Danh ngôn Nhân cách
Phẩm cách có thể biểu hiện ra trong thời khắc quan trọng, nhưng nó lại hình thành trong thời khắc không quan trọng. Bacon (Anh).
Danh ngôn Sự nghiệp
Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì ý nghĩa, ấy là một đức hạnh thật sự. Senancourt
Danh ngôn Đối nhân xử thế
Khi bạn không thể thực hiện những gì ao ước, bạn nên ao ước những gì có thể làm. Terence
Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015
Quốc tế hóa doanh nghiệp
Cách đây một tuần, một số lãnh
đạo của doanh nghiệp lớn trong nước hỏi tôi: “Thế nào là quốc tế hóa
doanh nghiệp? Muốn quốc tế tập đoàn họ phải làm gì?".
Chắc hẳn họ chờ tôi khuyên, cần khuyến khích nhân viên học ngoại ngữ,
rồi chịu khó mướn người nước ngoài vào tăng cường và cuối cùng mở một số
công ty con hay chi nhánh tại nước ngoài, bắt đầu bằng những nước trong
khu vực. Tất nhiên bạn phải học ngoại ngữ rồi vì nếu không có chung một
ngôn ngữ với đối tác nước ngoài, việc kinh doanh có thể trở thành ác
mộng. Nhưng ngoại ngữ chỉ là một góc cạnh nhỏ thôi.
Quốc tế hóa phải thể hiện trước nhất qua phong cách, không “khớp” khi
được yết kiến Vua Bhumibol của Thái Lan hay Đại sứ Đức, không luộm thuộm
khi đọc diễn văn khai mạc tại New York, không dúm dó khi dự sinh nhật
Bill Gates… Bạn cần biết rõ phải tới sớm hay muộn tại một bữa tiệc hay
cầm tay những món quà, lẵng hoa, giỏ trái cây gì khi đi tham dự đám cưới
con của đối tác tại Venezuela. Tất cả những dịp đó đều là lúc người ta
được xem phong cách của ta.
Nhưng hơn thế nữa, đối tác chuyên nghiệp sẽ đánh giá chúng ta qua rất
nhiều tiêu chuẩn. Tôi chỉ nêu lên những cái chính yếu mà người Việt Nam
còn coi nhẹ và thường hay mắc phải.
Một là về pháp lý. Ít dân tộc nào giống như Việt Nam coi pháp luật là
dụng cụ phục vụ mỗi cá nhân một cách tùy tiện, cứ cái thói “đường tôi,
tôi đi”, không đụng xe thì đâu có vấn đề gì. Khi sang Malaysia bạn sẽ
hiểu thế nào là tính nghiêm minh của pháp luật. Người dân tôn trọng luật
chung, không nghĩ bao giờ đến chuyện phá luật. Tôn trọng pháp luật đã
cho phép Malaysia tiến xa hơn nhiều quốc gia. Họ đã đặt ưu tiên vào trật
tự và sự tôn trọng luật chung, nhờ thế người dân của họ dù chậm rãi
thong thả mà vẫn dẫn nước của họ lên hàng đầu khối ASEAN.
Hai là coi thường rủi ro. Ít dân tộc nào coi thường rủi ro như chúng
ta. Câu thường được nghe: “Ngày nào tôi cũng trèo rào có bao giờ sao
đâu?”. Thế nhưng ngày nào trên báo chí cũng được chứng kiến nhiều trường
hợp tử vong khó giải thích. Trên mặt trận kinh tế, mỗi năm có vô số
doanh nghiệp giải thể vì đã lấy quá nhiều rủi ro vào mình. Liều lĩnh thể
hiện qua những cuộc thế chấp tín dụng, những quyết định quá lạc quan
nếu không nói là phiêu lưu hay liều lĩnh. Ác nghiệt hơn là hậu quả của
những cuộc rủi ro gây thiệt hại gián tiếp cho biết bao nhiêu người chung
quanh dù không liên quan trực tiếp.
Ba là suy nghĩ tạm bợ. Tôi không đếm hết những cơ hội được nghe ngoài
xã hội nói với nhau như thế này: “Thôi, cứ làm tạm vậy đi cho xong, ngày
mai tính lại…”. Và cứ như thế, xã hội theo nhau chôn vùi tính bền vững
và quay ra ca tụng tài ba của những con người biến báo, lấp liếm chỉ vì
họ rất giỏi đưa ra những giải pháp tạm bợ.
Tạm bợ càng phổ biến thì hậu quả là ngày hôm sau chúng ta cũng lại phải
giải quyết lại những bài toán ngày hôm qua không được giải quyết ổn
thỏa, rốt ráo.
Người Việt chúng ta thường có khuynh hướng tạm bợ, giống như thói quen
đóng đinh treo lịch, đóng đinh treo quần áo, đóng đinh treo tranh ảnh…,
đóng đinh miệt mài bất kể thứ gì cho đến lúc đinh rơi và bức tường gạch
bong tróc vôi vữa với lỗ chỗ các vết đinh dày đặc. Chúng ta không thực
sự tôn trọng sự bền vững. Chúng ta không hiểu thế nào là bước đi chắc
chắn. Trong làm ăn kinh doanh, không có gì tốn kém bằng óc tạm bợ.
Bốn là quản lý thời gian kém cũng là điểm yếu của chúng ta. Ngày giờ
họp thay đổi liên miên và không có kế hoạch, cái suy nghĩ giờ của tôi kệ
tôi là một thái độ thiếu văn hóa cộng đồng. Những chuyến bay bị hủy vào
phút chót, rồi đăng ký lại làm cho bao nhiêu người “đằng sau” phải bố
trí lại lịch trình, phí phạm thời gian và tiền bạc rất nhiều nhưng nhân
vật chính vẫn không thực sự ý thức được rõ ràng.
Năm là chúng ta không thích thảo luận và nói chung không bỏ đủ thời giờ
để tìm hiểu, làm quen những phong cách chuẩn mực của thế giới. Người
Âu, nhất là người Pháp rất thích thảo luận, trong những dịp gặp gỡ với
những người không quen, người Pháp thích nghe những ý kiến khác, những
cách lý luận khác, những cách nhìn vấn đề khác. Họ cho thế là một sự
hiếu kỳ cần phải có. Người Việt chúng ta ít khi ở lâu trong đám đông, ít
khi mạnh dạn xấn tới người chưa quen để tự giới thiệu và chia sẻ những ý
nghĩ của mình với những người này.
Sáu là không thích làm việc nhóm. Làm việc nhóm là chìa khóa của sức
sáng tạo, của sự thành công. Ngày nay, không một dự án hay công trình
nghiên cứu nào có thể làm một mình từ A đến Z. Chiếc iPhone là kết quả
của sự cộng tác chặt chẽ của bao nhiêu sự đóng góp từ trí sáng tạo đến
công nghệ sản xuất của rất nhiều cá nhân cùng làm việc với nhau. Chìa
khóa làm việc nhóm đem tới kết quả là khả năng kiểm soát tự ái và khả
năng phóng thích được óc hiếu kỳ.
Sang Mỹ hay một số nước châu Âu bạn sẽ hiểu được thực sự làm việc nhóm
như thế nào. Hàng chục người ngồi hàng chục giờ làm việc với nhau, mở to
mắt và căng tai nghe các đối tác khác phát biểu, sẵn sàng phản biện
tích cực, tự ái chôn vùi thật sâu trong túi và chỉ làm việc với lý trí
và lòng cương quyết cùng đi tìm chân lý. Bảo rằng họ nhẫn nại thì không
đúng, vì nhẫn nại đã có nghĩa sẵn là chẳng lý thú gì. Không! Họ thực sự
thích thú những giây phút ngồi làm việc miệt mài với nhau. Giá mà chúng
ta cũng thích làm việc nhóm cũng như khi chúng ta ngồi nhậu giữa bạn
thân thì khả năng tập thể của chúng ta sẽ nhân lên biết bao.
Bảy là “chí phí của bạn không phải là của tôi”. Đây là một thái độ
chúng ta thường có nhưng ở Nhật Bản hay các nước Tây Âu họ không như
thế. Ví dụ, bạn tưới cây vườn nhà nhưng để nước chảy quá lâu, hàng xóm
bên châu Âu sẽ chủ động sang nhà bạn tắt nước và sẽ nhắc nhở bạn lần sau
nhớ đừng để quên nước chảy. Nếu bạn phá một ngôi nhà cổ (như nhà xây
thời Pháp ở quận 3, TP HCM) để biến nó trở thành một quán nước bình dân,
hàng xóm và thậm chí cả cộng đồng chung quanh nhà sẽ ngăn cản bạn làm
chuyện đó nếu như bạn ở các xứ văn minh hơn. Lý do là cho dù bạn sở hữu
những thứ bạn phá đi, bạn cũng vẫn phá đi một di sản công cộng được tạm
giao vào bàn tay của mình. Khi bạn để nước chảy cho dù bạn trả tiền
nước, bạn vẫn phí phạm một tài nguyên của tập thể. Tinh thần tập thể là
một cái gì chúng ta còn phải học nhiều.
Trở lại đề tài quốc tế hóa doanh nghiệp, theo tôi không phải chỉ là đi
làm dự án hay mua công ty ở nước ngoài, không phải chỉ là một việc biết
xì xồ tiếng Anh hay tiếng nào khác. Quốc tế hóa là san bằng văn hóa của
doanh nghiệp của bạn khi so sánh với các công ty toàn cầu, là làm cho
nhân viên của mình có đủ kiến thức và văn hóa để có thể hoạt động khắp
năm châu với một ít nhiều thoải mái. Quốc tế hóa là biến công ty của
chính mình trở thành nơi mà các chuyên viên nước ngoài vào làm việc mà
cảm thấy không lạc lõng, biến nhân viên của mình trở thành một loại công
dân toàn cầu, làm việc với một phong cách toàn cầu trong thế giới phẳng
ngày hôm nay. Nói nôm na là không còn luộm thuộm co ro nữa. Khi nào
cộng đồng nước ngoài nhìn nhân viên của chúng ta không còn thấy người
Việt Nam mà chỉ thấy một doanh nhân toàn cầu thì đúng vào lúc đó chúng
ta có thể nói chúng ta đã quốc tế hóa rồi.
Tóm lại, quốc tế hóa mà không cần thấy bóng của người nước ngoài cũng
như đầu tư ra khu vực, thế mới là một việc đáng ngạc nhiên.
Phan Văn Trường
Danh sách 18 thực phẩm chống ung thư bà nội trợ nào cũng cần

Bạn có thể ngăn ngừa ung thư với một chế độ ăn uống lành mạnh. Có được danh sách các thực phẩm chống ung thư dưới đây, bạn sẽ loại bỏ được nỗi lo về căn bệnh này.
Ung thư là một căn bệnh đáng sợ đang ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta trong thập kỷ qua. Nhưng bạn có thể ngăn ngừa ung thư với một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên và luôn thấy yêu đời.Chúng tôi xin giới thiệu tới các bạn 18 loại thực phẩm có đặc tính chống ung thư.
Bắp cải
Súp lơ
Bên cạnh bắp cải, các loại rau họ cải khác là súp lơ là thực phẩm chiến đấu lại bệnh ung thư. Súp lơ có thể lại chống ung thư bàng quang, ung thư vú, ung thư ruột kết, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư buồng trứng. Súp lơ giúp cơ thể giải độc, nó là một chất chống oxy hóa và nó có đặc tính kháng viêm.
Nấm
Nấm rất giàu vitamin B và sắt. Nó cũng được biết đến có khả năng chống lại bệnh tiểu đường, ngăn ngừa các khối u, chống oxy hóa, chống dị ứng, chiến đấu cholesterol và tăng khả năng miễn dịch.
Bông cải xanh
Cà rốt
Beta carotene và falcarinol được tìm thấy trong cà rốt giúp chống ung thư. Tiêu thụ cà rốt có thể chống lại các bệnh ung thư như: ung thư phổi, ung thư miệng, ung thư cổ họng, ung thư dạ dày, ung thư ruột, ung thư bàng quang, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú.
Khoai lang
Polyphenol chất chống oxy hóa axit caffeic và tri-caffeoylquinic acid có trong khoai lang giúp chống ung thư như ung thư phổi, ung thư mật, ung thư thận, ung thư gan và ung thư vú.
Bưởi
Bưởi được được biết có khả năng chống lại bệnh tiểu đường và thúc đẩy giải độc trên cơ thể. Nó cũng là một trong những thực phẩm chiến đấu lại ung thư đại tràng. Flavonoid trong bưởi làm chậm quá trình sản xuất ra tế bào ung thư.
Nho
Cà chua
Cà chua là một nguồn cung cấp vitamin A, C, và E và hợp chất chống ung thư là lycopene. Chất chống oxy hóa này giúp chống lại các gốc tự do và các tế bào ung thư. Vitamin C trong cà chua giúp ngăn ngừa tổn thương tế bào có thể dẫn đến ung thư. Cà chua là thực phẩm tuyệt vời để chống lại ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư miệng, ung thư tuyến tụy và ung thư ruột kết.
Mâm xôi, dâu tây
Quả mâm xôi và dâu tây có chứa chất chống oxy hóa có thể chống lại tế bào ung thư đặc biệt là ung thư dạ dày, ung thư ruột kết và ung thư vú. Acid ellagic có trách nhiệm để ngăn ngừa ung thư da, bàng quang, phổi và thực quản.
Đu đủ
Đu đủ có chứa các hợp chất beta carotene và lycopene rất hiệu quả trong cuộc chiến chống các gốc tự do. Isothiocyanates từ đu đủ cũng bảo vệ các tế bào di căn thành ung thư. Do đó điều này làm cho đủ đủ trở thành “superfood” chống lại ung thư.
Cam và chanh
Hạt lanh
Hạt lanh có thể ngăn chặn sự phát triển và lây lan của các tế bào ung thư. Hạt lanh giúp tránh được ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú.
Tỏi
Tỏi có thể làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày, ung thư ruột kết, ung thư thực quản, ung thư tuyến tụy và ung thư vú.
Nghệ
Trà xanh
Trà xanh có thể được dùng để tăng tốc độ trao đổi chất và giảm cân. Trà xanh cũng có thể ngăn chặn sự lây lan của bệnh ung thư.
Sản phẩm đậu nành
Một số chất có trong đậu nành có liên quan với việc giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú. Bên cạnh chống ung thư các sản phẩm đậu nành có thể giúp chống lại cholesterol xấu và huyết áp cao .
Dưa hấu
Lycopene có mặt trong cà chua cũng được tìm thấy trong dưa hấu. Lycopene là một hợp chất có thể chống ung thư.
theo Dân Việt
Hiệu trưởng trường trung học (thuộc xã Tiến Xuân, Thạch Thất, Hà Nội) chết trong tư thế treo cổ tại nhà riêng
Khi người thân trở về nhà thì bàng hoàng phát hiện ông T. treo cổ. Ông được đưa đi cấp cứu nhưng đã chết trước đó.
Tin ban đầu, khoảng 15 giờ ngày 29-10, người thân trong gia đình ông
Cấn Văn T., hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Tiến Xuân (thuộc xã Tiến
Xuân, Thạch Thất, Hà Nội) đi ra ngoài về thì phát hiện ông T. treo cổ
trong nhà.
Ông T. nhanh chóng được gia đình đưa đi cấp cứu nhưng vị hiệu trưởng này đã chết trước đó.
Ông T. có hộ khẩu thường trú và công tác tại xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất nhưng hiện đang thuê nhà và ở cùng vợ con tại xã Đông Xuân, Quốc Oai.
Ông T. nhanh chóng được gia đình đưa đi cấp cứu nhưng vị hiệu trưởng này đã chết trước đó.
Trường THCS Tiến Xuân nơi ông T. công tác.
Đại
tá Phạm Danh Mạnh - Trưởng Công an huyện Quốc Oai xác nhận địa bàn vừa
xảy ra vụ việc trên. Nguyên nhân ban đầu được xác định là ông T. chết do
treo cổ tự tử.Ông T. có hộ khẩu thường trú và công tác tại xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất nhưng hiện đang thuê nhà và ở cùng vợ con tại xã Đông Xuân, Quốc Oai.
Máy bay Nga áp sát tàu sân bay Mỹ tại Biển Nhật Bản
30/10/2015
Một
hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ sáng ngày 29/10/2015, đã phái bốn chiến
đấu cơ cất cánh để nhận dạng và áp tải máy bay Nga, hoạt động cách chiếc
tàu nói trên khoảng một hải lý. Phía Hoa Kỳ đã cố gắng liên lạc với các
phi công Nga nhưng không được.
Một
hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ sáng ngày 29/10/2015, đã phái bốn chiến
đấu cơ cất cánh để nhận dạng và áp tải máy bay Nga, hoạt động cách chiếc
tàu nói trên khoảng một hải lý. Phía Hoa Kỳ đã cố gắng liên lạc với các
phi công Nga nhưng không được.
Vào
tháng 9/2004, phi cơ chiến đấu của Anh cũng đã phải bay lên để "tiễn"
máy bay ném bom của Nga ra khỏi không phận nước này. Ảnh Bộ Quốc phòng
Anh
Theo ông Jeff Davis, người phát ngôn của Bộ
Quốc phòng Mỹ, hai máy bay tuần tiễu và săn tàu ngầm TU-142 Bear của
Nga, bay ở độ cao "khoảng 500 bộ", tương đương 150 mét.
Không có gì cho thấy hai phi cơ nói trên là "một đe dọa trực tiếp",
nhưng việc tàu sân bay USS Ronald Reagan đưa bốn chiến đấu cơ F/A 18
lên là một phản ứng bắt buộc, để bảo đảm an toàn cho tàu sân bay, phát
ngôn viên Bộ Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh, theo RFI.
Về phần mình, người phát ngôn của Nhà Trắng, Josh Earnest, cho biết
rõ sự cố trên xảy ra đúng vào lúc hải quân Hoa Kỳ và Hàn Quốc đang tập
trận phối hợp. Ông cho biết thêm chính máy bay Hàn Quốc đã phát hiện
được máy bay Nga.
Tuy nhiên, phát ngôn viên Nhà Trắng cũng khẳng định vụ việc này xảy
ra trong không phận quốc tế, hoàn toàn không giống với vụ phi cơ Nga
xâm phạm không phận Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước vùng Baltic gần đây.
Trong thời gian qua, liên tục có các vụ phát hiện máy bay quân sự
của Nga tại Châu Âu, sau khi căng thẳng dâng cao giữa Nga và Phương Tây,
tiếp theo vụ Nga sáp nhập bán đảo Crimea và xung đột tại khu vực miền
đông Ukraine thân Nga.
Phi cơ quân sự Nga và Hoa Kỳ cũng từng nhiều lần bay sát nhau trên
bầu trời Syria, sau khi Nga mở chiến dịch không kích, ngày 30/09/2015.
Hôm 10/10/2015, Washington và Moscow đã ký một văn bản ghi nhớ nhằm
xây dựng các thể thức trao đổi thông tin tránh để các va chạm có thể
bùng nổ thành đụng độ quân sự.
TRỌNG THÀNH
Chiến thuật ‘biển tàu’: Vũ khí lợi hại của Bắc Kinh ở Biển Đông?
00:00 31/10/2015
Từng
nổi tiếng với chiến thuật "biển người" trên bộ, phải chăng Trung Quốc
sẵn sàng sử dụng hình thức "biển tàu" tại Biển Đông để ngăn chặn Mỹ?
Một đội tàu cá Trung Quốc ở cảng Đông Phương, Hải Nam. Ảnh Reuters
Câu hỏi này đang được giới phân tích đặt ra
vào lúc Washington khẳng định sẽ tiếp tục các chiến dịch tuần tra vì
quyền tự do hàng hải, đi sâu vào bên trong vùng mà Trung Quốc cho là
lãnh hải của họ tại Biển Đông, bất chấp quy định ngược lại của luật lệ
quốc tế, theo RFI.
Khi thực hiện chiến dịch tuần tra bên trong vùng 12 hải lý bao
quanh đảo nhân tạo Xu Bi (Subi Reef) - và cả đảo Vành Khăn (Mischief
Reef), theo một số nguồn tin – tàu khu trục USS Lassen của Mỹ hầu như
không gặp một sự cản trở nào.
Thế nhưng, với việc Washington cho biết là sắp tới đây, họ sẽ tiếp
tục tiến hành những chiến dịch tương tự, nhiều nhà quan sát cho rằng Bắc
Kinh sẽ không ngồi yên.
Một trong những chiến thuật mà Trung Quốc có thể viện đến là sử
dụng đội tàu đông đảo của họ, cả quân sự, và nhất là bán quân sự để bao
vây và cản đường tàu Mỹ, buộc đối phương phải thối lui nếu không muốn
gây ra sự cố.
Thua về chất lượng, nhưng hơn hẳn về số lượng
Theo hãng tin Anh Reuters, Sam Bateman, một sĩ quan hải quân Úc đã
về hưu, hiện là cố vấn cho Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở
Singapore, cho rằng dù về tinh nhuệ và hiện đại, tàu Trung Quốc còn kém
tàu Mỹ, nhưng không nên coi thường vấn đề số đông.
"Ở bất kỳ thời điểm nào, họ (tức là Trung Quốc) đều có số đông...
và số lượng, chứ không phải chất lượng, có thể mang tính chất quan trọng
trong một số tình huống", bao gồm cả việc đối đầu với những kẻ bị cho
là xâm nhập vào vùng biển của mình.
Chuyên gia Bateman và nhiều nhà phân tích an ninh khu vực khác đã
cho rằng các chiến hạm Mỹ có thể lâm vào tình thế bị tàu Trung Quốc bao
vây nếu Bắc Kinh quyết định ngăn chặn các chiến dịch tuần tra vì quyền
tự do hàng hải trong tương lai.
Trên báo chí Trung Quốc, một số chuyên gia phân tích đã gợi lên khả
năng tàu Trung Quốc cản đường, thậm chí đâm thẳng vào tàu chiến của Mỹ.
Theo chuyên gia Bateman, vấn đề là tàu Mỹ vì tôn trọng các quy tắc hành
xử trong các trường hợp đó, sẽ không thể nổ súng ngăn chặn, làm cho
tình hình xấu đi, và chỉ còn cách rút lui.
Tình hình có thể rắc rối hơn cho Mỹ nếu lực lượng Trung Quốc ra
ngăn chặn không phải là tàu quân sự, mà là tàu tuần duyên, trên nguyên
tắc thuộc diện bán quân sự, hay chỉ là tàu cá của lực lượng dân quân
biển rất đông của Trung Quốc.
Đã từng dùng số đông ở Biển Đông
Kịch bản kể trên không phải là một điều không tưởng, vì có nhiều
dấu hiệu cho thấy là Trung Quốc đã tính đến khả năng dùng số đông để áp
đảo đối phương, đặc biệt là tại vùng Biển Đông.
Theo một công trình nghiên cứu của Lầu Năm Góc công bố vào tháng Tư
vừa qua, với 116 chiếc tàu đủ loại, Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc phụ
trách Biển Đông, là hạm đội lớn nhất so với hai hạm đội còn lại của nước
này là Bắc Hải và Đông Hải.
Hạm đội 7 của Mỹ, tuy rất hùng mạnh, chỉ có vỏn vẹn 55 tàu, đặt căn
cứ ở Yokosuka, Nhật Bản. Ngoài ra, hạm đội này không chỉ tập trung ở
vùng Đông Nam Á như Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc, mà phải trải rộng
hoạt động từ Tây Thái Bình Dương qua một phần lớn của Thái Bình Dương.
Bên cạnh đó, Trung Quốc còn có một đội tàu tuần duyên hùng hậu
trong đó có hơn 200 chiếc trên 500 tấn, bao gồm nhiều chiếc trên 1.000
tấn. Về số lượng, đội tàu bảo vệ bờ biển của Trung Quốc đã hơn gấp bội
tổng cộng các đội tàu của tất cả các đối thủ châu Á gộp lại. Hơn nữa,
như tạp chí quốc phòng Anh IHS Jane từng tố cáo hồi tháng 7 vừa qua, Bắc
Kinh rõ ràng đã và đang tiếp tục chuyển đổi tàu hải quân thành tàu bảo
vệ bờ biển.
Trong thời gian qua, đội tàu này đã được Bắc Kinh tung vào mọi
chiến dịch áp đặt chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, từ vụ mặc nhiên
chiếm bãi Scarborough từ tay Philippines vào năm 2012, cho đến vụ bảo vệ
giàn khoan HD-981 cắm trong vùng biển Việt Nam năm 2014.
Như đã ý thức được sự lợi hại của số lượng tàu Trung Quốc đông đảo,
Bộ trưởng Bộ Hải quân của Mỹ, ông Ray Mabus trong những năm gần đây, đã
xem việc tăng cường số lượng tàu trong Hải quân Mỹ là một ưu tiên.
Trong nhiều bài phát biểu, ông Mabus khẳng định: "Số lượng cũng có giá
trị riêng của nó".
TRỌNG NGHĨA
Tường trình 2015 của cơ quan ân xá quốc tế về Việt Nam
Lược dịch
Trần Huê
Các biện pháp khắc nghiệt nhằm giới hạn quyền tự do ngôn
luận, quyền tự do hội họp bất bạo động, quyền tự do lập hội vẫn được
duy trì. Nhà nước tiếp tục kiểm soát toàn bộ hệ thống truyền thông lẫn
ngành tư pháp và các cơ sở tôn giáo, mọi cơ cấu chính trị. Nhiều tù nhân
lương tâm vẫn bị giam giữ trong điều kiện khắc nghiệt mà trong những
năm trước đây họ đã bị kết án qua các phiên tòa không công bằng. Các tù
nhân lương tâm này là Blogger, là thành viên nghiệp đoàn, các nhà hoạt
động chống việc chiếm nhà đất phạm pháp, những người dân hoạt động xã
hội, chính trị, các tín đồ tôn giáo, người sắc tộc và những nhà tranh
đấu đòi nhân quyền.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Thêm vào đó, nhiều Blogger và các nhà bảo vệ nhân quyền vẫn còn bị bắt
bớ và đưa ra tòa. Chính quyền dùng mọi cách cản trở, gây khó khăn, canh
chừng và giới hạn sự đi lại để giảm thiểu sự hoạt động của các nhóm xã
hội dân sự bị ngăn cấm. Lực lượng công an làm khó dễ, ngăn cản hoạt
động của các nhà hoạt động ôn hòa, hành hung những người này và tạm bắt
giữ họ. Tội tử hình còn giữ nguyên cho nhiều tội phạm khác nhau.
Tình hình chung:
Từ tháng giêng năm 2014 Việt Nam được bầu vào Ủy ban nhân quyền LHQ cho
nhiệm kỳ 3 năm. Đến tháng 6, VN chối bỏ 45 trong số 227 khuyến cáo do
Nhóm làm việc đề ra trong lần Kiểm điểm thường kỳ phổ quát hồi tháng 2.
Trong số này,các khuyến cáo quan trọng nhất liên quan đến những người
bảo vệ nhân quyền và những người bất đồng chính kiến cũng như về quyền
tự do ngôn luận và về tội tử hình.
Vào tháng 5
2014, vấn đề tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông leo thang sau khi Trung
Quốc đem một giàn khoan dầu vào hải phận mà VN cũng coi là thuộc chủ
quyền của VN. Sự việc này đã làm dấy lên một làn sóng chống TQ, có hàng
chục ngàn công nhân tham dự tại các khu công nghiệp ở nhiều tỉnh thành ở
Miền Nam và Trung VN.
Trong vụ này
nhiều nhà máy sản xuất thuộc các công ty TQ đã bị đập phá, bị làm hư
hại, mất cắp, có cả các công ty Đài Loan, Nhật và Đại Hàn cũng bị liên
lụy. Một số người không rõ bao nhiêu đã bị thiệt mạng và bị thương, có
khoảng 700 người bị bắt vì đã tham gia vào vụ bạo loạn này.
Vào tháng 2 năm
2014 đại diên của Tổ chức ân xá quốc tế có sang VN để nói chuyện chính
thức. Trong chuyến thăm vào tháng 7, báo cáo viên đặc biệt của LHQ về
tôn giáo hoặc tự do tín ngưỡng xác nhận có những dấu chỉ vi phạm nghiêm
trọng quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng.
Chẳng hạn, đã
có những vụ cảnh sát ruồng bố và phá rối các buổi hành lễ tôn giáo. Tín
đồ bị đánh đập và đã xãy ra những vụ hành hung tín hữu thuộc các giáo
hội độc lập. Một vài nhân sự được mời gặp mặt bị đe dọa, bắt chẹt, làm
khó dễ đủ điều và bị canh chừng
Những sự phát triển của các cơ cấu, luật lệ và hiến pháp
Hiến pháp được
biểu quyết hồi tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực vào năm 2014. Trước đó,
một tiến trình bàn thảo hiến pháp đã kéo dài 9 tháng liền và bị nhiều bó
hẹp. Hiến pháp này trù liệu vấn đề bảo vệ các quyền tự do ngôn luận,
quyền hội họp ôn hòa và quyền tự do lập hội. Tuy nhiên, các quyền nói
trên lại bị giới hạn rất nhiều bởi các điều chế tài rất co giãn và mơ hồ
qua các đạo luật của nhà nước. Hiến pháp chỉ bảo đảm có giới hạn quyền
được hưởng xét xử công bằng trước tòa án..
VN ký Quy ước
chống tra tấn của LHQ hồi tháng 11/ 2013 và tiếp theo đó nhiều buổi làm
việc chung quanh vấn đề chống tra tấn được tổ chức trong năm 2014. Tháng
11/2014, quốc hội phê chuẩn quy ước nói trên. Mặc dù hiến pháp mới cấm
các hành động tra tấn, nhưng các điều luật hiện hành không định nghĩa rõ
ràng, những hình phạt nào bị coi là hành động tra tấn.
Quốc hội từ
chối đề nghị cải tổ luật thành hôn và gia đình, nhằm công nhận sự sống
chung của các đôi dồng tính luyến ái cũng như về quyền chăm sóc con
chung. Ngoài ra, nhà nước tuyên bố luật pháp sẽ không công nhận các cặp
vợ chồng đồng tính..
Chính quyền
tuyên bố, nhiều bộ luật về nhân quyền đang được soạn thảo và sẽ đưa ra
quốc hội biểu quyết trong năm 2016. Trong đó có một tu chỉnh về luật
hình sự, luật cải tổ về tự do báo chí, luật thành lập các hội đoàn, luật
về biểu tình và luật về vào ngõ thông tin.
Đàn áp những người bất đồng chính kiến
Mặc dù sống
trong hoàn cảnh nghiệt ngã và có thể nguy hại đến an ninh của chính bản
thân mình, các nhà tranh đấu nhân quyền và những người cổ võ cho sự
chuyển đổi xã hội và chính trị trong nước đã gia tăng hoạt động ôn hòa,
bất bạo động. Chính quyền dùng các điều luật mơ hồ trong bộ hình luật
năm 1999 để cáo buộc các hoạt động bất bạo động của người dân xử dụng
quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội của họ là những hành
động phạm pháp.
Trong tháng 4
và 6/2014, mặc dù đã có 6 nhà đối lập được trả tự do trước kỳ hạn, ít
nhất hơn 60 tù nhân lương tâm, bất bạo động vẫn còn bị giam giữ. Họ đã
bị kết án qua những phiên tòa không công bằng. Những người này là
Blogger hoạt động ôn hòa, những nhà hoạt động nghiệp đoàn, hoạt động
chống việc chiếm nhà đất bất hợp pháp, những người dân dấn thân hoạt
động xã hội hoặc vận động chính trị, tín hữu thuộc các giáo phái và các
người tranh đấu cho nhân quyền.
Thêm vào đó, có
ít nhất 18 Blogger và những nhà hoạt động đã bị đưa ra trong 6 phiên
tòa. Họ bị kết án "lạm dụng các quyền tự do dân chủ, làm hại đến quyền
lợi quốc gia" theo điều khoản 258 của bộ luật hình sự, và bị án tù từ 15
tháng đến 3 năm.
Blogger và là
cựu cảnh sát viên, Nguyễn Hữu Vinh và đồng nghiệp của ông, bà Nguyễn thi
Minh Thuý bị bắt giữ hồi tháng 5 và bị giam cầm vì tội "đưa tin thất
thiệt trên Internet" theo điều 258 của bộ hình luật. Nguyễn Hữu Vinh
được nhiều người biết đến và ưa chuộng qua trang web Ba Sàm do ông lập
ra năm 2007, trong đó có nhiều bài viết về các đề tài chính trị và xã
hội.
Trong thời gian
từ 29.11. đến 27.12.2014, thêm 3 Blogger nổi tiếng bị bắt vì đã đưa
bài lên mạng chỉ trích các viên chức nhà nước và phê bình về đường lối
chính trị. Đó là các ông Nguyễn Đình Ngọc, giáo sư Hồng Lê Thọ, người có
quốc tịch Nhật và VN, cũng như nhà văn Nguyễn Quang Lập.
Nhiều người,
hoặc được lệnh của nhà nước hoặc có sự đồng ý của lực lượng an ninh, đã
hành hung các nhà hoạt động mặc dù trước đó họ không hề bị khiêu khích.
Chẳng hạn, như hồi tháng 5 2014. nhà bảo vệ nhân quyền và cựu tù nhân
chính trị bất bạo động Nguyễn Văn Đài bị một nhóm 5 người hành hung
trong khi ông này đang ngồi với bạn bè ông trong một quán café. Ông bị
thương ở đầu phải được may lại. Cũng trong tháng đó, nữ Blogger và nhà
bảo vệ nhân quyền Trần thị Nga bị 5 người tấn công khi bà này đang chạy
xe gắn máy trên đường với 2 đứa con nhỏ của bà.
Bà ấy bỉ gảy
tay và bị thương tích ở đầu gối cùng nhiều vết thương khác trên người.
Nhiều nhà hoạt động muốn tham dự các phiên toà xử 3 người tranh đấu cho
nhân quyền vào tháng tám đã bị lực lượng an ninh làm khó dễ, đánh đập
và bắt giữ. Tháng 10, 3 nhà hoạt động khác bị hành hung. Tháng 11, nhà
báo độc lập Trương Minh Đức bị tấn công và đánh đập lần thứ ba trong
vòng 2 tháng. Ông này đã mang nhiều vết thương nặng.
Quyền tự do đi lại
Vào tháng 2 năm
2014, nhi ều nhà hoạt động bất bạo động bị ngăn chận không được đi
Genf, Thụy sĩ để tham dự Hội thoại về Tình trạng Nhân quyền VN trong dịp
Kiểm điểm thường kỳ của LHQ. Cảnh sát mời họ đến làm việc và đã thu
hồi thông hành của họ. Những ai được di đến Genf, lúc trở về họ đã bị
bắt và bị thẩm vấn.
Nhà hoạt động cho người lao động và cựu tù nhân lương tâm Đỗ thi Minh Hạnh, đư ợc trả
tự do hồi tháng
6. Vào tháng 8 cô đã bị giữ lại ở phi trường, không được đi Áo thăm mẹ
của cô đang đau nặng. Mãi đến tháng 10 cô mới được cho đi.
Các nhà hoạt
động cho dân quyền muốn tham dự các buổi hội họp sinh hoạt xã hội dân sự
thường lệ, tham dự các buổi tiếp xúc ở các toà đại sứ nước ngoài cũng
như tham dự các phiên tòa xử các nhà đối lập đã bị làm khó dễ, đe dọa và
ngăn chận không được đi ra khỏi nhà. Theo sự tường thuật của một người,
trong thực tế họ đã bi quản thúc tại gia.
Tù nhân chính trị bất bạo động
Điều kiện sống
trong tù của các tù nhân chính trị thì thật vô cùng tồi tệ. Họ không
được săn sóc sức khỏe đầy đủ, đúng mức và bị thiếu dinh dư ỡng. Một số
người này bị bạn tù hành hạ mà nhân viên nhà tù không hề can thiệp, và
một số người bị giam giữ không hề được liên lạc với bên ngoài. Khi gia
đình đến thăm nuôi luôn luôn có mặt nhân viên nhà tù và bị cấm nói về
các vấn đề họ gọi là nhạy cảm. Đôi khi tù nhân bị chuyển đi nơi khác mà
gia đình không hề được biết.
Những người tù
nhân khác thì bị giam giữ ở các nơi xa xôi, làm cho việc thăm nuôi của
gia đình trở thành vô cùng khó khăn. Có tù nhân bị ép buộc "thú nhận"
tội phạm mà họ đã bị kết án, nhờ đó có thể họ sẽ được trả tự do.
Nhà đấu tranh
chống ô nhiễm và tù nhân lương tâm Đinh Đăng Định đã qua đời vào tháng 4
năm 2014 vì bệnh ung thư dạ dày, sau khi ông đươc tự do tạm hồi tháng 2
vì lý do sức khỏe. Mặc dù có sự yêu cầu của gia đình ông và của các
tòa đại sứ, nhà cầm quyền đã không để cho ông được chữa trị đúng mức
trong suốt thời gian 6 năm ông ở trong tù.
Tội tử hình
Tội tử hình vẫn
được áp dụng cho tội giết người, buôn lậu thuốc phiện, phản quốc và tội
ác vô nhân đạo.Theo các tin tức, có ít nhất 3 vụ xử tử hình bằng thuốc
độc đã được thi hành. Số người mang án tử hình được ước chừng trên 650
người. Nhà nư ớc không cho biết một con số chính thức nào, và các thống
kê về án tử hình cho đến nay vẫn được xem là bí mật quốc gia.
Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015
NGUYÊN NHÂN VÀ Ý NGHĨA TỰ THIÊU CỦA BỒ-TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC
TT.TS. Thích Nhật Từ
Phó Viện trưởng Học viện PGVN tại TP.HCM
Trong suốt gần hai nghìn năm
hiện diện trên quê hương, chưa bao giờ Phật giáo Việt Nam phải đối diện với
những đe dọa và thách thức trầm trọng như trong gần bốn mươi năm giữa thế kỷ
thứ 20. Đó là giai đoạn mà Phật giáo phải chịu tác động của 3 cuộc khủng hoảng
lớn. Thứ nhất là nội lực của Phật
giáo bị suy kiệt sau gần 100 năm bị “nhiệm vụ khai hoá” của thực dân Pháp gạt
ra khỏi vai trò phên dậu văn hóa của dân tộc. Thứ nhì là cùng đồng hành với dân tộc trong cao trào chống ngoại
xâm nên đã hy sinh gần cạn kiệt nguồn vốn trí tuệ, thân mạng và cơ sở vật chất
trên cả ba miền đất nước. Thứ ba là
sau ngày đất nước qua phân vào năm 1954, trong khi Phật giáo tại miền Bắc gần
như hoàn toàn tê liệt vì hậu quả của chiến cuộc thì tại miền Nam, trong nỗ lực
chập chững hồi sinh, Phật giáo lại phải đối mặt suốt gần một
thập niên với một chính sách đàn áp, tiêu diệt có hệ thống của chính quyền Ngô
Đình Diệm.
Chính quyền Ngô Đình Diệm
với vị Tổng Giám mục “quyền huynh thế phụ” đầy tham vọng đạo cũng như đời, thật
ra chỉ là một công cụ để thừa kế và triển khai một cách dai dẳng và không
khoan nhượng, sách lược xâm thực văn hóa của chủ nghĩa thần quyền ngoại bang,
suốt gần 600 năm khắp nơi trên thế giới.
Phật giáo Việt Nam trở thành
đối tượng bị nhắm đến đầu tiên, liên tục và hung hản trong suốt 8 năm cai trị
của chế độ Ngô Đình Diệm, một chế độ mà nhiệm vụ chính trị của tập đoàn lãnh
đạo đã làm cho họ không còn chọn lựa nào khác, không còn cách hành động nào
khác hơn là phải tiêu diệt Phật giáo. Cho nên trong suốt 8 năm, Phật giáo đã bị
kỳ thị, đàn áp, khống chế, thậm chí bị tiêu diệt trong hầu hết mọi lãnh vực
sinh hoạt quần chúng cũng như công quyền tại miền Nam. Từ luật pháp đến chính
trị, từ giáo dục đến an ninh, từ kinh tế đến thương mãi, từ nông nghiệp đến xã
hội, từ quân đội đến hành chính … và đặc biệt trong lãnh vực tôn giáo thì chính
quyền dùng đủ mọi biện pháp để khống chế và tiêu diệt đến tận cùng.
Trong bài viết này, tác giả phân tích các nguyên nhân
dẫn đến phong trào đấu trong bất bạo động của Phật giáo Việt Nam và đại nguyện
tự thiêu vì chánh pháp của Bồ-tát Thích Quảng Đức. Trên cơ sở này, phân tích
khái quát về ý nghĩa tự thiệu của Bồ-tát Thích Quảng Đức, để từ đó, mỗi người
tự rút ra cho mình các bài học nhập thế, phụng sự nhân sinh.
I. BỒ-TÁT QUẢNG ĐỨC TỰ THIÊU
Bồ-tát Thích Quảng Đức tên thật là Lâm Văn Tuất (林文戌),[1]
còn gọi là Nguyễn Văn Khiết (阮文㓗) sinh vào giờ tý, ngày Rằm tháng 9 Mậu Tuất (29-10-1898)
tại Khánh Hòa. Đứng trước cảnh chính quyền toàn trị Ngô Đình Diệm gây nhiều bất
công xã hội, tạo ra bất bình đẳng tôn
giáo, bách hại Phật tử, cấm treo cờ Phật giáo thế giới trong ngày đại lễ Phật
đản, Bồ-tát Thích Quảng Đức đã phát tâm đại bi, thiêu thân vì chánh pháp vào
lúc 11 giờ ngày 20 tháng 4 (nhuần) Mậu Ngọ (11-6-1963) tại ngã tư Phan Đình
Phùng và Lê Văn Duyệt.[2]
Một người theo Tin Lành giáo tại Hoa Kỳ, Mục sư Donald
Harrington đã tường thuật rất xúc động về bản chất và ý nghĩa của việc Bồ-tát
Quảng Đức tự thiêu, như ngọn lửa soi sáng lương tâm chính quyền độc tài toàn
trị Ngô Đình Diệm và những người chủ trương chiến tranh thực dân mới ở miền Nam
Việt Nam:
“Cách
đây hơn hai tuần, vào ngày 11.6.63 Hòa thượng Thích Quảng Đức đã ngồi thiền
trên đường nhựa nóng. Trong tay Hòa thượng cầm một xâu chuổi 54 hạt và bắt đầu
niệm Phật. Trên chiếc áo cà sa của Hòa thượng thì đã tẩm ướt đầy xăng. Tất cả
Tăng Ni lùi lại, kính cẩn, kinh sợ. Khách bộ hành nhận thấy một biến cố phi
thường gì sắp xẩy ra nên tất cả đều dừng lại chờ đợi.
Với
vẻ yên lặng, bình thản trên khuôn mặt, Hòa thượng Quảng Đức niệm lớn: “Nam Mô A
Di đà Phật”. Thế rồi Người bật một que diêm và ngọn lửa phừng phực bốc lên phủ
kín thân thể nhưng Người không hề rên la hay lay động. Người ngồi thẳng trong
mười phút, thân hình chìm trong lửa đỏ, và khi lửa tàn, Người nằm xuống bất
động...
Người
ta có thể tự hỏi sự khủng khiếp và niềm phẫn hận nào đã có thể khiến cho một
người của “Tình Thương” của “Hòa Bình”, quyết chí tự thiêu?... Nếu sự tuyệt vọng hoàn toàn và chán đời cực
độ đã đưa con người trên đời nầy đến chỗ tự tử, thì một lý tưởng cao cả nhất và
lòng yêu đời nồng nàn nhất một đôi khi cũng đã sản xuất những người tử đạo quả
cảm nhất trong lịch sử... Hòa thượng Quảng Đức hy sinh đời mình bằng cách tự
thiêu để thức tỉnh lương tâm của Tổng thống Diệm và lưu ý cho toàn thế giới..
Người
đã chịu đựng sự đau đớn của tia lửa hồng đang đốt da thịt nhưng không một lời
kêu than. Người gởi mấy lời của Người cho Tổng thống Diệm, và cho đến nay ông
Diệm vẫn chưa chịu nghe hay chú ý. Nhưng dù sao tiếng nói ấy vẫn là tiếng nói
của tình thương, tiếng nói mà trong thâm tâm của nó chứa đưng sự giải thoát của
miền Nam Việt Nam. Người đã để lại một bóng đen sĩ nhục lên sự huy hoàng mà
Giáo hoàng Gioan đã mang lại cho Giáo hội Thiên Chúa. Người đã làm và Người
phải làm, cho mỗi người Hoa Kỳ đi tìm linh hồn của Người và cho chính phủ Hoa
Kỳ biết rằng, trừ phi chính phủ Sài Gòn thực thi ngay quyền bình đẳng tôn giáo
cho Phật giáo đồ và tự do cho dân chúng Việt Nam, tất cả mọi viện trợ của Hoa
Kỳ đều phải chấm dứt ngay...
Ngọn
lửa ấy có thể thành một tia hy vọng cho những người từ lâu bị áp bức bởi người
ngoại quốc hay bởi ngay chính đồng bào của họ...”[3]
Để
thực hiện đại nguyện tự thiêu, bảo vệ chánh pháp, Bồ-tát Thích Quảng Đức đã nhờ
TT. Thích Đức Nhuận giúp đánh máy và đọc bản thảo Đơn xin tự thiêu ký ngày 27-5-1963. Đơn xin tự thiêu của
Bồ-tát Thích Quảng Đức khẳng định năm nguyện vọng Phật giáo và phương pháp bất
bạo động là tinh thần đấu tranh chân chánh của Phật giáo Việt Nam như sau:
“Tôi tên là
Nguyễn Văn Khiết, pháp danh là Thị Thủy, pháp tự là Quảng Đức, tu sĩ Giáo Hội
Tăng Già Việt Nam, mang thẻ căn cước số 399703 cấp tại Quận Tân Bình ngày 21
tháng 2 năm 1962, hiện tọa chủ chùa Long Phước, xã Ninh Quang, Khánh Hòa, xác
định rằng:
1) Năm nguyện
vọng tối thiểu nghi trong Bản Tuyên Ngôn của Tăng, Tín đồ Phật giáo là phản ảnh
tinh thần chân chánh của Phật giáo Việt Nam.
2) Nguyện
luôn luôn son sắt bền chí với lý tưởng tranh đấu hợp tình, bất bạo động của
Phật giáo đồ Việt Nam.
3) Triệt để
tuân theo và ủng hộ các cấp lãnh đạo Phật giáo.
Và để minh
định lập trường của chúng tôi, chúng tôi tự nguyện thiêu đốt thân này nếu Chính
phủ Việt Nam Cộng Hòa không làm thỏa mãn nguyện vọng ghi trong Bản Tuyên Ngôn
là phản ảnh tha thiết mong cầu của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam.
- Phật giáo Việt Nam bất diệt !
- Lá cờ Phật giáo không thể bị triệt hạ.
Và xin quý
Thượng tọa chấp thuận chuyển tới toàn thể tín đồ lời nguyện ước cuối cùng của
tôi: Phật tử chúng ta hãy cùng nhau tự giác, tự nguyện, bền chí với sứ mạng duy
trì chánh pháp, bảo vệ lá cờ Phật giáo.”[4]
Mặc
dù không được Giáo hội Tăng già Việt Nam chấp nhận,[5]
Bồ-tát Quảng Đức vẫn thầm lặng theo đuổi đại nguyện tự thiêu trên tinh thần vô
ngã, vị tha. Những ngày cuối đời tại Chùa Ấn Quang, Bồ-tát tham thiền nhập
định, đọc tụng Kinh Pháp Hoa, ôn lại
tấm gương của Bồ-tát Dược Vương dùng hỏa quang tam-muội để đốt thân cúng dường
chánh pháp.
Trong Lời nguyện
Tâm quyết,[6] Bồ-tát
Thích Quảng Đức thể hiện lòng từ bi đối với vận mạng của Phật giáo: "Tôi
là một tu sĩ mệnh danh là Trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa
thị để cho Phật giáo tiêu vong." Hành động của Bồ-tát Quảng Đức một mặt
"nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật” mặt khác nhằm mục đích
“hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo." Từ trong thâm tâm, ngài mong cầu
mọi việc tốt lành đến với tổng thống Ngô Đình Diệm, “Cầu nguyện Phật Trời gia
hộ cho Tống Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt” và mong ông “nên lấy lòng bác ái từ
bi đối với quốc dân, và thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước
nhà muôn thuở”. Đối với quê hương, dân tộc và đạo pháp, Bồ-tát Quảng Đức mong
cầu: “ơn Phật gia hộ cho Phật Giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt; mong hồng
ân đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức Tăng Ni, và Phật tử Việt Nam tránh khỏi tai
nạn khủng bố, bắt bớ, giam cầm của kẻ gian ác; và cuối cùng là cầu nguyện cho đất nước
thanh bình, quốc dân an lạc.”
Thông thường “lửa” trong Phật giáo tượng trưng cho
“tham ái” như trong kệ Pháp Cú 146: “Cười sao được, sướng vui sao nỗi/ Khi lửa
tham (pajjalite)[7] cháy
rụi thế gian/ Tối tăm giăng phủ trời đêm/ Sao không nỗ lực tìm đèn sáng soi?”[8] Lửa rực đỏ từ thân Bồ-tát
Thích Quảng Đức suốt 7 phút đã trở thành “lửa từ bi” như nhà thơ Vũ Hoàng
Chương[9] đã mô tả qua bài thơ bất
hũ mang cùng tên. Ngọn lửa từ bi của Bồ-tát Thích Quảng Đức có khả năng soi
sáng lương tâm như ngọn đuốc trí tuệ. Bằng ngọn lửa từ bi, trái tim từ bi của
Bồ-tát Thích Quảng Đức trở thành “xá lợi trái tim” đầu tiên và duy nhất về thể
loại này, bất diệt với thời gian, biểu tượng của tình thương chiến thắng bạo
tàn, trí tuệ chiến thắng gian ngụy.
II. NGUYÊN NHÂN CỦA TỰ THIÊU
Bản Tuyên ngôn do HT. Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam ấn ký, gửi chính
phủ ngày 10-5-1963 nêu rõ nguyên nhân của cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật
giáo là đòi công bằng xã hội và tôn giáo bình đẳng. Do đó, nguyên nhân tự thiêu
của Bồ-tát Thích Quảng Đức là vì chính sách hà khắc đàn áp Phật giáo của chính
quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của người dân, tạo ra nhiều hành động bất
công đối với Phật giáo. Bản Tuyên ngôn viết như sau:
“Từ nhiều năm
nay, Phật giáo đồ đã bị khủng bố đàn áp khắp nơi, chúng tôi vẫn nhẫn nhục,
đương nhiên không phải hèn yếu, mà vì ý thức được hoàn cảnh dân tộc ta hiện
tại. Nhưng đau đớn thay, một số đã lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao
nhiêu tang tóc đối với Tăng và tín đồ Phật giáo khắp trong nước, đối xử một
cách bất công với một tôn giáo có hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc. Từ hành
động này đến manh tâm khác, thậm chí đã chà đạp lên quyền lợi thiêng liêng nhất
của Phật giáo đồ: Cờ Phật giáo quốc tế bị triệt hạ. Quyết định này đã trái với
hiến pháp và ngang nhiên vi phạm quyền tự do tín ngưỡng. Trước những hành động
bất công đó, Tăng và tín đồ khắp cả trong nước, chúng tôi bắt buộc phải đứng
dậy tranh đấu cho lý tưởng của mình.”[10]
Có thể nói, ba chính sách bất bình đẳng
sau đây a) Độc tôn Thiên Chúa giáo, b) Đạo dụ số 10 và c) Triệt hạ cờ Phật giáo,
đã trở thành các nguyên nhân sâu xa, dẫn đến cuộc đấu tranh bất bạo động của
Phật giáo, châm ngòi cho sự sụp đổ chế độ Ngô Đình Diệm.
1) Chính sách độc tôn Thiên Chúa giáo
Thể chế Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm thực chất là
chế độ gia đình trị và Thiên Chúa giáo trị, bao gồm tổng thống Ngô Đình Diệm,
Tổng giám mục Ngô Đình Thục, cố vấn Ngô Đình Nhu và đệ nhất phu nhân Trần Lệ
Xuân.
Thượng Nghị sĩ Mỹ Mansfield, người đã từng ủng hộ Ngô
Đình Diệm, khẳng định rằng: "chế độ
ông Diệm là một chế độ độc tài, gia đình trị, Công giáo trị".[11] Trong
nỗ lực đưa Thiên Chúa giáo trở thành tôn giáo độc tôn tại miền Nam Việt Nam,
chế độ gia đình trị này đã tuyên chiến và đàn áp Phật giáo trong mùa Phật đản
1963. Đó là sai lầm lớn và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự suy vong của chế độ
mấy tháng sau đó.
Đề cập đến chủ nghĩa độc tài Công giáo và chính sách
đàn áp Phật giáo một cách tàn nhẫn, Avro Manhattan đã nhận xét rất chính xác
như sau:“Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam
Việt Nam là một người theo đạo Công giáo cai trị Nam Việt Nam bằng một bàn tay
sắt… Ông đã được hồng y Spellman và giáo hoàng Pius XII trồng vào cái ghế tổng
thống. Ông đã biến cải ngôi vị tổng thống thành một nhà độc tài Công giáo, tàn
nhẫn nghiền nát những đối lập chính trị và tôn giáo.”[12]
Avro Manhattan còn cung cấp cho chúng ta những thông
tin rùng rợn về tội ác mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã tạo ra trong năm
1955-1960: “Người ta ghi nhận rằng, và
những con số sau đây tuy không được chính quyền chính thức khẳng định nhưng có
thể coi là đáng tin cậy, là trong thời gian kinh hoàng từ 1955 đến 1960, ít
nhất là có 24000 người bị thương, 80000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275000
người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500000 bị đưa
đi các trại tập trung. Đây chỉ là những con số ước tính bảo thủ, khiêm nhường”.[13]
Ký giả người Úc Denis
Warner cho rằng: “Trong nhiều năm, cái chế độ bạo ngược chuyên chế mà Tây phương đồng minh với ở Saigon
(chế độ Ngô Đình Diệm) thì còn tệ hơn là cái chế độ mà Tây phương
đang chiến đấu để chống (chế độ CS)”. Diệm và gia đình ông ta đã
giết hoặc lưu đày tất cả những thế đối lập. “Diệm đã mất đi sự tin cậy và trung thành của dân chúng”
như Bộ Trưởng McNamara đã nhận định ngày 26 tháng 3, 1964.”[14]
Trong tác phẩm nổi tiếng “Thập giá và lưỡi gươm”, linh mục Trần Tam Tĩnh cho chúng ta biết
trong giai đoạn 8 năm trị vì, chính quyền Ngô Đình Diệm đã kìm hãm 90% người
ngoài Công giáo trong chính phủ Công giáo, trong khi tạo quyền thế bất công cho
các cha xứ: “Từ năm 1955 đến năm 1963 là
thời vàng son của chủ nghĩa cha chú, với những lợi ích thật chẳng có bao nhiêu,
nhưng với những hà lạm gây nhiều tiếng tăm hơn, nhất là trong khi dân chusg gồm
90% là ngoài Công giáo mà bị kìm hãm dưới một thứ chính “Chính phủ Công giáo.”
Khắp nơi, ở thành phố cũng như tại nông thôn chiếc áo chùng thâm là biểu tượng
của quyền thế.”[15]
Để thực hiện chính sách bất bình đẳng xã hội và bất
bình đẳng tôn giáo, đưa vai trò Công giáo lên vị trí độc tôn tại miền Nam Việt
Nam, Ngô Đình Diệm đã lập ra đảng Cần lao – Nhân vị (gọi tắt là đảng Cần Lao),
chủ trương Chủ nghĩa duy linh – nhân vị. Mục đích của đảng Cần Lao là chống
cộng sản, chống Phật giáo và chống đảng phái quốc gia, đồng thời, chủ trương
vâng lời các cha, vâng lời Ngô Đình Cẩn và vâng lời Ngô Đình Diệm.[16]
Phương châm hoạt động của đảng Cần Lao là: “vì Chúa và cho Giáo hội Công giáo.”
Cương lĩnh của đảng Cần lao khích lệ các linh mục và giáo dân: "đem hết thể xác và linh hồn cho đến hơi thở cuối cùng để chống
cộng sản vô thần, chống Phật giáo ma quỷ, chống các đảng phái quốc gia".[17]
Về
sự cai trị độc tài của Diệm dựa vào thuyết Nhân vị, Bernard Newman nhận xét như sau: “Bất kể hiến pháp viết như thế nào, Diệm cai trị
như là một nhà độc tài. Triết lý chính trị của ông ta dẫn xuất từ
một nhóm Công giáo Pháp, những người đã đặt ra thuyết Nhân Vị... Thuyết Nhân Vị như là “một pha trộn lộn xộn
của những sắc lệnh của giáo hoàng và kinh tế mẫu giáo, tổ hợp với một sự nghi
ngờ những tư nhân thương gia, một sự e ngại đầu tư ngoại quốc, và một quan niệm
là không thể thành đạt được gì nhiều ở Việt Nam nếu không có sự kiểm soát của
chính phủ.”[18]
Nhằm đề cao Công giáo, chính
quyền Ngô Đình Diệm “đã tổ chức lớp học
về duy linh rồi lợi dụng lớp học ấy mà xuyên tạc đạo Phật của chúng tôi, dọa
nạt và bắt hội viên của chúng tôi phải ký đơn qua Thiên Chúa giáo, nếu không sẽ
đi học tập dài hạn tại quận và tỉnh".[19]
Ngoài ra, chính quyền họ Ngô cùng dùng chính sách cưỡng bức cải đạo, bắn giết
Phật tử và ban hành nhiều điều luật không giống ai: “Đối với gân lương từ năm 1954 đến năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm đã
giết chết, bắt giam, tra tấn Phật giáo đồ; dụ dỗ cải đạo, cấm Phật tử đi lễ
chùa.”[20]
Theo tướng Trần Văn Đôn, người
trực tiếp tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963, Chính sách di cư vào
Nam, thực chất, chỉ là chiêu bài đưa người Thiên chúa giáo vào miền Nam để xây
dựng nước Chúa. Trong số 887.895 người di cư vào Nam sau năm 1954 đã có đến
754.710 người là tín đồ Thiên Chúa giáo, chiếm 85%. Các chức vụ chủ chốt của
chính quyền họ Ngô đều nằm trong tay Thiên Chúa giáo.[21]
Chính sách toàn trị và Công giáo trị của Diệm là một
chủ nghĩa phát-xít mới tại Việt Nam: "Diệm
muốn thống nhất cả nước thành một khối Công giáo và chuyển các tôn giáo và đảng
phái sang Công giáo. Công giáo ở Việt Nam là chủ nghĩa tư bản. Giáo hội là đại
diện của chính phủ. Nếu anh muốn giàu sang, nếu anh muốn trở thành sĩ quan, anh
phải là Công giáo".[22]
Chính vì chủ trương này mà Phật giáo đã nghiễm nhiên trở thành đối tượng bị khủng bố
và áp bức của chính quyền Ngô Đình Diệm.
2) Bất bình đẳng tôn giáo trong Đạo dụ số 10
Về phương diện văn bản luật, Đạo dụ số 10 được xem là nguồn gốc của
bất bình đẳng tôn giáo, mà chính quyền Ngô Đình Diệm muốn sử dụng như một đặc
ân dành cho Thiên Chúa giáo và như một gông cùm đối với Phật giáo và các tôn
giáo khác. Chính sách thiên vị Thiên Chúa giáo đã có từ thời Pháp thuộc và thời
quốc trưởng Bảo Đại, được Việt Nam Cộng hòa tiếp tục áp dụng có mục đích đàn áp
Phật giáo, đề cao Thiên Chúa giáo.
Đạo dụ số 10 do quốc trưởng Bảo Đại ban hành năm 1950, quy
định về các tổ chức hội đoàn bao gồm tôn giáo, ngoại trừ Thiên Chúa giáo. Trên
nguyên tắc, khi chế độ quốc trưởng Bảo Đại đã bị thay thế bằng chính thể Việt
Nam Cộng hòa, thì Đạo dụ số 10 không còn hiệu lực pháp lý. Ấy thế mà, từ năm
1954 đến 1963, chính phủ Ngô Đình Diệm dựa vào Đạo dụ số 10, ra tay đàn áp Phật
giáo và nỗ lực loại trừ Phật giáo ra khỏi bản đồ văn hóa tôn giáo Việt Nam,
nhằm từng bước biến Thiên Chúa giáo thành quốc giáo của Việt Nam.
Điều 7 của Đạo dụ số 10 quy định rằng các hội đoàn bao gồm “tôn giáo, chính trị, từ
thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên, thể thao và đồng
nghiệp ái hữu”
có thể bị “bác khước không cho phép lập hội mà không cần phải nói rõ lý do.”
Đối với các hội đoàn đã cho phép thành lập rồi vẫn có thể bị “bãi đi vì trái
điều lệ hay vì lẽ trị an.”[23]
Theo điều quy định này, các hội đoàn trong đó có các hội Phật giáo Việt Nam có
thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào, mà không cần trưng dẫn lý do. Hoặc khi cần
trưng dẫn lý do, thì chính quyền có thể viện cớ “vì lẽ trị an”,[24]
một khái niệm luật rất mơ hồ, không thể thực thi được công bằng xã hội và tôn
giáo, mà trên thực tế đã phá vỡ công bằng xã hội và bình đẳng tôn giáo. Đây là
điều mà theo lãnh đạo Phật giáo Việt Nam “Đạo dụ số 10 triệt hạ hết thảy giá
trị tôn giáo.”[25]
Có lẽ, do vin vào chính
sách “vì lẽ trị an” mà chính quyền Ngô Đình Diệm có cớ triệt hạ cờ Phật giáo
thế giới vào mùa Phật đản 1963, biểu tượng tâm linh của Phật giáo toàn cầu,
nhằm chứng minh Thiên Chúa giáo là “Công giáo” ở Việt Nam, mà trên thực tế chỉ
là một tôn giáo thiểu số.
Điều 44 của Đạo dụ số 10
quy định về một “chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa và
Gia-tô”. Sự thiên vị được đặt trên “căn bản pháp lý của thực dân pháp.”[26]
Theo lãnh đạo Phật giáo Việt Nam năm 1963, các điều 10 và điều 12 đã làm cho
các tôn giáo ngoài Thiên Chúa giáo và Gia-tô giáo “bị kiểm soát một cách cực
kỳ nghiêm khắc, bởi bất cứ nhân viên nào của Hành chính và Tư pháp.”[27]
Việc duy trì và áp dụng Đạo dụ số 10 đã tạo tình trạng thiên vị Thiên Chúa giáo
và Gia-tô giáo, đang khi đàn áp Phật giáo, khủng bố Tăng Ni, bắt bớ tín đồ, gây
bất ổn tôn giáo, chính trị và xã hội tại miền Nam Việt Nam.
3) Cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Đại lễ Phật đản
1963.
Từ chủ trương “chống cộng sản vô thần, chống Phật giáo ma
quỷ, chống các đảng phái quốc gia” và dựa vào tinh thần thiên vị Công giáo
của Đạo dụ số 10, chính sách của Ngô
Đình Diệm thẳng tay đàn áp Phật giáo, mà khởi đầu chính là Công điện 9195 của
Phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 6-5-1963, cấm treo cờ Phật giáo trong đại lễ
Phật đản 1963. Theo TT. Trí Quang, người lãnh đạo phong trào Phật giáo 1963,
vụ triệt hạ cờ Phật giáo: “chỉ như là một giọt nước cũng thừa sức làm
chảy tràn ra một bát nước vốn đã quá đầy”.[28]
Để cứu nguy Phật giáo khỏi nạn diệt vong, vào ngày
25-5-1963, Ban Trị sự TƯ Tổng hội Phật giáo Việt Nam triệu tập 11 giáo phái và hội đoàn Phật giáo, thành lập ra Uỷ
ban liên phái bảo vệ Phật giáo, do TT. Tâm Châu làm chủ tịch, dưới sự chứng
minh tối cao của HT. Thích Tịnh Khiết.
Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo đã gửi 3 công điện.
Công điện thứ nhất gởi cộng đồng Phật giáo thế giới, lúc 2 giờ sáng 7-5-1963, kêu gọi can
thiệp chính phủ Việt Nam Cộng hòa, trong đó có đoạn kêu gọi không nên triệt hạ
lá cờ Phật giáo: “Cờ Phật giáo bị không
cho treo tại các tự viện Phật giáo ngay trong ngày Đại lễ Phật đản quốc tế, yêu
cầu can thiệp với chính phủ Việt Nam Cộng hòa”.
Công điện thứ hai gởi và yêu cầu
Ngô Đình Diệm thu hồi công điện 9195 một cách khéo léo: “Chúng tôi không tin rằng quyết định đó xuất phát từ Tổng thống. Thỉnh
cầu Tổng thống ra lệnh điều tra và thu hồi công điện nói trên. Trân trọng”.
Công điện thứ ba gởi các hội đoàn
Phật giáo Việt Nam, kêu gọi các sơ môn pháp phái Phật giáo sẵn sàng thống nhất
hành động vì đại cuộc dân tộc và Phật giáo:
“Cờ Phật giáo bị triệt hạ bởi Công điện số 9159. Đã điện cho Phật giáo thế giới
can thiệp và đã điện cho Tổng thống thỉnh cầu đình chỉ. Nhưng các tập đoàn Phật
giáo vẫn thông báo cho các đơn vị và chờ chỉ thị”.
Bất chấp các nỗ lực của Phật giáo
Việt Nam, Chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn ngang nhiên triệt hạ cờ Phật giáo thế
giới, nguyên nhân dẫn đến cuộc biểu tình ở toàn Thừa Thiên chiều ngày 7-5-1963.
Cuộc thảm sát của chính quyền Ngô Đình Diệm tại đài Phát thanh Huế vào
ngày 8-5-1963 làm 8 Phật tử[29] (gồm 7 trẻ em và 1 người
lớn) chết trong thương tâm, đã “đổ dầu vào lửa” phong trào đấu tranh bất bạo
động của Phật giáo, góp phần dẫn đến sự sụp đổ chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo
Ngô Đình Diệm vào ngày 1-11-1963.
Các
phương tiện truyền thông của chính quyền Ngô Đình Diệm vu cáo vụ thảm sát đó là
do “Việt Cộng ném lựu đạn”[30] nhưng trên thực tế là do
binh sĩ và xe tăng của thiếu tá Mathew Đặng Sĩ[31]
nổ súng, dưới sự ra lệnh của Tổng giám mục Ngô Đình Thục.[32]
Lời bào chửa khéo léo của Đặng Sĩ vào năm 1964 đã không thể giúp ông thoát khỏi
việc bị tuyên án tử hình, do phạm các tội danh “bắn vào đám đông không vũ trang,
dùng xe bọc thép cán người biểu tình, và sử dụng
chất nổ nguy hiểm để kiểm soát đám đông”.[33]
Những sự kiện nêu trên đã dẫn đến cuộc tàn sát đẫm
máu, khủng bố Tăng, Tín đồ Phật giáo, tạo ra pháp nạn Phật giáo 1963. Đây là
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa.
III. Ý
NGHĨA TỰ THIÊU CỦA BỒ-TÁT
Dựa vào nội dung của Đơn xin tự thiêu, 2 tờ di chúc của Bồ-tát
Thích Quảng Đức, Bản Tuyên ngôn của
Tăng, Tín đồ Phật giáo Việt Nam[34]
(về sau viết tắt là Bản Tuyên ngôn) và Bản
Phụ đính về bản Tuyên ngôn của Phật giáo Việt Nam (về sau viết tắt là Bản Phụ đính),[35]
chúng ta có thể khẳng định rằng ý nghĩa tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức
cũng như phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam là không nhằm
mục đính lật đổ hay đảo chính Chính phủ, đưa người Phật giáo lên thay thế chính
phủ, mà chỉ nhằm thay đổi chính sách bất công tôn giáo của chính quyền Ngô Đình
Diệm, theo đó, bình đẳng tôn giáo được thực hiện trong khuôn khổ và lý tưởng
công bằng xã hội. Trên tinh thần này, tôi phân tích vài ý nghĩa từ việc tự
thiêu của Bồ-tát Quảng Đức như sau:
1. Xây dựng
một xã hội công bằng cho miền Nam Việt Nam
Về bản chất, phong trào đấu tranh
bất bạo động của Phật giáo Việt Nam năm 1963 không phải là cuộc đấu tranh chính
trị, theo kiểu của một đảng phái chống lại và loại trừ một đảng phái khác. Trong
chính thể đệ nhất Việt Nam Cộng hòa không có đảng phái nào là của Phật giáo,
hay đấu tranh vì quyền lợi Phật giáo. Giới luật Phật giáo bao gồm giới Tỳ-khưu/
Tỳ-khưu-ni và Giới Bồ-tát không cho phép và không khích lệ các tu sĩ Phật giáo
tham gia các đảng phái chính trị.
Chính quyền Ngô Đình Diệm rất
khéo léo, ngoài việc dùng vũ lực chấn áp phong trào dân sự dùng bất bạo động
làm sức mạnh, còn xuyên tạc phong trào Phật giáo do Việt cộng giật dây. Khi vu
cáo phong trào bất bạo động của Phật giáo với hoạt động chính trị của Việt
cộng, có khuynh hướng giải quyết các mâu thuẫn chính trị ở miền Nam Việt Nam,
chính quyền Ngô Đình Diệm mong muốn làm tê liệt phong trào dân tộc và chính
nghĩa của Phật giáo. Chính sách truyền thông của chính quyền Ngô Đình Diệm đã
thất bại, vì đã vu cáo những điều không có sự thật, mà theo Phật giáo “chân
thật bất hư” (真實不虛).[36]
Bản Tuyên
ngôn của Tăng, tín đồ Phật giáo Việt Nam
được gửi đến chính quyền Ngô Đình Diệm là nhằm chấm dứt tình trạng “máu đã
chảy, nhân mạng đã bị hy sinh, cảnh khủng bố, đàn áp bất nhân, bất công xã hội,
bất bình đẳng tôn giáo và vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.” Lãnh
đạo Phật giáo Việt Nam yêu cầu chính phủ thực thi 05 nguyện vọng sau đây:
1. Yêu cầu chỉnh phủ Việt Nam Cộng hòa thu hồi vĩnh
viễn công điện triệt giáo kỳ của Phật giáo.
2. Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc
biệt như các Hội truyền giáo Thiên Chúa đã được ghi trong đạo dụ số 10.
3. Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng
bố tín đồ Phật giáo.
4. Yêu cầu cho Tăng, tín đồ Phật giáo được tự do
truyền đạo và hành đạo.
5. Yêu cầu chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho
những kẻ bị giết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức.[37]
Năm yêu cầu trên còn được gọi là năm nguyện vọng hòa
bình của Phật giáo gồm ba phương diện sau đây. Về công bằng xã hội, chính phủ
không được khủng bố và bắt bớ tín đồ Phật giáo (yêu cầu 3), phải bồi thường
những kẻ bị giết oan vô tội và trừng phạt kẻ chủ mưu giết hại (điều 5). Về bình
đẳng tôn giáo, chính phủ phải cho phép Tăng, tín đồ Phật giáo được tự do hành
đạo và truyền đạo (điều 4) và được hưởng quyền bình đẳng tôn giáo như Thiên
Chúa giáo (điều 2). Về nguyên nhân đàn áp Phật giáo, yêu cầu chính phủ thu hồi
công điện triệt hạ cờ Phật giáo thế giới. Cả năm nguyện vọng nêu trên đều nhắm
đến việc xây dựng một xã hội trong đó, công bằng xã hội và bình đẳng tôn giáo
được tôn trọng. Để đạt được mục đích công bằng xã hội, Tăng, tín đồ Phật giáo
quyết tâm “sẵn sàng hy sinh cho đến lúc
nào những nguyện vọng hợp lý trên được thực hiện.”[38]
Bản Phụ đính ngày 23-5-1963 khẳng định
rõ lập trường đấu tranh của Phật giáo là thuần túy cho công bằng xã hội, không
đượm màu chính trị, thể hiện nghĩa vụ công dân, đóng góp vào lịch ích quốc gia:
“Đối với chính phủ, chúng tôi không chủ
trương lật đổ, chúng tôi chỉ có nguyện vọng “cải thiện chính sách... Chúng tôi
không nhằm mục đích tranh thủ quyền hành. Nói thế, có nghĩa chúng tôi đã và mãi
mãi tranh đấu cho Phật giáo thuần túy, nhưng không phải vì vậy mà Phật giáo đồ
không quan tâm đóng góp vào ích lợi quốc gia theo nghĩa vụ công dân của mình.”[39]
Để tránh tình trạng bị quy chụp
vô căn cứ, xuyên tạc, vu khống từ chính phủ, cũng như những phần tử lợi dụng
phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo để làm loạn, lãnh đạo Phật giáo
tuyên bố: “Không chấp nhận mọi sự lợi
dụng.”[40]
Nội dung của điều này được Bản Phụ đính giải
thích rõ như sau: “Mục tiêu tranh đấu của
Phật giáo đồ chỉ nhằm vào lý tưởng tôn giáo bình đẳng trong khuôn khổ lý tưởng
công bình xã hội; vì lẽ đó, chúng tôi từ chối mọi sự lợi dụng không phù hợp với
tôn chỉ chúng tôi, nhất là những kẻ mưu toan chức vị chính quyền.”[41]
Nói cách khác, phong trào đấu
tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam năm 1963 là một phong trào độc lập,
thuần túy tôn giáo, không mang màu sắc chính trị, không ủng hộ hay chống đối
một chính thể nào, không làm bình phông và không tạo nguyên nhân cho cuộc đảo
chính diễn ra sau đó vài tháng, mà chỉ nhằm thay đổi chính sách sai lầm của
chính phủ Ngô Đình Diệm, hầu góp phần mang lại công bằng xã hội và bình đẳng
tôn giáo tại miền Nam Việt Nam.
2. Xây dựng
một xã hội “bình đẳng Tôn giáo”
Ngoài mục đích thiết lập công
bằng xã hội vốn rất cần thiết cho bối cảnh tôn giáo và chính trị tại miền Nam
Việt Nam lúc bấy giờ, phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo Việt Nam
còn nhắm đến việc thiết lập một xã hội, trong đó “bình đẳng tôn giáo” được tôn
trọng ở mức độ cao nhất. Theo lãnh đạo Phật giáo lúc bấy giờ, chỉ khi nào công
bằng xã hội được thiết lập thì bình đẳng tôn giáo mới được thực thi đúng nghĩa.
Nói cách khác, bình đẳng tôn giáo là mục đích thiêng liêng của chủ thuyết công
bằng xã hội: “Tôn giáo bình đẳng là một
điểm nổi bật nhất, thiêng liêng nhất trong lý tưởng công bình xã hội.”[42]
Để tránh tình trạng bị lý giải,
quy chụp sai lầm, lãnh đạo Phật giáo khẳng định “Chỉ tranh đấu cho lý tưởng “Tôn giáo bình đẳng”.[43]
Tôn giáo bình đẳng theo lãnh đạo Phật giáo là các tôn giáo có tư cách tôn giáo
như nhau về mặt luật pháp và được luật pháp tôn trọng. Chỉ với cách ứng xử này,
chính phủ có thể giúp cho các tôn giáo tỏa sáng các giá trị nhân bản trong phục
vụ đất nước và con người. Bản Phụ đính ghi
rõ: “Các tôn giáo được xác định sẽ cùng
hưởng một chế độ “bình đẳng”, có nghĩa cùng được quan niệm là có tư cách tôn
giáo như nhau. Nhưng bình đẳng là “bình trong đồng đẳng” vì lẽ đó, giá trị các
tôn giáo vẫn khác nhau.”[44]
Không chấp nhận tình trạng dùng
danh từ “Công giáo” (một tôn giáo thiểu số tại Việt Nam) gọi cho đạo Thiên
Chúa, không chấp nhận chế độ đặc biệt mà chính phủ dành cho Thiên Chúa giáo,
đòi hỏi một chính sách thực sự bình đẳng, lãnh đạo Phật giáo Việt Nam mong mỏi
miền Nam Việt Nam không còn chia rẽ tôn giáo, do chính sách toàn trị Ngô Đình
Diệm gây ra. Bản Phụ đính cho thấy sự
thiên vị của Đạo dụ số 10 là nguy cơ chia rẽ tôn giáo một cách trầm trọng: “Với quan niệm tôn giáo bình đẳng như vậy,
đối chiếu với tình trạng hiện hữu, chúng tôi bất mãn sự thiên vị của Đạo dụ số
10. Đó là nguy cơ cho quốc gia và làm chia rẽ tôn giáo. Vì lẽ đó, Phật giáo đồ
chúng tôi đã phải công khai bày tỏ rõ rệt nguyện vọng của mình. Và như thế, không
những lý, mà phạm vi chúng tôi tranh đấu cũng đã được ấn định rõ ràng: Với danh
nghĩa Phật giáo, chúng tôi đang làm một việc tranh đấu cho lý tưởng “Tôn giáo
bình đẳng trong khuôn khổ của lý tưởng công bình xã hội.”[45]
Đang khi nỗ lực thiết lập bình
đẳng tôn giáo tại miền Nam Việt Nam, lập trường của lãnh đạo Phật giáo Việt Nam
là không xem Thiên Chúa giáo và Gia-tô giáo là kẻ thù của dân tộc hay của Phật
giáo. Quan điểm chấp nhận sự đa dạng tôn giáo này là thống nhất, được ghi rõ
trong Ban Phụ đính như sau: “Chúng tôi tuyên bố không coi ai là kẻ thù,
nhất là đối với đạo Thiên Chúa. Lẽ thứ nhất, dầu từ ngày đạo dụ số 10 ra đời
cho đến bây giờ, sự thiên vị đạo Thiên Chúa đã công khai, nhưng chúng tôi tranh
đấu là tranh đấu cho lý tưởng công bình, chứ không phải tranh đấu với tư cách
một tôn giáo chồng lên một tôn giáo.”[46]
Theo tuyên bố này, mục đích chính của phong trào đấu tranh Phật giáo là góp
phần xây dựng một thế giới không chỉ có công bằng xã hội, mà còn có bình đẳng và
tự do tôn giáo vì lãnh đạo Phật giáo nhận thức rất rõ: “nếu cho tôn giáo của mình có giá trị tuyệt đối và chỉ có tôn giáo của
mình mới đáng tồn tại thì đây là quan niệm sai lầm nhất.”[47]
3. Góp phần làm thay đổi diện mạo chính trị miền Nam Việt
Nam
Phần lớn các cuộc đấu tranh vì
mục đích chính trị đều sử dụng đến vũ khí như một phương tiện, hoặc có trường
hợp đặc biệt, sử dụng “bất bạo động”[48]
(Sanskrit: ahiṃsā, Pāli: avihiṃsā) như một lợi thế, chẳng hạn như cuộc chiến dành độc lập của Ấn Độ đối với
đế chế Anh, do Gandhi lãnh đạo. Phong trào đấu tranh bất bạo động của Phật giáo
Việt Nam 1963 là cuộc chiến đấu không ngang sức của một bên tay không (không vũ
khí), không có xu hướng bạo lực với một bên là chính thể cầm quyền, dùng vũ
khí, xe thiết giáp, quân đội khủng bố, đàn áp tàn nhẫn, dã man.
Về nội dung, cuộc chiến bất bạo
động của Phật giáo 1963 chịu ảnh hưởng tinh thần của Gandhi và sâu xa từ học
thuyết từ bi và vô não của đức Phật. Nguồn gốc của sự ảnh hưởng được nêu rõ
trong Bản Phụ đính như sau: “Chúng tôi, hơn thế nữa, phải thực hiện tư
tưởng Phật giáo ngay trong cuộc đấu tranh của chúng tôi… Ngay bây giờ, chúng
tôi có thể tuyên bố một cách minh bạch rằng người tăng sĩ Phật giáo là người
sẵn sàng noi gương Gandhi, vị Thánh của sức mạnh bất bạo động... Nhưng tinh
thần và phương pháp bất bạo động không phải chỉ có thế, nên chúng tôi sẵn sàng
hy sinh đến cùng theo phương pháp này.”[49]
Nếu sức mạnh bất bạo động của Gandhi nằm ở chính sách “bất hợp tác” (Non-cooperation
movement)[50]
thì sức mạnh của bất bạo động của Phật giáo Việt Nam là thiền định, niệm Phật
và các khẩu hiệu từ bi, ôn hòa, thể hiện yêu sách bình đẳng như: “Phật giáo nhất
trí bảo vệ Chánh pháp dù phải hy sinh”, “Phật giáo đồ ủng hộ chính sách tôn
giáo bình đẳng,” “Yêu cầu chính phủ thi hành chính sách tôn giáo bình đẳng,”
“Chúng tôi đã đến lúc bị bắt buộc tranh đấu cho chủ trương tôn giáo bình đẳng.”
Khi phong trào đấu tranh trở thành cao trào, các khẩu hiệu trở nên quyết liệt,
hùng dũng, sẵn sàng bỏ thân mạng vì chính pháp như: “Chúng tôi không từ chối một
hy sinh nào,” "Phản đối chính sách bất công gian ác", "Đả đảo
hành động sát nhân, vu khống", “Máu đã chảy,” "Hãy giết chúng tôi
đi", “Phật giáo bất diệt” v.v...
đã trở thành những sức mạnh vô úy, chống lại xe tăng, binh lính đầy bạo lực và
đằng đằng sát khí của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Thản nhiên và bất động
trong lửa đỏ 7 phút, sự tự thiêu của Bồ-tát Quảng Đức đã làm rúng động toàn
cầu. Tổng thống Mỹ, John Kennedy phải
thốt lên lời kinh ngạc: “Trong lịch sử,
chưa có một bức hình nào trên báo đã tạo được nhiều xúc động cùng khắp cả thế
giới như bức hình nầy”.[51] Ký
giả Malcolm W. Browne, người đã chụp hình tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức
đã tự sự về tác động của bức ảnh tại Hoa Kỳ như sau: “Những bức hình
mà tôi chụp về cuộc tự thiêu của HT. Quảng Đức ... được thành phần diều hâu bày
bán khắp cùng ngõ hẻm... Trên New York Times và báo Washington
Post có hàng chữ: “Chúng
tôi cũng phản đối: We, too, protest”.[52]
Noi gương từ bi và vô úy của Bồ-tát Thích Quảng Đức,
có thêm sáu tu sĩ[53]
đã tự thiêu và 12 Phật tử[54]
đã bỏ thân vì Phật pháp. Từ vài trăm nhà sư biểu tình trước Trụ sở Quốc Hội vào
ngày 30-5-1963 cho đến 30.000 người tuyệt thực tại Chùa Xá Lợi vào ngày
18-8-1963, phong trào đấu tranh bất bạo động đã lớn mạnh như một cơn lốc ngoại
giao, buộc Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 22-8-1963 phải lên án chính sách đàn áp
Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Như giọt nước làm tràn ly, vào ngày
1-11-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị đảo chính, kết thúc triều đại toàn
trị, Thiên chúa giáo trị tại miền Nam Việt Nam.
Dựa vào chủ trương của đức Phật
“lấy từ bi xóa hận thù”,[55]
đạo Phật không xem Thiên Chúa giáo, gia đình Ngô Đình Diệm và những người trực
tiếp thực hiện “Chiến dịch nước Lũ”[56]
là kẻ thù. Mặt khác, mặc dù về bản chất, phong trào đấu tranh của Phật giáo
Việt Nam không chủ trương lật đổ chế độ, do đó, độc lập với các đảng phái chính
trị tại hai miền Nam Bắc Việt Nam, nhưng các tác động duyên khởi theo công thức
“cái này có tạo điều kiện cho cái kia có,
cái này không tạo tiền đề cho cái kia không; cái này sinh làm nhân cho cái kia
sanh, cái này diệt dẫn đến sự hoại diệt của cái khác”[57]
như quy luật muôn đời, góp phần đưa đến sự cáo chung của chế độ Ngô Đình Diệm,
là chân lý mà ta không thể phủ định được.
Tại miền Nam, nếu cộng đồng Phật
giáo và toàn thể mọi người ăn mừng khi thoát khỏi ách cai trị độc tài toàn trị
của họ Ngô thì phía bên kia chiến tuyến ở miền Bắc, như có thêm nghị lực thực
hiện cuộc chiến tranh cách mạng theo một cao độ mới: “Sụp đổ của Diệm, chiến tranh cách mạng đã phát triển lên một bước mới”.[58]
Theo đó, phong trào giải phóng dân tộc chống lại đế quốc ngày càng thành công,
như báo cáo của Lầu Năm Góc đã ghi nhận: “Trong
vòng ba tháng sau đảo chính, Việt Cộng nổi dậy khắp nơi. Tỉnh Kiến Hòa phải rút
đi 51 đồn bót, mất 15 xã,... Trong số 4.248 ấp chiến lược ở miền Nam thì có
3.915 ấp bị phá hẳn. Trong phúc trình gửi Tổng thống Johnson ngày 16-3-1964,
Mc. Namara đưa ra một bức tranh bi thảm, hậu quả của cuộc đảo chính lật đổ chế
độ Ngô Đình Diệm: Trong số đất đai của 22 tỉnh (trong 44 tỉnh), Việt Cộng kiểm
soát tới 50% hoặc nhiều hơn thế. Phước Tuy, Việt Cộng kiểm soát 80%; Bình Dương
90%; Hậu Nghĩa 90%; Long An 90%; Định Tường 90%; Kiến Hòa 90%; An Xuyên (Cà
Mau) 85%. Quận Mỏ Cày và các xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Khánh, Phước Hiệp,
“đỏ 100%”...".[59]
Điều này cho thấy, các phong trào dân tộc và yêu nước ở
miền Nam nhân cơ hội này thừa thắng xông lên, phát triển mạnh mẽ. Vì cuộc đấu
tranh của Phật giáo là độc lập, việc tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức không
thể được xem là một phần của phong trào dân tộc đang lớn mạnh tại miền Nam. Sự
giống nhau về tinh thần yêu nước được đức Phật giảng dạy với tinh thần dân tộc
của các phong trào Giải phóng miền Nam Việt Nam đã làm cho phong trào bất bạo động
của Phật giáo và các phong trào yêu nước trở nên gần nhau, tương tác đa chiều,
góp phần làm tan rã chính sách ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm, và do đó, sự can
thiệp của Mỹ ở Việt Nam phải đến hồi kết thúc. Là một thành phần yêu nước của
dân tộc, phong trào đấu tranh của Phật giáo đã trực tiếp tạo ra duyên cớ đảo
chính vào ngày 1-11-1963. Điều này, dù muốn dù không, đã gián tiếp góp phần làm
thay đổi cục diện chính trị của đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa và rộng hơn ở toàn miền
Nam Việt Nam.
Tác động tích cực từ việc tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng
Đức và các thánh tử đạo là rất lớn và ngoài sức tưởng tượng. Mười hai năm sau,
chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ tại miền Nam Việt Nam kết thúc vào năm 1975. Hai
miền Nam Bắc được thống nhất.
Vào năm 1981, Phật giáo ba miền được thống nhất. Tinh thần
nhập thế và đồng hành với dân tộc được tái khẳng định như là chủ trương của
GHPGVN. Những nhiệm vụ mới trong bối cảnh mới được đặt ra cho GHPGVN. Phương
pháp tiếp biến văn hóa, vận dụng lời Phật dạy vào trong cuộc sống sẽ giúp Phật
giáo trở thành sự lựa chọn tâm linh của quảng đại quần chúng nhân dân.
Ôn lại 50 năm lịch sử của phong trào đấu tranh bất bạo động
Phật giáo để rút ra những bài học về dấn thân, phụng sự nhân sinh trên tinh thần
vô ngã, vô úy, từ bi, trí tuệ và vị tha. Đây là con đường phụng sự chúng sinh
được đức Phật chỉ dạy, mà tất cả đệ tử Phật cần noi theo.
Mùa Phật đản 2637 (PL.2557, DL.2013)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
- Cao Thế Dung. Việt Nam ba mươi năm máu lửa – Cuộc chiến tranh tàn sát thương binh lần thứ nhất 1945-1963. Nxb Alpha, Falls Church, VA, USA, 1991.
- Chu Bằng Lĩnh. Đảng Cần Lao. Nxb. Mẹ Việt Nam, San Diego, CA, USA, 1993.
- Lê Cung. Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963. NXB. ĐHQG Hà Nội, 1999.
- Lê Duẩn. Thư vào Nam. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1985, tr.248.
- Lê Mạnh Thát (chủ biên). Bồ-tát Thích Quảng Đức – Ngọn lửa và Trái tim. NXB. Tổng hợp TP.HCM, 2005.
- Phú Tiên Nguyễn Duy Tinh. Lửa thiêng nhiệm mầu. Sài Gòn, 1963. GHPGVN TP.HCM tái bản 2013.
- Quốc Tuệ (biên tập). Phật Giáo Việt Nam 1963. Saigon, 1964.
- Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm. Lịch sử Phật giáo xứ Huế. NXB TP.HCM, 2001.
- Trần Tam Tĩnh. Thập giá và lưỡi gươm. NXB Trẻ, 1988.
Tiếng Anh
- Avro Manhattan. Vietnam: Why Did We Go? CA: Chick Publications, 1984.
- Bernard Newman. Background to Vietnam. Signet Books, New York 1965.
- Bruce D. Berkowitz. The New Face of War, Revised Edition, The Bobbs-Merrill Company, Inc. Indianapolis-New York,1968.
- Fitzgerald Francess. Fire in the Lake. An Atlantic Monthly Press Book, Boston, USA 1972.
- Jerrold Schecter. The New Face of Buddha. John Weatherhill, Tokyo, 1967.
- Joseph Buttinger. Vietnam: A Dragon Embattled, Volum II Vietnam at War. Frederick A. Praeger, Publisher, New York, 1967.
- Marvin E Gettleman. Vietnam: History, Documents and Opinions on a Major World Crisis. Penguin Books, 1966.
[1]
“Tuất” thường được phiên âm sai lầm là “Tức” hay “Tất”. Sai lầm trong trường
hợp 1 có thể xem trong Bách khoa mở Wikipedia tại địa chỉ:
http://en.wikipedia.org/wiki/Thich_Quang_Duc. Về sai lầm 2 có thể tham khảo các sách viết về Bồ-tát Quảng Đức tại Việt
Nam, tiêu biểu như Lửa thiêng nhiệm mầu –
Lược sử Phật giáo đồ đấu tranh chống kỳ thị tôn giáo của nhiều tấc giả,
xuất bản tháng 12-1963, được GHPGVN TP.HCM tái bản tháng 5-2013, tr. 111.
[2]
Nay là ngã tư CMT8 – Nguyễn Đình Chiểu, nơi UBND thành phố HCM làm và tôn trí
tượng đài của Bồ-tát Thích Quảng Đức bằng đồng, ghi nhận công đức của Người cho
đạo pháp và dân tộc.
[3]
Được thuyết giảng tại một thánh đường ở New York vào ngày 30.6.63. Trích theo
Bùi Kha, Ngọn lửa Quảng Đức qua miêu tả
của báo nước ngoài. Tháng 5 năm 2013.
[4]
Quốc Tuệ (biên tập). Phật Giáo Việt Nam
1963. Saigon, 1964, tr. 94-96.
[5] TT. Thích Tâm Giác, Phó Trị sự Trưởng của Giáo hội
Tăng già Việt Nam, trong thư trả lời, đã không chấp nhận cho Bồ-tát Quảng Đức
tự thiêu: "Với quyết tâm bảo vệ Phật
pháp, Đại đức nguyện hiến xã thân này bằng cách thiêu đốt thân xác để phản đối
chính sách bất bình đẳng tôn giáo với nhà cầm quyền và nêu tỏ thái độ hy sinh
vì đạo cao cả mà mình đã tôn thờ. Giáo hội rất thông cảm trước ý chí cao đẹp
ấy. Nhưng trên nguyên tắc pháp lý (Luật Phật đã định cũng như luật pháp thế
gian), Giáo hội không thể chấp nhận điều nguyện thiêu đốt thân xác của Đại đức
được. Vậy xin Đại đức hoan hỷ và cầu
chúc Đại đức vô biên an lạc."
[6]
Bằng chữ Nôm được Bồ-tát viết ngày 04-06-1963 tại chùa Ấn Quang. Bài
này thường được phiên âm sai là “Lời nguyện tâm huyết” với một vài từ thay đổi,
so với nguyên bản chữ Nôm.
[7] Trong tiếng Pali, “pajjalite” có nghĩa đen là “bốc cháy”. Trong ngữ cảnh của Kinh Pháp Cú, nó có nghĩa là “bốc cháy
bởi lửa tham” (burning with fires of
passion). Tham khảo Sớ giải Kinh Pháp
Cú, kệ 146.
[8]
Thích Nhật Từ dịch. Nguyên tác Pali như sau: “Ko nu haso kimanando/ niccam
pajjalite sati/ andhakarena onaddha/ padipam na
gavesatha.” (Dhammapada 146).
[9] Vũ
Hoàng Chương (5-5-1916 – 6-9-1976) sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù
Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.
[10] Bản Tuyên ngôn trích trong Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 22-23.
[11]
Fitzgerald Francess. Fire in the Lake.
An Atlantic Monthly Press Book, Boston, USA 1972, tr.104.
[12] Avro
Manhattan. Vietnam: Why Did We Go? CA:
Chick Publications, 1984, tr. 56.
[13] Sách đã dẫn, tr. 89.
[14]
Robert McAfee Brown, Abraham J. Heschel & Michael Novak. Vietnam: Crisis of Conscience”,
Associated Press, New York 1967, p. 30: “The
Australian writer Denis Warner wrote that "the tyranny the West allied
with in Saigon was in many years worse than the tyranny it was fighting
against." Diem and his family had murdered or exiled all potential
opposition. Diem had "lost the confidence and loyalty of his people,"
as Secretary McNamara put it on March 26, 1964.”
[15]
Trần Tam Tĩnh. Thập giá và lưỡi gươm. NXB
Trẻ, 1988, tr. 124.
[16]
Thường được gọi tắt là chủ nghĩa “ba chống” và “ba vâng.”
[17] Chu Bằng Lĩnh. Đảng Cần Lao. Nxb. Mẹ Việt Nam, San Diego, CA, USA, 1993, tr. 165.
[18]
Bernard Newman. Background to Vietnam.
Signet Books, New York 1965, p. 117: “Whatever
the constitution might say, Diem ruled as a virtual dictator. His political
philosophy was derived from a group of French Catholics, who formulated a
doctrine known as Personalism. It emphasises human dignity as opposed to the
Communist concept of disiplined masses. Its detail is complicated, and
difficult of comprehension to all but a philosopher... Personalism is "a confused
mélange of papal encyclicals and kindergarten economics, combined with a
suspicion of private businessmen, a fear of foreign capital, and an attitude
that little could be accomplished in Vietnam without direct government control."
[19] Hồ sơ của Hội Phật giáo Trung phần gởi
Tổng thống và Quốc hội ngày 20-2-1962.
[20]
Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm. Lịch sử
Phật giáo xứ Huế. NXB TP.HCM, 2001, tr. 476.
[21] Gettleman, Marvin E. Vietnam: History, documents and opinions on a major world
crisis. Penguin Books, 1966, tr. 280–293.
[22]
Jerrold Schecter. The New Face of Buddha. John Weatherhill, Tokyo, 1967, tr. 172.
[23]
Xem chi tiết tại trang nhà:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BA%BFn_c%E1%BB%91_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o,_1963
[24]
Lãnh đạo Phật giáo Việt Nam năm 1963 cho rằng: “Lẽ trị an” là từ ngữ không có giới hạn nào rõ rệt và đã bị lợi dụng quá
đáng từ ngày người Pháp trở lại Việt Nam đến bây giờ! Ấy là chưa nói rằng, nếu
thế gian này có được cái gì được gọi là vĩnh viễn, thì cái đó là tôn giáo, vậy
mà tôn giáo lại bị ghép vào hiệp hội với giấy phép cho và bãi một cách cực kỳ
đơn giản như trên!” Trích từ Lửa
thiêng nhiệm mầu, tr. 30.
[25] Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 32.
[26] Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 33.
[27] Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 31.
[28] “Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam” in
trong tuần báo Hải Triều Âm, số 18, ngày 27-8-1964.
[29]
Về tiểu sử của 6 vị thánh tử đạo là tu sĩ Phật giáo và 12 vị thánh tử đạo là cư
sĩ Phật tử, có thể xem tại:
http://thuviengdpt.info/lam-su/tieu-su-thanh-tu-dao. Phương danh tám vị thánh
tử đạo tại đài phát thanh Huế bao gồm:
Tâm Đồng – Đặng Văn Công.
Tâm Thành – Dương Viết Đạt
Tâm Thanh – Nguyễn Thị Yến
Tâm Thông – Nguyễn Thị Phúc
Tâm Hiển – Lê Thị Kim Anh
Tâm Thuận – Trần Thị Phước Trị
Tâm Chánh – Nguyễn Thị Ngọc Lan
Tâm Tôn – Huyền Tôn Nữ Tuyết Hoà
Tâm Thành – Dương Viết Đạt
Tâm Thanh – Nguyễn Thị Yến
Tâm Thông – Nguyễn Thị Phúc
Tâm Hiển – Lê Thị Kim Anh
Tâm Thuận – Trần Thị Phước Trị
Tâm Chánh – Nguyễn Thị Ngọc Lan
Tâm Tôn – Huyền Tôn Nữ Tuyết Hoà
[30]
Tường trình của chính quyền Ngô Đình Diệm gửi cho Ủy ban điều trần Liên Hiệp
Quốc là một lạc dẫn về thông tin: “Các cái chết do tai nạn không may gần đài
phát thanh Huế là do các vụ nỗ, do Việt Cộng gây ra. Quân đội miền Nam Việt Nam
không sở hữu các vũ khí này” (Deaths at
the unfortunate incident near Hue radio station was caused by explosions, most
probably made by Communist infiltrators. A South Vietnam army did not have such
weapon in their possession). Xem thêm chi tiết này tại trang web:
https://sites.google.com/site/trialofdangsy/the-trial/evidences/united-nations-fact-finding-mission
[31]
Là một người theo Công giáo, nguyên là phó tỉnh trưởng Huế, phụ trách các vấn đề an ninh vào thời điểm
pháp nạn.
[32]
Đây là lời tiết lộ của cựu bộ trưởng
Giáo duc Trần Hữu Thế đối với
GS. Vũ Văn Mẫu. Xem chi tiết tại: http://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BA%BFn_c%E1%BB%91_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o,_1963
[33]
Để giải quyết các bất ổn nội bộ chính phủ, Nguyễn Khánh ra lệnh tha tội chết
cho Đặng Sĩ nhưng đã phạt phạm nhân này vào trại lao động khổ sai, đồng thời phải bồi thường cho các gia đình nạn nhân.
[34] Bản Tuyên ngôn gồm 2 trang, được tuyên
đọc trong phiên họp của lãnh đạo Phật giáo tại Chùa Đàm, Huế và được HT. Thích
Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam ấn ký, gửi chính phủ ngày
10-5-1963. Cùng ký tên còn có TT. Thích Mật Nguyện, Trị sự trưởng Tổng Trị sự
Giáo hội Tăng già Trung Phần, TT. Thích Trí Quang, Hội trưởng Tổng trị sự Hội
Phật giáo Việt nam tại Trung phần, TT. Thích Mật Hiển, Trị sự trưởng Ban Trị sự
Giáo hội Tăng già Thừa Thiên và TT. Thích Thiện Siêu, Hội trưởng Ban Trị sự
Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên. Xem chi tiết tại Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 22-24.
[35] Bản Phụ đính về Bản Tuyên ngôn của Phật giáo
Việt Nam gồm 12 trang, do HT. Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo
Việt Nam ấn ký, gửi chính phủ ngày 23-5-1963. Cùng ký tên còn có TT. Thích Mật
Nguyện, Trị sự trưởng Tổng Trị sự Giáo hội Tăng già Trung Phần, TT. Thích Trí
Quang, Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật giáo Việt nam tại Trung phần, TT. Thích
Mật Hiển, Trị sự trưởng Ban Trị sự Giáo hội Tăng già Thừa Thiên và TT. Thích
Thiện Siêu, Hội trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên. Xem chi tiết
tại Lửa thiêng nhiệm mầu, tr. 25-37.
Hiện tại, Bản Phụ đính được lưu trữ
tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II,
Ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8352.
[36]
Trích từ Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh (Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra, Prajnaparamitahridaya Sutra,
般若波羅蜜多心經), gọi tắt là Bát-nhã Tâm Kinh hay Tâm
Kinh, một bản kinh Đại thừa quan trọng, được sử dụng làm tụng bản trong các
nghi thức tụng niệm của Phật giáo Đại thừa tại Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản
và Triều Tiên.
[37]
“Bản Tuyên ngôn” trích trong Sđd, tr.23-24.
[38]
“Bản Tuyên ngôn” trích trong Sđd, tr.24.
[39] “Bản
Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 25-26.
[40]
“Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr.28.
[41] “Bản
Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 28.
[42]
“Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 27.
[43]
“Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 27.
[44]
“Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 27.
[45] “Bản Phụ đính” trích
trong Sđd, tr. 27.
[46]
“Bản Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 26.
[47] “Bản
Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 26.
[48] Ahiṃsā trong tiếng Sanskrit có nghĩa đen là “không gây tổn
hại” (to do no harm) hoặc sự xa lánh
bạo lực (the avoidance of violence).
Về chiết tự, hiṃsā có nghĩa là hảm hại (harm) hoặc thương tổn (injury).
Phối hợp với tiếp đầu ngữ “a”, a-hiṃsā là bất hại (non harming),
là bất bạo động (non-violence).
[49] “Bản
Phụ đính” trích trong Sđd, tr. 28.
[50]
Bao gồm bãi công, bãi chợ, bãi lớp
học, không nộp thuế cho chính phủ Anh, không làm việc trong chính phủ Anh, tẩy
chay hàng hóa Anh v.v... làm cho cơ cấu hành chính của Anh tại Ấn Độ bị tê
liệt.
[51]
Nguyên văn tiếng Anh: "No news picture in history has generated so
much emotion around the world as that one”.
[52] Bruce D. Berkowitz. The
New Face of War, Revised Edition, The Bobbs-Merrill Company, Inc.
Indianapolis-New York,1968, tr. 261-262.
[53]
Tên của các vị tu sĩ phát nguyện tự thiêu là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu, đại
đức Thích Quảng Hương, đại đức Thích Thiện Mỹ, đại đức Thích Nguyên Hương, đại
đức Thích Thanh Tuệ và Sư cô Thích Nữ Diệu Quang.
[54] Có
thể xem tiểu sử của các thánh tử đạo tại địa chỉ:
http://phatgiaoaluoi.com/news/Lich-su-Phat-giao-Viet-Nam/Di-anh-va-tieu-su-chu-Thanh-tu-dao-1916/
[55] Kệ Pháp Cú
5 đầy đủ được Thích Nhật Từ dịch như sau: “Trả
thù hận bằng tâm oán giận/ Muôn kiếp dài khó đặng thành công/ Từ bi chuyển hóa
thù chung/ Đây là định luật công bằng xưa nay.” Nguyên tác
Pali: “Na hi verena verani/ sammantidha kudacanam/ averena ca sammanti/ esa
dhammo sanantano.”
[56]
Tiến hành trong ngày 20-8-1963.
[57] Học
thuyết hình thành thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo, không chấp nhận
nguyên nhân đầu tiên là duy thần, duy vật hay duy tâm. Thế giới là một trường
tương tác và tương tức vô tận.
[58] Lê Duẩn. Thư vào Nam. Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1985, tr.248.
[59] Cao Thế Dung. Việt Nam ba mươi năm máu lửa – Cuộc chiến tranh tàn sát thương binh lần
thứ nhất 1945-1963. Nxb Alpha, Falls Church, VA, USA, 1991, tr. 606-607.


20:38
Hoàng Phong Nhã
