ĐỐI THOẠI VỚI NGUYỄN TIẾN HƯNG
Hồ sơ mật, Kissinger, Đồng minh và sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa
CHƯƠNG II
NGƯỜI KINH TẾ VÀ BÀI TOÁN SỐNG CÒN CỦA VNCH
Viện trợ, chiến tranh và giới hạn của một nền kinh tế thời chiến
1. Vì sao phải bắt đầu từ kinh tế?
Nguyễn Tiến Hưng là một nhà kinh tế trước khi trở thành người viết về năm 1975.
Vì vậy, nếu muốn hiểu lập luận của ông, không thể chỉ đọc những chương viết về Nixon, Kissinger hay Nguyễn Văn Thiệu.
Phải trở lại câu hỏi căn bản:
VNCH năm 1973–1975 thực sự đang đứng trên nền kinh tế nào?
Một quốc gia có thể có quân đội lớn, có viện trợ lớn, có đồng minh mạnh, nhưng nếu không duy trì được:
- ngân sách;
- ngoại tệ;
- nhiên liệu;
- lương thực;
- sản xuất;
- vận tải;
- hậu cần;
thì sức mạnh quân sự cuối cùng cũng bị giới hạn.
Đây chính là nơi kinh tế học gặp chiến tranh.
2. Một nền kinh tế bị chiến tranh kéo dài
Không nên bắt đầu bằng nhận định “kinh tế VNCH suy sụp”.
Trước hết phải dựng dữ liệu.
Ta cần xác định:
- GDP và GDP bình quân đầu người;
- cơ cấu sản xuất;
- nông nghiệp;
- công nghiệp;
- nhập khẩu;
- xuất khẩu;
- cán cân thương mại;
- ngân sách;
- lạm phát;
- thất nghiệp;
- tỷ giá;
- dự trữ ngoại tệ;
- chi tiêu quốc phòng;
- viện trợ kinh tế;
- viện trợ quân sự.
Và quan trọng nhất:
Những con số nào là số liệu gốc, những con số nào là ước tính?
Bởi thống kê của một quốc gia đang chiến tranh không thể mặc nhiên coi là chính xác tuyệt đối.
3. Viện trợ: cứu trợ hay cấu phần của nền kinh tế?
Đây sẽ là một câu hỏi lớn.
Nếu VNCH nhận viện trợ Hoa Kỳ, ta không nên chỉ hỏi:
“Mỹ viện trợ bao nhiêu?”
Mà phải hỏi:
Viện trợ chiếm bao nhiêu phần trong tổng nguồn lực của VNCH?
Và tiếp:
Nếu viện trợ giảm 10%, 20%, 30% thì tác động đến đâu?
Nếu cắt viện trợ quân sự nhưng giữ viện trợ kinh tế thì sao?
Nếu ngược lại thì sao?
Đây là chỗ rất thích hợp để sử dụng dữ liệu kinh tế và ngân sách thay vì tranh luận bằng khẩu hiệu.
4. Nguyễn Tiến Hưng nhìn viện trợ như thế nào?
Trong các tác phẩm của ông, viện trợ Hoa Kỳ không đơn giản là một khoản tiền.
Nó gắn với:
cam kết chính trị → sức mạnh quân sự → khả năng tồn tại của VNCH.
Đây chính là một chuỗi lập luận cần được tháo ra từng mắt xích.
Mắt xích thứ nhất:
Hoa Kỳ đã cam kết viện trợ.
Mắt xích thứ hai:
Viện trợ là điều kiện thiết yếu để VNCH tiếp tục chiến đấu.
Mắt xích thứ ba:
Hoa Kỳ giảm/cắt viện trợ.
Mắt xích thứ tư:
VNCH mất khả năng chiến đấu.
Mắt xích thứ năm:
VNCH sụp đổ.
Nếu cả năm mắt xích đều được chứng minh, luận đề của Nguyễn Tiến Hưng rất mạnh.
Nhưng nếu chỉ có:
Hoa Kỳ giảm viện trợ → VNCH sụp đổ
thì chưa đủ để chứng minh quan hệ nhân quả.
5. Phải phân biệt viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế
Đây là một điểm rất dễ bị nhập làm một.
Viện trợ quân sự
- đạn dược; nhiên liệu; phụ tùng;
- máy bay; xe tăng; pháo;
- bảo trì; hậu cần.
Viện trợ kinh tế
- lương thực; ngoại tệ;
- nhập khẩu;
- hỗ trợ ngân sách; ổn định tiền tệ;
- các chương trình kinh tế.
Hai loại viện trợ có cơ chế tác động khác nhau.
Vì vậy trong cuốn sách, mỗi khi Nguyễn Tiến Hưng nói “viện trợ”, ta phải hỏi:
Viện trợ nào?
6. Quốc hội Hoa Kỳ: một biến số không thể bỏ qua
Đây là điểm nối trực tiếp sang phần sau của cuốn sách.
Tổng thống Mỹ có thể muốn duy trì viện trợ.
Nhưng Quốc hội có quyền ngân sách.
Do đó phải phân biệt:
cam kết của Tổng thống
với
khả năng thực hiện cam kết trong hệ thống chính trị Hoa Kỳ.
Đây là vấn đề thể chế chứ không chỉ là vấn đề ngoại giao.
Và đây cũng là một trong những điểm mà cuốn sách phải đối thoại với Nguyễn Tiến Hưng:
Một lời hứa của Nixon với Thiệu có thể có giá trị chính trị rất lớn, nhưng nó có thể tồn tại đến đâu khi Quốc hội Hoa Kỳ thay đổi chính sách?
Đây sẽ là một trong những câu hỏi quan trọng nhất của toàn bộ dự án.
7. Năm 1973: hòa bình nhưng chiến tranh chưa kết thúc
Hiệp định Paris tạo ra một trạng thái rất đặc biệt.
Quân đội Mỹ rút khỏi chiến trường.
Nhưng cuộc chiến giữa Bắc Việt Nam và VNCH không kết thúc.
Do đó VNCH phải duy trì một lực lượng quân sự lớn trong điều kiện:
không còn quân chiến đấu Mỹ + nền kinh tế chịu sức ép + phụ thuộc đáng kể vào viện trợ.
Đây là một tình thế cực kỳ khó.
Nhưng ta vẫn phải hỏi:
Khó khăn đó đến từ việc Hoa Kỳ rút quân, từ việc cắt viện trợ, từ chiến lược của Hà Nội, hay từ những yếu tố nội tại của VNCH?
Có thể câu trả lời không phải một nguyên nhân duy nhất.
8. “Việt Nam hóa chiến tranh” để lại điều gì?
Ta cần quay lại chính sách Việt Nam hóa của Nixon.
Một câu hỏi quan trọng:
Việt Nam hóa có tạo ra một quân đội VNCH có khả năng tự đứng vững hay chỉ chuyển gánh nặng chiến tranh từ Mỹ sang VNCH trong khi vẫn cần viện trợ Mỹ?
Đây là một vấn đề phải được nghiên cứu bằng:
- quân số; trang bị; giờ bay;
- lượng đạn; nhiên liệu;
- khả năng hậu cần;
- huấn luyện; chỉ huy; và mức độ phụ thuộc vào hệ thống hậu cần Mỹ.
Nếu VNCH đã được xây dựng để tự đảm nhận chiến tranh nhưng lại không có nguồn lực để duy trì nó sau khi Mỹ rút, thì bản thân thiết kế của Việt Nam hóa cần được phân tích.
9. Một nghịch lý cần đối thoại
Nguyễn Tiến Hưng có thể lập luận rằng:
Hoa Kỳ đã hứa sẽ tiếp tục giúp VNCH nhưng sau đó không thực hiện đầy đủ.
Điều này có thể đúng ở một mức độ nào đó.
Nhưng một câu hỏi khác lập tức xuất hiện:
Tại sao một quốc gia có chủ quyền lại trở nên phụ thuộc đến mức sự thay đổi ngân sách của Quốc hội một nước khác có thể quyết định khả năng tồn tại của mình?
Đây không phải là câu hỏi để trách VNCH.
Nó là câu hỏi về cấu trúc quyền lực và mức độ tự chủ quốc gia.
Và chính ở đây cuốn sách có thể nối với Hưng Quốc Học:
Một quốc gia muốn tự chủ về chính trị nhưng không có đủ năng lực kinh tế và quốc phòng thì mức độ tự chủ thực tế đến đâu?
10. Nhưng không được bỏ qua phía bên kia
Một lỗi lớn sẽ xảy ra nếu chỉ nghiên cứu:
Mỹ → VNCH.
Phải có:
Bắc Việt Nam → Liên Xô → Trung Quốc → viện trợ → chiến lược quân sự → khả năng duy trì chiến tranh.
Bắc Việt Nam cũng nhận được nguồn lực bên ngoài.
Do đó câu hỏi phải là:
Hai miền đều phụ thuộc vào viện trợ bên ngoài ở mức nào, và sự phụ thuộc ấy khác nhau ra sao?
Nếu chỉ nghiên cứu viện trợ Mỹ cho VNCH mà bỏ qua viện trợ cho Bắc Việt Nam, cán cân nguồn lực sẽ bị méo.
11. Một phản đề quan trọng
Giả sử Hoa Kỳ giữ nguyên mức viện trợ năm 1973.
Liệu VNCH có chắc chắn không sụp đổ?
Không thể kết luận trước.
Phải xem thêm:
- Hà Nội có tiếp tục tổng tiến công hay không;
- Liên Xô và Trung Quốc có tiếp tục viện trợ hay không;
- tương quan lực lượng;
- khả năng huy động quân đội VNCH;
- tình trạng kinh tế;
- khủng hoảng chính trị;
- khả năng kiểm soát lãnh thổ;
- và phản ứng của Hoa Kỳ nếu Hà Nội mở cuộc tiến công quy mô lớn.
Đây là phản thực tế lịch sử.
Ta chỉ có thể nói:
“Nếu X không xảy ra, Y có thể khác.”
Không được biến nó thành:
“Nếu X không xảy ra, Y chắc chắn không xảy ra.”
12. Một câu hỏi khác: Nguyễn Tiến Hưng có nhìn thấy khủng hoảng từ bên trong không?
Đây là điểm rất đáng nghiên cứu.
Nếu ông là Tổng trưởng Kế hoạch, ông có điều kiện tiếp cận những con số mà người ngoài không có.
Do đó chúng ta phải tìm:
- báo cáo kinh tế;
- ngân sách; báo cáo viện trợ;
- thư từ với Hoa Kỳ; tài liệu của Bộ Kế hoạch;
- tài liệu IMF; tài liệu USAID;
- các báo cáo kinh tế của Đại sứ quán Mỹ.
Rồi đối chiếu với những gì ông viết sau 1975.
Nếu số liệu năm 1974 nói một chuyện,
nhưng hồi ký năm 2005 kể một câu chuyện khác,
ta phải đặt cả hai cạnh nhau.
Không được tự động ưu tiên hồi ký chỉ vì tác giả là người trong cuộc.
13. “Người trong cuộc” không có nghĩa là “người biết tất cả”
Đây là một nguyên tắc tôi muốn giữ xuyên suốt cuốn sách.
Nguyễn Tiến Hưng có lợi thế:
Ông ở gần những người ra quyết định.
Nhưng ông cũng có giới hạn:
Ông không ở trong tất cả các phòng họp.
Một lá thư ông được giao có thể cho chúng ta biết rất nhiều về quan hệ Thiệu–Nixon.
Nhưng nó không tự động cho biết:
- Nixon thực sự nghĩ gì ngoài lá thư;
- Kissinger nói gì trong cuộc họp kín;
- Quốc hội sẽ hành động thế nào;
- Hà Nội sẽ phản ứng ra sao.
Đó là lý do chúng ta cần nhiều nguồn độc lập.
14. Kết luận Chương II
Sau chương này, ta chưa cần kết luận:
“VNCH thất bại vì Mỹ bỏ rơi.”
Cũng chưa cần kết luận:
“VNCH thất bại vì những yếu tố nội tại.”
Ta chỉ cần xác lập một điều:
Đến giai đoạn 1973–1975, vấn đề viện trợ đã trở thành một phần của bài toán sống còn của VNCH; nhưng mức độ và cơ chế của sự phụ thuộc ấy phải được đo bằng dữ liệu, không thể chỉ suy ra từ sự sụp đổ năm 1975.
Đây là điểm rất quan trọng.
Bởi nếu ta biết trước kết quả, rồi quay ngược lại giải thích mọi dữ kiện theo kết quả đó, ta sẽ mắc phải hindsight bias — thiên kiến nhìn lại.
Hoàng Phong Nhã
Tài liệu nền phải khóa cho Chương II
“Bộ dữ liệu kinh tế 1973–1975”, gồm:
- Ngân sách VNCH
- Chi tiêu quân sự
- Viện trợ Mỹ
- Viện trợ quân sự
- Viện trợ kinh tế
- Cán cân thanh toán
- Lạm phát
- Tỷ giá
- Nhập khẩu
- Nhu cầu nhiên liệu
- Dự trữ ngoại tệ
- Sản lượng và thu nhập
- Dữ liệu IMF
- Dữ liệu USAID
- Tài liệu Quốc hội Hoa Kỳ


15:05
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Đăng nhận xét