ai, mà hãy chú trọng vào nội dung của cuộc tranh luận. Thông thường chúng ta có kỳ vọng dành cho những người mà chúng ta có ấn tượng tốt (halo effect), và những kỳ vọng này cũng góp phần vào những đánh giá của chúng ta về người nói và ý kiến của họ. Hãy hiểu rằng nội dung (what) thì quan trọng hơn ai nói (who).

3. Không có nguyên nhân duy nhất 

Liệu xem phim bạo lực trên TV có làm cho trẻ em hành xử hung hãn không ? Một người khẳng định điều này một cách chắc chắn trong khi một người khác lại đưa ra dẫn chứng việc tuy nhiều trẻ em xem phim bạo lực nhưng chúng không hành xử hung hãn.
Những tranh cãi kiểu về nguyên nhân thường chẳng giải quyết điều gì cả. Chúng ta quên mất rằng có rất nhiều yếu tố khác nhau dẫn đến hành vi, và các yếu tố này tương tác với nhau đồng thời. Các nghiên cứu Tâm lý học thường nghiên cứu về những sự tương tác này, giúp chúng ta đánh giá sự tác động của các nguyên nhân khác nhau.
Điều này giúp bạn ra sao trong cuộc sống ?
Lần tới khi bạn tự hỏi về nguyên nhân dẫn đến hành động của một ai đó, đừng rơi vào cái bẫy như trên: Đừng cho rằng chỉ có một nguyên nhân duy nhất dẫn đến hành vi xấu. Nếu bạn làm như vậy, bạn có nguy cơ phớt lờ những yếu tố quan trọng khác. Hãy xem xét đến khả năng có nhiều hơn một yếu tố tương tác lẫn nhau đã gây nên hành vi. Nó sẽ giúp bạn hiểu sâu sắc hơn về con người.
(còn tiếp)
Gao N lược dịch từ Ten Interesting Things about Human Behavior
Lan T biên tập và bổ sung

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015

Luân hồi hay siêu trí nhớ

Bạn nghĩ sao nếu một ngày tỉnh dậy bạn có thể nói tiếng Ai Cập cổ đại, hay sử dụng thành thạo ngôn ngữ của người La Mã.
Kiếp luân hồi
Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn giao thông. Khi tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là Rozetta Caste Liani, công dân Italy, và yêu cầu được trở về thăm quê hương của mình. Về tới “nhà“, Elina mới biết rằng người có tên Rozetta Caste đã mất từ năm 1917 cũng do tai nạn giao thông. Đón cô là một bà già lụ khụ, xưng là con gái của Rozetta Caste. Elina chỉ tay vào bà già, nói: “Đây là Fransa, con gái tôi!”. Lúc ấy, tất cả mọi người đều giật mình, vì người đàn bà này quả thực tên là Fransa, đúng như Elina gọi.

Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn cho giới khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự, và hiện tượng “nhớ về quá khứ” không nhất thiết phải bắt đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand. Vào thập niên trước, một cô gái nhỏ người Anh đã biến thành “một người xa lạ” sau khi tỉnh dậy một buổi sáng. Em không nhận ra mẹ và người thân của mình, không nói được tiếng mẹ đẻ trong khi lại thông thạo tiếng Tây Ban Nha, và lúc nào cũng tỏ ra sợ sệt.




Các bác sĩ đều có kết luận giống nhau: Em bé 10 tuổi này không có biểu hiện gì về bệnh lý hoặc tâm thần, sức khoẻ tốt. Em nhận mình là người Tây Ban Nha và sống ở thành phố Toledo. Em kể lại rằng một người cùng phố do ghen ghét và đố kỵ đã đâm chết em năm em 22 tuổi. Cảnh sát Tây Ban Nha đã thẩm tra lại câu chuyện kỳ quặc về “tiền kiếp” của em, và kết luận, đúng như lời em kể. Ở số nhà đó trong thành phố Toledo từng có một cô gái 22 tuổi bị hãm hại. Những người hàng xóm đã tìm thấy xác cô ngay trong nhà. Câu chuyện càng sáng tỏ hơn khi hung thủ (lúc này đã già) tự đến gặp cảnh sát để thú tội. Các nhà khoa học còn tiếp tục ghi nhận nhiều trường hợp khác. Chẳng hạn có người đột nhiên “biến” thành công dân La Mã cổ đại, và bằng chứng khó chối cãi là anh ta biết sử dụng được thứ ngôn ngữ “nguyên thủy” của mình, không còn ai hiểu nữa. Tương tự như vậy, có người châu Âu bỗng nói tiếng Ai Cập, mất hẳn khả năng dùng tiếng mẹ đẻ. Rồi anh ta mô tả chính xác cảnh vật ở vùng sông Nile, và tự nhận có nguồn gốc Ai Cập.

Trí nhớ gene

Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện tượng trên với khái niệm “trí nhớ gene”: Nếu các vùng “ngủ” trong ADN bị kích thích, con người có thể “trở về tiền kiếp”. Họ bỗng nhớ lại gốc gác La Mã hoặc Ai Cập từ xa xưa. Cũng do ảnh hưởng bởi tiền kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước..




Nhưng ở cô Elina người Đức và bé gái người Anh thì rõ ràng không hề có quan hệ nào về “gene di truyền” với người mà mình hoá thân, có nghĩa là trường hợp của họ không thể giải thích bằng “trí nhớ gene”. Vậy nó là thế nào? Ở châu Á, người ta rất quen thuộc với thuyết luân hồi của Phật Giáo, cho rằng thể xác con người – tức là cái “bề ngoài” – luôn thay đổi. Còn cái “bên trong thể xác” – tức linh hồn – là vĩnh cửu. Theo thuyết luân hồi, cuộc sống không khởi đầu bằng sự sinh ra, và cũng không kết thúc bằng cái chết. Cuộc sống cứ trôi vô tận. Linh hồn ở mỗi “kiếp” lại nhập vào một thân xác mới. Vì thế, sẽ không lạ khi cô Elina và bé gái người Anh đột nhiên nhớ lại kiếp trước của mình.

Thuyết về kết cấu “phách”

Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề trên bằng “kết cấu phách”. “Phách” ở đây tất nhiên không phải là “phách” trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ “phần bất biến” của con người, còn được hiểu là “phần năng lượng tách ra dưới dạng sóng”.. Khi người chết, “phách” liền tan vào vũ trụ. Vì thế, “phách” có thể hiểu là một loại “trường sóng hạt cơ bản nhẹ”, hoặc là “tập hợp những năng lượng thông tin cá thể”.


Theo các nhà khoa học này, thuyết về phách có thể lý giải được đa phần hiện tượng thần đồng (trong âm nhạc, thi ca, khoa học…). Ở tuổi rất trẻ, những thần đồng này đã tích tụ được lượng kiến thức khổng lồ mà người bình thường cả đời cũng khó có được. Theo thuyết này, “phách” của các thiên tài là sản phẩm của hàng vạn kiếp trong quá khứ dồn lại trong một cơ thể hiện hữu. Nói cách khác, “trường sóng hạt cơ bản nhẹ″ hay những “tập hợp thông tin cá thể” đã tập trung vào cơ thể họ theo một quy luật nào đó.




Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn đề cập tới những khái niệm rất mới về hiện tượng “nhớ về quá khứ”. Họ đã lập ra một “quy trình công nghệ” cho phép bằng thực nghiệm đưa con người vào trạng thái giữa mơ và thực. Ở trạng thái lơ lửng kỳ ảo này, người tham gia thực nghiệm vẫn nhìn thấy những gì quanh mình, nhưng trong tiềm thức, họ lại thấy cả quá khứ. Phương pháp thực nghiệm này đã được áp dụng để chữa một số bệnh tâm thần và đem lại kết quả. Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng đến nay, những chuyện về “siêu trí nhớ” gần như vẫn nằm ngoài vòng nghiên cứu của khoa học chính thống. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là nhân loại chịu bó tay để tự rơi vào vòng “bất khả tri”, các nhà khoa học vẫn đang tìm cách để giải thích những điều khó giải thích nhất..

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Cách tốt để phát hiện người nói dối

(Ảnh Getty Images)
Hãy bỏ qua ngôn ngữ cơ thể và những cử động của mắt. Có nhiều cách tốt hơn để phát hiện người nói dối.
Nhóm sỹ quan an ninh của Thomas Ormerod phải đối mặt với nhiệm vụ tưởng chừng không làm nổi. Ở các sân bay khắp Châu Âu, họ phải phỏng vấn hành khách về quá khứ và kế hoạch đi của họ. Ormerod đã cài một số người phải qua bộ phận an ninh xuất nhập cảnh với quá khứ và kế hoạch dự kiến bịa đặt và đội ngũ của ông phải tìm ra được họ. Thực tế chỉ 1/1000 người được phỏng vấn có thể qua mặt được. Phát hiện một kẻ dối trá đáng lẽ ra phải khó như mò kim đáy bể.
Vậy họ đã làm gì? Một cách làm là dựa vào vào ngôn ngữ cơ thể hoặc cử động của mắt, đúng vậy không? Làm như thế là không đúng. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng những cố gắng (thậm chí của cảnh sát được đào tạo) phát hiện ra sự dối trá qua biểu hiện ở cử chỉ thân thể thì chỉ hơn sự may rủi một chút. Theo một nghiên cứu thì chỉ vẻn vẹn 50 trong số 20.000 người là nhận định đúng với độ chính xác 80%. Phần lớn những người khác phát hiện được là do may.
Đội ngũ của Ormerod đã dùng cách khác và đã phát hiện được những hành khách giả mạo trong phần lớn trường hợp. Bí quyết là gì? Họ bỏ nhiều kỹ thuật phát hiện dối trá đã từng được dùng và áp dụng mới một kỹ thuật đơn giản không ngờ.
Khi xác định xem người bị hỏi có nói dối không, ánh mắt không cho nhiều kết quả tin cậy (Ảnh: Thinkstock)
Trong vài năm qua, nghiên cứu về dối trá đã có những kết quả đáng thất vọng. Phần lớn những nghiên cứu trước đó đã đi sâu vào việc đọc biểu hiện dối trá qua các cử động của cơ thể hoặc trên mặt, như đỏ mặt, cười gằn, đảo mắt.
Thí dụ nổi tiếng nhất là động tác sờ mũi của Bill Clinton khi ông chối từ quan hệ của ông với Monica Lewinsky, nó được coi là dấu hiệu chắc chắn là ông nói dối. Timothy Levine ở trường đại học Alabama tại Birmingham nói là việc nói dối gây ra một số xúc cảm mạnh, khó kiềm chế như bồn chồn, cảm thấy tội lỗi, thậm chí cười thách thức. Thậm chí ngay cả khi ta nghĩ rằng ta mặt lạnh như tiền nhưng ta có thể vẫn có những rung động nhỏ trong cử chỉ được gọi là những “biểu lộ cực nhỏ” mà chúng làm lộ tẩy.
Tuy nhiên càng đi sâu thì các nhà tâm lý càng thấy các biểu lộ tưởng rằng đáng tin cậy lại không hẳn thế. Vấn đề là ở tính đa dạng muôn vẻ của ứng xử của con người. Đối với người quen ta có thể phát hiện khi nào họ nói thật, nhưng với những người khác thì không như vậy vì họ có biểu hiện khác thế; không có sự thống nhất trong ngôn ngữ cơ thể. “Không có những dấu hiệu nhất quán luôn đi kèm sự nói dối,” Ormerod nói, ông làm ở Trường Đại Học Sussex. “Tôi thì bồn chồn cười khẽ, người khác thì ra vẻ nghiêm trọng, một số thì nhìn thẳng vào mắt, một số lại lẩn tránh.” Levine đồng ý. “Bằng chứng rõ ràng là không hề có những biểu lộ đáng tin cậy để phân biệt giữa nói thật với nói dối,” ông nói. Và mặc dù bạn nghe nói tiềm thức của ta có thể phát hiện những dấu hiệu này ngay cả khi ta không nhận thấy chúng, điều này cũng đã bị bác bỏ.
Cho dù những kết quả tệ hại này song sự an toàn của chúng ta vẫn thường dựa vào sự tồn tại của những biểu lộ hoang đường đó. Xem xét việc sàng lọc một số hành khách trước một chuyên bay đường dài, đây là cách thức mà Ormerod được yêu cầu điều tra trước thềm Olympics 2012. Ông nói các nhân viên chủ yếu chỉ dùng những câu hỏi phải trả lời “có/không” về mục đích của người sẽ bay và họ được đào tạo để quan sát những dấu hiệu khả nghi (như lo lắng trong ngôn ngữ cơ thể) là nói dối. “Không còn kịp để nghe họ nói gì và có đáng tin không, mà chỉ quan sát sự thay đổi thái độ, nó là yếu tố quan trọng để phát hiện nói dối,” ông nói. Những thủ tục hiện tại cũng có thiên vị, ông nói, thí dụ nhân viên dễ tìm ra những biểu hiện khả nghi ở một số chủng tộc nhất định. “phương pháp hiện thời thực tế ngăn cản việc phát hiện nói dối,” ông nói.
Rõ ràng là cần một phương pháp mới. Nhưng với những kết quả thí nghiệm đáng buồn thì ta phải làm gì đây? Câu trả lời của Ormerod là đơn giản một cách thuyết phục: Không tập trung vào thái độ kiểu cách nữa mà vào lời lẽ thực tế người ta nói, nhẹ nhàng dò tìm đúng điểm nhấn để làm trơ mặt kẻ nói dối.
Cử chỉ của cơ thể cũng không được cho là hữu ích khi phát hiện người nói dối (Ảnh: Getty Images)
Ormerod và đồng nghiệp Coral Dando ở Đại Học Wolverhampton đã xác định một tập hợp các nguyên tắc đàm thoại mà chúng làm tăng khả năng phát hiện nói dối.
Sử dụng các câu hỏi mở. Việc này buộc kẻ nói dối phải mở rộng lời khai cho đến khi họ bị vướng bẫy trong chính mớ dối trá của mình.
Sử dụng yếu tố bất ngờ. Những người điều tra nên gia tăng “khối lượng cần biết” cho kẻ nói dối, thí dụ hỏi những câu hỏi không lường trước gây bối rối, hoặc bảo họ thuật lại một sự kiện ngược dòng thời gian, là kỹ thuật làm kẻ dối trá khó giữ được bộ mặt thật thà.
Đi sâu vào chi tiết nhỏ và kiểm chứng được. Nếu một hành khách nói họ làm ở Đại Học Oxford, hãy hỏi họ nói lộ trình đến nơi làm việc. Nếu bạn phát hiện mâu thuẫn thì đừng cho họ biết ngay, tốt hơn là để họ an tâm và nói huyên thuyên thêm nhiều điều sai nữa.
Quan sát những thay đổi về sự tự tin. Hãy quan sát kỹ để thấy kiểu cách của kẻ dối trá thay đổi thế nào khi bị tấn công: Kẻ dối trá có thể nhiều lời khi thấy mình kiểm soát được cuộc trò chuyện, nhưng sự an tâm là có giới hạn và họ sẽ câm như hến khi mất tự chủ.
Mục tiêu là nói chuyện bình thường, không vặn hỏi căng thẳng. Tuy nhiên dưới áp lực nhẹ nhàng đó, kẻ dối trá sẽ đuối dần vì mâu thuẫn trong câu chuyện của chính họ, hoặc vì trả lời mang tính tránh né hoặc vu vơ. “Điều quan trọng là sẽ không có được một biện pháp cụ thể mầu nhiệm nào; Chúng tôi đang tập hợp những điều tốt nhất để có được một giải pháp về nhận thức,” Ormerod nói.
Kỹ thuật phát hiện nói dối được áp dụng trong thử nghiệm tại bộ phận xuất nhập cảnh cho kết quả mới. (Ảnh: Thinkstock)
Ormerod công khai thừa nhận là chiến lược của ông có vẻ như việc dễ hình dung. “Một người bạn tôi nói rằng anh đang cố lấy bằng sáng chế nghệ thuật đàm thoại,” ông nói. Nhưng kết quả tự nó chứng minh. Nhóm này đã tạo ra một vài hành khách giả với vé máy bay và hồ sơ di đi lại hợp lý. Họ được một tuần chuẩn bị và rồi xếp hàng lẫn cùng những hành khách thật khác tại các sân bay khắp Châu Âu. Những nhân viên được đào tạo kỹ thuật phỏng vấn của Ormerod và Dando đã dễ dàng phát hiện ra những hành khách giả này hơn 20 lần so với hơn những người sử dụng dấu hiệu khả nghi, họ đã tìm ra 70% số lần hành khách giả.
“Thực sự là ấn tượng,” Levine, cũng tham gia vào nghiên cứu này, nói. Ông nghĩ rằng điều đặc biệt quan trọng là họ đã tiến hành thử nghiệm ở sân bay thật. “Đây là nghiên cứu thực tế nhất đã làm.”

Nghệ thuật thuyết phục

Những thử nghiệm của chính Levine cũng chứng minh mạnh mẽ tương tự. Cũng như Ormerod ông tin rằng phỏng vấn thông minh để phát hiện lỗ hổng trong câu chuyện kẻ nói dối là tốt hơn rất nhiều so với phương pháp cũ. Mới đây ông có làm một trò chơi, học sinh chơi theo cặp hai người, nếu trả lời đúng thì được thưởng 5 USD. Ông bố trí cài một số học sinh giả vào cặp đôi, người này xúi học sinh thật nhìn trộm đáp án khi thầy ra ngoài. Một số làm theo.
Cảnh sát có phải là lực lựợng hiệu quả nhất khi phát hiện nghi phạm nói dối? (Ảnh: Thinkstock)
Sau đó các học sinh được mật vụ liên bang xét hỏi xem họ có gian lận không, căn cứ vào lời khai mà không vào bộc lộ trên vẻ mặt. Họ đã đoán đúng 90%, có một người đoán đúng 100%. Quan trọng hơn là ở một nghiên cứu tiếp theo, những người mới được đào tạo cũng đạt độ chính xác tới 80%, với câu hỏi mở thí dụ như “bạn đời của anh/chị sẽ nói thế nào về việc này”.
Thực vậy, thường thì những điều tra viên thuyết phục những người làm sai công khai thú nhận. “Về việc này họ giỏi vô cùng,” Levine nói. Thoạt đầu họ hỏi học sinh thật thà ở mức nào, để chúng trả lời là có và sau buộc phải thật thà. “Ngay cả những người trước đó không thật thà sẽ cảm thấy khó khăn khi tỏ ra thật thà, do vậy trong phần lớn trường hợp bạn thấy ngay ai đang giả vờ.”
Rõ ràng là những thủ thuật như vậy đã được các thám tử sử dụng, nhưng cũng cần nhấn mạnh rằng sự thuyết phục là rất mạnh mẽ so với ngôn ngữ cơ thể không mấy tin cậy. Cho dù thành công, cả Ormerod lẫn Levine đều mong muốn những người khác thực hiện lại và mở rộng kết quả nghiên cứu, làm sao để có kết quả đúng trong các tình huống khác nhau. “Chúng tôi mong đợi một sự tuyên bố xác nhận rộng rãi nhất” Levine nói.
Mặc dù kỹ thuật này chủ yếu dùng cho việc thực thi pháp luật, nhưng những nguyên tắc như vậy có thể giúp ta phát hiện người nói dối trong cuộc sống. “Tôi vẫn luôn áp dụng với trẻ em,” Ormerod nói. Điều chủ yếu là có suy nghĩ mở và không vội kết luận: nếu ai đó bối rối hoặc tỏ ra khó khăn để nhớ được chi tiết quan trọng thì không có nghĩa là người đó có lỗi. Ta nên nhìn vào sự không nhất quán tổng thể.
Sẽ không có một cách phát hiện nói dối mà bất kể ai cũng làm được, nhưng nếu sử dụng một ít mánh lới, sự khôn khéo và thuyết phục thì ta có thể hy vọng rốt cùng ta sẽ tìm ra sự thật.
Bài gốc tiếng Anh đã đăng trên BBC Future

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Điều trị tâm lý – Phương pháp Thuốc đắng dã tật RET của Albert Ellis


Trong nhiều khoảnh khắc cuộc sống, chắc hẳn nhiều người đã từng tự nhủ: “Mình là một kẻ thất bại!” hay “Chẳng ai thèm quan tâm tới tôi!” và muốn thoát khỏi những tình cảnh vô nghĩa càng sớm càng tốt. Thực tế là, đôi khi chúng ta đổ tội cho hoàn cảnh và những người xung quanh, hơn là nhận ra chính những suy nghĩ tiêu cực của bản thân đã gây ra những cảm giác chán chường và tuyệt vọng. Những trạng thái tâm lí tiêu cực ở mức độ nhẹ thường qua đi nhanh chóng nhưng nếu chúng xảy ra ở mức độ cao và liên tục sẽ dẫn đến những căn bệnh tâm lí như trầm cảm và gây ra nguy hiểm như dẫn đến việc tự hành xác hay tự sát. Một phương pháp ra đời từ những năm 1970 – 1980 đã thành công trong việc chữa trị những lối suy nghĩ tiêu cực trên. Đó chính là “Liệu pháp nhận thức hành vi” (Cognitive Behavioral Therapy).Trước đây, “Liệu pháp nhận thức” (Cognitive Therapy) hình thành dựa trên hai giả định chính như sau:
  1. Dựa trên mức độ quan trọng của sự kiện qua việc đánh giá niềm tin, mong đợi và thái độ; con người sẽ có hành vi tương ứng
  2. Những nhận thức không thực tế về sự kiện dẫn tới rối loạn tình cảm và hành vi.
Các nhà tâm lí nhận thức (cognitive therapists) đưa ra một phương pháp chung là “Tái cấu tạo nhận thức” (cognitive restructuring), bao gồm giúp đỡ bệnh nhân nhận ra và thay đổi những suy nghĩ sai lầm, vốn là nguyên nhân dẫn tới những vấn đề về hành vi và tình cảm của họ. Liệu pháp này được mở rộng và tiếp cận tới mặt hành vi của con người và được gọi là Liệu pháp nhận thức – hành vi.
Một trong những nhà tiên phong của liệu pháp này là Albert Ellis (1913-2007). Ông đưa ra “Liệu pháp cảm xúc hợp lí” (Rational-Emotive Therapy – RET), trong đó nhấn mạnh: hầu hết những vấn đề tình cảm và hành vi bắt nguồn từ những suy diễn không thực tế về những sự kiện trong cuộc sống(“musterbation”). Theo Ellis, con người có xu hướng:
  • Suy nghĩ mang tính tuyệt đối (Think in absolute terms)
VD: “Mình phải học giỏi đều tất cả các môn.” —> Khi môn Thể dục kéo điểm xuống, bạn không tránh khỏi cảm giác tức tối và thất vọng. Bạn trút bực tức lên người phụ trách bộ môn và nhất định không bao giờ chơi một môn thể thao nào.
  • Khái quát quá mức (Overgeneralize)
VD: “Bài thi đầu tiên mà đã bị điểm thấp. Kiểu này nhất định mình không thích hợp để học môn này.” –> Bạn tiếp tục học với tư tưởng mình là học sinh kém cỏi và dần buông xuôi, lơ là việc học, dẫn đến việc cuối cùng thật sự bạn không thể theo đuổi chuyên ngành ưa thích mà mình có khả năng thành công nếu cố gắng hơn.
  • Làm trầm trọng hóa các vấn đề (Catastrophize)
VD: “Tại sao ai cũng lờ mình đi? Chắc mình là cái gai trong mắt mọi người đây mà!” –> Bạn nghĩ tốt nhất là không nên ra ngoài gặp ai hết và khoá mình trong phòng.
Qua các ví dụ trên, chúng ta thấy rằng những suy nghĩ sai lệch dẫn tới những cảm xúc và hành vi tiêu cực, và có thể biến nạn nhân thành chính mẫu người tiêu cực mà người suy nghĩ không hề mong muốn.

Dr. Albert Ellis (1913 – 2007) 
Liệu pháp RET của Albert Ellis sẽ dẫn dắt chúng ta thay đổi nhận thức qua ba bước sau:
  1. Nhận ra những suy nghĩ sai lệch xuất phát từ niềm tin sai lệch.
  2. Nhà tâm lí tranh luận một cách mạnh mẽ với người được điều trị, buộc người được điều trị phải lí giải và bảo vệ cho những suy nghĩ sai lệch của mình.
  3. Nhà tâm lí hướng dẫn người điều trị thay đổi suy nghĩ sai lệch theo hướng thực tế hơn.
Điều đặc biệt ở phương pháp mà Ellis đưa ra là cách tranh luận với người được điều trị một cách mạnh mẽ, kiên quyết và rõ ràng để từ đó giúp họ nhận ra những kỳ vọng phi thực tế của mình. Các câu hỏi được đặt ra sẽ có dạng “Tại sao anh phải đạt điểm cao ở tất cả các môn?”, “Tại sao cô cho rằng cô không thể theo đuổi môn Tâm lí học?” hay “Anh có chắc là TẤT CẢ mọi người đều né tránh anh không? Tôi thấy ba mẹ anh đang rất lo lắng cho anh kia mà! Tại sao anh lại muốn mọi người chú ý tới mình? Anh có gì đáng quan tâm?”
Đối với Ellis, không có gì trên đời là “kinh khủng” mà đó là chúng ta tự trầm trọng hóa các vấn đề của bản thân. Có ba kỳ vọng phi thực tế làm con người dễ nhụt chí:
  1. “Tôi phải thật tài giỏi”.
  2. “Tất cả mọi người sẽ đối xử tốt với mình”
  3. “Thế giới này sẽ tạo điều kiện tốt để tôi tận hưởng”
Những kỳ vọng này thực tế không bao giờ diễn ra như mong đợi, vì vậy, thái độ nhìn nhận sự việc là điều vô cùng quan trọng. Nếu bạn không cho rằng ba điều trên bắt buộc phải xảy ra, bạn sẽ không cảm thấy thất vọng khi chúng không xảy ra, từ đó tránh tình trạng trở nên buồn chán và tuyệt vọng.
Liệu pháp của Ellis bị chỉ trích khá nhiều vì cách đặt câu hỏi nặng nề, quá thẳng thắn, có thể làm cho tình trạng tâm lý của người được điều trị trở nên xấu hơn. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều người ủng hộ phương pháp của Ellis, đúng như phương châm “Thuốc đắng giã tật”. Trên thực tế, liệu pháp “thuốc đắng” của Ellis vẫn còn áp dụng nhiều trong việc điều trị nhận thức ngày nay.
Ngoc T tổng hợp và dịch từ Behavior Modification: What It Is and How to Do it

[Sách] Người con lạc lối của biển cả và câu chuyện về chẩn đoán thần kinh

Image result for The man who mistook his wife for a hat and other clinical tales
Nguyên tác: The man who mistook his wife for a hat and other clinical tales
Tác giả: Oliver Sacks
Bản dịch tiếng Việt của Lan Trần tại VIET Psychology
Oliver Sacks là nhà thần kinh học nổi tiếng người Anh hiện đang giảng dạy tại ĐH Columbia. The man who mistook his wife for a hat and other clinical tales là quyển sách của Oliver Sacks xuất bản vào năm 1985 miêu tả về một số bệnh nhân của ông.
Mua sách gốc để ủng hộ tác giả. Tôn trọng người dịch: không chỉnh sửa, luôn để nguồn nguyên tác và người dịch khi đem bài ra khỏi nơi phát hành.

(Chú thích của người dịch được in nghiêng)
Phần 1, Chương 2 
Người con lạc lối của biển cả
Chỉ khi dần mất đi từng phần của ký ức, bạn mới nhận ra rằng ký ức là những gì tạo nên cuộc đời của chúng ta. Cuộc sống không có ký ức thì không còn là cuộc sống. Ký ức là suy nghĩ, là cảm nhận, và cả hành động. Không có ký ức, chúng ta không là ai cả … – Luis Bunuel
Câu nói cảm động và có phần gây sợ hãi của Bunuel đã đặt cho chúng ta câu hỏi quan trọng về mặt chẩn đoán, thực tế, sống còn và triết lý: cuộc sống là gì, thế giới là gì, bản thân là gì trong sự tồn tại của một con người mà hầu hết ký ức về cuộc đời của anh ta đã bị quên lãng? Quá khứ là gì, tương lai có ý nghĩa như thế nào về mặt thời gian đối với anh ta.
Nó khiến tôi nghĩ ngay đến một bệnh nhân mà những câu hỏi vừa rồi dường như dành riêng cho anh ta: Jimmie G., một người quyến rũ, thông minh và không có ký ức. Anh sống trong Nhà dưỡng lão tại Thành phố New York vào năm 1975 với hồ sơ bệnh án như sau: “không thể cứu chữa, hay bị kích động, rối loạn, không thể tập trung”.
Jimmie có một nhóm tóc bạc đằng sau gáy, một người khỏe mạnh và đẹp trai ở độ tuổi 49. Anh ta vui vẻ, dễ gần, và ấm áp.
“Hiya, bác sĩ! Chào buổi sáng. Tôi ngồi ở cái ghế này phải không?”. Anh có tâm hồn đáng yêu, rất cởi mở khi giao tiếp và sẵn sàng trả lời tất cả mọi câu hỏi của tôi. Anh ta nói tôi tên tuổi, ngày sinh, tên của thị trấn nhỏ tại tiểu bang Connecticut nơi anh ta sinh ra. Anh ta miêu tả chi tiết, và còn vẽ cả bản đồ. Anh nói về ngôi nhà nơi gia đình đã sống, nhớ cả số điện thoại, nói về những ngày học ở trường, các bạn học, và cả năng khiếu đặc biệt về môn Toán và Khoa học tự nhiên. Anh ta đặc biệt tự hào khi nói về những ngày trong hải quan – khi chỉ vừa 17 tuổi, mới tốt nghiệp trung học và gia nhập quân đội vào năm 1943. Với trí óc của một kỹ sư tương lai và niềm yêu thích dành cho điện tử và radio, anh trở thành người học việc tại trung tâm điều hành của một tàu ngầm. Anh ta nhớ tên tất cả tàu ngầm và đơn vị chỉ huy mình đã phục vụ – mục đích, nơi tàu ngầm hoạt động, tên của các đồng sự. Anh nhớ Morse và vẫn có thể sử dụng loại code này thành thạo.
Một cuộc sống đầy ý nghĩa và thú vị được miêu tả tỉ mỉ và tình cảm. Tuy nhiên, vì một vài lý do nào đó, Jimmie không thể nhớ hơn được điều gì. Anh ta có thể nói về những ngày chiến tranh, thời gian phục vụ trong quân đội, khi chiến tranh chấm dứt và suy nghĩ về tương lai. Anh yêu quân đội và muốn ở lại tuy nhiên với sự giúp đỡ của GI Bill (đạo luật của chính phủ Hoa Kì giúp đỡ các quân nhân trẻ trở về trường học sau chính tranh thế giới lần thứ 2), anh muốn trở về trường học. Anh trai của Jimmie đang học tại trường kế toán và chuẩn bị lập gia đình với một cô gái xinh đẹp từ Oregon.
Jimmie có vẻ như không phải nói về quá khứ mà đang nói ở thì hiện tại. Tôi cảm thấy ngạc nhiên với sự thay đổi về cách dùng thì trong câu nói khi anh chuyển từ miêu tả những ngày tại trường đến những ngày trong quân đội. Khi kể về những ngày tại trường, anh dùng thì quá khứ, nhưng hiện tại khi nói về quân đội, anh dùng thì hiện tại – và không chỉ là dạng dùng thì hiện tại để kể về quá khứ và Jimmie đang thực sự dùng thì hiện tại để nói về cuộc đời trong quân đội nhưng thể nó đang thật sự diễn ra trong cuộc đời anh.
“Đây là năm nào, anh G?”
“Năm 45. Ý anh là sao? Chúng ta đã chiến thắng! FDR đã chết (Tổng thống Franklin D. Roosevelt), Truman đang chuẩn bị tiếp quản chính phủ. Những điều tuyệt vời đang chờ đợi chúng ta ở phía trước”
“Anh thì sao Jimmie, anh bao nhiêu tuổi?”
Jimmie dừng lại, một chút bối rối, hệt như đang tính toán: “Tại sao? Tôi đoán tôi 19, bác sĩ! Tôi sẽ trở thành 20 tuổi vào tiệc sinh nhật sắp tới!”
Tôi nhìn vào người đàn ông đầu bạc ngồi trước mình, tôi có một mong muốn làm cho Jimmie nhận ra thực tế, một điều mà đến bây giờ tôi vẫn chưa tha thứ cho bản thân vì hành động này. Tôi đưa một chiếc gương cho Jimmie: “Nhìn vào tấm gương và nói cho tôi biết anh trông thấy điều gì? Có phải một cậu bé 19 tuổi không?”
“Chúa ơi, điều gì đang xả ra? Điều gì đang xảy đến với tôi? Có phải một cơn ác mộng không? Tôi đang điên à? Một trò đùa sao?” – Jimmie trở nên hoảng loạn tột độ.
“Không sao cả Jimmie”, tôi nói dịu dàng , “Chỉ là một sai lầm. Chẳng có gì phải lo lắng cả. Hey!” Tôi đưa Jimmie ra khung cửa sổ, “Hôm nay có phải ngày đẹp không? Nhìn đám trẻ đang chơi bóng chày kìa!”. Jimmie mau chóng bình tĩnh và bắt đầu mỉm cười, và tôi cầm tấm gương bước ra ngoài.
Hai phút sau tôi quay về phòng. Jimmie vẫn đang đứng cạnh cửa sổ, nhìn lũ trẻ chơi bóng chày ngoài xa. Jimmie quay lại khi tôi bước vào và thể hiện sự chào mừng ấm áp.
“Hiya, bác sĩ! Chào buổi sáng! Anh muốn nói chuyện với tôi à? Tôi ngồi ở cái ghế này nhé!”
“Chúng ta chưa hề gặp nhau trước sao?” – tôi hỏi một cách thân mật.
“Tôi không nghĩ thế! Nếu chúng ta đã gặp nhau trước, tôi sẽ không quên anh đâu bác sĩ!”
“Tại sao lại gọi tôi là bác sĩ?”
“Thì anh là bác sĩ phải không?”
“Đúng, nhưng nếu chúng ta chưa gặp nhau thì làm sau anh biết tôi là bác sĩ?”
“Anh nói như một bác sĩ vậy! Tôi có thể nhận ra anh là một bác sĩ”
“Anh nói đúng, Tôi là nhà thần kinh ở đây”
“Nhà thần kinh? Hey, có gì không tốt với hệ thần kinh của tôi sao? Và ở đây là ở đâu? Nơi này là nơi nào?
“Tôi đang định hỏi anh – anh nghĩ anh đang ở đâu?”
“Tôi thấy giường bệnh và bệnh nhân ở khắp nơi. Nơi này giống như một bệnh viện. Chết tiệt, tôi đang làm gì ở bệnh viện – và tất cả những người già này, rất già so với tôi. Tôi khỏe lắm, như một con trâu vậy. Này, có thể tôi đang làm việc ở đây … Tôi có làm việc không? Công việc của tôi là gì …. Không, anh đang lắc đầu, tôi thấy được câu trả lời trong mắt anh. Nếu tôi không làm ở đây thì tôi bị đặt vào đây. Tôi có phải là bệnh nhân, tôi có bệnh và không biết không, bác sĩ ơi? Thật điên rồ, thật đáng sợ ! … Đây có phải trò đùa không?”
“Anh không biết vấn đề ở đây là gì à? Anh có nhớ đã kể cho tôi nghe về tuổi thơ, lớn lên ở Connecticut, làm việc ở trạm điều hành tàu ngầm? Và anh trai thì đã đính ước cùng cô gái từ Oregon?”
“Hey, anh nói đúng. Nhưng tôi chưa kể anh nghe điều đó. Tôi không nhớ đã gặp anh trước đây. Anh chắc hẳn đã đọc bản tường trình về cuộc đời tôi”
“Okay. Tôi sẽ kể anh nghe một câu chuyện. Một người đàn ông đến gặp bác sĩ và phàn nàn về trí nhớ của anh ta. Bác sĩ hỏi anh ta vài câu hỏi lặp lại, và hỏi “Lặp lại? Như vậy thì sao?” và bệnh nhân trả lời “Cái gì lặp lại?”
“Hóa ra đó là vấn đề của tôi”, Jimmie cười “Tôi nghĩ nó thế đấy, đôi khi tôi thấy mình quên nhiều thứ lắm, những thứ chỉ vừa xảy ra thôi. Nhưng quá khứ thì vẫn rõ ràng!”
“Anh cho phép tôi kiểm tra nhé? Làm một vài xét nghiệm đơn giản thôi”.
“Dĩ nhiên, cái gì cũng được”
Jimmie thể hiện trí thông minh đặc biệt trong bài trắc nghiệm. Jimmie rất cương quyết, có óc quan sát tốt, suy nghĩ logic, và không gặp vấn đề giải quyết những vấn đề khó khăn hay ma trận với điều kiện đó phải là trò chơi diễn ra ở tốc độ nhanh. Nếu quá nhiều thời gian trải qua, Jimmie sẽ quên mất ngay anh ta đang làm gì. Jimmie đánh bại tôi ở trò ca rô nhưng luôn thua khi chơi cờ vua – những bước di chuyển của quân cờ quá chậm.
Ở Jimmie, tôi tìm thấy sự biến mất quá nhanh chóng của ký ức ngắn hạn – bất cứ điều gì bạn nói hay đưa cho Jimmie xem sẽ đều bị lãng quên trong vài giây sau. Tôi đặt đồng hồ, cà vạt, mắt kiếng xuống bàn, lấy khăn phủ lại và hỏi nếu Jimmie có nhớ được những đồ vật trên bàn – Jimmie quên tất cả, dù trước đó tôi đã dặn anh ta phải lưu ý. Tôi lặp lại trò chơi, yêu cầu Jimmie ghi lại tên, và một lần nữa, Jimmie quên mất. Khi tôi đưa cho Jimmie xem tờ giấy anh ta ghi tên các vật, anh ta thừa nhận đây chính là chữ viết của mình nhưng lại không nhớ được mình đã viết tờ giấy nào khi nào.
[....]
Jimmie không thể lưu trữ lại bất cứ điều gì vào bộ nhớ đặc biệt khi môi trường xung quanh có tác động mặc dù trí thông minh của anh xuất sắc hơn người.
[...]
Trừ khi là một diễn viên đại tài, những gì Jimmie thể hiện cho chúng ta thấy rõ anh ta đang sống ở quá khứ. Những câu chữ, những cảm nhận, những sự ngạc nhiên, những khó khăn khi cố gắng suy xét và giải thích cho những điều lạ lẫm anh ta trông thấy là những nỗ lực phi thường của một trai trẻ mắc kẹt từ những năm 1940 khi đối mặt với tương lai, với những điều chưa bao giờ xảy ra và những thật khó tưởng tượng ở thời điểm 1975 so với 30 năm trước.
Tôi tìm thấy một tấm ảnh và đưa cho Jimmie xem.
“Đây là một mẫu máy bay chiến đấu xuất sắc! Tôi chưa bao giờ thấy mẫu nào như vậy?”
“Nó tên là gì?” – tôi hỏi.
Jimmie nhìn xuống và thấy chú thích của tấm ảnh, “Nimitz!”
“Có điều gì sao?”
“Có chứ. Tôi biết mọi thứ bằng cách gọi tên chúng nhưng tôi chẳng biết Nimitz là cái quá gì. Có Admiral Nimitz nhưng tôi không bao giờ biết người ta đặt tên một chiếc máy bay theo tên anh ta!”
(Nimitz là tàu sân bay hiện đại của Hoa Kì, được đưa vào sử dụng vào năm 1975).
Jimmie tức giận quăng tờ báo xuống và trở nên vô cùng bối rối và tức giận. Một lần nữa, Jimmie phải chịu đựng áp lực khi đối mặt với những điều kỳ lạ, trái ngược với thực tế. Một lần nữa tôi lại đẩy anh ta vào sự hoảng loạn. Chúng tôi đành kết thúc buổi điều trị và đến gần cửa sổ một lần nữa. Jimmie lại thấy lũ trẻ và mau chóng quên đi câu chuyện về Nimitz. Ngay sau đó, chúng tôi ngửi thấy một mùi thơm từ phòng ăn, Jimmie dậm môi, “Ăn trưa”, mỉm cười và chuẩn bị rời khỏi phòng.
Tôi cảm thấy chua xót với những gì mình chứng kiến. Thật đau đớn và khó chịu khi nghĩ đến cuộc đời của một con người đã lạc trong một hiện thực không thể phá vỡ.
Tôi viết trong sổ tay: “Anh ấy, dường như lạc lõng trong một giây phút của hiện tại, với xu hướng quên hết tất cả những gì xảy ra chung quanh. Anh ấy là người đàn ông không có quá khứ (hay hiện tại), bị giam chặt trong một giây phút mãi mãi không bao giờ thay đổi, không bao giờ có ý nghĩa”, và tiếp theo “Những kiểm tra trí não hoàn toàn bình thường. Cảm giác: có thể là triệu chứng Korsakov, có lẽ do sự thiếu hụt rượu” Tôi tự hỏi một cách cảm tính về “tâm hồn lạc lối”, làm sao một người có thể tạo ra sự tiếp tục, một nguồn cội khi anh ta là con người không có gốc, hay gốc của anh ta đã bị chìm chặt vào một quá khứ xa vời.
Có lẽ tôi sẽ tìm được sự hướng dẫn (cho trường hợp của Jimmie) từ các tài liệu, phần lớn bằng tiếng Nga của Korsakov (1887) và Luria (Neuropsychology of Memory). Korsakov viết vào năm 1887 về các bệnh nhân với căn bệnh được đặt theo tên ông – bệnh Korsakov: Ký ức về những sự kiện gần nhất hầu như bị phá hủy hoàn toàn; sự kiện càng gần thì biến mất càng nhanh; trong khi đó những sự kiện diễn ra từ rất lâu lại được gợi nhớ rất dễ dàng, và vì vậy, sự khéo léo, hài hước và sự tháo vát của bệnh nhân gần như nguyên vẹn.
Các nghiên cứu của Korsakov được mở rộng một thập kỷ sau, và người có tầm ảnh hưởng nhất là Luria. Luria viết: “Sự xáo động trong nhận thức và cách nhận biết về các sự kiện có thể thấy rõ trong các bệnh nhân. Họ dần mất những trải nghiệm bên trong về thời gian và dần sống trong một thế giới của những nhận thức lạc lõng”. Và điều tồi tệ và sự xáo động nhận thức này có thể tác động lùi về những sự kiện xảy ra rất lâu trước đây của các bệnh nhân.Hầu hết các bệnh nhân của Luria đều bị tổn thương một phần của não khá nghiêm trọng (cerebral tumour).
Tôi viết trong sổ tay: “Có một khoảng trống to. Chúng ta không biết điều gì đã diễn ra hay hậu quả của chúng là gì. Chúng ta phải điền vào những năm tháng còn “thiếu” đó từ anh trai của anh ta, hay quân đội, hay bệnh viện … Có thể là anh ta đã trải qua một việc khủng khiếp vào khoảng thời gian này, hay là hư hỏng một phần não trong chiến trường?”
Chúng tôi tiến hành những xét nghiệm não với Jimmie (EEG, scan não) và không tìm thấy bất kỳ dấu hiệu nào của việc não bị tổn thương. Đồng thời chúng tôi nhận báo cáo từ hải quân là Jimmie phục vụ đến 1965 và hoàn toàn khỏe mạnh đến thời điểm đó.
Chúng tôi đọc bản báo cáo của bệnh viện Bellevue, nơi miêu tả Jimmie như một con người “hoàn toàn không kiểm sóat, có triệu chứng về não, vì rượu”. Sau đó Jimmie được gửi đến một nơi chăm sóc người bệnh tồi tệ, và cuối cùng được giải cứu về “Home” – nơi dưỡng bệnh hiện tại vào 1975.
Chúng tôi hỏi người anh, nhân vật Jimmie đề cập như một người vẫn đang học tại trường kế toán và hứa hôn với một cô gái từ Oregon. Thực tế, người anh trai đã lấy vị hôn thê, trở thành cha, ông nội và làm nghề kế toán hơn 30 năm. Hai anh em không gặp nhau thường xuyên từ năm 1943 vì sống xa nhau, sự nghiệm khác nhau, và phần lớn do tính tình không hợp nhau. Trong mắt người anh, Jimmie chưa bao giờ là người nghiêm túc, lúc nào cũng lông bông, và luôn uống rượu. Quân đội, theo cảm nhận của người anh, chính là nơi đã đưa Jimmie vào lại khuôn phép, nhưng từ khi rời bỏ quân đội vào năm 1965, Jummie lại lười nhác không muốn kiếm việc và “dần tuột dốc”.
Jimmie ngày càng uống rượu nhiều hơn, bắt đầu từ năm 1970. Vào khoảng thời gian này, Jimmie được đưa đến bệnh viên Bellevue và biểu hiện các hội chứng suy giảm trí nhớ và bộc phát bệnh thần kinh. Khi người anh trai đến thăm sau 20 năm không gặp mặt, Jimmie thậm chí đã không nhận ra và nói: “Đừng giỡn! Ông già như thể cha tôi vậy. Anh trai tôi rất trẻ và hiện đang đi học ở trường kế toán!”
Tôi thắc mắc: “Vì sao Jimmie không nhớ về thời gian sau khi rời hải quân, vì sao đến tận năm 1970 anh ta mới suy giảm trí nhớ?”. Chúng tôi có nhờ một chuyên gia thần kinh mong có thể hồi phục một phần ký ức bị đè nén bởi hội chứng hysteria (một chứng kích động thần kinh, không điều khiển được cảm xúc) nhưng phương pháp này thất bại. Vì căn bệnh hiện tại mà thậm chí Jimmie không thể tập trung lắng nghe và ghi nhớ sự hướng dẫn của chuyên gia thần kinh khi cô ấy cố gắng thôi miên Jimmie. Cô ấy viết: “Sự sụt giảm thần kinh của anh ấy là có tổ chức, mãi mãi và không thể điều trị.  Anh ấy không thể hiện sự lo lắng đặc biệt nào”, và đồng thời nói là cô ấy vẫn không nghĩ ra các biện pháp chữa trị nào để giảm các triệu chứng của Jimmie.
Tôi hỏi ý kiến của Luria và nhận được câu trả lời: “Chúng ta có thể làm gì? Chúng ta nên làm gì? Không có đơn thuốc nào cả. Trong trường hợp như thế này, hãy làm mọi thứ mà lý trí và trái tim bạn mách bảo. Có rất ít hy vọng, hay thậm chí không có hy vọng nào trong việc tìm lại trí nhớ cho anh ấy. Tuy nhiên, một con người không phải chỉ có mỗi ký ức. Anh ấy có tâm trạng, ý chí, các giác quan, đạo đức sống – những vấn đề mà thần kinh tâm lý (neursopsychology) không thể diễn tả. Chính vì thế, vượt ra cả tâm lý học, bạn có thể tìm cách tiếp xúc và thay đổi anh ấy. Tình trạng hiện tại cho phép bạn làm được điều ấy khi đang làm việc tại Home (nơi điều trị của Jimmie) khác xa với những trung tâm điều trị hay viện nghiên cứu mà tôi đang làm việc. Bạn không thể làm được gì với khía cạnh tâm lý thần kinh nhưng nói đến phương diện của một con người, có thể bạn sẽ làm được rất nhiều”.
Jimmie, sau nhiều tháng sống trong bệnh viện cũng dần học được “một cảm giác quen thuộc”: anh ấy dần học đường đi xung quanh, phòng ăn, phòng riêng, thang máy, cầu thang, và trong nhiều trường hợp, một vài nhân viên, mặc dù Jimmie vẫn còn hay lẫn lộn họ với những người trong quá khứ. Jimmie trở nên rất kính trọng một nhân viên trong Home, nhận ra giọng nói, bước chân của cô ấy, nhưng Jimmie lúc nào cũng xem cô ấy như một người bạn tại trung học và ngạc nhiên khi tôi gọi cô ấy là “Sister” (Home là nơi chữa trị có đạo):
“Gee! Điều kỳ lạ nhất vừa diễn ra! Tôi không bao giờ nghĩ là bạn trở thành một nữ tu sĩ!”
Người duy nhất Jimmie có thể nhận ra chính là người anh trai của mình. Những buổi gặp gỡ thường vô cùng xúc động đối với Jimmie và với những người chứng kiến. Jimmie yêu anh trai, nhận ra anh trai nhưng không bao giờ hiểu được tại sao anh trai lại già đến thế: “Có lẽ một vài người già trước tuổi” – Jimmie nói. Đây là những buổi gặp mặt kết nối hiện tại và quá khứ của Jimmie nhưng thật tiếc cũng chẳng giúp gì cho việc xây dựng lại cảm giác về quá khứ hay hiện tại. Điều tốt nhất từ những buổi gặp mặt này, có lẽ là lời khẳng định dành cho người anh trai: Jimmie vẫn còn sống, dù chỉ trong quá khứ.
Tất cả chúng tôi đều có hy vọng giúp Jimmie. Anh ấy có tính cách tuyệt vời, rất đáng mến, nhanh nhẹn và thông minh. Thật khó khăn để nghĩ rằng anh ấy không thể cứu chữa. Tất cả chúng tôi đều không tin được có một loại bệnh lãng quên khủng khiếp có thể xóa bỏ tất cả mọi thứ, mọi trải nghiệm, mọi trải nghiệm và làm xuất hiện một hố sâu đen thẳm trong cuộc đời một con người.
Khi mới gặp Jimmie, tôi khuyến khích Jimmie đem theo một cuốn sổ và viết mọi thứ diễn ra trong ngày, những trải nghiệm, cảm giác, suy nghĩ. Cách này mới mẻ và cũng nhanh chóng thất bại vì Jimmie thường xuyên làm mất cuốn sổ. Khi Jimmie xem lại những dòng chữ, anh ấy thừa nhận đây chính là chữ viết của mình nhưng lại không thể nhớ hay cảm nhận điều gì từ những dòng chữ của ngày trước đó. Anh ấy là một người không hề có “một ngày trước đây”. Bên cạnh đó, những sự kiện được ghi lại thường rất vụn vặt: “Ăn trứng buổi sáng”, “Xem bóng bầu dục trên TV”.
Những ngày đầu tiên, Jimmie cảm thấy rất giận dữ và buồn bã khi phát hiện mình chính là bệnh nhân tại viện, nhưng tôi tự hỏi, liệu anh ấy có thể cảm nhận được điều đó không?
“Anh cảm thấy thế nào?”
“Tôi cảm thấy như thế nào?”, Jimmie lập lại câu hỏi, gãi đầu: “Tôi không thể nói tôi không khỏe, nhưng tôi không thể nói tôi khỏe. Tôi không thể nói tôi không thể cảm thấy điều gì cả.”
“Anh có thấy tội nghiệp bản thân?”
“Không thể nói tôi như vậy.”
“Anh có đang tận hưởng cuộc sống?”
“Tôi không thể nói tôi đang tận hưởng”
Tôi ngừng lại, e sợ mình có thể đi quá xa. Tôi không muốn đẩy anh ấy xuống một lỗ đen tuyệt vọng bí ẩn chưa được khám phá.
“Anh không tận hưởng cuộc sống”, tôi ngập ngừng, “vậy anh cảm nhận thế nào về cuộc sống?”
“Tôi không thể nói là tôi cảm nhận được bất cứ thứ gì.”
“Anh có cảm thấy mình đang sống?”
“Đang sống? Khôn hẳn. Tôi không cảm nhận mình đang sống từ rất lâu rồi”
Gương mặt của Jimmie thể hiện nỗi buồn và thất vọng.
Sau đó, chúng tôi chơi các trò chơi, và các trò chơi này dường như giúp kiềm chế cảm xúc của Jimmie. Thay vì những nỗi buồn, Jimmie cảm nhận tình bạn và sự tranh đấu qua các trò chơi. Jimmie chưa bao giờ phàn nàn về sự cô đơn – nhưng anh lúc nào trông cũng cô đơn. Jimmie chưa bao giờ thể hiện nỗi buồn – nhưng lúc nào anh cũng trông rất buồn. Tôi gợi ý Jimmie tham gia vào chương trình giải trí của Home (viện điều trị nơi Jimmie đang ở), nhưng rồi chúng cũng không thể giúp Jimmie trong một giai đoạn dài. Jimmie giải hết các câu hỏi khó một cách dễ dàng, và anh dần trở nên chán nản và mệt mỏi. Một cách rõ ràng, Jimmie cần làm điều gì đó: anh muốn lao động, muốn tồn tại, muốn cảm nhận – nhưng không thể; anh muốn trực giác, muốn một cuộc sống mục đích, nói theo Freud là “Sống và Yêu” (Freud: một nhà tâm lý học nổi tiếng).
Jimmie liệu có thể làm công việc thông thường? Jimmie có hai kỹ năng đặc biệt tốt là đánh mã Morse và đánh máy. Jimmie tìm lại được hai kỹ năng này (Jimmie từng phục vụ tại hải quân Hoa Kì), nhưng rồi một thời gian sau, anh cũng dần mất hứng thú. Đánh máy là một công việc vụn vặt và không tạo ra chiều sâu. Jimmie đánh một cách máy móc và không thể đuổi theo những dòng suy nghĩ – những suy nghĩ rời rạc và không trật tự.
Tôi hỏi các xơ: “Các chị có nghĩ anh ấy có tâm hồn?” Họ đều bất ngờ trước câu hỏi này nhưng tất cả đều hiểu tại sao tôi lại hỏi thế. “Nhìm Jimmie trong nhà tờ và hãy đánh giá những gì bạn trong thấy”. Tôi quan sát Jimmie và thật bất ngờ khi thấy anh ấy dành sự tập trung liên tục và cao độ mà tôi chưa bao giờ quan sát trước đây. Một cảm giác bao bọc Jimmie. Một cách rõ ràng, Jimmie tìm lại chính bản thân, sự tiếp diễn, hiện thực và sự tập trung cao độ tại nơi đây. Các xơ nói đúng – Jimmie đã tìm được tâm hồn mình ở đây. Những lời nói của Luria (xem phần 2) trở về với tôi: “Một con người không chỉ bao gồm ký ức. Một người có cả cảm giác, ý chí, cảm giác, đạo đức … Tất cả chúng đều ở đây”. Ký ức, hoạt động thần kinh, chỉ bản thân não bộ không thể giúp Jimmie nhưng những cảm nhận về đạo đức có thể bao bọc Jimmie.
“Đạo đức” có thể chưa diễn tả đủ giây phút của Jimmie. Nhìn Jimmie trong nhà thờ đã cho tôi những cảm nhận rất khác về những trạng thái khác có thể chạm đến tâm hồn của một con người. Một thể loại có thể tiếp xúc dễ dàng với Jimmie chính là âm nhạc và nghệ thuật. Tôi lưu ý, khi “theo dõi” âm nhạc hay các vở kịch đơn giản, Jimmie không khó khăn để theo đuổi và cảm nhận từng giây phút của chúng.
Anh ấy thích làm vườn. Tuy mỗi ngày anh ấy chào hỏi khu vườn như một người bạn mới nhưng dần về sau anh ấy thân thuộc với chính ngôi vườn hơn cả bên trong viện chữa trị. Bây giờ gần như anh ấy không bao giờ lạc hay trở nên mất kiểm soát trong khu vườn nữa. Anh ấy làm quen với khu vườn nhờ vào những tình cảm và ngôi vườn từ những ngày trẻ ở Connecticut mà anh ấy còn nhớ được.
Nếu Jimmie chỉ tiếp xúc với những công việc hay những câu đố, bài toán, những vấn đề chỉ cần giải đáp bằng sự vận động trí não thì anh ấy sẽ lập tức trở nên chán chường khi chúng kết thúc, và quay trở về vực thẳm của sự lãng quên và vô nghĩa. Nếu anh ấy được tiếp xúc với cảm xúc hay tâm linh – như trong nghệ thuật, âm nhạc, lẫn trong đám đông nhà thờ – những cảm xúc và tâm trạng sẽ trở thành sự suy nghĩ và sự bình yên trong tâm hồn Jimmie.
Tôi đã biết Jimmie hơn 9 năm và anh ấy không hề thay đổi chút nào. Anh ấy không thể nhớ bất kỳ điều gì sau một khoảng thời gian ngắn, hay không thể nhớ bất kỳ điều gì sau thời điểm 1945. Tuy nhiên, anh ấy dần trở nên tốt hơn, không còn là con người lạc lõng, dễ bị buồn chán; Jimmie dành nhiều thời gian hơn cho nghệ thuật, âm nhạc, đức tinh, đạo đức – những vẻ đẹp sâu sắc của thế giới.
Tôi học được nhiều về phương diện chữa trị và nhân văn. Trong những căn bệnh trầm trọng như Korsakov, dù cho sự tổn thương có lớn thế nào đi chăng nữa, tia hy vọng vẫn có thể đến từ nghệ thuật, bằng tình cảm con người, bằng cách tiếp xúc với tinh thần con người: tất cả những điều đó có thể thấy qua một trường hợp tưởng chừng như không thể cứu chữa của khoa học thần kinh như của Jimmie.

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

The Feminine Mystique – Chương 2: Hình mẫu nội trợ hạnh phúc

The Feminine Mystique (tạm dịch Phụ nữ lý tưởng)  là một trong những quyển sách có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20, được biết đến như nguồn gốc sự khởi đầu của phong trào Nữ quyền thứ hai tại Hoa Kỳ. Nội dung quyển sách đề cập đến cuộc sống của những người người vợ, người mẹ tại Hoa Kỳ vào những năm 1950-1960 mặ dù cuộc sống của họ vẫn đầy đủ vật chất. Đâu là lý giải cho hiện tượng này? Liệu người phụ nữ sẽ tìm thấy hạnh phúc khi họ đã tìm được một tình yêu đích thực, xây dựng được một gia đình hạnh phúc với chồng và những đứa con xinh xắn?
VIET Psychology xin giới thiệu bản dịch tiếng Việt của “The Feminine Mystique” – Phụ nữ lý tưởng với sự cho phép của dịch giả My Do. Chỉ có chương 1 & chương 2 được dịch, mọi chi tiết về quá trình và tiến triển dịch, xin liên hệ trực tiếp với dịch giả.
Nguyên tác: The Feminine Mystique Tác giả: Betty Friedan Dịch giả: My Do


Chương 2
Hình mẫu nội trợ hạnh phúc

Vì sao có bao nhiêu phụ nữ Mỹ khổ sở với sự bất mãn dai dẳng mà ai cũng nghĩ rằng đó chỉ là vấn đề của riêng mình? “Tôi đã rớt nước mắt khi biết rằng cũng có những phụ nữ khác chịu nỗi dằn vặt nội tâm như tôi.” Một thiếu phụ ở bang Connecticut viết thư cho tôi sau khi đọc được những lý giải của tôi về vấn đề này. Một phụ nữ từ một thị trấn nhỏ ở Ohio tâm sự: “Khi mà tôi chẳng còn nghĩ ra cách nào khác ngoài việc đi gặp bác sĩ tâm lý, khi tôi cảm thấy tức giận, hờn tủi, và bất lực không thể tả nổi, tôi hoàn toàn không biết rằng có hàng trăm phụ nữ khác cũng ở hoàn cảnh tương tự. Tôi cảm thấy thật cô độc.” Một người nội trợ ở Houston, Texas viết:” Chính cảm giác phải một mình chống chọi với vấn đề này làm tôi khổ sở hơn. Tôi biết ơn Chúa đã ban cho tôi gia đình, nhà cửa và cơ hội được chăm sóc cho tổ ấm, nhưng cuộc đời tôi không thể chỉ dừng lại ở đó. Khi biết mình không phải là trường hợp lập dị, tôi cảm thấy như được thức tỉnh, và không còn phải xấu hổ vì có những khao khát ngoài gia đình.”
Sự im lặng đau đớn tội lỗi và cảm giác nhẹ nhõm kì lạ khi được bộc lộ cảm xúc là những dấu hiệu tâm lý của nhiều phụ nữ. Liệu những người phụ nữ ấy bấy lâu nay đang che giấu nỗi niềm gì? Ở thời đại hậu-Freud này, người ta thường nghĩ ngay đến nhu cầu tình dục. Nhưng có vẻ như nỗi bức xúc gần đây của nữ giới không liên quan đến tình dục. Phụ nữ có thể nói về tình dục, nhưng rất khó để nói về nỗi bức xúc này. Liệu có một thứ nhu cầu khác, một phần khác ẩn sâu bên trong, mà những phụ nữ ngày nay đang giấu kỹ như những phụ nữ thời Victoria giấu giếm nhu cầu tình dục?
Và nếu nhu cầu đó tồn tại, phụ nữ ngày nay cũng không biết đó là nhu cầu gì, cũng như trước kia phụ nữ thời Victoria không biết rằng mình có nhu cầu xác thịt. Hình mẫu người phụ nữ hoàn hảo mà nữ giới thời Victoria lấy làm chuẩn mực hoàn toàn không động chạm đến tình dục. Phải chăng chuẩn mực mà những phụ nữ Mỹ hiện đại giờ đây theo đuổi cũng đang bỏ sót một điều gì đó? Phải chăng còn một khoảng trống nào đó trong hình mẫu lý tưởng mà các nữ sinh trung học mới biết hẹn hò, những sinh viên đại học đang yêu, những người nội trợ ngoại ô với các ông chồng đang trên đà thăng tiến cùng một chiếc xe gia đình trở đầy trẻ con luôn mơ ước? Các tạp chí phụ nữ, truyền hình, phim ảnh, tiểu thuyết, báo chí và sách do các chuyên gia viết về hôn nhân gia đình, tâm lý trẻ em, quan hệ tình dục cùng những người phổ cập hoá xã hội học và phân tâm học đã góp phần xây dựng nên chuẩn mực về người đàn bà lý tưởng – một hình mẫu định hình mơ ước và cuộc đời của biết bao phụ nữ ngày nay. Hình mẫu ấy có thể giúp chúng ta lý giải vấn đề mà phụ nữ ngày nay gặp phải, cũng giống như giấc mơ phản ánh những mong muốn vô thức của con người. Vấn đề xảy phát sinh khi thực tế không giống như hình mẫu lý tưởng. Tôi không thể ghép sự tuyệt vọng âm thầm của biết bao phụ nữ vào khuôn hình người nội trợ hiện đại hoàn hảo mà bản thân tôi cũng góp phần tạo dựng khi viết bài cho các tạp chí phụ nữ. Có gì không ổn trong hình mẫu định hình lý tưởng của những người vợ, người mẹ tương lai? Phải chăng còn thiếu một điểm gì trong hình mẫu phản ánh và tạo dựng đặc tính của của phụ nữ Mỹ ngày nay?
****
Trong những năm đầu thập kỷ 60, McCall’s là tờ tạp chí cho phụ nữ bán chạy nhất ở Mỹ. Nội dung của nó phản ánh khá chân thật hình ảnh người phụ nữ Mỹ mà giới xuất bản tạp chí phổ thông khắc hoạ và góp phần tạo dựng. Đây là tóm tắt nội dung đầy đủ trong số ra tháng sáu năm 1960 của tờ McCall’s:
1. Bài viết về “hiện tượng hói đầu ngày càng phổ biến ở phụ nữ” do chải và nhuộm tóc quá nhiều.
2. Bài thơ dài in bằng cỡ chữ lớn về một đứa trẻ với tiêu để “Con trai là con trai”.
3. Truyện ngắn về một thiếu nữ không học đại học “cướp” được bạn trai từ một cô sinh viên sáng láng.
4. Truyện ngắn về sự phấn khích của một đứa bé ném một chai sữa ra khỏi cũi.
5. Phần đầu của một tự thuật hai phần của thái tử Anh Edward VIII về “Cuộc sống đời thường của tôi và công nương. Trang phục ảnh hưởng đến tôi như thế nào và ngược lại.”
6. Truyện ngắn về một thiếu nữ 19 tuổi được gửi đến trường dạy làm duyên để học cách đánh lông nheo và để thua khi chơi tennis. (“Bây giờ con đã 19 tuổi, và theo tiêu chuẩn thông thường ở Mỹ thì ta được quyền bàn giao con – trên danh nghĩa pháp lý và kinh tế – cho một gã trai trẻ để nó đón con về một căn hộ có phòng ngủ phụ trong khu Village, trong lúc nó học các chiêu buôn cổ phiếu. Và sẽ chẳng có gã trai trẻ nào chịu rước con đi nếu con đánh bóng vào góc yếu của nó.”
7. Câu chuyện về một cặp vợ chồng mới cưới ngủ riêng ở hai phòng sau một trận tranh luận về cờ bạc ở Las Vegas.
8. Bài viết về “cách vượt qua phức cảm tự ti”.
9. Câu chuyện với tiêu đề “Ngày Cưới”.
10. Chuyện về mẹ của một thiếu niên học nhảy rock-and-roll.
11. Sáu trang ảnh thời trang chụp các cô người mẫu mặc đầm bầu.
12. Bốn trang trình bày hấp dẫn về “cách ăn kiêng của người mẫu”.
13. Một bài báo về việc máy bay hoãn chuyến.
14. Các mẫu may thủ công.
15. Hướng dẫn làm “Rèm cửa gấp màu nhiệm”
16. Bài viết với tựa “Bách khoa toàn thư về cách tìm đời chồng mới”.
17. Một “đại tiệc BBQ”, dành riêng cho “những quý ông Mỹ vĩ đại đứng hiên ngang trên sân thượng hay hiên nhà, với mũ đội đầu, xiên thịt trong tay, ngắm tảng thịt đang xoay trên giàn lửa. Và cho những người vợ mà nếu không có họ, buổi tiệc thịt nướng mùa hè sẽ mất hẳn đi phần hoành tráng…”

Ngoài ra phần đầu tạp chí cũng có những mục “cẩm nang” thường lệ giới thiệu các loại thuốc và tiến bộ mới trong y khoa, thông tin về nuôi dạy trẻ, các chuyên mục của những nhân vật đình đám đương thời như Clare Luce và Eleanor Roosevelt, và mục thư độc giả.
Hình ảnh người phụ nữ ta có thể thấy nổi bật trong cuốn tạp chí đẹp đẽ này là một thiếu phụ trẻ trung, hồn nhiên bé bỏng như một đứa trẻ, an phận, nữ tính, sung sướng mãn nguyện trong một thế giới gói gọn trong phòng ngủ, nhà bếp, con cái, nhà cửa và chuyện chăn gối. Dĩ nhiên tờ tạp chí không bỏ qua tình dục, bởi đàn ông là niềm đam mê, khao khát và mục tiêu duy nhất mà phụ nữ được theo đuổi. Lật qua các trang tạp chí, ta sẽ thấy ngồn ngộn đồ ăn, quần áo, mỹ phẩm, đồ nội thất, cơ thể những cô gái trẻ – nhưng còn chỗ nào dành cho suy nghĩ, ý tưởng, trí tuệ và cuộc sống nội tâm? Trong hình ảnh của tạp chí, phụ nữ không làm việc gì khác hơn là việc nhà, và giữ gìn vóc dáng để kiếm chồng và giữ chân chồng.
Đó là hình ảnh người phụ nữ Mỹ tại thời điểm mà Castro lãnh đạo một cuộc cách mạng ở Cuba, và người ta bắt đầu huấn luyện để đưa đàn ông vào vũ trụ; thời điểm mà nhiều quốc gia Châu Phi mới thành lập, mà một chiếc máy bay siêu âm làm náo loạn Hội nghị Thượng đỉnh Đông-Tây; thời điểm mà các hoạ sĩ bao vây biểu tình trước một bảo tàng lớn phản đối ngôi bá chủ của nghệ thuật trừu tượng; khi mà các nhà vật lý phát hiện ra khái niệm phi vật thể, khi các phi hành gia phải điều chỉnh quan niệm về sự mở rộng vũ trụ sau sự ra đời của những chiếc kính thiên văn radio mới, và các nhà sinh vật học đạt được bước đột phá trong nghiên cứu về hoá chất cơ bản của sự sống. Cũng tại thời điểm này, một nhóm thanh niên gốc Phi ở miền Nam đã buộc nước Mỹ, lần đầu tiên sau Nội chiến, phải đối diện với một sự thật về dân chủ. Ấy vậy mà tờ tạp chí này, dành cho hơn 5 triệu nữ độc giả Mỹ, đại đa số đã tốt nghiệp phổ thông hoặc học gần xong đại học, lại không đề cập đến bất cứ sự kiện gì đang diễn ra trên thế giới, ngoài khuôn khổ gia đình. Trong nửa cuối của thế kỷ 20, thế giới của phụ nữ Mỹ đã thu hẹp lại và chỉ xoay quanh cơ thể và nhan sắc, cách quyến rũ đàn ông, chuyện sinh đẻ, phục vụ chồng con, chăm sóc nhà cửa. Và số báo trên đây không phải là một số báo ngoại lệ của một tờ tạp chí ngoại lệ.
Một buổi tối tôi ngồi họp cùng một nhóm các cây viết cho tạp chí, đa số là nam giới, làm việc với đủ loại tạp chí, bao gồm cả các tờ dành cho phụ nữ. Người chủ toạ là lãnh đạo của phong trào xoá bỏ phân biệt chủng tộc. Trước khi anh ta phát biểu, một người đàn ông khác giới thiệu khái quát nhu cầu của tờ tạp chí phụ nữ lớn mà anh ta biên tập:
Độc giả của chúng tôi là nội trợ, ở nhà cả ngày. Họ không quan tâm đến những vấn đề xã hội to tát. Họ không quan tâm đến chính sách trong nước hay quan hệ quốc tế. Họ chỉ quan tâm đến nhà cửa và gia đình. Họ không quan tâm đến chính trị, trừ khi nó liên quan trực tiếp đến một vấn đề trong gia đình, chẳng hạn như giá cà phê. Họ không hiểu lối viết châm biếm, nên chỉ có thể viết cho họ theo lỗi hài hước nhẹ nhàng. Họ gần như đã chán du lịch, nên chúng tôi không viết về đề tài này nữa. Giáo dục là một lĩnh vực đáng quan tâm. Trình độ của các phụ nữ này ngày càng đi lên. Hầu hết họ đều đã tốt nghiệp phổ thông, thậm chí đại học. Họ đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục con cái – chẳng hạn như môn số học lớp Bốn. Vì vậy các anh không thể viết về những ý tưởng hay vấn đề đao to búa lớn cho phụ nữ. Đấy là lý do nội dung tạp chí của chúng tôi có đến 90 phần trăm chuyên đề phụ nữ, và chỉ 10 phần trăm cho các đề tài chung chung.
Một biên tập viên khác đồng tình, và than thở: “Tại sao các anh không thể nghĩ ra một đề tài nào khác ngoài chuyện phải cẩn thận với các loại thuốc men? Tại sao không phát minh ra một vấn đề khủng hoảng khác cho phụ nữ quan tâm? Chẳng phải là ai cũng quan tâm đến tình dục đó sao?”
Tiếp đó, họ dành một tiếng đồng hồ nghe thẩm phán Thurgood Marshall kể những chuyện hậu trường trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, và ảnh hưởng của nó tới cuộc bầu cử tổng thống sắp tới. “Tiếc là tôi không được viết về đề tài thú vị thế này”, một biên tập viên nói. “Tôi không thể đem chuyện này mà kể cho đàn bà được.”
Nghe họ nói chuyện, tôi như nghe vọng bên tai khẩu hiệu “Con cái, Bếp núc, Nhà thờ” của Đức Quốc xã yêu cầu giam chặt phụ nữ trong vai trò sinh học của mình. Nhưng đây không phải là nước Đức thời Phát-xít. Chúng ta đang sống ở nước Mỹ, và phụ nữ Mỹ được tự do làm bất kỳ điều gì mình muốn. Vậy thì lẽ gì ta lại bắt phụ nữ phải hạn chế trong một vai trò, một địa vị, một nghề nghiệp? Cách đây chưa lâu phụ nữ đã ước mơ và đấu tranh cho quyền bình đẳng và làm chủ bản thân. Bây giờ những mơ ước đấy đã đi đâu về đâu? Từ bao giờ phụ nữ lại quyết định từ bỏ tất cả tự do để quay về với công việc nội trợ?
*****
Khi một nhà địa chất xúc một tảng bùn từ đáy đại dương, ta sẽ thấy được những tầng trầm tích sắc như dao cạo xếp lên nhau qua hàng triệu năm. Đó là bằng chứng cho quá trình thay đổi địa chất lâu dài của trái đất. Nếu chỉ quan sát trong quãng thời gian bằng một đời người, ta khó lòng phát hiện sự biến đổi nào ở các lớp trầm tích ấy. Tôi đã dành rất nhiều thời gian ở Thư viện công cộng New York để đọc lại hàng chồng tạp chí phụ nữ của Mỹ đã xuất bản trong hai mươi năm qua. Tôi nhận thấy một sự thay đổi trong hình ảnh người phụ nữ, và thế giới xung quanh họ, rõ rệt như các lớp trầm tích dưới đáy đại dương.
Năm 1939, những nhân vật tiêu biểu trong các tạp chí phụ nữ không phải đều còn trẻ, nhưng xét ở một khía cạnh nào đó họ trẻ trung hơn so với những nhân vật hư cấu giống họ bây giờ. Ta thấy họ trẻ, có thể vì lúc nào ta cũng thấy các nhân vật anh hùng đều còn trẻ. Họ là những người Phụ Nữ Mới, sôi nổi quyết tâm mang lại một diện mạo mới, một cuộc đời mới độc lập cho phụ nữ. Nhìn vào họ, ta thấy như đang hướng về một tương lai khác với quá khứ. Đại đa số các nhân vật tiêu biểu trong các tạp chí lớn thời đó, như Ladies’ Home Journal, McCall’s, Good Housekeeping, Woman’s Home Companion, đều là những người phụ nữ sự nghiệp hạnh phúc, kiêu hãnh, mạo hiểm và quyến rũ. Họ cũng biết yêu và được đàn ông say đắm. Tâm hồn, bản lĩnh, tính quyết đoán và độc lập – sức mạnh thể hiện trong công việc y tá, giáo viên, nghệ sĩ, diễn viên, người viết quảng cáo, bán hàng mà họ đảm nhận – làm nên nét duyên của họ. Rõ ràng đàn ông không cảm thấy mất cảm tình, mà ngược lại ngưỡng mộ cá tính của những người phụ nữ này. Đàn ông say đắm họ, không chỉ vì nhan sắc mà còn vì tâm hồn của họ.
Đó là thời huy hoàng của các tạp chí phụ nữ. Vẫn có những câu chuyện trai gái yêu đương muôn thuở, nhưng thường đó không phải là chủ đề chính của các tạp chí. Các nhân vật nữ trong tạp chí thời ấy thường đang theo đuổi một tầm nhìn hay ước mơ nào đó, và gặp ý trung nhân trong quá trình giải quyết một vấn đề công việc hay xã hội nào đó. Những câu chuyện tình trên tạp chí trước đây cũng khác với bây giờ. Trong các câu chuyện này, nhân vật chính là những người Phụ Nữ Mới, không bé bỏng nữ tính như các cô gái thời nay, độc lập và kiên quyết theo đuổi một lối đi cho riêng mình. Họ không đặt nặng việc phải tìm bằng được một người đàn ông. Bởi họ quan tâm và say mê với nhiều vấn đề khác trong cuộc sống, tự chủ hơn, có tính cách cá nhân mạnh mẽ hơn, nên các câu chuyện tình yêu của họ cũng mang sắc thái khác. Thường các nhân vật chính trong truyện gặp nhau ở nơi làm việc. Truyện “Chung một giấc mơ” đăng trên Redbook số tháng Giêng 1939 là một ví dụ. “Anh không muốn giấu em trong một khu vườn đằng sau bức tường rào. Anh muốn em đi bên anh, tay trong tay, và chúng ta sẽ cùng nhau đạt được bất cứ điều gì chúng ta mơ ước.” (trích lời nhân vật nam chính)
Những người Phụ Nữ Mới hiếm khi là nội trợ. Hầu hết các câu chuyện đều kết thúc trước khi họ sinh con đẻ cái. Họ luôn trẻ trung vì tương lai với họ lúc nào cũng rộng mở. Nhưng ở một góc độ khác, họ có vẻ chững chạc hơn nhiều so với các cô nội trợ ngây thơ bé bỏng – nhân vật chính trong truyện bây giờ. Chẳng hạn, trong truyện “Mẹ chồng” (Ladies’ Home Journal, tháng sáu 1939) có một cô y tá. “Anh thấy cô ấy thật dễ thương. Nàng không có vẻ ưa nhìn của các cô người mẫu trên tạp chí, nhưng bàn tay nàng có nghị lực, dáng đứng mang vẻ kiêu hãnh, trong đôi mắt xanh và cách vênh cằm toát lên vẻ quý phái. Từ ngày ra trường cách đây 9 năm, nàng đã tự xoay sở một mình. Nàng đã đạt được những gì nàng muốn. Nàng không tuân theo gì khác ngoài những điều trái tim mách bảo.”
Một nhân vật nữ khác chạy trốn khỏi nhà khi bị mẹ bắt phải ra mắt trong khi cô muốn lên đường đi làm một nhà thám hiểm địa chất. Quyết tâm mãnh liệt được sống cuộc đời riêng không ngăn cản các cô gái rung động trước tình yêu, nhưng lại thôi thúc các cô phản kháng lại cha mẹ. Để trưởng thành, những người hùng phải rời xa mái ấm bao bọc họ. Chàng trai giúp cô chạy trốn nói với cô: “Anh chưa từng gặp cô gái nào táo bạo như em. Em có đủ bản lĩnh để làm được điều em muốn.” (Truyện “Hãy tận hưởng đi nhé!”, Ladies’ Home Journal, tháng Năm 1939).
Đôi khi, các cô gái phải đứng trước mối mâu thuẫn giữa công việc và tình cảm. Thông điệp từ các câu chuyện viết năm 1939 thường là: hãy là chính mình, và các cô sẽ không bao giờ mất đi tình yêu, nếu đó là tình yêu đích thực. Trong truyện “Giữa ngày và đêm” của tờ Ladies’ Home Journal số tháng 2 năm 1939, một thiếu phụ trẻ goá chồng ngồi trong văn phòng, đắn đo xem nên ở lại giải quyết một lỗi lớn mà cô mắc phải ở công ty, hay bỏ về để giữ cuộc hẹn với một người đàn ông. Cô suy nghĩ về cuộc hôn nhân trước kia, về đứa con nhỏ, sự ra đi của người chồng… “sau tất cả những gì đã qua điều cô học được là phải lựa chọn sáng suốt, không ngại dấn thân vào những công việc mới, và tự tin vào quyết định của mình.” Sếp của cô không thể bắt cô huỷ cuộc hẹn, nhưng cô quyết định ở lại văn phòng. “Mọi người đã mất bao nhiêu công sức cho chiến dịch quảng cáo này. Mình không thể làm hỏng việc.” Thế rồi cô cũng tìm được ý trung nhân – chính là sếp của cô.
Có thể những câu chuyện này không phải là những tác phẩm văn học bất hủ. Song chúng phần nào giúp cho ta hiểu hơn độc giả của các tờ tạp chí – đó là những người nội trợ. Cần lưu ý rằng những tạp chí này không phải dành cho những người phụ nữ công sở. Những hình tượng phụ nữ sự nghiệp là lý tưởng, ước mơ, khát khao được là chính mình, và niềm hy vọng vào cơ hội rộng mở của những người nội trợ cách đây vài thập kỷ. Và nếu như những người nội trợ thời ấy không thể mơ ước cho bản thân mình, họ sẽ ước mơ cho con gái họ. Họ muốn con gái họ sau này lớn lên không chỉ làm những người nội trợ quanh quẩn bếp núc, mà sẽ bước ra thế giới rộng lớn mà họ chưa có cơ hội khám phá, chinh phục.
Tôi có cảm giác như hồi tưởng lại một ước mơ đã bị lãng quên, khi lật lại ký ức về hình ảnh người phụ nữ sự nghiệp, trước khi “phụ nữ sự nghiệp” trở thành một cụm từ gây ác cảm như bây giờ. Dĩ nhiên, trước kia, khi vừa bước ra khỏi thời đại khủng hoảng, người ta cần công việc để kiếm tiền. Nhưng với độc giả của các tạp chí trước kia, những người phụ nữ sự nghiệp không chỉ đơn thuần là những người có công ăn việc làm. Sự nghiệp có ý nghĩa rộng hơn công việc rất nhiều. Việc theo đuổi sự nghiệp giống như hành động khẳng định bản thân, thay vì tồn tại trong vỏ bọc và dưới bóng của những người khác.
Câu chuyện “Sarah và chiếc thuỷ phi cơ”, đăng trên tờ Ladies’ Home Journal số tháng 2 năm 1949, có thể coi là dấu ấn tiêu biểu của khát khao khẳng định bản thân thông qua sự nghiệp của phụ nữ thời trước những năm 50. Nhân vật chính Sarah, sau 19 năm đóng vai cô con gái ngoan, bí mật học bay. Mỗi khi phải đi theo mẹ trong các buổi giao tế, cô phải nghỉ học. Một người khách lớn tuổi của gia đình cô khuyên cô: “Cháu yêu ơi, cháu có biết là mỗi lần cháu đi học bay là cháu đang dẫn mình đến chỗ chết không? Tự huỷ hoại bản thân là tội nặng hơn cả việc không nghe lời người khác đấy.” Thế rồi, như linh cảm được một bí mật nào đó, ông hỏi Sarah: “Có phải cháu đang yêu không?” Sarah không thể trả lời ông khách. Yêu ư? Cô không biết là mình có cảm tình với anh chàng Henry đẹp trai tốt nết (giáo viên dạy bay của cô), hay là cô say mê mặt nước óng ánh, đôi cánh bay bổng tự do, và tầm nhìn đẹp đẽ bao la vô tận. “Vâng, chắc là cháu đang yêu”, cô đáp.
Sáng hôm sau, lần đầu tiên Sarah bay một mình. “Henry bước ra khỏi buồng lái, đóng sập cửa, và đẩy tàu đi. Sarah chỉ còn lại một mình. Sau cảm giác hoang mang vì dường như đã quên hết những gì học được, cô bắt đầu làm quen với cảm giác một mình trơ trọi trong buồng lái. Cô hít một hơi thật sâu, và bất chợt trong cô trào dâng cảm giác tự tin. Cô ngồi thẳng lưng và mỉm cười. Cô chỉ còn một mình! Giờ đây cô không phụ thuộc vào ai nữa, và cô cảm thấy mình có thể hoàn toàn làm chủ. “Mình làm được!” cô tự thốt lên… Gió thổi bật lại từ cánh phao, thành những vạt lấp lánh, và nhẹ như không, chiếc tàu bay vút lên không trung.” Giờ đây ngay cả mẹ cô cũng không thể ngăn cô lấy bằng lái. Cô không sợ “khám phá một cách sống của riêng mình.” Đêm đó, cô mỉm cười trước khi thiếp đi khi nhớ lại lời Henry nói với cô: “Em đúng là cô bé của Henry.”
“Cô bé của Henry! Cô cười. Không, cô không phải cô bé của Henry. Cô là Sarah. Và thế là đủ. Cô nhận ra điều đó hơi muộn, nên sẽ cần thêm thời gian để khám phá bản thân mình. Ở lưng chừng giấc mơ, cô tự hỏi liệu đến cuối con đường cô có cần một ai đó, và đó sẽ là ai.”
*****

Thế rồi hình ảnh người Phụ Nữ Mới mờ nhạt đi. Các cô gái đang bay vút trên không, tới lưng chừng chợt dừng lại do dự, cảm thấy lạnh lẽo trong ánh nắng xanh lơ, vội quay trở về nhà trú trong những bức tường ấm áp. Cũng cùng năm câu chuyện về Sarah được viết, trên tờ Ladies’ Home Journal cũng xuất hiện những bài đầu tiên trong chuỗi những bài viết ca ngợi một hình mẫu phụ nữ mới “Nghề nghiệp: Nội trợ” tràn ngập trên các ấn phẩm suốt những năm 50. Những bài viết ấy bắt đầu với câu chuyện một người nội trợ than phiền rằng cô cảm thấy tự ti khi phải bỏ trống mục “Nghề nghiệp” trên các tờ biểu mẫu. (“Khi tôi bỏ trống dòng đó, tôi nhận ra rằng mình chỉ là một phụ nữ trung niên, với tấm bằng đại học, mà chửng làm được gì với cuộc đời mình. Tôi chỉ là một bà nội trợ.”) Thế rồi, một tác giả, chưa từng biết thế nào là nội trợ, (trong trường hợp này là Dorothy Thompson, một nhà báo, phóng viên quốc tế, một cây viết trứ danh cho tờ Ladies’ Home Journal), đáp lại trong bài viết vào tháng ba, 1949 bằng một giọng trách móc mỉa mai. Vấn đề của các chị em là họ không nhận ra rằng mình đã đồng thời là chuyên gia trong hàng tá ngành nghề. “Các chị có thể điền vào mục Nghề nghiệp rằng các chị là nhà quản lý, đầu bếp, y tá, tài xế, thợ may, trang trí nội thất, kế toán, cấp dưỡng, giáo viên, thư ký riêng, hoặc đơn giản là nhà hảo tâm… Cả cuộc đời các chị, các chị đã cống hiến bao nhiêu công sức, tài năng, tâm huyết vì tình yêu.” Nhưng, người nội trợ vẫn chưa thoả mãn, “Giờ đây tôi đã bước sang tuổi ngũ tuần mà chưa từng dành thời gian cho đam mê thời trẻ là âm nhạc. Tôi đã lãng phí tấm bằng đại học của mình.”
Dorothy Thompson bật cười đáp lại: “Chẳng phải con cái chị giỏi nhạc là nhờ chị đó sao? Và trong suốt thời gian chồng chị mải mê hoàn thành tác phẩm tuyệt vời của mình, chẳng phải chị đã một tay chăm lo cho tổ ấm tinh tươm với khoản ngân sách hạn hẹp? Chẳng phải chị đã tự tay may quần áo cho bản thân và bọn trẻ, tự dán giấy dán tường trong phòng khách, và săn lùng những món hàng giảm giá? Chẳng phải trong những lúc rảnh rỗi chị đã đánh máy và soát lỗi bản thảo của chồng chị, tổ chức các sự kiện gây quỹ cho nhà thờ, khuyến khích tụi trẻ học piano bằng cách tập đàn cùng chúng, rồi cùng ôn bài với chúng trong suốt những năm trung học?” “Nhưng tất cả những thứ đó là tôi làm cho người khác chứ đâu phải là sống cho tôi?”, người nội trợ thở dài. “Thế thì cũng vẻ vang đâu có kém gì Napoleon cơ chứ”, Thompson chế giễu, “hay là một vị Nữ hoàng. Tôi không thể thông cảm sự mặc cảm của chị. Chị là một trong những người thành đạt nhất mà tôi từng biết.”
Còn nếu có người nội trợ nào than phiền rằng họ không kiếm ra tiền, thì câu trả lời là hãy thử tính toán lại giá trị của những việc các chị em đã làm. Số tiền mà phụ nữ tiết kiệm được khi quản lý chi tiêu trong gia đình còn lớn hơn số tiền mà họ có thể kiếm được nếu đi làm. Còn nếu các chị em phàn nàn rằng các công việc nội trợ quá tẻ nhạt thì đấy là vì họ chưa tận dụng hết năng lực của mình. “Thế giới có quá nhiều phụ nữ thông minh mà lại không có trẻ con thì sớm muộn cũng diệt vong… Cần những bà mẹ vĩ đại sinh ra những người đàn ông vĩ đại.” Và những người nội trợ Mỹ nên nhớ rằng ở những quốc gia Thiên chúa ở Trung Đông, người ta đã “tôn vinh đức mẹ Maria khiêm tốn dịu dàng thành Bà chúa của Thiên đường, và xây dựng những đền đài lộng lẫy nhất để dành cho Đức Bà tôn quý”… Người xây tổ ấm, sinh thành và nuôi nấng con trẻ chính là người tái tạo, lưu truyền văn hoá, văn minh và phẩm hạnh. Và nếu như những người phụ nữ đang đảm đương xuất sắc sứ mệnh gian nan và cao cả ấy của mình, thì có lẽ gì mà họ không dám tự hào mà tuyên bố rằng nghề nghiệp của họ là nội trợ?”
Năm 1949, tạp chí Ladies’ Home Journal cũng đăng loạt bài trích từ cuốn “Nam và Nữ” (Male and Female) của Margaret Mead. Tất cả các ấn phẩm đều đi theo trào lưu mà cuốn “Phụ nữ hiện đại: Giới tính bị mất” của Farnham và Lundberg khơi mào. Cuốn sách xuất bản năm 1942 này cảnh báo rằng sự nghiệp và học vấn đã “khiến phụ nữ trở nên nam tính hơn, và điều này gây nguy hại nghiêm trọng cho gia đình, con trẻ, cũng như tác động xấu đến quan hệ chăn gối vợ chồng.”
Và thế là một hình mẫu về người phụ nữ lý tưởng bắt đầu xuất hiện. Hình tượng này là sự chắp ghép những định kiến và lề lối sẵn có, mở đường cho quá khứ bóp nghẹt tương lai. Đằng sau hình mẫu lý tưởng này là những khái niệm và lý thuyết nguỵ biện khôn khéo dựa trên những ngộ nhận phổ biến. Những lý thuyết này được xem là vô cùng phức tạp, không phải ai cũng hiểu được, và vì vậy người ta khó lòng phản bác. Để tìm hiểu sâu những lý thuyết phức tạp và những ngộ nhận phổ biến này, người ta cần phải vượt qua một bức rào bí ẩn để hiểu rõ điều gì đã xảy ra với nữ giới Mỹ.
Theo những lý thuyết về nữ tính chuẩn mực, điều quan trọng nhất, có giá trị nhất mà phụ nữ cần rèn luyện là hoàn thiện hơn tính nữ của mình. Lý thuyết này cho rằng sai lầm lớn nhất của văn hoá phương Tây, trong gần suốt chiều dài lịch sử, là chưa đánh giá cao nữ tính; rằng nữ tính vô cùng bí ẩn và trực giác, gần gũi với khởi nguồn sự sống, và những ngành khoa học nhân tạo không bao giờ có thể hiểu được. Và mặc dù khác biệt, nữ tính không hề thấp kém hơn so với nam tính, thậm chí ở một số khía cạnh nào đó, nó còn đáng quý hơn. Cũng theo lý thuyết về nữ tính này, nguồn gốc của sự bất hạnh của phụ nữ bấy lâu nay là vì họ đã luôn ghen tị với nam giới, cố gắng để bắt chước nam giới, thay vì chấp nhận bản chất của mình. Phụ nữ sẽ chỉ toại nguyện và hạnh phúc khi họ nhường phần mạnh mẽ cho nam giới, chấp nhận làm phái yếu và phát huy thiên chức làm mẹ của mình.
Nhưng lý thuyết về nữ tính chuẩn mực lại dựng lên cho phụ nữ Mỹ một hình mẫu cũ rích – “nghề nghiệp: nội trợ”. Hình mẫu mới này biến những người vợ, người mẹ, người chưa từng bao giờ có cơ hội được nhận vai nào khác, thành chuẩn mực lý tưởng cho tất cả mọi phụ nữ. Lý thuyết về nữ tính chuẩn mực giả định rằng lịch sử, hoặc ít nhất là con đường tiến bộ của phụ nữ, đến đây là kết thúc huy hoàng. Ẩn sau những phục sức tinh xảo và lộng lẫy, lý thuyết về người phụ nữ lý tưởng chẳng qua lọc ra những khía cạnh cụ thể, cố định, hữu hạn của nữ tính – biểu hiện ở những phụ nữ mà hoàn cảnh bó hẹp cuộc đời của họ trong việc giặt giũ, nấu nướng, sinh đẻ – để rồi tôn vinh những “đức tính’ đó thành biểu tượng của vẻ đẹp phụ nữ, và là hình mẫu chuẩn mực mà mọi phụ nữ cần phải noi theo để hoàn thiện bản thân.
Từ sau năm 1949, để trở thành một người phụ nữ Mỹ lý tưởng chỉ có một cách – đó là làm nội trợ. Thoáng như một giấc mơ, hình ảnh người phụ nữ Mỹ từ một cá thể biến động, trưởng thành trong một thế giới đang thay đổi đã nhanh chóng bị xoá sổ. Chuyến bay solo kiếm tìm bản sắc cá nhân đã bị lãng quên khi giờ đây người ta đua nhau kiếm tìm sự yên ổn của hạnh phúc gia đình. Khoảng trời bao la vô tận trước đây giờ thu hẹp trong bốn bức tường gọi là “tổ ấm”.
Quan niệm về nữ tính thể hiện qua các ấn phẩm dành cho phụ nữ Mỹ bắt đầu thay đổi sau năm 1949, và hình tượng người phụ nữ lý tưởng mới được xây dựng rõ nét hơn trong thập kỷ 50. “Nữ tính bắt đầu từ trong gia đình”, “Có thể thế giới là của đàn ông”, “Hãy sinh con khi còn trẻ”, “Làm thế nào để bẫy đàn ông”, “Tôi có nên nghỉ việc sau khi kết hôn?”, “Bạn có biết cách dạy con gái làm vợ?”, “Vì sao lính Mỹ thích đàn bà Đức?”, “Những điều Eva có thể dạy bạn”, “Sự nghiệp tại gia”, “Vì sao phụ nữ lắm điều?”, “Chính trị – lãnh địa của đàn ông”,”Những cách duy trì hôn nhân hạnh phúc”, “Đừng ngại lấy chồng sớm”, “Lời khuyên của bác sĩ về cách cho con bú”, “Tôi sinh con tại nhà”, “Với tôi, nấu nướng là nghệ thuật”, “Quản lý gia đình như quản lý doanh nghiệp”.
Đến cuối nhập kỷ 40, trên các ấn phẩm dành cho phụ nữ, cứ ba nhân vật nữ thì chỉ có một người phụ nữ sự nghiệp – và thường họ xuất hiện trong bối cảnh đang từ bỏ công việc của mình khi phát hiện ra rằng điều mình thực sự mong muốn là làm nội trợ. Năm 1958, rồi suốt cả năm 1959, tôi không tìm ra nổi một bài viết nào trong ba tờ tạp chí lớn nhất dành cho phụ nữ bấy giờ (tờ thứ tư, Woman’s Home Companion, đã đình bản) một nhân vật nữ có sự nghiệp, hay chí ít là một niềm đam mê nào đó với công việc, nghệ thuật, hay một vấn đề xã hội. Tất cả chỉ còn lại những nhân vật với “nghề nghiệp: nội trợ”. Trong 100 nhân vật nữ trên báo thì chỉ có một người đi làm. Ngay cả những phụ nữ chưa chồng cũng không đi làm. Họ chỉ chăm chăm tìm cách kiếm cho được một tấm chồng.
Những người nội trợ hạnh phúc mới này dường như trẻ hơn một cách lạ thường so với những phụ nữ sự nghiệp sôi nổi của thập niên 30, 40. Họ càng ngày càng trẻ – cả về ngoại hình lẫn trong cách tỏ vẻ bé nhỏ yếu đuối. Họ không có định hướng gì cho tương lai, ngoài việc sinh con đẻ cái. Trong thế giới của họ, duy chỉ có những đứa trẻ là lớn lên. Những hình tượng nội trợ dường như trẻ mãi không già, bởi với họ tất cả đều dừng lại khi con cái ra đời. Giống như Peter Pan, họ phải giữ nguyên một trạng thái, trong khi con cái họ lớn lên cùng thế giới bên ngoài. Họ phải tiếp tục sinh con, bởi chuẩn mực về nữ tính chỉ ra rằng đó là cách duy nhất để họ trở thành người phụ nữ lý tưởng. Hãy thử đọc một trích đoạn trong truyền “Người bán bánh mỳ” trong tờ Ladies’ Home Journal số tháng tư năm 1959. Nhân vật chính là một cô gái đã theo học chuyên ngành kinh tế gia đình ở trường đại học để học nấu ăn, chưa bao giờ đi làm, và vẫn đóng vai cô dâu trẻ mặc dù đã có ba đứa con. Vấn đề mà cô quan tâm kinh tế. “Ồ, không phải là cái thứ kinh tế chán ngắt về thuế khoá hay hiệp định thương mại, viện trợ nước ngoài này nọ đâu. Mấy chuyện đó tôi đã phó mặc cho các vị nghị sĩ đáng kính ở Washington rồi”.
Vấn đề của cô là khoản tiền tiêu vặt 42 đồng 10 xu. Cô rất ngại ngửa tay xin tiền chồng mỗi khi muốn mua một đôi giày mới, nhưng chồng cô lại không tin tưởng để giao cho cô một tài khoản tín dụng. “Ôi tôi ước gì mình có thể có một khoản tiền riêng! Không cần nhiều nhặn gì, chỉ cần vài trăm đồng một năm, đủ để thỉnh thoảng đi ăn trưa với bạn bè hay sắm vài đôi tất màu sắc, hay vài thứ lặt vặt mà không phải hỏi xin Charley. Nhưng, Charley nói đúng, cả đời tôi chừa từng kiếm được đồng xu nào, nên tôi không thể hiểu được kiếm tiền là như thế nào. Thế rồi tôi lại vừa hậm hực vừa cặm cụi nấu nướng, quét dọn, nấu nướng, giặt giũ, ủi đồ, rồi lại nấu nướng suốt một thời gian dài.”
Cuối cùng thì cô cũng tìm ra được giải pháp. Cô nhận làm và giao bánh mỳ kẹp cho các công nhân trong xưởng của chồng cô. Cô thu về được 52 đồng rưỡi một tuần, nhưng lại quên không tính chi phí, và để nắm được tổng số bánh bán được, cô cất 8.640 cái túi đựng bánh sau bếp sưởi. Charley bảo rằng bánh cô làm cầu kỳ quá. “Nếu chỉ có việc kẹp giăm-bông vào bánh mỳ trắng thì em chẳng khác gì bà bán bành mỳ bình thường, chả có gì thú vị” – cô giải thích. “Nhưng những chi tiết nguyên liệu em thêm thắt vào làm cho công việc có vẻ sáng tạo hơn”. Thế là ngày ngày cô dậy từ sáng sớm, chặt chặt thái thái, tỉa tót, gói ghém, hết 9 đồng vốn, mà mãi không xong việc, cho đến khi mùi thức ăn làm cô phát ngấy, và sau một đêm thức trắng, cô chạy như một con lật đật xuống bếp để thái xúc xích thành lát kẹp cho đủ 8 suất ăn trưa. “Tôi gần như kiệt sức. Đúng lúc đó thì Charley xuất hiện, thấy tôi trong tình trạng ấy, vội vàng chạy đi lấy ly nước.” Cô phát hiện ra rằng là cô lại đang có bầu.
“Những điều đầu tiên rõ ràng mà tôi nghe Charley nói là, ‘Anh sẽ huỷ hết các đơn đặt hàng ăn trưa. Việc của em là làm mẹ. Em không cần phải kiếm tiền.” Thế là tối hôm đó, Charley mang về một cuốn séc. Anh giao cho cô quản lý một tài khoản phụ. Và cô quyết định sẽ không đả động gì đến 8.640 cái túi đựng bánh mỳ. Đằng nào thì đến lúc đứa út vào đại học, cô cũng sẽ dùng hết đống túi ấy để cho bọn trẻ mang bánh mỳ đi học.
*****
Chỉ sau có 10 năm mà Sarah cùng chiếc thuỷ phi cơ đã trở thành bà bán bánh mỳ. Trong 10 năm ấy, hình ảnh người phụ nữ Mỹ đã xuất hiện sự tương phản như hai thái cực của người mắc chứng tâm thần phân liệt. Và sự tương phản đó không chỉ đơn thuần huỷ hoại tàn bạo giấc mơ sự nghiệp của phụ nữ.
Trước kia, cũng có một sự tương phản trong hình ảnh người phụ nữ – một bên là người phụ nữ ngoan hiền tôn quý, một bên là ả lăng loàn dâm dục. Sự tương phản này tạo ra một vết rạn trong hình ảnh nữ giới: một người đàn bà nữ tính với nhục dục đi kèm phẩm hạnh, và một người phụ nữ sự nghiệp tội lỗi vì ước muốn khẳng định bản thân. Câu chuyện ngụ ngôn về phụ nữ thời nay lên án và bài trừ ước mơ sự nghiệp: quỷ dữ ban đầu hiện hình là một phụ nữ sự nghiệp, đe doạ cướp đi chồng con của nhân vật nữ chính. Cuối cùng, nó lại len lỏi vào chính bên trong con người nhân vật nữ chính, đội lốt những khát khao độc lập, bất mãn tinh thần, và ý thức về bản sắc riêng. Nếu người phụ nữ muốn giành hay giữ lấy tình yêu của chồng con thì nhất thiết phải diệt trừ con ác quỷ đó.
Trong truyện “Người đàn ông đóng vai chồng” đăng trên tờ Redbook, tháng 11 năm 1957, nhân vật nữ chính, một thiếu phụ “tóc nâu da lấm tấm tàn nhang” với biệt hiệu “Nhí” có cô bạn cùng phòng thời đại học đến thăm. Cô bạn tên Kay “đúng là loại phụ nữ hấp dẫn đàn ông, lại có đầu óc kinh doanh… Nàng cột mái tóc hung bóng mượt thành một búi cao và cài một cặp trâm.” Chẳng những Kay đã ly hôn, mà còn bỏ con cho bà nuôi, trong khi theo đuổi sự nghiệp truyền hình. Con quỷ đội lốt phụ nữ sự nghiệp này định rủ rê nàng Nhí đi làm, để nàng thôi cho con bú. Mụ còn ngăn không cho bà mẹ trẻ chạy ra dỗ con khi đứa bé quấy khóc lúc hai giờ sáng. Nhưng khi George, chồng của nàng Nhí, phát hiện ra con mình bị bỏ trong phòng cửa mở toang, gió lạnh buốt, không đắp chăn, đang kêu gào thảm thiết, mà máu chảy ròng ròng xuống má, chàng đã cho con quỷ Kay một trận nên thân. Sau đó, Kay đã biết ăn năn, quyết định bỏ việc về với con và bắt đầu cuộc đời mới. Và nàng Nhí, sau khi thức dậy cho con bú bữa hai giờ khuya, lòng hả hê tự nhủ: “Thật mừng mình chỉ là nội trợ” và bắt đầu mơ mộng về tương lai của cô bé con, sau này lớn lên cũng sẽ thành nội trợ.
Sau khi người phụ nữ sự nghiệp đã bị xoá sổ, đối tượng tiếp theo cần bị bài trừ là những người nội trợ ham hố “vác tù và hàng tổng”. Ngay cả việc tham gia hội phụ huynh cũng bị coi là đáng ngờ, chứ đừng nói đến mối quan tâm với những vấn đề quốc tế (xem truyện “Gần như là một cuộc tình”, McCall’s, tháng 11, 1955). Tội đồ kế tiếp là những người nội trợ có chủ kiến. Truyện “Em không muốn nói với anh” (McCall’s, tháng 1, 1958) mô tả nhân vật chính tự tay tính toán sổ sách và tranh luận với chồng về một vấn đề nhỏ nhặt trong gia đình. Câu chuyện diễn tiến đến hồi người nội trợ này sắp mất chồng vào tay một “bà goá bơ vơ” với ưu điểm lớn nhất là cô “bó tay” với những chuyện phức tạp như lựa chọn chính sách bảo hiểm hay vay thế chấp. Người vợ bị phản bội cho rằng: “Con ả này hẳn là rất gợi tình, và một người vợ như tôi thì không thể cạnh tranh về khoản đó.” Nhưng bạn thân của chị ta thì bảo rằng: “Cậu nhìn vấn đề đơn giản quá. Cậu quên mất là Tania có thể tỏ ra yếu đuối như thế nào, và biết ơn ra sao với người đàn ông giang tay che chở cho ả…” “Nhưng bản chất tôi không thể làm một cây tầm gửi nhõng nhẽo…”, chị vợ lý luận. “Tôi đã có một việc làm tử tế sau khi ra trường, và luôn luôn là một người độc lập. Tôi không phải là một con ả bé bỏng nũng nịu, và có cố cũng không giả vờ như thế được.” Nhưng rồi đêm hôm đó, chị vợ đã học được cách. Chị nghe thấy tiếng động giống tiếng trộm trong nhà. Mặc dù biết đấy chỉ là tiếng chuột nhắt, chị vẫn nhấc điện thoại lên cầu cứu chồng, và đã kéo được chàng về. Chị giả vờ hốt hoảng, và trong khi anh chồng ra sức vỗ về, thủ thỉ rằng hẳn nhiên hồi sáng chàng đã đúng. “Chị nằm yên trên chiếc giường êm ái, mỉm cười ngọt ngào, âm thầm mãn nguyện, xen chút tội lỗi.” Ở cuối con đường, gần như đúng nghĩa đen, là sự biến mất hoàn toàn của nhân vật chính, với tư cách một cá thể riêng rẽ, và chủ thể của câu chuyện đời mình. Đoạn kết con đường luôn luôn là tổ ấm, trong đó người phụ nữ chẳng còn mảnh trời riêng nào để che giấu. Kết cục của các câu chuyện hoàn toàn không còn bóng dáng những người phụ nữ độc lập, kể cả khi họ biết cắn rứt vì điều đó. Những nhân vật nữ chính giờ đây chỉ tồn tại vì chồng con, và nhờ vào chồng con.
Khái niệm “tổ ấm gia đình” được McCall’s phát minh vào năm 1954, và lập tức được giới quảng cáo, mục sư, báo chí nhiệt liệt tung hô như một phong trào mang ý nghĩa tinh thần cao đẹp. Có thời điểm, “tổ ấm gia đình” ấy được đẩy lên tầm của một giá trị dân tộc. Nhưng cũng chẳng bao lâu lại, người ta lại lên tiếng phê phán, và châm biếm “tổ ấm gia đình” rằng nó không thể thay thế những mục tiêu cao cả hơn của nhân loại – hay đúng hơn là của nam giới. Người ta chỉ trích kịch liệt những người phụ nữ để chồng làm việc nhà thay vì xông pha ngoài xã hội. Họ lý luận rằng vì sao lại để đàn ông rửa bát và thay tã cho con sau giờ làm việc, trong khi nam giới có khả năng làm chính trị gia, các nhà nhân học, vật lý học, thi nhân, và họ có thể dành quỹ thời gian ít ỏi đó để đóng góp những giá trị cao cả hơn cho xã hội?
Điều đáng lưu ý là, các nhà phê bình chỉ lên án việc bắt nam giới phải nhúng tay vào “thế giới đàn bà”, mà ít ai phân tích xem phụ nữ cảm thấy gò bó ra sao trong thế giới ấy. Người ta dường như quên mất rằng đã có lúc, phụ nữ từng được xem là có năng lực và tầm nhìn của các nhà lãnh đạo, nhà thơ và nhà vật lý học. Chẳng có ai nhận ra rằng phụ nữ đang bị cái gọi là “tổ ấm gia đình” lừa phỉnh. Tờ McCall’s số ra dịp Lễ Phục sinh năm 1954 tuyên bố mở ra một thời đại mới của tổ ấm gia đình, nói lời từ biệt với những năm tháng trước đây phụ nữ đã vất vả đấu tranh đòi bình đẳng, và các tạp chí cho phụ nữ đã “giúp mở ra cho các chị em những khoảng không gian trước đây nữ giới tuyệt đối không được bước vào”. Trong lối sống của thời đại mới, “đàn ông và phụ nữ ngày càng kết hôn sớm hơn, sinh con sớm hơn, có nhiều con hơn, và được thật sự toại nguyện hơn bao giờ hết” khi trở về với tổ ấm, nơi “đàn ông, phụ nữ và con trẻ đều đạt được một điều gì đó… không phải như những cá thể đơn lẻ, tách biệt, mà như một gia đình, cùng chia sẻ mọi nỗi vui buồn.”
Bài viết mô tả lối sống mới này có tiêu đề: “chỗ của đàn ông là tổ ấm”. Nó khắc hoạ một hình ảnh và chuẩn mực mới: một cặp vợ chồng, Ed và Carol, sống ở New Jersey với ba đứa con, trong một căn nhà hai tầng lợp mái tôn xám. Cuộc sống của họ gần như “tập trung hoàn toàn vào nhà cửa và con cái.” Bài viết mô tả cảnh họ đi mua sắm ở siêu thị, làm đồ mộc, mặc đồ cho tụi trẻ, và cùng nấu bữa sáng. “Sau đó, Ed theo xe cùng hội đàn ông láng giềng đến công sở.”
Anh chồng Ed là người chọn tông màu và quyết định việc trang trí nhà cửa. Những đầu việc Ed ưa thích bao gồm: đi loanh quanh trong nhà, đóng đồ, quét sơn, chọn đồ gỗ, thảm và rèm cửa, sấy bát đĩa, đọc truyện và dỗ tụi trẻ con đi ngủ, làm vườn, cho tụi trẻ ăn và mặc đồ, họp phụ huynh, nấu nướng, mua váy áo cho vợ và đi chợ. Ed không thích những việc sau: quét bụi, hút bụi, hoàn tất các công việc mình đã khơi mào, treo rèm, rửa bát đĩa xoong nồi, dọn đống bày bừa của bọn trẻ, xúc tuyết, cắt cỏ, thay tã, đưa người trông trẻ về nhà, giặt và ủi đồ. Tất nhiên, Ed không làm tất cả những việc này. Vì lợi ích của mỗi thành viên, gia đình cần có người đứng đầu. Và người chủ gia đình này là Bố, không phải Mẹ… Con trai và con gái đều phải học, hiểu, và tuân theo những phận sự mà giới tính quy định… Bố không phải là người thay thế cho Mẹ, mặc dù Bố có thể sẵn lòng tham gia các công việc giặt giũ, dọn dẹp, nấu nướng. Bố là cầu nối với thế giới bên ngoài. Và trong thế giới đó, Bố phải chứng tỏ sự đam mê, lòng quả cảm, vị tha, tính xây dựng… để làm gương cho con cái.
Đã có bao nhiêu buổi họp ban biên tập gay gắt xảy ra ở McCall’s thời đó. “Tự nhiên người ta lại muốn nâng cao ý nghĩa tinh thần của tổ ấm gia đình, và kỳ vọng chúng tôi biến cuộc sống thường nhật mà tất cả mọi người đã sống suốt 5 năm nay thành một phong trào bí ẩn nào đó – cuộc sống chỉ có đi ra đi vào trong nhà, quay lưng lại với xã hội. Chúng tôi loay hoay chẳng biết làm thế nào để mô tả nó mà không gây cảm giác tẻ nhạt khủng khiếp.” – một cựu biên tập viên của McCall’s hồi tưởng. “Thế là cuối cùng chúng tôi chỉ còn cách là tả cảnh náo nức khi các ông bố ra vườn nướng thịt. Chúng tôi đăng những bức ảnh thời trang nam giới, và đưa hình ảnh đàn ông vào các tầm ảnh chụp ẩm thực, thậm chí ảnh nước hoa. Nhưng lúc nào chúng tôi cũng cảm thấy bị bó buộc trong vai trò chủ bút.”
“Chúng tôi cho đăng những bài viết mà các bác sĩ tâm lý không muốn động tới, vì chúng sẽ khơi ra một vấn đề: các cặp vợ chồng dồn hết thời gian tâm trí vào chuyện con cái – Nhưng nếu không có con cái thì tổ ấm gia đình còn gì để nói? Chúng tôi mừng như bắt được vàng mỗi khi vớ được một cái gì mới đề đăng lên ngoài những bức ảnh một ông bố đứng cạnh một bà mẹ. Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng băn khoăn không biết các bà mẹ sẽ ra sao nếu một ngày nào đó đàn ông đứng ra đảm nhận hết các việc nuôi con, nấu nướng, trang trí nhà cửa vốn là việc dành riêng cho các mẹ. Chúng tôi không thể viết về các phụ nữ ra khỏi nhà đi làm, theo đuổi công danh sự nghiệp. Điều trớ trêu là chúng tôi không thể lựa chọn hình ảnh người phụ nữ với tư cách là phụ nữ độc lập, mà luôn phải lựa chọn hình ảnh phụ nữ đi kèm với nam giới. Chúng tôi phải biên tập cho con người nói chung, chứ không chỉ riêng phụ nữ.”
Nhưng nếu không được tham gia vào xã hội như đàn ông, thì phụ nữ có phải là “con người”? Khi không có quyền độc lập, phụ nữ cuối cùng sẽ chỉ còn cách sống thụ động, lệ thuộc, răm rắp nghe lời đàn ông trong tất thảy mọi quyết định, cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội. Người ta cứ ảo tưởng rằng tổ ấm gia đình sẽ mang lại sự thoả mãn về tinh thần để lấp đầy sự trống trải đơn điệu của công việc nội trợ hàng ngày, như thể cần đi theo một trào lưu mang tính tâm linh nào đó để khoả lấp sự thiếu thốn bản sắc. Nhưng thực tế, tất cả chỉ là để chối bỏ sự mất mát của phụ nữ và sự trống rỗng của hình mẫu phụ nữ lý tưởng. Liệu đàn ông có thể bù đắp cho sự mất mát tinh thần của phụ nữ bằng cách san sẻ việc nhà? Liệu người nội trợ có tìm được một lẽ sống mới cho đời mình khi cùng chồng hút bụi phòng khách?
Năm 1956, khi “tổ ấm gia đình” lên ngôi, các biên tập viên bí đề tài của tờ McCall’s cho đăng một bài viết ngắn với tiêu đề “Người mẹ bỏ trốn”. Họ sửng sốt khi thấy rằng bài viết này thu hút được lượng độc giả lớn chưa từng có. “Đó là lúc chúng tôi vỡ lẽ” – một cựu biên tập viên chia sẻ – “Đột nhiên chúng tôi phát hiện ra rằng tất cả những người nội trợ tưởng chừng hoàn hảo đều bất hạnh khôn tả”.
Nhưng sự vỡ lẽ xem ra quá muộn màng. Khi đó, hình tượng mới về phụ nữ Mỹ với “nghề nghiệp: nội trợ” đã được truyền bá rộng rãi và trở thành một chuẩn mực bất di bất dịch. Và rồi chuẩn mực ấy lại trở thành khuôn mẫu để bóp méo thực tại.
Khi tôi bắt đầu viết bài cho các tạp chí phụ nữ vào những năm 50, các biên tập viên đều mặc nhiên tin rằng phụ nữ tuyệt đối không quan tâm đến chính trị, thế giới ngoài nước Mỹ, các vấn đề quốc gia đại sự, khoa học, nghệ thuật, những ý tưởng, các cuộc phiêu lưu, giáo dục, hay thậm chí ngay cả cộng đồng xung quanh họ – họ chỉ quan tâm đến những vấn đề này khi chúng đánh vào tâm tư làm vợ, làm mẹ của họ.
Chính trị, đối với phụ nữ, là chuyện đệ nhất phu nhân Mamie Eisenhower mặc gì và cuộc sống đời thường gia đình Nixon ra sao. Thi thoảng, khi lương tri nghề nghiệp lên tiếng, tờ Ladies’ Home Journal lại đăng một chuỗi bài như “Tiến bộ của những người hành hương chính trị” nói về những phụ nữ đấu tranh để con em mình có trường học và sân chơi tốt hơn. Nhưng nhìn chung cả làng báo đều cho rằng kể cả khi đề cập đến chính trị qua góc nhìn của các bà mẹ thì đề tài này cũng không thu hút được mấy độc giả. Một biên tập viên của tờ Redbook đã phải khéo léo “nữ tính hoá” một đề tài có màu sắc chính trị qua việc mô tả tâm trạng của một người vợ có chồng đi tàu tới vùng nước bị ô nhiễm.
“Tóm lại, đàn bà không thể hiểu được vấn đề gì cả.” Những người đàn ông làm chủ bút các ấn phẩm cho nữ giới đều nhất trí như vậy. “Nếu muốn đề cập đến vấn đề nào đó với phụ nữ thì phải diễn dịch bằng thứ ngôn ngữ mà đàn bà có thể hiểu được”. Tất cả những người viết bài cho các tạp chí phụ nữ đều quán triệt nguyên tắc này đến nỗi một chuyên gia sản khoa gửi bài cho một tạp chí phụ nữ hàng đầu phải “giật tít” cho bài viết là “Làm thế nào để vượt cạn trong hầm tránh bom nguyên tử”. “Bài đó viết không hay, chứ không thì chúng tôi đã cho đăng rồi” – biên tập viên tờ báo này giải thích với tôi. Theo lý thuyết về phụ nữ lý tưởng, những người phụ nữ thật sự nữ tính sẽ có thể guan tâm đến những chi tiết cụ thể về mặt sinh học của quá trình sinh nở trong hầm trú bom, nhưng sẽ không bao giờ hứng thú với khái niệm trừu tượng về sức tàn phá ghê gớm của trái bom.
Quan điểm đó hiển nhiên trở thành một lời tiên tri tự thực hiện. Theo tâm lý học, khi người ta tin vào một điều gì đó, người ta sẽ có xu hướng biến điều mình tin thành hiện thực. Năm 1960, một nhà tâm lý học xã hội tinh tường đã chỉ cho tôi những số liệu thống kê chứng tỏ mồn một rằng phụ nữ Mỹ dưới 35 tuổi tuyệt nhiên không quan tâm đến chính trị. “Họ có thể bỏ phiếu, nhưng họ không bao giờ mơ đến chuyện tranh cử” – nhà tâm lý học nói. “Nếu chị viết một bài về chính trị, họ sẽ không đọc đâu. Chị phải chuyển thể nó thành một vấn đề mà phụ nữ có thể hiểu được – chẳng hạn như yêu đương, bầu bí, bú mớm, quần áo, nội thất. Chị mà viết về kinh tế, phân biệt chủng tộc, quyền công dân thì sẽ chỉ như đàn gảy tai trâu thôi.”
Cũng có thể là họ chưa từng bao giờ được nghe ai “gảy đàn” cho nghe về những vấn đề như vậy. Những ý tưởng không phải như bản năng tự nhiên sinh sôi nảy nở trong trí não – mà phải được gieo mầm nhờ giáo dục và truyền thông. Những khảo sát tâm lý học cho thấy rằng những người nội trợ trẻ ngày nay đã bỏ học phổ thông giữa chừng để lấy chồng, và chẳng bao giờ động đến một quyển sách, mà chỉ đọc tạp chí. Trong khi đó, các tạp chí ngày nay lại cho rằng phụ nữ không quan tâm đến các vấn đề đòi hỏi tư duy. Nhưng khi lục lại trong thư viện những tạp chí cũ, tôi thấy những tạp chí phổ thông xuất bản từ thập niên 30, 40 như tờ Ladies’ Home Journal đã đăng hàng trăm bài về các đề tài “phi nội trợ”: “Chuyện hậu trường lần đầu tiên công bố về ngoại giao Mỹ trước Thế chiến”, “Sau chiến tranh, liệu nước Mỹ có thể có hoà bình?” của Walter Lippmann, “Stalin lúc nửa đêm” của Harold Stassen, “Báo cáo của Tướng Stilwell về Trung Quốc”, các bài viết của Vincent Sheean về những ngày cuối cùng trước khi Séc và Slovakia chia tách, cuộc thanh trừng người Do thái ở Đức, Chính sách kinh tế mới (the New Deal), phóng sự của Carl Sandburg về cuộc mưu sát tổng thống Lincoln, những câu chuyện về Mississippi của Faulkner và cuộc đấu tranh đòi quyền tránh thai của Margaret Sanger. (*)
(*): Margaret Sanger (1879-1966): nhà hoạt động xã hội người Mỹ tiên phong phổ cập khái niệm tránh thai và đấu tranh để hợp pháp hoá việc sử dụng các biện pháp tránh thai ở Mỹ.
Đến những năm 50, các tạp chí này gần như không viết về đề tài gì khác ngoài những bài phục vụ cho cho vai trò nội trợ của phụ nữ, hoặc mô tả phụ nữ làm nội trợ, và chỉ phản ánh một bản sắc nữ tính thuần tuý như Nữ công tước xứ Windsor hay Công nương Margaret. “Nếu chúng tôi đăng bài về một phụ nữ làm gì đó mạo hiểm, khác thường, một thân một mình, thì hẳn là người phụ nữ đó phải rất đáo để hoặc thần kinh không bình thường.” – một biên tập viên của tờ Ladies’ Home Journal kể. Bây giờ, các tạp chí không đời nào đăng bài về Margaret Sanger.
Năm 1960, tôi đọc được số liệu thống kê cho biết phụ nữ dưới 35 tuổi không thể hiểu và đồng cảm được với nhân vật nữ chính trong truyện viết về một cô gái làm việc ở một công ty quảng cáo đã thuyết phục một chàng trai ở lại thành phố để theo đuổi lý tưởng của mình thay vì về quê an phận với việc kinh doanh của gia đình. Các nữ độc giả cũng không thể đồng cảm được với vị mục sư trẻ hành xử theo đức tin của mình, đi ngược lại với thông lệ. Nhưng họ lại dễ dàng đồng cảm với một nam thanh niên bị liệt từ năm 18 tuổi. (“Tôi tỉnh lại và nhận ra rằng mình không thể cử động, cũng không thể lên tiếng. Tôi chỉ có thể nhúc nhích đúng một ngón tay.” Nhờ đức tin và bác sĩ tâm lý, “giờ đây tôi đã tìm được lý do để sống hết mình.”)
Chúng ta có thể thấy gì về những người nội trợ ngày nay, khi mà theo lời bất kỳ vị chủ bút nào, các độc giả này có thể thấu hiểu và đồng cảm tuyệt đối với những kẻ mù loà, câm điếc, bại liệt, những bệnh nhân ung thư, cận kề cái chết? Các bài viết về những người khiếm thị, cấm khẩu hay bại liệt từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trên các tạp chí dành cho nữ giới trong thời đại của những người phụ nữ với “nghề nghiệp: nội trợ”. Những câu chuyện ấy được kể đi kể lại với các chi tiết tả thực tỉ mỉ, thế chỗ hoàn toàn các bài viết về thời sự xã hội, thế giới, khoa học nghệ thuật, các vấn đề và ý tưởng, hay các câu chuyện về những người phụ nữ phiêu lưu sống động. Bất kể nạn nhân trong truyện là nam hay nữ, già hay trẻ, bất kể là họ bị ung thư vô phương cứu chữa hay tê liệt từ từ, những độc giả nội trợ đều có thể nhận diện và đồng cảm được.
Khi viết bài cho các tạp chí phụ nữ, tôi luôn được các vị chủ bút nhắc nhở rằng nhất định phải viết thế nào để phụ nữ đồng cảm được. Một lần tôi định viết về một nữ hoạ sĩ. Thế là tôi phải viết về việc chị ấy nấu nướng, tiếp thị, chuyện chị ấy gặp chồng mình ra sao, và sơn cũi cho con thế nào. Tôi phải bỏ qua hoàn toàn công việc quan trọng của chị – là hàng giờ chị dành để vẽ tranh, và cảm xúc của chị về công việc ấy. Đôi khi, người viết có thể viết về một phụ nữ không làm nội trợ mà bài vẫn được đăng, nhưng với điều kiện là phải làm sao cho nhân vật ấy có vẻ giống một người nội trợ, bằng cách không đề cập đến những công việc xã hội mà người phụ nữ đó tham gia, hay lý tưởng, hoài bão cá nhân mà chị ta theo đuổi. Tháng Hai năm 1949, tờ Ladies’ Home Journal đăng bài trang nhất với tiêu đề “Bếp của nhà thơ” tả việc Edna St.Vincent Millay (*) vào bếp. “Bây giờ thì chẳng ai có thể nói việc nội trợ là tầm thường. Nếu như một trong những nhà thơ lớn nhất của thời đại chúng ta có thể tìm thấy niềm vui trong những việc nhà giản đơn thì chẳng còn gì để mà tranh cãi nữa.”
(*): Edna St. Vincent Millay (1892-1950): nhà thơ và biên soạn kịch người Mỹ, được trao giải thưởng Pulitzer về thơ năm 1923.
Một tuýp “phụ nữ sự nghiệp” duy nhất vẫn được quyền xuất hiện trên các ấn phẩm cho phụ nữ là các nữ diễn viên. Tuy nhiên, hình ảnh của các cô cũng thay đổi đáng kể: không phải là những cá nhân phức tạp, hoạt bát, sâu sắc nội tâm, với vẻ bí ẩn tinh thần pha lẫn nét gợi cảm, mà đã trở thành những đối tượng tình dục, các cô dâu mặt non choẹt, hay những người nội trợ. Hãy thử so sánh Greta Garbo, Marlene Dietrich, Bette Davis, Rosalind Russell, Katherine Hepburn với Marilyn Monroe, Debbie Reynolds, Brigitte Bardot và “Tôi yêu Lucy”.
Khi viết bài về một nữ diễn viên để đăng trên tạp chí phụ nữ, tác giả phải viết về diễn viên đó trong vai trò nội trợ. Người viết tuyệt nhiên không miêu tả việc diễn xuất hay tình yêu công việc của nữ diễn viên, trừ khi cô ta phải trả giá cho những thứ đó bằng gia đình hay con cái, hoặc sau đó phải ân hận vì đã không làm tròn thiên chức phụ nữ. Bài giới thiệu chân dung nữ diễn viên Judy Holliday của tờ Redbook (Tháng 6, 1957) mô tả “một phụ nữ xuất chúng bắt đầu tìm thấy trong công việc niềm vui mà chị không bao giờ có trong cuộc sống đời thường.” Theo bài viết, trên màn ảnh “chị hào hứng và tận tâm nhập vai một người vợ xinh đẹp, chín chắn đang chuẩn bị làm mẹ – một vai mà chị chưa bao giờ được đảm nhận ngoài đời.” Sau khi chia tay chồng cũ, Judy Holliday phải tìm kiếm niềm vui trong công việc, bởi cuộc ly hôn khiến chị “cảm thấy mình thật là một người phụ nữ kém cỏi… Đây là một nghịch lý trái ngang trong cuộc đời của Judy, vì chị cẳng cần cố gắng cũng trở thành một diễn viên thành đạt, nhưng lại thất bại trong vai phụ nữ ngoài đời…”
Điều kỳ lạ là, trong khi quan niệm về hình mẫu phụ nữ lý tưởng ngày càng trở nên phổ biến, hạn chế phụ nữ tham gia vào các công việc ngoài xã hội, tỉ lệ phụ nữ đi làm lại tăng lên tới 30%. Đúng, cứ ba phụ nữ thì có đến hai người là nội trợ, nhưng, vì lẽ gì mà chuẩn mực về nữ tính lại chối bỏ mơ ước bước ra thế giới của phụ nữ, khi mà phụ nữ đã đấu tranh suốt cả thế kỷ để mở cánh cửa đó ra?
Rồi tôi tìm thấy một manh mỗi, vào một buổi sáng, khi ngồi trong phòng làm việc của một nữ biên tập viên. Người phụ nữ ấy lớn tuổi hơn tôi, còn nhớ cái thời mà hình tượng người phụ nữ sự nghiệp hình thành, và cũng đã chứng kiến nó bị phá bỏ như thế nào. Chị nói với tôi rằng những người góp công lớn nhất trong việc xây dựng hình mẫu phụ nữ sự nghiệp sống động trước kia chính là những cây viết và biên tập viên nữ. Còn hình tượng người vợ-người mẹ nội trợ ngày nay là do những người đàn ông làm chủ bút tạo dựng.
“Trước kia hầu hết nội dung của các tạp chí đều do nữ giới đóng góp,” chị kể, xen chút hoài niệm. “Khi những người đàn ông trở về sau chiến tranh, rất nhiều phụ nữ bỏ nghề cầm bút. Những cô gái trẻ bắt đầu tập trung vào chuyện con cái, và thôi việc viết lách. Các cây viết mới đa phần là nam giới, trở về từ chiến trận, đã luôn ước ao mái ấm gia đình.” Thế rồi, các tác giả của những nhân vật phụ nữ sự nghiệp mạnh mẽ của thập niên 30 lần lượt rút lui khỏi văn đàn. Đến cuối những năm 40, những cây viết không có sở trường viết về hình tượng nội trợ mới đều rời bỏ các tạp chí. Thay thế họ là những người đàn ông, và một số ít phụ nữ có khả năng viết theo công thức dành cho nội trợ đã định sẵn. Hậu trường của các ấn phẩm dành cho phụ nữ được xác lập lại bởi một đội ngũ gồm những cây bút nữ đã xuất sắc (hoặc giả vờ) nhập vai người nội trợ; và những vị chủ bút chỉ không quan tâm đến việc chuyển tải các ý tưởng đến các độc giả nữ, mà chỉ chăm chăm tìm cách bán quảng cáo cho các nhãn hàng đồ gia dụng, bột giặt, son môi… Ngày nay, hầu hết các tạp chí đều do nam giới nắm quyền quyết định. Các cây bút nữ chỉ đóng vai trò triển khai các công thức, hoặc biên tập các chuyên mục nữ công gia chánh. Còn người đưa ra công thức để tạo dựng hình mẫu người nội trợ mới lại chính là đàn ông.
Cũng trong thập niên 50 và 60, những nhà văn nghiêm túc, cả nam và nữ, đều biến mất khỏi các ấn phẩm dành cho phụ nữ. Nói đúng hơn, tất cả các tác phẩm văn học, hay lẫn dở, đều gần như hoàn toàn bị thế chỗ bởi các bài báo – không phải là các bài báo như trước kia về các vấn đề, các ý tưởng, mà tập trung vào mảng “nữ công”. Đôi khi, những bài báo này, bằng ngôn từ bay bổng của các nhà thơ hoặc lăng kính chân thực của các phóng viên hăng hái, tả việc làm bánh chiffon, mua máy giặt, hay tác dụng ảo diệu của sơn tường cho phòng khách, hay các chế độ ăn kiêng, các loại thuốc, trang phục và mỹ phẩm giúp phụ nữ có được thể hình lý tưởng. Đôi khi các bài báo này đề cập đến các đề tài tinh tế hơn, như các phát hiện mới trong ngành tâm thần học, tâm lý trẻ nhỏ, tình dục và hôn nhân, y tế… Các tạp chí cho rằng phụ nữ sẽ tiếp nhận những đề tài này, với điều kiện chúng được mô tả thật trực quan, chi tiết, liên hệ trực tiếp với sinh hoạt hàng ngày của những người nội trợ trung bình, với các lời khuyên “nên”, “không nên” cụ thể: làm sao để chồng bạn hạnh phúc, làm cách nào để con bạn không tè dầm, sử dụng thuốc thế nào cho an toàn…
Nhưng điều đáng lưu ý là: mặc dù hạn hẹp về đề tài, các bài viết về nữ công gia chánh hay mô tả dưới dạng phóng sự đời sống của những người nội trợ, đều chất lượng hơn các tác phẩm văn chương được đăng trên các ấn phẩm dành cho phụ nữ. Các bài báo này được trau chuốt hơn, chân thực, và tinh tế hơn. Điều này được đúc kết từ quan sát lặp đi lặp lại của các độc giả sắc xảo, khiến các cây viết và cả chủ bút bối rối. Một biên tập viên của tờ Redbook nhận xét: “Những nhà văn nghiêm túc bây giờ đi quá sâu vào nội tâm. Họ quá xa cách với độc giả, nên chúng tôi phải dựa vào những cây viết công thức.” Nhưng trước kia, những nhà văn như Nancy Hale, thậm chí William Faulkner, đều đã từng viết cho các tạp chí phụ nữ, mà chẳng ai than phiền rằng họ quá xa cách. Phải chăng hình mẫu phụ nữ ngày nay không chấp nhận sự trung thực nội tâm, chiều sâu nhận thức, và sự thật nhân bản cần thiết cho những tác phẩm văn học có giá trị?
Điều tối thiểu mà văn chương cần là những nhân vật chính, những cá nhân theo đuổi một mục tiêu hay khát vọng nào đó. Các ấn phẩm dành cho phụ nữ cần những nhân vật nữ chính. Nhưng người ta không thể viết đi viết lại chuyện một cô gái theo đuổi một chàng trai, hay một người nội trợ tìm kiếm một nhúm bụi dưới gầm ghế. Bởi vậy các tác phẩm văn học phải nhường chỗ cho các bài viết về nữ công gia chánh; sự trung thực và chân lý trong văn học phải nhường chỗ cho cơ man những chi tiết cụ thể, khách quan, tả thực về công việc nội trợ – màu sơn tường, màu son, hay nhiệt độ chính xác của lò nướng.
Nhìn vào các tạp chí phụ nữ ngày nay, người ta thấy dường như những chi tiết cụ thể trong đời sống hàng ngày của nữ giới thú vị hơn nhiều so với những suy nghĩ, ý tưởng và ước mơ của họ. Hay phải chăng cơ man những chi tiết tả thực, mô tả chi li về những sự kiện nhỏ nhặt là để che giấu đi sự thiếu thốn mơ ước, sự nghèo nàn của ý tưởng, sự tẻ nhạt khủng khiếp đang bao phủ cuộc sống của người nội trợ Mỹ?
*****
Tôi ngồi trong phòng làm việc của một chủ bút kỳ cựu khác, một trong số ít những phụ nữ còn trụ lại trong làng báo mà ngày nay do nam giới thống trị. Chị giải thích vai trò của mình trong việc tạo dựng hình mẫu phụ nữ lý tưởng. “Rất nhiều người trong chúng tôi bị mang ra phân tích tâm lý” – chị kể – “chúng tôi bắt đầu cảm thấy xấu hổ vì là những người phụ nữ sự nghiệp. Chúng tôi lo sợ rằng mình đang dần mất đi nữ tính, và ra sức tìm cách để giúp những người phụ nữ khác chấp nhận vai trò phụ nữ của mình.”
Nếu những nữ chủ bút này vì một lẽ nào đó không thể từ bỏ sự nghiệp của mình, họ càng có trách nhiệm phải “giúp” những phụ nữ khác hoàn thành trọn vẹn vai trò làm vợ, làm mẹ. Số ít những phụ nữ vẫn còn ghế trong các buổi họp ban biên tập không chịu tuân theo chuẩn mực nữ tính trong cuộc sống riêng tư của họ. Nhưng chuẩn mực mà họ góp phần tạo dựng có sức ảnh hưởng lớn đến mức nó khiến cho chính họ cảm thấy tội lỗi vì đã không tuân theo nó. Và nếu như trong đời họ thiếu thốn phần nào đó tình yêu hay con cái, họ sẽ tự hỏi liệu đó có phải tại họ quá đam mê sự nghiệp.
Ngồi sau bàn làm việc ngổn ngang, một biên tập viên của tờ Mademoiselle bày tỏ sự khó chịu: “Những cô gái trẻ mà chúng tôi mời làm cộng tác biên tập dường như thương hại chúng tôi. Có lẽ bởi chúng tôi là những phụ nữ theo đuổi sự nghiệp. Trong một buổi tiệc chiêu đãi với một nhóm mà chúng tôi cộng tác gần đây, chúng tôi hỏi những người ngồi trong bàn tiệc lần lượt chia sẻ về kế hoạch sự nghiệp của mình. Không một cô gái 20 tuổi nào giơ tay. Khi tôi nhìn lại những nỗi vất vả đã bỏ ra để theo đuổi công việc này, và tình yêu với công việc, tôi không khỏi tự hỏi liệu lứa phụ nữ chúng tôi đều điên rồ?”
Bên cạnh những nữ chủ bút đã lừa phỉnh chính bản thân mình còn có một dạng cây viết nữ khác bắt đầu viết về bản thân như thể chính họ chỉ là những người “nội trợ thuần tuý”, say sưa với các trò nghịch ngợm của con trẻ, những cái máy giặt tinh quái và các buổi văn nghệ của hội phụ huynh. “Khi bạn đã ngày qua ngày phải dọn giường cho một thằng nhóc 12 tuổi, việc leo núi Everest sẽ trở thành một trò nhạt nhẽo vớ vẩn” – Shirley Jackson viết trong tờ McCall’s số tháng Tư 1956. Sự thật là khi Shirley Jackson, nữ văn sĩ xuất sắc theo đuổi một nghệ thuật khó hơn nhiều so với việc dọn giường, hay nhà biên kịch Jean Kerr, thi sĩ Phyllis McGinley mô tả mình trong vai trò nội trợ, họ có lẽ đã quên mất rằng chính những người giúp việc đã làm việc dọn giường ấy. Họ ngầm chối bỏ tư tưởng và niềm vui mà họ có được khi bỏ công sức cho những câu chuyện, bài thơ hay vở kịch mà họ viết. Họ chối bỏ cuộc sống của chính mình, không phải với tư cách nội trợ, mà với tư cách những cá thể.
Họ đều là những nghệ sĩ tài ba, những cây viết xuất sắc nhất trong số những “Văn sĩ Nội trợ”. Một số tác phẩm của họ thật sự hay. Những điều xảy ra với bọn trẻ – chẳng hạn như một cậu bé 12 tuổi với điếu thuốc lá đầu tiên, Đội Thiếu Niên và tốp ca mẫu giáo thường là những chuyện hay, và chúng xảy ra trong cuộc sống thực tế của cả những nữ văn sĩ lẫn những người nội trợ thuần tuý. Nhưng có một điều không hề hay ho về dòng văn học dành cho nội trợ – là họ đang cố gắng thi vị và hài hước hoá sự tù túng và tẻ nhạt, giống như các tác giả của nhân vật Bác Tom (*), hay Amos và Andy (**) cố gắng tô hồng cuộc sống lam lũ của những người da màu.
(*): Bác Tom: nhân vật nô lệ da đen trong “Túp Lều Bác Tom” của tác giả Harriet Beecher Stowe xuất bản năm 1852.
(**): Amos và Andy: hai nhân vật da màu trong chương trình phát thanh và truyền hình “Amos ‘n’ Andy” nổi tiếng ở Mỹ từ những năm 1920 đến 1950.

Các Văn sĩ Nội trợ khuyên những người nội trợ ngoài đời. “Nếu các chị cảm thấy tuyệt vọng, trống rỗng, tẻ nhạt, tù túng trong những chi tiết vụn vặt của việc dọn giường, đưa đón con cái, rửa chén bát, hãy cười lên. Chẳng phải chuyện này tức cười lắm sao? Chúng ta đều cùng bị giam trong một cái lồng mà.” Liệu tiếng cười có giúp những người nội trợ tiêu tan những nỗi khao khát và niềm tuyệt vọng? Họ có nghĩ rằng những năng lực bị kìm hãm, và cuộc sống bó hẹp của họ thật tức cười? Shirley Jackson cũng dọn giường, yêu và cười những trò ngộ nghĩnh của cậu con trai, nhưng vẫn viết tiếp được một cuốn sách. Các vở kịch của Jean Kerr thì được dàn dựng trên sân khấu Broadway. Cuộc sống của họ đâu có “tức cười” như cuộc sống của những người nội trợ thuần tuý!
Một số Văn sĩ Nội trợ thực sự sống với hình mẫu nữ tính chuẩn mực. Tờ Redbook cho hay tác giả của một bài viết về đề tài “cho con bú”, một phụ nữ tên là Betty Ann Countrywoman, “đã từng dự định làm bác sĩ. Nhưng ngay trước khi tốt nghiệp trường Radcliffe (*) với tấm bằng loại ưu, cô nhận ra rằng việc theo đuổi ngành y sẽ ngăn cô đạt được điều mà cô thật sự mong muốn – đó là lấy chồng và có một gia đình đông con. Thế là cô quyết định theo học khoa Y tá của Đại học Yale, và đính hôn với một bác sĩ tâm lý trẻ ngay trong buổi hẹn hò đầu tiên. Bây giờ họ đã có sáu đứa con, từ 2 đến 13 tuổi, và quý bà Countrywoman hiện là người hướng dẫn cho con bú của Hội Thai Sản Indianapolis” (Redbook, tháng 6-1960).
(*): Đại học Radcliffe (1879-1999) là một trường nữ sinh ở Cambridge, Massachusetts, sau này được sáp nhập với Đại học Harvard.
Cô ta viết:
Với một người mẹ, cho con bú trở thành một việc bổ trợ cho việc sinh nở. Nó mang lại cho người mẹ sự viên mãn to lớn hơn, cho phép chị bước vào một mối quan hệ hoàn hảo nhất mà một người phụ nữ có thể mơ ước… Việc sinh nở đơn thuần tự thân nó không thoả mãn được nhu cầu và khao khát của người mẹ… Làm mẹ là một lối sống. Nó cho phép người phụ nữ thể hiện đầy đủ bản thân với những tình cảm trìu mến, thái độ chở che, tình yêu bao dung của người từ mẫu.
Khi việc làm mẹ, thiên chức đã được tôn vinh hàng thế kỷ, được định nghĩa là một lối sống, phụ nữ có buộc phải khước từ thế giới và tương lai rộng mở với họ? Hay chính thế giới đó khước từ họ và buộc họ phải chấp nhận việc làm mẹ như một lối sống? Người ta không còn nhận ra được sự khác biệt lý thuyết về chuẩn mực nữ tính và đời thực, bởi những người phụ nữ ngoài đời là hiện thân của sự tương phản. Trong số đặc biệt dịp Giáng sinh 1956, tờ Life dành trọn vẹn nội dung cho người phụ nữ Mỹ “mới”. Chúng ta không thấy họ xuất hiện như những “vai ác” trong các câu chuyện trên tạp chí, mà là những tư liệu lấy từ thực tế. Họ, “những phụ nữ sự nghiệp – tội lỗi chết người của phong trào nữ quyền”, phải tìm kiếm sự “cứu chữa” của các bác sĩ tâm lý. Họ thông minh, có học thức, tham vọng, xinh đẹp, kiếm tiền ngang ngửa chồng. Nhưng các tạp chí mô tả họ trong trạng thái “bức xúc”, bởi công việc khiến họ trở nên “nam giới hoá” đến mức những người chồng nhu nhược, bất lực, thụ động của họ không còn cảm thấy họ gợi cảm. Khi máu nam nhi bị tổn thương, chồng họ chối bỏ hết trách nhiệm, và sa đà vào rượu chè để tìm sự khuây khoả.
Còn có một dạng phụ nữ khác: người nội trợ ngoại ô bất mãn làm náo loạn hội phụ huynh. Người phụ nữ trầm cảm chán sống này huỷ hoại con cái và ghen tị với chồng vì anh được đi làm. “Người vợ, đã từng đi làm, hoặc được đào tạo để làm một công việc trí óc trước khi kết hôn, cảm thấy tủi thân khi giờ đây chỉ là một người người nội trợ đơn thuần… Khi bất mãn, người phụ nữ này cũng phá hoại cuộc sống của chồng con (và bản thân) giống như những người phụ nữ sự nghiệp. Đôi khi, sự bất mãn ấy còn tệ hơn việc họ đi làm thật.”
Cuối cùng, trái ngược hoàn toàn với hai dạng phụ nữ trên, là những người nội trợ mới, tự hào với sự “khác biệt” và “nữ tính đặc biệt”, “sự phục tùng e ấp trong bản năng giới tính”. Họ, những người dành trọn nhan sắc và sức lực cho việc sinh nở và nuôi dạy con cái, là “những phụ nữ thật sự nữ tính, được đàn ông ngưỡng mộ, vì chỉ họ mới được Chúa tạo ra để lộng lẫy trong những vạt váy, gợi ra vô vàn liên tưởng”. Tôn vinh “sự tái xuất của những gia đình ba đến năm con truyền thống trong những khu phố sang trọng ở vùng ngoại ô dành cho giới thượng lưu và trung-thượng lưu”, tờ Life viết:
Những người phụ nữ này, mặc dù đầy đủ năng lực để theo đuổi “sự nghiệp”, ngày càng coi trọng những giá trị của việc chăm sóc và vun vén cho tổ ấm. Có lẽ… bởi chín chắn và hiểu biết hơn những người phụ nữ thông thường, họ là những phụ nữ đầu tiên nhận thức được những mặt trái của “nữ quyền” và chống lại nó… Phong cách trong tư duy, trang phục và nội thất thường bắt nguồn từ đây rồi lan toả tới đại chúng… Đây là một xu hướng đi ngược lại, và sớm muộn sẽ phá vỡ xu hướng hiện hành, để mang gia đình trở lại với hình thái vốn có của nó: một sự tác hợp thật sự… trong đó đàn ông là đàn ông, phụ nữ là phụ nữ, và cả đôi bên đều hiền lành, thoái mái, tự tin chắc chắn về bản thân mình – và hoàn toàn toại nguyện với việc kết hôn với một người bạn đời khác giới.
Cũng khoảng cùng thời điểm này, tờ Look (số ra ngày 16 tháng 10, 1956) viết:
Phụ nữ Mỹ đang ở thế thắng trong cuộc chiến giữa hai giới. Như những thiếu niên, họ llớn lên và làm những người phê bình họ tròn mắt… Giờ đây họ không còn phải bắt chước đàn ông để hoà nhập vào thế giới của phái nam. Họ vẫn có thể đi làm, tương đối nhàn hạ, góp phần vào một phần ba lực lượng lao động Mỹ, nhưng không phải để xây dựng sự nghiệp, mà là một cách để có thêm của hồi môn, hoặc để mua một cái tủ lạnh mới. Họ duyên dáng nhường lại các công việc lãnh đạo chủ chốt cho nam giới. Những sinh vật phi thường này cũng kết hôn sớm hơn bao giờ hết, có đông con hơn, hình thức và cử chỉ nữ tính hơn nhiều so với những phụ nữ “được giải phóng” thời những năm 1920, 1930. Cho dù là bà xã của một công nhân mỏ thép hay quý bà chăm hoạt động từ thiện, họ đều tự tay làm việc nhà… Ngày nay, nếu họ lựa chọn nếp sống cũ xưa, nâng niu chăm sóc mảnh vườn và một đàn con trẻ, họ sẽ được tán dương hơn bao giờ hết.
Ở nước Mỹ ngày nay, thực tế quan trọng hơn văn chương. Những hình ảnh tư liệu về những người phụ nữ đời thường xuất hiện trên các ấn phẩm như Look và Life dành trọn đời mình cho gia đình và con cái, được coi là lý tưởng chuẩn mực cho nữ giới. Họ là những minh chứng hùng hồn từ đời thực, chứ không phải những nhân vật tiểu thuyết được dàn dựng. Khi người ta tin vào hình mẫu lý tưởng, người ta sẽ tiểu thuyết hoá đời thực để minh hoạ cho hình mẫu ấy, và gạt hết những thực tế mâu thuẫn với chuẩn mực, len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống, khiến các nhà phê bình xã hội phải sửng sốt.
Trong bài phát biểu tại lễ tốt nghiệp của Đại học Smith năm 1955, sau này được đăng lại trên tờ Woman’s Home Companion số tháng 9-1955, Adlai Stevenson (*) đã bác bỏ nguyện vọng trực tiếp tham gia chính trị trong “thời đại khủng hoảng”. Người phát ngôn cho trường phải dân chủ tự do khẳng định rằng nữ giới có thể tham gia chính trị thông qua vai trò người vợ, người mẹ: “Phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ có học, có điều kiện đặc biệt để gây ảnh hưởng tới chồng và con trai của họ.” Vấn đề nằm ở chỗ phụ nữ không hiểu được rằng làm vợ, làm mẹ chính là cách tham gia giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị.
(*): Adlai Stevenson II (1900-1965) là chính khách theo trường phái tự do, từng giữ chức Thống đốc bang Illinois và là ứng viên của đảng Dân Chủ cho ghế Tổng thống Mỹ năm 1952 và 1956. Cả lần lẩn tranh cử này phần thắng đều thuộc về ứng viên của đảng Cộng Hoà Eisenhower.
Nhưng khi dành toàn tâm toàn ý cho các công việc nội trợ tỉ mỉ, nhiều phụ nữ cảm thấy bức bối và xa cách với những vấn đề và cuộc tranh luận mà họ đã từng quan tâm và hiểu biết khi ngồi trên ghế nhà trường. Trước kia họ làm thơ, bây giờ thì lên danh sách đi chợ. Trước kia họ thức đến khuya tranh luận về nghệ thuật và triết học, còn bây giờ họ mệt mỏi đến mức chỉ rửa chén bát xong là lăn ra ngủ. Họ thường có cảm giác bị thu hẹp lại, khi những khoảng trời và cơ hội từ từ lặn mất. Họ đã từng muốn góp phần giải quyết khủng hoảng của thời đại. Giờ đây họ chỉ có thể tập trung vào việc giặt tã.
Điều mà các chị không nhận ra là không ở đâu, châu Á, châu Phi hay các nước theo đạo Hồi, phụ nữ lại được sướng như các chị. Thực tế, việc kết hôn và sinh con đẻ cái không đẩy các chị xa khỏi các vấn đề lớn của thời đại, mà mang các chị trở lại chính trung tâm, và trao lên vai các chị những trọng trách lớn lao, sâu sắc hơn tất thảy những thứ mà đa phần những phụ nữ khác đảm nhận. Họ có thể được lên đưa đầu trang báo, nhưng khi bị cuốn theo mớ hỗn độn các vấn đề, mà cuối cùng họ mất hết khả năng phân biệt vấn đề nào mới là thật sự quan trọng.
Nhiệm vụ chính trị của phụ nữ là “biến ngôi nhà của mình thành biểu tượng cho tự do và ý nghĩa cuộc sống… giúp người chồng tìm thấy giá trị để nhận ra mục đích trong những công việc hàng ngày, dạy con trẻ rằng mỗi cá thể con người đều thật đặc biệt.”
Nhiệm vụ này, các chị, những người vợ, người mẹ, có thể thực hiện ngay trong phòng khách với em bé trên đùi, hay trong bếp với dụng cụ mở hộp. Nếu khéo léo, các chị thậm chí có thể vận dụng tài nghệ của mình với chồng khi anh ấy vô tư ngồi xem ti-vi. Theo tôi, có rất nhiều việc các chị có thể làm để giải quyết cuộc khủng hoảng của xã hội trong vai trò khiêm tốn của người nội trợ – đó là sự nghiệp tuyệt vời nhất mà tôi có thể chúc các chị theo đuổi.
Và thế là logic của lý thuyết về chuẩn mực nữ tính đã định nghĩa lại chính bản chất của vấn đề mà phái nữ gặp phải. Khi người ta coi phụ nữ là những cá nhân với tiềm năng con người vô tận, ngang bằng với nam giới, người ta sẽ thấy cần phải dẹp bỏ tất cả các trở ngại ngăn không cho nữ giới phát huy hết khả năng, chẳng hạn như hạn chế về cơ hội học hành, tham gia bầu cử, hay những sự phân biệt đối xử, kỳ thị trong pháp luật hoặc luân lý đạo đức. Nhưng nay, khi người ta tin rằng phụ nữ cần gắn chặt với vai trò tự nhiên mà giới tính đã quy định cho họ, không cần thiết phải dỡ bỏ tất cả những rào cản khiến phụ nữ không thể phát huy hết năng lực, những định kiến gạt phụ nữ sang bên lề xã hội. Vấn đề cần giải quyết bây giờ là những gì cản trợ việc thực hiện thiên chức nội trợ của phụ nữ. Khi đó, sự nghiệp, học vấn, mối quan tâm chính trị, thậm chí trí tuệ hay cá tính đều là những rào cản phải dẹp bỏ. Và rào cản cuối cùng là vấn đề không tên của nữ giới, một ước muốn mơ hồ về “điều gì đó khác” ngoài việc giặt chén bát, là ủi quần áo, thưởng phạt con trẻ. Theo những ấn phẩm dành cho phụ nữ, có thể tháo gỡ những khó khăn này bằng cách nhuộm tóc vàng, hoặc đẻ thêm con. Trong tờ Ladies’ Home Journal số tháng Hai, 1960, một thiếu phụ trẻ chia sẻ “Các bạn có nhớ hồi nhỏ, tất cả chúng ta đều có chung kế hoạch gì không?”. Chị ta khoe rằng trong bảy năm qua, chị đã nghiền ngẫm đến nát cả sáu cuốn sách dạy nuôi con của Giáo sư Spock. “Tôi thật may mắn làm sao! LÀ PHỤ NỮ THẬT TUYỆT!”
Trong số những truyện ngắn đăng trên tạp chí, truyện “Kỳ nghỉ” của tờ Mademoiselle tháng Tám 1949, kể về một thiếu phụ trẻ trong tình trạng tuyệt vọng được bác sĩ yêu cầu phải ra khỏi nhà mỗi tuần một lần. Cô ta đi mua sắm, thử váy áo, soi gương và băn khoăn xem món đồ nào Sam, chồng cô, sẽ thích.
Trong đầu cô, dường như luôn thường trực một điệp khúc tên Sam, như thể tự thân cô không thể tự xác định rõ ràng bản thân muốn gì… Đột nhiên cô không thể tự quyết định xem nên mua chiếc váy xếp li hay chiếc váy may xéo vải. Cô nhìn vào gương, thấy mình cao, hông bắt đầu phình ra, và các đường nét trên mặt trở nên mờ nhạt. Cô mới 29 tuổi, nhưng cảm giác như đã bước sang tuổi trung niên, như thể bao năm đã trôi qua và chẳng còn gì phía trước… Thế rồi cô tự nhủ mình thật ngớ ngẩn, vì con bé Ellen mới chỉ lên ba. Cô còn cả một tương lai để lên kế hoạch, có thể cô sẽ sinh thêm đứa nữa. Việc này không thể trì hoãn thêm được nữa.
Một người nội trợ trẻ trong truyện “Người đàn ông bên cạnh tôi” (Redbook, Tháng 11, 1948) đã bỏ rất nhiều công sức để tổ chức một bữa tiệc với hy vọng giúp chồng được tăng lương. Cô tuyệt vọng phát hiện kế hoạch đã thất bại. (“Anh phải công nhận rằng em đã cố gắng. Anh phải nói rằng em có ích cho một việc gì đó… Cuộc sống như một tấm tranh ghép thiếu một mảnh, và mảnh ghép còn thiếu ấy chính là em. Em không thể tìm thấy chỗ cho mình trong bức tranh đó.”) Thế là cô đi nhuộm tóc vàng. Và khi chồng cô đáp lại hình ảnh “tóc vàng hoe” mới của cô một cách hào hứng trong phòng ngủ, cô “thấy một cảm giác bình yên mới, như thể đã tự trả lời được câu hỏi trong thâm tâm.”
Cứ như thế, những câu chuyện trên tạp chí thuyết phục phụ nữ rằng họ sẽ chỉ cảm thấy toại nguyện khi sinh được một đứa bé. Chúng phủ nhận quãng thời gian mà phụ nữ không còn háo hức với việc sinh đẻ, ngay cả khi họ đã làm việc đó nhiều lần. Theo chuẩn mực nữ tính, sinh con là cách duy nhất để phụ nữ ước mơ về tương lai, hoặc tạo ra một cái gì đó. Họ không thể mơ ước điều gì khác cho bản thân, ngoài việc trở thành người vợ hiền của chồng, người mẹ đảm của con. Và những bài viết mang tính tư liệu lại mô tả những thiếu phụ trẻ kiểu mới, lớn lên theo đúng chuẩn mực nữ tính, và không bao giờ phải tự vấn bản thân. Trong bài “Nước Mỹ sống ra sao” trên tờ Ladies’ Home Journal, Tháng Sáu 1959, một phụ nữ chia sẻ: “Nếu anh ấy không muốn tôi mặc một màu nào đó, hay một kiểu váy nào đó, thì thật sự là tôi cũng không thích nó nữa. Bởi lẽ, điều anh ấy muốn chính là điều tôi cũng muốn… Tôi không tin vào những cuộc hôn nhân 50:50.” Bỏ học đại học để kết hôn ở tuổi 18, không chút hối tiếc, cô gái này “không bao giờ cố xen vào những câu chuyện của cánh đàn ông. Cô không bao giờ cãi lại chồng bất cứ chuyện gì… Cô dành rất nhiều thời gian ngắm tuyết rơi, mưa rơi, và những bông thuỷ tiên đầu tiên dần dần hé nở ngoài cửa sổ. Một cách giết thời gian và giải khuây hiệu nghiệm là… thêu thùa: những mũi thêu bé xíu bằng sợi kim tuyến vàng hay tơ tằm đòi hỏi sự tập trung cao độ.”
Theo logic của lý thuyết về chuẩn mực nữ tính, việc một phụ nữ không có nguyện vọng gì cho bản thân, và tự định nghĩa mình với bổn phận làm vợ, làm mẹ là một điều rất bình thường. Nếu cuộc sống của họ có gì không ổn, thì đó là do chồng con họ có vấn đề. Chính người chồng mới phải than phiền với chuyên gia tư vấn hôn nhân: “Theo tôi, hôn nhân thành công cần cả hai người, tự sống cuộc sống của riêng mình, và phối hợp với nhau. Có vẻ như Mary thì khăng khăng rằng cả hai chúng tôi cùng phải sống chung một cuộc sống – cuộc sống của tôi.” (Redbook, tháng Sáu 1955). Mary nằng nặc đòi cùng anh đi mua áo sơ-mi, mua tất, rồi chỉ cho người bán hàng anh mặc màu gì, cỡ nào. Mỗi tối khi anh đi làm về, Mary hỏi anh đã ăn trưa với ai, ở đâu, và nói chuyện gì. Khi anh không chịu, cô ấy nói: “Anh yêu, em muốn chia sẻ cuộc sống của anh, là một phần trong tất cả những việc anh làm, chỉ vậy thôi… Em muốn mình hoà làm một, như trong cẩm nang về hôn nhân hướng dẫn…” Người chồng không thể hiểu được làm thế nào “hai cá thể có thể hoà làm một như cách mà Mary muốn. Điều này rõ là ngớ ngẩn. Hơn nữa, tôi cũng không thích thế. Tôi không muốn bị dính chặt vào một người khác, không thể có suy nghĩ hay hành động của riêng mình.”
Giải pháp cho “vấn đề của Pete”, theo Tiến sĩ Emily Mudd, chuyên gia tư vấn hôn nhân nổi tiếng, là làm thế nào để Mary cảm thấy đang được sống cuộc sống của chồng. Chồng cô có thể thỉnh thoảng rủ cô lên phố đi ăn cùng các đồng nghiệp của anh, gọi cho cô món thịt bê mà anh thích, và có thể tìm cho cô một “hoạt động thể chất lành mạnh” nào đó, như bơi lội chẳng hạn, để cô tiêu bớt năng lượng thừa. Việc Mary không có cuộc sống riêng không phải lỗi của cô ấy.
Cuối cùng, một phụ nữ ở Texas đã đạt được hạnh phúc tuyệt đỉnh của người nội trợ. Trong bài “Nước Mỹ sống ra sao” (Ladies’ Home Journal, tháng Mười, 1960), thiếu phụ Texas này “ngồi trên một chiếc ghế bành bọc vải satin xanh nước biển, nhìn ra cửa sổ. Mặc dù chưa đến chín giờ sáng, cô đã trang điểm chỉn chu – môi son, má phấn, chiếc váy cotton cô mặc còn mới tinh khôi.” Cô tự hào kể: “Tám rưỡi sáng, khi bé út của tôi đã đến trường và cả nhà đã sạch bong, tôi diện đồ cho ngày mới. Tôi rảnh tay để chơi bài, họp các câu lạc bộ, hay ở nhà đọc sách, nghe nhạc Beethoven, và chỉ thư giãn.”
“Thỉnh thoảng, cô gội và sấy tóc trước khi ngồi vào bàn chơi bài lúc 1:30. Hôm nào mọi người tụ tập chơi bài ở nhà cô là buổi sáng hôm đó bận rộn nhất, vì cô phải kê bàn, bày bài, pha cà phê và chuẩn bị bữa trưa… Những tháng mùa đông, cô có thể chơi bài bốn ngày một tuần, từ 9:30 sáng đến 3 giờ chiều… Janice cố gắng về nhà trước 4 giờ, khi tụi trẻ ở trường về.”
Người nội trợ kiểu mới này không có gì bất mãn. Là một học sinh ưu tú ở trung học, cô kết hôn khi 18 tuổi, tái hôn và mang thai ở tuổi 20, và đã có ngôi nhà mà cô dành bảy năm trời mơ ước và lên kế hoạch thật chi tiết. Cô tự hào vì mình là một người nội trợ giỏi giang, có thể làm xong mọi việc trước 8:30 sáng. Thứ Bảy hàng tuần cô tổng vệ sinh nhà cửa, trong lúc chồng cô đi câu và tụi trẻ tham gia hội Thiếu Sinh Quân. (“Chẳng còn việc gì khác để làm, không có bài để chơi. Đó là một ngày dài.”)
“Tôi yêu ngôi nhà này,” cô nói… Tường bếp và phòng khách hình chữ L đã sơn màu ghi nhạt được 5 năm, mà vẫn không tì vết… Vải bọc ghế màu phớt đào, vàng và nước biển in hoa văn vẫn còn như mới sau 8 năm sử dụng. “Đôi lúc tôi cảm thấy hơi quá thụ động, quá tự mãn,” Janice tâm sự một cách trìu mến, liếc nhìn chiếc lắc tay kết kim cương khổ rộng mà cô luôn đeo, ngay cả khi chiếc đồng hồ gắn trên đó đã mang đi sửa… Món đồ yêu thích của cô là chiếc giường bốn cọc phủ màn taffeta màu hồng. “Khi ngủ trên cái giường này, tôi cảm thấy mình như thể Nữ hoàng Elizabeth,” cô vui vẻ nói. (Chồng cô ngủ trong phòng khác, vì ngáy to).
“Tôi thật biết ơn với những gì mình có,” cô nói. “Một người chồng tuyệt vời, những cậu con trai xinh xắn dễ thương, một ngôi nhà rộng rãi tiện nghi… Tôi biết ơn Chúa đã ban cho tôi sức khoẻ và niềm tin ở Người, và những tài sản vật chất như hai chiếc xe hơi, hai chiếc ti-vi và hai cái lò sưởi.”
Nhìn vào hình ảnh này, tôi bức xúc tự hỏi phải chăng cuộc sống có chút khó khăn còn tốt hơn sự thụ động mỉm cười trống rỗng này. Nếu những phụ nữ trẻ sống theo chuẩn mực nữ tính này thật sự hạnh phúc, thì liệu con đường có kết thúc tại đây? Hay có những mầm mống tệ hơn sự bất mãn luôn ẩn mình đằng sau hình ảnh người phụ nữ lý tưởng ấy? Có phải hình ảnh nữ tính này và hiện thực cuộc sống đang ngày càng xa cách?
Hãy suy nghĩ về hiện tượng các tạp chí ngày càng nhấn mạnh sự quyến rũ: một người nội trợ đánh mắt khi hút bụi sàn nhà – “Vinh dự làm Phụ nữ”. Vì sao người ta ngày càng phải cố gắng tô điểm cho hình ảnh người nội trợ lộng lẫy hơn? Tự thân sự quyến rũ khiên cưỡng đã là một dấu hỏi lớn: khi người ta cố gắng chứng tỏ một điều gì thì có thể đấy là cách để che giấu một thực tế trái ngược.
Trước kia, người ta phải xây dựng hình ảnh phụ nữ đoan chính để chối bỏ nhu cầu thể xác. Ngày nay, người ta phải tạo ra hình ảnh phụ nữ vô tư hơn, và chú trọng hơn đến việc phải có hai chiếc xe hơi, hai chiếc ti-vi và hai cái lò sưởi. Những tờ tạp chí dành trọn cả trang báo in hình rau củ phóng đại: củ cải, dưa chuột, ớt chuông, khoai tây… được mô tả như một chuyện tình. Phông chữ cũng được phóng to như sách tập đọc của trẻ lớp một. Phiên bản mới của tờ McCall’s thẳng thắn mặc định rằng phụ nữ là những con mèo bông không có trí não; tờ Ladies’ Home Journal cũng hăng hái đua tranh, chiêu mộ ca sĩ rock-and-roll Pat Boone làm tư vấn cho các cô bé tuổi teen; còn tờ Redbook và các tạp chí khác thì phóng to cỡ chữ. Việc người ta phải dùng font chữ lớn như vậy phải chăng có nghĩa là trí tuệ của độc giả các tạp chí này – những phụ nữ trẻ thời nay – chỉ ngang với trẻ con lớp Một? Hay phải chăng đó là cách để người ta che giấu sự tầm thường trong nội dung các bài viết? Trong giới hạn của cái mà người ta chấp nhận là thế giới của đàn bà, những biên tập viên không còn được đề cập đến các vấn đề to tát, mà chỉ có thể phóng đại củ khoai tây nướng, hay tả một căn bếp như thể gian phòng lộng lẫy trong cung điện Versailles. Rốt cục, người biên tập bị chuẩn mực nữ tính cấm không được động đến những ý tưởng lớn. Nhưng liệu những người đàn ông điều hành các ấn phẩm phụ nữ này có khi nào nhận ra rằng khó khăn của họ xuất phát chính từ việc họ đang cố gắng thu nhỏ bộ não của nữ giới bằng hình mẫu hạn hẹp về phụ nữ lý tưởng?
Tất cả các tạp chí dành cho phụ nữ ngày nay đều gặp khó khăn, và phải cạnh tranh gay gắt với nhau, và với truyền hình, để tiếp cận hàng triệu độc giả nữ – những người sẽ mua các sản phẩm mà các tạp chí được thuê quảng cáo. Cuộc đua khốc liệt này liệu có khiến những người đàn ông tạo ra hình mẫu nữ tính chuẩn mực xem phụ nữ thuần tuý là những người mua hàng? Liệu nó có buộc họ phải xoá sạch những tư duy con người khỏi trí não của phụ nữ? Sự thật là khi hình mẫu nữ tính chuẩn mực càng trống rỗng, các tác giả của hình mẫu ấy càng gặp khó khăn. Trong quãng thời gian mà hình mẫu ấy bó hẹp phụ nữ trong khuôn khổ gia đình, giới hạn họ ở vai trò nội trợ, năm tạp chí phổ thông dành cho nữ giới đã phải đình bản; số còn lại phải chật vật để duy trì.
Khi phụ nữ ngày càng chán ngán hình ảnh trống rỗng, hạn hẹp mà các tạp chí dựng lên, đó có thể là tia hy vọng lớn nhất về sự khác biệt giữa hình mẫu và thực tế. Nhưng ở những người phụ nữ tâm niệm với hình mẫu đó còn xuất hiện những triệu chứng nghiêm trọng hơn. Năm 1960, chủ bút của các tạp chí chủ đích nhắm đến những người nội trợ trẻ vui vẻ – hay đúng hơn, những cặp vợ chồng trẻ vui vẻ (bởi phụ nữ không thể tách rời khỏi chồng con họ) – bằng một bài báo với câu hỏi: “Vì sao các bà mẹ trẻ cảm thấy tù túng?” (Redbook, tháng Chín, 1960). Họ tung ra một chiêu quảng cáo. Họ kêu gọi những người nội trợ gặp vấn đề kể lại chi tiết câu chuyện của mình, với mức nhuận bút 500 đô-la. Họ sửng sốt khi nhận được 24 ngàn phản hồi. Phải chăng hình mẫu phụ nữ đã bị thu hẹp đến mức bản thân nó đã trở thành một cái bẫy?
Ở một tạp chí lớn, một nữ biên tập viên cảm thấy có thể những người nội trợ Mỹ đang khẩn thiết cần một cái gì đó để nới rộng thế giới của họ, và cố gắng nhiều tháng thuyết phục các đồng nghiệp nam đưa một số ý tưởng ngoài khuôn khổ gia đình vào tạp chí. “Chúng tôi quyết định bác bỏ ý kiến đó” – người đàn ông nắm quyền cho biết. “Phụ nữ ngày nay đã quá tách biệt với thế giới của các ý tưởng, nên họ sẽ không thể nắm bắt được những khái niệm mới.” Liệu có quá lạc đề khi đặt câu hỏi: Ai đã ngăn họ khỏi thế giới của các ý tưởng? Có lẽ những tên Frankenstein này không còn khả năng để kiểm soát con quái vật đội lốt nữ tính mà tụi hắn đã tạo ra.
Bản thân tôi cũng đã góp phần tạo dựng hình mẫu đó. Tôi đã quan sát suốt mười lăm năm qua những người phụ nữ Mỹ cố gắng tuân theo hình mẫu ấy. Nhưng giờ đây tôi không thể phủ nhận những hệ luỵ nghiêm trọng mà mình đã nhìn thấy. Hình mẫu này không vô hại. Có thể không có thuật ngữ tâm lý nào để mô tả tác hại của nó. Nhưng điều gì xảy ra khi phụ nữ cố gắng sống theo một hình mẫu – khi hình mẫu đó không cho phép họ được tư duy? Điều gì xảy ra khi nữ giới lớn lên trong một hình mẫu – khi nó buộc họ chối bỏ hiện thực thế giới biến động?
Đúng, những chi tiết vật chất của cuộc sống, gánh nặng của công việc bếp núc, quét dọn, chăm sóc chồng con đã từng là toàn bộ thế giới của phụ nữ một thế kỷ trước, khi mà những người Mỹ còn là tiên phong khai phá những vùng đất mới. Nhưng những người phụ nữ đi theo đoàn tàu Tây tiến thời đó cùng chia sẻ ước vọng khai phá và chinh phục. Ngày nay, mảnh đất mà người Mỹ đang khai phá là lãnh địa của tri thức và tâm hồn. Tình yêu, gia đình và con cái đều là những điều tốt đẹp, nhưng đó không phải là tất cả thế giới, cho dù tất cả sách báo viết cho phụ nữ đều nói dối như vậy. Vì sao phụ nữ phải chấp nhận cuộc sống nửa vời, thay vì được sống trọn số phận con người? Vì sao phụ nữ phải cố gắng tìm kiếm thêm “điều gì đó mới” trong công việc nội trợ, thay vì khám phá những lãnh địa của thời đại mới, giống như những người phụ nữ trước kia đã từng sánh vai những người đàn ông chinh phục miền viễn Tây?
*****
Không thể đổi cả thể giới cho một củ khoai tây nướng, và không thể gọi việc hút bụi sàn nhà – trong khi trang điểm hay để mặt mộc – là một công việc thực sự tương xứng với năng lượng và khả năng tư duy của bất kỳ phụ nữ nào. Phụ nữ là con người, không phải những con búp bê nhồi bông, không phải thú vật. Trải qua bao thời đại loài người đã tiến hoá hơn các động vật khác nhờ sức mạnh của tư duy, khả năng sản sinh ý tưởng, tầm nhìn, và dựa vào đó để tạo dựng tương lai. Con người cũng có những nhu cầu bản năng như động vật, nhưng tình yêu, khả năng khám phá, sáng tạo, xây dựng tương lai khác với quá khứ là những điều chỉ có ở con người.
Điều bí ẩn thật sự nằm ở chỗ: vì sao có nhiều đến vậy những phụ nữ Mỹ, đủ năng lực và học vấn để khám phá và sáng tạo, lại tìm về công việc nội trợ, và cố gắng tìm kiếm “thêm điều gì đó” trong công việc bếp núc con cái? Bởi, thật nghịch lý, khi hình tượng người Phụ Nữ Mới năng động bị hình mẫu Nội Trợ Hạnh Phúc thay thế trong mười lăm năm qua, thế giới loài người đã được mở rộng, nhịp độ thay đổi ngày càng tăng, và chính bản chất hiện thực nhân loại đã ngày càng bớt phụ thuộc vào nhu cầu sinh học và vật chất thiết yếu. Phải chăng hình mẫu nữ tính chuẩn mực không cho phép phụ nữ lớn cùng thế giới? Phải chăng nó buộc phụ nữ chối bỏ hiện thực, giống như người đàn bà trong bệnh viện tâm thần phải chối bỏ hiện thực để tin mình là nữ hoàng? Liệu nó có khiến tất cả phụ nữ trở thành những cá thể đứng ngoài lề, thậm chí là những kẻ tâm thần phân liệt ảo, trong thế giới phức tạp biến động của chúng ta?
Trong khi phụ nữ Mỹ ngày nay có thể làm bất kỳ nghề gì họ muốn, cụm từ “phụ nữ sự nghiệp” lại trở thành một khái niệm tiêu cực; khi cánh cửa giáo dục đại học mở rộng cho mọi phụ nữ có năng lực, thì phụ nữ lại nghi ngại, và đua nhau bỏ dở phổ thông và đại học để kết hôn và sinh đẻ; khi xã hội hiện đại tạo ra nhiều vai trò mới để nữ giới đảm nhiệm, phụ nữ lại khăng khăng tự khép mình trong một vai trò duy nhất. Vì sao, khi ta đã dỡ bỏ tất cả những rào cản pháp lý, chính trị, kinh tế, giáo dục trước đây ngăn không cho phụ nữ bình đẳng với nam giới và là một cá thể thực thụ – một cá nhân tự do có quyền phát huy năng lực của mình, ta lại bắt phụ nữ chấp nhận một hình mẫu cứng nhắc – một hình mẫu khăng khăng cho rằng họ không phải là “con người”, mà là “phụ nữ”, tách họ khỏi sự tồn tại tự do của con người và tiếng nói trong vận mệnh nhân loại? Những hiện tượng này không chỉ là những nghịch lý kỳ lạ.
Chuẩn mực về nữ tính có sức ảnh hưởng tới mức nữ giới dần dần không còn nhận thức được rằng họ có những ước vọng và năng lực mà chuẩn mực không cho phép. Nhưng không phải ngẫu nhiên mà chỉ trong vài năm, chuẩn mực đó được cả xã hội tôn sùng, phủ nhận tất cả những xu hướng của cả một thế kỷ. Điều gì tạo ra sức ảnh hưởng cho chuẩn mực nữ tính ấy? Vì sao phụ nữ lại quay lưng lại với thế giới để khép mình trong khuôn khổ gia đình?