PHẦN I
ĐỐI THOẠI VỚI “TỔ QUỐC ĂN NĂN”
CHƯƠNG 3
NHỮNG ĐÓNG GÓP LỚN CỦA NGUYỄN GIA KIỂNG
Đề tựa chương
Không phải để tìm một người đúng tuyệt đối,
mà để nhận ra những cánh cửa tư tưởng đã được mở ra.
1. MUỐN VƯỢT QUA MỘT TƯ TƯỞNG, TRƯỚC HẾT PHẢI NHÌN THẤY GIÁ TRỊ CỦA NÓ
Một cuộc đối thoại trí thức nghiêm túc không bắt đầu bằng việc tìm lỗi.
Nó bắt đầu bằng một câu hỏi khó hơn:
Người đi trước đã nhìn thấy điều gì mà thế hệ sau có thể chưa nhìn thấy?
Đó là nguyên tắc đặc biệt cần thiết khi đọc Tổ quốc ăn năn.
Nếu chỉ đọc để tìm những điều có thể phản bác, việc đọc sẽ biến thành một cuộc tranh luận thắng – thua. Nếu chỉ đọc để ca ngợi, một tác phẩm chính luận lại bị biến thành thứ kinh điển bất khả chất vấn.
Cả hai đều không phải đối thoại.
Nguyễn Gia Kiểng từng xác định Tổ quốc ăn năn là một cuốn sách để thảo luận ý kiến, với mục đích nêu vấn đề hơn là khép lại tranh luận. Chính cách tác giả nhìn nhận tác phẩm của mình cũng mở ra một phương pháp đọc thích hợp: đọc để tiếp tục suy nghĩ.
Vì thế, câu hỏi đầu tiên không nên là:
Nguyễn Gia Kiểng đúng hay sai?
Mà nên là:
Ông đã mở những cánh cửa tư tưởng nào?
Và sau khi bước qua những cánh cửa ấy:
Thế hệ sau còn phải đi tiếp đến đâu?
Chương này bắt đầu từ đó.
2. ĐƯA TỰ VẤN DÂN TỘC TRỞ LẠI TRUNG TÂM
Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của Tổ quốc ăn năn không nằm ở một kết luận riêng lẻ, mà ở thái độ trí thức đứng phía sau toàn bộ công trình.
Đó là thái độ dám quay cái nhìn từ bên ngoài vào bên trong.
Thay vì chỉ hỏi:
Ai đã làm Việt Nam yếu đi?
Nguyễn Gia Kiểng buộc người đọc đặt thêm một câu hỏi khó chịu hơn:
Chính người Việt đã góp phần tạo ra hoàn cảnh của mình như thế nào?
Đây là một chuyển động quan trọng.
Tinh thần tự vấn dân tộc dĩ nhiên không bắt đầu với Nguyễn Gia Kiểng. Trước ông đã có nhiều thế hệ trí thức đặt câu hỏi về dân trí, dân khí, giáo dục, kinh tế, thể chế và năng lực tự cường.
Phan Châu Trinh là một trường hợp tiêu biểu. Với chủ trương khai dân trí – chấn dân khí – hậu dân sinh, ông không chỉ nhìn sự yếu kém của đất nước từ phía ngoại lực mà còn đòi hỏi người Việt phải tự thay đổi mình.
Vì vậy, không nên đặt Nguyễn Gia Kiểng vào vị trí “người đầu tiên phát hiện ra sự cần thiết của tự vấn”.
Đóng góp của ông nằm ở chỗ khác.
Ông đưa tinh thần ấy trở lại thành trục lớn của một công trình chính luận quy mô, rồi nối nó với con người, văn hóa, lịch sử, lòng yêu nước, dân chủ và tương lai quốc gia.
Một dân tộc trưởng thành không phải là một dân tộc luôn nói tốt về mình.
Đó là một dân tộc có khả năng nhìn thấy chính mình mà không cần một kẻ khác làm chiếc gương.
Nhưng tự vấn cũng có giới hạn.
Tự vấn có thể dẫn đến tự hiểu. Nhưng cũng có thể dẫn đến tự khinh.
Tự phê bình có thể mở đường cho cải cách.Nhưng cũng có thể biến thành mặc cảm dân tộc.
Vì thế, giá trị của Tổ quốc ăn năn không nằm ở việc khiến người Việt phải “ăn năn” mãi mãi.
Giá trị nằm ở chỗ nó buộc người đọc nhìn vào những vấn đề mà lòng tự hào thường khiến người ta né tránh.
3. ĐƯA CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀO VÙNG KHẢO SÁT
Tổ quốc ăn năn không chỉ truy vấn nhà nước, chế độ hay những lực lượng bên ngoài.
Nó quay về khảo sát chính xã hội Việt Nam và chính con người Việt Nam.
Đây là một thay đổi đáng kể về điểm nhìn.
Trong diễn ngôn yêu nước, người Việt thường được mô tả bằng những phẩm chất quen thuộc:
Thông minh. Hiếu học.Yêu nước. Bất khuất. Đoàn kết.
Nhưng một câu hỏi khó hơn là:
Nếu những phẩm chất ấy thực sự mạnh, tại sao chúng không phải lúc nào cũng tạo ra những kết quả tương xứng ở cấp độ xã hội và quốc gia?
Câu hỏi ấy có sức phá vỡ sự tự mãn.
Nhưng nó cũng đòi hỏi một sự tỉnh táo khác.
Không thể thay một huyền thoại tự tôn bằng một huyền thoại tự hạ.
Từ “người Việt thông minh” không thể nhảy ngay sang “người Việt không thông minh”.
Từ “người Việt yêu nước” cũng không thể nhảy sang “người Việt không yêu nước”.
Câu hỏi sâu hơn phải là:
Một xã hội tổ chức, khuyến khích và chuyển hóa những phẩm chất của con người thành kết quả chung bằng cách nào?
Một xã hội có thể có rất nhiều người thông minh nhưng nền giáo dục vẫn tạo ra ít nghiên cứu có ảnh hưởng.
Có thể có rất nhiều người chăm chỉ nhưng năng suất vẫn thấp.
Có thể có tình cảm yêu nước mạnh nhưng hợp tác công cộng yếu.
Có thể có nhiều người tài nhưng cơ chế tuyển dụng và sử dụng nhân tài không hiệu quả.
Ở đây, cuộc đối thoại bắt đầu chuyển từ phẩm chất sang cơ chế.
Đó là một bước rất quan trọng:
Con người → hành vi → cơ chế → kết quả.
Nguyễn Gia Kiểng đưa con người Việt Nam vào vùng khảo sát.
Hưng Quốc Học tiếp tục đặt câu hỏi:
Xã hội phải được tổ chức thế nào để những phẩm chất tốt của con người có thể tạo ra kết quả tốt cho cộng đồng?
4. CHẤT VẤN NHỮNG CÁCH KỂ LỊCH SỬ ĐÃ TRỞ THÀNH QUEN THUỘC
Một đóng góp khác của Tổ quốc ăn năn là không chấp nhận lịch sử chỉ như một kho những câu chuyện đã được đóng khung.
Tác giả quay lại lịch sử Việt Nam, các nhân vật, biến cố và những di sản văn hóa – chính trị để tìm mối liên hệ giữa quá khứ với hiện tại.
Điều đáng chú ý không chỉ là ông đánh giá lại nhân vật nào.
Quan trọng hơn là ông đặt ra câu hỏi:
Tại sao xã hội lại tôn vinh nhân vật này mà lên án nhân vật kia?
Và sâu hơn:
Những tiêu chuẩn ấy nói gì về chính xã hội đang kể câu chuyện lịch sử?
Khi đó, lịch sử không còn chỉ là chuyện của người đã chết.
Lịch sử trở thành chiếc gương của người đang sống.
Đây là một cách tiếp cận có giá trị.
Một xã hội trưởng thành không sợ đặt lại câu hỏi về những thần tượng của mình.
Nhưng phá thần tượng không đồng nghĩa với phá bỏ lịch sử.
Một nhân vật lịch sử phải được đặt trong hoàn cảnh của thời đại mình. Không thể chỉ dùng tiêu chuẩn hiện tại để xét đoán quá khứ.
Nhưng ngược lại, nhân vật ấy cũng không thể được miễn trừ mọi phê phán chỉ vì hậu thế đã tôn vinh.
Vì vậy, nguyên tắc cần giữ là:
Không thần thánh hóa người hùng.
Không quỷ dữ hóa người thất bại.
Không biến lịch sử thành tòa án của định kiến hiện tại.
Lịch sử phải được khảo sát bằng chứng cứ, bối cảnh, lựa chọn, lợi ích, giới hạn và hậu quả.
Đó mới là cách trưởng thành với lịch sử.
5. ĐẶT LẠI CÂU HỎI VỀ LÒNG YÊU NƯỚC
Đây là một trong những vấn đề gây tranh luận mạnh nhất trong Tổ quốc ăn năn.
Nguyễn Gia Kiểng đưa ra nhận định rằng lòng yêu nước của người Việt Nam nói chung “rất yếu”, đồng thời cho rằng lòng yêu nước vẫn là một mẫu số chung cần thiết cho sự tồn tại và tiến lên của đất nước.
Phải đọc nhận định ấy thật cẩn trọng.
“Lòng yêu nước rất yếu” là một luận đoán của Nguyễn Gia Kiểng, không phải một dữ kiện thực nghiệm đã được chứng minh độc lập.
Không nên biến nó thành chân lý.
Nhưng cũng không nên gạt bỏ nó chỉ vì nó gây khó chịu.
Bởi phía sau nhận định ấy là một câu hỏi đáng nghiên cứu:
Tại sao một xã hội có thể biểu hiện tình cảm yêu nước rất mạnh ở cấp độ cảm xúc, nhưng những biểu hiện ấy không phải lúc nào cũng chuyển thành trách nhiệm công cộng, kỷ luật xã hội, sự trung thực, tinh thần hợp tác và khả năng kiến tạo?
Đây là câu hỏi sâu hơn câu hỏi “người Việt có yêu nước hay không”.
Một người có thể yêu nước nhưng thiếu kiến thức.
Có kiến thức nhưng thiếu trách nhiệm.
Có trách nhiệm nhưng thiếu khả năng hành động.
Có khả năng hành động nhưng không biết hợp tác.
Có bằng chứng và lý lẽ nhưng không dám lên tiếng.
Vì vậy, vấn đề không chỉ là có hay không có lòng yêu nước.
Vấn đề là:
Lòng yêu nước được biểu hiện bằng hành vi gì, trong những điều kiện nào, và được chuyển thành lợi ích chung đến đâu?
Ở đây, câu hỏi của Nguyễn Gia Kiểng mở ra một vùng nghiên cứu mà Hưng Quốc Học có thể tiếp tục.
6. TỪ TÌNH CẢM YÊU NƯỚC ĐẾN TRÁCH NHIỆM VỚI ĐẤT NƯỚC
Hưng Quốc Học không cần tuyên bố rằng mình đã tìm ra một định nghĩa hoàn chỉnh về lòng yêu nước.
Điều cần làm là tiếp tục câu hỏi mà Tổ quốc ăn năn đã đặt ra.
Có thể nhìn lòng yêu nước qua những tầng ngày càng sâu hơn.
Trước hết là tình cảm.
Tự hào về quê hương, đất nước, văn hóa và cộng đồng của mình.
Đó là nền tảng tự nhiên.
Nhưng chưa đủ.
Tiếp đến là ký ức.
Biết tổ tiên mình là ai, trân trọng những hy sinh của các thế hệ trước, gìn giữ lịch sử và truyền lại ký ức cho thế hệ sau.
Ký ức tạo nên chiều sâu của căn cước.
Nhưng vẫn chưa đủ.
Sau đó là đạo đức.
Không gian dối khi có lợi cho mình.
Không trục lợi từ cộng đồng.
Không phá hoại tài sản chung.
Không lấy lợi ích cá nhân làm lý do chà đạp người khác.
Tiếp nữa là trách nhiệm công dân.
Tôn trọng pháp luật.
Quan tâm đến việc chung.
Đóng góp cho cộng đồng.
Dám chịu trách nhiệm về phần việc của mình.
Và cuối cùng là tạo ra giá trị.
Học tập.
Nghiên cứu.Sáng tạo. Phát triển công nghệ. Giữ gìn văn hóa. Đào tạo thế hệ sau.
Một công việc chân chính làm cho xã hội tốt hơn cũng có thể trở thành một hình thức phụng sự đất nước.
Từ đó, Hưng Quốc Học có thể đặt ra một chuỗi vận động:
Cảm xúc → Đạo đức → Trách nhiệm → Hành động → Giá trị chung → Quốc lực.
Đây không phải là sự lặp lại Nguyễn Gia Kiểng.
Đây là nỗ lực phát triển câu hỏi của ông theo một hướng khác:
Làm thế nào để tình cảm đối với đất nước trở thành năng lực xây dựng đất nước?
7. NỐI LỊCH SỬ, VĂN HÓA VỚI CÂU HỎI VỀ PHÁT TRIỂN
Một đóng góp đáng chú ý nữa của Tổ quốc ăn năn là tìm cách nối lịch sử và văn hóa với những vấn đề của hiện tại.
Phát triển không diễn ra trong khoảng trống.
Con người bước vào thể chế với những thói quen đã hình thành.
Nhưng thể chế cũng tác động ngược trở lại con người.
Một nền hành chính có thể làm cho sự trung thực trở nên có lợi, hoặc khiến quan hệ cá nhân trở nên quan trọng hơn năng lực.
Một nền giáo dục có thể khuyến khích đặt câu hỏi, hoặc khuyến khích học thuộc.
Một hệ thống pháp luật có thể tạo niềm tin, hoặc tạo tâm lý tìm cách lách luật.
Một xã hội có thể khuyến khích hợp tác, hoặc khiến mỗi người chỉ lo cho gia đình và nhóm lợi ích của mình.
Vì vậy, không nên đặt văn hóa và thể chế vào hai chiếc hộp tách biệt.
Chúng tương tác.
Đây cũng là nơi những nghiên cứu thể chế hiện đại mở rộng cuộc thảo luận. Douglass North nhấn mạnh vai trò của thể chế trong việc định hình cấu trúc động cơ và kết quả kinh tế. Elinor Ostrom cho thấy các cộng đồng cũng có thể xây dựng những quy tắc hợp tác có khả năng duy trì lâu dài.
Từ đó, câu hỏi của Hưng Quốc Học được chuyển thêm một bước:
Không hỏi văn hóa Việt Nam đơn giản là “tốt” hay “xấu”.
Hãy hỏi:
Trong điều kiện nào, những giá trị ấy tạo ra hành vi này thay vì hành vi khác?
Và:
Thể chế nào làm cho những hành vi có lợi cho xã hội trở nên đáng làm hơn những hành vi gây hại?
Đây là lúc phân tích văn hóa gặp phân tích thể chế.
8. TỪ PHÊ PHÁN QUÁ KHỨ ĐẾN KIẾN TẠO TƯƠNG LAI
Tổ quốc ăn năn không dừng ở việc giải thích quá khứ.
Đó là một điểm quan trọng.
Tác phẩm đi từ con người, văn hóa và lịch sử đến những câu hỏi về nguyên nhân của sự trì trệ, rồi hướng về phát triển, dân chủ và tương lai quốc gia.
Đây là phẩm chất của một tác phẩm chính luận có tham vọng.
Nhưng cũng từ đây xuất hiện phép thử khó nhất đối với mọi tư tưởng cải cách:
Phê phán chưa phải là kiến tạo.
Chỉ ra căn bệnh chưa phải là chữa bệnh.
Chỉ ra khuyết điểm của một thể chế chưa đồng nghĩa với việc đã biết thiết kế một thể chế tốt hơn.
Và đưa ra một giải pháp cũng chưa đủ.
Cần hỏi tiếp:
Nếu giải pháp ấy được thực hiện, kết quả có thực sự xuất hiện như dự kiến hay không?
Nếu không, tại sao?
Cơ chế nào đã sai?
Giả định nào đã sai?
Điều kiện nào đã thay đổi?
Đây là lúc tư tưởng bước ra khỏi trang sách và chịu sự kiểm nghiệm của đời sống.
Nguyễn Gia Kiểng đã mở cánh cửa ấy.
Hưng Quốc Học phải bước qua.
9. ÁN LỆ TƯ TƯỞNG: LÒNG YÊU NƯỚC
Lòng yêu nước có thể trở thành một “án lệ” tốt để kiểm nghiệm phương pháp đối thoại.
Nếu hỏi:
Người Việt có yêu nước không?
Người trả lời “có” có thể đưa ra vô số bằng chứng lịch sử.
Người trả lời “không” cũng có thể chỉ ra những hiện tượng chia rẽ, tranh giành quyền lực, lợi ích cá nhân, phản bội hoặc thờ ơ với lợi ích chung.
Cả hai bên đều có thể tìm thấy những dữ kiện phù hợp với lập luận của mình.
Nhưng như vậy vẫn chưa đủ.
Câu hỏi tốt hơn là:
Lòng yêu nước được chuyển hóa thành những hành vi xã hội nào?
Và:
Giáo dục, văn hóa, pháp luật và thể chế khuyến khích hay cản trở sự chuyển hóa ấy như thế nào?
Đây là khác biệt giữa đánh giá một phẩm chất và nghiên cứu một cơ chế.
Một tình cảm chỉ trở thành nguồn lực xã hội khi nó được chuyển hóa thành hành động.
Và hành động chỉ tạo thành sức mạnh quốc gia khi có tri thức, đạo đức, tổ chức, hợp tác và những thiết chế đủ khả năng biến nỗ lực riêng thành kết quả chung.
Vì vậy:
Lòng yêu nước tự nó chưa phải Quốc lực.
Nó trở thành một thành tố của Quốc lực khi được chuyển hóa thành những năng lực tạo ra giá trị chung.
Đó là nơi Hưng Quốc Học tiếp tục câu hỏi của Nguyễn Gia Kiểng.
10. PHẢN ĐỀ: ĐÓNG GÓP KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI CHÂN LÝ
Ghi nhận Nguyễn Gia Kiểng không có nghĩa là chấp nhận toàn bộ cách giải thích của ông.
Đây là ranh giới mà một công trình đối thoại trí thức phải giữ.
Một tác phẩm có thể rất mạnh ở cấp độ câu hỏi nhưng vẫn gây tranh luận ở cấp độ nguyên nhân.
Một quan sát có thể đúng nhưng cách khái quát hóa có thể quá rộng.
Một hiện tượng văn hóa có thể tồn tại nhưng không có nghĩa nó là nguyên nhân chính của sự trì trệ.
Một tương quan lịch sử không tự động chứng minh quan hệ nhân quả.
Vì vậy, khi đọc Tổ quốc ăn năn, cần phân biệt:
Điều tác giả quan sát và diễn giải.
Những giả định đứng phía sau sự diễn giải.
Những điều còn cần được kiểm chứng bằng nghiên cứu khác.
Đây không phải là cách làm giảm giá trị của Nguyễn Gia Kiểng.
Ngược lại.
Chỉ khi một tư tưởng được phép chịu phản biện, giá trị thật của nó mới có cơ hội được xác định.
Một tư tưởng không chịu phản biện chỉ có thể tồn tại như niềm tin.
Một tư tưởng chịu được phản biện mới có cơ hội trở thành tri thức.
11. NGUYỄN GIA KIỂNG KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN TỰ VẤN DÂN TỘC
Cần giữ điều này thật rõ để công bằng với lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Nguyễn Gia Kiểng không phát minh ra tinh thần tự vấn dân tộc.
Phan Châu Trinh đã đặt vấn đề về sự yếu kém của xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ XX. Những câu hỏi về dân trí, dân khí, giáo dục, kinh tế, thể chế và tự cường cũng đã xuất hiện trong nhiều dòng tư tưởng canh tân trước đó.
Vì vậy, giá trị của Nguyễn Gia Kiểng không nằm ở việc ông là người đầu tiên hỏi:
Vì sao Việt Nam yếu?
Giá trị nằm ở việc ông tổ chức một khối lượng lớn câu hỏi thành một công trình chính luận có hệ thống tương đối rộng, nối con người với văn hóa, lịch sử, chính trị, dân chủ và phát triển, rồi hướng cuộc khảo sát về tương lai.
Nói cách khác:
Ông không mở cánh cửa đầu tiên.
Nhưng ông mở một cánh cửa theo cách riêng của mình.
Và chính vì đóng góp ấy có thật, chúng ta càng có trách nhiệm đọc ông một cách công bằng.
12. TỪ NGUYỄN GIA KIỂNG ĐẾN PHẦN VIỆC CỦA HƯNG QUỐC HỌC
Đến đây cần giữ một ranh giới thật rõ.
Nguyễn Gia Kiểng đặt vấn đề:
Con người Việt Nam.
Lịch sử Việt Nam.
Văn hóa Việt Nam.
Lòng yêu nước.
Trách nhiệm.
Dân chủ.
Phát triển.
Tương lai đất nước.
Hưng Quốc Học đặt thêm câu hỏi:
Những yếu tố ấy vận hành với nhau bằng cơ chế nào?
Con người tạo ra xã hội.
Nhưng xã hội lại tạo ra động cơ cho con người.
Thể chế định hình hành vi.
Hành vi tạo ra kết quả.
Kết quả được đo lường.
Sai lệch được phát hiện.
Cơ chế được sửa chữa.
Và xã hội tiếp tục học hỏi.
Vì vậy, câu hỏi không còn chỉ là:
Người Việt tốt hay xấu?
Mà là:
Cơ chế nào khiến những con người có phẩm chất tốt đôi khi tạo ra kết quả xấu, và cơ chế nào giúp những phẩm chất tốt được chuyển hóa thành kết quả tốt?
Đây là bước chuyển từ phê phán con người sang thiết kế môi trường xã hội.
Và đó cũng là một trong những hướng phát triển căn bản của Hưng Quốc Học.
13. QUY LUẬT: CÓ THỂ VƯỢT QUA MỘT TƯ TƯỞNG BẰNG CÁCH PHÁT TRIỂN NÓ
Có một cách vượt qua một tư tưởng khác với phủ định nó.
Đó là:
Đi tiếp từ nơi nó đã đứng.
Nguyễn Gia Kiểng giúp người Việt nhìn vào chính mình.
Hưng Quốc Học hỏi tiếp:
Sau khi nhìn thấy mình, phải thay đổi điều gì?
Nguyễn Gia Kiểng đặt câu hỏi về lòng yêu nước.
Hưng Quốc Học hỏi:
Làm thế nào để tình cảm ấy trở thành trách nhiệm, hành động và Quốc lực?
Nguyễn Gia Kiểng nhìn vào những di sản lịch sử và văn hóa.
Hưng Quốc Học hỏi:
Những di sản ấy được chuyển hóa thành hành vi và thể chế bằng cơ chế nào?
Nguyễn Gia Kiểng đặt vấn đề về tương lai.
Hưng Quốc Học hỏi:
Làm thế nào để xây dựng một xã hội có khả năng học hỏi, đo lường, sửa sai và tự nâng cấp?
Từ đó có thể hình thành một nguyên tắc phương pháp:
Không phủ định một tư tưởng chỉ vì nó chưa hoàn chỉnh.
Hãy xác định phần có giá trị.
Kiểm chứng phần chưa chắc chắn.
Tìm giới hạn của nó.
Phát triển phần còn thiếu.
Đó không phải là sự nhượng bộ.
Đó là cách một nền tư tưởng trưởng thành.
14. BÀI HỌC HƯNG QUỐC
Đọc Nguyễn Gia Kiểng không phải để quyết định rằng ông đúng hay sai trên toàn bộ tác phẩm.
Đọc ông để nhận ra một thái độ trí thức:
Dám nhìn vào nơi người khác không muốn nhìn.
Đó là đóng góp quan trọng.
Nhưng Hưng Quốc không thể dừng ở chiếc gương.
Phải đi tiếp:
Tự vấn → Kiểm chứng → Hiểu cơ chế → Kiến tạo → Đo lường → Tự hiệu chỉnh.
Đối với lòng yêu nước cũng vậy:
Cảm xúc → Đạo đức → Trách nhiệm → Hành động → Giá trị chung → Quốc lực.
Từ đó có thể rút ra một nguyên tắc:
Một dân tộc không mạnh lên chỉ vì có nhiều người yêu nước. Dân tộc mạnh lên khi tình yêu đất nước được chuyển hóa thành những hành vi, giá trị và thiết chế làm tăng sức mạnh chung.
Và còn một nguyên tắc sâu hơn:
Một quốc gia trưởng thành không phải là quốc gia không có người phản biện, mà là quốc gia biết biến phản biện thành khả năng tự sửa chữa.
Đây là nơi tư tưởng của Nguyễn Gia Kiểng gặp Hưng Quốc Học.
Không phải ở chỗ Hưng Quốc Học lặp lại ông.
Mà ở chỗ Hưng Quốc Học lấy câu hỏi của ông làm điểm xuất phát để đặt một câu hỏi mới.
KẾT CHƯƠNG
Nguyễn Gia Kiểng đặt trước người Việt một câu hỏi khó:
Vì đâu nên nỗi?
Giá trị của câu hỏi ấy không nằm ở chỗ nó đã giải thích được toàn bộ lịch sử Việt Nam.
Nó nằm ở chỗ nó buộc người Việt nhìn vào chính mình.
Qua Tổ quốc ăn năn, có thể ghi nhận sáu đóng góp nổi bật:
Một, đưa tự vấn dân tộc trở lại vị trí trung tâm của một công trình chính luận lớn.
Hai, đưa con người Việt Nam trở thành đối tượng khảo sát, thay vì chỉ quy trách nhiệm cho hoàn cảnh và ngoại lực.
Ba, dám chất vấn những cách kể lịch sử đã trở thành quen thuộc.
Bốn, đặt lại vấn đề về lòng yêu nước và mối quan hệ giữa tình cảm với trách nhiệm đối với đất nước.
Năm, nối lịch sử và văn hóa với câu hỏi về phát triển.
Sáu, không dừng ở phê phán quá khứ mà hướng người đọc đến câu hỏi về tương lai.
Nhưng đóng góp không đồng nghĩa với chân lý cuối cùng.
Nguyễn Gia Kiểng không phải người đầu tiên tự vấn dân tộc.
Ông cũng không thể là người cuối cùng giải thích vì sao Việt Nam yếu.
Và nhận định rằng lòng yêu nước của người Việt Nam nói chung “rất yếu” cần được đọc như một luận đoán cần kiểm chứng, chứ không phải một chân lý mặc nhiên.
Đó chính là nơi cuộc đối thoại trở nên có ý nghĩa.
Không phủ định Nguyễn Gia Kiểng.
Không sao chép Nguyễn Gia Kiểng.
Mà đi tiếp từ Nguyễn Gia Kiểng.
Bởi một tư tưởng lớn không nhất thiết phải là tư tưởng có câu trả lời cuối cùng.
Đôi khi, đóng góp lớn nhất của một tư tưởng là buộc thế hệ sau đặt được một câu hỏi tốt hơn.
Nguyễn Gia Kiểng hỏi:
Vì đâu nên nỗi?
Hưng Quốc Học hỏi tiếp:
Vì đâu nên mạnh?
Và từ đó, câu hỏi còn sâu hơn:
Nếu những yếu kém của một dân tộc không phải là định mệnh, những cơ chế nào đã tạo ra chúng — và bằng cách nào một dân tộc có thể thay đổi những cơ chế ấy?
Đó là nơi chương này khép lại.
Và cũng là nơi cuộc đối thoại thực sự bắt đầu.
Hoàng phong nhã


00:30
Hoàng Phong Nhã
Posted in:
0 comments:
Đăng nhận xét