Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

Quốc tế hóa doanh nghiệp

Phan Văn Trường

Phan Văn Trường Giáo sư, Chuyên gia cao cấp đàm phán quốc tế


Cách đây một tuần, một số lãnh đạo của doanh nghiệp lớn trong nước hỏi tôi: “Thế nào là quốc tế hóa doanh nghiệp? Muốn quốc tế tập đoàn họ phải làm gì?".
Chắc hẳn họ chờ tôi khuyên, cần khuyến khích nhân viên học ngoại ngữ, rồi chịu khó mướn người nước ngoài vào tăng cường và cuối cùng mở một số công ty con hay chi nhánh tại nước ngoài, bắt đầu bằng những nước trong khu vực. Tất nhiên bạn phải học ngoại ngữ rồi vì nếu không có chung một ngôn ngữ với đối tác nước ngoài, việc kinh doanh có thể trở thành ác mộng. Nhưng ngoại ngữ chỉ là một góc cạnh nhỏ thôi.
Quốc tế hóa phải thể hiện trước nhất qua phong cách, không “khớp” khi được yết kiến Vua Bhumibol của Thái Lan hay Đại sứ Đức, không luộm thuộm khi đọc diễn văn khai mạc tại New York, không dúm dó khi dự sinh nhật Bill Gates… Bạn cần biết rõ phải tới sớm hay muộn tại một bữa tiệc hay cầm tay những món quà, lẵng hoa, giỏ trái cây gì khi đi tham dự đám cưới con của đối tác tại Venezuela. Tất cả những dịp đó đều là lúc người ta được xem phong cách của ta.
Nhưng hơn thế nữa, đối tác chuyên nghiệp sẽ đánh giá chúng ta qua rất nhiều tiêu chuẩn. Tôi chỉ nêu lên những cái chính yếu mà người Việt Nam còn coi nhẹ và thường hay mắc phải.
Một là về pháp lý. Ít dân tộc nào giống như Việt Nam coi pháp luật là dụng cụ phục vụ mỗi cá nhân một cách tùy tiện, cứ cái thói “đường tôi, tôi đi”, không đụng xe thì đâu có vấn đề gì. Khi sang Malaysia bạn sẽ hiểu thế nào là tính nghiêm minh của pháp luật. Người dân tôn trọng luật chung, không nghĩ bao giờ đến chuyện phá luật. Tôn trọng pháp luật đã cho phép Malaysia tiến xa hơn nhiều quốc gia. Họ đã đặt ưu tiên vào trật tự và sự tôn trọng luật chung, nhờ thế người dân của họ dù chậm rãi thong thả mà vẫn dẫn nước của họ lên hàng đầu khối ASEAN.
Hai là coi thường rủi ro. Ít dân tộc nào coi thường rủi ro như chúng ta. Câu thường được nghe: “Ngày nào tôi cũng trèo rào có bao giờ sao đâu?”. Thế nhưng ngày nào trên báo chí cũng được chứng kiến nhiều trường hợp tử vong khó giải thích. Trên mặt trận kinh tế, mỗi năm có vô số doanh nghiệp giải thể vì đã lấy quá nhiều rủi ro vào mình. Liều lĩnh thể hiện qua những cuộc thế chấp tín dụng, những quyết định quá lạc quan nếu không nói là phiêu lưu hay liều lĩnh. Ác nghiệt hơn là hậu quả của những cuộc rủi ro gây thiệt hại gián tiếp cho biết bao nhiêu người chung quanh dù không liên quan trực tiếp.
Ba là suy nghĩ tạm bợ. Tôi không đếm hết những cơ hội được nghe ngoài xã hội nói với nhau như thế này: “Thôi, cứ làm tạm vậy đi cho xong, ngày mai tính lại…”. Và cứ như thế, xã hội theo nhau chôn vùi tính bền vững và quay ra ca tụng tài ba của những con người biến báo, lấp liếm chỉ vì họ rất giỏi đưa ra những giải pháp tạm bợ.
Tạm bợ càng phổ biến thì hậu quả là ngày hôm sau chúng ta cũng lại phải giải quyết lại những bài toán ngày hôm qua không được giải quyết ổn thỏa, rốt ráo.
Người Việt chúng ta thường có khuynh hướng tạm bợ, giống như thói quen đóng đinh treo lịch, đóng đinh treo quần áo, đóng đinh treo tranh ảnh…, đóng đinh miệt mài bất kể thứ gì cho đến lúc đinh rơi và bức tường gạch bong tróc vôi vữa với lỗ chỗ các vết đinh dày đặc. Chúng ta không thực sự tôn trọng sự bền vững. Chúng ta không hiểu thế nào là bước đi chắc chắn. Trong làm ăn kinh doanh, không có gì tốn kém bằng óc tạm bợ. 
Bốn là quản lý thời gian kém cũng là điểm yếu của chúng ta. Ngày giờ họp thay đổi liên miên và không có kế hoạch, cái suy nghĩ giờ của tôi kệ tôi là một thái độ thiếu văn hóa cộng đồng. Những chuyến bay bị hủy vào phút chót, rồi đăng ký lại làm cho bao nhiêu người “đằng sau” phải bố trí lại lịch trình, phí phạm thời gian và tiền bạc rất nhiều nhưng nhân vật chính vẫn không thực sự ý thức được rõ ràng.  
Năm là chúng ta không thích thảo luận và nói chung không bỏ đủ thời giờ để tìm hiểu, làm quen những phong cách chuẩn mực của thế giới. Người Âu, nhất là người Pháp rất thích thảo luận, trong những dịp gặp gỡ với những người không quen, người Pháp thích nghe những ý kiến khác, những cách lý luận khác, những cách nhìn vấn đề khác. Họ cho thế là một sự hiếu kỳ cần phải có. Người Việt chúng ta ít khi ở lâu trong đám đông, ít khi mạnh dạn xấn tới người chưa quen để tự giới thiệu và chia sẻ những ý nghĩ của mình với những người này. 
Sáu là không thích làm việc nhóm. Làm việc nhóm là chìa khóa của sức sáng tạo, của sự thành công. Ngày nay, không một dự án hay công trình nghiên cứu nào có thể làm một mình từ A đến Z. Chiếc iPhone là kết quả của sự cộng tác chặt chẽ của bao nhiêu sự đóng góp từ trí sáng tạo đến công nghệ sản xuất của rất nhiều cá nhân cùng làm việc với nhau. Chìa khóa làm việc nhóm đem tới kết quả là khả năng kiểm soát tự ái và khả năng phóng thích được óc hiếu kỳ.
Sang Mỹ hay một số nước châu Âu bạn sẽ hiểu được thực sự làm việc nhóm như thế nào. Hàng chục người ngồi hàng chục giờ làm việc với nhau, mở to mắt và căng tai nghe các đối tác khác phát biểu, sẵn sàng phản biện tích cực, tự ái chôn vùi thật sâu trong túi và chỉ làm việc với lý trí và lòng cương quyết cùng đi tìm chân lý. Bảo rằng họ nhẫn nại thì không đúng, vì nhẫn nại đã có nghĩa sẵn là chẳng lý thú gì. Không! Họ thực sự thích thú những giây phút ngồi làm việc miệt mài với nhau. Giá mà chúng ta cũng thích làm việc nhóm cũng như khi chúng ta ngồi nhậu giữa bạn thân thì khả năng tập thể của chúng ta sẽ nhân lên biết bao. 
Bảy là “chí phí của bạn không phải là của tôi”. Đây là một thái độ chúng ta thường có nhưng ở Nhật Bản hay các nước Tây Âu họ không như thế. Ví dụ, bạn tưới cây vườn nhà nhưng để nước chảy quá lâu, hàng xóm bên châu Âu sẽ chủ động sang nhà bạn tắt nước và sẽ nhắc nhở bạn lần sau nhớ đừng để quên nước chảy. Nếu bạn phá một ngôi nhà cổ (như nhà xây thời Pháp ở quận 3, TP HCM) để biến nó trở thành một quán nước bình dân, hàng xóm và thậm chí cả cộng đồng chung quanh nhà sẽ ngăn cản bạn làm chuyện đó nếu như bạn ở các xứ văn minh hơn. Lý do là cho dù bạn sở hữu những thứ bạn phá đi, bạn cũng vẫn phá đi một di sản công cộng được tạm giao vào bàn tay của mình. Khi bạn để nước chảy cho dù bạn trả tiền nước, bạn vẫn phí phạm một tài nguyên của tập thể. Tinh thần tập thể là một cái gì chúng ta còn phải học nhiều.
Trở lại đề tài quốc tế hóa doanh nghiệp, theo tôi không phải chỉ là đi làm dự án hay mua công ty ở nước ngoài, không phải chỉ là một việc biết xì xồ tiếng Anh hay tiếng nào khác. Quốc tế hóa là san bằng văn hóa của doanh nghiệp của bạn khi so sánh với các công ty toàn cầu, là làm cho nhân viên của mình có đủ kiến thức và văn hóa để có thể hoạt động khắp năm châu với một ít nhiều thoải mái. Quốc tế hóa là biến công ty của chính mình trở thành nơi mà các chuyên viên nước ngoài vào làm việc mà cảm thấy không lạc lõng, biến nhân viên của mình trở thành một loại công dân toàn cầu, làm việc với một phong cách toàn cầu trong thế giới phẳng ngày hôm nay. Nói nôm na là không còn luộm thuộm co ro nữa. Khi nào cộng đồng nước ngoài nhìn nhân viên của chúng ta không còn thấy người Việt Nam mà chỉ thấy một doanh nhân toàn cầu thì đúng vào lúc đó chúng ta có thể nói chúng ta đã quốc tế hóa rồi.
Tóm lại, quốc tế hóa mà không cần thấy bóng của người nước ngoài cũng như đầu tư ra khu vực, thế mới là một việc đáng ngạc nhiên.
Phan Văn Trường

Danh sách 18 thực phẩm chống ung thư bà nội trợ nào cũng cần

Danh sách 18 thực phẩm chống ung thư bà nội trợ nào cũng cần

Bạn có thể ngăn ngừa ung thư với một chế độ ăn uống lành mạnh. Có được danh sách các thực phẩm chống ung thư dưới đây, bạn sẽ loại bỏ được nỗi lo về căn bệnh này.

Ung thư là một căn bệnh đáng sợ đang ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta trong thập kỷ qua. Nhưng bạn có thể ngăn ngừa ung thư với một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên và luôn thấy yêu đời.
Chúng tôi xin giới thiệu tới các bạn 18 loại thực phẩm có đặc tính chống ung thư.
Bắp cải
Danh sách 18 thực phẩm chống ung thư bà nội trợ nào cũng cần 1
Bắp cải là một loại rau làm cho bạn mạnh mẽ hơn và được xem là rau thuốc. Hợp chất Indole-3-carbinol có trong bắp cải ngăn chặn sự phát triển của bệnh ung thư vú. Indole-3-carbinol chuyển đổi các ảnh hưởng có hại của estrogen thành một hợp chất hữu ích.
Súp lơ
Bên cạnh bắp cải, các loại rau họ cải khác là súp lơ là thực phẩm chiến đấu lại bệnh ung thư. Súp lơ có thể lại chống ung thư bàng quang, ung thư vú, ung thư ruột kết, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư buồng trứng. Súp lơ giúp cơ thể giải độc, nó là một chất chống oxy hóa và nó có đặc tính kháng viêm.
Nấm
Nấm rất giàu vitamin B và sắt. Nó cũng được biết đến có khả năng chống lại bệnh tiểu đường, ngăn ngừa các khối u, chống oxy hóa, chống dị ứng, chiến đấu cholesterol và tăng khả năng miễn dịch.
Bông cải xanh
Danh sách 18 thực phẩm chống ung thư bà nội trợ nào cũng cần 2
Sulforaphane có trong rau họ cải như bắp cải, súp lơ và bông cải xanh có thể chống ung thư. Hợp chất này giúp ngăn ngừa sự phát triển của khối u.
Cà rốt
Beta carotene và falcarinol được tìm thấy trong cà rốt giúp chống ung thư. Tiêu thụ cà rốt có thể chống lại các bệnh ung thư như: ung thư phổi, ung thư miệng, ung thư cổ họng, ung thư dạ dày, ung thư ruột, ung thư bàng quang, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú.
Khoai lang
Polyphenol chất chống oxy hóa axit caffeic và tri-caffeoylquinic acid có trong khoai lang giúp chống ung thư như ung thư phổi, ung thư mật, ung thư thận, ung thư gan và ung thư vú.
Bưởi
Bưởi được được biết có khả năng chống lại bệnh tiểu đường và thúc đẩy giải độc trên cơ thể. Nó cũng là một trong những thực phẩm chiến đấu lại ung thư đại tràng. Flavonoid trong bưởi làm chậm quá trình sản xuất ra tế bào ung thư.
Nho
Danh sách 18 thực phẩm chống ung thư bà nội trợ nào cũng cần 3
Các nghiên cứu đã chứng minh nho là thực phẩm chiến đấu chống lại ung thư. Nhưng điều quan trọng cần lưu ý hạt nho chứa proanthocyanidins hóa chất giúp chống lại ung thư ruột kết, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú .
Cà chua
Cà chua là một nguồn cung cấp vitamin A, C, và E và hợp chất chống ung thư là lycopene. Chất chống oxy hóa này giúp chống lại các gốc tự do và các tế bào ung thư. Vitamin C trong cà chua giúp ngăn ngừa tổn thương tế bào có thể dẫn đến ung thư. Cà chua là thực phẩm tuyệt vời để chống lại ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư miệng, ung thư tuyến tụy và ung thư ruột kết.
Mâm xôi, dâu tây
Quả mâm xôi và dâu tây có chứa chất chống oxy hóa có thể chống lại tế bào ung thư đặc biệt là ung thư dạ dày, ung thư ruột kết và ung thư vú. Acid ellagic có trách nhiệm để ngăn ngừa ung thư da, bàng quang, phổi và thực quản.
Đu đủ
Đu đủ có chứa các hợp chất beta carotene và lycopene rất hiệu quả trong cuộc chiến chống các gốc tự do. Isothiocyanates từ đu đủ cũng bảo vệ các tế bào di căn thành ung thư. Do đó điều này làm cho đủ đủ trở thành “superfood” chống lại ung thư.
Cam và chanh
Danh sách 18 thực phẩm chống ung thư bà nội trợ nào cũng cần 4
Những thực phẩm này có chứa limonene giúp tăng khả năng miễn dịch giết chết các tế bào ung thư. Cam và chanh là một cách tuyệt vời để chống lại các gốc tự do.
Hạt lanh
Hạt lanh có thể ngăn chặn sự phát triển và lây lan của các tế bào ung thư. Hạt lanh giúp tránh được ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú.
Tỏi
Tỏi có thể làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày, ung thư ruột kết, ung thư thực quản, ung thư tuyến tụy và ung thư vú.
Nghệ
Danh sách 18 thực phẩm chống ung thư bà nội trợ nào cũng cần 5
Curcumin trong củ nghệ là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ làm chậm lại sự phát triển và lây lan của bệnh ung thư.
Trà xanh
Trà xanh có thể được dùng để tăng tốc độ trao đổi chất và giảm cân. Trà xanh cũng có thể ngăn chặn sự lây lan của bệnh ung thư.
Sản phẩm đậu nành
Một số chất có trong đậu nành có liên quan với việc giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú. Bên cạnh chống ung thư các sản phẩm đậu nành có thể giúp chống lại cholesterol xấu và huyết áp cao .
Dưa hấu
Lycopene có mặt trong cà chua cũng được tìm thấy trong dưa hấu. Lycopene là một hợp chất có thể chống ung thư.
theo Dân Việt

Tạ Phong Tần: Hà Nội đã sai lầm khi thả tôi ra khỏi tù

Hiệu trưởng trường trung học (thuộc xã Tiến Xuân, Thạch Thất, Hà Nội) chết trong tư thế treo cổ tại nhà riêng

Khi người thân trở về nhà thì bàng hoàng phát hiện ông T. treo cổ. Ông được đưa đi cấp cứu nhưng đã chết trước đó.

Tin ban đầu, khoảng 15 giờ ngày 29-10, người thân trong gia đình ông Cấn Văn T., hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Tiến Xuân (thuộc xã Tiến Xuân, Thạch Thất, Hà Nội) đi ra ngoài về thì phát hiện ông T. treo cổ trong nhà.
Ông T. nhanh chóng được gia đình đưa đi cấp cứu nhưng vị hiệu trưởng này đã chết trước đó.

1-589d5
Trường THCS Tiến Xuân nơi ông T. công tác.
Đại tá Phạm Danh Mạnh - Trưởng Công an huyện Quốc Oai xác nhận địa bàn vừa xảy ra vụ việc trên. Nguyên nhân ban đầu được xác định là ông T. chết do treo cổ tự tử.
Ông T. có hộ khẩu thường trú và công tác tại xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất nhưng hiện đang thuê nhà và ở cùng vợ con tại xã Đông Xuân, Quốc Oai.
 
Theo Công an TP HCM

Máy bay Nga áp sát tàu sân bay Mỹ tại Biển Nhật Bản

30/10/2015

   Một hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ sáng ngày 29/10/2015, đã phái bốn chiến đấu cơ cất cánh để nhận dạng và áp tải máy bay Nga, hoạt động cách chiếc tàu nói trên khoảng một hải lý. Phía Hoa Kỳ đã cố gắng liên lạc với các phi công Nga nhưng không được.

Máy bay Nga áp sát tàu sân bay Mỹ tại Biển Nhật Bản
Vào tháng 9/2004, phi cơ chiến đấu của Anh cũng đã phải bay lên để "tiễn" máy bay ném bom của Nga ra khỏi không phận nước này. Ảnh Bộ Quốc phòng Anh
Theo ông Jeff Davis, người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Mỹ, hai máy bay tuần tiễu và săn tàu ngầm TU-142 Bear của Nga, bay ở độ cao "khoảng 500 bộ", tương đương 150 mét.
Không có gì cho thấy hai phi cơ nói trên là "một đe dọa trực tiếp", nhưng việc tàu sân bay USS Ronald Reagan đưa bốn chiến đấu cơ F/A 18 lên là một phản ứng bắt buộc, để bảo đảm an toàn cho tàu sân bay, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh, theo RFI.
Về phần mình, người phát ngôn của Nhà Trắng, Josh Earnest, cho biết rõ sự cố trên xảy ra đúng vào lúc hải quân Hoa Kỳ và Hàn Quốc đang tập trận phối hợp. Ông cho biết thêm chính máy bay Hàn Quốc đã phát hiện được máy bay Nga.
Tuy nhiên, phát ngôn viên Nhà Trắng cũng khẳng định vụ việc này xảy ra trong không phận quốc tế, hoàn toàn không giống với vụ phi cơ Nga xâm phạm không phận Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước vùng Baltic gần đây.
Trong thời gian qua, liên tục có các vụ phát hiện máy bay quân sự của Nga tại Châu Âu, sau khi căng thẳng dâng cao giữa Nga và Phương Tây, tiếp theo vụ Nga sáp nhập bán đảo Crimea và xung đột tại khu vực miền đông Ukraine thân Nga.
Phi cơ quân sự Nga và Hoa Kỳ cũng từng nhiều lần bay sát nhau trên bầu trời Syria, sau khi Nga mở chiến dịch không kích, ngày 30/09/2015.
Hôm 10/10/2015, Washington và Moscow đã ký một văn bản ghi nhớ nhằm xây dựng các thể thức trao đổi thông tin tránh để các va chạm có thể bùng nổ thành đụng độ quân sự.
TRỌNG THÀNH

Chiến thuật ‘biển tàu’: Vũ khí lợi hại của Bắc Kinh ở Biển Đông?

00:00 31/10/2015

Từng nổi tiếng với chiến thuật "biển người" trên bộ, phải chăng Trung Quốc sẵn sàng sử dụng hình thức "biển tàu" tại Biển Đông để ngăn chặn Mỹ?

Chiến thuật ‘biển tàu’: Vũ khí lợi hại của Bắc Kinh ở Biển Đông?
Một đội tàu cá Trung Quốc ở cảng Đông Phương, Hải Nam. Ảnh Reuters
Câu hỏi này đang được giới phân tích đặt ra vào lúc Washington khẳng định sẽ tiếp tục các chiến dịch tuần tra vì quyền tự do hàng hải, đi sâu vào bên trong vùng mà Trung Quốc cho là lãnh hải của họ tại Biển Đông, bất chấp quy định ngược lại của luật lệ quốc tế, theo RFI.
Khi thực hiện chiến dịch tuần tra bên trong vùng 12 hải lý bao quanh đảo nhân tạo Xu Bi (Subi Reef) - và cả đảo Vành Khăn (Mischief Reef), theo một số nguồn tin – tàu khu trục USS Lassen của Mỹ hầu như không gặp một sự cản trở nào.
Thế nhưng, với việc Washington cho biết là sắp tới đây, họ sẽ tiếp tục tiến hành những chiến dịch tương tự, nhiều nhà quan sát cho rằng Bắc Kinh sẽ không ngồi yên.
Một trong những chiến thuật mà Trung Quốc có thể viện đến là sử dụng đội tàu đông đảo của họ, cả quân sự, và nhất là bán quân sự để bao vây và cản đường tàu Mỹ, buộc đối phương phải thối lui nếu không muốn gây ra sự cố.
Thua về chất lượng, nhưng hơn hẳn về số lượng
Theo hãng tin Anh Reuters, Sam Bateman, một sĩ quan hải quân Úc đã về hưu, hiện là cố vấn cho Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore, cho rằng dù về tinh nhuệ và hiện đại, tàu Trung Quốc còn kém tàu Mỹ, nhưng không nên coi thường vấn đề số đông.
"Ở bất kỳ thời điểm nào, họ (tức là Trung Quốc) đều có số đông... và số lượng, chứ không phải chất lượng, có thể mang tính chất quan trọng trong một số tình huống", bao gồm cả việc đối đầu với những kẻ bị cho là xâm nhập vào vùng biển của mình.
Chuyên gia Bateman và nhiều nhà phân tích an ninh khu vực khác đã cho rằng các chiến hạm Mỹ có thể lâm vào tình thế bị tàu Trung Quốc bao vây nếu Bắc Kinh quyết định ngăn chặn các chiến dịch tuần tra vì quyền tự do hàng hải trong tương lai.
Trên báo chí Trung Quốc, một số chuyên gia phân tích đã gợi lên khả năng tàu Trung Quốc cản đường, thậm chí đâm thẳng vào tàu chiến của Mỹ. Theo chuyên gia Bateman, vấn đề là tàu Mỹ vì tôn trọng các quy tắc hành xử trong các trường hợp đó, sẽ không thể nổ súng ngăn chặn, làm cho tình hình xấu đi, và chỉ còn cách rút lui.
Tình hình có thể rắc rối hơn cho Mỹ nếu lực lượng Trung Quốc ra ngăn chặn không phải là tàu quân sự, mà là tàu tuần duyên, trên nguyên tắc thuộc diện bán quân sự, hay chỉ là tàu cá của lực lượng dân quân biển rất đông của Trung Quốc.
Đã từng dùng số đông ở Biển Đông
Kịch bản kể trên không phải là một điều không tưởng, vì có nhiều dấu hiệu cho thấy là Trung Quốc đã tính đến khả năng dùng số đông để áp đảo đối phương, đặc biệt là tại vùng Biển Đông.
Theo một công trình nghiên cứu của Lầu Năm Góc công bố vào tháng Tư vừa qua, với 116 chiếc tàu đủ loại, Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc phụ trách Biển Đông, là hạm đội lớn nhất so với hai hạm đội còn lại của nước này là Bắc Hải và Đông Hải.
Hạm đội 7 của Mỹ, tuy rất hùng mạnh, chỉ có vỏn vẹn 55 tàu, đặt căn cứ ở Yokosuka, Nhật Bản. Ngoài ra, hạm đội này không chỉ tập trung ở vùng Đông Nam Á như Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc, mà phải trải rộng hoạt động từ Tây Thái Bình Dương qua một phần lớn của Thái Bình Dương.
Bên cạnh đó, Trung Quốc còn có một đội tàu tuần duyên hùng hậu trong đó có hơn 200 chiếc trên 500 tấn, bao gồm nhiều chiếc trên 1.000 tấn. Về số lượng, đội tàu bảo vệ bờ biển của Trung Quốc đã hơn gấp bội tổng cộng các đội tàu của tất cả các đối thủ châu Á gộp lại. Hơn nữa, như tạp chí quốc phòng Anh IHS Jane từng tố cáo hồi tháng 7 vừa qua, Bắc Kinh rõ ràng đã và đang tiếp tục chuyển đổi tàu hải quân thành tàu bảo vệ bờ biển.
Trong thời gian qua, đội tàu này đã được Bắc Kinh tung vào mọi chiến dịch áp đặt chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, từ vụ mặc nhiên chiếm bãi Scarborough từ tay Philippines vào năm 2012, cho đến vụ bảo vệ giàn khoan HD-981 cắm trong vùng biển Việt Nam năm 2014.
Như đã ý thức được sự lợi hại của số lượng tàu Trung Quốc đông đảo, Bộ trưởng Bộ Hải quân của Mỹ, ông Ray Mabus trong những năm gần đây, đã xem việc tăng cường số lượng tàu trong Hải quân Mỹ là một ưu tiên. Trong nhiều bài phát biểu, ông Mabus khẳng định: "Số lượng cũng có giá trị riêng của nó".
TRỌNG NGHĨA

Tường trình 2015 của cơ quan ân xá quốc tế về Việt Nam

Lược dịch Trần Huê 
 
 Các biện pháp khắc nghiệt nhằm giới hạn quyền tự do ngôn luận, quyền tự do hội họp bất bạo động, quyền tự do lập hội vẫn được duy trì. Nhà nước tiếp tục kiểm soát toàn bộ hệ thống truyền thông lẫn ngành tư pháp và các cơ sở tôn giáo, mọi cơ cấu chính trị. Nhiều tù nhân lương tâm vẫn bị giam giữ trong điều kiện khắc nghiệt mà trong những năm trước đây họ đã bị kết án qua các phiên tòa không công bằng. Các tù nhân lương tâm này là Blogger, là thành viên nghiệp đoàn, các nhà hoạt động chống việc chiếm nhà đất phạm pháp, những người dân hoạt động xã hội, chính trị, các tín đồ tôn giáo, người sắc tộc và những nhà tranh đấu đòi nhân quyền.

Ảnh minh họa
Thêm vào đó, nhiều Blogger và các nhà bảo vệ nhân quyền vẫn còn bị bắt bớ và đưa ra tòa. Chính quyền dùng mọi cách cản trở, gây khó khăn, canh chừng và giới hạn sự đi lại để giảm thiểu sự hoạt động của các nhóm xã hội dân sự bị ngăn cấm. Lực lượng công an làm khó dễ, ngăn cản hoạt động của các nhà hoạt động ôn hòa, hành hung những người này và tạm bắt giữ họ. Tội tử hình còn giữ nguyên cho nhiều tội phạm khác nhau.
Tình hình chung:

Từ tháng giêng năm 2014 Việt Nam được bầu vào Ủy ban nhân quyền LHQ cho nhiệm kỳ 3 năm. Đến tháng 6, VN chối bỏ 45 trong số 227 khuyến cáo do Nhóm làm việc đề ra trong lần Kiểm điểm thường kỳ phổ quát hồi tháng 2. Trong số này,các khuyến cáo quan trọng nhất liên quan đến những người bảo vệ nhân quyền và những người bất đồng chính kiến cũng như về quyền tự do ngôn luận và về tội tử hình.
Vào tháng 5 2014, vấn đề tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông leo thang sau khi Trung Quốc đem một giàn khoan dầu vào hải phận mà VN cũng coi là thuộc chủ quyền của VN. Sự việc này đã làm dấy lên một làn sóng chống TQ, có hàng chục ngàn công nhân tham dự tại các khu công nghiệp ở nhiều tỉnh thành ở Miền Nam và Trung VN.
Trong vụ này nhiều nhà máy sản xuất thuộc các công ty TQ đã bị đập phá, bị làm hư hại, mất cắp, có cả các công ty Đài Loan, Nhật và Đại Hàn cũng bị liên lụy. Một số người không rõ bao nhiêu đã bị thiệt mạng và bị thương, có khoảng 700 người bị bắt vì đã tham gia vào vụ bạo loạn này.
Vào tháng 2 năm 2014 đại diên của Tổ chức ân xá quốc tế có sang VN để nói chuyện chính thức. Trong chuyến thăm vào tháng 7, báo cáo viên đặc biệt của LHQ về tôn giáo hoặc tự do tín ngưỡng xác nhận có những dấu chỉ vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng.
Chẳng hạn, đã có những vụ cảnh sát ruồng bố và phá rối các buổi hành lễ tôn giáo. Tín đồ bị đánh đập và đã xãy ra những vụ hành hung tín hữu thuộc các giáo hội độc lập. Một vài nhân sự được mời gặp mặt bị đe dọa, bắt chẹt, làm khó dễ đủ điều và bị canh chừng
Những sự phát triển của các cơ cấu, luật lệ và hiến pháp
Hiến pháp được biểu quyết hồi tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực vào năm 2014. Trước đó, một tiến trình bàn thảo hiến pháp đã kéo dài 9 tháng liền và bị nhiều bó hẹp. Hiến pháp này trù liệu vấn đề bảo vệ các quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp ôn hòa và quyền tự do lập hội. Tuy nhiên, các quyền nói trên lại bị giới hạn rất nhiều bởi các điều chế tài rất co giãn và mơ hồ qua các đạo luật của nhà nước. Hiến pháp chỉ bảo đảm có giới hạn quyền được hưởng xét xử công bằng trước tòa án..
VN ký Quy ước chống tra tấn của LHQ hồi tháng 11/ 2013 và tiếp theo đó nhiều buổi làm việc chung quanh vấn đề chống tra tấn được tổ chức trong năm 2014. Tháng 11/2014, quốc hội phê chuẩn quy ước nói trên. Mặc dù hiến pháp mới cấm các hành động tra tấn, nhưng các điều luật hiện hành không định nghĩa rõ ràng, những hình phạt nào bị coi là hành động tra tấn.
Quốc hội từ chối đề nghị cải tổ luật thành hôn và gia đình, nhằm công nhận sự sống chung của các đôi dồng tính luyến ái cũng như về quyền chăm sóc con chung. Ngoài ra, nhà nước tuyên bố luật pháp sẽ không công nhận các cặp vợ chồng đồng tính..
Chính quyền tuyên bố, nhiều bộ luật về nhân quyền đang được soạn thảo và sẽ đưa ra quốc hội biểu quyết trong năm 2016. Trong đó có một tu chỉnh về luật hình sự, luật cải tổ về tự do báo chí, luật thành lập các hội đoàn, luật về biểu tình và luật về vào ngõ thông tin.
Đàn áp những người bất đồng chính kiến
Mặc dù sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã và có thể nguy hại đến an ninh của chính bản thân mình, các nhà tranh đấu nhân quyền và những người cổ võ cho sự chuyển đổi xã hội và chính trị trong nước đã gia tăng hoạt động ôn hòa, bất bạo động. Chính quyền dùng các điều luật mơ hồ trong bộ hình luật năm 1999 để cáo buộc các hoạt động bất bạo động của người dân xử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội của họ là những hành động phạm pháp.
Trong tháng 4 và 6/2014, mặc dù đã có 6 nhà đối lập được trả tự do trước kỳ hạn, ít nhất hơn 60 tù nhân lương tâm, bất bạo động vẫn còn bị giam giữ. Họ đã bị kết án qua những phiên tòa không công bằng. Những người này là Blogger hoạt động ôn hòa, những nhà hoạt động nghiệp đoàn, hoạt động chống việc chiếm nhà đất bất hợp pháp, những người dân dấn thân hoạt động xã hội hoặc vận động chính trị, tín hữu thuộc các giáo phái và các người tranh đấu cho nhân quyền.
Thêm vào đó, có ít nhất 18 Blogger và những nhà hoạt động đã bị đưa ra trong 6 phiên tòa. Họ bị kết án "lạm dụng các quyền tự do dân chủ, làm hại đến quyền lợi quốc gia" theo điều khoản 258 của bộ luật hình sự, và bị án tù từ 15 tháng đến 3 năm.
Blogger và là cựu cảnh sát viên, Nguyễn Hữu Vinh và đồng nghiệp của ông, bà Nguyễn thi Minh Thuý bị bắt giữ hồi tháng 5 và bị giam cầm vì tội "đưa tin thất thiệt trên Internet" theo điều 258 của bộ hình luật. Nguyễn Hữu Vinh được nhiều người biết đến và ưa chuộng qua trang web Ba Sàm do ông lập ra năm 2007, trong đó có nhiều bài viết về các đề tài chính trị và xã hội.
Trong thời gian từ 29.11. đến 27.12.2014, thêm 3 Blogger nổi tiếng bị bắt vì đã đưa bài lên mạng chỉ trích các viên chức nhà nước và phê bình về đường lối chính trị. Đó là các ông Nguyễn Đình Ngọc, giáo sư Hồng Lê Thọ, người có quốc tịch Nhật và VN, cũng như nhà văn Nguyễn Quang Lập.
Nhiều người, hoặc được lệnh của nhà nước hoặc có sự đồng ý của lực lượng an ninh, đã hành hung các nhà hoạt động mặc dù trước đó họ không hề bị khiêu khích. Chẳng hạn, như hồi tháng 5 2014. nhà bảo vệ nhân quyền và cựu tù nhân chính trị bất bạo động Nguyễn Văn Đài bị một nhóm 5 người hành hung trong khi ông này đang ngồi với bạn bè ông trong một quán café. Ông bị thương ở đầu phải được may lại. Cũng trong tháng đó, nữ Blogger và nhà bảo vệ nhân quyền Trần thị Nga bị 5 người tấn công khi bà này đang chạy xe gắn máy trên đường với 2 đứa con nhỏ của bà.
Bà ấy bỉ gảy tay và bị thương tích ở đầu gối cùng nhiều vết thương khác trên người. Nhiều nhà hoạt động muốn tham dự các phiên toà xử 3 người tranh đấu cho nhân quyền vào tháng tám đã bị lực lượng an ninh làm khó dễ, đánh đập và bắt giữ. Tháng 10, 3 nhà hoạt động khác bị hành hung. Tháng 11, nhà báo độc lập Trương Minh Đức bị tấn công và đánh đập lần thứ ba trong vòng 2 tháng. Ông này đã mang nhiều vết thương nặng.
Quyền tự do đi lại
Vào tháng 2 năm 2014, nhi ều nhà hoạt động bất bạo động bị ngăn chận không được đi Genf, Thụy sĩ để tham dự Hội thoại về Tình trạng Nhân quyền VN trong dịp Kiểm điểm thường kỳ của LHQ. Cảnh sát mời họ đến làm việc và đã thu hồi thông hành của họ. Những ai được di đến Genf, lúc trở về họ đã bị bắt và bị thẩm vấn.
Nhà hoạt động cho người lao động và cựu tù nhân lương tâm Đỗ thi Minh Hạnh, đư ợc trả 
tự do hồi tháng 6. Vào tháng 8 cô đã bị giữ lại ở phi trường, không được đi Áo thăm mẹ của cô đang đau nặng. Mãi đến tháng 10 cô mới được cho đi.
Các nhà hoạt động cho dân quyền muốn tham dự các buổi hội họp sinh hoạt xã hội dân sự thường lệ, tham dự các buổi tiếp xúc ở các toà đại sứ nước ngoài cũng như tham dự các phiên tòa xử các nhà đối lập đã bị làm khó dễ, đe dọa và ngăn chận không được đi ra khỏi nhà. Theo sự tường thuật của một người, trong thực tế họ đã bi quản thúc tại gia.
Tù nhân chính trị bất bạo động
Điều kiện sống trong tù của các tù nhân chính trị thì thật vô cùng tồi tệ. Họ không được săn sóc sức khỏe đầy đủ, đúng mức và bị thiếu dinh dư ỡng. Một số người này bị bạn tù hành hạ mà nhân viên nhà tù không hề can thiệp, và một số người bị giam giữ không hề được liên lạc với bên ngoài. Khi gia đình đến thăm nuôi luôn luôn có mặt nhân viên nhà tù và bị cấm nói về các vấn đề họ gọi là nhạy cảm. Đôi khi tù nhân bị chuyển đi nơi khác mà gia đình không hề được biết.
Những người tù nhân khác thì bị giam giữ ở các nơi xa xôi, làm cho việc thăm nuôi của gia đình trở thành vô cùng khó khăn. Có tù nhân bị ép buộc "thú nhận" tội phạm mà họ đã bị kết án, nhờ đó có thể họ sẽ được trả tự do.
Nhà đấu tranh chống ô nhiễm và tù nhân lương tâm Đinh Đăng Định đã qua đời vào tháng 4 năm 2014 vì bệnh ung thư dạ dày, sau khi ông đươc tự do tạm hồi tháng 2 vì lý do sức khỏe. Mặc dù có sự yêu cầu của gia đình ông và của các tòa đại sứ, nhà cầm quyền đã không để cho ông được chữa trị đúng mức trong suốt thời gian 6 năm ông ở trong tù.
Tội tử hình
Tội tử hình vẫn được áp dụng cho tội giết người, buôn lậu thuốc phiện, phản quốc và tội ác vô nhân đạo.Theo các tin tức, có ít nhất 3 vụ xử tử hình bằng thuốc độc đã được thi hành. Số người mang án tử hình được ước chừng trên 650 người. Nhà nư ớc không cho biết một con số chính thức nào, và các thống kê về án tử hình cho đến nay vẫn được xem là bí mật quốc gia.

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

NGUYÊN NHÂN VÀ Ý NGHĨA TỰ THIÊU CỦA BỒ-TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC


TT.TS. Thích Nhật Từ
Phó Viện trưởng Học viện PGVN tại TP.HCM

tuongdaithichquangducTrong suốt gần hai nghìn năm hiện diện trên quê hương, chưa bao giờ Phật giáo Việt Nam phải đối diện với những đe dọa và thách thức trầm trọng như trong gần bốn mươi năm giữa thế kỷ thứ 20. Đó là giai đoạn mà Phật giáo phải chịu tác động của 3 cuộc khủng hoảng lớn. Thứ nhất là nội lực của Phật giáo bị suy kiệt sau gần 100 năm bị “nhiệm vụ khai hoá” của thực dân Pháp gạt ra khỏi vai trò phên dậu văn hóa của dân tộc. Thứ nhì là cùng đồng hành với dân tộc trong cao trào chống ngoại xâm nên đã hy sinh gần cạn kiệt nguồn vốn trí tuệ, thân mạng và cơ sở vật chất trên cả ba miền đất nước. Thứ ba là sau ngày đất nước qua phân vào năm 1954, trong khi Phật giáo tại miền Bắc gần như hoàn toàn tê liệt vì hậu quả của chiến cuộc thì tại miền Nam, trong nỗ lực chập chững hồi sinh, Phật giáo lại phải đối mặt suốt gần một thập niên với một chính sách đàn áp, tiêu diệt có hệ thống của chính quyền Ngô Đình Diệm. 
Chính quyền Ngô Đình Diệm với vị Tổng Giám mục “quyền huynh thế phụ” đầy tham vọng đạo cũng như đời, thật ra chỉ là một công cụ để thừa kếtriển khai một cách dai dẳng và không khoan nhượng, sách lược xâm thực văn hóa của chủ nghĩa thần quyền ngoại bang, suốt gần 600 năm khắp nơi trên thế giới.
Phật giáo Việt Nam trở thành đối tượng bị nhắm đến đầu tiên, liên tục và hung hản trong suốt 8 năm cai trị của chế độ Ngô Đình Diệm, một chế độ mà nhiệm vụ chính trị của tập đoàn lãnh đạo đã làm cho họ không còn chọn lựa nào khác, không còn cách hành động nào khác hơn là phải tiêu diệt Phật giáo. Cho nên trong suốt 8 năm, Phật giáo đã bị kỳ thị, đàn áp, khống chế, thậm chí bị tiêu diệt trong hầu hết mọi lãnh vực sinh hoạt quần chúng cũng như công quyền tại miền Nam. Từ luật pháp đến chính trị, từ giáo dục đến an ninh, từ kinh tế đến thương mãi, từ nông nghiệp đến xã hội, từ quân đội đến hành chính … và đặc biệt trong lãnh vực tôn giáo thì chính quyền dùng đủ mọi biện pháp để khống chế và tiêu diệt đến tận cùng.
Trong bài viết này, tác giả phân tích các nguyên nhân dẫn đến phong trào đấu trong bất bạo động của Phật giáo Việt Nam và đại nguyện tự thiêu vì chánh pháp của Bồ-tát Thích Quảng Đức. Trên cơ sở này, phân tích khái quát về ý nghĩa tự thiệu của Bồ-tát Thích Quảng Đức, để từ đó, mỗi người tự rút ra cho mình các bài học nhập thế, phụng sự nhân sinh.

I. BỒ-TÁT QUẢNG ĐỨC TỰ THIÊU
Bồ-tát Thích Quảng Đức tên thật là Lâm Văn Tuất (林文戌),[1] còn gọi là Nguyễn Văn Khiết (阮文㓗) sinh vào giờ tý, ngày Rằm tháng 9 Mậu Tuất (29-10-1898) tại Khánh Hòa. Đứng trước cảnh chính quyền toàn trị Ngô Đình Diệm gây nhiều bất công xã hội, tạo ra bất bình đẳng tôn giáo, bách hại Phật tử, cấm treo cờ Phật giáo thế giới trong ngày đại lễ Phật đản, Bồ-tát Thích Quảng Đức đã phát tâm đại bi, thiêu thân vì chánh pháp vào lúc 11 giờ ngày 20 tháng 4 (nhuần) Mậu Ngọ (11-6-1963) tại ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt.[2]
botatthichquangduc-03cMột người theo Tin Lành giáo tại Hoa Kỳ, Mục sư Donald Harrington đã tường thuật rất xúc động về bản chất và ý nghĩa của việc Bồ-tát Quảng Đức tự thiêu, như ngọn lửa soi sáng lương tâm chính quyền độc tài toàn trị Ngô Đình Diệm và những người chủ trương chiến tranh thực dân mới ở miền Nam Việt Nam:
Cách đây hơn hai tuần, vào ngày 11.6.63 Hòa thượng Thích Quảng Đức đã ngồi thiền trên đường nhựa nóng. Trong tay Hòa thượng cầm một xâu chuổi 54 hạt và bắt đầu niệm Phật. Trên chiếc áo cà sa của Hòa thượng thì đã tẩm ướt đầy xăng. Tất cả Tăng Ni lùi lại, kính cẩn, kinh sợ. Khách bộ hành nhận thấy một biến cố phi thường gì sắp xẩy ra nên tất cả đều dừng lại chờ đợi.
Với vẻ yên lặng, bình thản trên khuôn mặt, Hòa thượng Quảng Đức niệm lớn: “Nam Mô A Di đà Phật”. Thế rồi Người bật một que diêm và ngọn lửa phừng phực bốc lên phủ kín thân thể nhưng Người không hề rên la hay lay động. Người ngồi thẳng trong mười phút, thân hình chìm trong lửa đỏ, và khi lửa tàn, Người nằm xuống bất động...
Người ta có thể tự hỏi sự khủng khiếp và niềm phẫn hận nào đã có thể khiến cho một người của “Tình Thương” của “Hòa Bình”, quyết chí tự thiêu?... Nếu sự tuyệt vọng hoàn toàn và chán đời cực độ đã đưa con người trên đời nầy đến chỗ tự tử, thì một lý tưởng cao cả nhất và lòng yêu đời nồng nàn nhất một đôi khi cũng đã sản xuất những người tử đạo quả cảm nhất trong lịch sử... Hòa thượng Quảng Đức hy sinh đời mình bằng cách tự thiêu để thức tỉnh lương tâm của Tổng thống Diệm và lưu ý cho toàn thế giới..
Người đã chịu đựng sự đau đớn của tia lửa hồng đang đốt da thịt nhưng không một lời kêu than. Người gởi mấy lời của Người cho Tổng thống Diệm, và cho đến nay ông Diệm vẫn chưa chịu nghe hay chú ý. Nhưng dù sao tiếng nói ấy vẫn là tiếng nói của tình thương, tiếng nói mà trong thâm tâm của nó chứa đưng sự giải thoát của miền Nam Việt Nam. Người đã để lại một bóng đen sĩ nhục lên sự huy hoàng mà Giáo hoàng Gioan đã mang lại cho Giáo hội Thiên Chúa. Người đã làm và Người phải làm, cho mỗi người Hoa Kỳ đi tìm linh hồn của Người và cho chính phủ Hoa Kỳ biết rằng, trừ phi chính phủ Sài Gòn thực thi ngay quyền bình đẳng tôn giáo cho Phật giáo đồ và tự do cho dân chúng Việt Nam, tất cả mọi viện trợ của Hoa Kỳ đều phải chấm dứt ngay...
Ngọn lửa ấy có thể thành một tia hy vọng cho những người từ lâu bị áp bức bởi người ngoại quốc hay bởi ngay chính đồng bào của họ...”[3]
Để thực hiện đại nguyện tự thiêu, bảo vệ chánh pháp, Bồ-tát Thích Quảng Đức đã nhờ TT. Thích Đức Nhuận giúp đánh máy và đọc bản thảo Đơn xin tự thiêu ký ngày 27-5-1963. Đơn xin tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức khẳng định năm nguyện vọng Phật giáo và phương pháp bất bạo động là tinh thần đấu tranh chân chánh của Phật giáo Việt Nam như sau:
Tôi tên là Nguyễn Văn Khiết, pháp danh là Thị Thủy, pháp tự là Quảng Đức, tu sĩ Giáo Hội Tăng Già Việt Nam, mang thẻ căn cước số 399703 cấp tại Quận Tân Bình ngày 21 tháng 2 năm 1962, hiện tọa chủ chùa Long Phước, xã Ninh Quang, Khánh Hòa, xác định rằng:
1) Năm nguyện vọng tối thiểu nghi trong Bản Tuyên Ngôn của Tăng, Tín đồ Phật giáo là phản ảnh tinh thần chân chánh của Phật giáo Việt Nam.
2) Nguyện luôn luôn son sắt bền chí với lý tưởng tranh đấu hợp tình, bất bạo động của Phật giáo đồ Việt Nam.
3) Triệt để tuân theo và ủng hộ các cấp lãnh đạo Phật giáo.
Và để minh định lập trường của chúng tôi, chúng tôi tự nguyện thiêu đốt thân này nếu Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không làm thỏa mãn nguyện vọng ghi trong Bản Tuyên Ngôn là phản ảnh tha thiết mong cầu của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam.
- Phật giáo Việt Nam bất diệt !
- Lá cờ Phật giáo không thể bị triệt hạ.
Và xin quý Thượng tọa chấp thuận chuyển tới toàn thể tín đồ lời nguyện ước cuối cùng của tôi: Phật tử chúng ta hãy cùng nhau tự giác, tự nguyện, bền chí với sứ mạng duy trì chánh pháp, bảo vệ lá cờ Phật giáo.”[4]
Mặc dù không được Giáo hội Tăng già Việt Nam chấp nhận,[5] Bồ-tát Quảng Đức vẫn thầm lặng theo đuổi đại nguyện tự thiêu trên tinh thần vô ngã, vị tha. Những ngày cuối đời tại Chùa Ấn Quang, Bồ-tát tham thiền nhập định, đọc tụng Kinh Pháp Hoa, ôn lại tấm gương của Bồ-tát Dược Vương dùng hỏa quang tam-muội để đốt thân cúng dường chánh pháp.
Trong Lời nguyện Tâm quyết,[6] Bồ-tát Thích Quảng Đức thể hiện lòng từ bi đối với vận mạng của Phật giáo: "Tôi là một tu sĩ mệnh danh là Trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong." Hành động của Bồ-tát Quảng Đức một mặt "nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật” mặt khác nhằm mục đích “hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo." Từ trong thâm tâm, ngài mong cầu mọi việc tốt lành đến với tổng thống Ngô Đình Diệm, “Cầu nguyện Phật Trời gia hộ cho Tống Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt” và mong ông “nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân, và thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở”. Đối với quê hương, dân tộc và đạo pháp, Bồ-tát Quảng Đức mong cầu: “ơn Phật gia hộ cho Phật Giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt; mong hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức Tăng Ni, và Phật tử Việt Nam tránh khỏi tai nạn khủng bố, bắt bớ, giam cầm của kẻ gian ác; và cuối cùng là cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.”
Thông thường “lửa” trong Phật giáo tượng trưng cho “tham ái” như trong kệ Pháp Cú 146: “Cười sao được, sướng vui sao nỗi/ Khi lửa tham (pajjalite)[7] cháy rụi thế gian/ Tối tăm giăng phủ trời đêm/ Sao không nỗ lực tìm đèn sáng soi?”[8] Lửa rực đỏ từ thân Bồ-tát Thích Quảng Đức suốt 7 phút đã trở thành “lửa từ bi” như nhà thơ Vũ Hoàng Chương[9] đã mô tả qua bài thơ bất hũ mang cùng tên. Ngọn lửa từ bi của Bồ-tát Thích Quảng Đức có khả năng soi sáng lương tâm như ngọn đuốc trí tuệ. Bằng ngọn lửa từ bi, trái tim từ bi của Bồ-tát Thích Quảng Đức trở thành “xá lợi trái tim” đầu tiên và duy nhất về thể loại này, bất diệt với thời gian, biểu tượng của tình thương chiến thắng bạo tàn, trí tuệ chiến thắng gian ngụy.

II. NGUYÊN NHÂN CỦA TỰ THIÊU
Bản Tuyên ngôn do HT. Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam ấn ký, gửi chính phủ ngày 10-5-1963 nêu rõ nguyên nhân của cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật giáo là đòi công bằng xã hội và tôn giáo bình đẳng. Do đó, nguyên nhân tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức là vì chính sách hà khắc đàn áp Phật giáo của chính quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của người dân, tạo ra nhiều hành động bất công đối với Phật giáo. Bản Tuyên ngôn viết như sau:
Từ nhiều năm nay, Phật giáo đồ đã bị khủng bố đàn áp khắp nơi, chúng tôi vẫn nhẫn nhục, đương nhiên không phải hèn yếu, mà vì ý thức được hoàn cảnh dân tộc ta hiện tại. Nhưng đau đớn thay, một số đã lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao nhiêu tang tóc đối với Tăng và tín đồ Phật giáo khắp trong nước, đối xử một cách bất công với một tôn giáo có hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc. Từ hành động này đến manh tâm khác, thậm chí đã chà đạp lên quyền lợi thiêng liêng nhất của Phật giáo đồ: Cờ Phật giáo quốc tế bị triệt hạ. Quyết định này đã trái với hiến pháp và ngang nhiên vi phạm quyền tự do tín ngưỡng. Trước những hành động bất công đó, Tăng và tín đồ khắp cả trong nước, chúng tôi bắt buộc phải đứng dậy tranh đấu cho lý tưởng của mình.”[10] Có thể nói, ba chính sách bất bình đẳng sau đây a) Độc tôn Thiên Chúa giáo, b) Đạo dụ số 10 và c) Triệt hạ cờ Phật giáo, đã trở thành các nguyên nhân sâu xa, dẫn đến cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật giáo, châm ngòi cho sự sụp đổ chế độ Ngô Đình Diệm.
1) Chính sách độc tôn Thiên Chúa giáo
Thể chế Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm thực chất là chế độ gia đình trị và Thiên Chúa giáo trị, bao gồm tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng giám mục Ngô Đình Thục, cố vấn Ngô Đình Nhu và đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân.
Thượng Nghị sĩ Mỹ Mansfield, người đã từng ủng hộ Ngô Đình Diệm, khẳng định rằng: "chế độ ông Diệm là một chế độ độc tài, gia đình trị, Công giáo trị".[11] Trong nỗ lực đưa Thiên Chúa giáo trở thành tôn giáo độc tôn tại miền Nam Việt Nam, chế độ gia đình trị này đã tuyên chiến và đàn áp Phật giáo trong mùa Phật đản 1963. Đó là sai lầm lớn và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự suy vong của chế độ mấy tháng sau đó.
Đề cập đến chủ nghĩa độc tài Công giáo và chính sách đàn áp Phật giáo một cách tàn nhẫn, Avro Manhattan đã nhận xét rất chính xác như sau:“Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam là một người theo đạo Công giáo cai trị Nam Việt Nam bằng một bàn tay sắt… Ông đã được hồng y Spellman và giáo hoàng Pius XII trồng vào cái ghế tổng thống. Ông đã biến cải ngôi vị tổng thống thành một nhà độc tài Công giáo, tàn nhẫn nghiền nát những đối lập chính trị và tôn giáo.”[12]
Avro Manhattan còn cung cấp cho chúng ta những thông tin rùng rợn về tội ác mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã tạo ra trong năm 1955-1960: “Người ta ghi nhận rằng, và những con số sau đây tuy không được chính quyền chính thức khẳng định nhưng có thể coi là đáng tin cậy, là trong thời gian kinh hoàng từ 1955 đến 1960, ít nhất là có 24000 người bị thương, 80000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500000 bị đưa đi các trại tập trung. Đây chỉ là những con số ước tính bảo thủ, khiêm nhường”.[13]
Ký giả người Úc Denis Warner cho rằng: “Trong nhiều năm, cái chế độ bạo ngược chuyên chế mà Tây phương đồng minh với ở Saigon (chế độ Ngô Đình Diệm) thì còn tệ hơn là cái chế độ mà Tây phương đang chiến đấu để chống (chế độ CS)”. Diệm và gia đình ông ta đã giết hoặc lưu đày tất cả những thế đối lập. “Diệm đã mất đi sự tin cậy và trung thành của dân chúng như Bộ Trưởng McNamara đã nhận định ngày 26 tháng 3, 1964.[14]
Trong tác phẩm nổi tiếng “Thập giá và lưỡi gươm”, linh mục Trần Tam Tĩnh cho chúng ta biết trong giai đoạn 8 năm trị vì, chính quyền Ngô Đình Diệm đã kìm hãm 90% người ngoài Công giáo trong chính phủ Công giáo, trong khi tạo quyền thế bất công cho các cha xứ: “Từ năm 1955 đến năm 1963 là thời vàng son của chủ nghĩa cha chú, với những lợi ích thật chẳng có bao nhiêu, nhưng với những hà lạm gây nhiều tiếng tăm hơn, nhất là trong khi dân chusg gồm 90% là ngoài Công giáo mà bị kìm hãm dưới một thứ chính “Chính phủ Công giáo.” Khắp nơi, ở thành phố cũng như tại nông thôn chiếc áo chùng thâm là biểu tượng của quyền thế.”[15]
Để thực hiện chính sách bất bình đẳng xã hội và bất bình đẳng tôn giáo, đưa vai trò Công giáo lên vị trí độc tôn tại miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm đã lập ra đảng Cần lao – Nhân vị (gọi tắt là đảng Cần Lao), chủ trương Chủ nghĩa duy linh – nhân vị. Mục đích của đảng Cần Lao là chống cộng sản, chống Phật giáo và chống đảng phái quốc gia, đồng thời, chủ trương vâng lời các cha, vâng lời Ngô Đình Cẩn và vâng lời Ngô Đình Diệm.[16] Phương châm hoạt động của đảng Cần Lao là: “vì Chúa và cho Giáo hội Công giáo.” Cương lĩnh của đảng Cần lao khích lệ các linh mục và giáo dân: "đem hết thể xác và linh hồn cho đến hơi thở cuối cùng để chống cộng sản vô thần, chống Phật giáo ma quỷ, chống các đảng phái quốc gia".[17]
Về sự cai trị độc tài của Diệm dựa vào thuyết Nhân vị, Bernard Newman nhận xét như sau: “Bất kể hiến pháp viết như thế nào, Diệm cai trị như là một nhà độc tài. Triết lý chính trị của ông ta dẫn xuất từ một nhóm Công giáo Pháp, những người đã đặt ra thuyết Nhân Vị... Thuyết Nhân Vị như là “một pha trộn lộn xộn của những sắc lệnh của giáo hoàng và kinh tế mẫu giáo, tổ hợp với một sự nghi ngờ những tư nhân thương gia, một sự e ngại đầu tư ngoại quốc, và một quan niệm là không thể thành đạt được gì nhiều ở Việt Nam nếu không có sự kiểm soát của chính phủ.”[18]
Nhằm đề cao Công giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm “đã tổ chức lớp học về duy linh rồi lợi dụng lớp học ấy mà xuyên tạc đạo Phật của chúng tôi, dọa nạt và bắt hội viên của chúng tôi phải ký đơn qua Thiên Chúa giáo, nếu không sẽ đi học tập dài hạn tại quận và tỉnh".[19] Ngoài ra, chính quyền họ Ngô cùng dùng chính sách cưỡng bức cải đạo, bắn giết Phật tử và ban hành nhiều điều luật không giống ai: “Đối với gân lương từ năm 1954 đến năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm đã giết chết, bắt giam, tra tấn Phật giáo đồ; dụ dỗ cải đạo, cấm Phật tử đi lễ chùa.”[20]
Theo tướng Trần Văn Đôn, người trực tiếp tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963, Chính sách di cư vào Nam, thực chất, chỉ là chiêu bài đưa người Thiên chúa giáo vào miền Nam để xây dựng nước Chúa. Trong số 887.895 người di cư vào Nam sau năm 1954 đã có đến 754.710 người là tín đồ Thiên Chúa giáo, chiếm 85%. Các chức vụ chủ chốt của chính quyền họ Ngô đều nằm trong tay Thiên Chúa giáo.[21]
Chính sách toàn trị và Công giáo trị của Diệm là một chủ nghĩa phát-xít mới tại Việt Nam: "Diệm muốn thống nhất cả nước thành một khối Công giáo và chuyển các tôn giáo và đảng phái sang Công giáo. Công giáo ở Việt Nam là chủ nghĩa tư bản. Giáo hội là đại diện của chính phủ. Nếu anh muốn giàu sang, nếu anh muốn trở thành sĩ quan, anh phải là Công giáo".[22] Chính vì chủ trương này mà Phật giáo đã nghiễm nhiên trở thành đối tượng bị khủng bố và áp bức của chính quyền Ngô Đình Diệm.

2) Bất bình đẳng tôn giáo trong Đạo dụ số 10
Về phương diện văn bản luật, Đạo dụ số 10 được xem là nguồn gốc của bất bình đẳng tôn giáo, mà chính quyền Ngô Đình Diệm muốn sử dụng như một đặc ân dành cho Thiên Chúa giáo và như một gông cùm đối với Phật giáo và các tôn giáo khác. Chính sách thiên vị Thiên Chúa giáo đã có từ thời Pháp thuộc và thời quốc trưởng Bảo Đại, được Việt Nam Cộng hòa tiếp tục áp dụng có mục đích đàn áp Phật giáo, đề cao Thiên Chúa giáo.
Đạo dụ số 10 do quốc trưởng Bảo Đại ban hành năm 1950, quy định về các tổ chức hội đoàn bao gồm tôn giáo, ngoại trừ Thiên Chúa giáo. Trên nguyên tắc, khi chế độ quốc trưởng Bảo Đại đã bị thay thế bằng chính thể Việt Nam Cộng hòa, thì Đạo dụ số 10 không còn hiệu lực pháp lý. Ấy thế mà, từ năm 1954 đến 1963, chính phủ Ngô Đình Diệm dựa vào Đạo dụ số 10, ra tay đàn áp Phật giáo và nỗ lực loại trừ Phật giáo ra khỏi bản đồ văn hóa tôn giáo Việt Nam, nhằm từng bước biến Thiên Chúa giáo thành quốc giáo của Việt Nam.
Điều 7 của Đạo dụ số 10 quy định rằng các hội đoàn bao gồm “tôn giáo, chính trị, từ thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên, thể thao và đồng nghiệp ái hữu” có thể bị “bác khước không cho phép lập hội mà không cần phải nói rõ lý do.” Đối với các hội đoàn đã cho phép thành lập rồi vẫn có thể bị “bãi đi vì trái điều lệ hay vì lẽ trị an.”[23] Theo điều quy định này, các hội đoàn trong đó có các hội Phật giáo Việt Nam có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào, mà không cần trưng dẫn lý do. Hoặc khi cần trưng dẫn lý do, thì chính quyền có thể viện cớ “vì lẽ trị an”,[24] một khái niệm luật rất mơ hồ, không thể thực thi được công bằng xã hội và tôn giáo, mà trên thực tế đã phá vỡ công bằng xã hội và bình đẳng tôn giáo. Đây là điều mà theo lãnh đạo Phật giáo Việt Nam “Đạo dụ số 10 triệt hạ hết thảy giá trị tôn giáo.”[25]
Có lẽ, do vin vào chính sách “vì lẽ trị an” mà chính quyền Ngô Đình Diệm có cớ triệt hạ cờ Phật giáo thế giới vào mùa Phật đản 1963, biểu tượng tâm linh của Phật giáo toàn cầu, nhằm chứng minh Thiên Chúa giáo là “Công giáo” ở Việt Nam, mà trên thực tế chỉ là một tôn giáo thiểu số.
Điều 44 của Đạo dụ số 10 quy định về một “chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa và Gia-tô”. Sự thiên vị được đặt trên “căn bản pháp lý của thực dân pháp.”[26] Theo lãnh đạo Phật giáo Việt Nam năm 1963, các điều 10 và điều 12 đã làm cho các tôn giáo ngoài Thiên Chúa giáo và Gia-tô giáo “bị kiểm soát một cách cực kỳ nghiêm khắc, bởi bất cứ nhân viên nào của Hành chính và Tư pháp.”[27] Việc duy trì và áp dụng Đạo dụ số 10 đã tạo tình trạng thiên vị Thiên Chúa giáo và Gia-tô giáo, đang khi đàn áp Phật giáo, khủng bố Tăng Ni, bắt bớ tín đồ, gây bất ổn tôn giáo, chính trị và xã hội tại miền Nam Việt Nam.

3) Cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Đại lễ Phật đản 1963.
Từ chủ trương “chống cộng sản vô thần, chống Phật giáo ma quỷ, chống các đảng phái quốc gia” và dựa vào tinh thần thiên vị Công giáo của Đạo dụ số 10, chính sách của Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp Phật giáo, mà khởi đầu chính là Công điện 9195 của Phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 6-5-1963, cấm treo cờ Phật giáo trong đại lễ Phật đản 1963. Theo TT. Trí Quang, người lãnh đạo phong trào Phật giáo 1963, vụ triệt hạ cờ Phật giáo: “chỉ như là một giọt nước cũng thừa sức làm chảy tràn ra một bát nước vốn đã quá đầy”.[28]
Để cứu nguy Phật giáo khỏi nạn diệt vong, vào ngày 25-5-1963, Ban Trị sự TƯ Tổng hội Phật giáo Việt Nam triệu tập 11 giáo phái và hội đoàn Phật giáo, thành lập ra Uỷ ban liên phái bảo vệ Phật giáo, do TT. Tâm Châu làm chủ tịch, dưới sự chứng minh tối cao của HT. Thích Tịnh Khiết.
Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo đã gửi 3 công điện. Công điện thứ nhất gởi cộng đồng Phật giáo thế giới, lúc 2 giờ sáng 7-5-1963, kêu gọi can thiệp chính phủ Việt Nam Cộng hòa, trong đó có đoạn kêu gọi không nên triệt hạ lá cờ Phật giáo: “Cờ Phật giáo bị không cho treo tại các tự viện Phật giáo ngay trong ngày Đại lễ Phật đản quốc tế, yêu cầu can thiệp với chính phủ Việt Nam Cộng hòa”.
Công điện thứ hai gởi và yêu cầu Ngô Đình Diệm thu hồi công điện 9195 một cách khéo léo: “Chúng tôi không tin rằng quyết định đó xuất phát từ Tổng thống. Thỉnh cầu Tổng thống ra lệnh điều tra và thu hồi công điện nói trên. Trân trọng”.
Công điện thứ ba gởi các hội đoàn Phật giáo Việt Nam, kêu gọi các sơ môn pháp phái Phật giáo sẵn sàng thống nhất hành động vì đại cuộc dân tộc và Phật giáo: “Cờ Phật giáo bị triệt hạ bởi Công điện số 9159. Đã điện cho Phật giáo thế giới can thiệp và đã điện cho Tổng thống thỉnh cầu đình chỉ. Nhưng các tập đoàn Phật giáo vẫn thông báo cho các đơn vị và chờ chỉ thị”.
Bất chấp các nỗ lực của Phật giáo Việt Nam, Chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn ngang nhiên triệt hạ cờ Phật giáo thế giới, nguyên nhân dẫn đến cuộc biểu tình ở toàn Thừa Thiên chiều ngày 7-5-1963. Cuộc thảm sát của chính quyền Ngô Đình Diệm tại đài Phát thanh Huế vào ngày 8-5-1963 làm 8 Phật tử[29] (gồm 7 trẻ em và 1 người lớn) chết trong thương tâm, đã “đổ dầu vào lửa” phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo, góp phần dẫn đến sự sụp đổ chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo Ngô Đình Diệm vào ngày 1-11-1963.
Các phương tiện truyền thông của chính quyền Ngô Đình Diệm vu cáo vụ thảm sát đó là do “Việt Cộng ném lựu đạn”[30] nhưng trên thực tế là do binh sĩ và xe tăng của thiếu tá Mathew Đặng Sĩ[31] nổ súng, dưới sự ra lệnh của Tổng giám mục Ngô Đình Thục.[32] Lời bào chửa khéo léo của Đặng Sĩ vào năm 1964 đã không thể giúp ông thoát khỏi việc bị tuyên án tử hình, do phạm các tội danh “bắn vào đám đông không vũ trang, dùng xe bọc thép cán người biểu tình, và sử dụng chất nổ nguy hiểm để kiểm soát đám đông”.[33]
Những sự kiện nêu trên đã dẫn đến cuộc tàn sát đẫm máu, khủng bố Tăng, Tín đồ Phật giáo, tạo ra pháp nạn Phật giáo 1963. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa.

III. Ý NGHĨA TỰ THIÊU CỦA BỒ-TÁT
Dựa vào nội dung của Đơn xin tự thiêu, 2 tờ di chúc của Bồ-tát Thích Quảng Đức, Bản Tuyên ngôn của Tăng, Tín đồ Phật giáo Việt Nam[34] (về sau viết tắt là Bản Tuyên ngôn) Bản Phụ đính về bản Tuyên ngôn của Phật giáo Việt Nam (về sau viết tắt là Bản Phụ đính),[35] chúng ta có thể khẳng định rằng ý nghĩa tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức cũng như phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam là không nhằm mục đính lật đổ hay đảo chính Chính phủ, đưa người Phật giáo lên thay thế chính phủ, mà chỉ nhằm thay đổi chính sách bất công tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, theo đó, bình đẳng tôn giáo được thực hiện trong khuôn khổ và lý tưởng công bằng xã hội. Trên tinh thần này, tôi phân tích vài ý nghĩa từ việc tự thiêu của Bồ-tát Quảng Đức như sau:
1. Xây dựng một xã hội công bằng cho miền Nam Việt Nam
Về bản chất, phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam năm 1963 không phải là cuộc đấu tranh chính trị, theo kiểu của một đảng phái chống lại và loại trừ một đảng phái khác. Trong chính thể đệ nhất Việt Nam Cộng hòa không có đảng phái nào là của Phật giáo, hay đấu tranh vì quyền lợi Phật giáo. Giới luật Phật giáo bao gồm giới Tỳ-khưu/ Tỳ-khưu-ni và Giới Bồ-tát không cho phép và không khích lệ các tu sĩ Phật giáo tham gia các đảng phái chính trị.
Chính quyền Ngô Đình Diệm rất khéo léo, ngoài việc dùng vũ lực chấn áp phong trào dân sự dùng bất bạo động làm sức mạnh, còn xuyên tạc phong trào Phật giáo do Việt cộng giật dây. Khi vu cáo phong trào bất bạo động của Phật giáo với hoạt động chính trị của Việt cộng, có khuynh hướng giải quyết các mâu thuẫn chính trị ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm mong muốn làm tê liệt phong trào dân tộc và chính nghĩa của Phật giáo. Chính sách truyền thông của chính quyền Ngô Đình Diệm đã thất bại, vì đã vu cáo những điều không có sự thật, mà theo Phật giáo “chân thật bất hư” (真實不虛).[36]
Bản Tuyên ngôn của Tăng, tín đồ Phật giáo Việt Nam được gửi đến chính quyền Ngô Đình Diệm là nhằm chấm dứt tình trạng “máu đã chảy, nhân mạng đã bị hy sinh, cảnh khủng bố, đàn áp bất nhân, bất công xã hội, bất bình đẳng tôn giáo và vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.” Lãnh đạo Phật giáo Việt Nam yêu cầu chính phủ thực thi 05 nguyện vọng sau đây:
1. Yêu cầu chỉnh phủ Việt Nam Cộng hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ của Phật giáo.
2. Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các Hội truyền giáo Thiên Chúa đã được ghi trong đạo dụ số 10.
3. Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo.
4. Yêu cầu cho Tăng, tín đồ Phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo.
5. Yêu cầu chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ bị giết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức.[37]
Năm yêu cầu trên còn được gọi là năm nguyện vọng hòa bình của Phật giáo gồm ba phương diện sau đây. Về công bằng xã hội, chính phủ không được khủng bố và bắt bớ tín đồ Phật giáo (yêu cầu 3), phải bồi thường những kẻ bị giết oan vô tội và trừng phạt kẻ chủ mưu giết hại (điều 5). Về bình đẳng tôn giáo, chính phủ phải cho phép Tăng, tín đồ Phật giáo được tự do hành đạo và truyền đạo (điều 4) và được hưởng quyền bình đẳng tôn giáo như Thiên Chúa giáo (điều 2). Về nguyên nhân đàn áp Phật giáo, yêu cầu chính phủ thu hồi công điện triệt hạ cờ Phật giáo thế giới. Cả năm nguyện vọng nêu trên đều nhắm đến việc xây dựng một xã hội trong đó, công bằng xã hội và bình đẳng tôn giáo được tôn trọng. Để đạt được mục đích công bằng xã hội, Tăng, tín đồ Phật giáo quyết tâm “sẵn sàng hy sinh cho đến lúc nào những nguyện vọng hợp lý trên được thực hiện.”[38]
Bản Phụ đính ngày 23-5-1963 khẳng định rõ lập trường đấu tranh của Phật giáo là thuần túy cho công bằng xã hội, không đượm màu chính trị, thể hiện nghĩa vụ công dân, đóng góp vào lịch ích quốc gia: “Đối với chính phủ, chúng tôi không chủ trương lật đổ, chúng tôi chỉ có nguyện vọng “cải thiện chính sách... Chúng tôi không nhằm mục đích tranh thủ quyền hành. Nói thế, có nghĩa chúng tôi đã và mãi mãi tranh đấu cho Phật giáo thuần túy, nhưng không phải vì vậy mà Phật giáo đồ không quan tâm đóng góp vào ích lợi quốc gia theo nghĩa vụ công dân của mình.”[39]
Để tránh tình trạng bị quy chụp vô căn cứ, xuyên tạc, vu khống từ chính phủ, cũng như những phần tử lợi dụng phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo để làm loạn, lãnh đạo Phật giáo tuyên bố: “Không chấp nhận mọi sự lợi dụng.”[40] Nội dung của điều này được Bản Phụ đính giải thích rõ như sau: “Mục tiêu tranh đấu của Phật giáo đồ chỉ nhằm vào lý tưởng tôn giáo bình đẳng trong khuôn khổ lý tưởng công bình xã hội; vì lẽ đó, chúng tôi từ chối mọi sự lợi dụng không phù hợp với tôn chỉ chúng tôi, nhất là những kẻ mưu toan chức vị chính quyền.[41]
Nói cách khác, phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam năm 1963 là một phong trào độc lập, thuần túy tôn giáo, không mang màu sắc chính trị, không ủng hộ hay chống đối một chính thể nào, không làm bình phông và không tạo nguyên nhân cho cuộc đảo chính diễn ra sau đó vài tháng, mà chỉ nhằm thay đổi chính sách sai lầm của chính phủ Ngô Đình Diệm, hầu góp phần mang lại công bằng xã hội và bình đẳng tôn giáo tại miền Nam Việt Nam.

2. Xây dựng một xã hội “bình đẳng Tôn giáo”
Ngoài mục đích thiết lập công bằng xã hội vốn rất cần thiết cho bối cảnh tôn giáo và chính trị tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam còn nhắm đến việc thiết lập một xã hội, trong đó “bình đẳng tôn giáo” được tôn trọng ở mức độ cao nhất. Theo lãnh đạo Phật giáo lúc bấy giờ, chỉ khi nào công bằng xã hội được thiết lập thì bình đẳng tôn giáo mới được thực thi đúng nghĩa. Nói cách khác, bình đẳng tôn giáo là mục đích thiêng liêng của chủ thuyết công bằng xã hội: “Tôn giáo bình đẳng là một điểm nổi bật nhất, thiêng liêng nhất trong lý tưởng công bình xã hội.[42]
Để tránh tình trạng bị lý giải, quy chụp sai lầm, lãnh đạo Phật giáo khẳng định “Chỉ tranh đấu cho lý tưởng “Tôn giáo bình đẳng”.[43] Tôn giáo bình đẳng theo lãnh đạo Phật giáo là các tôn giáo có tư cách tôn giáo như nhau về mặt luật pháp và được luật pháp tôn trọng. Chỉ với cách ứng xử này, chính phủ có thể giúp cho các tôn giáo tỏa sáng các giá trị nhân bản trong phục vụ đất nước và con người. Bản Phụ đính ghi rõ: “Các tôn giáo được xác định sẽ cùng hưởng một chế độ “bình đẳng”, có nghĩa cùng được quan niệm là có tư cách tôn giáo như nhau. Nhưng bình đẳng là “bình trong đồng đẳng” vì lẽ đó, giá trị các tôn giáo vẫn khác nhau.”[44]
Không chấp nhận tình trạng dùng danh từ “Công giáo” (một tôn giáo thiểu số tại Việt Nam) gọi cho đạo Thiên Chúa, không chấp nhận chế độ đặc biệt mà chính phủ dành cho Thiên Chúa giáo, đòi hỏi một chính sách thực sự bình đẳng, lãnh đạo Phật giáo Việt Nam mong mỏi miền Nam Việt Nam không còn chia rẽ tôn giáo, do chính sách toàn trị Ngô Đình Diệm gây ra. Bản Phụ đính cho thấy sự thiên vị của Đạo dụ số 10 là nguy cơ chia rẽ tôn giáo một cách trầm trọng: “Với quan niệm tôn giáo bình đẳng như vậy, đối chiếu với tình trạng hiện hữu, chúng tôi bất mãn sự thiên vị của Đạo dụ số 10. Đó là nguy cơ cho quốc gia và làm chia rẽ tôn giáo. Vì lẽ đó, Phật giáo đồ chúng tôi đã phải công khai bày tỏ rõ rệt nguyện vọng của mình. Và như thế, không những lý, mà phạm vi chúng tôi tranh đấu cũng đã được ấn định rõ ràng: Với danh nghĩa Phật giáo, chúng tôi đang làm một việc tranh đấu cho lý tưởng “Tôn giáo bình đẳng trong khuôn khổ của lý tưởng công bình xã hội.”[45]
Đang khi nỗ lực thiết lập bình đẳng tôn giáo tại miền Nam Việt Nam, lập trường của lãnh đạo Phật giáo Việt Nam là không xem Thiên Chúa giáo và Gia-tô giáo là kẻ thù của dân tộc hay của Phật giáo. Quan điểm chấp nhận sự đa dạng tôn giáo này là thống nhất, được ghi rõ trong Ban Phụ đính như sau: “Chúng tôi tuyên bố không coi ai là kẻ thù, nhất là đối với đạo Thiên Chúa. Lẽ thứ nhất, dầu từ ngày đạo dụ số 10 ra đời cho đến bây giờ, sự thiên vị đạo Thiên Chúa đã công khai, nhưng chúng tôi tranh đấu là tranh đấu cho lý tưởng công bình, chứ không phải tranh đấu với tư cách một tôn giáo chồng lên một tôn giáo.”[46] Theo tuyên bố này, mục đích chính của phong trào đấu tranh Phật giáo là góp phần xây dựng một thế giới không chỉ có công bằng xã hội, mà còn có bình đẳng và tự do tôn giáo vì lãnh đạo Phật giáo nhận thức rất rõ: “nếu cho tôn giáo của mình có giá trị tuyệt đối và chỉ có tôn giáo của mình mới đáng tồn tại thì đây là quan niệm sai lầm nhất.”[47]

3. Góp phần làm thay đổi diện mạo chính trị miền Nam Việt Nam
Phần lớn các cuộc đấu tranh vì mục đích chính trị đều sử dụng đến vũ khí như một phương tiện, hoặc có trường hợp đặc biệt, sử dụng “bất bạo động”[48] (Sanskrit: ahiṃsā, Pāli: avihiṃsā) như một lợi thế, chẳng hạn như cuộc chiến dành độc lập của Ấn Độ đối với đế chế Anh, do Gandhi lãnh đạo. Phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam 1963 là cuộc chiến đấu không ngang sức của một bên tay không (không vũ khí), không có xu hướng bạo lực với một bên là chính thể cầm quyền, dùng vũ khí, xe thiết giáp, quân đội khủng bố, đàn áp tàn nhẫn, dã man.
Về nội dung, cuộc chiến bất bạo động của Phật giáo 1963 chịu ảnh hưởng tinh thần của Gandhi và sâu xa từ học thuyết từ bi và vô não của đức Phật. Nguồn gốc của sự ảnh hưởng được nêu rõ trong Bản Phụ đính như sau: “Chúng tôi, hơn thế nữa, phải thực hiện tư tưởng Phật giáo ngay trong cuộc đấu tranh của chúng tôi… Ngay bây giờ, chúng tôi có thể tuyên bố một cách minh bạch rằng người tăng sĩ Phật giáo là người sẵn sàng noi gương Gandhi, vị Thánh của sức mạnh bất bạo động... Nhưng tinh thần và phương pháp bất bạo động không phải chỉ có thế, nên chúng tôi sẵn sàng hy sinh đến cùng theo phương pháp này.”[49]
Nếu sức mạnh bất bạo động của Gandhi nằm ở chính sách “bất hợp tác” (Non-cooperation movement)[50] thì sức mạnh của bất bạo động của Phật giáo Việt Nam là thiền định, niệm Phật và các khẩu hiệu từ bi, ôn hòa, thể hiện yêu sách bình đẳng như: “Phật giáo nhất trí bảo vệ Chánh pháp dù phải hy sinh”, “Phật giáo đồ ủng hộ chính sách tôn giáo bình đẳng,” “Yêu cầu chính phủ thi hành chính sách tôn giáo bình đẳng,” “Chúng tôi đã đến lúc bị bắt buộc tranh đấu cho chủ trương tôn giáo bình đẳng.” Khi phong trào đấu tranh trở thành cao trào, các khẩu hiệu trở nên quyết liệt, hùng dũng, sẵn sàng bỏ thân mạng vì chính pháp như: “Chúng tôi không từ chối một hy sinh nào,” "Phản đối chính sách bất công gian ác", "Đả đảo hành động sát nhân, vu khống", “Máu đã chảy,” "Hãy giết chúng tôi đi", “Phật giáo bất diệt” v.v... đã trở thành những sức mạnh vô úy, chống lại xe tăng, binh lính đầy bạo lực và đằng đằng sát khí của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Thản nhiên và bất động trong lửa đỏ 7 phút, sự tự thiêu của Bồ-tát Quảng Đức đã làm rúng động toàn cầu. Tổng thống Mỹ, John Kennedy phải thốt lên lời kinh ngạc: “Trong lịch sử, chưa có một bức hình nào trên báo đã tạo được nhiều xúc động cùng khắp cả thế giới như bức hình nầy”.[51] Ký giả Malcolm W. Browne, người đã chụp hình tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức đã tự sự về tác động của bức ảnh tại Hoa Kỳ như sau: Những bức hình mà tôi chụp về cuộc tự thiêu của HT. Quảng Đức ... được thành phần diều hâu bày bán khắp cùng ngõ hẻm... Trên New York Times và báo Washington Post có hàng chữ: Chúng tôi cũng phản đối: We, too, protest”.[52]
Noi gương từ bi và vô úy của Bồ-tát Thích Quảng Đức, có thêm sáu tu sĩ[53] đã tự thiêu và 12 Phật tử[54] đã bỏ thân vì Phật pháp. Từ vài trăm nhà sư biểu tình trước Trụ sở Quốc Hội vào ngày 30-5-1963 cho đến 30.000 người tuyệt thực tại Chùa Xá Lợi vào ngày 18-8-1963, phong trào đấu tranh bất bạo động đã lớn mạnh như một cơn lốc ngoại giao, buộc Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 22-8-1963 phải lên án chính sách đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Như giọt nước làm tràn ly, vào ngày 1-11-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị đảo chính, kết thúc triều đại toàn trị, Thiên chúa giáo trị tại miền Nam Việt Nam.
Dựa vào chủ trương của đức Phật “lấy từ bi xóa hận thù”,[55] đạo Phật không xem Thiên Chúa giáo, gia đình Ngô Đình Diệm và những người trực tiếp thực hiện “Chiến dịch nước Lũ”[56] là kẻ thù. Mặt khác, mặc dù về bản chất, phong trào đấu tranh của Phật giáo Việt Nam không chủ trương lật đổ chế độ, do đó, độc lập với các đảng phái chính trị tại hai miền Nam Bắc Việt Nam, nhưng các tác động duyên khởi theo công thức “cái này có tạo điều kiện cho cái kia có, cái này không tạo tiền đề cho cái kia không; cái này sinh làm nhân cho cái kia sanh, cái này diệt dẫn đến sự hoại diệt của cái khác[57] như quy luật muôn đời, góp phần đưa đến sự cáo chung của chế độ Ngô Đình Diệm, là chân lý mà ta không thể phủ định được.
Tại miền Nam, nếu cộng đồng Phật giáo và toàn thể mọi người ăn mừng khi thoát khỏi ách cai trị độc tài toàn trị của họ Ngô thì phía bên kia chiến tuyến ở miền Bắc, như có thêm nghị lực thực hiện cuộc chiến tranh cách mạng theo một cao độ mới: “Sụp đổ của Diệm, chiến tranh cách mạng đã phát triển lên một bước mới”.[58] Theo đó, phong trào giải phóng dân tộc chống lại đế quốc ngày càng thành công, như báo cáo của Lầu Năm Góc đã ghi nhận: “Trong vòng ba tháng sau đảo chính, Việt Cộng nổi dậy khắp nơi. Tỉnh Kiến Hòa phải rút đi 51 đồn bót, mất 15 xã,... Trong số 4.248 ấp chiến lược ở miền Nam thì có 3.915 ấp bị phá hẳn. Trong phúc trình gửi Tổng thống Johnson ngày 16-3-1964, Mc. Namara đưa ra một bức tranh bi thảm, hậu quả của cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm: Trong số đất đai của 22 tỉnh (trong 44 tỉnh), Việt Cộng kiểm soát tới 50% hoặc nhiều hơn thế. Phước Tuy, Việt Cộng kiểm soát 80%; Bình Dương 90%; Hậu Nghĩa 90%; Long An 90%; Định Tường 90%; Kiến Hòa 90%; An Xuyên (Cà Mau) 85%. Quận Mỏ Cày và các xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Khánh, Phước Hiệp, “đỏ 100%”...".[59]
Điều này cho thấy, các phong trào dân tộc và yêu nước ở miền Nam nhân cơ hội này thừa thắng xông lên, phát triển mạnh mẽ. Vì cuộc đấu tranh của Phật giáo là độc lập, việc tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức không thể được xem là một phần của phong trào dân tộc đang lớn mạnh tại miền Nam. Sự giống nhau về tinh thần yêu nước được đức Phật giảng dạy với tinh thần dân tộc của các phong trào Giải phóng miền Nam Việt Nam đã làm cho phong trào bất bạo động của Phật giáo và các phong trào yêu nước trở nên gần nhau, tương tác đa chiều, góp phần làm tan rã chính sách ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm, và do đó, sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam phải đến hồi kết thúc. Là một thành phần yêu nước của dân tộc, phong trào đấu tranh của Phật giáo đã trực tiếp tạo ra duyên cớ đảo chính vào ngày 1-11-1963. Điều này, dù muốn dù không, đã gián tiếp góp phần làm thay đổi cục diện chính trị của đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa và rộng hơn ở toàn miền Nam Việt Nam.
Tác động tích cực từ việc tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức và các thánh tử đạo là rất lớn và ngoài sức tưởng tượng. Mười hai năm sau, chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ tại miền Nam Việt Nam kết thúc vào năm 1975. Hai miền Nam Bắc được thống nhất.
Vào năm 1981, Phật giáo ba miền được thống nhất. Tinh thần nhập thế và đồng hành với dân tộc được tái khẳng định như là chủ trương của GHPGVN. Những nhiệm vụ mới trong bối cảnh mới được đặt ra cho GHPGVN. Phương pháp tiếp biến văn hóa, vận dụng lời Phật dạy vào trong cuộc sống sẽ giúp Phật giáo trở thành sự lựa chọn tâm linh của quảng đại quần chúng nhân dân.
Ôn lại 50 năm lịch sử của phong trào đấu tranh bất bạo động Phật giáo để rút ra những bài học về dấn thân, phụng sự nhân sinh trên tinh thần vô ngã, vô úy, từ bi, trí tuệ và vị tha. Đây là con đường phụng sự chúng sinh được đức Phật chỉ dạy, mà tất cả đệ tử Phật cần noi theo.
Mùa Phật đản 2637 (PL.2557, DL.2013)

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
  1. Cao Thế Dung. Việt Nam ba mươi năm máu lửa – Cuộc chiến tranh tàn sát thương binh lần thứ nhất 1945-1963. Nxb Alpha, Falls Church, VA, USA, 1991.
  2. Chu Bằng Lĩnh. Đảng Cần Lao. Nxb. Mẹ Việt Nam, San Diego, CA, USA, 1993.
  3. Lê Cung. Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963. NXB. ĐHQG Hà Nội, 1999.
  4. Lê Duẩn. Thư vào Nam. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1985, tr.248.
  5. Lê Mạnh Thát (chủ biên). Bồ-tát Thích Quảng Đức – Ngọn lửa và Trái tim. NXB. Tổng hợp TP.HCM, 2005.
  6. Phú Tiên Nguyễn Duy Tinh. Lửa thiêng nhiệm mầu. Sài Gòn, 1963. GHPGVN TP.HCM tái bản 2013.
  7. Quốc Tuệ (biên tập). Phật Giáo Việt Nam 1963. Saigon, 1964.
  8. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm. Lịch sử Phật giáo xứ Huế. NXB TP.HCM, 2001.
  9. Trần Tam Tĩnh. Thập giá và lưỡi gươm. NXB Trẻ, 1988.

Tiếng Anh
  1. Avro Manhattan. Vietnam: Why Did We Go? CA: Chick Publications, 1984.
  2. Bernard Newman. Background to Vietnam. Signet Books, New York 1965.
  3. Bruce D. Berkowitz. The New Face of War, Revised Edition, The Bobbs-Merrill Company, Inc. Indianapolis-New York,1968.
  4. Fitzgerald Francess. Fire in the Lake. An Atlantic Monthly Press Book, Boston, USA 1972.
  5. Jerrold Schecter. The New Face of Buddha. John Weatherhill, Tokyo, 1967.
  6. Joseph Buttinger. Vietnam: A Dragon Embattled, Volum II Vietnam at War. Frederick A. Praeger, Publisher, New York, 1967.
  7. Marvin E Gettleman. Vietnam: History, Documents and Opinions on a Major World Crisis. Penguin Books, 1966.
Robert McAfee Brown, Abraham J. Heschel & Michael Novak. Vietnam: Crisis of Conscience. Associated Press, New York 1967.

[1] “Tuất” thường được phiên âm sai lầm là “Tức” hay “Tất”. Sai lầm trong trường hợp 1 có thể xem trong Bách khoa mở Wikipedia tại địa chỉ: http://en.wikipedia.org/wiki/Thich_Quang_Duc. Về sai lầm 2 có thể tham khảo các sách viết về Bồ-tát Quảng Đức tại Việt Nam, tiêu biểu như Lửa thiêng nhiệm mầu – Lược sử Phật giáo đồ đấu tranh chống kỳ thị tôn giáo của nhiều tấc giả, xuất bản tháng 12-1963, được GHPGVN TP.HCM tái bản tháng 5-2013, tr. 111.
[2] Nay là ngã tư CMT8 – Nguyễn Đình Chiểu, nơi UBND thành phố HCM làm và tôn trí tượng đài của Bồ-tát Thích Quảng Đức bằng đồng, ghi nhận công đức của Người cho đạo pháp và dân tộc.
[3] Được thuyết giảng tại một thánh đường ở New York vào ngày 30.6.63. Trích theo Bùi Kha, Ngọn lửa Quảng Đức qua miêu tả của báo nước ngoài. Tháng 5 năm 2013.
[4] Quốc Tuệ (biên tập). Phật Giáo Việt Nam 1963. Saigon, 1964, tr. 94-96.
[5] TT. Thích Tâm Giác, Phó Trị sự Trưởng của Giáo hội Tăng già Việt Nam, trong thư trả lời, đã không chấp nhận cho Bồ-tát Quảng Đức tự thiêu: "Với quyết tâm bảo vệ Phật pháp, Đại đức nguyện hiến xã thân này bằng cách thiêu đốt thân xác để phản đối chính sách bất bình đẳng tôn giáo với nhà cầm quyền và nêu tỏ thái độ hy sinh vì đạo cao cả mà mình đã tôn thờ. Giáo hội rất thông cảm trước ý chí cao đẹp ấy. Nhưng trên nguyên tắc pháp lý (Luật Phật đã định cũng như luật pháp thế gian), Giáo hội không thể chấp nhận điều nguyện thiêu đốt thân xác của Đại đức được. Vậy xin Đại đức hoan hỷ và cầu chúc Đại đức vô biên an lạc."
[6] Bằng chữ Nôm được Bồ-tát viết ngày 04-06-1963 tại chùa Ấn Quang. Bài này thường được phiên âm sai là “Lời nguyện tâm huyết” với một vài từ thay đổi, so với nguyên bản chữ Nôm.
[7] Trong tiếng Pali, “pajjalite” có nghĩa đen là “bốc cháy”. Trong ngữ cảnh của Kinh Pháp Cú, nó có nghĩa là “bốc cháy bởi lửa tham” (burning with fires of passion). Tham khảo Sớ giải Kinh Pháp Cú, kệ 146.
[8] Thích Nhật Từ dịch. Nguyên tác Pali như sau: “Ko nu haso kimanando/ niccam pajjalite sati/ andhakarena onaddha/ padipam na gavesatha.” (Dhammapada 146).
[9] Vũ Hoàng Chương (5-5-1916 – 6-9-1976) sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.
[10] Bản Tuyên ngôn trích trong Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 22-23.
[11] Fitzgerald Francess. Fire in the Lake. An Atlantic Monthly Press Book, Boston, USA 1972, tr.104.
[12] Avro Manhattan. Vietnam: Why Did We Go? CA: Chick Publications, 1984, tr. 56.
[13] Sách đã dẫn, tr. 89.
[14] Robert McAfee Brown, Abraham J. Heschel & Michael Novak. Vietnam: Crisis of Conscience”, Associated Press, New York 1967, p. 30: “The Australian writer Denis Warner wrote that "the tyranny the West allied with in Saigon was in many years worse than the tyranny it was fighting against." Diem and his family had murdered or exiled all potential opposition. Diem had "lost the confidence and loyalty of his people," as Secretary McNamara put it on March 26, 1964.”
[15] Trần Tam Tĩnh. Thập giá và lưỡi gươm. NXB Trẻ, 1988, tr. 124.
[16] Thường được gọi tắt là chủ nghĩa “ba chống” và “ba vâng.”
[17] Chu Bằng Lĩnh. Đảng Cần Lao. Nxb. Mẹ Việt Nam, San Diego, CA, USA, 1993, tr. 165.
[18] Bernard Newman. Background to Vietnam. Signet Books, New York 1965, p. 117: “Whatever the constitution might say, Diem ruled as a virtual dictator. His political philosophy was derived from a group of French Catholics, who formulated a doctrine known as Personalism. It emphasises human dignity as opposed to the Communist concept of disiplined masses. Its detail is complicated, and difficult of comprehension to all but a philosopher... Personalism is "a confused mélange of papal encyclicals and kindergarten economics, combined with a suspicion of private businessmen, a fear of foreign capital, and an attitude that little could be accomplished in Vietnam without direct government control."
[19] Hồ sơ của Hội Phật giáo Trung phần gởi Tổng thống và Quốc hội ngày 20-2-1962.
[20] Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm. Lịch sử Phật giáo xứ Huế. NXB TP.HCM, 2001, tr. 476.
[21] Gettleman, Marvin E. Vietnam: History, documents and opinions on a major world crisis. Penguin Books, 1966, tr. 280–293.
[22] Jerrold Schecter. The New Face of Buddha. John Weatherhill, Tokyo, 1967, tr. 172.
[23] Xem chi tiết tại trang nhà:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BA%BFn_c%E1%BB%91_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o,_1963
[24] Lãnh đạo Phật giáo Việt Nam năm 1963 cho rằng: “Lẽ trị an” là từ ngữ không có giới hạn nào rõ rệt và đã bị lợi dụng quá đáng từ ngày người Pháp trở lại Việt Nam đến bây giờ! Ấy là chưa nói rằng, nếu thế gian này có được cái gì được gọi là vĩnh viễn, thì cái đó là tôn giáo, vậy mà tôn giáo lại bị ghép vào hiệp hội với giấy phép cho và bãi một cách cực kỳ đơn giản như trên!” Trích từ Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 30.
[25] Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 32.
[26] Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 33.
[27] Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 31.
[28] “Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam” in trong tuần báo Hải Triều Âm, số 18, ngày 27-8-1964.
[29] Về tiểu sử của 6 vị thánh tử đạo là tu sĩ Phật giáo và 12 vị thánh tử đạo là cư sĩ Phật tử, có thể xem tại: http://thuviengdpt.info/lam-su/tieu-su-thanh-tu-dao. Phương danh tám vị thánh tử đạo tại đài phát thanh Huế bao gồm:
Tâm Đồng – Đặng Văn Công.
Tâm Thành – Dương Viết Đạt
Tâm Thanh – Nguyễn Thị Yến
Tâm Thông – Nguyễn Thị Phúc
Tâm Hiển – Lê Thị Kim Anh
Tâm Thuận – Trần Thị Phước Trị
Tâm Chánh – Nguyễn Thị Ngọc Lan
Tâm Tôn – Huyền Tôn Nữ Tuyết Hoà
[30] Tường trình của chính quyền Ngô Đình Diệm gửi cho Ủy ban điều trần Liên Hiệp Quốc là một lạc dẫn về thông tin: “Các cái chết do tai nạn không may gần đài phát thanh Huế là do các vụ nỗ, do Việt Cộng gây ra. Quân đội miền Nam Việt Nam không sở hữu các vũ khí này” (Deaths at the unfortunate incident near Hue radio station was caused by explosions, most probably made by Communist infiltrators. A South Vietnam army did not have such weapon in their possession). Xem thêm chi tiết này tại trang web: https://sites.google.com/site/trialofdangsy/the-trial/evidences/united-nations-fact-finding-mission
[31] Là một người theo Công giáo, nguyên là phó tỉnh trưởng Huế, phụ trách các vấn đề an ninh vào thời điểm pháp nạn.
[32] Đây là lời tiết lộ của cựu bộ trưởng Giáo duc Trần Hữu Thế đối với GS. Vũ Văn Mẫu. Xem chi tiết tại: http://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BA%BFn_c%E1%BB%91_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o,_1963
[33] Để giải quyết các bất ổn nội bộ chính phủ, Nguyễn Khánh ra lệnh tha tội chết cho Đặng Sĩ nhưng đã phạt phạm nhân này vào trại lao động khổ sai, đồng thời phải bồi thường cho các gia đình nạn nhân.
[34] Bản Tuyên ngôn gồm 2 trang, được tuyên đọc trong phiên họp của lãnh đạo Phật giáo tại Chùa Đàm, Huế và được HT. Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam ấn ký, gửi chính phủ ngày 10-5-1963. Cùng ký tên còn có TT. Thích Mật Nguyện, Trị sự trưởng Tổng Trị sự Giáo hội Tăng già Trung Phần, TT. Thích Trí Quang, Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật giáo Việt nam tại Trung phần, TT. Thích Mật Hiển, Trị sự trưởng Ban Trị sự Giáo hội Tăng già Thừa Thiên và TT. Thích Thiện Siêu, Hội trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên. Xem chi tiết tại Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 22-24.
[35] Bản Phụ đính về Bản Tuyên ngôn của Phật giáo Việt Nam gồm 12 trang, do HT. Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam ấn ký, gửi chính phủ ngày 23-5-1963. Cùng ký tên còn có TT. Thích Mật Nguyện, Trị sự trưởng Tổng Trị sự Giáo hội Tăng già Trung Phần, TT. Thích Trí Quang, Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật giáo Việt nam tại Trung phần, TT. Thích Mật Hiển, Trị sự trưởng Ban Trị sự Giáo hội Tăng già Thừa Thiên và TT. Thích Thiện Siêu, Hội trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên. Xem chi tiết tại Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 25-37. Hiện tại, Bản Phụ đính được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8352.
[36] Trích từ Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh (Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra, Prajnaparamitahridaya Sutra, 般若波羅蜜多心經), gọi tắt là Bát-nhã Tâm Kinh hay Tâm Kinh, một bản kinh Đại thừa quan trọng, được sử dụng làm tụng bản trong các nghi thức tụng niệm của Phật giáo Đại thừa tại Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên.
[37] “Bản Tuyên ngôn” trích trong Sđd, tr.23-24.
[38] “Bản Tuyên ngôn” trích trong Sđd, tr.24.
[39] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 25-26.
[40] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr.28.
[41] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 28.
[42] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 27.
[43] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 27.
[44] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 27.
[45] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 27.
[46] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 26.
[47] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 26.
[48] Ahiṃsā trong tiếng Sanskrit có nghĩa đen là “không gây tổn hại” (to do no harm) hoặc sự xa lánh bạo lực (the avoidance of violence). Về chiết tự, hiṃsā có nghĩa là hảm hại (harm) hoặc thương tổn (injury). Phối hợp với tiếp đầu ngữ “a”, a-hiṃsā là bất hại (non harming), là bất bạo động (non-violence).
[49] “Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 28.
[50] Bao gồm bãi công, bãi chợ, bãi lớp học, không nộp thuế cho chính phủ Anh, không làm việc trong chính phủ Anh, tẩy chay hàng hóa Anh v.v... làm cho cơ cấu hành chính của Anh tại Ấn Độ bị tê liệt.
[51] Nguyên văn tiếng Anh: "No news picture in history has generated so much emotion around the world as that one”.
[52] Bruce D. Berkowitz. The New Face of War, Revised Edition, The Bobbs-Merrill Company, Inc. Indianapolis-New York,1968, tr. 261-262.
[53] Tên của các vị tu sĩ phát nguyện tự thiêu là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu, đại đức Thích Quảng Hương, đại đức Thích Thiện Mỹ, đại đức Thích Nguyên Hương, đại đức Thích Thanh Tuệ và Sư cô Thích Nữ Diệu Quang.
[54] Có thể xem tiểu sử của các thánh tử đạo tại địa chỉ: http://phatgiaoaluoi.com/news/Lich-su-Phat-giao-Viet-Nam/Di-anh-va-tieu-su-chu-Thanh-tu-dao-1916/
[55] Kệ Pháp Cú 5 đầy đủ được Thích Nhật Từ dịch như sau: “Trả thù hận bằng tâm oán giận/ Muôn kiếp dài khó đặng thành công/ Từ bi chuyển hóa thù chung/ Đây là định luật công bằng xưa nay.” Nguyên tác Pali: “Na hi verena verani/ sammantidha kudacanam/ averena ca sammanti/ esa dhammo sanantano.”
[56] Tiến hành trong ngày 20-8-1963.
[57] Học thuyết hình thành thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo, không chấp nhận nguyên nhân đầu tiên là duy thần, duy vật hay duy tâm. Thế giới là một trường tương tác và tương tức vô tận.
[58] Lê Duẩn. Thư vào Nam. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1985, tr.248.
[59] Cao Thế Dung. Việt Nam ba mươi năm máu lửa – Cuộc chiến tranh tàn sát thương binh lần thứ nhất 1945-1963. Nxb Alpha, Falls Church, VA, USA, 1991, tr. 606-607.