CHƯƠNG 18
LÊ ĐỨC THỌ VÀ TRƯỜNG CHINH: QUYỀN LỰC, ẢNH HƯỞNG VÀ TRÁCH NHIỆM
Năm 1956 là một thời điểm đặc biệt trong lịch sử quyền lực của Đảng Lao động Việt Nam.
Trường Chinh, người giữ chức Tổng Bí thư từ năm 1951, xin từ chức sau những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Hội nghị Trung ương lần thứ 10 chấp thuận. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng kiêm Tổng Bí thư.
Nhưng Trường Chinh không bị loại khỏi trung tâm lãnh đạo. Ông vẫn là Ủy viên Bộ Chính trị và thành viên Ban Bí thư. (tulieuvankien.dangcongsan.vn)
Cũng trong thời kỳ ấy, Lê Đức Thọ đã trở thành Ủy viên Bộ Chính trị và được giao phụ trách sửa sai trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức; năm 1956 ông giữ chức Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. (nvsk.vnanet.vn)
Hai sự kiện diễn ra gần nhau, nhưng không được vì thế mà biến thành một câu chuyện đơn giản:
Trường Chinh mất chức → Lê Đức Thọ lên thay.
Điều đó không đúng.
Trường Chinh không bị thay thế bởi Lê Đức Thọ ở chức Tổng Bí thư. Người được bầu thay ông là Hồ Chí Minh.
Cái thay đổi đáng nghiên cứu nằm ở cấu trúc quyền lực tổ chức, không phải một cuộc thay ghế trực tiếp.
1. Trường Chinh trước năm 1956: quyền lực cao nhưng không phải quyền lực cá nhân
Trường Chinh là Tổng Bí thư từ năm 1951 đến tháng 10 năm 1956. (tulieuvankien.dangcongsan.vn)
Chức vụ này đặt ông ở vị trí rất cao trong hệ thống lãnh đạo.
Nhưng không thể đồng nhất:
Tổng Bí thư = toàn quyền.
Đảng có Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư; những quyết định lớn được đưa ra thông qua các cơ quan lãnh đạo tập thể.
Do đó, khi xác định trách nhiệm của Trường Chinh đối với cải cách ruộng đất, cần dựa vào phần việc ông được giao và những quyết định ông tham gia, chứ không chỉ dựa vào chức danh Tổng Bí thư.
Điều đáng chú ý là chính văn kiện Trung ương năm 1956 đã làm việc này.
2. Trách nhiệm của Trường Chinh: điều gì có thể xác định?
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10 xác định Trường Chinh có trách nhiệm quan trọng trong việc chỉ đạo chấp hành đường lối, chính sách của Trung ương về giảm tô và cải cách ruộng đất. Ông tự phê bình và xin từ chức Tổng Bí thư. (tulieuvankien.dangcongsan.vn)
Vì vậy, có thể xác định:
Trường Chinh chịu trách nhiệm chính trị quan trọng đối với lĩnh vực mà ông được phân công chỉ đạo.
Nhưng không thể biến kết luận ấy thành:
mọi sai lầm của cải cách ruộng đất đều là quyết định cá nhân của Trường Chinh.
Chính nghị quyết cũng phân biệt trách nhiệm của Bộ Chính trị với trách nhiệm trực tiếp của những người phụ trách từng bộ phận. (tulieuvankien.dangcongsan.vn)
Đây là cách phân bổ trách nhiệm cần được giữ cho toàn bộ công trình.
3. Trường Chinh mất chức nhưng không mất quyền lực
Đây là một điểm quan trọng hơn cả việc ông từ chức.
Sau khi thôi chức Tổng Bí thư, Trường Chinh vẫn là Ủy viên Bộ Chính trị và thành viên Ban Bí thư. (tulieuvankien.dangcongsan.vn)
Nói chính xác hơn:
ông mất một vị trí quyền lực đặc biệt, nhưng vẫn giữ quyền lực thể chế đáng kể.
Sau đó, ông còn trở thành Phó Thủ tướng năm 1958 và tiếp tục vào Bộ Chính trị tại Đại hội III năm 1960. (tulieuvankien.dangcongsan.vn)
Do đó, năm 1956 không phải một cuộc “loại bỏ Trường Chinh”.
Đó là một sự điều chỉnh vị trí trong trung tâm quyền lực.
4. Lê Đức Thọ đi lên trong cùng thời điểm
Cuối năm 1955, Lê Đức Thọ được bổ sung vào Bộ Chính trị.
Năm 1956, ông phụ trách Ban Tổ chức Trung ương. Hồ sơ chính thức cũng ghi nhận ông được giao nhiệm vụ liên quan đến sửa sai cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. (nvsk.vnanet.vn)
Điều này khiến hai quá trình dễ bị nhập làm một:
Trường Chinh bị điều chỉnh vị trí.
Lê Đức Thọ được giao vai trò tổ chức lớn hơn.
Nhưng từ đó chưa thể kết luận:
Lê Đức Thọ là người làm Trường Chinh mất chức.
Quyết định thay đổi chức vụ Tổng Bí thư được Hội nghị Trung ương quyết định, và Hồ Chí Minh được bầu thay Trường Chinh. (tulieuvankien.dangcongsan.vn)
5. Tách quyền lực khỏi ảnh hưởng
Đây là điểm cần làm rõ hơn.
Quyền lực là khả năng được thể chế hoặc quyết định trao cho một chủ thể để thực hiện một hành động, ra quyết định hoặc buộc bộ máy thực hiện quyết định.
Ảnh hưởng rộng hơn.
Một người có thể ảnh hưởng đến quyết định mà không có quyền chính thức quyết định.
Ngược lại, một người có quyền chính thức nhưng ảnh hưởng thực tế có thể không tương xứng với chức vụ.
Vì vậy, khi nghiên cứu Lê Đức Thọ, phải hỏi hai câu riêng:
Quyền lực
Ông có quyền làm gì?
Ví dụ:
phụ trách công tác tổ chức;
tham gia Bộ Chính trị;
tham gia Ban Bí thư từ Đại hội III;
tham gia các quy trình nhân sự trong phạm vi được giao.
Ảnh hưởng
Ông có thể làm cho người khác thay đổi quyết định đến mức nào?
Điều này phải chứng minh bằng:
đề xuất được chấp nhận;
phương án nhân sự được lựa chọn;
ý kiến của ông được phản ánh trong quyết định;
sự điều chỉnh chính sách sau ý kiến của ông;
hoặc tài liệu trực tiếp khác.
Có chức vụ không tự động chứng minh có ảnh hưởng trong mọi quyết định.
Và có ảnh hưởng không đồng nghĩa có quyền quyết định.
6. Trường hợp Trường Chinh cho thấy sự khác biệt ấy rất rõ
Trường Chinh có quyền lực chính thức rất lớn khi là Tổng Bí thư.
Nhưng sau khi từ chức, quyền lực chính thức của ông giảm.
Tuy vậy, ảnh hưởng của ông không biến mất ngay.
Ông vẫn ở Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sau đó tiếp tục giữ các vị trí cao. (tulieuvankien.dangcongsan.vn)
Điều này cho thấy:
mất chức ≠ mất ảnh hưởng.
Nhưng cũng không được đảo ngược thành:
còn ảnh hưởng = vẫn có quyền như trước.
Đó là hai khái niệm khác nhau.
7. Trường hợp Lê Đức Thọ cũng vậy
Lê Đức Thọ có quyền lực tổ chức ngày càng lớn.
Nhưng ảnh hưởng của ông trong từng quyết định phải được xác định riêng.
Ví dụ:
Nếu hồ sơ cho thấy ông được giao chuẩn bị một phương án nhân sự nhưng Bộ Chính trị lựa chọn phương án khác, thì ông có quyền tham mưu, nhưng ảnh hưởng cuối cùng của ông trong quyết định đó có thể hạn chế.
Nếu phương án do ông đề xuất được chấp thuận, ta có thêm bằng chứng về ảnh hưởng.
Nếu ông trực tiếp ký hoặc được cơ quan có thẩm quyền giao quyết định, khi đó mới có thể nói đến quyền quyết định.
Ba cấp này phải tách:
quyền tham mưu → ảnh hưởng → quyền quyết định.
Không được nhập chúng thành một.
8. Vậy Lê Đức Thọ có liên quan đến việc Trường Chinh từ chức không?
Ở mức hiện có, cần chia thành ba tầng.
Điều có chứng cứ
Trường Chinh chịu trách nhiệm quan trọng đối với việc chỉ đạo cải cách ruộng đất và sau đó xin từ chức Tổng Bí thư.
Hội nghị Trung ương chấp thuận.
Hồ Chí Minh được bầu thay ông.
Lê Đức Thọ khi ấy đã là Ủy viên Bộ Chính trị và đang được giao những nhiệm vụ quan trọng về sửa sai, tổ chức. (tulieuvankien.dangcongsan.vn)
Điều có thể suy luận ở mức cơ chế
Lê Đức Thọ chắc chắn nằm trong trung tâm của quá trình tổ chức lại sau khủng hoảng.
Công tác tổ chức và nhân sự của ông có thể tạo ảnh hưởng đến quá trình này.
Điều chưa được phép kết luận
Chưa có cơ sở chỉ từ các chức vụ trên để nói:
Lê Đức Thọ chủ động làm Trường Chinh mất chức.
Muốn kết luận như vậy phải tìm được tài liệu trực tiếp về hành động của ông.
Đây là ranh giới giữa lịch sử có chứng cứ và câu chuyện quyền lực được suy đoán.
9. Trách nhiệm của hai người: gộp thành một khung
Không cần tách thành nhiều mục lặp lại. Có thể xác định trách nhiệm bằng cùng một khung:
Người
Quyền lực chính
Trách nhiệm có thể xác định
Điều chưa được suy ra
Trường Chinh
Tổng Bí thư; thành viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư
Trách nhiệm chính trị quan trọng trong chỉ đạo cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức theo phân công
Không đồng nghĩa ông một mình quyết định mọi sai lầm
Lê Đức Thọ
Bộ Chính trị; từ 1956 phụ trách Ban Tổ chức Trung ương
Trách nhiệm đối với những công việc tổ chức, sửa sai và quyết định cụ thể mà ông thực sự tham gia
Không thể quy cho ông việc Trường Chinh mất chức nếu chưa có chứng cứ trực tiếp
Trung ương/Bộ Chính trị
Quyền quyết định tập thể ở những vấn đề thuộc thẩm quyền
Trách nhiệm tập thể đối với những quyết định đã được thông qua
Không thể dùng “tập thể” để xác định mọi thành viên có trách nhiệm ngang nhau
Khung này quan trọng hơn việc lặp đi lặp lại câu hỏi “ai chịu trách nhiệm”.
Bởi trách nhiệm phải gắn với hành động và thẩm quyền cụ thể.
10. Điều đáng chú ý nhất: năm 1956 không phải là cuộc chuyển giao quyền lực đơn giản
Nếu nhìn từ chức danh, có vẻ:
Trường Chinh đi xuống.
Lê Đức Thọ đi lên.
Nhưng cấu trúc thực tế phức tạp hơn.
Trường Chinh mất chức Tổng Bí thư nhưng vẫn ở trung tâm lãnh đạo.
Lê Đức Thọ được tăng cường vai trò tổ chức nhưng không trở thành Tổng Bí thư.
Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Đảng kiêm Tổng Bí thư.
Vì vậy, năm 1956 nên được hiểu là:
một cuộc tái cấu trúc quyền lực sau khủng hoảng, chứ không phải một cuộc chuyển giao quyền lực từ Trường Chinh sang Lê Đức Thọ.
11. Một bài học phương pháp cho toàn bộ hồ sơ Lê Đức Thọ
Từ trường hợp này, có thể xác lập ba tầng khi đọc một tài liệu lịch sử:
Tầng 1 — Quyền lực
Người đó được phép làm gì theo chức vụ và quyết định của tổ chức?
Tầng 2 — Hành động
Người đó thực sự đã làm gì?
Tầng 3 — Ảnh hưởng
Hành động hoặc ý kiến đó đã tác động đến quyết định của người khác hoặc của tổ chức đến mức nào?
Ba tầng này không được nhập lại.
Một người có quyền nhưng không sử dụng quyền.
Một người không có quyền quyết định nhưng có ảnh hưởng.
Một người có ảnh hưởng lớn nhưng không phải người ký.
Một người ký nhưng quyết định đã được hình thành từ trước.
Chỉ khi phân biệt được bốn trường hợp ấy, ta mới có thể đánh giá trách nhiệm một cách công bằng.
12. Phán định
Trường Chinh năm 1956 là một trường hợp cho thấy quyền lực không biến mất cùng một chức vụ.
Lê Đức Thọ trong cùng thời kỳ là trường hợp cho thấy quyền lực tổ chức có thể tăng lên mà không đồng nghĩa với quyền quyết định mọi việc.
Quan hệ giữa hai người vì thế không nên được kể như một cuộc thay thế đơn giản.
Điều có thể xác định bằng hồ sơ là:
Trường Chinh chịu trách nhiệm chính trị quan trọng đối với lĩnh vực cải cách ruộng đất mà ông được phân công chỉ đạo; ông từ chức Tổng Bí thư nhưng vẫn ở trung tâm lãnh đạo.
Lê Đức Thọ nổi lên mạnh trong công tác tổ chức và sửa sai; ông có quyền lực thể chế đáng kể, nhưng mức ảnh hưởng của ông trong từng quyết định phải được chứng minh riêng.
Còn câu hỏi Lê Đức Thọ có trực tiếp thúc đẩy việc Trường Chinh mất chức hay không vẫn phải để mở nếu chưa tìm được chứng cứ trực tiếp.
Đó là giới hạn mà hồ sơ buộc người viết phải tôn trọng.
Hoàng Phong Nhã
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 18
1. Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng, 1956
“Nghị quyết về công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.”
Nguồn chính để xác định những sai lầm được Trung ương thừa nhận và cơ chế trách nhiệm trong quá trình chỉ đạo.
Tư liệu Văn kiện Đảng – Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10
2. Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng, 1956
“Nghị quyết về chức Tổng Bí thư của Đảng, về Bộ Chính trị và Ban Bí thư.”
Nguồn chính để xác định việc Trường Chinh từ chức, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng kiêm Tổng Bí thư, và Trường Chinh vẫn ở Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Tư liệu Văn kiện Đảng – Nghị quyết về chức Tổng Bí thư, Bộ Chính trị và Ban Bí thư
3. Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng, 1956
Nghị quyết về thi hành kỷ luật đối với một số cán bộ Trung ương phạm sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.
Nguồn để phân biệt trách nhiệm tập thể của Bộ Chính trị với trách nhiệm trực tiếp của những người phụ trách từng bộ phận.
Tư liệu Văn kiện Đảng – Nghị quyết về thi hành kỷ luật
4. Hồ sơ Trường Chinh
Tư liệu Văn kiện Đảng – tiểu sử và quá trình công tác.
Dùng để kiểm chứng các mốc: Tổng Bí thư 1951–1956, Phó Thủ tướng từ 1958 và trở lại Bộ Chính trị năm 1960.
Hồ sơ Trường Chinh – Tư liệu Văn kiện Đảng
5. Hồ sơ Lê Đức Thọ
Thông tấn xã Việt Nam – tiểu sử Lê Đức Thọ.
Dùng để kiểm chứng các mốc: vào Bộ Chính trị cuối năm 1955, phụ trách sửa sai, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương năm 1956 và các chức vụ sau đó.
Hồ sơ Lê Đức Thọ – Thông tấn xã Việt Nam
6. Nguyên tắc sử dụng nguồn
Trong chương này cần phân biệt nghiêm ngặt:
Chức vụ → cho biết vị trí thể chế.
Quyền lực → cho biết người đó có thẩm quyền gì.
Hành động → phải có chứng cứ về việc người đó thực sự làm.
Ảnh hưởng → phải có chứng cứ về tác động của hành động hoặc ý kiến đó lên quyết định.
Trách nhiệm → xác định từ thẩm quyền + hành động + mức độ tham gia + hậu quả trong từng trường hợp.
Không dùng chức vụ để thay cho hành động.
Không dùng ảnh hưởng để thay cho quyền quyết định.
Không dùng quyền lực để suy ra trách nhiệm đối với mọi việc xảy ra trong hệ thống.


03:32
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Đăng nhận xét