Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Tinh thần xã hội và chủ nghĩa xã hội


Tinh thần xã hội là ý thức về xã hội của mỗi cá nhân. Ý thức này có thể một phần do bản năng, hay tập tính tự nhiên, tức bản năng quần tụ, mang tính cách hướng tới bầy đoàn, vốn có bẩm sinh trong nhiều loại sinh vật, mà cụ thể và rõ rệt nhất, là nơi các loài linh trưởng, trong đó có con người. Xã hội loài người là một ví dụ điển hình như thế. Tinh thần xã hội, ngoài ra về mặt nổi, cũng còn đến từ kết quả của sự giáo dục, giáo dục gia đình cũng như giáo dục nhà trường, xã hội. Tinh thần xã hội, nói chung là­ tinh thần vị tha, hướng tới người khác, hướng tới mọi người, hay hướng tới xã hội. Bởi vì mỗi cá nhân như thế hiểu rằng không có mọi người, không có xã hội nói chung, cũng không thể có cá nhân, không có bản thân mình. Trong ý hướng đó, tinh thần xã hội chính là tinh thần cộng đồng, là ý thức về nhân quần, xã hội một cách tự nhiên, vượt lên trên mọi tính chất ích kỷ, riêng tư, để đi đến những lợi ích chung cho mọi người, đi đến các ý nghĩa, lợi ích, giá trị chung cho mọi người, thế thôi. Tuy vậy, khuynh hướng xã hội thực chất cũng còn tùy theo cá tính tự nhiên của cá thể mỗi người, không phải ai ai cũng đều có khuynh hướng cá nhân, cũng không phải mọi người đều có khuynh hướng xã hội. Đó là một thực tế cần phải nhìn nhận, không thể làm biến đổi hay nói khác đi được, dầu cho tùy hoàn cảnh hay phát triển lịch sử mà nó có thể có các sắc thái hay các cách biểu hiện khác nhau.
Trong khi đó, kể từ cuối thế kỷ 19, trên thế giới tinh thần xã hội lại được hiểu theo hai nghĩa khác nhau. Tinh thần xã hội cổ điển, là tinh thần xã hội tự nhiên, giống như được trình bày ở trên. Tinh thần xã hội như thế không khác gì một ý hướng xã hội, một quan điểm xã hội, lấy xã hội làm tiêu chí chung hướng đến, đặt xã hội lên cao hơn cá nhân, nên nếu trong trường hợp bất khả kháng hay bất đắc dĩ, quyền lợi cá nhân, mục đích cá nhân buộc phải hi sinh cho quyền lợi, mục đích cần thiết chung trước nhất cho xã hội. Nhưng dầu sao tinh thần hay ý nghĩa xã hội ở đây chỉ mang chất tự nguyện, tự giác, tự do, nếu cần thì có hệ thống quản lý bằng pháp luật can thiệp, uốn nắn, không lệ thuộc bất kỳ một cá nhân hay nhóm cá nhân nào riêng biệt cả, không ai bị hi sinh vô lý hay ngược lại nguyện vọng của họ cả, không ai bị ép uổng một cách độc tài, độc đoán, và bị cưỡng chế duy chỉ bằng bạo lực một cách máy móc hay thô thiển cả. Tinh thần và ý nghĩa xã hội như thế rõ ràng là tự giác, tự phát, tự do, tự nguyện, nó mang tính chất cá nhân hay tập thể, nhưng chắc chắn không có tính cơ chế máy móc, giả tạo, hoặc phản tự nhiên như thế nào đó của toàn thể xã hội cả. Tinh thần xã hội, như vậy chính là tinh thần xã hội của một xã hội tự do, không khiên cưỡng, không độc đoán, không toàn trị.
Nhưng từ khi xuất hiện học thuyết Mác từ khoảng 1884, rồi Lênin đưa vào áp dụng ở Nga năm 1917, thành lập nên nhà nước Liên Xô thuở ấy, chủ nghĩa xã hội được bắt đầu hiểu theo nghĩa khác. Chủ nghĩa xã hội tức là chủ nghĩa Mác Lênin mà không là gì khác. Có nghĩa theo lý thuyết đó, chủ nghĩa xã hội hay XHCN, chỉ là giai đoạn đầu để đi tới chủ nghĩa cộng sản. Thời kỳ chuyển tiếp giữa hai thực tế xã hội đó được gọi là thời kỳ quá độ. Trước đây có người cho thời kỳ quá độ đó là vài chục năm, vài trăm năm, có người còn hăng hái nói đến cả một ngàn năm hay hơn thế nữa. Bởi xã hội CS theo Mác, đó là xã hội mà con người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Ở đó không còn nhà nước, không còn giai cấp, không còn tiền tệ, không còn mọi cơ chế tổ chức xã hội kiểu cổ điển thông thường, con người được giải phóng hoàn toàn, lao động một cách tự nguyện hoàn toàn. Tất nhiên ai cũng thấy đây là một ảo tưởng, một điều phản lịch sử, phản tự nhiên, phản khách quan, nhưng Mác lại chủ quan tin tưởng tuyệt đối, mà theo ông là xã hội hoàn toàn vô sản, không còn quyền sở hữu cá nhân, chỉ còn quyền sở hữu xã hội. Thực chất, ông tin tưởng như thế vì ông tin tưởng tuyệt đối vào quy luật biện chứng thực tại do nhà triết học Hegel sống trước ông vài thế hệ đưa ra. Ông tự cho rằng mình lật ngược Hegel lại, nên nếu không có Hegel, ông cũng thừa nhận không thể có lý thuyết của ông, tức không thể có chủ nghĩa cộng sản khoa học, vì theo Mác phép biện chứng của Hegel đưa ra chính là nền tảng tuyệt đối cho khoa học. Ông cũng còn nói nguồn gốc của bóc lột là do sự hữu sản, là do giai cấp. Tiến đến vô sản hóa, cũng có nghĩa là xóa hết giai cấp, xóa hết bóc lột.
Bây giờ nói lại chuyện này có thể nhiều người cho là dư thừa, vô bổ. Nhưng thời của các ông Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Giàu, Trường Chinh, Trần Đức Thảo … hoặc nói chung mọi thế hệ được đào tạo ngắn ngày theo những cách khác nhau từ Liên xô khi ấy về, đều cho đó là chân lý tuyệt đối duy nhất đúng, tuyệt đối đúng, của lịch sử xã hội loài người. Nói cách cụ thể hơn, chủ nghĩa xã hội theo Lênin chính là chủ nghĩa tập thể. Tức là nền kinh tế tập thể, và một cơ chế hoạt động xã hội hoàn toàn tập thể. Nền kinh tế tập thể tức nền kinh tế hoàn toàn kế hoạch hóa, chỉ có tư bản nhà nước, không còn tư sản, chỉ được lãnh đạo và quản lý bởi cơ chế nhà nước, và của các công nông trường tập thể, các hợp tác xã tập thể, thế thôi. Thời bấy giờ ở LX đã có bao nhiêu chủ trương, lý thuyết, bao nhiêu biện pháp thực tế khác nhau, nhưng tựu trung cũng để thích nghi, để chỉnh sai, và cũng để chỉ gò vào đó sao cho ăn khớp hay hoàn toàn đúng với quan điểm, chủ trương, và đường lối của học thuyết Mác. Cao trào mạnh mẽ nhất của việc kết hợp kinh tế tập thể và xã hội tập thể, được thực hiện toàn diện nhất là trong thời kỳ Stalin cầm quyền chính, và sau này người ta hiểu một cách toàn diện và rõ rệt ra, đó là kiểu cách một xã hội toàn trị.
Trong xã hội toàn trị như thế đó, tức cả kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đời sống mọi người đều quy vào một mối, là ban lãnh đạo tối cao hay Bộ Chính trị của đảng CS Liên Xô, và nó tạo thành một cơ chế duy nhất tập trung mà không bất cứ một cá nhân nào có thể thoát ly ra được khỏi đó. Tất cả đều phụ thuộc vào Stalin, rồi những người kế tục Stalin lên cầm quyền. Cả một cơ chế toàn trị như thế không thể nào lay chuyển, cho đến khi có Gorbachov xuất hiện, rồi đến Yeltsin, nó mới hoàn toàn sụp đổ và tan rã. Cơ chế toàn trị đó cũng được áp dụng cho toàn khối XHCN trên toàn thế giới, trong đó không loại trừ Trung Quốc và nhiều nước Đông Âu trước kia cũng như nhiều nơi khác. Nhưng hình ảnh toàn trị đến đỉnh điểm cao nhất lại chính là chế độ Khmer đỏ ở Kampuchia mà toàn thế giới trong gần cuối thế kỷ qua đã từng kinh hoàng hay rụng rời vì nó. Nói chung đã là toàn trị thì không ai thoát ra được khỏi nó cả, kể đến những người chóp bu cao nhất cũng đều như thế. Bởi vì nó đã trở thành một có chế xã hội rắn chắc một cách lạnh lùng và khách quan. Nó chuyển động như một cỗ máy mãnh liệt, tàn khốc và nặng nề, thuận theo nó thì sống, ngược lại nó là chết, thế thôi, kể cả người nào đang cầm lái nó cũng như thế. Họ cũng giống như tư thế của những người đã cỡi lên lưng cọp, cứ chễm chệ ra đó thì oai phong, lẫm liệt, huy hoàng, còn chệch ra khỏi đó, hay để bị rớt xuống đất cũng sẽ bị nó ăn mất. Đó là ý nghĩa tại sao nó là một cơ chế tự động, không còn phụ thuộc vào ai cả, chỉ còn phụ thuộc vào một thứ tập thể vô hình, một loại tập thể trong tập thể, và trong đó mọi cá nhân cũng phải thủ lẫn nhau, y như những người đang đấu võ, không ai dám tự tiện để tung chiêu trước, mà luôn phải liếc mắt thăm dò mọi chiêu có thể có tiếp đó của chính đối phương. Thế kẹt của mọi người là như thế, thế kẹt của xã hội, và có khi của toàn thể lịch sử một đất nước, một quốc gia cũng chỉ như thế.
Chính bởi vậy, trong thực tế chủ nghĩa xã hội đã trở thành một thứ chủ nghĩa tập thể vô danh trong thực chất, hay thậm chí nó trở thành như một khía cạnh của cá nhân chủ nghĩa. Bởi vì ai cũng chỉ phải lo phần mình, trong hợp tác xã nói riêng, và trong cả guồng máy quản lý, cầm quyền nói chung cũng vậy. Ai cũng phải làm theo tập thể mà không thể ngược lại. Theo tập thể là sống, ngược lại tập thể là chết. Nhưng tập thể đó chỉ là cái vô hình chung trong thực tế. Nó gần như một cơ chế khốc liệt mà mơ hồ, không cụ thể ở đâu cả. Nó chỉ cụ thể ra như một giáo điều, một lý thuyết, một hệ thống tổ chức đã có của xã hội, thế thôi. Nó được nuôi dưỡng bởi những khẩu hiệu, những danh từ, thậm chí những khẩu hiệu những danh từ luôn luôn chuyển biến và đổi thay theo từng giai đoạn. Nói chung nó phát triển hay biến đổi ra ngoài ý chí của tất cả mọi người. Khi nó chuyển hướng thì có nhiều người nói theo, làm theo, hướng theo, nhưng không biết do đâu nó chuyển hướng, y như những người đi thuyền mà nằm trong khoang kín. Họ không hề thấy được trời đất, trăng sao, không hề quyết định được gì, chỉ xuôi theo dòng chảy của lịch sử khách quan, vậy thôi. Đó là kiểu của làm chủ tập thể mà có thời kỳ người ta bốc lên một cách khoái trá như là một thứ hạnh phúc, một thứ chân lý, một pháp lệnh ở đời. Điều này thật sự từ ngàn xưa, tục ngữ dân gian cũng đã nói, tức kiểu cha chung không ai khóc, có quá nhiều sãi ở chùa cũng chẳng ai lại muốn phải quét lá đa. Chỉ có một chân lý duy nhất là không ai có thể chống đối lại, vì chống đối lại thì ai cũng thấy, và thực sự nó nguy hiểm hoàn toàn. Còn thuận theo nó thì không ai thấy, vì nó hoàn toàn vô danh, giống như một hạt cát chìm sâu trong lòng nước, cứ thế mà được cuốn đi, hay tới lúc những khúc quanh, những xoáy nước nào đó, thì được bốc lên cao, được nằm trên tất cả, chỉ có thế thôi. Đó là quan điểm phải ẩn nhẫn mà chờ thời, một quan điểm hoàn toàn cá nhân chủ nghĩa mà không hề là quan điểm xã hội đúng nghĩa như từ đầu đã thấy. Không ai còn nghĩ đến xã hội, không ai còn nghĩ đến phải làm cách mạng, cho dù mọi người cứ vẫn luôn luôn nói chủ nghĩa xã hội và luôn luôn tung hô, ngợi ca cách mạng.
Thực tế đó là gì, nếu không phải cũng chỉ do nguyên nhân ý thức và bản chất con người. Bản chất con người phần lớn chỉ là bản chất cá nhân. Mỗi cá nhân luôn vẫn là một thực tế độc lập, có quy luật tâm lý bản thân riêng, chịu quy luật tâm lý của xã hội chung mà không là gì khác. Không phải mọi người đều cao cả trên cõi đời này, cũng không phải ai ai cũng tầm thường, thấp kém trên cõi đời này. Đó chính là ý nghĩa của quan niệm xã hội theo đúng nghĩa, ý nghĩa của tinh thần xã hội theo đúng nghĩa, ý nghĩa của quan điểm chủ nghĩa xã hội theo nguyên lý cổ điển theo đúng nghĩa. Chỉ tiếc rằng Các Mác đã đưa ra một quan điểm lập luận chưa từng ai có trong lịch sử. Ông phản đối tư hữu, coi như nguồn gốc của giai cấp và của bóc lột, từ đó để chủ trương vô sản, chủ trương xóa tư hữu. Dựa vào quy luật biện chứng của Hegel đưa ra, ông cho rằng chế độ kinh tế tư bản cuối cũng sẽ tự đào mồ chôn nó, để tiến tới xã hội không giai cấp, không tư hữu, không bóc lột. Niềm tin chắc khừ của Mác chính là như thế. Và sau khi chế độ toàn trị được thiết lập nên, mọi người chỉ có biết nói theo Mác chính là như thế. Không thể ai nói ngược lại. Nói ngược lại, coi như tự thử thách sự tự do, sinh mệnh chính trị, và cả mạng sống của họ. Bởi lẽ đó, nhiều người lại còn luôn ca ngợi chế độ toàn trị là tự do gấp triệu lần, là lương tâm của thời đại, là đỉnh cao của trí tuệ loài người, bởi vì họ chỉ nói theo niềm tin của Mác, nói theo lý tưởng xã hội CS trong tương lai mà Mác đã vạch ra, như thể là một thiên tài, hay chỉ nói theo quyền lợi chính trị và miếng cơm manh áo của họ. Không thể có tư duy hay suy nghĩ độc lập. Mà dầu có cũng không thể nói lên được. Bởi kết quả giáo dục toàn diện ngay từ đầu nó đã mang lại như thế, kết quả của cơ chế xã hội toàn trị nó nhất mực quy định phải như thế.
Thật ra, kinh tế tập thể là kinh tế cảm tính, không phải là cơ chế khách quan, khoa học. Kinh tế tập thể đúng ra chỉ là kinh tế ở bình diện xã hội còn lạc hậu, chưa phát triển. Bởi yếu tố con người chỉ luôn tương đối, thun dãn. Chỉ yếu tố kỹ thuật mới hoàn toàn chính xác, hiệu quả, hiệu năng nhất. Yếu tố kỹ thuật thoát ly ra khỏi mọi tính chất con người. Do đó xã hội văn minh, phát triển, vấn đề không phải là tập thể, mà chính là cơ chế kỹ thuật và khoa học nói chung trong mọi lãnh vực. Toàn thể nền kinh tế một nước, cơ chế một tập đoàn, cơ chế một công ty, xí nghiệp, tổ công tác … cũng chỉ như thế. Tập thể chẳng qua chỉ là cách phối hợp công việc cần thiết và hiệu lực theo nhóm nhỏ, tùy theo tính chất các công việc nhất định, không thể trở như nguyên lý tối hậu của xã hội. Đó chính là một quan điểm kinh tế mang tính chất nông cạn của Mác, nhưng Lênin đã đưa ra áp dụng một cách tuyệt đối, trở thành một tín điều, một bài bản thống nhất sau này mà trong cơ chế như thế không ai có thể dám đi ngược lại. Sự ca ngợi chủ nghĩa tập thể, do đó cũng chỉ là sự ngợi ca giả tạo, nó không mang tính chất khách quan hay khoa học. Thật ra trong xã hội, mỗi cá thể đều tùy theo hoàn cảnh riêng của mình mà tồn tại. Điều đó tùy thuộc rất nhiều yếu tố, chủ quan cũng như khách quan, ngẫu nhiên cũng như tất yếu, cá nhân cũng như xã hội, lịch sử cũng như nhất thời, tâm lý cũng như thể lý riêng biệt, cái hữu hình, cụ thể, cũng như cái vô hình, trừu tượng, cái cá tính cũng như ý chí và nỗ lực của mỗi cá nhân một cách độc lập và tự do. Bởi thế, một quan điểm tập thể theo kiểu cào bằng là hoàn toàn giả tạo, phản tự nhiên, phản hiệu quả. Nói khác, đó chỉ là quan điểm chủ quan, cảm tính, ý chí chủ nghĩa, mà không phải là tính khách quan chủ nghĩa một cách thật sự cần thiết và đúng nghĩa.
Nói chung lại, chỉ có nguyên lý khách quan mới mang ý nghĩa tồn tại và phát triển tự nhiên của cá nhân và xã hội. Mọi cái gì chủ quan, nghĩ tưởng là khoa học, thật ra đó chỉ là cảm tính, phi khoa học và phản khoa học. Có nghĩa nền kinh tế của xã hội là một guồng máy tự phát, cần thiết được điều chỉnh, nhưng không bao giờ là một cơ chế hoàn toàn giả tạo hay tự giác. Tính chất tự phát đó là tính chất của lịch sử và của phát triển. Mọi cá nhân sinh ra đời một cách ngẫu nhiên, mọi cá thể phát triển trong cuộc đời là do điều kiện. Mọi điều kiện đó hoàn toàn phức tạp, không thể định trước, không thể chủ quan, vấn đề chính yếu đúng là như vậy. Cho nên chính mọi cá thể trong tất cả các tính chất riêng của mình tạo thành xã hội mà không là gì khác. Xã hội không phải là bài toán cộng hay trừ, mà là một bài toán nhân hay chia, nên mọi sự đều trở nên có tính tổng thể và phức tạp như thế. Chính đầu vào và đầu ra của toàn nền kinh tế là cái quyết định nhất, nhưng không phải mọi bài toán phải được tính toán một cách chủ quan, máy móc trong đó. Kinh tế thị trường, tự do là kinh tế của khuynh hướng đầu. Kinh tế kế hoạch hóa cụ thể, hay toàn trị và bao cấp, là khuynh hướng của quan niệm sau. Và dĩ nhiên thực tại lịch sử trên toàn thế giới ở nhiều nơi đã chứng minh rõ rệt hoàn toàn về điều đó. Một nền kinh tế tư bản tư nhân nhưng có sự điều chỉnh của nhà nước, đó là một nền kinh tế khôn ngoan và có kết quả. Trái lại, một nền kinh tế tập thể kiểu ấu trĩ, hay một nền kinh tế toàn trị kiểu tư bản nhà nước, thực sự chỉ là kiểu giáo điều, máy móc, thiếu thực tế, không khôn ngoan, phi thực chất, phi hiệu quả, và thật sự hoàn toàn vô lý.
Vậy kết luận, thực chất Các Mác không hề là một nhà tư tưởng lớn. Hệ thống tư tưởng của ông ta chỉ mang tính chất vá víu, không có chiều sâu, không có thực tế. Ông chỉ lấy tư tưởng người này, người khác, chắp vá lại và trở thành tư tưởng của ông thế thôi. Tính chất hời hợt, nông cạn, bốc đồng, nhưng lập dị hay quái dị của ông ta, khiến nhiều người vốn trở nên á khẩu, vì bàng hoàng và hốt hoảng, vì mặc cảm tự ti, hay mặc cảm tội lỗi. Nhiều người không thể phê phán ông là do như thế. Nhất là khi xã hội toàn trị đã được lập nên, mọi sự phê phán học thuyết của ông đã trở thành tê liệt, mọi sự nhận thức về ông đã trở thành lú lẫn. Nhiều người ngày nay mới giật mình khi thấy Nghị viện châu Âu ra quyết định công khai phủ nhận học thuyết Mác. Nên họ mới thấy chính đó là ý nghĩa hay yêu cầu của sự phê phán học thuyết đó. Tuy nhiên, những người nào có đầu óc minh mẫn, có trí thông minh cơ bản nhất, có ý thức khách quan, ngay thẳng, đều có thể nhận thức và phê phán lý thuyết của ông ngay từ ban đầu, không phải chờ tới ngày nay mới biết. Sở dĩ rất nhiều người đã bị khiếp phục trước Mác là vì học thuyết của ông nhân danh sự giải phóng nhân loại. Đó là vầng hào quang quá lớn, một lý tưởng quá cao cả, một sự hấp dẫn quá vinh quang về mặt đạo đức, khiến cho người ta không còn khách quan và bình tĩnh. Nhưng thực tế, thì xã hội toàn trị do chính chủ thuyết của ông mang tới đã thật sự cho thấy điều hoàn toàn ngược lại. Nó nhân danh một thứ tự do, dân chủ mới, mà thực sự không hề có bản chất tự nhiên, khách quan, cụ thể, để nhằm tận diệt hay thay thế hẵn cho quan điểm tự do, dân chủ hoàn toàn cần thiết, tự nhiên, khách quan và cụ thể. Đó là do chính Mác cho rằng chỉ có tự do, dân chủ theo hướng vô sản mới thật sự là tự do, dân chủ đúng đắn, lý tưởng nhất. Còn ngược lại, kiểu tự do, dân chủ sau, chỉ nhồi chung vào một giỏ rác khổng lồ theo ông, là tự do, dân chủ theo kiểu tư sản, của bọn tư bản. Đấy, cái lý nguyên thủy của vấn đề cũng chỉ là ý nghĩa của “vô sản” hay “tư sản”. Điều này, nhiều lần tác giả bài này đã nói đến rồi. Nên những người nào đang đấu tranh cho dân chủ, tự do ngày nay ở khắp mọi nơi trên thế giới theo hướng như thế, thực chất cũng đều không ra khỏi, hay cũng chỉ nằm chung trong một phạm trù duy nhất giống như thế mà thôi.
© Võ Hưng Thanh

0 nhận xét:

Đăng nhận xét