PHẦN I
ĐỐI THOẠI VỚI “TỔ QUỐC ĂN NĂN”
CHƯƠNG 2
“TỔ QUỐC ĂN NĂN” — MỘT TIẾNG NÓI CỦA THỜI ĐẠI
Đặt một tư tưởng vào thời đại đã sinh ra nó
Luận đề
Mỗi thời đại đều đặt ra những câu hỏi mà các thế hệ trước có thể chưa đặt ra, hoặc chưa đặt ra với cùng một mức độ khẩn thiết.
Tổ quốc ăn năn xuất hiện trong một thời kỳ như vậy.
Tác phẩm của Nguyễn Gia Kiểng được hình thành trong bối cảnh Việt Nam đã đi qua chiến tranh, chia cắt, thống nhất và Đổi mới; trong khi thế giới bước ra khỏi Chiến tranh Lạnh, toàn cầu hóa tăng tốc và nhiều quốc gia Đông Á chứng minh rằng khoảng cách phát triển không phải là một định mệnh bất biến.
Đọc tác phẩm hôm nay, sau hơn hai thập niên, chúng ta có quyền kiểm chứng lại những luận điểm của nó bằng những dữ kiện và tri thức mới. Nhưng trước khi hỏi “ông đúng đến đâu?”, cần hỏi một câu khác:
Vì sao những câu hỏi ấy đã trở nên cấp thiết đối với một bộ phận người Việt vào thời điểm đó?
Một tư tưởng phải được đặt vào thời đại đã sinh ra nó.
Nhưng một tư tưởng muốn sống lâu cũng phải chấp nhận sự kiểm chứng của những thời đại sau.
Đó là nguyên tắc của cuộc đối thoại này.
1. Một tác phẩm không xuất hiện từ khoảng không
Không có tác phẩm chính luận lớn nào xuất hiện từ khoảng không.
Đằng sau một cuốn sách thường là một quá trình tích lũy: ký ức cá nhân, trải nghiệm lịch sử, những cuộc tranh luận của thời đại, những thất vọng, những hy vọng và những câu hỏi chưa tìm được lời giải.
Điều đó đặc biệt rõ trong trường hợp Nguyễn Gia Kiểng.
Trong “Lời đầu” của Tổ quốc ăn năn, ông kể lại quá trình hình thành thế giới quan của mình từ ký ức về quê hương, giáo dục, lịch sử và văn chương Việt Nam đến những trải nghiệm sau khi sang Pháp du học. Ông nhắc đến những hình ảnh lịch sử, những tác phẩm văn học và những nhân vật đã góp phần hình thành nhận thức của mình về đất nước.
Chi tiết ấy có ý nghĩa.
Nó cho thấy Tổ quốc ăn năn không nên được đọc đơn giản như một bản cương lĩnh chính trị được viết trong một thời điểm nhất định.
Nó là kết quả của một quá trình suy nghĩ lâu dài về câu hỏi:
Việt Nam là gì, người Việt là ai, lịch sử đã tạo nên chúng ta như thế nào và vì sao đất nước chưa đạt được vị thế mà tác giả cho rằng nó có thể đạt tới?
Ngay phần giới thiệu của tác phẩm cũng cho thấy tham vọng của nó vượt khỏi một cuộc phê bình chính trị đương thời. Tác phẩm xem xét lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam rồi từ đó đi đến những vấn đề về tương lai và phát triển đất nước.
Vì vậy, muốn phản biện Tổ quốc ăn năn, trước hết phải hiểu cái thế giới tinh thần đã sản sinh ra nó.
2. Một Việt Nam đang bước ra khỏi thế kỷ XX
Để hiểu tiếng nói của Tổ quốc ăn năn, cần trở lại với Việt Nam và thế giới vào cuối thế kỷ XX.
Đó là một thời kỳ chuyển tiếp đặc biệt.
Chiến tranh Lạnh kết thúc.
Liên Xô tan rã.
Nhiều quốc gia Đông Âu thay đổi thể chế.
Toàn cầu hóa mở rộng nhanh chóng.
Công nghệ thông tin bắt đầu làm thay đổi phương thức sản xuất, thương mại và truyền thông.
Trong khu vực Đông Á, Nhật Bản đã trở thành cường quốc công nghiệp; Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và một số nền kinh tế khác đã chứng minh rằng một xã hội từng nghèo có thể thay đổi vị thế trong một hoặc hai thế hệ.
Trong khi đó, Việt Nam cũng đang bước vào một giai đoạn khác.
Đổi mới từ năm 1986 mở ra quá trình chuyển đổi kinh tế sâu rộng. Việt Nam từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Nhưng sự thay đổi kinh tế đồng thời làm xuất hiện những câu hỏi mới.
Nếu nền kinh tế có thể thay đổi, xã hội có thể thay đổi đến đâu?
Nếu đời sống vật chất được cải thiện, vì sao những vấn đề về thể chế, giáo dục, pháp luật, quản trị và chất lượng con người vẫn còn đó?
Nếu người Việt có nhiều phẩm chất được coi là đáng quý, tại sao những phẩm chất ấy chưa luôn tạo ra một sức mạnh quốc gia tương xứng?
Những câu hỏi này làm cho một cuốn sách nhìn lại lịch sử và con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa.
3. Khoảng cách phát triển biến thành câu hỏi về chính mình
Khi một quốc gia nghèo sống trong một thế giới mà phần lớn các nước đều nghèo, sự nghèo khó có thể được xem như hoàn cảnh chung.
Nhưng khi một số quốc gia có xuất phát điểm tương đối thấp bắt đầu vươn lên nhanh chóng, câu hỏi thay đổi.
Không còn chỉ là:
“Tại sao chúng ta nghèo?”
Mà là:
“Tại sao họ có thể thay đổi nhanh hơn chúng ta?”
Đó là một câu hỏi khó chịu hơn.
Bởi nó buộc người ta nhìn vào chính mình.
Những thành công của các quốc gia Đông Á trong nửa sau thế kỷ XX đã làm lung lay quan niệm cho rằng nghèo đói là một số phận cố định. Chúng cho thấy lịch sử, văn hóa và điều kiện ban đầu có ảnh hưởng rất lớn, nhưng không phải tất cả.
Con đường phát triển còn phụ thuộc vào cách một xã hội tổ chức giáo dục, nhà nước, thị trường, công nghiệp, khoa học, đầu tư và các thiết chế xã hội.
Chính trong bối cảnh ấy, câu hỏi của Tổ quốc ăn năn có sức vang:
Nếu Việt Nam có nhiều tiềm năng như vậy, vì sao kết quả chưa tương xứng?
Đây không còn là câu hỏi đơn thuần về chiến tranh.
Nó là câu hỏi về phát triển.
Và sâu hơn nữa, nó là câu hỏi về cách một dân tộc tổ chức chính mình.
4. Từ “ai có lỗi?” đến “vì đâu nên nỗi?”
Một xã hội thường có xu hướng giải thích thất bại bằng một nguyên nhân dễ nhận diện.
Ngoại xâm. Thực dân. Chiến tranh. Hoàn cảnh lịch sử.
Tất cả những yếu tố ấy đều có thể có thật.
Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, chúng ta sẽ gặp một vấn đề:
Nếu nguyên nhân của thất bại luôn nằm ở bên ngoài, thì chủ thể thay đổi cũng nằm ở bên ngoài.
Nguyễn Gia Kiểng cố gắng đẩy câu hỏi theo hướng khác.
Thay vì chỉ hỏi:
Ai đã làm chúng ta thất bại?
ông muốn người Việt hỏi:
Chúng ta đã trở thành như thế nào và chính chúng ta đã góp phần tạo ra hoàn cảnh ấy ra sao?
Đó là một chuyển dịch quan trọng từ tâm thế nạn nhân sang tâm thế chủ thể.
Nhưng ở đây phải lập tức bổ sung một giới hạn.
Chịu trách nhiệm không có nghĩa là nhận mọi lỗi về mình.
Một xã hội trưởng thành phải biết phân biệt:
điều mình kiểm soát được;
điều mình có thể tác động;
điều bị quyết định bởi hoàn cảnh bên ngoài;
và điều hình thành từ sự tương tác giữa nhiều nguyên nhân.
Không có sự phân biệt ấy, trách nhiệm có thể biến thành tự kết tội.
Ngược lại, phủ nhận mọi trách nhiệm cũng khiến xã hội mất khả năng thay đổi.
Vì vậy, điều đáng giữ lại không phải là một tâm lý “chúng ta có lỗi về tất cả”, mà là nguyên tắc:
Một dân tộc phải nhìn nhận phần trách nhiệm của chính mình đối với vận mệnh của mình.
Đó là điều kiện đầu tiên của quyền tự quyết.
5. “Tổ quốc ăn năn” và sức mạnh của một ẩn dụ
“Tổ quốc” không phải một cá nhân.
Tổ quốc không có một ý thức duy nhất.
Không có một ký ức duy nhất.
Càng không có một chủ thể duy nhất có thể thay mặt toàn bộ dân tộc nói:
“Chúng ta đã sai.”
Vì vậy, “Tổ quốc ăn năn” phải được hiểu như một ẩn dụ chính luận.
Nó gom vào một hình ảnh những ký ức, sai lầm và trách nhiệm của một cộng đồng lịch sử.
Chính vì là một ẩn dụ nên nhan đề ấy có sức gợi lớn.
Nhà văn Nhật Tiến, khi nhận xét về tác phẩm, cũng lưu ý rằng cách gọi “Tổ quốc ăn năn” là một cách dùng nghĩa bóng nhằm tạo một tác động cảm tính mạnh, gợi ý tưởng về một dân tộc phải nhìn lại những lầm lạc của mình.
Nhưng một ẩn dụ mạnh cũng có thể tạo ra nguy cơ.
Nếu hiểu theo nghĩa đen, nó dễ dẫn tới ý niệm rằng cả một dân tộc cùng có một lỗi lầm chung.
Điều đó không chính xác.
Trong mọi xã hội luôn có nhiều chủ thể khác nhau, với mức độ trách nhiệm khác nhau.
Người ra quyết định không thể được đặt ngang hàng với người chỉ chịu hậu quả.
Người có quyền lực không thể được xem giống người không có quyền lực.
Người lựa chọn chính sách không thể được đánh đồng với người bị chính sách tác động.
Vì vậy, đọc “Tổ quốc ăn năn” một cách trưởng thành phải giữ được cả hai mặt:
sức mạnh đạo đức của ẩn dụ và sự chính xác của phân tích trách nhiệm.
6. Từ phẩm chất của người Việt đến cách xã hội tổ chức những phẩm chất ấy
Một trong những câu hỏi nổi bật của Tổ quốc ăn năn liên quan đến những phẩm chất mà người Việt thường tự nhận hoặc được người khác gán cho mình.
Thông minh,hiếu học, cần cù.
phẩm chất cá nhân không tự động trở thành sức mạnh quốc gia.
Một xã hội có thể có nhiều người thông minh mà vẫn không có nền khoa học mạnh.
Có thể có truyền thống hiếu học nhưng nền giáo dục vẫn thiên về thi cử.
Có thể có người lao động cần cù nhưng năng suất vẫn thấp.
Có thể có lòng yêu nước sâu sắc nhưng quản trị công vẫn kém.
Có thể đoàn kết khi đối diện một mối đe dọa bên ngoài nhưng khó hợp tác trong những công việc dài hạn bên trong xã hội.
Điều quyết định không chỉ là con người có phẩm chất gì, mà còn là:
Xã hội đã tổ chức những phẩm chất ấy thành kết quả chung bằng cách nào?
Đây là một điểm mà tư duy phát triển hiện đại giúp chúng ta đi thêm một bước.
Thông minh chỉ trở thành sức mạnh khoa học khi có:
giáo dục → nghiên cứu → thể chế khoa học → tài trợ → tự do học thuật → hợp tác → công nghệ → sản phẩm.
Hiếu học chỉ trở thành sức mạnh con người khi việc học tạo ra:
hiểu biết → tư duy độc lập → kỹ năng → sáng tạo → năng suất.
Lòng yêu nước chỉ trở thành Quốc lực khi nó có thể chuyển thành:
trách nhiệm công dân → tôn trọng luật pháp → hợp tác → đóng góp → bảo vệ lợi ích chung.
Như vậy, câu hỏi quan trọng không còn là:
“Người Việt có tốt hay không?”
Mà là:
“Những phẩm chất của người Việt đang được luật chơi xã hội biến thành kết quả gì?”
Đây là một câu hỏi sâu hơn và có khả năng kiểm chứng hơn.
7. Nhìn lại lịch sử cũng là nhìn lại cách một dân tộc kể về mình
Một điểm đáng chú ý của Tổ quốc ăn năn là tác giả không chỉ bàn về xã hội đương thời mà còn quay trở lại lịch sử Việt Nam.
Điều này thể hiện rõ qua cấu trúc tác phẩm, trong đó những giai đoạn và nhân vật lịch sử được đưa vào một cuộc xem xét lại rộng hơn về con người và văn hóa Việt Nam. Bản văn dành những phần đáng kể cho các vấn đề như Lý – Trần, Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, Nguyễn Huệ và nhiều vấn đề khác.
Đây là một lựa chọn có ý nghĩa.
Một dân tộc muốn hiện đại hóa tư duy không thể coi lịch sử của mình là vùng cấm.
Nhưng đặt lại lịch sử không có nghĩa là đảo ngược mọi phán quyết lịch sử.
Nếu truyền thống nói:
“Nhân vật X hoàn toàn vĩ đại.”
mà người phản biện chỉ đổi thành:
“Nhân vật X hoàn toàn thất bại.”
thì phương pháp vẫn chưa thay đổi.
Câu hỏi học thuật phải khác:
Nhân vật ấy thành công ở đâu?
Thất bại ở đâu?
Điều gì thuộc về lựa chọn của cá nhân?
Điều gì thuộc về cấu trúc của thời đại?
Bằng chứng nào cho phép chúng ta kết luận?
Điều gì chỉ là giả định?
Đây là ranh giới giữa giải cấu trúc lịch sử và thay thế một huyền thoại bằng một huyền thoại khác.
Chúng ta không cần một lịch sử mới chỉ để đảo ngược lịch sử cũ.
Chúng ta cần một cách đọc lịch sử trưởng thành hơn.
8. Một tiếng nói của thời đại, không phải tiếng nói duy nhất của thời đại
Cụm từ “một tiếng nói của thời đại” cần được hiểu thật chính xác.
Nó không có nghĩa Tổ quốc ăn năn đại diện cho toàn bộ người Việt.
Càng không có nghĩa Nguyễn Gia Kiểng nói thay cho toàn bộ trí thức Việt Nam.
Một thời đại không bao giờ chỉ có một tiếng nói.
Trong cùng một thời kỳ có thể tồn tại:
người trong nước và người ngoài nước;
người từng trải qua chiến tranh và người sinh ra sau chiến tranh;
người chiến thắng và người thất bại;
người muốn cải cách thể chế và người muốn ưu tiên cải cách kinh tế;
người nhìn Việt Nam từ châu Âu, người nhìn từ Bắc Mỹ, người nhìn từ Đông Á và người nhìn trực tiếp từ đời sống trong nước.
Những kinh nghiệm ấy không giống nhau.
Vì thế, vị trí của Tổ quốc ăn năn cần được xác định một cách vừa khiêm tốn vừa công bằng:
Đó là một tiếng nói có ảnh hưởng trong một dòng tư tưởng muốn nhìn lại lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam để tìm nguyên nhân của sự trì trệ và tìm một hướng đi khác cho tương lai.
Các tư liệu tiếp nhận tác phẩm cho thấy nó đã gây ra những phản ứng rất khác nhau: có người đánh giá cao tính chính luận và tham vọng tư tưởng; có người phê phán cách lập luận, dữ kiện hoặc quan điểm lịch sử của tác giả.
Chính sự phân cực ấy lại là một lý do khiến tác phẩm đáng được nghiên cứu.
Một cuốn sách không gây tranh luận thường ít khi làm thay đổi cách người ta đặt vấn đề.
9. Ký ức chiến tranh và câu hỏi về trách nhiệm
Không thể hiểu đầy đủ tiếng nói của Tổ quốc ăn năn nếu tách nó khỏi lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.
Chiến tranh,chia cắt,mất mát,những gia đình bị phân ly,những người rời khỏi đất nước,những người ở lại.
Những ký ức khác nhau về cùng một biến cố.
Những thế hệ trưởng thành trong những hoàn cảnh chính trị hoàn toàn khác nhau.
Đó không chỉ là những dữ kiện lịch sử.
Đó là những ký ức sống.
Vì vậy, khi một tác giả đặt vấn đề về trách nhiệm của người Việt đối với vận mệnh đất nước, lời nói ấy không thể tách khỏi những trải nghiệm lịch sử của chính cộng đồng mà bạn thuộc về.
Nhưng cũng chính ở đây, một nguyên tắc cần được xác lập cho toàn bộ cuốn sách:
Hòa giải không có nghĩa là xóa khác biệt ký ức.
Một người có thể nhớ chiến tranh khác người khác.
Một gia đình có thể mang một vết thương mà gia đình khác không có.
Một cộng đồng có thể có một cách kể về lịch sử khác với cộng đồng khác.
Những khác biệt ấy cần được lắng nghe.
Nhưng lắng nghe không có nghĩa mọi diễn giải đều đúng như nhau.
Ký ức cần được tôn trọng.
Lịch sử vẫn cần chứng cứ.
Và phẩm giá con người phải là một giới hạn đạo đức của mọi cách kể lịch sử.
10. Từ tự trách đến trách nhiệm
Đây có lẽ là một trong những phân biệt quan trọng nhất khi đọc Tổ quốc ăn năn.
Tự trách nói:
“Chúng ta tồi tệ.”
Trách nhiệm hỏi:
“Chúng ta đã làm gì, vì sao điều đó xảy ra, ai có quyền quyết định, cơ chế nào duy trì nó và làm thế nào để tránh lặp lại?”
Hai cách nhìn ấy hoàn toàn khác nhau.
Tự trách dễ tạo ra mặc cảm.
Trách nhiệm tạo ra khả năng hành động.
Một dân tộc trưởng thành không cần phải liên tục nói:
“Chúng ta xấu.”
Nó phải có khả năng nói chính xác hơn:
“Ở vấn đề này, chúng ta đã sai ở đâu; ai chịu trách nhiệm; nguyên nhân nào dẫn đến sai lầm; và thiết chế nào có thể ngăn nó tái diễn?”
Đó là bước chuyển từ đạo đức của sự hối tiếc sang đạo đức của trách nhiệm.
Và từ trách nhiệm sang khoa học của sửa chữa.
Ở điểm này, Tổ quốc ăn năn có thể được tiếp tục bằng một câu hỏi mà chính thời đại mới đặt ra:
Một xã hội phải có những cơ chế nào để phát hiện sai lầm, sửa sai và không lặp lại sai lầm?
Câu hỏi ấy sẽ trở thành một trong những sợi chỉ xuyên suốt của Hưng Quốc Học.
11. Thế hệ hôm nay đọc một cuốn sách của một thế giới khác
Người đọc hôm nay không còn đứng ở vị trí của người đọc đầu thế kỷ XXI.
Thế giới đã thay đổi.
Việt Nam đã thay đổi.
Và chính khái niệm về phát triển cũng đã thay đổi.
Khi Tổ quốc ăn năn được viết, Internet mới đang chuyển từ một công nghệ mới thành một hạ tầng xã hội.
Ngày nay, Internet đã trở thành một phần của đời sống kinh tế, giáo dục, truyền thông và chính trị.
Khi ấy, kinh tế tri thức mới là một khái niệm đang nổi lên.
Ngày nay, trí tuệ nhân tạo đang đặt lại câu hỏi về giáo dục, việc làm, nghiên cứu và năng suất.
Khi ấy, vấn đề hội nhập chủ yếu được nhìn qua thương mại và quan hệ kinh tế.
Ngày nay, hội nhập còn gắn với chuỗi cung ứng, dữ liệu, công nghệ chiến lược, vốn, nhân tài và an ninh kinh tế.
Vì vậy, một số câu hỏi của Tổ quốc ăn năn vẫn còn nguyên giá trị.
Nhưng câu trả lời phải được kiểm chứng lại.
Chúng ta không thể dùng một bản đồ cũ để mô tả một thế giới đã thay đổi.
Nhưng cũng không thể vứt bản đồ cũ chỉ vì nó cũ.
Phải đọc nó để biết người đi trước đã nhìn thấy gì, không nhìn thấy gì và vì sao họ nhìn như vậy.
Đó chính là cách đọc lịch sử trí thức.
12. Phản biện đầu tiên: “Tính cách dân tộc” không được trở thành định mệnh
Đây là một trong những điểm mà cuộc đối thoại này phải đặc biệt thận trọng.
Nếu nói:
“Người Việt có tính cách X nên đất nước phát triển chậm.”
thì câu hỏi tiếp theo phải là:
Tại sao tính cách ấy không tạo ra cùng một kết quả ở mọi thời kỳ?
Nếu một đặc điểm văn hóa là nguyên nhân quyết định, tại sao cùng một truyền thống lại có thể tồn tại trong những xã hội đạt những kết quả phát triển rất khác nhau?
Nếu người Việt “bẩm sinh” thiếu tinh thần hợp tác, làm sao giải thích những thời điểm lịch sử mà khả năng hợp tác xã hội lại rất cao?
Nếu người Việt “vốn” thiếu kỷ luật, tại sao trong những môi trường có luật chơi rõ ràng, nhiều người Việt lại có thể thích nghi và đạt kết quả rất tốt?
Những câu hỏi ấy không phủ nhận vai trò của văn hóa.
Chúng chỉ buộc chúng ta phân biệt:
văn hóa → động cơ → hành vi → thiết chế → kết quả
và không nhảy cóc từ:
“một đặc điểm được quan sát”
đến:
“bản chất bất biến của một dân tộc”.
Đây là một nguyên tắc mà Hưng Quốc Học phải giữ.
Không biến văn hóa thành định mệnh.
Không biến lịch sử thành bản án.
Không biến con người thành những tính cách cố định.
13. Phản biện thứ hai: chịu trách nhiệm không có nghĩa phủ nhận hoàn cảnh
Một nguy cơ khác là đi quá xa theo hướng ngược lại.
Nếu trước đây người ta có thể đổ mọi thất bại cho hoàn cảnh bên ngoài, thì cũng không thể sửa sai bằng cách đổ mọi thất bại lên chính người Việt.
Lịch sử có cấu trúc. Địa lý có ảnh hưởng.Chiến tranh để lại hậu quả.
Chủ nghĩa thực dân để lại những di sản lâu dài.
Chiến tranh lạnh định hình nhiều lựa chọn.
Địa chính trị đặt ra những giới hạn thực tế.
Thị trường quốc tế tạo ra cơ hội nhưng cũng tạo ra phụ thuộc.
Không một quốc gia nào hành động trong chân không.
Vì thế, phân tích nghiêm túc phải tìm phần chủ động nằm trong giới hạn của hoàn cảnh.
Đó mới là trách nhiệm thực chất.
Một người không lựa chọn được nơi mình sinh ra.
Một quốc gia không lựa chọn được toàn bộ lịch sử của mình.
Nhưng một con người có thể lựa chọn cách phản ứng trước hoàn cảnh.
Một xã hội cũng có thể lựa chọn cách tổ chức lại chính mình.
Đây là điểm mà tư duy Hưng Quốc cần giữ:
Không phủ nhận hoàn cảnh, nhưng cũng không dùng hoàn cảnh để phủ nhận khả năng hành động.
14. Nguyễn Gia Kiểng cần được đọc như một người mở cuộc tranh luận
Có thể có những luận điểm trong Tổ quốc ăn năn mà thế hệ sau sẽ không còn chấp nhận.
Có những cách giải thích cần bổ sung.
Có những nhận định lịch sử cần kiểm chứng lại.
Có những kết luận cần được đặt trong phạm vi hẹp hơn.
Nhưng điều đó không làm mất đi giá trị của việc tác giả đã đặt câu hỏi.
Trong một nhận xét về tác phẩm, Nhật Tiến ghi nhận rằng Nguyễn Gia Kiểng đã tạo ra một cách nhìn khác về nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử và xã hội Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh tính chất chính trị và vị trí của ông như một nhà hoạt động.
Một số nhận xét khác lại phê phán những điểm mà họ cho là chủ quan, khái quát quá mức hoặc chưa đủ chặt chẽ. Chính sự tồn tại của những phản ứng trái chiều cho thấy tác phẩm không nên được tiếp nhận như một kết luận đã đóng.
Và có lẽ đó là cách công bằng nhất để đọc nó.
Nguyễn Gia Kiểng không cần được biến thành người nói lời cuối cùng về Việt Nam.
Ông đáng được đọc như một người đã góp phần mở một cuộc tranh luận mà thế hệ sau vẫn chưa thể kết thúc.
15. Quy luật
Từ việc đặt Tổ quốc ăn năn vào hoàn cảnh lịch sử của nó, có thể rút ra một quy luật phương pháp luận:
Một tư tưởng chỉ có thể được hiểu đầy đủ khi đặt vào thời đại đã sinh ra nó; nhưng một tư tưởng chỉ có thể chứng minh sức sống khi chịu được sự kiểm chứng của những thời đại sau.
Có hai sai lầm cần tránh.
Một là hiện tại luận:
Dùng toàn bộ tiêu chuẩn, dữ kiện và tri thức hôm nay để phán xét quá khứ như thể người viết khi ấy đã biết tất cả những gì chúng ta biết ngày nay.
Hai là lịch sử luận cực đoan:
Cho rằng vì một tư tưởng thuộc về quá khứ nên nó không còn quyền bị chất vấn.
Cả hai đều sai.
Hiểu hoàn cảnh không phải để miễn trừ tư tưởng khỏi phê bình.
Phê bình không phải để xóa bỏ hoàn cảnh đã tạo ra tư tưởng.
Cách đúng là:
Hiểu trước — kiểm chứng sau — bổ sung tiếp — và vượt qua khi cần thiết.
Đó chính là phương pháp của cuộc đối thoại này.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Tổ quốc ăn năn là một tiếng nói của thời đại bởi nó xuất hiện trong một thời điểm mà câu hỏi về Việt Nam đã bắt đầu chuyển từ chiến tranh và ý thức hệ sang phát triển và tổ chức xã hội.
Nó đặt người Việt trước một câu hỏi khó:
Nếu chúng ta có một lịch sử dài, một nền văn hóa riêng và nhiều phẩm chất mà chúng ta tự hào, tại sao những kết quả phát triển chưa tương xứng với khát vọng?
Câu hỏi ấy đáng được giữ lại.
Nhưng câu trả lời không thể đóng lại trong những khái niệm như “tính cách dân tộc”, “văn hóa” hay “lỗi của người Việt”.
Muốn hiểu một dân tộc, phải hiểu cả con người và những luật chơi mà con người sống trong đó.
Muốn hiểu một thất bại, phải nhìn cả lựa chọn của con người lẫn những giới hạn của hoàn cảnh.
Muốn xây dựng tương lai, phải biến trách nhiệm thành hành động và biến hành động thành những cơ chế có khả năng duy trì, kiểm chứng và sửa chữa.
Đó là nơi cuộc đối thoại sẽ bắt đầu đi xa hơn Tổ quốc ăn năn.
Không phải để phủ nhận.
Không phải để thần thánh hóa.
Mà để hỏi tiếp:
Nguyễn Gia Kiểng đã nhìn thấy điều gì mà thời đại của ông cần phải nhìn thấy?
Ông đã đóng góp những gì cho tư tưởng Việt Nam?
Những đóng góp ấy còn giá trị đến đâu?
Và những giới hạn nào buộc thế hệ sau phải bước tiếp?
Đó sẽ là nhiệm vụ của chương kế tiếp.
Đọc một người đi trước không phải để đứng mãi ở nơi ông đã đứng.
Đọc để biết ông đã nhìn thấy gì, đã bỏ sót gì, và chúng ta có thể nhìn xa hơn ông ở đâu.
Hoàng Phong Nhã
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 2
A. Nguồn chính — Nguyễn Gia Kiểng
Nguyễn Gia Kiểng, Tổ quốc ăn năn — Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa của một thế kỷ và một thiên niên kỷ mới. Bản văn toàn tác phẩm, đặc biệt “Lời đầu”, các phần về lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam và phần “Vài trang bị cho tương lai”.
Nguyễn Gia Kiểng, Tổ quốc ăn năn, phần “Một số nhận định về Tổ quốc ăn năn và tác giả” — sử dụng để xác định mục tiêu của tác phẩm theo cách giới thiệu gắn với văn bản.
B. Tư liệu tiếp nhận và phản biện
Nhật Tiến, Vài nhận xét về cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng — tư liệu quan trọng về cách tác phẩm được tiếp nhận trong cộng đồng trí thức Việt Nam hải ngoại và về cách hiểu nhan đề “Tổ quốc ăn năn”.
Đàm Đức Vượng, Mấy ý kiến về cuốn sách “Tổ quốc ăn năn” — tư liệu về lịch sử tiếp nhận, những đánh giá ủng hộ và phê phán tác phẩm. Cần sử dụng như nguồn phản ánh tranh luận, không xem mọi nhận định trong bài là sự thật độc lập.
Hoàng phong nhã
C. Tài liệu lý thuyết đối chiếu
Douglass C. North, Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, 1990.
Amartya Sen, Development as Freedom, Oxford University Press, 1999.
Daron Acemoglu & James A. Robinson, Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty, Crown, 2012.
Francis Fukuyama, Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity, Free Press, 1995.
Elinor Ostrom, Governing the Commons: The Evolution of Institutions for Collective Action, Cambridge University Press, 1990.
Acemoglu & Robinson, The Narrow Corridor: States, Societies, and the Fate of Liberty, Penguin Press, 2019.
D. Nguyên tắc sử dụng tài liệu
Đối với các chương tiếp theo, tài liệu sẽ được phân biệt thành ba tầng:
Nguồn gốc — văn bản của chính tác giả hoặc tư liệu lịch sử gốc.
Nguồn nghiên cứu — sách, bài nghiên cứu học thuật, dữ liệu và công trình chuyên môn.
Nguồn đối thoại — các bài bình luận, hồi ký, nhận xét, tranh luận và diễn giải của những người khác.
Một lời bình luận về Tổ quốc ăn năn không thể thay thế chính Tổ quốc ăn năn. Một hồi ức không thể tự động thay thế chứng cứ lịch sử. Một giả thuyết học thuật cũng không thể được trình bày như một sự kiện.


17:24
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Đăng nhận xét