Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016

CÁC NƯỚC Ý, ĐỨC, NGA, TIỆP KHẮC VÀ BA LAN CHỐNG VATICAN

1.- DÂN TỘC Ý CHIẾN ĐẤU CHỐNG NHÀ THỜ VATICAN
Nói đến phong trào nhân dân Ý chống Vatican, thiết tưởng cũng phải nên nói đến tình trạng chính trị nước Ý trước khi được thống nhất vào năm 1870. Vào đầu thập niên 1830, nước Ý còn bao gồm nhiều tiểu quốc riêng rẽ. Một số nằm dưới quyền thống trị của Vatican và một số nằm dưới quyền thống trị của các ông hoàng tay sai của Pháp, hay tay sai của Áo, hoặc là tay sai của Vatican. Tính từ Nam lên Bắc, những tiểu quốc đó là tiểu quốc Lưỡng Sicilies, các tiểu quốc của Giáo Hội gọi là Papal States  như Romagna, Marche, Umbria, and Lazio nằm dưới quyền trực trị của giáo hòang),  các tiểu quốc Tuscany, Modena,  Parma, Lombardy và Venetia (bị Đế Quốc Áo thống trị) và vương quốc Sardina bao trùm đảo Sardina cùng với hai vùng Savoy và Piedmont ở trong đất liền,  vùng Comtat Venaissin và Avignon bị sáp nhập vào nước Pháp vào năm1791 trong thời Cách Mạng 1789 (vi nhân dân ở đây có tinh thần chống Vatican mãnh liệt) và năm  1796 trở thành nước Cộng Hòa Cisalpine (Cisalpine Republic).
Một phần vì địa thế núi non lởm chởm làm trở ngại cho việc thống nhất đất nước, một phần khác khá quan trọng là do yếu tố lịch sử. Từ khi Đế Quốc La Mã sụp đổ vào nửa cuối thế kỷ thứ 5, bán đảo Ý Đại Lợi đã trở thành một miếng mồi béo bở cho các thế lực Âu Châu tranh giành ảnh hường và muốn làm chủ nhân ông vùng đất này. Nước Ý không những đã không có đất đai phì nhiêu thuận lợi cho nông nghiệp mà còn thiếu cả những tài nguyên và nguyên liệu cần thiết cho việc mở mang kỹ nghệ. Hai yếu tố này là những nguyên nhân gây khó khăn cho nước Ý trở thành một quốc gia hùng mạnh để có thể chống lại các cường lân xâm chiếm. Ngoài ra, còn phải kể đến yếu tố lòng tham lam và lòng ích kỷ của  nhóm thiểu số quý tộc và tu sĩ Da-tô. Hai nhóm thiểu số ăn hại sống bám xã hội này sợ rằng nếu thống nhất đất nước thì quyền lực chính trị sẽ thuộc về phe nhóm khác và họ sẽ là những người thua thiệt, mất hết cả quyền lực chính trị và địa vị ăn trên ngồi trốc đã có sẵn của họ. Vì thế, họ luôn luôn khư khư ôm lấy quan niệm:
Triều đình riêng một góc trời,
Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương. (Nguyễn Du)
Những yếu tố trên đây đã khiến cho nước Ý vào cuối thập niên 1860 vẫn còn ở trong tình trạng của một tập hợp hổ lốn với nhiều tiểu quốc, hỗn quân hỗn quan giống như tình trạng các tiểu quốc Đức trước khi được thống nhất thành Liên Bang Bắc Đức (North German Confederation) vào năm 1867 dưới quyền lãnh đạo của nhà ái quốc lão thành Otto Leopold Von Bismarck (1815-1898), nước Trung Hoa trong thời Đông Châu Liệt Quốc và Việt Nam trong thời Thập Nhị Sứ Quân (945-967), nhưng còn tồi tệ và khốn nạn hơn nước Trung Hoa trong thời Đông Châu Liệt Quốc và Việt Nam trong thời Thập Nhị Sứ Quân (vì vấn nạn Giáo Hội La Mã với bọn “hắc y ác quỷ” (ác quỷ áo đen) hay “les corbeaux nois” (bọn quạ đen).
Như đã nói ở trên, từ thế kỷ 4 cho đến thế kỷ 19, các nước Nam Âu, trong đó có nước Ý, vẫn còn nằm dưới quyền thống trị của Vatican. Vì thế mà các tiểu quốc Ý dù là dưới quyền cai trị trực tiếp như các “papal states” hay nằm dưới quyền thống trị của Áo quốc hoặc là nằm dưới chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến Ca-tô thì cũng vẫn có Vatican ở hậu trường sân khấu chính trị giống như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Vì thế mà Vatican mới có thể chiếm đoạt tới 25% diện tích ruộng trồng trọt của người dân. (Xin xem lại Chương 13 ở trên.) Tình trạng này đã khiến cho nước Ý nghèo khổ, lạc hậu, chậm tiến và trình độ dân trí rất là thấp kém nếu so với  các nước Âu Châu khác ở Bắc Âu, Tây Âu và Đông Âu. Sự kiện này được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:
"Sự trái ngược giữa các nước nghèo khó ở Nam Âu và sự phồn thịnh của các nước ở Bắc Âu thật là quá rõ ràng. Nước Anh Tin Lành đã trở thành một cường quốc trên thế giới và đang trên đường trở thành một trong các đại đế quốc thương mại; nước Phổ Tin Lành giầu có và hùng mạnh; nước Hòa Lan Tin Lành đã khởi tiến việc ngoại thương và xứng đáng được mang tước hiệu đế quốc. Một du khách đi từ Bắc và Trung Âu tới nước Pháp và bán đảo Tây Ban Nha rồi qua Ý Đại Lợi sẽ thấy sự tương phản về kinh tế, mức sống và trình độ học vấn tổng quát của người dân trong các quốc gia này. Ở Bắc và Trung Âu, phần lớn là Tin Lành, không có quốc gia nào rơi vào tình trạng chết đói và nghèo khổ triền miên như các nước ở miền Nam Âu. Chủ nghĩa tư bản cổ điển đã lỗi thời và các quốc gia theo đạo Tin Lành cũng đã thức thời và sẵn sàng từ bỏ nó để làm lợi cho đất nước. Các nhà chính khách và vua chúa ở các quốc gia Nam Âu cho rằng Tòa Thánh La Mã và chế độ giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về sự suy thoái và thua kém của nước họ so với các nước theo đạo Tin Lành." [1]
Vì cho rằng chế độ giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về sự nghèo đói, chậm tiến và lạc hậu của đất nước họ, cho nên nhân dân Ý  căm thù  Giáo Hội La Mã và giới tu sĩ Ca-tô hơn gấp bội phần nếu so với lòng căm thù của nhân dân Pháp đối với Vatican. Cũng vì thế mà nhà ái quốc Ý Giuseppe Garibaldi (1807-1882) mới  tuyên bố rằng:
"Linh mục là hiện thân của sự gian trá". (The priest is the personification of falsehood). Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý.” (The Vatican is a dagger in the heart of Italy.) "Giáo Hội Ca Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do." (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady enemy of liberty.)[2]
Ngày 20/9/1870, nhà ái quốc Giuseppe Garibaldi đem quân Cách Mạng bao vây và nã đại pháo vào Tòa Thánh Vatican, buộc Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng đầu hàng vô điều kiện. Sự kiện này được sử gia Malachi Martin ghi lại như sau:
Giuseppe Garibaldi
"Ngày 19 tháng 8 năm 1870, quân đội Pháp lo bảo Vệ Tòa Thánh Vatican thực sự rút lui vĩnh viễn. Trận đánh Sedan vào ngày 2 tháng 9 năm đó  đã làm cho đế quốc của Hoàng Đế Nã Phá Luân Đệ Tam hoàn toàn sụp đổ. Tòa Thánh Vatican mất đi một thế lực bảo vệ cuối cùng, và nước Pháp, "người trưởng nữ của Giáo Hội La Mã" kể từ năm 1871 đến năm 1940 đã phải thay đổi đến 99 nội các. Quân Pháp vừa mới rút lui, tức thì, ngày 19 tháng 9, quân đội quốc gia Ý tiến vào kinh thành La Mã và đóng quân ở ngay chung quanh cổ thành Leonine nằm trong Kinh Thành La Mã. Ngày hôm sau (20/9), sau khoảng ba tiếng đồng hồ nã đại pháo và cận chiến lẻ tẻ, vào lúc 9:30 sáng, Giáo Hoàng ra lệnh kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ  St. Peter. Mười phút sau đó, không còn nghe thấy tiếng súng nữa. Quân đội Ý tiến vào phía trong kinh thành và chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hoàng không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén, còn lại chỉ có 480 ngàn mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh ngọn đồi này trong đó có nhà thờ St. Peter, các tòa nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó. Hôm sau, ngày 21 tháng 9, Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) viết  một lá thư ngắn ngủi cho người cháu:
Cháu yêu quý: Tất cả đã hết rồi. Không có tự do, không thể nào quản lý được Giáo Hội. Hãy cầu nguyện cho ta và cho tất cả các con. Ta chúc phúc cho các con."[3]
2.- DÂN TỘC ĐỨC CHIẾN ĐẤU CHỐNG  VATICAN
Tại Đức, nhân dân quốc gia này cũng thù ghét Vatican không kém gì nhân dân Anh, nhân dân Pháp và nhân dân Ý. Trong Chương 16 ở trên, chúng tôi đã trình bày là vào năm 1077, Vua Henry IV  (1050-1106) đã chống lại việc Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) ban hành bản Tuyên Cáo "Dictatus papae" gồm 27 điều (gọi là nguyên tắc) bằng cách tự ý bổ nhậm các giám mục trong lãnh thổ đế quốc của ông mà không cần biết đến điều 3 của bản tuyên cáo này định rằng, “chỉ có  Giáo Hoàng mới có quyền bổ nhiệm hay bãi chức các giám mục.”  Tiếc rằng, vì trình độ dân trí người dân Đức lúc bấy giờ còn thấp kém và thế lực bọn lãnh chúa phản động phong kiến trong nước Đức liên kết với Nhà Thờ chống lại ông mãnh liệt. Vì thế Vua Henry IV  mới thất bại và đành phải mặc áo xám hối, đi chân trần đứng ở giữa trời tuyết trong ba ngày ở Canova để tạ lỗi với Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085). Xin xem lại Chương 16 ở trên.
Linh-mục Martin Luther
Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ  người Đức đã có tinh thần chống lại Vatican từ cuối thế kỷ 11. Tuy là cuộc chống đối này của Hòang Đế Henry IV thất bại, nhưng tinh thần chống Vatican  vẫn chứa chất  và sôi sục trong lòng người dân Đức giống như hỏa diệm sơn, chỉ chờ khi có hoàn cảnh thuận tiện là bùng lên thành bão lửa thiêu rụi hết tất cả hệ thống quyền lực chuyên chính tàn ngược của Vatican. Cũng vì thế mà khi Linh-mục Martin Luther (1483-1546) đứng lên phất cờ chống lại Giáo Hội La Mã vào tháng 10 năm 1517, thì cả chính quyền và nhân dân Đức đều đồng lòng hăng hái ủng hộ và tích cực đi theo ông. Nhờ vậy mà cuộc nổi dậy của  Linh-mục Martin Luther đã thành công rực rỡ và gây nên cả một phong trào Tin Lành rộng lớn (chống lại Vatican) bao trùm cả Trung Âu, Bắc Âu, Tây Âu và tạo điều kiện thuận lợi cho nước Anh cũng nổi lên chống lại Giáo Hội La Mã,, thành lập Anh Giáo tách rời khởi Vatican. Xin xem lại Chương 15.
Vì khinh bỉ và thù ghét Vatican, cho nên vua Frederik the Great (1712-1786) của nước Phổ (cũng là nước Đức) mới tuyên bố:
“Mọi nhà thần học đều giống nhau. Mục đích của họ luôn luôn là đặt bạo quyền lên trên tâm thức con người. Do đó họ khủng bố mọi người chúng ta dám táo bạo phanh phui sự thật.” (Theologians are all alike. Their aim is always to wield despotic authority over men’s consciences. They therefore persecute all of us who have the termerity to unveil the truth.)”[4]
Nhà xã hội học August Bebel (1840-1913) người Đức tuyên bố:
Ki-tô giáo là kẻ thù của tự do và văn minh. Nó trói buộc nhân loại trong xiềng xích.“ (Christianity is the enemy of liberty and civilization. It has kept mankind in chains.) [5]
Thượng Đế đã chết. Chúng ta không nên đến nhà thờ nếu chúng ta muốn hít thở không khí trong lành.” (God is dead. One should not go the church if one wants to breathe pure air.” [6]
Giống như nhân dân hai nước Pháp và Ý, nhân dân Đức cũng bị Vatican thống trị bằng những chính sách chuyên chính cực kỳ bạo ngược và bị bóc lột hết sức dã man. Tại quốc gia này, con số ruộng đất bị Vatican cưỡng chiếm lên tới 20% trên tổng số ruộng đất trong toàn lãnh thổ. Cũng giống như nhân dân Pháp và nhân dân Ý,  nhân dân Đức cũng khinh bỉ, căm phẫn và thù ghét Vatican và bọn tu sĩ Ca-tô đến tận xương tận tủy. Vì vậy mà khi Linh-mục Martin Luther (1483-1546) vừa mới công bố bản cáo trạng liệt kê 95 tội danh của Vatican, dán tại cửa  chính của một ngôi nhà thờ trong thành phố Wittenberg thì được toàn thể nhân dân Đức hân hoan sung sướng và triệt để ủng hộ. Họ reo mừng giống như nhân Pháp tại Kinh Thành Paris trong ngày 14/7/1789 ngay sau giờ phá ngục Bastille, và giống như nhân dân Việt Nam ta trong ngày 19/8/1945. Chính vì lòng dân Đức sôi sục như vậy, cho nên năm 1521, khi Giáo Hoàng Leo X (1513-1521) quyết định trừng phạt ông (Linh-mục Martin Luther) bằng lệnh rút phép thông công và ra lệnh cho chính quyền địa phương tại Đức phải bắt ông trao cho Tòa Án Dị Giáo để trị tội, thì cả chính quyền và nhân Đức đều thách thức, bất tuân lệnh của giáo hoàng, và tổ chức quân đội chuẩn bị đương đầu đối phó với thế lực phản động và phong kiến địa phương cấu kết  Vatican. Cũng may là vào lúc này, cũng như tại Âu Châu,  người dân Đức đã được mở rộng tầm mắt, đã nhìn thấy rõ bộ mặt thật của Vatican và bọn quạ trắng, quạ đỏ, quạ tím và quạ đen, cho nên, ngọai trừ một nhóm thiểu số, hầu như toàn thể nhân dân Đức đều đồng lòng đoàn kết đứng sau Linh-mục Martin Luther và các nhà cầm quyền Đức. Nhờ vậy mà họ đã đại thắng trong cuộc chiến chống lại Vatican này.
Ngay sau đó, có rất nhiều nhà trí thức Đức trong đó có nhà thần học Philipp Melanchthon (1497-1560) nhập cuộc tiếp tay Linh-mục Martin Luther soạn thảo một hệ thống tín lý Ki-tô mới thay thế hệ thống tín lý Ki-tô La Mã (Ca-tô). Hệ thống tín lý mới này thường được gọi là đạo Tin Lành Luther (Lutheran Protestantism).  Hệ phái Tin Lành này không những được nhân dân Đức (vốn là tín đồ Ca-tô của Vatican) nồng nhiệt đón mừng và tin theo, mà còn được một số lớn người dân tại các nước Trung Âu, Đông Âu, Bắc Âu  và Tây Âu cũng từ bỏ Giáo Hội La Mã, đi theo đạo Tin Lành Luther.
Kể từ đó, ngoài trừ một số rất nhỏ, tuyệt đại đa số nhân dân Đức và nhân dân các quốc gia Trung Âu, Đông Âu, Bắc Âu và Tây Âu không những dứt khoát từ bỏ cái Giáo Hội La Mã mà học giả Henri Guillemin gọi là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn” (L’ Église Malheureuse), mà còn cương quyết liều thân chống nó đến cùng để bảo vệ cái quyền làm người của họ. Cũng vì thế vào đầu thế kỷ 17, khi Vatican ở hậu trường xúi giục chính quyền đạo phiệt Ca-tô ở Pháp do Hồng Y Richelieu nắm quyền thủ tướng với toàn quyền chuyên chính trong thời Vua Louis XIII (1610-1643) và Hồng Y  Mazarin  gốc Ý, nối tiếp Hồng Y Richelieu nắm quyền thủ tướng trong thời Vua Louis XIV (1643-1715) phát động các cuộc chiến nhằm tiêu diệt các ông hoàng có thế lực theo đạo Tin Lành, đặc biệt là ở Đức, thì họ tình nguyện đầu quân và liều chết chiến đấu dưới quyền các ông hoàng Tin Lành. Vì vậy mà cuộc chiến này giằng co kéo dài tới 30 năm trời (1618-1648). Mãi  tới khi các thế lực Ki-tô cả hai phe lâm chiến đều mệt mỏi  và tài chánh kiệt quệ, không còn khả năng tiếp tục chiến đấu nữa, thì các cuộc chiến này mới chấm dứt bằng Hòa Ước Westphalia. Các nhà viết sử đều ghi nhận rằng cuộc chiến này đã mang lại chiến thắng cho các quốc gia chống lại Vatican vì rằng những khoản tài sản khổng lồ của Giáo Hội La Mã  tại các quốc gia này bị phe Tin Lành chiếm đoạt. Nói cho rõ hơn, kể từ đó các quốc gia Âu Châu hoàn toàn làm chủ tất cả các tài sản của quốc gia họ đã bị Vatican chiếm đoạt . Ngay cả các quốc gia còn nằm dưới ách thống trị của Vatican như nước Pháp (vào lúc đó) cũng có thể vùng lên chống lại Vatican vào bất cứ thời điểm nào để đòi lại các khoản tài sản của Vatican ở trong lãnh thổ Pháp. Sự kiện này được sách Living World History viết như sau:
Hòa Ước Westphalia giải quyết dứt khoát được quyền làm chủ tài sản mà Giáo Hội La Mã đã chiếm đoạt trước đó bằng cách nói rõ người nào đã làm chủ các khoản tài sản vào năm 1624 dù là  Tin Lành hay Ca-tô thì sẽ được quyền tiếp tục làm chủ những khoản tài sản đó. Hòa ước này cũng ban cho hệ phái Tin Lành Calvin những đặc quyền giống như những đặc quyền mà Hòa Ước Augsburg trước kia đã  ban cho hệ phái Tin Lành Luther. Một trong những ý nghĩa vĩ đại nhất của Hòa Ước  Westphalia là các quốc gia đã đạt được chiến thắng giành được quyền độc lập đối với các thế lực  như Giáo Hội La Mã và Đế Quốc Thần Thánh La Mã  mưu đồ áp đặt quyền lực bao trùm lên các quốc gia của họ (tức ở ngoài biên giới của hai thế lực này.[7]
3.- DÂN TỘC NGA DÙNG BIỆN PHÁP MẠNH ĐỐI PHÓ VỚI VATICAN
Cũng như nhân dân các nước Anh, Pháp, Ý và Đức, nhân dân Nga cũng vô cùng căm phẫn, thù ghét Vatican và bọn giáo sĩ của cái tôn giáo quái đản này. Bằng chứng rõ ràng cho sự kiện này là văn hào Leo Tolstoy (1828-1910) người Nga nói rằng:
Tôi tin chắc rằng giáo lý của Giáo Hội Mã (Ca-tô) là một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết, và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện thực hành. Đúng vậy, tôi không thể chấp nhận một thuyết không hiểu nổi là thuyết Ba Ngôi và huyền thoại về sự sa ngã của con người, vì chúng vô lý trong thời đại của chúng ta. ”  [8]
Đế Quốc La Mã trong thời cực thịnh thống trị phần lớn lãnh thổ Âu Châu và các vùng ven Biển Địa Trung Hải tức là bao gồm luôn cả phần lớn lãnh thổ của Nga Âu. Vào năm 324, Hoàng Đế Constantine (280-337) chia lãnh thổ đế quốc này ra làm Đế Quốc Tây Phương với thủ đô hành chánh là Rome và Đế Quốc Đông Phương với thủ đô hành chánh là Constantinople (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), thì lãnh thổ Nga Âu nằm trong Đế Quốc Phương Đông. [Vào thời điểm này, nước Nga chưa ra đời. Mãi đến thế kỷ 9, Nga mới lập quốc.] Cũng từ đây Đạo Ca-tô La Mã  (Roman Catholicism) do Hoàng Đế Constantine biến chế từ đạo Ki-tô Do Thái (Jewish Christianity) dần dần phân hóa thành hai hệ phái Ki-tô giáo La Mã (Roman Christianity) và Chính Thống Giáo (Orthodox). Người dân Nga thuộc về hệ phái Chính Thống Giáo. Năm 1054, Chính Thống Giáo chính thức ly khai với Vatican và trở thành thù địch với Vatican. Dĩ nhiên là dân tộc Nga cũng coi  đạo Ki-tô La Mã (Ca-tô hay công giáo) là thù địch.
41 năm sau, tức là vào năm 1095, Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) phát động chiến tranh thập tự, đem quân thập ác sang vùng Palestine tàn sát tín đồ Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Chính Thống Giáo một cách cực kỳ man rợ. Trong cuộc chiến này, người dân Nga ở trong vùng lâm chiến cũng trở thành nạn nhân khốn khổ của những đoàn quân thập ác tham chiến. Kể từ đó, mối thù của tín đồ Chính Thống Giáo (trong đó có người Nga) đối với Vatican và đạo Ca-tô càng trở nên sâu nặng hơn.
Năm 1917, Cánh Mạng Nga thành công. Vatican coi nước Nga và nhân dân Nga như là kẻ tử thù. Kể từ đó Vatican luôn luôn đưa ra chiêu bài diệt trừ Cộng Sản và chống Cộng Sản đến cùng. Sự thực, chiêu bài này chỉ là bức bình phong che đậy cho dã tâm hủy diệt Chính Thống Giáo giống như Vatican muốn hủy diệt Do Thái Giáo và các hệ phái Tin Lành ở Âu Châu.
Năm 1933, tín đồ Ca-tô Adolf Hitler (1889-1945) lên cầm quyền thiết lập chế độ Đức Quốc Xã, thì Vatican cấu kết với chế độ bạo ngược này, đưa tên bạo chúa Francisco Franco (1892-1975) lên cầm quyền thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô (1936-1975) gấy nên cuộc nội chiến Tây Ban Nha kéo dài cả 3 năm trời. Chính quyền Cách Mạng Tây Ban Nha đơn thương độc mã không chống lại phe đạo phiệt  Ca-tô Francisco Franco có cả Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý tiếp tay và viện trợ, cho nên cuối cùng bị thảm bại vào năm 1939. Sau đó, năm 1941, Vatican lại cấu kết với Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý đưa tên bạo chúa Ante Pavelich lên thiết lập chế độ phiệt Ca-tô ở Croatia trong những năm 1941-1945, sát hại tới hơn 700 ngàn người mà hầu hết nạn nhân là tín đồ Chính Thống giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo.
Trong những năm 1935-1945, thấy rằng phe Trục ở thế mạnh và đang trên đà chiến thắng ở nhiều nơi, Vatican quay ra ngầm đi với phé Trục chống lại Phe Đồng Minh Anh, Mỹ, Nga, Pháp và Trung Hoa. Tại Âu Châu, như đã nói ở trên, Vatican cấu kết với Đức và Phát Xít Ý đưa tên bạo chúa Francisco Franco và tên bạo chúa Ante Pavelich cầm quyền ở Croatia. Đòng thời, Vatican còn tích cực ủng hộ Đức Quốc Xã tấn công nước Nga. Tại Á Châu, Vatican ngầm liên kết với Nhật dùng  con bài Cường Để, Ngô Đình Diệm và nhiều tín đồ Ca-tô khác lập Đảng Đại Việt Phục Hưng để phòng hờ khi Nhật đại thắng thì Nhật sẽ đưa hai tên tín đồ Ca-tô cuồng tín này llên cầm quyền tại triều đình Huế với hy vọng sẽ lần lần thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô tại Việt Nam.
Với bản chất và những thủ đoạn quỷ quyệt lá mặt lá trái cùng những hành động độc ác và tàn ngược của Vatican như vậy, tất nhiên là người dân Nga đời đời nhớ mãi những hành động tội ác tàn sát tín đồ Chính Thống Giáo (trong đó có rất nhiều dân Nga) trong những cuộc thập chiến trong thời Trung Cổ cũng như trong thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945). Cũng vì thế mà tháng 7/1997, nước Nga chính thức thông qua một đạo luật, không cho phép Đạo Da-tô và đạo Tin Lành họat động hay truyền đạo ở quốc gia này. Sự kiện này được sách Vatican Thú Tội và Xin Lỗi ghi nhận như sau:
"Trước buổi chợ chiều ấy, Giáo Hoàng Phao Lồ II hiện nay, kêu gọi các linh mục, giám mục của ông, dốc lòng truyền bá Ki-tô giáo trong các quốc gia Á Châu. Điều đó có nghĩa là đem tai họa khủng khiếp đến cho Á Châu trong thiên niên kỷ thứ 3 này, như Giáo Hội Ca-tô La Mã đã đem tai họa cho Âu Châu trong thiên niên kỷ thứ nhất, cho Mỹ Châu trong thiên niên kỷ thứ 2, nay đến lượt Á Châu. Để ngăn chặn hiểm họa ấy, quốc hội Nga tháng 7 năm 1997 thông qua một đạo luật cho phép tất cả các tôn giáo được tự do truyền đạo tại Nga, ngọai trừ đạo Tin Lành và Thiên Chúa Giáo La Mã. Nhiều quốc gia khác ở Á Châu như Ấn Độ, Indonesia, Trung Hoa, v.v... cũng đang có những phản ứng quyết liệt trước âm mưu muốn nhuộm đen Á Châu của Ki-tô giáo." [9]
Vấn đề này cũng được cụ Trần Văn Kha nói rõ trong cuốn Đức Tin Và Lý Trí - Thông Điệp Thứ 13 của Giáo Hoàng John Paul II:
"Ở Nga: Tin của "The Register" số ra ngày Thứ Bảy 20/ 9/1997 cho biết: "Đạo luật đã chấp nhận "Chính Thống Giáo" là tôn giáo chính, kính trọng các tôn giáo khác, như Hồi Giáo, Phật Giáo và Do Thái Giáo. Đạo luật tạo ra một hàng rào ngăn cản đối với những giáo phái toàn trị (Gia-tô, Tin Lành) và hạn chế sự hoạt động của những nhà truyền giáo ngoại quốc. Các nhà phê bình cho rằng Chính Thống Giáo cũng ủng hộ đạo luật này như là một cách để ngăn cấm những người Ki-tô khác như Da-tô và Tin Lành, không cho họ được tự do họat động ở Nga." Vào ngày Thứ Sáu 19/9/1997, các nhà làm luật ở Hạ Viện đã bỏ phiếu chấp thuận (đạo luật trên đây) với 358 phiếu thuận và 6 phiếu chống."[10]
Ông Phan Đình Diệm, hội truởng hội Giê-su giáo ghi nhận:
“Luật tôn giáo của viện DUMA (Quốc Hội) nước Nga năm 1997 chỉ công nhận Chính Thống Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Phật Giáo là "4 Tôn Giáo cao cấp hạng nhất là Tôn Giáo của Dân Tộc" của toàn nước Nga, được hưởng tròn đầy tự do và được hưởng nhiều quyền lợi. Tôn Giáo hạng hai là các "gíao phái ngoại nhập" phi dân tộc, trong đó có Công Giáo Rôma, các giáo phái Tin Lành, không có tự do và không có quyền lợi gì hết và chịu một hạn chế gắt gao, bị kiểm sóat nghiêm ngặt mọi hiện hữu, mọi hoạt động, mọi sở hữu phải đăng ký, những biện pháp dự liệu trong luật tiến gần đến chỗ như là cấm đạo, như là trục xuất, như là triệt tiêu."[11]
4.- TINH THẦN CHỐNG VATICAN CỦA DÂN TỘC TIỆP KHẮC
Cũng như các dân tộc các quốc gia khác ở Âu Châu, dân tộc Tiệp Khắc cũng từng là nạn nhân khốn khổ của Vatican từ thời bạo chúa Ca-tô Charlemagne (768-814). Vì thế mà nhân dân Tiệp Khắc vô cùng thù căm phẫn và hết sức thù ghéi Vatican không kém gì các dân tộc nạn nhân khác của Vatican. Cũng vì thế mà ngay từ khi Chủ  Nghĩa Nhân Bản (Humansm) và Phong Trào Phục Hưng (The Renaissance) bùng lên tố cáo tội ác của Giáo Hội La Mã vào đầu thế kỷ 14, thì người dân Tiệp Khắc đã hăng hái tham gia và tích cực hoạt động trong các phong trào này để chống lại Vatican. Nói về những hoạt động của Phong Trào Nhân Bản tố cáo tộ ác của Giáo của Giáo Hội La Mã, sách  Men and Nations ghi nhận:
“Theo thời gian, Chủ Nghĩa Nhân Bản trở nên một trường phái học thuật có một quan niệm nhân sinh mới. Một trong những đặc tính của quan niệm nhân sinh mới này là tinh thần phê phán. Thí dụ như một số tư tưởng gia trong phong trào này chỉ trích Giáo Hội La Mã, chống đối những điều mà họ cho là  thói hư, tật xấu, những khuyết điểm trong tổ chức và trong việc quản trị của giáo hội. Những người này vẫn còn giữ vững niềm tin tôn giáo, nhưng họ không thể chấp nhận quyền lực của giáo hội mà không hoài nghi và thắc mắc.”[12]
John Huss
Nói đến người dân Tiệp hăng hái hưởng ứng Chủ Nghĩa Nhân Bản và Phong Trào Phục Hưng trong các hoạt động tố cáo tội ác của Giáo Hội La Mã, là phải nói đến người dân xứ Bohemia (nằm trong nước Tiệp Khắc) mà nhà lãnh đạo của họ là nhà ái quốc John Huss (1372-1415). Vì  tích cực  viết sách nêu lên những sai lầm trong hệ thống thần học Ki-tô và hăng say tố cáo tội ác của Giáo Hội La Mã, ông John Huss bị Giáo Hoàng John  XXIII (1410-1415) [một trong những bạo chúa Ca-tô ác độc, dâm loạn nhất trong giáo triều Vatican] âm mưu cùng với tên bạo chúa Ca-tô Sigismund (Hoàng Đế Thần Thánh La Mã) bắt giam vào cuối tháng 11/1414, rồi đưa ra Tòa Án Dị Giáo của Giáo Hội La Mã tuyên án tử hình, và cuối cùng ông bị đưa lên giàn hỏa thiêu vào ngày 6/7/1415.[13]
Kể từ đó, lòng căm phẫn và thù ghét Vatican càng chất chứa trong lòng người dân Tiệp Khắc và họ sẵn sàng vùng lên tru diệt cái “tôn giáo ác ôn” này.  Cũng vì thế mà trong thời Phong Trào Tin Lành Luther nổi lên ở Đức vào cuối thập niên 1510, nhân dân Tiệp Khắc triệt để ủng hộ và đứng về  phe Tin Lành chống lại Nhà Thờ Vatican. Rồi trong thời Chiến Tranh Lạnh (1947-1990), thế giới chia ra làm hai phe kình địch giữa một bên là phe Cộng Sản do Liên Sô chỉ đạo, và một bên là phe Tư Bản do Hoa Kỳ lãnh đạo có Vatican ở đằng sau, thì nước Tiệp Khắc nằm trong quỹ đạo của Liên Sô (chống lại Nhà Thờ Vatican). Khi chế độ  Cộng Sản ở Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, thì người nhân dân Tiệp khắc  cương quyết theo chế độ dân chủ và chống lại Vatican một cách hết sức mãnh liệt. Bản tin dưới đây do nhật báo "Seattle-Post Intelligencer [Seattle] ra ngày  February 6, 2003" nơi trang  A3 cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:
“Một vị dân biểu quốc hội Tiệp Khắc, (quốc gia này sẽ gia nhập  Khối Âu Châu Hợp Nhất vào năm tới), là ông Jan Zahadil tuyên bố, "Đề cập đến Thượng Đế trong bất kỳ hiến chương nào của Khối Âu Châu Hợp Nhất là một ý kiến ngu xuẩn, nó chỉ tạo nên những mối bất hòa mà thôi. Không được có một tí gì liên hệ trực tiếp với tôn giáo cả." [14]
5.- TINH THẦN CHỐNG VATICAN CỦA DÂN TỘC TÂY BAN NHA
Trong các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội La Mã, Tây Ban Nha là  nước gánh chịu thống khổ đau thương nhiều nhất và trong thời gian lâu dài nhất. Dân tộc Pháp được coi như thoát khỏi được cái ách thống trị bạo tàn của Giáo Hội La Mã kể từ khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào ngày 14//7/1789, dù rằng cuộc chiến chống lại Vatican còn giằng co cho đến năm 1905 họ mới thành công ghi vào hiến Pháp điều khoản “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”. Trong khi đó thì  nhân dân Tây Ban Nha vẫn còn phải tiếp tục kéo dài kiếp sống dưới sự kìm kẹp của “cái tôn giáo ác ôn” này tới cả gần hai thế kỷ nữa. Vì vậy, nhân dân Tây Ban Nha mới căm thù Giáo Hội La Mã và giai cấp tu sĩ Da-tô sâu đậm hơn tất cả các dân tộc của các quốc gia Âu Châu khác. Cũng vì thế mà mỗi khi có cơ hội là họ nổi lên tàn sát “bọn quạ đen” không một chút xót thương. Con số bọn quạ đen của Vatican bị nhân dân Tây Ban Nha đập chết trong thời chiến tranh Cách Mạng vào giữa thập niên 1930 được nêu lên trong bản tin dưới đây có tựa đề là "Hold on to your faith, Pope tells Spaniards của ký giả David Sharrock được công bố  trong tờ World News ngày 5/5/2003 nói lên lòng ghê tởm và căm thù của đại khối nhân dân Tây Ban Nha đối với Giáo Hội La Mã như thế nào:
"World News May 05, 03: Hold on you faith, Pope tells Spaniards" by David Sharrock:
"Hôm qua, khi tuyên bố phong thánh cho 5 người Tây Ban Nha, Giáo Hòang (John Paul II) kêu gọi người Tây Ban Nha hãy duy trì truyền thống văn hóa Da-tô (Kitô La Mã). Hàng triệu người xếp thành hàng chữ thập ở trung tâm kinh thành Madrid. Phần lớn những người này là người Tây Ban Nha và có cả những người Nam Mỹ và Ba Lan, trải dài ra bốn ngã tư đường tại Quảng Trường Columbus, nơi đó một cái bàn thờ mầu trằng vĩ đại được dựng nên để làm lễ phong thánh.
Giáo Hoàng tuyên bố phong thánh cho 2 nam  tu sĩ và 3 nữ tu, cả 5 người này đều là người Tây Ban Nha nổi tiếng là làm việc cho dân nghèo và đã qua đời trong thế kỷ vừa qua. Những bức hình vĩ đại của 5 người này treo ở tòa nhà văn phòng trông ra quảng trường.
Giáo Hoàng tuyên bố bằng tiếng Tây Ban Nha rằng, "Chúng ta ghi danh họ vào trong sách thánh và quyết định rằng tất cả đều được vinh danh là thánh ở trong Giáo  Hội".
Trong 5 năm qua, Giáo Hòang (John Paul II) đã phong thánh cho 20 người Tây Ban Nha, trong đó, có 11 người tử đạo bị Phong Trào Cộng Hòa  sát hại trong thời Thời Nội Chiến Tây Ban Nha 1936-1939.
"Trong số 5 người được  phong thánh (hôm này) có Cha Pedro Poveda là một trong số 4,184 tu sĩ bị Phong Trào Cộng Hòa sát hại trong những năm nội chiến. Các ông thánh khác là Angela de la Cruz (người thành lập  đạo nữ binh  "The Sisters" of the Company of the Cross"); Genoveva Torres (người thành lập đạo nữ binh "The Sisters of the Sacred Heart and the Holy Angels") ; Maravillas de Jesus (thành lập nhiều tu viện cho Dòng "Bare foot Camelites"); và Jose Maria Rubio, một tu sĩ Dòng Tên.
Tính đến nay, Giáo Hòang (John Paul II đã phong thánh cho 470 người và phong chân phước cho 1,314 người, nhiều hơn tổng số thánh và chân phước do tất  cả giáo hoàng tiền nhiệm đã tuyên phong trước đó.” [15]
Một bản tin khác được  nhật báo "Seattle-Post Intelligencer [Seattle]  ra ngày  February 6, 2003"  đăng nơi trang  A3 trong đó có một đoạn với nguyên văn tin sau:
"Ở Tây Ban Nha, nói đến đạo Công Giáo La Mã là gợi lại hình ảnh nhà độc tài phát xít Francis Franco mà đồng tiền Tây Ban Nha nào cũng đều có in hình của ông ta, và quyền lực của ông ta được hỗ trợ "bởi Ân Sủng của Thượng Đế"... Ngọai Trưởng Tây Ban Nha Ana Palaciao tuyên bố, "Điểm giống nhau của chúng ta là chiến đấu cho dân chủ, chiến đấu cho nhân quyền và chiến đấu để "tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền"
["In Spain, a reference to Catholicism evokes memories of the facist dictator Francis Franco, who stamped every Spanish coin with his profile and backed his grip on power "by the Grace of God."... Our identity is the fight for democracy, for huuman rights, for the separation between church and state," said Spanish Foreign Minister Ana Palacio.”[16]
6.- TINH THẦN CHỐNG VATICAN CỦA DÂN TỘC BA LAN
Aleksander Kwasniewski
Tại Ba Lan, tín đồ Da-tô  chiếm  tới  95%  dân số. Vì căm giận và thù ghét Giáo Hội đến tận xương tận tủy, cho nên khi có cuộc bầu cử Tổng Thống Ba Lan được tổ chức vào ngày 19/11/1995, họ lại dồn phiếu cho ứng cử viên Aleksander Kwasniewski, một cựu đảng viên Cộng Sản, một người vốn có thành tích chống Vatican, chứ không bầu cho ứng cử viên của Vatican là ông con chiên  Lech Waslessa. Tin tức về cuộc bầu cử này được tờ Người Việt Tây Bắc (chủ nhân là một dân Chúa ngoan đạo) số 469, phát hành ngày Thứ Sáu 1 tháng 12 năm 1995 đăng tin như sau:
"Giáo Hội Ba lan theo dõi từng bước sự thắng cử của Tân Tổng Thống cựu Cộng Sản.-  Warsaw, Ba Lan (Reuter). Vị đứng đầu Công Giáo Ba Lan, Đức Hồng Y Jozef Glemp, hôm 27/11, tuyên bố sẽ theo dõi kỹ càng các sự thay đổi chính trị tại Ba Lan, sau khi một cựu đảng viên Cộng Sản Ba Lan đã vừa đắc cử tổng thống nước này.
Hồng Y J. Glemp tuyên bố trong cuộc phỏng vấn dành cho cơ quan thông tin Công Giáo (CIA), sau khi ứng cử viên Tổng Thống cựu đảng viên Cộng Sản Aleksander Kwasniewski thắng thế trước ứng cử viên Lech Waslessa, cựu lãnh tụ Công Đòan Đòan Kết, tín đồ Thiên Chúa ngoan đạo, như sau:
"Lẽ dĩ nhiên, chúng tôi sẽ không đưa ra bất cứ đề nghị nào có tính cách cách mạng với tân tổng thống cả. Tôi không nghĩ rằng, với tư cách đại diện giáo hội, chúng tôi sẽ không đảm trách vai trò chính trị nào trong tân chính phủ, tuy nhiên, chắc chắn chúng tôi sẽ theo dõi kỹ càng mọi diễn biến xẩy ra trên chính trường," Sự thắng cử với tỷ lệ phiếu mong manh của ứng cử viên Tổng Thống Kwasniewski trong cuộc bầu cử 19/11 vừa qua bị coi là một sự thất bại cho Giáo Hội Công Giáo Ba Lan, mà trước năm 1989, vẫn là hạt nhân chính yếu của phe đối lập để chống lại hệ thống vô thần Cộng Sản, mà ứng cử viên Kwasniewski  từng là một viên chức cao cấp.
Tổng Thống tân cử Kwasniewski tuyên bố, ông muốn hàn gắn mọi sự dị biệt với Giáo Hội Công Giáo Ba lan, tuy nhiên, điều này có lẽ không dễ dàng gì. Ngày 26/11, vị lãnh đạo giáo xứ Jasna Gora, từng được coi là chiến tuyến công giáo của Ba Lan ngay từ thế kỷ 17, để chống lại quân xâm lăng Thụy Điển, đã nói thẳng ra rằng, Ngài sẽ không cho Kwasniewski  đặt chân lên khu giáo xứ của ông.
Vị lãnh đạo giáo xứ trên, Ngài Szezpan Kosnik, tuyên bố trước hàng ngàn giáo dân tề tựu tại giáo đường Pauline ở Czestochowa, nằm ở phía Nam Ba Lan, như sau:
"Các cửa ngỏ của giáo xứ Jasna Gora sẽ được bít kín chống lại các kẻ thù của lòng tin Chúa, bất kể đến việc họ đã đạt đến cấp bậc lãnh đạo cao ra sao đi chăng nữa."
Các ủng hộ viên của tân Tổng Thống  Kwasniewski đã lên án sự ủng hộ của giáo hội đối với ông Lech Waslessa ngay khi vận động tranh cử, và cảnh cáo tiếp rằng điều này chỉ có hại cho giáo hội mà thôi." ["Giáo Hội Ba lan theo dõi từng bước sự thắng cử của Tân Tổng Thống cựu Cộng Sản." [17]
Chúng ta thấy rằng lời tuyên bố trên đây của ông tu sĩ Da-tô  Szezpan Kosnik quả thật là xấc xược, ngược ngạo, mất dạy đúng như truyền thống của đạo Da-tô. Lời tuyến bố  “Các cửa ngỏ của giáo xứ Jasna Gora sẽ được bít kín chống lại các kẻ thù của lòng tin Chúa, bất kể đến việc họ đã đạt đến cấp bậc lãnh đạo cao cấp ra sao đi chăng nữa”  chứng tỏ ông tu sĩ (giám-mục hay linh mục) Szezpan Kosnik đã biến giáo xứ Jasna Gora thành một quốc gia trong quốc gia Ba Lan. Trong bản văn trên đây, chúng ta thấy tất cả ngôn từ, cung cách hành xử và việc làm của ông tu sĩ Szezpan Kosnik  giống y hệt như bọn lãnh chúa áo đen ở  trên  toàn cõi Việt Nam từ năm 1858 cho đến năm 1954, ở miền Nam trong những năm  1954-1975, giống như thái độ, hành động và lời lẽ xấc xược, ngược ngạo, vong bản và mất dạy của Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục giáo phận Hà Nội trong thời gian từ ngày 18/12/2007 cho đến ngày 22/9/2008, và giống như những lời lẽ vong bản và ngang ngược (đặt giáo luật Ki-tô lên trên luật pháp quốc gia) của Giám-mục Nguyễn Văn Nhơn (rằng, sau khi xem xét, thấy các vị này không làm bất cứ điều gì ngược với giáo luật hiện hành) trong bản văn thư đề ngảy 23/9/2008 trả lời văn thư của ông Nguyễn Thế Thảo (yêu cầu xử lý nghiêm minh giám mục Ngô Quang Kiệt, linh-mục Vũ Khởi Phụng, các giáo sỹ Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Ngọc Nam Phong về tội vi phạm luật pháp trong vụ gây bạo loạn tại  178 Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội trong những ngày 15/8 – 219/2008).
Thái độ xấc xược, ngược ngạo và trịch thượng của ông tu sĩ Da-tô Szezpan Kosnik đã làm cho nhân dân Ba Lan vốn đã ghê tởm Vatican lại càng trở nên ghê tởm hơn nữa. Vì thế mà  trong cuộc bầu cử được tổ chức vào khi hết nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng Thống  Kwasniewski sắp hết hạn, ứng cử viện cựu đảng viên Cộng Sản  này lại một lần nữa đắc cử với đại đa số phiếu và ứng cứ viên của phe bảo thủ thân Vatican lại bị rớt đài một lần nữa. Sự kiện này được ông Lưu Vũ ghi lại trong www.danchimviet.com  ngày 24/6/2006 với nguyên văn như sau:
Cái không thích của một cá nhân không thể chống lại lòng mong muốn của đa số. Giống hệt ở Ba Lan. Hiến pháp Ba Lan cấm chủ nghĩa cộng sản hoạt động. Những người cựu cộng sản Ba Lan đã khôn ngoan, lột xác, từ bỏ ý thức hệ cộng sản chuyển sang khuynh hướng dân chủ - xã hội. Đã hai nhiệm kỳ (8 năm trong 17 năm nay chuyển hoá chế độ) họ giành được đa số phiếu và nắm quyền lãnh đạo đất nước, trước sự hằn học, tức tối của các đảng cánh hữu chia rẽ, mất đoàn kết, tranh giành nhau ngôi thứ. Những con chim đầu đàn của Công Đoàn Đoàn Kết tranh đấu cho Ba Lan dân chủ phải nhịn nhục chào thua, đành nuốt quả đắng khôi phục lại lực lượng để giành lại lá phiếu trong kỳ bầu cử tiếp theo. Làm gì hơn? Chả lẽ anh lại gây bạo động chống lại chính cái mục đích mà anh đã dấn thân: người dân lựa chọn lãnh đạo bằng lá phiếu.”[18]
NÓI CHUNG về mức độ ghê tởm và căm phẫn Giáo Hội La Mã của nhân dân Âu Châu, học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi nhận  như sau:
"Tại Âu Châu, tiếp theo thời Phục Hưng - Tái Sinh  - là 300 năm "Thời Hậu Kitô  Giáo". Và hôm nay, qua bản dự thảo Hiến Pháp Âu Châu, Thiên Chúa Giáo đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ, san bằng phẳng, đi vào lãng quên trong tâm hồn người dân trên lục địa này. Giáo Hoàng Rôma trong mấy tuần qua liên tiếp than phiền, tháp chuông trơ trọi im tiếng như cây khô mùa đông. Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Paris đi vào hoang phế, thời oanh liệt nay còn đâu? "Nền cũ lâu đài bóng tịch dương". Một tôn giáo một thời ngàn năm hùng mạnh như Đế Quốc La Mã "Ego sum Papa sum Caesar", nay đã thật sự cáo chung." [19]
KẾT LUẬN:

Phần trình bày trong các Chương 15, 16 và 18 trên đây cho chúng ta thấy rõ sự ghê tởm và lòng căm thù của nhân dân Âu Châu đối với Giáo Hội La Mã lúc nào cũng sôi sục, phừng phừng như muốn bùng lên thành những cơn bão lửa thiêu rụi cả Tòa Thánh Vatican, cơ quan đầu não của cái thế lực mà văn hào Voltaire gọi là "cái tôn giáo ác ôn".
Sự kiện nhân dân các quốc gia Anh, Pháp, Ý, Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Tây Ban Nha và các dân tộc Mỹ Châu La-tinh (sẽ được trình bày trong Chương 19 ở sau) đều là tín đồ của Giáo Hội La Mã mà lại cương quyết vùng lên làm cách mạng, đạp đổ quyền lực của Giáo Hội La Mã mà họ gọi là “cái tôn giáo ác ôn” và “cái Giáo Hội Khốn Nạn”, tịch thu hết tất cả tài sản của Vatican, tước bỏ hết tất cả quyền lực, quyền lợi và tàn sát giai cấp tu sĩ áo đen (gọi họ là “lũ quạ đen”), và những phần tử ngoan cố làm tay sai của Vatican. Tất cả  khiến cho chúng ta phải suy nghĩ là TẠI SAO họ lại căm thù và ghê tởm Vatican và các ông tu sĩ Da-tô của Giáo Hội La Mã như vậy?
Vấn đề đặt ra là, VÌ LÝ DO NÀO mà lại xẩy ra tình trạng gần như toàn thể tín đồ của Vatican tại các quốc gia trên đây nhất tề nổi lên làm cách mạng để phế bỏ tín lý nhảm nhí Ki-tô và triệt hạ quyền lực của Vatican?
Đây là những bài học lịch sử mà người dân Chúa Việt Nam cần phải học hỏi và suy nghĩ để mau mau thức tỉnh, và tự thóat ra khỏi cơn mê “mơ về nước Chúa” để trở về với cộng đồng dân tộc và thế giới văn minh của lòai người. 
Sự kiện con số  tín đồ Da-tô của  Giáo Hội La Mã  tại Tây Âu  và  Châu  Mỹ La Tinh lên gần 99% mà họ lại ghê tởm, căm  thù Giáo Hội La Mã và bọn tu sĩ Da-tô như vậy đã khiến cho các bậc thức giả phải suy nghĩ  để tìm ra một giải đáp thích đáng cho về vấn đề này.

 
CHÚ THÍCH

[1] Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: G.P. Putnam's Sons, 1984), pp 155-156.
Nguyên văn: "The contrast between the impoverished southern European countries and the flourishing northern European states at this time was a glaring one. Already Protestant England had become a world power and was on its way to founding one of the great commercial empires; Protestant Prussia was prosperous and powerful; Protestant Holland was already starting the overseas trade that in time would offer it the title of empire. A traveller from northern and central Europe down into France, the Iberian peninsula, and Italy would be struck by the contrast in economic welll-being, standard of living, and general education of the people. The northern and the central nations, predominantly Protestant, had none of the starvation and endemic poverty exhibit down south. Classical capitalism was off on its first flight and the Protestant nations were ready to take advantage of it. The statesmen and kings in southern Europe held Rome and the papacy primarily responsible for that degrading difference them and their Protestant counterparts.
[2] Trần Chung Ngọc, Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 300.
[3] Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: Putnam’ s, 1984), p. 170..Nguyên văn: "On August 19, 1870, the protecting French troops withrew definitely. With the battle of Sedan on September 2, the empire of Napoléon III came to an end. The papacy had lost its last defender, and France, the "eldest duaghter of the Church" was to have an astounding 99 goverments between 1871 and 1940. Immediately the Italian nationalist troops march on Rome. They encamped around the old Leonine walls of Rome on September 19. The following day, after some three hours of artillery barrage and sporadic hand-to-hand fighting, the pope ordered the white flag to be raised above the dome of St. Peter at 9:30 A.M. Ten minutes later, all firing had ceased. The Italian troops entered the city and took possession of it all, leaving Vatican Hill untouched. The papal State had ceased to exist. Its 16,000 square miles were now reduced to 480,000 square meters on and around Vatican Hill where St. Peter's it adjoining buildings, and the Vatican gardens were clustered. The next day, September 21, Pius IX (1846-1878) wrote a short note to his nephew:  Dear Nephew:  All is over. Without liberty, it is impossible to govern the Church. Pray for me, all of you. I bless you. Pius P. IX."
[4] Trần Chung Ngọc, Sđd., tr. 290
[5] Trần Chung Ngọc, Sđd., 299.
[6] Trần Chung Ngọc, Sđd., 297.
[7] Arnold Schrier & T. Walter Wallbank, Living World History (Glenview, Illinois:Scott Fresman and Company, 1974). 324. Nguyên văn: “The Peace of Westphalia settled the question of ownership of  Church property by specifying that those who held the land in 1624, whether Protestant or Catholic, would retain ownship. The Peace also granted the same privileges to Calvinism as had been given to Lutheranism in the Peace of Augsburg. Of greatest significance Westphalia symbolized  the victory of individual nations over more far-reaching organizations – such as the Church and the Holy Roman Empire – that attempted to transcend national boundaries.” 
[8] Trần Chung Ngọc, Sđd d., tr. tr. 295. Nguyên văn: “I am convinced that the teaching of the church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross superstition and witchcraft. It is true, I deny an incomprehensible Trinity. And the fable regarding the fall of man. Which is abusrd in our day.”.
[9] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr 10 .
[10], Trần Văn Kha, Đức Tin và Lý Trí – Thông Điệp  Thứ 13 của Giáo Hoàng John Paul II (Westminster, CA: Văn Nghệ 1999), tr. 257-58. Nguyên văn: "The bill enshrines Russia's Orthodox Church as the country's preeminent religion, but also pledges repect for religions such as Islam, Buddhism and Judaism. It creates a barrier for totalitarian sects and limits the activity of foreign missionaries. But critics say the Orthodox Church also is backing the measure as a way to prevent other Christians, such as Catholics and Protestants, from operating freely in Russia. On Friday September 19, 1997, lawmakers in the lower house, or Duma, voted 356-6 in favor of the bill." 
[11] Phan Đình Diệm. "Thư Góp Ý Pháp Lệnh Tôn Giáo" ngày 5 tháng 8 năm 2003. pddiem@hotmail.com.
[12] Anatole G. Mazour & John M. Peoples, Men and Nations – A World History (New York: Harcourt Brace Jovanovich. 1975), p.294.Nguyên văn: “As time went on, Humanism became more than a certain type of scholarship; it also came to mean a new outlook on life. One characteristic of this outlook was a critical spirit. Some Humanists, for example, criticized the Church, protesting against what they regarded as defects in its organization and administration. Men like this remained religious, but they were less inclined than earlier thinkers to accept Church authority without question.”. 
[13] Xin xem Chương 8, sách Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa (Houston, TX: Văn Hóa, 2000) của tác giả Nguyễn Mạnh Quang.
[14] Constant Brand (Associated Press). "Seattle-Post Intelligencer" [Seattle] February 6, 2003" Page A3. Nguyên văn: "Jan Zahradil, a Czech parlimentarian whose country will join the EU next year, said mentioning God in any EU charter was "a stupid idea (that) will only provokes disagreements. There should be no direct link to religion at all.".
[15] World News May 05, 2003. Nguyên văn: "The Pope urged Spain yesterday to remain to its Roman Catholic culture and faith when he proclaimed five new Spanish saints One million people formed a giant cross at the heart of Madrid as a congregation of mostly Spaniards, but also South Americans and Poles, spread out along four boulevards  intersecting at Columbus Square, where a huge white altar was built for canonisation Mass.
"We inscribe them in the book of the saints and establish that in all the Church they be devoutly honoured among the  saints," the Pope said in confident Spanish.
In the five years he has canonised 20 Spaniards, 11 of them "martyrs" who were killed by republicans during the Spanish Civil War of 1936-1939.
Among the five who were proclaimed  saints was Father Pedro Poveda, one of 4,184 priests killed by republicans during the war. The other saints are Angela de la Cruz, who founded the Sisters of the Comppany of the Cross; Genoveva Torres, who founded the Sisters of the Sacred Heart and of the Holy Angels; Maravillas de Jesus, who founded couvents for the Order of Barefoot Carmelittes; and Jose Rubio, a Jesuit priest...
The Pope has now canonised some 470 people and beattified 1,314, more than all his predecessors combined...".
[16] Constant Brand (Associated Press). "Seattle-Post Intelligencer" [Seattle] February 6, 2003" Page A3.
[17] Người Việt Tây Bắc số 469, ngày 1/12/1995.
[18] Lưu Vũ. “Cờ quạt và nỗi bất hạnh của người Việt.” www.danchimviet.com  Ngày 24/6/2006.
[19] Phan Đình Diệm. "Thư Góp Ý Pháp Lệnh Tôn Giáo" ngày 5 tháng 8 năm 2003. pddiem@hotmail.com.

Tại Sao đạo Công giáo suy thoái

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi không có cách nào có thể đưa ra tất cả những hình ảnh suy thoái của Ki Tô Giáo trên thế giới. Đọc giả có thể đọc một bài khá đầy đủ chi tiết với nhiều con số thống kê về Thực Trạng Suy Thoái Của Ca-Tô và Tin Lành trên thế giới. Ở đây chỉ là vài trường hợp điển hình trong các nước trước đây được coi là đa số theo Ca-tô Rô-MaGiáo.


ÂU CHÂU:
London, UK

Theo “Hiệp Hội Thế Tục Quốc Gia” có căn cứ địa ở Luân Đôn thì hơn một trăm ngàn (100.000) người Anh đã vừa tải xuống “Giấy Chứng Nhận “Sửa Bỏ Rửa Tội”” từ mạng lưới toàn cầu trong một công bố từ bỏ đức tin Cơ Đốc Giáo của họ. [“Sửa Bỏ Rửa Tội” có nghĩa là chính thức sửa lại hồ sơ rửa tội theo pháp lý để bỏ đi hiệu lực của “bí tích rửa tội”]
Chủ tịch Hiệp Hội, Terry Anderson, nói rằng Hiệp Hội phát động sáng kiến “Giấy chứng nhận sửa bỏ rửa tội” trên Internet từ 5 năm trước để chế nhạo chuyện rửa tội con nít quá trẻ để đồng ý ưng thuận những lễ tiết tôn giáo. Trang nhà của Hiệp Hội gây cảm hứng cho những người vào đọc hãy ”tự giải phóng khỏi những lời lố lăng nguyên thủy để giải phóng họ ra khỏi cái Tội Tổ Tông mà họ chưa bao giờ có” và họ có thể in ra một tờ chứng nhận dùng loại ngôn ngữ giống như đúng nghi thức để “loại bỏ những giáo điều về rửa tội và những điều mê tín như vậy.”
Tây Ban Nha: [Spain]
Cả Âu Châu đã không còn đặt vấn đề về thuyết Tiến Hóa, và trong những quốc gia phi-Ki-tô thì không có mấy người còn bận tâm đặt ra câu hỏi trên. Nhưng ngay cả những nước mà tuyệt đại đa số người dân nhận là theo Ca Tô giáo như Tây Ban Nha ngày nay cũng đã thức tỉnh. Báo Chicago Tribune ngày 8 tháng 2, 2009, có một bài của Christine Spolar viết về hiện tượng tách biệt tôn giáo và chính quyền ở Tây Ban Nha: “Separation of church and state at a crossroads in Spain; Crucifix removal in schools at heart of religious debate” Theo bài báo viết từ Barcelona thì các trường học công cộng được lệnh phải cất bỏ những cây thập giá hoặc hình tượng Giê-su bị đóng đinh trên cây thập giá treo trên những bức tường của trường [Public schools are being told by judicial order to pull crucifixes from their walls]. Một ông Tòa coi những hình tượng này là vi hiến – không có một tôn giáo nào được ngự trị ở Tây Ban Nha – và ra lệnh phải tháo bỏ chúng đi [A judge ruled the crosses violated the constitution—that no single religion should dominate in Spain—and ordered them removed.] Ngoài ra còn có những xe buýt (bus) trên có tấm bích chương lớn mang khẩu hiệu như “Có thể Thiên Chúa không hiện hữu(Probablement Déu No Existex = Probably God doesn’t exist) đã chạy khắp thành phố [City buses with billboards espousing atheism have been rumbling through the streets here] Những chiếc xe bus được gọi là “vô thần” (godless buses) đó - dập theo một chiến dịch khởi sự ở bên Anh – đã xuất hiện ở Madrid và Malaga, Tây Ban Nha, và có kế hoạch sẽ xuất hiện ở nhiều nơi khác ở Âu Châu [The so-called godless buses — which copy a campaign begun in Britain — have appeared in Madrid and Malaga, Spain, and are planned for elsewhere in Europe.]
Chiếc xe bus “vô thần” dập theo một chiến dịch khởi sự ở bên Anh – đã xuất hiện ở Barcelona (Tây Ban Nha).
Ái nhĩ Lan: (Ireland)
Theo một bài báo trên christianpost.com:Ki Tô Giáo Suy Thoái Ở Âu Châu – Tiếp Đến Là Mỹ?[Christianity Recedes in Europe--Is America Next?, Thursday, August 18, 2005] thì:
Ngày nay người ta không thể không biết đến những thống kê về tình trạng thế tục hóa Âu Châu. Ái Nhĩ Lan, vẫn còn là một trong những nước ít thế tục nhất ở Tây Âu, đã thấy rằng số người đi lễ nhà thờ giảm ít nhất là 25% trong 30 năm qua. Lẽ dĩ nhiên, Ái Nhĩ Lan là nước hầu hết là theo Ca-Tô Giáo, nhưng bài báo ghi: “Không có một người nào sẽ được phong chức linh mục ở Dublin năm nay”[2005]
Về phía Tin Lành, hình ảnh cũng chẳng khá hơn. Thụy Sĩ, Đức, và Hà Lan, một thời đã là những cái nôi của phong trào Cải Cách Tin Lành, nay trở thành những thí dụ chính của Âu Châu thế tục.
Theo Trung Tâm Nghiên Cứu về Ki Tô Giáo toàn cầu, Chủng viện thần học Gordon-Conwell ở Boston, sự suy thoái của ảnh hưởng Ki Tô Giáo thì rõ rệt nhất ở Pháp, Thụy Điển và Hà Lan, ở những nơi đây số người đi lễ nhà thờ là dưới 10% ở một số nơi. [24]


Chicago, Illinois:
Mới đây, tháng 6/2010, ở Chicago đã xuất hiện những tấm bích chương của Hội Tự Do Ra Khỏi Tôn Giáo [Freedom From Religion Foundation], có trụ sở ở Wisconsin, khuyên mọi người “hãy ngủ kỹ trong những ngày Chủ Nhật” [nghĩa là đừng có bận tâm đi lễ nhà thờ] , và với khẩu hiệu “Không người nào phải cần đến Thiên Chúa để trở thành người tốt” [No one needs God to be good] đã xuất hiện trên các đường phố và dán trên những xe buýt công cộng.
Hãy ngủ kỹ trong những ngày chủ nhật
Hội Tự Do Ra Khỏi Tôn Giáo
Denver, Colorado:
Nước Mỹ ngày nay có khoảng 15-16% , nghĩa là khoảng từ 45 đến 48 triệu người vô thần. Trong lịch sử Hoa Kỳ trước đây, người vô thần bị kỳ thị trên mọi địa hạt, từ trong các công sở , trường học cho đến trong thương trường. Do đó rất ít người có can đảm nhận mình là người vô thần. Nhưng ngày nay, những người vô thần đã mạnh dạn nói lên tiếng nói của họ, và vì lý tưởng nhân bản của họ nên họ đã được xã hội chấp nhận. Ngày nay số người vô thần càng ngày càng tăng gia và họ đã có những hoạt động công khai bày tỏ tư tưởng của họ về Ki Tô Giáo.
Theo tin ở Denver, Colorado ngày 16 tháng 11, 2008, thì Hội những người vô thần đã tung ra những bản bích chương dán trên nền màu xanh da trời và ghi, "Không tin vào Thiên Chúa? Bạn không cô đơn đâu."
Mười bảng bích chương sẽ cắm đầy xe buýt Denver, trong khi một bảng sẽ được dựng lên ở Colorado Springs. Và tổ chức vô thần có dự định phổ biến bảng này khắp nơi.
Không tin vào Thiên Chúa? Bạn không đơn độc đâu
Qua một số nhỏ tài liệu trích dẫn ở trên, chúng ta thấy rằng hiện tượng suy thoái của Ki Tô Giáo trên thế giới là một sự kiện. Nhưng ở một vài địa phương ở Phi Châu và Á Châu, trong những vùng chậm tiến và nghèo khổ, nếu chỉ kể trên con số, Ki Tô Giáo lại có vẻ phát triển, tuy rằng những con số đó, so với mức gia tăng của dân số thì thực sự không phải là một dấu hiệu phát triển. Điều đáng buồn là có một số tín đồ Ca-Tô cũng như Tin Lành Việt Nam lại khoe khoang là số tín đồ của tôn giáo mình gia tăng, cũng như một số tân tòng Ca-Tô hay Tin Lành cũng khoe khoang là mình được vào trong “hội thánh”. Họ thường vinh hạnh khoe: nay có ông tu sĩ Phật giáo này bỏ Phật theo Chúa, mai có người kia làm chứng lời Chúa v..v.. nhưng tất cả đều chỉ là những nhân vật vô tên tuổi, không ai biết đến, và phần lớn là bịa ra làm chứng láo. Vấn đề là thực chất những điều này không phải là những điều đáng khoe khoang mà trái lại, đó là một sự biểu hiện của ô nhục và ngu đần [A badge of shame and ignorance]. Tại sao? Vì thử hỏi, có gì đáng khoe khoang ở cái chuyện đi nhặt những niềm tin thuộc loại hoang đường mê tín mà Âu Châu và Mỹ Châu đang dần dần phế thải về làm của báu cho mình. Âu Châu và Mỹ Châu vốn là cái nôi của Ki Tô Giáo, nhưng ngày nay Ki Tô Giáo ở những phương trời này lại bị phá sản, như học giả Eliezer Berkovits đã viết về “sự phá sản đạo đức của nền văn minh Ki Tô Giáo và sự phá sản Tâm Linh của Ki Tô Giáo” [The moral bankrupcy of Christian civilization and the spiritual bankrupcy of Christian religion] trong cuốn “Đạo Do Thái Trong Thời Kỳ Hậu Ki Tô” (Judaism in the Post-Christian Era). Trong khi nhiều người đã thoát ra để tự thanh tẩy ký ức và để dứt bỏ sự dính líu của mình vào một tôn giáo có một lịch sử tàn bạo và đồi bại nhất thế gian, thì có người lại tự đâm đầu vào cái định chế tôn giáo mà lịch sử ô nhục đẫm máu của nó không ai có thể chối cãi. Đó có phải là điều đáng khoe hay là điều đáng thương hại và tội nghiệp? Theo quan điểm của Phật Giáo thì đó là điều đáng mừng khi thấy Phật tử đổi đạo. Tỳ Kheo Abhiyana đã có một nhận định xác đáng:
Sự kiện mà người ta bỏ đạo Phật để đi theo các tôn giáo khác thực sự là một điều đáng mừng đối với Phật Giáo, vì rằng những người thay đổi tôn giáo thường chỉ là thay đổi danh xưng chứ không phải sự thay đổi bản chất. Những ai thay đổi tôn giáo nhằm kiếm chác được một cái gì chẳng hạn như về vật chất hoặc một tờ giấy bảo lãnh là họ tự phản bội lấy mình và đánh mất đi sự liêm sỉ của chính mình. (Về Với Thực Tại, Trang 6)
Với bản chất thay đổi tôn giáo như trên thì những người này thực sự không thích hợp với Phật Giáo, có ở lại trong Phật Giáo nhiều khi chỉ có hại cho Phật Giáo. Điển hình là Nguyễn Huệ Nhật, bỏ đạo của trí tuệ để theo đạo của đức tin, một đức tin mù quáng vào những điều nhảm nhí không thể tin được.

Kết Luận: Đôi Lời Ngỏ Cùng
Các Tín Đồ Tin Lành Và Ca-Tô:

Quý vị cần ghi nhận một điều: những kết quả nghiên cứu như trên đều do các vị có chức vụ trong các giáo hội Ki Tô hoặc các học giả trong các xã hội Ki Tô Giáo, không phải của người ngoại đạo, cho nên chúng ta khó có thể nghi ngờ thành ý và sự lương thiện của họ trong lãnh vực học thuật. Không người nào có đầu óc còn có thể bảo là họ “chống Ki Tô Giáo”. Tuy nhiên thật là lạ, khi Giao ĐiểmSách Hiếm đưa lên những tài liệu như vậy để tăng kiến thức của người dân và giáo dân thì luôn luôn bị quý vị chụp cái mũ “chống đạo Thiên Chúa” lên đầu, làm như đó là một tội không thể tha thứ được. Quý vị có biết là mình đang sống trong thế kỷ nào không?
Chúa Giê-su của quý vị đã từng phán: “Sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi” (“The truth will set you free"), vậy thì quý vị không nên sợ sự thật. Để giúp quý vị tự cởi trói, sau đây là một số sự thật quý vị cần phải biết dù rằng các bề trên của quý vị không bao giờ muốn cho quý vị biết. Làm thế nào để quý vị biết được sự thật. Quý vị cần phải thoát ra ngoài sự trói buộc của những luận điệu thần học mà các bề trên của quý vị đã nhồi sọ quý vị. Thoát bằng cách nào? Không có cách nào khác là đọc những tác phẩm nói lên những sự thật về Ki Tô Giáo của quý vị. Những tác phẩm này đều là của những bậc thức giả trong những xã hội Âu Mỹ, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô.
Trước hết, tôi muốn đặt vài vấn đề chung cho những tín hữu Tin Lành và Ca-Tô. Quý vị chắc chắn là tin tất cả vào những điều Chúa Giê-su của quý vị dạy, có phải không? Vì nếu quý vị không tin thì theo giáo lý Ki Tô, quý vị sẽ phải xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt. Quý vị tin, nhưng quý vị có bao giờ thử thực hiện những lời Chúa dạy sau đây không?
Mark 11:22-24: Rồi Giê-su nói với các đệ tử: “Hãy có đức tin vào Gót”. Thật vậy, ta bảo đảm với các người, bất cứ người nào [mà có đức tin vào Gót] bảo ngọn núi này, “Hãy rời đi xuống biển”, và không nghi ngờ gì trong lòng, mà tin rằng điều đó sẽ xảy ra, họ sẽ được bất cứ điều gì họ nói.” Do đó ta bảo các ngươi, bất cứ điều gì mà các con cầu nguyện xin-cho, tin rằng sẽ nhận được điều đó, thì sẽ được điều đó.
John 14: 13-14: Các ngươi nhân danh ta mà cầu xin bất cứ điều gì, ta sẽ làm cho. Nếu các người cầu xin bất cứ điều gì nhân danh ta, ta sẽ làm cho.
Mark 16: 17-18: Và những dấu hiệu này sẽ theo những người tin: Nhân danh Ta họ sẽ đuổi được quỷ, và sẽ nói được nhiều tiếng nói mới. Họ sẽ cầm các rắn độc, và nếu họ uống mọi thứ chất độc, sẽ không có gì làm hại được họ; họ sẽ đặt tay lên người bệnh, và chúng sẽ khỏi.
Tôi đã biết câu trả lời cho câu hỏi trên cho nên không muốn tiếp tục làm phiền quý vị với những điều vớ vẩn hoang đường nữa.
Với Những Người Tin Lành:
Mục sư Nguyễn Văn Huệ giải thích về đức tin Tin Lành như sau:
Người Tin Lành tin tưởng Thánh Kinh là uy quyền duy nhất và đầy đủ của đức tin. Người Tin Lành chỉ tôn trọng những truyền thống nào của Hội Thánh phù hợp với Kinh Thánh. Người Tin Lành muốn trở về với cội nguồn đức tin và hình thức sống đạo theo như Thánh Kinh dẫn, không thêm, không bớt.
Thật ra thì Tin Lành có ba giáo lý căn bản về đức tin: 1) Tin vào tính tuyệt đối của Thánh Kinh [Sola Scriptura =Bible alone]; 2) Tin Giê-su là đấng cứu rỗi duy nhất cho mình [Sola Fide = Faith alone]; và 3) Nhiệm vụ truyền đạo của mọi tín đồ [Priesthood of all believers].
Nhưng ngày nay, những ai còn nói chuyện mạc khải, hay thẩm quyền của Thánh Kinh, thật ra chỉ là những người còn sống trong bóng tối, lạc hậu ít ra là vài thế kỷ. Bởi vì, thực tế là, Thánh Kinh có phải là do Thiên Chúa mạc khải hay không thì trong Thánh Kinh, những chuyện loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác, giết người vẫn là giết người, phi lý phản khoa học vẫn là phi lý và phản khoa học v..v... Thật vậy, tất cả những chuyện thuộc các loại sau đây chiếm hơn nửa cuốn Kinh Thánh: bạo hành giết người (Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest), ăn thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry), hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc (Religious & Ethnic Hatred), nô lệ (Slavery), say rượu (Drunkeness) v..v.. [Xin đọc cuốn Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Kinh Thánh (All The Obscenities In The Bible) của Gene Kamar], chưa kể là những lời “mạc khải” của Thiên Chúa về vũ trụ, nhân sinh, đã chứng tỏ là hoàn toàn sai lầm trước những sự kiện khoa học bất khả phủ bác ngày nay.
Tôi có thể nói chắc rằng tuyệt đại đa số tín đồ Tin Lành và Ca-Tô, kể cả một số không nhỏ được gọi là trí thức, chưa hề đọc Thánh Kinh, hay có đọc cũng chỉ đọc lõm bõm những đoạn cần thiết để truyền đạo hay tự tạo một niềm hi vọng, trong thực tế chỉ là vô vọng. Chúa Giê-su của quý vị đã từng dạy: “Sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi” [The truth will set you free]. Làm sao để biết sự thật? Hãy chịu khó đọc sách. Sự thật về Ki Tô Giáo nằm trong các tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo của các bậc trí thức, học giả, lãnh đạo Ki Tô Giáo Âu Mỹ. Giáo hoàng John Paul II đã đừng ngồi trong chiếc xe bọc sắt có lồng kính chắn đạn đi khắp nơi để dạy con chiên “đừng sợ”. Vậy quý vị hãy đừng sợ khi đọc sách, vì đọc sách để mở mang kiến thức chứ chưa có ai vì đọc sách mà phải xuống hỏa ngục của Ki Tô Giáo cả.
Do đó, tôi khuyên quý vị hãy mở cuốn Thánh Kinh ra và đọc với một đầu óc chưa bị nhiễm độc. Nếu ngại công tìm kiếm những điều trên, có đầy trong thánh Kinh, tôi xin giới thiệu một số tác phẩm trong đó các tác giả đã trích dẫn sẵn những câu, những đoạn trong Thánh Kinh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Ki Tô Giáo không bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ:
- “Cuốn Thánh Kinh Thuộc Loại Dâm Ô: Một Nghiên Cứu Bất Kính Về Tình Dục Trong Thánh Kinh” [The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture, AA Press, Austin, Texas, 1989] của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400 trang, liệt kê những chuyện tình dục dâm ô, loạn luân trong Thánh Kinh.
- “Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh” [All The Obscenities in the Bible, Kas-mark Pub., MN, 1995] của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. (Human sacrifice, murder and violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong Thánh Kinh.
- “Sách Chỉ Nam Về Thánh Kinh” [The Bible Handbook, AA Press, Ausrin, Texas, 1986] của W. P. Ball, G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith …: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Thánh Kinh.
- “Sách Hướng Dẫn Đọc Thánh Kinh Của Người Tái Sinh Nhưng Hoài Nghi” [The Born Again Skeptic’s Guide To The Bible, Freedom From Religion Foundation, Wisconsin, 1979] của Bà Ruth Hurmence Green: Bình luận những chuyện tàn bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ trong Thánh Kinh.
- “Một Trăm Điều Mâu Thuẫn Trong Thánh Kinh” [One Hundred Contradictions in the Bible, The Truth Seeker Company, New York, 1922] của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh Kinh.
- “Lột mặt nạ Thánh Kinh” [The Bible Unmasked, The Frethought Press Association, New York, 1941] của Joseph Lewis: đưa ra những sai lầm trong Thánh Kinh.
- “Thẩm Vấn Ki Tô Giáo” [Christianity Cross-Examined, Arbitrator Press, New York, 1941] của William Floyd: Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.
- “Ki Tô Giáo Và Loạn Luân” [Christianity and Incest, Fortress Press, MN, 1992] của Annie Imbens & Ineke Jonker: Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh Kinh.
- “The Dark Bible” trên http://www.nobeliefs.com/DarkBible/DarkBibleContents.htm
Đọc xong quý vị sẽ thấy nội dung cuốn Thánh Kinh rất khác với những điều rao giảng về Thánh Kinh của các bề trên. Nhưng ngay cả với những điều rất tốt đẹp trong Thánh Kinh thường được giảng trong nhà thờ, thí dụ như “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian”, “Giê-su yêu bạn”, “Đức Mẹ còn trinh vĩnh viễn” v…v…, tôi cũng không hi vọng quý vị nhận ra được những mâu thuẫn với những điều trên nằm ngay trong Thánh Kinh, vì đọc Thánh Kinh là một nghệ thuật. Phải đọc kỹ một cách sáng suốt và với một đầu óc phân tích. Và các học giả đã làm điều này trong vòng 200 năm gần đây, kết quả là chúng ta có hàng trăm tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về cuốn Thánh Kinh và về Ki Tô Giáo.
Với Những Người Ca-tô-líc:
Bản chất của con cừu là đi theo sự dẫn dắt của người chăn cừu. Bản chất của con chiên Ca-tô là theo “đức vâng lời” của các “bề trên” dạy. Nhưng chính cái “đức vâng lời” này lại là một hiểm họa cho bất cứ quốc gia nào trong đó có một tỷ lệ người Ca-tô đáng kể, nhất là khi tôn giáo này có một thế lực nào đó ở địa phương. Tại sao? Vì chúng ta đều biết, trong khi Tin Lành là nô lệ của cuốn Thánh Kinh thì Ca-Tô là nô lệ của Vatican. Người Ca-tô trung thành với Vatican hơn là quốc gia mình sinh ra trong đó và nuôi dưỡng mình. Do đó họ tuyệt đối tuân theo lệnh của Vatican bất kể là đường lối chính trị và tôn giáo của Vatican hoàn toàn không phù hợp với quốc gia của mình hay phù hợp với truyền thống văn hóa của quốc gia mình.
Bản chất “đức vâng lời” trong giáo lý Ca-tô là như thế nào? Như chúng ta đã biết, căn bản “đức vâng lời” trong Ca-Tô Rô-maGiáo đã được khẳng định bởi Thánh Ignatius of Loyola, người sáng lập dòng Tên, như sau:
Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thì thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội Ca-tô quyết định như vậy
Giáo hội luôn luôn mang Chúa ra làm bung xung để đạt những mục đích thế tục của mình. Điều này rõ ràng nhất trong vài câu sau đây trong bản văn của Vatican, đăng trên VietCatholic News gần đây:
Bản tiếng Việt: “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự tìm kiếm Chúa và ý muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu”
Bản tiếng Anh: “Đức vâng lời”, tài liệu của Vatican nói rằng, phải nên hiểu bởi tín hữu như là “một con đường để giúp cho cộng đồng và tổ chức tìm kiếm Chúa và hoàn thành ý muốn của Chúa”
[Obedience, the Vatican document says, should be understood by religious as "a way to help the community or institute to seek and achieve the will of God.]
Đây là trò bịp cố hữu của Giáo hội, vì Chúa Cha thì vô hình, còn Chúa Con thì đã chết cách đây 2000 năm rồi, vậy những vấn nạn thế tục ngày nay mà giáo hội luôn luôn dự phần vào thì Chúa có biết gì không, thí dụ như cuộc tranh luận giữa “Thuyết Tiến Hóa” và “Thuyết Sáng Tạo” của Chúa? Vậy ai giám khẳng định là “ý Chúa” là như thế nào? Mặt khác, giáo lý Ca-tô Giáo dạy rằng Chúa Cha (God) có 23 thuộc tính, trong đó có 3 thuộc tính sau đây: “không ai thấy được” [invisible], “không ai biết được” [unknown], và “không ai hiểu được” [incomprehensible], và chúng ta cũng biết, giáo hoàng, linh mục v..v.. thường tự nhận là “đại diện của Chúa” hay “Chúa thứ hai”, thực ra cũng cũng chỉ là người thường như chúng ta [luận cứ của giáo dân để giải thích những chuyện làm bậy của giới chăn chiên], có khi còn tệ hại hơn nhiều, làm đủ mọi tội ác, vậy làm sao biết được ý Chúa là như thế nào. Do đó, sự thật là, những điều giáo hội dạy là ý Chúa, chẳng qua đó chỉ là những thủ đoạn lừa dối để ru ngủ đám tín đồ dốt nát mà thôi.
Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lý Của Giáo Hoàng (The Pope's Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:
Tín đồ Công giáo phải tin tất cả những gì Thiên Chúa đã mạc khải và tất cả những gì Giáo hội Ca-tô dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh. Vì Truyền Thống Ca-tô (nghĩa là những gì giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.
(A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not. Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God)
Giáo hội Ca-tô đã viện cái gọi là “mạc khải của Thiên Chúa” để tự tạo quyền lực cho mình. Nhưng điều này chỉ có thể thuyết phục được đám tín đồ mà tuyệt đại đa số thuộc loại thất học trong thời bán khai và Trung Cổ, nhất là trong những thời đại mà Giáo hội giữ độc quyền đọc và diễn giảng Thánh Kinh. Nhưng từ thế kỷ 16, khi mà cuốn Thánh Kinh được dịch ra các tiếng địa phương và người dân được tự do đọc Thánh Kinh thì người ta đã khám phá ra rằng cuốn Thánh Kinh chứa rất nhiều điều sai lầm về khoa học và thần học, do đó, tuyệt đối không phải là sản phẩm “mạc khải” của một thiên chúa toàn năng, toàn trí….
Tại sao Ca-tô Rô-MaGiáo lại bị coi như một hiểm họa cho mỗi quốc gia nói riêng, cho nhân loại nói chung? Chính bởi vì bản chất phi dân tộc của Ca-tô Rô-MaGiáo cùng với cấu trúc toàn trị của hệ thống quyền lực Ca-tô Rô-MaGiáo, kèm theo những tín lý, tín điều thuộc loại mê tín đã lỗi thời vẫn còn tiếp tục được sử dụng để nô lệ hóa đầu óc tín đồ, biến họ thành đám người cuồng tín mê mẩn, chỉ biết đến thiên đường của Chúa chứ không cần biết đến quốc gia dân tộc là gì, và cúi đầu “quên mình trong vâng phục” một định chế ngoại lai, một định chế tự cho là mình nắm trong tay chân lý mạc khải, quyết định luân lý, đời sống tâm linh và xã hội của nhân loại. Và nhất là, kinh nghiệm 2000 năm lịch sử đen tối, tác hại của Giáo hội Ca-tô Rô-Ma đối với nhân loại cho thấy Ca-tô Rô-MaGiáo đúng là một hiểm họa cho mọi quốc gia. Chúng ta hãy học kinh nghiệm của người Mỹ đối với Ca-tô Rô-MaGiáo.
Trong cuốn American Freedom and Catholic Power, tác giả Paul Blanshard cho rằng nước Mỹ đã phải đối diện với một sự xung đột căn bản về văn hóa và giá trị xã hội (America was facing a fundamental clash of culture and values). Tác giả viết: “Vấn nạn Công Giáo Mỹ là như thế này: Chúng ta phải làm gì đối với một hệ thống quyền lực hoạt động trong thế kỷ 20 ở nước Mỹ dưới sự kiểm soát của Trung Cổ Âu Châu? (The American Catholic problem is this: “What is to be done with a hierarchy that operates in 20th century America under medieval European controls.”) Và ông ta đã đưa ra đề nghị “Phải có một phong trào đối kháng để ngăn ngừa hệ thống đó áp đặt những chính sách xã hội của họ trên những trường học, nhà thương, chính quyền và tổ chức gia đình của chúng ta.” (A resistance movement designed to prevent the hierarchy from imposing its social policies upon our schools, hospitals, government and family organization.)
Và David R. Boldt viết trong tờ Philadelphia Inquirer, 1990:
“Chúng ta cần phải nhớ rằng, Giáo hội Ca-tô Rô-Ma thật sự là một định chế không phải là của Mỹ. Định chế này không có tinh thần dân chủ. Quan điểm của giáo hội về thủ tục hợp pháp và về địa vị phái nữ, chỉ kể hai vấn đề chính, thật là đối nghịch với luật pháp của xã hội thế tục Mỹ. Và những chính sách chính yếu [của Giáo hội Ca-tô Mỹ] đều được thiết lập ở Vatican, ở thành phố La Mã.” [25]
Nước Mỹ là một nước dân chủ, tôn trọng quyền tự do của con người, luôn luôn khuyến khích tiến bộ trí thức, củng cố chủ nghĩa dân tộc (nationalism) v..v.., do đó người Mỹ đã coi Ca-tô Rô-MaGiáo như là tôn giáo của sự đàn áp, ngu đần, là kẻ thù ngấm ngầm của dân chủ (Catholicism as the religion of represssion and ignorance, the implicit enemy of democracy.) Đối với đa số dân Mỹ, “Người Ca-tô Rô-MaGiáo thuộc một định chế toàn cầu không bao giờ cho phép tín đồ coi mình như là công dân của một quốc gia mà chỉ là con cái của Giáo hội. Với bản chất của mình, Giáo hội Ca-tô phủ nhận quyền độc lập tuyệt đối của quốc gia và chủ nghĩa dân tộc.” (Catholics belong to a global institution which could never allow its members to think of themselves primarily as citizens of a state rather than sons and daughters of the Church. Of its nature, The Catholic Church denied the absolute claims of nations and nationalism.) Và người Mỹ coi “người Ca-tô giáo Mỹ” như bất khả tương hợp với “công dân Mỹ”: “Từ khi bắt đầu thành lập Giáo hội Ca-tô trên đất Mỹ, tất cả vấn đề là một “người Ca-tô Mỹ” có vẻ như nói lên một sự mâu thuẫn, một sự thiếu đầu óc. Làm sao mà một thần dân của một chế độ - đặc biệt là chế độ này tự tán dương là nắm thần quyền trong tay - lại đồng thời có thể là công dân của một chế độ khác?” (From the first establishment of the Church on American soil, the whole issue being an “American Catholic” seemed to involve a contradiction, even an oxymoron. How could the subject of one regime – especially with such exalted claims to divine authority – simultaneously be the citizen of another?) [Philip Jenkins, The New Anti-Catholicism, Oxford University Press, 2003] Ở Việt Nam, chúng ta cũng thấy có người nhân danh là công dân của nước trời để viết thư cho chính quyền v..v..
Tôi nghĩ người Việt Nam chúng ta cũng nên để tâm đến sự mâu thuẫn này: Làm sao mà một người “Ca-tô Việt Nam” có thể cùng lúc là “công dân Việt Nam”?, nếu họ còn nhất cử nhất động đều phải theo lệnh của Vatican?. Họ không thể nói rằng, tôi theo đạo là vấn đề tín ngưỡng riêng tư, tôi vẫn là công dân của nước Việt Nam và cũng yêu nước như bất cứ ai. Tại sao?
Thứ nhất, vì lịch sử Việt Nam thời cận đại đã chứng minh trái ngược hẳn lại. Cuộc hỗ trợ rất đáng kể của giáo dân Ca-tô trong cuộc Pháp xâm chiếm Việt Nam, như nhiều tài liệu lịch sử đã ghi rõ, là một bằng chứng rõ ràng nhất, và Ca-tô Giáo Việt Nam có những nhân vật nổi tiếng phi dân tộc và phản bội quốc gia nhất: Trần Bá Lộc, Nguyễn trường Tộ, Pétrus Ký, Nguyễn Thân, Ngô Đình Khả, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục, Trần Lục, Nguyễn Bá Tòng, Phạm Ngọc Chi, Lê Hữu Từ, Hoàng Quỳnh v..v.. Theo hệ thống chăn dắt giáo dân của Ca-tô Giáo thì người Ca-tô Giáo phải tuyệt đối tuân lệnh bề trên. Do đó, nếu các bậc lãnh đạo Ca-tô bản chất là phi dân tộc và phản dân tộc thì giáo dân, khi hành động theo lệnh của các bề trên theo “đức vâng lời”, tất nhiên cũng trở thành phi dân tộc và phản dân tộc dù là hành động trong vô ý thức. Sự kiện Linh mục Trần Lục dẫn 5000 giáo dân đi hỗ trợ quân xâm lược Pháp để hạ chiến khu Ba Đình là một bằng chứng điển hình và rõ ràng nhất. Sự kiện những khu tự trị Bùi Chu, Phát Diệm dưới sự lãnh đạo của Giám mục Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh, người nổi tiếng với câu “Thà mất nước chứ không thà mất Chúa”, săn lùng, giết hại người Việt kháng chiến yêu nước là một bằng chứng thứ hai. Và gần đây, những hành động cuồng tín phi luật pháp của các giáo dân, được các bề trên xách động, ở Tòa Khâm Sứ Hà Nội, cũng như ở Ấp Thái Hà v..v.. , đã cho chúng ta thấy bản chất phi dân tộc của những người Ca-tô Việt Nam, và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, khi trả lời chính quyền là những chuyện xách động làm loạn trên không trái với giáo luật của Ca-tô Giáo thì đã đặt giáo luật của Ca-tô lên trên nền luật pháp của quốc gia.
Thứ nhì, vì một sự trung thành nước đôi thì không thể gọi là trung thành. Quyền lợi của Vatican không phải là quyền lợi của Việt Nam cũng như không phải là quyền lợi của bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới. Trung thành với Vatican không hẳn chỉ là trung thành trong vấn đề tín ngưỡng, bởi vì Vatican bản chất là một định chế thế tục, muốn kiểm soát mọi khía cạnh của xã hội như chúng ta thấy vài nhận định sau đây của người Mỹ:
“Những người Ca-tô có ý chí và khả năng áp đặt những tiêu chuẩn và sở thích của mình trên quảng đại quần chúng. Giáo hội Ca-tô không giới hạn ảnh hưởng của mình trên địa hạt tâm linh nhưng tự đề cao có quyền hành rộng rãi trên những vấn đề thế tục. Trong hầu hết thế kỷ 20, những nhóm áp lực Ca-tô Giáo đã tạo được ảnh hưởng sâu rộng (trong đất Mỹ) trên những gì mà người phi-Ca-tô được đọc, phim ảnh được xem, và ngay cả những quyết định về kế hoạch gia đình.” [26]
Trong thế giới Âu Mỹ ngày nay,
Ca-tô Giáo được nhận biết rõ ràng như là một tai ương ngoại lai, một sự đe dọa tàn khốc đối với những khái niệm Âu Mỹ về căn cước và độc lập quốc gia (Catholicism was clearly identified as a foreign evil, a dire threat to Anglo-American notions of national identity and independence.) [Philip Jenkins, The New Anti-Catholicism, Oxford University Press, 2003, p. 25]
Năm 1959, chính Tổng Thống Hoa Kỳ Harry Truman đã khẳng định là:
Khó có thể tin được người Ca-tô Giáo ở vị thế cao cấp nắm chính quyền vì người Ca-tô Giáo có nhiệm vụ trung thành với hệ thống quyền lực của Giáo hội. Chúng ta không muốn bất cứ ai nắm giữ chính phủ Hoa Kỳ mà lại có một sự trung thành khác, tôn giáo hay bất cứ cái gì khác.” [27]
Việt Nam nên nhớ kỹ câu này, và Quốc Hội Việt Nam nên ra một đạo luật tuyệt đối không bao giờ để cho người Ca-tô Giáo lên nắm chính quyền. Gương Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam, Franco ở Tây Ban Nha, Palevich ở Croatia v..v.. là những bài học lịch sử mà người Việt Nam phải ghi nhớ. Quên đi thì lịch sử lại có cơ tái diễn.
Đọc lịch sử truyền đạo của Ca-tô Rô-MaGiáo ở Nhật chúng ta biết rằng, Nhật đã nhận ra hiểm họa của Ca-tô Giáo trên đất nước, cho nên đã đưa ra những biện pháp tàn nhẫn quyết liệt để đối phó với Ca-tô Rô-MaGiáo.
Trong cuốn “Các Giáo sĩ Thừa Sai” (Missionaries), Julian Pettifer và Richard Bradley viết, trang 169:
"Trong 24 năm đàn áp CaTô Giáo ở Nhật Bản, 62 thừa sai Tây phương đã bị hành quyết cùng với hàng ngàn giáo dân Nhật. Phải tới hơn 200 năm sau Nhật mới lại mở cửa cho các thừa sai trở lại, nhưng lòng của họ vẫn khép kín." [28]
Ngày nay, tổng số giáo dân Ca-tô trên đất Nhật là dưới 450,000 [theo Paul Minh Nhật trên VietCatholic] trên một dân số là 12,800.000 [The World FactBook] nghĩa là chỉ vào khoảng 0.35 %, nghĩa là trong 100 người Nhật chỉ có “1/3 của một người” theo Ca-tô Giáo..
Việt Nam quá nhân từ nên đã để cho Ca-tô Giáo mang bao nhiêu bất hạnh đến Việt Nam. Thật vậy, Hal Dareff trong cuốn Câu Chuyện Việt Nam (The Story of Vietnam, trg. 28,) đã nêu lên hoàn cảnh khác biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam trong thế kỷ 19:
"Đóng cửa biên giới, họ (triều đình Gia Long. TCN) sẽ tránh được sự xâm nhập của người ngoại quốc với những lối sống xa lạ của họ. Bất hạnh thay, trong nước đã có những người ngoại quốc rồi - Các giáo sĩ thừa sai." [29]
Nhận định trên chứng tỏ sự hiện diện của các thừa sai Ca-tô là điều bất hạnh cho quốc gia Việt Nam, không chỉ là trong thời thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam với sự hỗ trợ của giáo dân Ca-tô Việt Nam , yếu tố quyết định để đưa nước nhà vào vòng nô lệ Pháp, mà còn kéo dài qua thời kháng chiến chống Pháp và thời Ngô Đình Diệm cai trị ở miền Nam. Đây là những sự kiện lịch sử.
Vì cái lịch sử không mấy tốt đẹp của Ca-tô Rô-MaGiáo ở Việt Nam cho nên Giáo hội Ca-tô Việt Nam cứ phải tiếp tục dựa vào Vatican để mà tồn tại, tin tưởng rằng Vatican có một thế lực nào đó trên thế giới. Để tồn tại, Giáo Hội Ca-Tô Việt Nam phải tuyệt đối tuân lệnh Vatican. Nếu Giáo Hội Ca-tô Việt Nam là một Giáo hội độc lập, tự trị, thì sẽ không có vụ phải dẹp những màn cầu nguyện xin-cho ở Tòa Khâm sứ hay Thái Hà, và những màn cầu nguyện này sẽ kéo dài vô thời hạn, cho đến khi Chúa Giê-su thực hiện lời hứa với những người tin Chúa: “Nhân danh Ta, Xin gì thì sẽ được nấy, Ta sẽ làm cho”. Và cũng không có vụ ông Tổng Kiệt phải nhục nhã ra đi không kèn không trống trong đêm tối. Đó là cái hại của tinh thần nô lệ với kết quả tự hủy và càng ngày càng xa lánh đồng bào, dân tộc.
Trong thực tế, thế lực của Ca-Tô Rô-maGiáo trên thế giới không còn gì, có chăng chỉ còn đối với đám tín đồ thấp kém. Trong thế giới, Vatican có làm gì thì chỉ có “mẹ hát con khen hay” chứ đối với người ngoại đạo chẳng có bất cứ một giá trị gì vì người ta đã hiểu rõ Vatican quá rồi. Nhưng ngay cả đối với người Ca-tô trong thế giới Âu Mỹ, Vatican nói thì Vatican nghe, giáo dân nhiều khi còn lên tiếng phê bình chỉ trích. Những Giáo lý của Vatican đi ngược thời gian chẳng có ai buồn nghe, đừng nói đến chuyện tuân theo. Điển hình là các giáo lý về ngừa thai [hơn 90% người Ca-tô Mỹ không theo], phá thai [nạn nhân mã], đồng giống luyến ái [Khoa học đã chứng minh là khuynh hướng trên liên hệ đến “gen” và DNA khi sinh ra, do đó cá nhân không có sự chọn lựa (choice) chứ không phải là một tội lỗi theo Thánh kinh] v…v… của Vatican đâu có mấy người Ca-tô theo.
Giáo hội Ca-Tô Rô-ma tại Việt Nam còn hoàn toàn lệ thuộc Vatican vì không biết đến thực chất Vatican là một tổ chức như thế nào, cho nên vẫn tưởng là mình ở trong một “Hội Thánh.” Trong khi thế giới bên ngoài đã tràn ngập những tác phẩm về bộ mặt thực của Vatican, thì ở trong nước, người Ca-tô vẫn mù mờ tin bướng tin càn. Giáo hoàng John Paul II đã từng ngồi trong chiếc Popemobile bọc sắt, trên có lồng kính chắn đạn, đi khắp nơi dạy con chiên… “đừng sợ”. Vậy quý vị đừng có sợ đọc sách vì không có ai đọc sách mà bị ngọn lửa vĩnh hằng trong hỏa ngục của Ca-tô Giáo thiêu đốt đâu. Sách viết về Ca-Tô Rô-maGiáo thì có rất nhiều, nhưng riêng về Vatican thì tôi đề nghị mọi giới Ca-tô ở Việt Nam hãy đọc ít nhất là những cuốn sau đây về Vatican để thấy mình đang ở dưới quyền của một tổ chức tôn giáo hay thế tục như thế nào. Quý vị “đừng sợ” phải xuống hỏa ngục, vì Giáo hoàng John Paul II của quý vị đã khẳng định trước thế giới là chẳng làm gì có hỏa ngục cả.
- “Vatican Mis À Nu” của Đức Ông Luigi Marinelli
- Những cuốn “The Vatican’s Mafia”; “Vatican Exposed: Money, Murder, and the
Mafia”; “The Vatican’s Finances”; “The Antichrist in the Vatican”; “The Lies of Pope
John Paul II” v..v.. của Đức Ông Rafael Rodríguez Guillén.
- “The Secret Archives of the Vatican” của Maria Luisa Ambrosini & Mary Willis
- “The Vatican and Zionism” của Sergio I. Minerbi.
- “The Love Affairs of the Vatican or The Favorites of the Popes” của Dr. Angelo S.
Rappoport
- “In the Vatican: The Politics and Organization of the Roman Catholic Church” của
Thomas Reese
- “Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy” của Giám mục dòng Tên Peter de
Rosa
- “The Vatican’s Holocaust” của Baron Avro Manhattan
- “In the Vatican” của Peter Hebblethwaite
- “The Vatican Empire”“The Incredible Book of Vatican Facts and Papal
Curiosities” của Nino Lo Bello
- “O Vatican: A slightly wicked view of the Holy See” của Paul Hofmann
- “The Vatican Connection” của Richard Hammer
- “Vicars of Christ” của Peter de Rosa
Trong danh sách trên có hai cuốn đặc biệt của hai nhân vật cao cấp trong Ca-tô Rô-MaGiáo. Đó là cuốn “Vatican Mis à Nu” của Đức Ông Luigi Marinelli, và cuốn “The Vatican’s Mafia” của Đức Ông Rafael Rodríguez Guillén.
Đức Ông Luigi Marielli:
Vatican Mis À Nu, Traduit de l’Italien par Pierre-Émmanuel Dauzat, Edition Robert Laffont, Paris, 2000.

Cuốn sách này là bản dịch sang tiếng Pháp của bản gốc tiếng Ý: VIA COL VENTO IN VATICANO. Bản dịch tiếng Anh có tên Gone With The Wind In The Vatican mà có người Việt Nam dịch là Cuốn Theo Chiều Gió Ở Vatican. Bản tiếng Anh không thấy bán trong các tiệm sách nhưng có thể đặt mua trên Internet. Tôi mua được bản tiếng Pháp ở Paris, hè 2002. Bản tiếng Pháp không dịch mà đặt tên khác: Lột Trần Vatican (Vatican Mis À Nu). Đúng là lột trần vì độc giả sẽ thấy một hình ảnh Vatican mục nát, không mũ mãng, quần áo lòe loẹt trang trí bên ngoài. Cuốn sách này là con dao mổ xẻ của tác giả đã đâm ngập vào một vết thương sâu (ce livre est un bistouri plongé dans une plaie profonde) với hi vọng có thể cắt bỏ những máu mủ độc hại trong đó. Tác giả đã vạch trần bộ mặt vô tín vô luật (sans foi ni loi) trong trung tâm chỉ đạo của Giáo hội Ca-tô Rô-ma (Curie Romaine) gồm hầu hết những kẻ chạy chọt làm áp-phe, chạy theo chức tước, đồng giống luyến ái, tranh chấp phe đảng, và những công cụ để được thăng chức nhanh chóng... (Affairisme, carriérisme, homosexualité, la course aux postes, la lutte des clans, des instruments de promotion accélérée...)
Chúng ta hãy đọc vài lời nơi trang bìa sau:
Ngày 16 tháng 7, 1999, Đức Ông Luigi Marielli, một giáo sĩ cao cấp trong tập đoàn chỉ đạo của giáo hội RôMa, bị gọi đến trước tòa án của Vatican để giải thích về việc xuất bản một cuốn sách mà người ta đồn ông là tác giả. Cuốn sách này, bị mọi nhà xuất bản ở bán đảo Ý từ chối, cuối cùng được phát hành bởi một nhà xuất bản nhỏ chống giới giáo sĩ, xuất phát từ một nhóm viên chức cao cấp của Vatican, “Les Millénaires” [nhóm người hi vọng một thời kỳ tốt đẹp, thịnh vượng và công bằng hơn], những người chọn con đường phá hủy luật im lặng. Và nếu tòa Thánh ước mong cuốn sách này không được bán, thì chính tòa Thánh đã lên án một cách độc hại sự đồi bại tinh thần và vật chất trong hệ thống lãnh đạo của giáo hội. Sự xuất hiện của Đức Ông Marielli đã đẩy mạnh cuốn sách lên hàng bán chạy nhất.
Người ta không biết được cái gì ở đàng sau nhóm “Les Millénaires”, ngay cả khi người ta xì xào là có một Hồng y trong đó. Điều chắc là, đây là lần đầu tiên, tấm màn (che dấu những sự đồi bại) đã được kéo lên từ bên trong, để lộ hệ thống lãnh đạo rất tối tăm của Giáo hoàng...Làm áp-phe, chạy theo chức tước, đồng giống luyến ái, tam điểm: bức tranh mà nhóm “Les Millénaires” phác họa triều chính Giáo hoàng thật là dễ sợ, tất cả với rất nhiều chi tiết chứng tỏ một sự hiểu biết sâu đậm về hậu trường của trung tâm chỉ đạo của Giáo hội Ca-tô Rô-ma. Phải chăng Vatican sẽ nằm trong tay của một băng đảng của những kẻ chạy theo chức tước, vô tín vô luật. [30]

Đức Ông Rafael Rodríguez Guillén:
The Vatican’s Mafia”. Tôi tin rằng quý vị không thể ngờ được là trong cuốn The Vatican’s Mafia lại có những chương mục như sau, và xin quý vị biết rằng cuốn sách đã được phổ biến rộng rãi và quý vị có thể download hoặc mua cuốn này từ trên Internet để mà đọc. Tôi tin rằng, trong tương lai, bằng cách này hay cách khác, cuốn sách này sẽ được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam trong chiều hướng tiến bộ trí thức của người Việt, và quý vị không có cách nào có thể ngăn chận được chiều hướng này.
3. PERSONAGES OF THE SACRED MAFIA OF THE VATICAN
4 - THE VATICAN MAFIA IN THE CATHOLIC CHURCHES
5 - THE GANGSTERS OR THE VATICAN'S SACRILEGIOUS MAFIA
6 - THE CONNECTION OF THE VATICAN IN THE COUNTERFEITING OF
BILLIONS OF DOLLARS
7 - THE VATICAN AND HER CONNECTIONS WITH THE CRIME SYNDICATE
8 - THE ARCHBISHOP MARCINKUS AND THE VATICAN'S MAFIA
9 - THE VATICAN'S MURDEROUS MAFIA
11 - THE VATICANS ALLIANCES WITH THE INTERNATIONAL MAFIA
12 - THE HOLY MAFIA
13 - THE INTELLECTUAL, POLITICAL AND SACRED MAFIA
15 - THE TERRORIST MAFIA OF THE VATICAN
16 - THE VATICAN AND HER ROMAN LEGIONS CONNECTED WITH THE
MAFIA
20 - THE HOLY MAFIA OR THE OPUS DEI
21 - WRITERS AND HISTORIANS WHO PROVE THE VATICAN'S MAFIA


Một câu hỏi thường được đặt ra cho những người Ki Tô Giáo: Tại sao Ki Tô Giáo lại suy thoái, nếu nó thực sự là một tôn giáo có mục đích nâng cao trình độ hiểu biết của con người, một tôn giáo đạo đức, một tôn giáo có thể giúp cho con người thăng tiến lên một cảnh giới cao hơn v…v… Ki Tô Giáo đã hoàn toàn thất bại trong nhiệm vụ này như lịch sử đã chứng minh. Và thực tế lịch sử cho thấy rằng: thay vì Ki Tô Giáo văn minh hóa nhân loại thì chính sự tiến bộ của nhân loại đã văn minh hóa Ki Tô Giáo. Vì như John Remsburg đã viết trong cuốn “False Claims”:Những thanh gươm (để giết người) và những bó củi (để thiêu sống người) đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của Giáo hội Ca-tô. Ngày nay Giáo hội chỉ còn lại hai vũ khí: gây thù hận và vu khống”. Đây là một sự thật không ai có thể chối cãi. Ngày nay, quyền lực của Tòa Thánh và Giáo hoàng chỉ còn trên số tín đồ thấp kém tin bướng tin càn. Đối với các tín đồ tiến bộ trong thế giới Âu Mỹ thì quyền lực của Vatican và Giáo Hoàng là một con số không vĩ đại. Richard Dawkins và Christopher Hitchens đòi bắt giam Giáo hoàng Benedict XVI khi ông ta đến thăm viếng Anh sắp tới. Năm 2002 một giáo dân ở Seatle đâm đơn kiện trước Tòa Án Mỹ ở Oregon Tòa Thánh và Giáo Hoàng về vụ linh mục Andrew Ronan đã cưỡng dâm ông ta nhiều lần khi ông ta còn nhỏ. Vụ trên bị dẹp bỏ nhưng mới đây, Pháp Viện Tối Cao Mỹ cho phép vụ kiện được tiếp tục để xét xử. Luật sư của Vatican, Feffrey Lena, nói rằng: “Khi vụ kiện trở về Tòa án Liên Bang ở Oregon, Tòa Thánh sẽ chứng tỏ rằng không chịu trách nhiệm về những hành động của linh mục Ronan vì ông ta không phải là nhân viên của Tòa Thánh.” [Chicago Tribune, June 30, 2010: “When the case returns to a federal court in Oregon, the Holy See [Very Holy??] will show it was not responsible for the action of the priest because he was not a Vatican employee]. Vậy tại sao các linh mục phải nghe lệnh của Tòa Thánh? Tại sao Tòa Thánh lại có quyền phong chức cũng như cất chức một linh mục? Lý luận xảo quyệt của Tòa Thánh để trốn trách nhiệm cho ta thấy một điều: Tòa Thánh luôn luôn bảo vệ quyền lợi tiếng tăm của Tòa Thánh và không đếm xỉa gì đến sự đau khổ của con chiên bị “Chúa thứ hai” của ông ta cưỡng dâm, và cũng trốn luôn trách nhiệm tinh thần đối với thuộc hạ. Người Ca-tô Việt Nam nên lấy trường hợp này làm kinh nghiệm về đạo đức tôn giáo của “Đức Thánh Cha”.
Ngày nay, không có một ông giáo hoàng nào dám hô hào cổ võ một cuộc thập tự chinh, tổ chức một tòa án xử dị giáo hay một cuộc săn lùng phù thủy, gây hận thù người Do Thái về tội “giết Chúa”, khích động một cuộc chinh phục các nước nhỏ kém phát triển bằng vũ lực. Không một ông giáo hoàng nào dám đưa Einstein, Carl Sagan, hay Stephen Hawking, Richard Dawkins, Sam Harris, Christopher Hitchens v..v.. lên dàn hỏa như đã đưa Bruno lên trước đây, dù Richard Dawkins đã công khai mắng Giáo hoàng Benedict XVI là “stupid” và cùng với Christopher Hitchens đòi bắt giam ông ta khi ông ta viếng thăm Anh tới đây.
Tại sao Ca-Tô Rô MaGiáo bắt buộc phải suy thoái. Câu trả lời nằm trong chính bản văn xưng tội trước thế giới của Vatican.
Ngày 12 tháng 3 năm 2000, trong một cuộc “thánh lễ” công cộng tại “thánh đường” Phê-rô, Giáo hoàng cùng một số hồng y, tổng giám mục, trong đó có tổng giám mục Nguyễn Văn Thuận, đại diện cho “hội thánh” Ca-Tô, đã chính thức “xưng thú 7 núi tội ác” đối với nhân loại của Ca-Tô giáo Rô-ma. 7 núi tội ác này, qua gần 20 thế kỷ, đã đưa đến những thảm họa to lớn cho nhân loại như “thập tự chinh” (thường được gọi một cách sai lầm là “thánh chiến” vì bản chất những cuộc chiến này rất man rợ, bạo tàn chứ chẳng có gì là “thánh” cả), tòa hình án xử dị giáo, bách hại dân Do Thái, kỳ thị phái nữ, liên kết với thực dân để truyền đạo với sách lược xâm lăng văn hóa, mưu toan thống trị và có thái độ thù nghịch với các tôn giáo khác v..v.. (Xin đọc chi tiết những tội ác của Ca-Tô giáo đối với nhân loại trong cuốn VATICAN: Thú Tội Và Xin Lỗi? của 6 tác giả, Giao Điểm xuất bản năm 2000). Hành động “xưng thú 7 núi tội lỗi” này đã làm cho những lời tự nhận của giáo hội mà giáo hội thường nhồi nhét vào đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ, rằng Ca-Tô giáo là tôn giáo “thiên khải duy nhất”, “thánh thiện”, “mầu nhiệm”, “tông truyền”, “hôn thê của Chúa”, “cao quý”, “ánh sáng của nhân loại”, bác ái”, “dân chủ” v..v.., trở thành những lời nói láo vĩ đại nhất trong lịch sử các tôn giáo của loài người. Một khi mà những lời nói láo không còn có hiệu lực và không còn thuyết phục được ai, thì tất nhiên con người sẽ không còn tin vào chúng nữa. Và tín đồ bỏ đạo hàng loạt là vì họ không còn muốn dính dáng gì đến một giáo hội đầy tội lỗi thế gian, và trình độ người dân ngày nay đã cao, không còn có thể tin vào những điều thuộc loại hoang đường mê tín nữa. Chính các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô đã khai sáng cho họ qua những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về Ki Tô Giáo.
Nhưng chúng ta đã biết, mất đi chỗ đứng trong thế giới Tây phương, Ca-Tô Giáo cũng như Tin Lành đều có mưu toan bành trướng sang Á Châu, nơi đây ở một số nơi, con người còn đang sống trong cảnh khó khăn vật chất và thiếu hiểu biết. Họ là nhưng mồi ngon trong sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo. Đối với đất nước Việt Nam, đó là một hiểm họa cần phải phòng ngừa nếu chúng ta muốn bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam. Không có lý do gì để cho người dân tiếp tục bị lừa dối để chấp nhận những đồ phế thải của Tây phương mà lịch sử đã chứng tỏ trái nghịch với truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam.
Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam? Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa Ca-Tô (Công Giáo) và Tin Lành, cái hiểm họa đã được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca-Tô giáo , ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết canh chừng, kiểm soát những phương cách truyền đạo bất chính, con đường hữu hiệu nhất là con đường mở mang dân trí. Qua con đường này, người dân sẽ biết rõ về bản chất và những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo nói riêng, và từ đó sẽ không còn bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín, hoang đường, phi lý của Ki Tô Giáo mà ngày nay thế giới Tây Phương đã nhận thức rõ và đang từ bỏ dần dần. Chúng ta nên nhớ, “người Ki Tô Giáo không sợ tội lỗi, chỉ sợ sự thật.” Cho nên chúng ta không cần làm bất cứ điều gì khác, chỉ cần đưa ra những sự thật về bản chất và lịch sử của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-tô Rô-MaGiáo nói riêng.
Mở mang dân trí, cập nhật hóa kiến thức thời đại, đây chính là một nhiệm vụ quan trọng trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng của chính quyền mà là nhiệm vụ chung của mọi người dân Việt Nam nào còn có lòng với dân tộc, đất nước, còn trân quý truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam. Tôi hi vọng giới trí thức, nhất là giới trẻ ngày nay, hãy nhận thức rõ tầm quan trọng của lãnh vực văn hóa này. Vì lợi ích của mọi người, và vì tương lai của dân tộc và đất nước, chúng ta hãy cùng nhau tích cực hoạt động trong đường hướng mở mang dân trí, giúp người dân nhận thức được những sự thật về các tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam.
Trần Chung Ngọc
Illinois, 21 Tháng 5, 2010



Chú thích:
24. The statistics documenting European secularization are now impossible to ignore. Ireland, still one of the least secular nations in Western Europe, has seen church attendance fall by at least 25 percent over the last three decades. Ireland is predominantly Roman Catholic, of course, but the paper reports, "Not one priest will be ordained this year in Dublin."
On the Protestant side, the picture is not much better. Switzerland, Germany, and the Netherlands, once the cradles of the Reformation, are now prime examples of Europe's secular shape.
According to the Center for the Study on Global Christianity, at the Gordon-Conwell Theological Seminary in suburban Boston, the decline in Christian influence "is most evident in France, Sweden and the Netherlands, where church attendance is less than ten percent in some areas."
25. The Roman Catholic Church, it needs to be remembered, is quite literally an un-American institution. It is not democratic. The Church’s views on due process and on the status of women, to name just a couple of key issues, are sharply at odds with those that inform the laws of American secular society. And its principal policies are established by the Vatican in Rome.)
26. Catholics had both the will and ability to impose their tastes and standards on the wider population.
The Catholic Church was not prepared to limit its influence to a strictly defined spiritual sphere, but claimed wide authority over secular matters. Through much of the 20th century, Catholic pressure groups had a profound effect on what ordinary non-Catholics could read, the film they could see, and even the decisions thery could legally make concerning family planning.. [Philip Jenkins, The New Anti-Catholicism, Oxford University Press, 2003, p.42]
27. Speaking in 1959, Harry Truman himself asserted that Catholics could scarcely be trusted in the high office because Catholics have a loyalty to a church hierarchy. You don’t want to have anyone in control of the government of the US who has another loyalty, religious or otherwise.
[Paul Blanshard, American freedom and Catholic Power, p.3]
28. During the twenty-four years of the great Japanese persecution, sixty-two European missionaries were put to death together with thousands of Japanese Christians. It was to be more than 200 years before the Japanese would again open their doors to missionaries but even then, they did not open their hearts.
29. By sealing off their borders, they would keep out the foreigner and his alien ways. Unfortunately, there were already foreigners in Vietnam - The Missionaries.
30. Le 16 Juillet 1999, Mgr Luigi Marielli, un prélat de la curie romaine, est convoqué devant un tribunal du Vatican pour s’expliquer sur la publication anonyme d’un livre dont la rumeur lui attribute la paternité. Cet ouvrage, refusé par tous les éditeurs de la Péninsule, finalement publié par une petite maison anticléricale, serait l’émanation d’un groupe de hauts dignitaires du Vatican, “Les Millénaires”, qui aurait choisi de briser la loi du silence. Et si le Saint-Sìege souhaite le voir retiré de la vente, c’est qu’il dénonce avec virulence la corruption morale et physique régnant dans le gouvernement de l’église. La comparution de Mgr Marielli propulse l’ouvrage en tête des best-sellers..
On ne sait toujours pas qui se cache derrière “Les Millénaires”, même si l’on murmure qu’un cardinal en ferait partie. Ce qui est certain, c’est que pour la premìre fois, le voile a été levé, de l’intérieur, sur le très opaque gouvernement pontifical...Affairism, carriérisme, homosexualité, franc-maconnerie: le tableau que “Les Millénaires” brossent de la cour du Pape est effarant, le tout avec un luxe de détails qui trahit une connaissance approfondie des coulisses de la curie. Le Vatican serait-il aux mains d’une coterie de carriéristes sans foi ni loi?