Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

Công giáo và Chính thống giáo khác nhau ra sao?

20160213_blp533
Nguồn:The differences between the Catholic and Orthodox churches”, The Economist, 12/02/2016.
Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Đối với một người không phải là Ki-tô hữu, thậm chí với một tín hữu Ki-tô giáo mong muốn tối giản giáo lý và việc thờ phụng, thì giáo hội Công giáo và Chính thống giáo có thể rất giống nhau. Cả hai đều sử dụng những nghi lễ phức tạp với nguồn gốc xa xưa và có nhiều hàng ngũ tu sĩ mặc áo choàng dài; cả hai bên đều cho rằng họ duy trì tính liên tục từ buổi bình minh của thời đại Ki-tô, cả hai đều có truyền thống thần học và học thuật phong phú, và nói chung là có ký ức tổ chức lâu dài. Chỉ có một khác biệt dường như rất nhỏ phân biệt các phiên bản kinh tin kính của họ, qua đó đặt ra những đức tin cơ bản về Chúa ba ngôi Cha, Con và Thánh Thần. Như vậy thì tại sao hai nhóm tôn giáo không thống nhất với nhau? Vào ngày 12/2, Giáo Hoàng Francis và Thượng Phụ Kirill của Moskva, lãnh đạo Giáo hội Chính thống giáo Nga, sẽ gặp nhau ở Cuba. Dù sự kiện này không phải là không có tiền lệ trong 10 thế kỷ qua, nhưng cuộc gặp như thế vẫn rất bất thường. Tại sao?
Một phần của câu trả lời là bởi vì cả hai giáo hội đều có ký ức lâu dài, vì thế những khác biệt nổi lên nhiều thế kỷ trước vẫn còn quan trọng. Sự chia rẽ chính thức giữa Ki-tô phương Đông và Ki-tô phương Tây diễn ra vào năm 1054, và ở một mức độ nào đó phản ánh sự cạnh tranh về văn hóa và địa chính trị giữa đế chế Đông La Mã nói tiếng Hy Lạp, còn gọi là Đế chế Byzantium, và khu vực Tây Âu nói tiếng Latinh, nơi mà uy quyền của Đế chế (Tây) La Mã đã sụp đổ vào thế kỷ thứ năm, nhưng những trung tâm quyền lực mới đã xuất hiện. Những căng thẳng bắt đầu tăng lên vào đầu thế kỷ thứ 11 khi những người Normandy theo Công Giáo tràn qua khu vực nói tiếng Hy Lạp ở miền nam Ý và áp đặt những lề lối Latinh vào các nhà thờ ở những khu vực trên. Thượng phụ Constantinople đã đáp trả bằng cách ngăn chặn những nơi thờ phụng theo kiểu Latinh tại thành phố của ngài, và Giáo Hoàng đã gửi một phái đoàn đến Constantinople để giải quyết vấn đề. Lãnh đạo phái đoàn, Hồng Y Humbert, đã tuyên vạ tuyệt thông với Thượng Phụ, và Thượng Phụ cũng làm điều tương tự với vị khách của mình ngay sau đó.
Trong những sự kiện dẫn đến sự chia rẽ cuối cùng, đã có những khác biệt ngày càng lớn giữa tuyên bố của Giáo Hoàng về thẩm quyền của ngài đối với thế giới Ki-tô giáo, trái với quan điểm của Chính thống giáo rằng tất cả các trung tâm cổ xưa của thế giới Ki-tô giáo (Antioch, Alexandria, và Jerusalem cũng như Rome và Constantinople) gần như là ngang bằng nhau về tầm quan trọng. Bên Chính thống giáo phản đối việc Giáo Hoàng ủng hộ một phiên bản của kinh tin kính mà theo quan điểm của họ tương đương với việc ngầm hạ thấp vai trò của Chúa Thánh Thần (Holy Spirit).
Thêm vào khác biệt về thần học này là những mâu thuẫn địa chính trị lớn: vào năm 1204 quân đội Latinh đã cướp bóc Constantinople – nơi lúc đó vẫn là trung tâm lớn nhất của thế giới Ki-tô giáo về văn hóa và thương mại – và áp đặt một chế độ Latinh trong 6 thập kỷ. Trong ký ức tập thể của Chính thống giáo, sự phản bội này bởi những người anh em Ki-tô hữu đã làm thành phố vĩ đại này suy yếu dần và khiến việc nó bị chinh phục bởi những người Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1453 trở nên không thể tránh được.
Sau khi hai bên tách ra, thế giới Ki-tô phương Đông và phương Tây sản sinh ra những truyền thống thần học khác nhau. Phương Tây phát triển ý niệm về luyện ngục (purgatory) và về việc “trừng phạt thế” (tư tưởng cho rằng việc Chúa Ki-tô tự hiến thân là cái giá phải trả cho Chúa Cha khắc nghiệt). Cả hai tư tưởng trên không hấp dẫn những người Ki-tô hữu Chính thống giáo. Phương Đông, với thiên hướng pha trộn tri thức và mầu nhiệm, đã đi theo tư tưởng rằng Thiên Chúa là không thể hiểu được bởi lý trí con người nhưng có thể tiếp cận được thông qua trái tim.
Đối với tín hữu Chính thống giáo, thần học Công Giáo dường như quá phạm trù và lề luật; còn đối với người Công giáo, tư tưởng của Chính thống giáo về mầu nhiệm dường như quá mơ hồ và không rõ ràng. Trong cuộc thảo luận được định trước trong vài tiếng tại sân bay Havana vào ngày 12/2, Đức Giáo Hoàng và vị Thượng Phụ sẽ không thể hòa giải những khác biệt đã kéo dài hàng thế kỷ trên. Nhưng ít ra họ có thể hiểu nhau hơn một chút.

Các cuộc chiến ở Trung Đông có phải là về tôn giáo?

Saudia-Arabia-vs-Iran
Nguồn: Ian Buruma, “Carpet Bombing History in America”, Project Syndicate,  08/01/2016.
Biên dịch: Lê Thị Hồng Loan | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Ted Cruz, một trong những ứng cử viên Đảng Cộng hòa tranh cử Tổng thống Mỹ, mới đây phát biểu rằng giải pháp của ông đối với những bất ổn ở Trung Đông là “rải thảm bom” lên Nhà nước Hồi giáo (ISIS) và để xem liệu “cát có thể phát sáng trong bóng tối” được hay không. Donald Trump, người đang dẫn đầu phía Đảng Cộng hòa, hứa sẽ “rải bom đánh bật ISIS”. Một ứng cử viên thứ ba, Chris Christie, đe dọa chiến tranh với Nga.
Với luận điệu như vậy từ các ứng cử viên, không có gì bất ngờ khi theo một cuộc thăm dò gần đây, khoảng 30% cử tri đảng Cộng hòa (và 41% số người ủng hộ Trump) ủng hộ việc ném bom Agrabah, một địa điểm trung tâm (và hư cấu) trong bộ phim hoạt hình Disney Aladdin. Tên của nơi này nghe rất Ả Rập, và thế là đủ.
Một cách để hiểu những lời lẽ hiếu chiến như vậy là giả định rằng những người mang những ý nghĩ đó hẳn phải là những con quái vật khát máu. Một quan điểm nhẹ nhàng hơn là có thể họ bị thiếu hụt một cách kinh khủng kiến thức lịch sử và tinh thần đạo đức. Không ai trong số đó có bất kỳ trải nghiệm cá nhân nào về chiến tranh. Và rõ ràng họ không thể hiểu được hậu quả của điều mà họ đang nói.
Và ngay cả một người chỉ biết sơ lược lịch sử gần đây cũng đủ để hiểu rằng “rải bom đánh bật” một dân tộc không góp phần vào việc giành được chiến thắng trong các cuộc chiến tranh. Điều này không có hiệu quả tại Việt Nam, và nó dường như cũng không có hiệu quả tại Syria hay Iraq. Ngay cả Đức Quốc xã cũng không bị đánh bại bởi rải thảm bom. Như các nghiên cứu hậu chiến được thực hiện bởi không quân Hoa Kỳ và Anh đã chứng minh, xe tăng của Nga đã góp phần lớn hơn trong việc đánh bại Wehrmacht (quân đội Đức Quốc xã – NBT) so với việc không kích các thành phố của Đức.
Điều này đặt ra câu hỏi, một câu hỏi phù hợp cho sự khởi đầu của một năm mới, rằng liệu lịch sử thực sự có thể dạy cho chúng ta nhiều bài học hay không. Cuối cùng, không có gì xảy ra chính xác giống như những điều trước đây.
Có lẽ sự thật là không thể mong đợi lịch sử dạy cho chúng ta biết phải làm gì trong bất kỳ cuộc khủng hoảng nào. Nhưng, do một số mẫu hình hành vi của con người có xu hướng lặp lại, kiến thức về quá khứ có thể giúp hiểu được thời đại của chúng ta tốt hơn. Vấn đề là các chính trị gia (và các nhà bình luận) thường chọn các ví dụ sai để củng cố lập trường tư tưởng của họ.
Chẳng hạn, vì dường như có rất ít người có thể nhớ được thời kỳ quá khứ trước Thế chiến II, nên những ví dụ từ những năm 1930 và 1940 thường xuyên bị lạm dụng nhất. Bất cứ khi nào chúng ta muốn phản đối một nhà độc tài, bóng ma của Adolf Hitler lại được gọi dậy, và những bóng ma năm 1938 (năm ký Hòa ước Munich mà qua đó Anh xoa dịu Hitler– NBT) lại được hồi sinh để chống lại các hoài nghi về các cuộc chiến “phủ đầu” vội vàng. Những người nghi ngờ cuộc xâm lược Iraq của George W. Bush được gọi là “những kẻ xoa dịu vô nguyên tắc,” tương tự như Neville Chamberlain (thủ tướng Anh lúc đó).
Việc chúng ta chỉ tập trung duy nhất vào Đức quốc xã và Thế chiến II đã che mắt không cho chúng ta nhìn thấy những so sánh lịch sử khác – và có thể là hữu ích hơn. Những cuộc chiến tranh khủng khiếp ở Trung Đông ngày nay, trong đó các giáo phái mang tính cách mạng và các tù trưởng bộ tộc chống lại chế độ độc tài tàn nhẫn được hỗ trợ bởi những cường quốc khác nhau, mang nhiều điểm chung với Cuộc Chiến tranh Ba mươi năm vốn đã tàn phá phần lớn nước Đức và Trung Âu những năm 1618-1648.
Trong ba thập niên, những đội quân cướp bóc đã giết hại, cưỡng đoạt, và tra tấn các làng mạc và thị trấn trên đường đi của mình. Nhiều người không bị giết sau đó đã chết vì đói hay các căn bệnh được phát tán bởi một số lượng lớn các binh sĩ.
Giống như những cuộc chiến tranh ngày nay, cuộc Chiến tranh ba mươi năm thường được cho là một cuộc xung đột tôn giáo về bản chất, nhưng là giữa Công Giáo và Tin Lành. Trên thực tế, cũng giống như cuộc chiến ác liệt hiện thời đang nhấn chìm các nước Ả Rập, cuộc chiến đó phức tạp hơn nhiều. Những đội quân đánh thuê, dù Tin lành hay Công giáo, sẽ đổi chiến tuyến bất cứ khi nào phù hợp, trong khi Vatican (Công giáo) ủng hộ các quân vương Tin Lành người Đức, nước Pháp theo Công giáo lại ủng hộ Cộng hòa Hà Lan theo Tin lành, và nhiều liên minh khác đã được hình thành dọc đường ranh giới chia rẽ hai phái.
Trong thực tế, cuộc Chiến tranh ba mươi năm là một cuộc đấu tranh giành quyền bá chủ châu Âu giữa các chế độ quân chủ Bourbon và Habsburg. Chừng nào mà một bên chưa đủ mạnh để chế ngự bên còn lại, chiến tranh vẫn còn tiếp diễn, gây ra nỗi đau khổ cùng cực cho những người nông dân và cư dân thành thị vô tội. Và cũng giống như ở Trung Đông hiện nay, những thế lực lớn khác lúc đó – như Pháp, Đan Mạch và Thụy Điển bên cạnh những quốc gia khác – đã tham gia, ủng hộ một bên này hay bên khác, hy vọng sẽ giành được lợi thế cho mình.
Sự tương đồng giữa Chiến tranh ba mươi năm với các cuộc chiến ở Syria và Iraq là rất đáng chú ý. ISIS là một lực lượng nổi dậy bạo lực của người Sunni chống lại những nhà cai trị dòng Shia. Mỹ chống ISIS, nhưng Iran, một thế lực Shia, và Saudi Arabia, quốc gia được cai trị bởi chế độ độc tài Sunni, cũng chống ISIS. Trục chính của cuộc xung đột ở Trung Đông không phải là về tôn giáo hay giáo phái, mà là về địa chính trị: cuộc đấu tranh giành quyền bá chủ khu vực giữa Saudi Arabia và Iran. Cả hai đều có sự ủng hộ từ một số các nước lớn, và cả hai đều cố tình lợi dụng các tín đồ tôn giáo cuồng tín; nhưng sự khác biệt về mặt thần học không phải là chìa khóa để hiểu sự leo thang bạo lực này.
Bài học gì được rút ra từ tất cả những điều này? Một số người có thể cho rằng chỉ một cuộc cải cách tôn giáo triệt để mới có thể mang lại hòa bình lâu dài ở Trung Đông. Nhưng, mặc dù bản thân việc cải cách Hồi giáo là cần thiết, nó sẽ không thể kết thúc cuộc chiến hiện tại.
Tổng thống Bashar al-Assad của Syria không chiến đấu vì một giáo phái cụ thể nào của Hồi giáo (mà trong trường hợp của ông là phái Alawite), mà cho chính sự sống còn của mình. ISIS không chiến đấu vì tư tưởng Sunni chính thống, mà vì một vương quốc hồi giáo mang tính cách mạng. Cuộc đấu tranh giữa Saudi Arabia và Iran không phải là cuộc chiến tôn giáo, mà là một cuộc chiến chính trị.
Có những thời điểm trong Chiến tranh Ba mươi năm khi một thỏa thuận chính trị là khả thi. Nhưng khi thiếu đi sự sẵn lòng tận dụng các cơ hội đó thì bên này hay bên khác vẫn tìm kiếm lợi thế lớn hơn bằng cách tiếp tục chiến đấu (hoặc khuyến khích người khác làm điều đó).
Sẽ là một thảm kịch nếu những cơ hội tương tự bị bỏ lỡ ngày hôm nay. Các thỏa thuận cần phải dựa trên sự thỏa hiệp. Các lực lượng đối nghịch sẽ phải nói chuyện với nhau. Những kẻ khoác lác về rải thảm bom, và những lời buộc tội xoa dịu vô nguyên tắc chống lại những người cố gắng thương lượng, sẽ chỉ kéo dài sự thống khổ, chưa kể có thể gây ra một thảm họa còn lớn hơn. Và điều đó sẽ ảnh hưởng đến hầu như tất cả chúng ta.
Ian Buruma là Giáo sư về Dân chủ, Nhân quyền và Báo chí tại Bard College. Ông là tác giả nhiều cuốn sách, bao gồm Murder in Amsterdam: The Death of Theo Van Gogh and the Limits of Tolerance và mới đây là cuốn Year Zero: A History of 1945.
Copyright: Project Syndicate 2016 – Carpet Bombing History in America

Các cấu trúc chính trị

4._equilibre_simplebig
Nguồn: Kenneth N. Waltz (1979). “Political Structures” (Chapter 5) in K. N. Waltz, Theory of International Politics (Reading, Mass.: Addison-Wesley Pub. Co.), pp. 79-101.
Biên dịch và Hiệu đính: Nguyễn Hoàng Như Thanh

Chúng ta đã thấy trong Chương 2, 3 và 4 là sự kiện chính trị quốc tế không thể giải thích theo cách giản lược. Chúng ta đã thấy trong Chương 3 rằng ngay cả lối tiếp cận hệ thống đã được thừa nhận vẫn nhầm lẫn giữa nguyên nhân cấp đơn vị với nguyên nhân cấp hệ thống. Sau khi xem xét các lý thuyết theo mô hình hệ thống phổ quát, chúng ta đi đến kết luận rằng mô hình này không đủ tương thích hoàn toàn với chính trị quốc tế để có thể trở nên hữu dụng và rằng cần phải nghiên cứu chính trị quốc tế bằng một dạng lý thuyết hệ thống khác. Để thành công, lý thuyết đó phải chỉ ra được cách mô tả chính trị quốc tế như một lĩnh vực tách bạch với kinh tế, xã hội và bất kỳ lĩnh vực quốc tế nào có thể tưởng tượng được.
Để phân biệt hệ thống chính trị quốc tế với các hệ thống khác, để phân biệt các động lực tầm hệ thống với các động lực cấp đơn vị, ta cần chỉ ra được cấu trúc chính trị được hình thành như thế nào và tác động của nó lên các đơn vị cũng như của các đơn vị lên cấu trúc ra sao. Làm thế nào để mô tả chính trị quốc tế như một hệ thống riêng rẽ? Cái gì xen giữa đơn vị và kết quả của hành vi và tương tác giữa chúng? Để trả lời các câu hỏi trên, chương này đầu tiên sẽ xem xét khái niệm cấu trúc xã hội, sau đó sẽ định nghĩa khái niệm cấu trúc theo cách thích hợp với chính trị quốc gia và quốc tế.
I.
Một hệ thống bao gồm cấu trúc và các đơn vị tương tác. Cấu trúc là bộ phận chủ đạo tạo nên chỉnh thể hệ thống. Vấn đề là phải xây dựng một định nghĩa cấu trúc không phụ thuộc vào đặc tính và sự tương tác của đơn vị, điều mà các nhà lý thuyết hệ thống xét ở Chương 3 không giải quyết được. Định nghĩa cấu trúc phải gác sang một bên hoặc phải được khái quát hóa từ các đặc trưng của đơn vị, hành vi và tương tác giữa chúng.
Tại sao phải bỏ qua những thứ rõ ràng là quan trọng như vậy? Phải làm như vậy để có thể phân biệt các biến số cấp độ đơn vị với những biến số cấp hệ thống. Vấn đề là phải làm sao phát triển các khái niệm lý thuyết hữu ích để thay cho các thuật ngữ hệ thống mơ hồ, hay thay đổi và được sử dụng một cách chủ quan – ví dụ như môi trường, hoàn cảnh, bối cảnh và tình huống (environment, situation, context, milieu). Cấu trúc sẽ là một khái niệm hữu ích nếu nó cung cấp được nội hàm rõ ràng và cụ thể cho các thuật ngữ mơ hồ trên.
Ta đã biết cần phải bỏ qua cái gì trong định nghĩa về cấu trúc để định nghĩa đó hữu dụng về mặt lý thuyết. Khái quát hóa từ các đặc tính quốc gia có nghĩa là bỏ sang một bên câu hỏi về lãnh đạo chính trị, thiết chế kinh tế – xã hội, ý thức hệ của quốc gia. Khái quát hóa từ mối quan hệ có nghĩa là bỏ sang một bên câu hỏi về tương tác văn hóa, kinh tế, chính trị và quân sự giữa các nước. Xác định cái gì phải bỏ ra không nói lên được cái gì phải thêm vào. Điều này khá quan trọng bởi vì yêu cầu bỏ qua đặc tính đơn vị và tương tác giữa các đơn vị thường bị vi phạm và không được tuân thủ. Nhưng nếu bỏ qua đặc tính và tương tác thì còn lại gì? Có thể trả lời bằng cách suy xét ý nghĩa kép của từ “quan hệ”. Như S. F. Nadel đã chỉ ra, ngôn ngữ thường ngày đã che mờ sự phân biệt vốn quan trọng về lý thuyết. “Quan hệ” được dùng để chỉ cả tương tác giữa các đơn vị lẫn vị trí của chúng đối với nhau (1957, tr. 8-11). Để định nghĩa cấu trúc cần gác sang một bên mối liên hệ giữa chúng (cách tương tác) và tập trung vào vị trí của chúng đối với nhau (cách sắp xếp và vị trí). Tương tác, như tôi đã nhấn mạnh, diễn ra ở cấp đơn vị. Còn vị trí của một đơn vị trong mối liên hệ với một đơn vị khác không phải là đặc tính đơn vị. Cách thức sắp xếp đơn vị là một đặc tính hệ thống.
Gác sang một bên tính chất chủ thể, hành vi và tương tác của chúng, ta có được một bức tranh đơn thuần về vị trí, vai trò trong xã hội. Từ đó dẫn đến ba mệnh đề. Thứ nhất, cấu trúc bền vững trong khi đặc tính, hành vi và tương tác thay đổi. Cấu trúc tách bạch rõ rệt với hành vi và tương tác. Thứ hai, định nghĩa cấu trúc áp dụng cho các lĩnh vực khác nhau chừng nào cách thức sắp xếp đơn vị là khác nhau (xem Nadel, tr. 104-109). Thứ ba, do đó, lý thuyết phát triển cho một lĩnh vực có thể, với vài sửa đổi, áp dụng được cho lĩnh vực khác.
Cấu trúc được định nghĩa bởi cách sắp xếp các bộ phận. Chỉ những biến đổi trong cách sắp xếp mới là thay đổi về cấu trúc. Một hệ thống bao gồm cấu trúc và các đơn vị tương tác. Cả cấu trúc lẫn đơn vị đều là những khái niệm có liên quan tới nhưng không đồng nhất vớitác nhân và các động lực (agents và agencies) trên thực tế. Cấu trúc không phải là cái gì nhìn thấy được. Nhà nhân học Meyer Fortes đã làm rõ điều này “khi ta mô tả cấu trúc, ông nói, ta đang ở trong lĩnh vực ngữ pháp và từ vựng, không phải là bản thân từ đang được nói đến. Ta chỉ hiểu rõ được cấu trúc trong “thực tế cụ thể” của sự kiện xã hội bằng cách xây dựng cấu trúc này thông qua khái quát hóa từ “thực tế cụ thể” đó (Fortes 1949, tr. 56). Vì cấu trúc là một sự trừu tượng hóa, nó không thể được mô tả bởi các đặc tính vật chất đong đếm được của hệ thống. Nó chỉ có thể được xác định bởi sự sắp xếp đơn vị và nguyên tắc của sự sắp xếp ấy.
Đây không phải là cách tiếp cận thông thường đối với hệ thống chính trị, ngay cả khi khái niệm cấu trúc vốn quen thuộc với các nhà nhân học, kinh tế học và cả những nhà chính trị học nào không nghiên cứu hệ thống chính trị nói chung mà chỉ các bộ phận của nó như đảng phái chính trị và bộ máy quan liêu. Khi định nghĩa cấu trúc, nhà nhân học không tìm hiểu về thói quen và các giá trị của người da đỏ và tù trưởng của họ, nhà kinh tế học không hỏi về phương thức tổ chức và tính hiệu quả của các công ty cụ thể và trao đổi giữa chúng; và nhà chính trị học không hỏi về tính cách và lợi ích của các cá nhân nắm giữ các vị trí khác nhau. Họ tạm gác tính chất, động cơ và tương tác giữa các chủ thể không phải vì những thứ đó không đáng bận tâm hay không quan trọng, mà vì họ muốn biết đặc tính, động cơ và tương tác của các đơn vị bộ lạc bị tác động như thế nào bởi cấu trúc bộ lạc, quyết định của công ty bị ảnh hưởng như thế nào bởi thị trường, và hành vi của con người bị biến đổi như thế nào bởi cương vị mà họ nắm giữ.
II.
Khái niệm cấu trúc dựa trên một thực tế là các đơn vị được sắp xếp và kết hợp một cách khác nhau sẽ có hành vi khác nhau và khi tương tác với nhau sẽ tạo ra nhiều hệ quả khác nhau. Đầu tiên tôi muốn chỉ ra cách định nghĩa cấu trúc chính trị nội địa. Trong một cuốn sách về lý thuyết chính trị quốc tế, cấu trúc chính trị nội địa vẫn cần được xem xét nhằm vạch rõ sự khác biệt giữa lĩnh vực nội địa và quốc tế. Thêm nữa, nghiên cứu cấu trúc nội địa sẽ giúp việc nghiên cứu cấu trúc quốc tế dễ dàng hơn ở các phần sau.
Cấu trúc xác định cách sắp xếp, hay sắp đặt, của thành phần hệ thống. Cấu trúc không phải là một tập hợp các thể chế chính trị mà là cách sắp xếp của chúng. Sắp xếp này được định nghĩa như thế nào? Hiến pháp của một nước mô tả một số thành phần của sắp xếp trên, nhưng cấu trúc chính trị mà Hiến pháp đó phát triển không hoàn toàn đồng nhất với các thiết chế chính thống. Khi định nghĩa cấu trúc, câu hỏi đầu tiên phải trả lời là: đâu là nguyên tắc sắp xếp các bộ phận của hệ thống?
Chính trị nội địa có một trật tự thứ bậc. Các đơn vị – thiết chế và cơ quan – có mối liên hệ theo chiều dọc (cấp trên-cấp dưới). Nguyên tắc sắp xếp của hệ thống cho ta thông tin cơ bản đầu tiên về mối tương quan giữa các bộ phận trong một lĩnh vực. Trong một thể chế chính trị mối quan hệ thứ bậc giữa các cơ quan không có cách nào ăn khớp với nhau hoàn toàn, cũng như không có cách nào xóa bỏ mọi sự mập mờ của mối quan hệ cấp trên – cấp dưới đó. Dù sao đi nữa, các chủ thể chính trị phân biệt với nhau theo mức độ thẩm quyền và có chức năng chuyên biệt. Tôi không nói “chuyên biệt” (specified) ở đây có nghĩa là pháp luật quy định đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan khác nhau, mà chỉ có nghĩa là tồn tại một sự thống nhất rộng rãi về nhiệm vụ của mỗi bộ phận chính phủ và quyền lực hợp pháp của chúng.
Theo đó Quốc hội cung cấp các lực lượng quân sự, còn Tổng thống chỉ huy các lực lượng đó. Quốc hội lập pháp, nhánh hành pháp thi hành pháp luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật, quan tòa diễn giải luật. Sự chuyên môn hóa vai trò và chức năng như vậy có thể thấy ở mọi quốc gia, quốc gia càng phát triển nó càng đầy đủ hơn.
Sự chuyên biệt hóa chức năng của các bộ phận khác nhau cho ta thông tin thứ hai về hệ thống. Thông tin thứ hai này bổ sung thêm nội dung cho cấu trúc, nhưng chỉ đủ để mô tả đầy đủ hơn mối tương quan giữa các đơn vị. Ví dụ, vai trò và chức năng của Thủ tướng Anh và Quốc hội khác với vai trò và chức năng của Tổng thống Mỹ và Quốc hội. Khi các cơ quan được sắp xếp và chức năng của chúng được kết hợp theo nhiều cách khác nhau sẽ dẫn đến hành vi và hệ quả khác nhau, như những gì tôi sẽ chứng minh ngắn gọn sau đây.
Vị trí của đơn vị trong tương quan với đơn vị khác không thể được mô tả đầy đủ bởi nguyên tắc sắp xếp hệ thống và sự chuyên biệt hóa của chúng. Vị trí của đơn vị còn thay đổi cùng với sự thay đổi trong tương quan sức mạnh giữa chúng. Trong khi thi hành chức năng, các cơ quan có thể mất đi hay giành được thêm quyền lực. Quan hệ giữa Thủ tướng với Quốc hội và Tổng thống với Quốc hội phụ thuộc vào, và thay đổi cùng, tương quan sức mạnh của họ. Vế thứ ba của định nghĩa cấu trúc thừa nhận rằng ngay cả khi chức năng không đổi đơn vị vẫn thay đổi vị trí tương quan với nhau do sự biến đổi tương quan sức mạnh giữa chúng.
Như vậy cấu trúc chính trị nội địa được định nghĩa: thứ nhất, theo nguyên tắc sắp xếp; thứ hai, theo chức năng chuyên biệt của các đơn vị khác nhau; và thứ ba, theo phân bổ sức mạnh giữa các đơn vị. Cấu trúc là một khái niệm có tính trừu tượng cao độ, nhưng định nghĩa cấu trúc không hề khái quát hóa từ bất cứ cái gì. Làm như vậy có nghĩa là bỏ qua tất cả mọi thứ và không tính đến thứ gì. Định nghĩa ba vế của cấu trúc chỉ bao hàm những gì cần thiết để chỉ ra cách thức sắp xếp và tổ chức các đơn vị của hệ thống. Những cái khác đều bị gạt sang một bên. Mối quan tâm tới truyền thống và văn hóa, phân tích đặc điểm và nhân cách chủ thể chính trị, bận tâm đến tiến trình hợp tác và xung đột chính trị, miêu tả việc hoạch định và thi hành chính sách – tất cả đều bị gác lại. Điều đó không có nghĩa chúng không quan trọng mà là do ta muốn chỉ ra tác động của cấu trúc lên tiến trình và của tiến trình lên cấu trúc. Điều này chỉ làm được khi cấu trúc và tiến trình được định nghĩa một cách tách bạch với nhau.
Cấu trúc chính trị tác động lên tiến trình chính trị, và có thể thấy rõ thông qua việc so sánh các hệ thống thể chế khác nhau. Ở Anh và ở Mỹ mối quan hệ giữa nhánh hành pháp và lập pháp là khác nhau. Ở Anh chúng nhập làm một; còn ở Mỹ chúng lại tách bạch và đối lập với nhau theo nhiều cách. Khác biệt trong phân bổ quyền lực và thẩm quyền giữa các cơ quan chính thức và phi chính thức tác động lên quyền lực của người đứng đầu mỗi nhánh và giúp giải thích cho sự khác biệt trong thẩm quyền của họ. Ở trên tôi đã chỉ ra các khác biệt về cấu trúc phản ánh sự khác biệt trong mô hình hành vi chính trị Mỹ và Anh như thế nào. Nhắc lại một số điểm chính sẽ cụ thể hóa các quan điểm trên đây. Tôi sẽ lấy ví dụ về lãnh đạo chính phủ và tập trung nhiều hơn vào nước Anh để có thể đi vào chi tiết nhiều hơn (1967a, tôi tập trung vào Chương 3 và Chương 11).
Thủ tướng được mô tả là, ít nhất là từ cuối thế kỷ 19, ngày càng có nhiều quyền lực hơn đến nỗi có thể không cần tham khảo Nghị viện hay thậm chí cả Nội các. Thủ tướng hiện nay có thể tự giải quyết các vấn đề hàng ngày, hoặc được cho là như vậy. Vậy ta phải tự hỏi tại sao các đời Thủ tướng ngày càng quyền lực như nói ở trên lại phản ứng chậm như thế với các sự kiện, thực hiện các chính sách không hiệu quả một cách lặp đi lặp lại như vậy, và nhìn chung là điều hành yếu kém.
Câu trả lời không nằm ở tính cách khác nhau của các Thủ tướng, ít nhất là đối với mô hình mà tôi áp dụng cho tất cả các đời Thủ tướng từ năm 1860, thời điểm tính đảng phái nổi lên như một đặc trưng mạnh mẽ của hệ thống chính trị Anh quốc. Thẩm quyền chính thức của Thủ tướng có vẻ to lớn, thế nhưng hành động của họ lại bị ràng buộc nhiều hơn so với Tổng thống Mỹ. Ràng buộc này bắt nguồn từ cấu trúc chính phủ, đặc biệt là từ mối quan hệ giữa thủ lĩnh đảng phái và đảng của mình. Ở đây có hai điểm đặc biệt quan trọng: cách thức lựa chọn lãnh đạo và tác động của yêu cầu phải quản lý đảng phái của mình một cách cẩn trọng.
Ở cả Anh và Mỹ, trực tiếp hay gián tiếp, lãnh đạo hành pháp được lựa chọn giữa lãnh đạo của hai đảng chính. Vậy lãnh đạo hai đảng được lựa chọn như thế nào? Một chính trị gia trở thành lãnh đạo đảng hay Thủ tướng dựa vào thời gian dài phục vụ trong Quốc hội, chứng minh năng lực qua các bước thành công trên nấc thang chính phủ, và chứng minh rằng có phẩm chất mà Hạ viện cho là cần thiết.
Thành viên của hai đảng phái chính trong Quốc hội quyết định xem ai sẽ leo lên vị trí cao nhất. Họ lựa chọn người mà sẽ lãnh đạo đảng khi đảng của họ thất cử và trở thành Thủ tướng khi thắng cử. Chính trị gia có khả năng trở thành Thủ tướng cần phải chứng minh được cho các thành viên đảng trong Nghị viện rằng mình đủ năng lực, đáng tin cậy và an toàn trong công việc. Các thành viên sẽ tìm kiếm một người qua thời gian đã cho thấy sẽ làm mất lòng ít nghị sĩ cùng đảng nhất. Với việc không giới hạn thời gian giữ cương vị Thủ tướng, các đảng viên sẽ ngần ngừ trong việc ủng hộ các ứng viên trẻ trung hơn, vì nếu một ứng viên như vậy thành Thủ tướng sẽ cản trở con đường tiến thân của các đảng viên khác trong hàng thập kỷ.
Giống như các quốc gia có thể chế ổn định, người Anh cũng đào tạo lãnh đạo của mình. Hệ thống của người Anh, khác với người Mỹ, có nhiều khả năng tạo ra các lãnh đạo không chỉ già hơn mà còn cẩn trọng và an toàn hơn. Kể từ Đạo luật Cải cách Thứ hai năm 1867, nước Anh đã có 20 Thủ tướng. Đời sống chính trị trung bình của họ là 62 năm. Thời gian công tác trung bình trong Nghị viện trước khi thành Thủ tướng là 28 năm, trong thời gian đó họ “học việc” với nhiều cương vị cao trong Nội các. Ở Anh con đường duy nhất trở thành Thủ tướng là kinh qua nấc thang bộ trưởng.[1]
Kể từ thời Nội chiến, Hoa Kỳ đã có 22 Tổng thống. Thời gian hoạt động chính trị trung bình 56 năm.[2] Vì Quốc hội không phải là con đường trực tiếp để trở thành lãnh đạo, việc so sánh hai hệ thống Anh và Mỹ ở đây không có tác dụng gì. Tuy nhiên, ta vẫn có thể nói rằng cương vị Tổng thống yêu cầu lĩnh vực kinh nghiệm rộng hơn, có khi là hoàn toàn không nằm trong địa hạt chính trị – như trường hợp của Tổng thống Grant và Eisenhower.
Cách thức tuyển chọn lãnh đạo của người Anh như trên tạo ra một ràng buộc trên phương diện tổng thể đối với quyền lực hành pháp. Thủ tướng, vốn có nhiều quyền lực, có thiên hướng cao tuổi và nhiều kinh nghiệm, có thể gọi là sự thông thái tinh tế nếu bạn muốn, khiến việc thi hành quyền lực một cách cưỡng chế và hà khắc là không thể. Điều này giải thích cho đặc điểm chung của các Thủ tướng Anh nhiều hơn là tính cách điển hình của người Anh vốn phần lớn không thích hợp cho sự cam kết về ý thức hệ và phong cách chính trị thực dụng.
Giới hạn đối với Thủ tướng do quá trình bầu chọn mang lại vừa quan trọng lại vừa tinh vi, khó nắm bắt và thường bị coi nhẹ. Đây cũng chính là đặc điểm ràng buộc đối với Thủ tướng bắt nguồn từ quan hệ của ông ta với chính đảng của mình và với Quốc hội, nơi sức mạnh của Thủ tướng thường được xem là lớn nhất.
Tình hình ở Anh và Mỹ có thể được tóm lược như sau: Tổng thống (Mỹ) có thể lãnh đạo nhưng gặp khó khăn trong việc lôi kéo đảng mình đi theo; Thủ tướng (Anh) có chính đảng theo sau nhưng với điều kiện ông ta không quá rời xa đảng phái của mình, nếu không muốn gặp khó khăn trong việc lãnh đạo. Nghệ thuật cần thiết đối với một Thủ tướng là làm thế nào điều hành đảng của mình sao cho tránh được việc mọi người bất tuân hay một số ít nào đó phản kháng, nếu như số ít hơn này quan trọng, thay vì trừng phạt sau khi việc các nghị sĩ trong đảng “làm loạn” đã xảy ra. Trong đa số trường hợp các Thủ tướng không lo lắng về việc một số thành viên trong đảng bất tuân lệnh của mình bằng việc sự ủng hộ thật sự và hữu hiệu đối với mình bị giảm đi trong những năm giữa hai cuộc tổng tuyển cử, đó là những gì đã xảy đến với Churchill và Macmillan trong nhiệm kỳ cuối cùng và rõ ràng hơn đối với Eden và Heath.
Thật sai lầm khi cho rằng đảng đa số trong Quốc hội chỉ kìm hãm chính phủ khi nội bộ đảng chia rẽ và rằng Thủ tướng phải đối mặt với một phe đối lập thống nhất và cứng rắn, vì đảng phái không bao giờ là một khối đồng nhất. Một chính đảng được tổ chức tốt sẽ có vẻ gần như ngoan ngoãn nghe lời, thế nhưng nghệ thuật quản lý khó mà nắm vững được (để đạt được điều này). Một Thủ tướng hay lãnh đạo đảng có năng lực tránh sự bất đồng, nếu có thể, bằng cách đề phòng trước: thỏa thuận nhượng bộ, trì hoãn các vấn đề tranh cãi. Nếu chúng ta nghĩ rằng hai chính đảng như hai đội quân hành động ngoan ngoãn theo lệnh của chỉ huy, thì chúng ta không chỉ không rõ lịch sử mà còn bỏ qua các toan tính bên dưới lớp vỏ tập hợp nhóm và phối hợp hành động, dù cho nhóm đó có là một đội quân, một đội bóng đá hay một đảng phái chính trị.
Thủ tướng có thể tin tưởng vào sự ủng hộ từ chính đảng của mình, nhưng chỉ trong giới hạn mà tập thể đảng phái thiết lập nên. Thủ tướng chỉ có thể yêu cầu những gì mà chính đảng có thể chấp nhận. Ông ta không thể ra lệnh: “Công đoàn phải bị trừng trị”. Ông không thể nói: “Nền công nghiệp phải được tối ưu hóa”. Ông không thể tuyên bố như vậy, cho dù ông có thật sự tin tưởng điều đó đi chăng nữa. Ông chỉ có thể có một đường lối lãnh đạo táo bạo khi chắc chắn rằng đảng của mình sẽ tập hợp xung quanh ông mà không có sự ly khai lớn nào. Nhưng tại thời điểm mà Thủ tướng chắc chắn có được sự ủng hộ như vậy thì không còn đường lối lãnh đạo nào là táo bạo cả. Người ta chỉ có thể làm một Thủ tướng táo bạo với cái giá là trở thành một lãnh đạo đảng phái tồi. “Chính đảng cần được điều hành tốt, và người làm điều đó tốt nhất có thể sẽ là lãnh đạo đảng tốt nhất. Các nhiệm vụ đi kèm về lập pháp và điều hành cơ quan hành pháp có thể nằm trong tay những nhà chính trị kém sắc sảo hơn.”[3] Đó cũng chính là nhận xét của Anthony Trollope về sự nghiệp của Sir Timothy Beeswax, một lãnh đạo đảng phái có kỹ năng gần như ma thuật (1880, III, tr. 169; xem thêm I, tr. 216). Vai trò lãnh đạo đất nước và vai trò lãnh đạo đảng phái dễ xung đột với nhau. Đó là do thiếu vắng một hệ thống cân bằng quyền lực như của Mỹ. Vì chính đảng cầm quyền thi hành theo lời nói của lãnh đạo đảng, vị lãnh đạo đó phải cân nhắc lời lẽ của mình.
Vấn đề về lãnh đạo cộng với nhân tố đào tạo kể trên là những đặc điểm chính của chính trị Anh quốc. Thủ tướng phải giữ vững sự đoàn kết trong nội bộ đảng của mình, vì ông ta không thể duy trì vị thế lãnh đạo bằng cách xây dựng nhiều nhóm đa số khác nhau để ủng hộ từng vấn đề khác nhau. Thủ tướng phải luôn là một lựa chọn chấp nhận được cho đảng của mình. Trong hệ thống chính trị của Anh, Thủ tướng buộc phải tìm kiếm sự ủng hộ từ toàn thể chính đảng của mình, với cái giá là sự thu hẹp tự do hành động. Ông ta bắt buộc phải luồn lách một cách cẩn trọng, để mặc cho tình hình tiến triển đến mức sự cấp thiếp phải có quyết định quan trọng hơn việc tranh cãi nên quyết định như thế nào. Đặc tính của người lãnh đạo được xây dựng trong hệ thống. Thủ tướng Anh điển hình là một lãnh đạo đất nước yếu nhưng lại là một nhà quản lý chính đảng bậc thầy – một điều kiện bắt buộc để ông ta có thể leo cao trên bậc thang quyền lực và duy trì quyền lực.
Ngược lại hãy cùng xem xét vị trí Tổng thống của Mỹ. Vì chức danh này không cần một đa số ủng hộ trong Nghị viện, vì chính sách của Tổng thống có thể không được thông qua nhưng Tổng thống vẫn tại vị, và vì sự đối lập là lẽ thường và được chấp nhận trong hệ thống, nên Tổng thống được khuyến khích đòi hỏi những gì mà vào thời điểm đó có thể không được đáp ứng. Tổng thống được mong đợi là sẽ thông tin và giải thích [cho Quốc hội] hiểu rằng đạo luật mà Quốc hội phản đối hiện tại chính là lợi ích quốc gia. Thật vậy, Tổng thống có thể đòi hỏi nhiều hơn những gì mong muốn, với hy vọng rằng chỉ cần đạt được một nửa yêu cầu ngoài mặt là đủ đáp ứng nhu cầu thực tế của mình. Khoảng cách giữa lời nói và việc làm, giữa yêu cầu của Tổng thống và đáp ứng của Quốc hội do đó thường là giả tạo. Thủ tướng Anh đạt được tất cả những gì đòi hỏi, thế nhưng các bộ luật kinh tế và xã hội chủ chốt của quốc gia này thường được xây dựng trong thời gian dài. Tổng thống Mỹ thường đòi hỏi những gì không thể đạt được, thế nhưng việc lập pháp không hề chậm hơn và chính phủ Mỹ không hề kém linh hoạt và không phản ứng chậm hơn chính phủ Anh.
Vẻ ngoài thường lừa dối chúng ta. Thủ tướng Anh được cho là một lãnh đạo mạnh mẽ vì rằng về mặt công khai ông ta không thể nào bị chống đối. Tuy nhiên, việc hợp nhất quyền lưc [lập pháp và hành pháp] khiến Thủ tướng phải đặt mục tiêu giữ vững khối thống nhất đảng phái lên trên lợi ích chung và việc đảng phái chịu trách nhiệm chính trong con mắt cử tri khiến chính phủ trở nên vô trách nhiệm đối với các yêu cầu của đất nước. “Một con người của công chúng phải gánh trách nhiệm”, như lời một nhân vật trong tác phẩm của Disraeli đã nói, “và một con người có trách nhiệm là một nô lệ” (1880, tr. 156). Gánh vác trách nhiệm là phải hiện diện nhiều trước công chúng. Ở Mỹ, ở một vài khía cạnh Quốc hội làm giảm sự chú ý vào Tổng thống; tại Anh công chúng chỉ tập trung chú ý đến hoạt động của Thủ tướng. Dù đúng dù sai Thủ tướng vẫn chịu trách nhiệm về sự vững mạnh của chính thể. Trách nhiệm được tập trung nhiều hơn là phân tán. Một lãnh đạo mang vác trọng trách phải sử dụng khéo léo quyền lực của mình; cái giá của việc chủ trương một chính sách đầy rủi ro và không được thông qua sẽ đổ hết lên đầu ông ta.
Người Mỹ, vốn quen với một Tổng thống đầy sức mạnh, thường chỉ nhìn thấy các giới hạn đặt ra bởi thể chế mà xem nhẹ các ràng buộc cấu trúc đối với chính phủ Anh. Thật ra đối với hai nước từ “lãnh đạo” có nghĩa khác nhau: ở Mỹ có nghĩa là người đủ sức mạnh nắm giữ vai trò Tổng thống; ở Anh có nghĩa là ý chí của Thủ tướng trở thành luật pháp. Nói ý chí Thủ tướng trở thành luật pháp không có nghĩa là hệ thống của Anh cũng có một lãnh đạo mạnh mẽ như của Mỹ; thật ra mọi thứ phụ thuộc vào tính cách của lãnh đạo và các ràng buộc giới hạn quyết định của ông ta. Hệ thống của Anh bảo đảm rằng lãnh đạo có tính ôn hòa và hành động đúng đắn. Ta không thể nhận thấy điều này nếu chỉ quan sát tiến trình chính trị. Đầu tiên ta phải tìm ra mối liên hệ giữa cấu trúc với tiến trình, cách thức các thiết chế được phân định vai trò và kết hợp với nhau. Quyền lực được tập trung trong tay Thủ tướng nhưng đi kèm với một cơ chế kiểm soát tuy không chính thức nhưng mạnh mẽ đối với việc sử dụng quyền lực một cách quá đà: hệ thống đào tạo các nghị viên thành lãnh đạo; ràng buộc tinh vi của đảng phái đối với Thủ tướng; thói quen, được khuyến khích bởi thể chế, hành động chậm rãi và cẩn trọng đối với các sự kiện và tạm hoãn các thay đổi chính sách cho đến khi nào sự cần thiết của chúng được chấp nhận rộng rãi.
Tính bền vững của mẫu hình trên qua nhiều thập kỷ thật đáng ngạc nhiên. Hãy nhớ lại các đời Thủ tướng Anh kể từ thế kỷ 20: Balfour, Campbell-Bannerman, Asquith, Lloyd George, Bonar Law, Baldwin, Mac-Donald, Chamberlain, Churchill, Attlee, Eden, Macmillan, Home, Wilson, Heath và Callaghan. Chỉ có hai người không tuân theo mô hình truyền thống – Lloyd George và Winston Churchill. Cả hai đều tham gia Hạ viện trong thời gian dài, đều leo cao trên nấc thang quyền lực theo cách riêng. Cả hai đều chịu quy trình đào tạo của hệ thống nhưng đều không bị biến đổi con người mình. Lẽ ra trông hoàn cảnh thông thường thì cả hai sẽ bị coi ít nhất là không an toàn và nhiều nhất là nguy hiểm bởi một số đủ đông thành viên trong đảng khiến họ không thể trở thành lãnh đạo. Nhiều nghị viên cho rằng cả hai không phù hợp để cân bằng lợi ích của nhiều nhóm trong đảng, để phân phát thỏa đáng các chức danh bộ trưởng cho những người xứng đáng, và để tỏ ra tôn trọng một cách lịch thiệp ý kiến của những nhóm khác dẫu cho ý kiến đấy có tồi như thế nào đi nữa.
Một vài nhận xét về Winston Churchill sẽ chứng minh cho ý kiến của tôi. Là thành viên Quốc hội từ năm 1900 và kinh qua nhiều chức bộ trưởng hơn bất kỳ chính trị gia nào trong lịch sử Anh quốc, Churchill được đánh giá cao cho chức Thủ tướng. Nhưng ông lại là một chính trị gia độc lập trong phần lớn sự nghiệp của mình. Thuộc đảng Bảo thủ trong những năm đầu cuộc đời chính trị, ông chuyển sang đảng Tự do năm 1906 và không quay lại phe Bảo thủ cho đến giữa những năm 1920. Trong những năm 1930, Churchill bất đồng với chính đảng của mình trong phần lớn các chính sách quốc gia, đầu tiên là về vấn đề Ấn Độ và các vấn đề châu Âu. Phải có một cuộc khủng hoảng đủ lớn khiến lợi ích của đảng phái trùng với lợi ích quốc gia để có thể đưa ông trở thành Thủ tướng. Cuộc khủng hoảng khiến Churchill trở thành lãnh đạo, do tính chất đặc biệt của nó, làm cho quy trình thông thường rõ ràng không thể áp dụng được. Ngoại lệ có thể xảy ra nhưng phải trong hoàn cảnh khủng hoảng trầm trọng. Để một người nằm ngoài quy trình thông thường có thể thành công không phải là điều dễ dàng.
Cấu trúc chính trị tạo ra các tiến trình và hành vi tương tự chừng nào cấu trúc còn được duy trì. Tương tự ở đây không có nghĩa là đồng nhất. Cấu trúc là một nguyên nhân, nhưng không phải nguyên nhân duy nhất. Làm sao ta nhận biết được một hiệu ứng quan sát được là do cấu trúc chính trị quốc gia tạo ra chứ không phải là do tác động của các chủ thể chính trị, do thay đổi từ môi trường phi chính trị và do một số các nhân tố khác? Làm thế nào để tách biệt nguyên nhân cấu trúc khỏi các nguyên nhân khác? Ta có thể làm như vậy bằng cách mở rộng phương pháp so sánh mà tôi đang sử dụng. Hãy xem xét hành vi khi cấu trúc chính trị Anh quốc thay đổi. Hãy phân biệt hành vi của Công Đảng khi là phe đối lập với hành vi của Công Đảng khi cầm quyền. Khi ở thế đối lập, với quyền lực được cân bằng, các hành vi chính trị lại tương tự một cách đáng ngạc nhiên với những gì diễn ra ở Mỹ. Đối diện với xung đột và bất đồng công khai, lãnh đạo đảng được khuyến khích điều hành, tận dụng dư địa và tìm kiếm thỏa hiệp, thiết lập đường lối chính sách, hô hào và thuyết phục, đe dọa và lôi kéo, giải thích và giáo dục … với hy vọng rằng các bộ phận trong đảng – Ủy ban điều hành quốc gia, các công đoàn, các khu vực bầu cử, cũng như các đảng viên trong Quốc hội – sẽ ủng hộ mình.
Trong một quốc gia ta có thể nhận biết tác động cấu trúc thông qua khác biệt về hành vi trong các bộ phận cấu trúc khác nhau của chính thể. Trên bình diện quốc tế ta có thể nhận biết tác động cấu trúc thông qua sự tương tự trong hành vi của các chính thể có cấu trúc tương tự nhau. Theo đó các mô tả của Chihiro Hosoya về hành vi của Thủ tướng Nhật trong chính thể nghị viện Nhật Bản hậu chiến hoàn toàn phù hợp với hành vi của Thủ tướng Anh (1974, tr. 366-369). Bất chấp các khác biệt văn hóa và nhiều mặt khác, các cấu trúc giống nhau có tác động tương tự nhau.

————-
[1] Trường hợp ngoại lệ, vốn cũng không đi ngược lại nguyên tắc kể trên, là của Ramsay MacDonald, người không có mặt trong liên minh thời chiến và đảng của ông chưa từng nắm quyền lực, bản thân ông cũng chưa từng giữ chức Bộ trưởng.
[2] Tính tới thời điểm tháng 7/1978.
[3] Trên một vài khía cạnh suốt một thế kỷ có ít sự thay đổi. Mặc cho nhiều lời bình luận khó chịu về Callaghan từ Crossman, Wilson và một số người khác, Crossman cho rằng Callaghan “chắc chắn là chính trị gia tài năng nhất của Công Đảng”; và rõ ràng là nhờ vậy mà Callaghan được Wilson giúp đỡ kế vị chức Thủ tướng của mình. (1977, III, 627-628 và các trang khác).

Chiến tranh là một công cụ của chính sách


Nguồn: Carl von Clausewitz (2007). “War is an Instrument of Policy”, in C. v. Clausewitz, On War, translated by Michael Howard & Peter Paret (Oxford: Oxford University Press), pp. 252-258. 
Biên dịch: Phạm Trang Nhung | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Đến nay chúng ta đã xem xét sự không tương hợp giữa chiến tranh và mọi mối quan tâm khác của con người, dù là về mặt cá nhân hay xã hội – một sự khác biệt xuất phát từ bản chất của con người, và do vậy không có triết lý nào có thể giải quyết. Chúng ta đã khảo sát sự không tương hợp này từ nhiều góc độ do đó không có bất kì yếu tố mâu thuẫn nào của nó còn bị bỏ sót. Bây giờ chúng ta phải tìm ra sự thống nhất mà những yếu tố mâu thuẫn này kết hợp nên trong đời thực, cái mà chúng thực hiện được một phần thông qua việc vô hiệu hóa, bổ sung lẫn nhau. Chúng ta đáng lẽ ra đã đề xuất sự thống nhất ấy ngay từ đầu nếu như không cần thiết phải nhấn mạnh các mâu thuẫn đó một cách rõ ràng nhất có thể và xem xét từng yếu tố khác nhau một cách riêng biệt. Sự thống nhất này nằm trong ý niệm rằng chiến tranh chỉ là một nhánh của hoạt động chính trị; rằng nó không hề độc lập theo bất cứ nghĩa nào.
Tất nhiên, người ta biết rõ rằng nguồn gốc duy nhất của chiến tranh là chính trị – mối quan hệ của các chính phủ và dân tộc; nhưng người ta dễ có xu hướng nhận định rằng chiến tranh đình chỉ loại giao thiệp đó và thay thế nó bằng một thứ tình cảnh hoàn toàn khác được điều chỉnh không bởi bất cứ luật lệ nào khác ngoại trừ luật lệ của chính nó.
Ngược lại, chúng ta cũng cho rằng chiến tranh đơn thuần là sự tiếp diễn của các quan hệ chính trị, với sự bổ sung của các phương tiện khác. Chúng ta cố ý sử dụng cụm từ “với sự bổ sung của các phương tiện khác” bởi vì chúng ta cũng muốn làm rõ rằng chiến tranh tự thân nó không chấm dứt các quan hệ chính trị hay thay đổi nó thành một thứ hoàn toàn khác biệt. Thực chất mối quan hệ đó vẫn tiếp diễn, bất luận nó sử dụng những phương tiện gì. Con đường phát triển chính của các sự kiện quân sự, và cũng là giới hạn chúng bị kiềm chế, là các con đường chính trị kéo dài qua cả cuộc chiến tranh đến tận thời kì hòa bình sau đó. Liệu có thể khác không? Liệu các quan hệ chính trị giữa các dân tộc và giữa các chính phủ của họ có ngừng lại khi người ta không còn trao đổi các công hàm ngoại giao không? Chẳng phải chiến tranh chỉ là một cách khác để các chính phủ biểu đạt suy nghĩ của mình, thông qua một cách nói hay cách viết khác sao? Thực sự thì, văn phạm (tức hình thức -NHĐ) của chiến tranh có thể là của riêng nó, nhưng logic (tức lý do dẫn tới chiến tranh) của nó lại không phải vậy.
Nếu vậy, chiến tranh không thể bị tách rời khỏi đời sống chính trị; và bất cứ khi nào chúng ta tách rời chúng trong suy nghĩ của mình về chiến tranh, thì nhiều mối quan hệ gắn kết hai yếu tố này sẽ bị phá hủy và chiến tranh chỉ còn là một điều gì đó vô dụng và vô nghĩa.
Quan điểm này là không thể tránh khỏi ngay cả khi chiến tranh là chiến tranh tổng lực,[1] khi mọi yếu tố thù địch thuần khiết nhất được thể hiện. Và mọi yếu tố tạo nên chiến tranh và quyết định các đặc trưng điển hình của nó – sức mạnh và đồng minh của mỗi địch thủ, tính cách của các dân tộc và chính phủ của họ, vv.., tất cả các yếu tố đã được liệt kê trong chương đầu tiên của Quyển 1 – chẳng phải tất cả chúng đều hoàn toàn mang tính chính trị, liên quan chặt chẽ với các hoạt động chính trị đến mức không thể chia tách sao? Nhưng điều thậm chí quan trọng hơn là ghi nhớ điều này khi nghiên cứu thực tiễn. Như thế chúng ta sẽ phát hiện ra rằng chiến tranh sẽ không liên tục tiến tới mức tuyệt đối, như lý thuyết nói. Vừa thiếu hoàn thiện vừa tự mâu thuẫn, nó không thể tuân theo các luật lệ của chính mình, mà cần phải được coi như một phần của một tổng thể khác, đó là chính sách.
Khi sử dụng chiến tranh, chính sách lảng tránh mọi kết cục hà khắc xuất phát từ bản chất của chiến tranh, rất ít bận tâm về các khả năng tối hậu mà chỉ quan tâm tới những gì có thể xảy ra tức thì. Mặc dù điều này làm cho toàn bộ vấn đề [chiến tranh] trở nên không chắc chắn hơn nhiều, biến nó thành một dạng trò chơi [may rủi], thì mỗi chính phủ vẫn luôn tự tin rằng nó có thể vượt qua kẻ thù bằng kĩ năng và sự khôn ngoan, nhạy bén.
Do vậy chính sách chuyển đổi yếu tố mang tính phá hủy áp đảo của chiến tranh thành một dạng công cụ đơn thuần. Nó thay đổi thanh gươm ra trận mà một người cần cả hai tay và toàn bộ sức mạnh để điều khiển, và một thứ mà anh ta chỉ có thể đánh trúng mục tiêu một lần duy nhất, thành một thanh trường kiếm nhẹ, dễ cầm – đôi khi chỉ là một lá kim loại để thực hiện những nhát đâm, những đòn nhử và các cú gạt.
Vì vậy sự mâu thuẫn mà trong đó chiến tranh kéo thứ sinh vật nhút nhát bản năng là con người vào, được giải quyết; nếu đó là cách giải quyết mà chúng ta muốn chấp nhận.
Nếu chiến tranh là một phần của chính sách, chính sách sẽ quyết định đặc điểm của nó. Khi chính sách trở nên tham vọng và mạnh mẽ hơn thì chiến tranh cũng vậy và điều này có thể đạt đến điểm mà ở đó chiến tranh đạt tới dạng tuyệt đối của nó. Nếu chúng ta nhìn vào chiến tranh theo hướng này, chúng ta không cần phải bỏ qua thể tuyệt đối đó: ngược lại, chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ nó.
Chỉ khi chiến tranh được nhìn nhận theo cách này thì sự thống nhất của nó mới tái xuất hiện; chỉ khi đó chúng ta mới có thể nhìn thấy rằng mọi cuộc chiến đều có bản chất giống nhau; và chỉ điều này thôi mới mang lại tiêu chuẩn đúng đắn cho việc hiểu và đánh giá các ý đồ lớn.
Tất nhiên, chính sách sẽ không mở rộng ảnh hưởng của mình đến các chi tiết trong hành động tác chiến. Các tính toán chính trị không xác định vị trí trạm gác hay việc đi tuần tra. Nhưng chúng có ảnh hưởng nhiều hơn trong việc hoạch định chiến tranh, chiến dịch và thường là cả các trận đánh.
Đó là lý do mà vì sao chúng ta không cần vội vàng đưa ra quan điểm này ngay từ đầu. Ở giai đoạn nghiên cứu chi tiết nó chẳng có mấy ích lợi và có thể gây phân tâm. Nhưng khi các kế hoạch cho một cuộc chiến tranh hay một chiến dịch được nghiên cứu, thì quan điểm này là không thể thiếu được.
Không có gì quan trọng hơn trên đời là tìm được lập trường đúng đắn để quan sát và đánh giá các sự kiện, và rồi trung thành tuyệt đối với nó. Một điểm nhìn và chỉ một điểm nhìn duy nhất có được góc quan sát tổng thể đối với tất cả hiện tượng; và chỉ bằng cách giữ vững quan điểm đó người ta mới có thể tránh được sự thiếu nhất quán.
Nếu việc hoạch định một cuộc chiến không cho phép có một quan điểm nước đôi hay đa diện – nghĩa là, đầu tiên phải sử dụng nhãn quan quân sự, sau đó là nhãn quan quản lý, rồi tới nhãn quan chính trị, và cứ thế – câu hỏi đặt ra là liệu chinh sách có cần phải được ưu tiên trước mọi thứ khác không?
Có thể nói người ta đồng ý rằng mục tiêu của chính sách là hợp nhất và điều hòa tất cả các khía cạnh của quản lý nội bộ cũng như các giá trị tinh thần, và bất cứ cái gì khác mà những nhà luân lý có thể quan tâm thêm vào. Tất nhiên, bản thân chính sách chẳng là gì cả; nó chỉ đơn thuần là nơi người ta ủy thác mọi lợi ích đối nghịch với các nước khác. Chuyện nó có thể sai lầm, phục vụ cho các tham vọng, các lợi ích cá nhân và sự phù hoa của những người nắm quyền, không hề có ở bất kì đâu. Nghệ thuật chiến tranh không thể được coi là bà đỡ của chính sách theo bất cứ nghĩa nào, mà ở đây chúng ta phải coi chính sách là đại diện cho toàn bộ lợi ích của cộng đồng.
Do đó, câu hỏi duy nhất là liệu khi chiến tranh đang được lên kế hoạch thì quan điểm chính trị có nên nhường đường cho quan điểm quân sự thuần túy (nếu thực sự quan điểm quân sự thuần túy là có thể đáng tin cậy): có nghĩa là, liệu nó có nên hoàn toàn biến mất hay chỉ giữ tầm quan trọng thứ yếu so với quan điểm quân sự, hay quan điểm chính trị nên đóng vai trò chủ đạo và quan điểm quân sự lệ thuộc vào nó?
Ý tưởng rằng nên hoàn toàn không tính tới quan điểm chính trị khi chiến tranh nổ ra khó có thể tưởng tượng được trừ phi sự căm ghét tột cùng đã khiến tất cả các cuộc chiến trở thành một cuộc đấu tranh giữa sự sống và cái chết. Thực tế, như chúng ta đã nói, chiến tranh chẳng là gì khác ngoài là sự biểu hiện của chính sách. Việc hạ tầm quan trọng của quan điểm chính trị so với quan điểm quân sự sẽ là phi lý, bởi vì chính sách sản sinh ra chiến tranh. Chính sách là tư tưởng điều khiển và chiến tranh chỉ là công cụ, không phải ngược lại. Do đó, không có khả năng nào khác tồn tại ngoài việc đưa quan điểm quân sự phụ thuộc vào quan điểm chính trị.
Nếu chúng ta nhớ lại bản chất của chiến tranh thực sự, nếu chúng ta nhớ đến lập luận trong chương 3 ở trên – rằng bản chất có thể có và định dạng tổng quát của bất kì cuộc chiến tranh nào cũng nên được đánh giá chủ yếu dưới ánh sáng của các yếu tố và điều kiện chính trị - và rằng chiến tranh thường nên (thực ra ngày nay người ta có thể nói là thông thường) được hiểu như là một tổng thể hữu cơ với các bộ phận không thể tách rời, thì mỗi một hành động riêng lẻ vốn khởi nguồn từ khái niệm trung tâm [tức chiến tranh] sẽ đóng góp vào tổng thể này. Do đó, hoàn toàn rõ ràng và chắc chắn rằng lập trường tối cao đối với việc tiến hành chiến tranh cũng như quan niệm quyết định phương hướng hành động chính của chiến tranh chỉ có thể là lập trường của chính sách.
Chính là từ quan niệm này mà các kế hoạch được hình thành từ một khuôn mẫu, như đã từng xảy ra trong quá khứ. Theo đó, các đánh giá và hiểu biết dễ đạt được hơn và tự nhiên hơn, niềm tin được tăng thêm sức mạnh, động cơ được tăng thêm niềm tin, và lịch sử được tăng thêm ý nghĩa.
Lại cũng từ quan điểm này, không nhất thiết phải có xung đột nào nảy sinh giữa các lợi ích chính trị và quân sự – điều đó hoàn toàn không phải do bản chất của chiến tranh– và nếu điều đó có xảy ra thì đó chẳng qua chỉ là biểu hiện của sự thấu hiểu chưa đầy đủ. Người ta có thể nghĩ rằng chính sách có thể đặt ra những yêu cầu đối với chiến tranh mà chiến tranh không thể thực thi; nhưng giả thuyết này sẽ thách thức giả định tự nhiên và tất yếu rằng chính sách biết rõ công cụ mà nó định dùng. Nếu chính sách có thể nhìn nhận đường hướng của các sự kiện quân sự một cách chính xác, nó có quyền hoàn toàn và tuyệt đối trong việc quyết định sự kiện và khuynh hướng nào là tốt nhất đối với các mục đích của cuộc chiến.
Nói ngắn gọn, ở cấp độ cao nhất, nghệ thuật chiến tranh chuyển thành chính sách – nhưng đó là một chính sách được thực thi bởi các trận chiến thực thụ chứ không phải bằng các công hàm ngoại giao.
Bây giờ chúng ta có thể thấy việc quả quyết rằng một sự diễn tiến lớn về quân sự, hay một kế hoạch làm như vậy, nên là một vấn đề đối với quan điểm quân sự thuần túy là không thể chấp nhận được và có thể có hại. Cũng không thực sự là khôn ngoan khi triệu tập binh sĩ, như nhiều chính phủ đã làm khi họ đang lên kế hoạch cho một cuộc chiến tranh, và đề nghị họ đưa ra lời khuyên thuần túy quân sự. Nhưng còn vô lý hơn khi các lý thuyết gia quả quyết rằng mọi nguồn lực quân sự sẵn có nên được đặt vào tay của người chỉ huy mà dựa vào đó anh ta có thể đề ra những kế hoạch thuần túy quân sự cho một cuộc chiến tranh hay một chiến dịch. Trong bất kì trường hợp nào, kinh nghiệm phổ biến cho thấy rằng bất chấp sự đa dạng và phát triển vô cùng của chiến tranh hiện đại thì các phương hướng chủ đạo của nó vẫn được đề ra bởi các chính phủ; nói cách khác, nếu muốn xét về mặt kỹ thuật, là bởi một cơ quan chính trị thuần túy chứ không phải là một cơ quan quân sự.
Đây chính là điều nên xảy ra. Không có đề xuất lớn cần thiết cho chiến tranh nào có thể có hiệu quả khi bỏ qua các yếu tố chính trị; và khi mọi người nói, như họ vẫn thường làm, về ảnh hưởng có hại của chính trị lên việc quản lý chiến tranh, họ không thực sự có ý nói như thế. Cuộc tranh cãi của họ nên là về bản thân chính sách, chứ không phải là về ảnh hưởng của nó. Nếu chính sách là đúng – tức là thành công – thì bất cứ tác động có chủ đích nào mà nó có đối với việc tiến hành chiến tranh chỉ có thể đi theo hướng tốt. Nếu nó có ảnh hưởng ngược lại thì bản thân chính sách này đã sai lầm.
Chỉ khi nào các chính khách viện đến các động thái và hành động quân sự cụ thể để tạo ra các hiệu ứng khác xa với bản chất của chúng thì các quyết định chính trị mới ảnh hưởng xấu tới hành động quân sự. Cũng giống như một người chưa hoàn toàn làm chủ một ngoại ngữ đôi khi không thể biểu đạt mình một cách chính xác, các chính khách thường đưa ra các mệnh lệnh làm thất bại mục đích mà họ muốn thực hiện. Điều này đã xảy ra nhiều lần, chứng minh rằng việc nắm bắt cụ thể các vấn đề quân sự là tối quan trọng đối với những người chịu trách nhiệm về chính sách chung.
Trước khi tiếp tục, chúng ta phải tránh một sự hiểu lầm thường xảy ra. Chúng ta còn lâu mới tin rằng một bộ trưởng chiến tranh ngập đầu trong hồ sơ giấy tờ, một vị chuyên gia cố vấn [quân sự] uyên bác hay thậm chí là một người lính có kinh nghiệm sẽ chỉ cần dựa vào kinh nghiệm cụ thể của họ là đã có thể trở thành người làm chính sách tốt nhất – và luôn luôn nghĩ rằng bậc quân vương không kiểm soát được tình hình [như anh ta]. Không phải thế. Cái cần thiết ở vị trí này là trí tuệ xuất chúng và tính cách kiên cường. Anh ta luôn luôn có thể có được thông tin quân sự cần thiết bằng cách này hay cách khác. Các quan hệ chính trị và quân sự của nước Pháp chưa bao giờ ở vào thế tệ hơn so với thời anh em Belle-Isle[2] và Công tước Choiseul[3] chịu trách nhiệm này – mặc dù họ luôn là những chiến binh giỏi.
…..


[1] Từ “chiến tranh tổng lực” được nhiều dịch giả đồng ý chọn, không phản ánh cách nghĩ của Clausewitz: ông đã không nghĩ đến Chiến tranh tổng lực diệt chủng, trong thế kỉ 20, như được xác định bởi Ludenforff chẳng hạn. Nguyên văn có thể được dịch đúng hơn là “nếu chiến tranh trở thành chiến tranh hoàn toàn”, ví dụ như, không có các giới hạn về chính trị và các yếu tố khác.
[2] Charles-Louis-Auguste Fouquet, Công tước xứ Belle-Isle (1684-1761), thống chế người Pháp, là Bộ trưởng Chiến tranh dưới thời Louis XV, và em trai ông là Louis Charles Armand của Belle-Isle ( 1693-1746); cả hai đều có vai trò cực lớn trong lịch sử quân sự Pháp dưới chế độ cũ (Ancien Regime).
[3] Etienne Francois, Công tước vùng Choiseul, Hầu tước vùng Stainville (1719-1785), chính khách Pháp, Bộ trưởng Ngoại giao, và sau đó là Bộ trưởng Chiến tranh dưới thời Louis XV.
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2013/07/18/war-instrument-policy/#sthash.3s7z0VpI.dpuf

Ý Thức Hệ

I.               Khái niệm ý thức hệ.
   Đến nay, sự hiễu biết của loài người trong lĩnh vực khoa học nhân văn vẫn còn quá ít, có nhiều khái niệm trừu tượng chưa được thống nhất về mặt ngữ nghĩa như: tự do, dân chủ, công bằng, bác ái, ý thức hệ v.v…Trong đó, ý thức hệ là một thuật ngữ chưa được tìm hiểu cặn kẽ để giải nghĩa một cách nghiêm chỉnh. Nhiều người luôn nhầm lẫn giữa ý thức hệ và hệ ý thức hay hệ tư tưởng là một hệ thống các quan điểm chính trị, xã hội (như hệ thống tư tưởng triết học-kinh tế- chính trị Marx-Lenin). Trong bài hôm nay, chúng ta cần xác định lại ý nghĩa đúng đắn của: ý thức hệ.


-                      Ý thức xã hội thiết lập và ràng buộc con người trong mối liên hệ vật chất và tinh thần. Một vấn đề trong xã hội có một giá trị được cộng đồng thừa nhận: 9x9 = 81, giá trị đồng tiền, món hàng v.v… Sự thống nhất ý thức nhiều vấn đề ở nhiều lĩnh vực khác nhau hợp thành hệ thống các giá trị của đại bộ phận xã hội đại diện cho ý thức xã hội của một quốc gia, gọi là ý thức hệ:
 
  Ý thức hệ thiết lập hệ thống giá trị toàn diện và chủ đạo bao gồm mọi lĩnh vực: triết học, chính trị, kinh tế, tôn giáo, luật pháp, xã hội, văn hóa, nghệ thuât v.v...làm nền tảng tư tưởng hướng dẫn các sinh hoạt của cộng đồng và thành lập các thiết chế xã hội tương ứng như: nhà nước, đảng phái, tôn giáo v.v…Ý thức hệ đại diện cho trình độ văn hóa, giá trị tinh thần, đạo đức và công lý xã hội ở một giai đoạn lịch sử tiến hóa của một dân tộc.


 II.            Sự thành lập ý thức hệ xã hội.  


1.              Hai mặt chủ quan và khách quan của ý thức xã hội.  


  Tồn tại xã hội bao hàm hai mặt: ý thức là mặt chủ quan, các sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới tự nhiên là mặt khách quan. Mặt khác, ý thức xã hội cũng tồn tại khách quan vừa bao hàm hai mặt khách quan và chủ quan trong mối liên hệ biện chứng, sự tác động, chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt khách quan và chủ quan của xã hội thành lập các quá trình phát triển nền văn minh nhân loại.


-                       Mặt chủ quan là các sản phẩm của ý thức gồm có: ý thức cá nhân, hệ tư tưởng và mô hình tổ chức, điều hành xã hội.


-                      Mặt khách quan của ý thức xã hội: ý thức hệ. Con người có những thõa hiệp thống nhất với nhau về mặt nhận thức, hệ thống các giá trị được thiết lập trong mối quan hệ ý thức xã hội là hiện thực khách quan. Ý thức hệ bao gồm những giá trị chung được đại bộ phận xã hội thừa nhận là một khái niệm tương đối hợp lý mà hiện nay nhiều người hiểu chưa đúng thuật ngữ “ý thức hệ” theo ý nghĩa này. Tuy nhiên, nội dung khái niệm ý thức hệ trên đây phù hợp với giá trị tồn tại khách quan của ý thức xã hội vừa có căn cứ để hiễu được nhiều hiện tượng xã hội liên quan. Đây là một khám phá từ sự vận dụng khoa học biện chứng chứ nó hoàn toàn không phải là một quan điểm được xây dựng chỉ dựa vào cảm tính.


 2.              Mối liên hệ giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của ý thức xã hội:
a.        Ý thức cá nhân và ý thức hệ.


 -                        Ý thức cá nhân là nhận thức riêng, nó giới hạn và dị biệt bởi năng lực và trình độ hiễu biết của mỗi người. Nhận thức cá nhân có giá trị đồng nhất và chủ quan (có giá trị tuyệt đối đối với chủ thể) khi chưa phát hiện ra sai lầm, mọi người đều cho rằng nhận thức của mình hoàn toàn đúng. Xã hội có nhiều thành phần: đần độn/ thông minh; người dốt/ trí thức….ý thức hệ thuộc về nhận thức chung của cộng đồng chỉ có giá trị tương đối, nó đại diện cho công lý xã hội và phụ thuộc vào mặt bằng dân trí của một quốc gia.


 -                      Ý thức của nhiều cá nhân hợp thành ý thức hệ, ý thức hệ tập hợp các giá trị xã hội được thỏa hiệp của nhiều cá nhân làm nền tảng tư tưởng cho các cá nhân cùng sống chung trong xã hội. Mỗi người Việt Nam dù it học cũng tự trang bị cho mình một quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan nhờ vào môi trường giao lưu, chuyển giao ý thức giữa các thành phần xã hội, thể hiện qua những câu ca dao: lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống…; ác lai, ác báo; ở hiền, gặp lành; dù xây chín kiếp phù đồ, sao bằng làm phúc giúp cho một người .v.v…


-                      Ý thức đạo đức phản ánh giá trị thiện/ác và tự giác thực hiện bổn phận của mỗi cá nhân trong các mối liên hệ với cộng đồng. Ý thức hệ bao hàm hệ giá trị xã hội (quy phạm đạo đức) được thiết lập bởi sự thỏa hiệp ý thức đạo đức của các cá nhân và thiết lập các khuôn mẫu đạo đức chung của xã hội. Đạo lý xã hội (quy phạm đạo đức) thiết lập một quyền lực vô hình về mặt tinh thần bó buộc mỗi cá nhân phải tự giác thực hiện để bảo vệ giá trị chung của xã hội và được xem là hành vi của một con người có phẩm chất đạo đức. Thí dụ: bổn phận làm con phải có hiếu với cha mẹ; phục tùng lãnh tụ trở thành một tiêu chí của giá trị xã hội, vì vậy mà cả dân tộc Bắc Hàn khóc thảm thiết trước cái chết Kim Giong Il.


 b.     Học thuyết và ý thức hệ.


   Hệ tư tưởng (hay học thuyết) và ý thức hệ khác nhau như thế nào?
-                      Học thuyết và ý thức hệ đều bao hàm nội dung toàn diện về vũ trụ: thế giới tự nhiên, vạn vật, xã hội và đời sống con người. Học thuyết hệ thống hóa các quan điểm chính trị, thế giới, nhân sinh quan nhất quán bởi một cá nhân hay một nhóm cùng làm việc với nhau. Ý thức hệ tổng hòa các quan điểm tư tưởng, chính trị từ nhiều nguồn văn hóa khác nhau bổ sung cho một hệ tư tưởng chủ đạo được đại bộ phận xã hội thừa nhận đại diện trình độ và bản sắc văn hóa của một dân tộc. 


  Con người có nhu cầu tư duy nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống và luôn luôn tìm hiểu để giải thích về sự hiện hữu của bản thân mình và thế giới xung quanh. Tri thức của loài người được củng cố thêm mỗi ngày cùng với sự phát triển nhiều ngành khoa học, khi muôn vàn hiện tượng, sự kiện riêng lẻ, rời rạt được khái quát thành một hệ thống tri thức chung nhất về thế giới thì một phương thức nhận thức mới được hình thành: tư duy triết học. Thế giới quan và nhân sinh quan là một hệ thống tư tưởng nhất quán, bao gồm toàn bộ những hiểu biết của con người về bản chất, nguồn gốc vũ trụ, vị trí, vai trò của mọi sự vật, hiện tượng và con người trong thế giới tự nhiên. Ở mỗi giai đọan lịch sử, ngoài việc đi tìm các giá trị hiện thực, các học giả còn giải quyết những vấn đề liên quan đến niềm tin Tôn giáo, sinh hoạt chịnh trị, bản ngã và giá trị đạo đức xã hội.


  Một hệ thống các quan điểm từ vũ trụ đến con người và những sinh họat xã hội như: chính trị, kinh tế, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, luật pháp v.v…được xây dựng bởi các học giả gọi là học thuyết. Trong đời sống xã hội có rất nhiều nguồn kiến thức, nhiều học thuyết được phổ biến rộng rãi từ sự giao lưu văn hóa giữa các thành phần xã hội và các nền văn hóa khác nhau. Ý thức hệ là sự tổng hợp nhiều quan điểm ở mọi lĩnh từ vũ trụ đến đời sống con người từ nhiều nguồn văn hóa khác nhau mặc nhiên được đa số thừa nhận làm nền tảng tư tưởng chung cho những sinh hoạt của cộng đồng. 


 -                      Học thuyết là một sản phẩm trí tuệ được xây dựng dựa trên năng lực, trình độ nhân thức của các cá nhân. Giá trị nội dung của một học thuyết nói lên năng lực, trình độ nhận thức của con người ở một giai đoạn tiến hóa nhân loại. Lịch sử phát triển nền văn minh nhân loại xuất hiện nhiều học thuyết có ảnh hưởng to lớn đến đời sống xã hội như: học thuyết Nho Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, chủ nghia Nhân Văn, chủ nghĩa Tự do, Dân chủ, chủ nghĩa Cộng Sản v.v…Ý thc h không phải là một sản phẩm chủ quan của cá nhân mà phát sinh từ nhu cầu đời sống khách quan, thông qua sự giao lưu văn hóa giữa con người, tư tưởng các học thuyết thâm nhập vào đời sống của nhiều thành phần xã hội. Ý thức hệ được thiết lập trên nền tảng tư tưởng của các học thuyết do sự thẫm định, thừa nhận và thõa hiệp các giá trị chung cho các sinh hoạt thống nhất của cộng đồng.


 -                      Mỗi hệ tư tưởng phản ánh một phần hiện thực khách quan trên quan điểm và lập trường riêng của từng cá nhân đóng góp vào s phong phú của kho tàng kiến thức loài người ch tự nó không quy định nội dung, trình độ văn hóa và xu thế vn động, phát trin của một quốc gia. Văn hóa là tài sản chung của nhân loại, sự giao lưu của các nền văn hóa tiến bộ trên thế giới đã ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt đời sống nhân dân của nhiều quốc gia chậm tiến. Tuy nhiên, những ảnh hưởng này không hòan toàn rập khuôn mà có sự chọn lọc cho phù hợp với tâm lý, tập quán, trình độ văn hóa, bản sắc đặc thù của mỗi dân tộc. Ý thức hệ  phản ảnh giá trị văn hóa và xu thế phát triển xã hội, đại diện cho ý thức chung của một dân tộc ở một giai đoạn phát triển xã hội loài người.


-                      Học thuyết có xu hướng gây ảnh hưởng hay áp đặt vào nhận thức chung của xã hội, ý thức hệ của một quốc gia được thiết lập trên nền tảng của một hệ tư tưởng chủ đạo không do cưỡng chế mà các giá trị của nó được thừa nhận một cách tự giác bởi trình độ, nguyện vọng và sự thỏa hiệp của cộng đồng. Do đó, một hệ tư tưởng có thể trở thành đại diện cho ý thức hệ của một quốc gia khi nội dung của nó phản ảnh phù hợp với hoàn cảnh khách quan của một giai đoạn lịch sử phát triển  xã hội loài người; mt hc thuyết mun tr thành tư tưởng ch đạo (chuỷên hóa thành ý thc h) phi phù hp vi xu thế vn động khách quan ca xã hi. Tuy nhiên, do đặc tính đa nguyên về văn hóa nên xã hội phân hóa thành nhiều xu huớng chính trị khác biệt và nhiều lực luợng xã hội đối lập nhau.


 c.     Cơ chế nhà nước và ý thức hệ.


 -                      Mô hình tổ chức nhà nước dựa trên nền tảng của của một hệ tư tưởng chủ đạo đại diện cho ý thức hệ của một quốc gia. Ngược lại, đường lối chính trị của bộ máy lãnh đạo nhà nước có chức năng điều chỉnh, xây dựng ý thức hệ xã hôi: học thuyết Nho Giáo của Khổng Tử làm nn tảng tưng cho nền quân chủ chuyên chế Phương Đông, tư tưởng JJ.Rouseaux, Monstesquieu đã đặt nn móng đầu tiên cho các nền dân chủ Phương Tây, chủ nghĩa Karl Marx là căn bản tư tưởng thành lập các chế độ Cộng Sản v.v…


  Ý thức hệ thành lập dựa trên căn bản của một hệ tư tưởng làm chủ đạo, đồng thời nhờ bổ sung phong phú thêm từ nhiều nguồn tri thức khác nhau được cộng đồng xã hội tiếp nhận một cách tự giác và có chọn lọc cho phù hợp với tâm lý, trình độ nhận thức và bản sắc của mỗi dân tộc. Tư tưởng được cộng đồng xã hội tự giác chọn lọc bao gồm sự tiếp thu, kế thừa, cải biến, đào thải, đề kháng hoặc phản kháng trong trường hợp có sự áp đặt, cưỡng bách từ các thế lực bên ngoài. Để có thể dung chấp cuộc sống chung, nhà nước có nhiệm vụ điều hòa sự tranh chấp giữa các quan điểm xã hội cho phù hợp với ý chí cộng đồng, xu thế tiến hóa của nhân loại và trật tự của thế giới tự nhiên. Do đó, đường lối, chính sách cai trị của bộ máy nhà nước có tác dụng tích cực khi nó tác động đúng đắn vào quá trình vận động khách quan, phù hợp với hoàn cảnh thực tế xã hội và đời sống con người. Môi trường chính tr đa nguyên thun li cho s chuyển đổi các h giá tr mi, thúc đẩy xã hi phát trin một cách t nhiên phù hợp với quy luật khách quan; chính sách cai trị của các chế độ độc tài chỉ nhằm phục vụ quyền lợi giai cấp thống trị bằng cách cưỡng bách quan điểm chính trị chủ quan vào ý thức chung của xã hội cản trở tiến trình vận động và phát triển của quốc gia. Điển hình như sự cưỡng chế đường lối chính trị độc đoán tại các nước Cộng Sản đã gây ra thảm họa diệt chủng, tụt hậu và sự phản kháng của nhiều thành phần xã hội. Việt Nam vẫn là mt trong nhng quc gia Cộng Sản còn đeo đẳnggieo rắc nỗi đau khổ, đọa đày trên cuộc sống nhân dân.   


-                      Trãi qua những thời kỳ lịch sử lâu dài, nhiều nền văn hóa trên thế giới được thành lập, ý thức hệ cũng thay đổi tùy theo sự tiếp nhận và trình độ dân trí của một quốc gia. Sự thống nhất tư tưởng giữa các thành phần xã hội chỉ có tính tương đối và ổn định trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Nhiều công trình nghiên cứu làm phong phú thêm những học thuyết mới thay thế những quan điểm cũ lỗi thời dẫn đến sự phân hóa xã hội thành hai lực lượng đại diện cho xu thế tiến bộ và lạc hậu. Các lực lượng tiến bộ có xu hướng đấu tranh chống lại các thế lực bảo thủ đang cầm quyền để thiết lập ý thức xã hội mới, hoàn thiện các mối quan hệ xã hội và thiết chế nhà nước mới phù hợp với sự tiến hóa của nhân loại thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Sự thay đổi ý thức hệ là động lực căn bản tác động các quá trình đấu tranh xã hội hoàn thiện cơ chế nhà nước, thúc đẩy sự tiến hóa của nền văn minh loài người.


 III.           Ý thức hệ xã hội Việt Nam.  


  Ảnh hưởng của các học thuyết vào đời sống của mỗi xã hội không giống nhau, nó phụ thuộc vào hoàn cảnh, tâm lý, bản sắc và dân tộc tính của mỗi quốc gia. Thí dụ: cùng chịu ảnh hưởng học thuyết Nho Giáo nhưng vị trí người phụ nữ ở xã hội Trung Hoa khác với Việt Nam; cũng là chế độ dân chủ chịu ảnh hưởng của quan điểm tam quyền phân lập nhưng cách áp dụng có khác nhau ở mỗi quốc gia. Vì vậy, muốn tìm hiểu ý thức hệ không chỉ nghiên cứu nội dung các học thuyết mà cần phải đánh giá những ảnh hưởng của các học thuyết đó vào đời sống người dân với việc xác lập các các giá trị và các mối quan hệ thực tế trong sinh hoạt đời sống xã hội của một quốc gia.
1.            Ý thức hệ xã hội Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.


  Việt Nam là một quốc gia nhược tiểu, nền văn hóa Việt Nam hình thành tự sự tiếp nhận những tinh hoa của các nền văn hóa khác nhau. Lịch sử văn hóa dân tộc ta chịu ảnh hưởng bởi nền văn hóa tam giáo Đông Phương: Nho Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo, trong thời kỳ phong kiến Nho Giáo là hệ tư tưởng chủ đạo. Đến thời kỳ Pháp thuộc có thêm cơ hội tiếp cận với các quan niệm nhân bản: tự do, nhân quyền, bình đẳng xã hội…. từ sự du nhập của Thiên Chúa Giáo và nền văn hóa Phương Tây. Trong khi các đế quốc  ra sức sử dụng văn hóa ngoại lai làm vủ khí xâm lược và đồng hóa các nền văn hóa nhược tiểu hầu đặt ách thống trị vĩnh viễn trên dân tộc bản xứ, nhân dân ta trãi qua những thời kỳ bị đô hộ lâu dài vẫn kiên cường bảo vệ bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc mình; nền văn hóa dân tộc vẫn được bảo tồn đem lại sự trường tồn cho nòi giống Việt Nam.


  Miền nam Việt Nam trước năm 1975 dưới chế độ tự do Việt Nam Cộng Hòa, tinh hoa của các nền văn hóa trên đã thâm nhập vào đời sống xã hội ta một cách có chọn lọc. Bản sắc văn hóa dân tộc được bảo tồn, góp phần xây dựng một xã hội có nếp sống văn hóa vừa hiện đại vừa cổ kính phong phú, hài hòa; người dân biết tôn trọng đạo lý, giàu lòng nhân ái và tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn.
2.            Ý thức hệ Cộng Sản.

  Sau 30/4/ 1975, đất nước Việt Nam hoàn toàn đặt dưới ách thống trị của đảng Cộng Sản. Cuộc chiến tranh ý thức hệ trong giai đoạn 1954- 1975 do cộng sản bắc Việt phát động thực chất chỉ là một chiêu bài lừa gạt vĩ đại hầu biến Việt Nam thành một công cụ hy sinh cho âm mưu xâm lược của hai đế quốc cộng sản Liên Xô Trung Cộng.


  Xã hội Cộng Sản xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa tam vô: vô thần, vô tổ quốc, vô gia đình. Cơ quan thông tin, tuyên truyền văn hóa và giáo dục có nhiệm vụ nhào nặn tư tưởng người dân trở thành những công cụ đắc lực phục vụ chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, hủy diệt các giá trị đạo đức và văn hóa truyền thống. Chủ nghĩa Cộng Sản là một quan điểm chính trị chủ quan phản lại quy luật tiến hóa tự nhiên mà bọn Việt Cộng áp đặt vào xã hội Việt Nam nhằm phá hoại sự phát triển của đất nước. Nhiều nguời vẫn cho rằng: xã hội Việt Nam hiện nay chịu ảnh huởng ý thức hệ Cộng Sản nhưng trên thực tế nó chỉ tồn tại về mặt lý thuyết như một chiêu bài lừa gạt để biện minh cho hành động cấu kết với Trung Cộng bảo tồn một chế độ phản động phi nhân tính. Quyền lực độc tôn của đảng Cộng Sản trong xã hội Việt Nam trên cả luật pháp nói lên bản chất chuyên chế của một thứ chủ nghĩa « thực dụng hoang dã » nhằm thỏa mãn tham vọng và quyền lợi một cách tùy tiện của thế lực cầm quyền. Gần 70 năm tiếm quyền lãnh đạo bằng sức mạnh đàn áp và sự dối trá, đảng Cộng Sản ra sức phung phí và vơ vét cạn kiệt tài sản quốc gia thông qua các chính sách phá hoại nền kinh tế, văn hóa, đạo đức, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, chất xám và nguồn nhân lực xã hội Việt Nam một cách có hệ thống hầu hủy diệt tiềm lực đấu tranh của dân tộc, tiếp tay thực hiện chính sách xâm lược “Tầm Ăn Dâu” của Trung Cộng. Chúng công khai bán đất nhượng biển, rước giặc vào nhà, ngang nhiên chà đạp nhân phẩm, cướp đoạt tài sản, bóc lột sức lao động và đàn áp lòng yêu nước của toàn dân Viêt Nam bằng những hành động tàn ác của một tập đoàn mafia dưới danh nghĩa một nhà nước được sự công nhận của Liên Hiệp Quốc.


  Trong chế độ Cộng Sản, cái ác lên ngôi thống trị, môi trường đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng dung túng cho sự bất công, lừa đảo và tội ác không còn chỗ đứng cho những thành phần lương thiện, chân chính.  Không đủ thực lực chống đối, căm phẩn trong sự bất lực khiến cho tâm lý, não trạng và lương tâm đa số người dân bị biến dạng theo xu hướng thích nghi với hoàn cảnh xã hội để sinh tồn. Thái độ phản kháng tiêu cực, vô cảm và thực dụng đã trở thành quan niệm sống của nhiều thành phần trong xã hội, họ quay về với những quyền lợi thực tế  và lao vào con đường mưu sinh bất chấp thủ đoạn, lương tâm, đạo lý với nhiều hình thức phi pháp, gian lận, buôn lậu, trộm cướp…Sức mạnh tinh thần và ý chí đấu tranh bất khuất của một dân tôc bị hủy diệt, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp xa xưa được một số ít nhân sỹ có tâm huyết với vận mệnh đất nước kêu gọi bảo tồn, hô hào khôi phục lại trong nỗi buồn tuyệt vọng.


       Tường Vi


Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016