Knowledge

Knowledge
Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ Iran. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

Bí mật trong ngôi mộ vợ chúa Trịnh Sâm



Thôn An Định (Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội) hiện có ngôi mộ khang trang đề tên thái phi Dương Thị Ngọc Hoan là vợ chúa Trịnh Sâm.



Đây vốn là ngôi mộ cổ giữa cánh đồng làng Do Lộ (cùng phường Yên Nghĩa) được dân làng An Định di dời về. Họ tin rằng đó là mộ thái phi Ngọc Hoan bởi những đặc điểm khác lạ của ngôi mộ cùng sự trùng lặp giữa thực tế với truyền thuyết. Đến nay chưa có ai chứng minh niềm tin trên, chỉ có tấm lòng biết ơn của dân làng An Định với bà chúa họ Dương là sáng rõ nhất.
Ngôi mộ hiện tại của
Ngôi mộ hiện tại của vợ Trịnh Sâm.
Theo các tư liệu lịch sử, thái phi Ngọc Hoan quê ở làng Long Phúc, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. Bà được đưa vào cung hầu chúa, sau “tình một đêm” với chúa Trịnh Sâm, bà có thai, sau đó sinh hạ được Trịnh Khải (tức Trịnh Tông).
Dù sinh con trai nhưng thái phi vẫn không được Chúa thương yêu. Bởi vậy thái phi xin Chúa rời cung về làng An Định, phường Yên Nghĩa ngày nay “ở ẩn”, tránh xung đột chốn cung cấm. Từ khi thái phi về lập cung, nơi đây được xây dựng nhiều công trình giao thông, đình chùa, văn hóa được mở mang.
Thái phi họ Dương còn tậu 35 mẫu ruộng để cấp cho những người đi lính gọi là “binh điền” và cấp cho học trò được đi thi Hương, thi Hội, thi Đình gọi gọi là “học điền”. Sau đó bà ốm nặng và qua đời. Theo lời truyền, mộ thái phi được an táng ở khu ruộng làng Do Lộ, giáp làng An Định. Người dân vẫn quen gọi khu đồng này là khu mộ bà chúa Nghĩa.
Sau khi bà mất, các họ tộc quyết định đưa bà vào thờ trong đình, thờ ngang bằng thành hoàng. Bởi vậy người dân còn gọi thái phi là bà chúa: “Người làng lưu truyền bao đời nay rằng bà chúa lặng lẽ rời khỏi làng không ai hay biết. Về sau bà mất không rõ chôn cất ở đâu, có rất nhiều mộ giả khắp nơi nên đến nay vẫn chưa tìm ra mộ thái phi. Chúng thờ thái phi bởi đóng góp của bà với dân làng quá lớn”, một bô lão làng An Định nói.
Đầu năm 2007, một số người dân hay tin ở cánh đồng bà chúa Nghĩa (thuộc làng Do Lộ) đang được giải phóng mặt bằng xây dựng khu công nghiệp. Hiện còn duy nhất ngôi mộ cổ được cho là của thái phi họ Dương.
Ông Nguyễn Bá Chuyên (69 tuổi), bấy giờ là cán bộ mặt trận tổ quốc thôn nhớ lại, thông tin mộ bà chúa nhanh chóng trở thành tâm điểm của làng. Ngay sau đó buổi họp dân được tổ chức đột xuất, có sự tham gia của trưởng thôn, cán bộ mặt trận. Những người đứng đầu thôn thông báo chính thức về việc có ngôi mộ cổ ở làng Do Lộ được cho là của bà chúa.
Chỉ vài ngày sau, tại buổi họp thứ hai, tất cả đồng ý sẽ đưa ngôi mộ về thờ phụng. Khi đã thống nhất, cuộc họp thứ ba diễn ra để bàn tính phương án di dời mộ. Theo dự định ban đầu, việc bốc mộ được giao cho tổ tang hiếu của thôn đảm nhận. Vị trí đặt ngôi mộ dưới gốc cây đa giữa làng.
Nói như thế không có nghĩa là việc đưa mộ bà chúa về làng suôn sẻ từ đầu. Ông Lê Như Khuê (74 tuổi), bấy giờ là chi hội trưởng cựu chiến binh của làng kể: Vào thời điểm năm 2007 cũng có những ý kiến phản đối việc đưa hài cốt lạ về làng. Điều này trái với phong tục của làng.
Rồi nhiều người đề nghị chỉ được rước quan tài vào làng bằng cổng phụ. Ngôi mộ chỉ được chôn ngoài nghĩa địa chứ không được đưa sâu vào khu dân cư. Đồng thời luồng ý kiến phản đối nêu quan điểm không được đem đồ thờ trong đình làng đi rước mộ bởi “phạm úy” với thành hoàng.
Thậm chí một số người đề nghị sau khi bốc mộ lên phải mở nắp quan tài để toàn dân chứng kiến mới tin đó là mộ bà chúa Ngọc Hoan. Cuộc họp bàn tranh cãi gay gắt tại đình làng gần hết buổi sáng. Cuối cùng toàn dân giơ tay biểu quyết, chấp nhận phương án rước ngôi mộ cổ theo đúng nghi thức cao nhất, ngang bằng lễ rước thành hoàng.
“Thứ nhất, bà Ngọc Hoan không phải người lạ mà từng sống ở làng, có công lớn xây dựng làng. Thứ hai, từ xa xưa trong đình đã thờ bà chúa, thờ ngang với thành hoàng nên không có lí gì để phản đối việc đem đồ thờ trong đình ra phục vụ lễ rước. Ý kiến mở nắp quan tài sau đó cũng không ai đề cập tới nữa. Quan trọng nhất là người dân tìm được tiếng nói chung, ai nấy rất biết ơn bà chúa nên ủng hộ việc đưa mộ về làng”, ông Khuê kể lại.
Dân làng ngày rước cổ mộ về làng.
Dân làng ngày rước cổ mộ về làng.
Sáng 16 tháng chạp năm 2007, hàng trăm dân làng ăn mặc chỉnh tề tập trung tại đình làng để ra đồng bốc ngôi mộ. Sau khi phát quang lớp đất cỏ bề mặt, đào sâu xuống khoảng nửa mét, ai nấy nhìn thấy hình dáng mộ cổ khác lạ, được xây dựng kì công.
Trên cùng là lớp chất liệu lạ cứng như bê tông dày khoảng 60 cm có hình mai rùa. Dưới mai rùa là lớp chất liệu lạ dày khoảng 20 cm: “Phá hết lớp chất lạ này mới lộ ra phần quách được xây như bể nước, thành cao gần 1 m, dày 10 cm. Ở giữa quách đặt quan tài bằng gỗ màu hồng đỏ dài 2 m, xung quang có hạt kim tuyến thêu chữ ngoằn ngoèo không ai đọc được. Toàn bộ diện tích ngôi mộ rộng hơn 10 m2”, ông Chuyên chứng kiến toàn bộ quá trình bốc mộ cổ thuật lại.
Điều khiến nhiều người bất ngờ nhất là quan tài gần như nguyên vẹn dù phần mộ ước tính hàng trăm năm tuổi. Nhiều người suy đoán quan tài nguyên vẹn nhờ vào chất liệu lạ phủ xung quanh mà họ gọi lớp đất nện. Sau đó người làng còn đem loại vật liệu lạ này đến Viện hóa học nhờ phân tích. Loại chất liệu do người xưa sáng tạo gồm vỏ sò, mật ong và một số loại nhựa cây đặc biệt trộn lại, có tác dụng chống thấm nước rất tốt.
Khoảng 10h sáng ngày 17 tháng chạp, đoàn người đi rước bà chúa về tới cổng làng An Định. Dẫn đầu là đội chiêng trống, cầm lộng mặc trang phục tổ chức nghi truyền thống. Theo sau là hàng trăm dân làng kéo dài cả cây số. Chiếc quan tài được bọc vải đỏ, đặt trang nghiêm trước sân nhà văn hóa để dân vào làm lễ bái theo đúng phong tục lễ tang địa phương.
Lúc này kế hoạch chôn cất mộ có thay đổi nhỏ: “Sáng ngày dân làng tổ chức lễ rước, có người lạ qua làng biết chuyện đã góp ý đặt mộ cổ ở vị trí đối diện giếng làng. Hiện là khuôn viên trụ sở nhà văn hóa thôn. Nghe có lí, dân đồng ý thay đổi địa điểm sẽ hạ quan”, ông Khuê kể lại.
Các bô lão làng An Định nói rằng dù không bật nắp quan tài, cũng không có bằng chứng nào chứng minh ngôi mộ cổ của thái phi Ngọc Hoan. Tuy nhiên toàn dân đều tin người nằm trong quan tài là bà chúa. Bởi thứ nhất, ngôi mộ được xây dựng rất kì công, chỉ có bậc vua chúa mới được xây như vậy. Thứ hai, ngôi mộ tọa lạc giữa cánh đồng có tên bà chúa Nghĩa nên có mối liên hệ nào đó.
Cuối cùng, sau khi khai quật nhận thấy mộ được xây dựng theo hình con rùa. Điều này trùng với truyền thuyết kể lại bà chúa sau khi rời khỏi làng có hai con rùa bò đi tìm. Hiện ở làng có xây tượng con rùa để tưởng nhớ bà chúa. Từ những trùng lặp ngẫu nhiên trên, người An Định tin chắc mộ cổ họ đưa về làng thờ phụng là của thái phi Ngọc Hoan.
Các nghi lễ diễn ra trang trọng.
Các nghi lễ diễn ra trang trọng.
Chuyện rước mộ về làng An Định, lúc này nhiều ý kiến cho rằng cần phải xây lăng bà chúa khang trang xứng với công lao của bà. Tuy nhiên kinh phí của làng không cho phép. Nhưng không hiểu sao người dân lại rất quyết tâm xây lăng, họ động viên nhau: “Cứ xây, tới đâu tính tới đó”. Ngay buổi tối đầu tiên rước mộ về làng, tổ xây dựng lăng gồm bốn người được thành lập chớp nhoáng.
Tổ xây lăng vận động dân làng, các mối quan hệ cá nhân quyên góp kinh phí. Bất ngờ rằng chỉ sau vài ngày phát động, mọi người nhiệt tình ủng hộ tiền, người giúp đỡ bằng sắt thép, xi măng, gạch. Và chỉ sau khoảng một tháng, lăng bà chúa hoàn thành. Tổng kinh phí xây dựng 40 triệu đồng đều do người dân quyên góp, tiền hỗ trợ di dời mộ.
Người dân cho biết lăng mộ hiện tại được xây nguyên mẫu như ngôi mộ cổ giữa cánh đồng. Dân làng kĩ lưỡng tới mức chở tất cả những tảng vật liệu lạ từ đồng đưa về gắn lại hình mai rùa như cũ. Viện hóa học lúc đó cũng “ủng hộ” dân làng An Định chai keo đặc biệt để kết dính những khối vật liệu lạ.
Đã mười năm kể từ ngày dân làng An Định rước mộ cổ được cho của thái phi Ngọc Hoan về thờ phụng. Họ không còn bận tâm việc chứng minh người an nghỉ dưới mộ là ai nữa. Điều quan trọng nhất là ngôi mộ đã khắc phục được thiếu khuyết đời sống tâm linh dân làng.
“Hàng trăm năm nay làng chỉ thờ bài vị bà chúa mà không biết hài cốt bà ở đâu. Bởi vậy nguyện vọng đưa hài cốt vợ chúa Trịnh Sâm về làng luôn là niềm mong mỏi. Nay dân làng chúng tôi đã an lòng, không còn vướng bận điều gì nữa. Ngôi mộ trở thành công trình có ý nghĩa trong đời sống tinh thần xóm làng”, ông Khuê là thành viên trong tổ xây lăng cho hay.

Lịch sử đẫm máu của viên kim cương trên vương miện Nữ hoàng Anh





  Được chuyển tay từ quân vương Ấn Độ đến hoàng đế Ba Tư, rồi quay ngược lại Ấn Độ và cuối cùng là thuộc về Hoàng gia Anh; viên kim cương 105,6 carat Kohinoor “sáng nhất trên vương miện của Vương quốc Anh” đã có một lịch sử đẫm máu.

Truyền thuyết cho rằng viên kim cương Kohinoor, gắn trên vương miện của Nữ hoàng Anh đang được lưu giữ tại tòa Tháp London, chỉ có thể được một người phụ nữ hoặc một vị thần mang lên người. Bất kỳ một người đàn ông nào mang viên kim cương lên người thì cũng sẽ gặp xui xẻo và có thể mất mạng. Nhưng ngược lại, ai sở hữu được Kohinoor thì sẽ thống lĩnh được thế giới. Vì vậy trong vài thế kỷ, các vị vua chúa đã ra sức tranh giành viên đá quý nặng 21,12 gram này.
Theo một số sử gia, viên kim cương lúc bấy giờ vẫn chưa có tên, được nhắc tới lần đầu tiên vào năm 1306. Viên đá quý ban đầu nặng đến 793 carat (158,6 gram) thuộc về một vị quân vương xứ Malwa, nay thuộc miền tây trung Ấn Độ. Lịch sử chính xác của viên kim cương đã bị xóa mất theo dòng thời gian, tuy nhiên tài liệu của bảo tàng Smithsonian thì cho rằng viên đá quý đã từng “thuộc về vị vua của một vương quốc phía Đông xa xưa, tồn tại có thể cách đây đến 3000 năm”. Các sử gia đồng ý rằng viên kim cương được khai thác từ khu mỏ Kollur, một trong những mỏ kim cương lớn đầu tiên trên thế giới, tại vùng Andhra Pradesh phía đông nam Ấn Độ.
Tài liệu có thể kiểm chứng được về viên kim cương đầu tiên được tìm thấy trong ghi chép vào năm 1526 của Babur (1483 - 1530), vị vua lập quốc xứ Mughal (nay thuộc Ấn Độ). Babur lấy được viên kim cương sau khi đánh bại Ibrahim Lodi, vị Sultan (vua xứ Hồi giáo) cuối cùng của Delhi, trong trận Panipat lần thứ nhất.
Sử gia N.B. Sen cùng vài học giả khác cho rằng sau khi thuộc về Babur, viên kiêm cương được truyền lại cho vua Jahan và Aurangzeb kế vị, trước khi đến tay cháu của Babur là Sultan Mahamad.
Vào năm 1739, một vị tướng Ba Tư là Nadir Shah đánh bại Mahamad và chiếm được Delhi, cùng với chiến lợi phẩm là viên kim cương. Nadir Shah cũng chính là người đã đặt tên Koh-i-noor, có nghĩa là “ngọn núi ánh sáng” cho viên đá quý. Vị tướng này mang Kohinoor trở về Ba Tư và chỉ 8 năm sau đó ông bị ám sát.
Theo cuốn sách “Lịch sử huy hoàng của Kohinnor, viên kim cương sáng nhất trên vương miện nước Anh” của N.B. Sen thì sau khi Nadir Shah mất, viên kim cương lọt vào tay một trong những thuộc hạ là Ahmad Sha Durrani và được gia đình ông ta gìn giữ trong vài thế hệ.
Đến năm 1813, Shah Shuja Durrani, một trong những con cháu của Ahmad Shah, đã mang Kohinoor trở lại Ấn Độ. Shah Shuja bỏ trốn khỏi Ba Tư do xảy ra tranh chấp với những người anh em của mình tại Kabul. Trong lúc bỏ trốn, Shah Shuja đã mang theo viên kim cương và dâng lên cho Maharaja (hoàng đế) Ranjit Singh (1780 - 1839) của đế quốc Sikh, nằm ở vùng Punjab phía bắc Ấn, để đổi lấy quyền được tị nạn tại đây.
Theo ghi chép của James Broun-Ramsay, hay còn được gọi là lãnh chúa Dalhousie, Toàn quyền Anh tại Ấn Độ từ 1848 - 1856, thì vợ của Shah Shuja Durrani đã từng mô tả viên Kohinoor như sau: “Hãy tưởng tượng một người đàn ông khỏe mạnh lấy 4 hòn đá ném về 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc và một hòn thứ 5 ném lên trời. Nếu khoảng không giữa 5 viên đá này được chứa đầy vàng thì cũng thể không sánh bằng giá trị của Koh-i-Noor”.
Sau khi Ranjit Singh băng hà, viên kim cương cũng như đế quốc của ông được truyền cho lại những người con trai. Tuy nhiên, những người kế vị đế quốc Sikh đã liên tục bị giết chết. Đến năm 1843, Duleep Singh lên ngai hoàng đế Sikh khi chỉ mới 5 tuổi và cũng là vị quân vương cuối cùng của Ấn Độ sở hữu viên Kohinoor, theo N.B. Sen.
Vào năm 1849, Vương quốc Anh giành được thắng lợi trong cuộc chiến Anh - Sikh lần thứ 2 và chính thức thôn tính vùng Punjab bằng Thỏa thuận Lahore (Lahore là thủ đô của đế quốc Sikh bấy giờ). Vua Duleep Singh lúc này được 11 tuổi, ký thỏa thuận trao Vương quốc Sikh cùng viên kim cương Kohinoor cho hoàng tộc Anh trước khi thoái vị.
Trong bản thỏa thuận Lahore có ghi rõ ở điều 3: “Viên đá quý mang tên KohiNoor mà Maharaja Runjeet Singh đã lấy từ tay Shah Sooja-ool-moolk, sẽ được hoàng đế của Lahore trao lại cho nữ hoàng Anh”.
Năm 1852, viên kim cương được đem về xứ Anh và trưng bày trước công chúng. Tuy nhiên, sau khi nghe được vài lời bình luận cho rằng đã bị “thất vọng” bởi hình hài thô kệch của viên kim cương, chồng của Nữ hoàng Victoria là Quận công Albert đã ra lệnh mài giũa viên Kohinoor. Sau 38 ngày, viên kim cương đã bị mài từ 186 carat (37,2 gram) xuống còn 105,6 carat (21,12 gram) như ngày nay.
Nữ hoàng Victoria biết về truyền thuyết đẫm máu của viên đá quý và để tránh xui xẻo, đã ghi lại trong di chúc rằng chỉ những nữ hoàng mới có thể mang viên Kohinoor trên người. Viên kim cương sau đó được gắn lên vương miện của những nữ hoàng kế vị Victoria và được lưu giữ tại tòa Tháp London cho tới ngày nay.
Cho tới nay, tuy Vương quốc Anh tuyến bố nắm quyền sở hữu viên kim cương nhưng Kohinoor vẫn đang bị tranh chấp bởi 3 quốc gia khác là Ấn Độ, Pakistan, Afghanistan. Qua bao nhiêu triều đại trải dài vài trăm năm và chứng kiến vô số cái chết của những vị quân vương, viên kim cương Kohinoor “sáng nhất trên vương miện Vương quốc Anh” vẫn chưa thoát khỏi lịch sử nhuốm máu đầy tranh chấp.
Quỳnh Hy (theo Hindustantimes)

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

Trung Quốc thực sự lo sợ nếu Donald Trump trở thành tổng thống Mỹ?

  Cuộc chạy đua đến chiếc ghế tổng thống Mỹ 2016 vừa có một bước ngoặt và ứng cử viên của Đảng Cộng hòa Donald Trump có vẻ sẽ bắt đầu bứt phá so với các đối thủ, khi nhận được sự hỗ trợ một cách vô tình từ chính đối tượng mà ông đã chỉ trích đích danh trong suốt quá trình tranh cử: Trung Quốc.
Không biết là vô tình hay hữu ý, Trung Quốc đã lần đầu tiên chính thức thể hiện sự lo ngại về những kế hoạch mà nước này coi là một sự “trừng phạt thương mại” mà Donald Trump tuyên bố trong quá trình tranh cử. Điều này đang vô tình trở thành một bước đà cho chiến dịch tranh cử của vị ứng cử viên đảng Cộng hòa, khi nó trực tiếp chứng tỏ cho công chúng Mỹ thấy rằng những lời đe dọa trừng phạt Trung Quốc về kinh tế của Trump đang thực sự có tác dụng.
Vậy, Trung Quốc có thực sự lo sợ nếu như kịch bản Trump thành tổng thống Mỹ?
Câu trả lời đến thời điểm hiện tại có lẽ là: Có! Ít nhất thì những động thái mới nhất của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang chứng tỏ điều đó.
Trong bài phát biểu mới nhất của mình, Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc là Lou Jiwei đã công khai chỉ trích các kế hoạch nhằm áp nặng thuế đối với hàng hòa nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ lên 45% của Donal Trump là một sự “phi lý”. Cụ thể, trong bài phỏng vấn với tờ Wall Street Journal vào ngày Chủ nhật 17.4 vừa qua, Lou Jiwei tuyên bố “các đề xuất của Trump là phi thực tế và không phù hợp với luật lệ. Nếu ông ta làm điều đó sẽ là một sự vi phạm các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)”. Lou nói thêm “Nếu các đề xuất của Trump trở thành hiện thực sẽ kéo kinh tế Mỹ xuống khỏi vị trí nền kinh tế số 1 thế giới. Nước Mỹ cần phải nhận ra một thực tế rằng Mỹ và Trung Quốc phải phụ thuộc lẫn nhau. Nền kinh tế của hai nước đang gắn chặt vào nhau”.
Bài phát biểu của Lou Jiwei nhận được sự chú ý của người dân Mỹ và các chuyên gia kinh tế, vì đây là lần đầu tiên một quan chức cấp cao của Chính phủ Trung Quốc công khai thể hiện quan điểm trước những gì đang diễn ra trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2016. Từ trước đến nay, Trung Quốc thường không bình luận về những gì diễn ra trong các cuộc tranh cử tổng thống ở Mỹ và đây có thể xem như một ngoại lệ hiếm hoi. Vì thế, nó có thể phần nào tiết lộ những mối quan tâm của Trung Quốc ở thời điểm hiện tại.
Những phát biểu mang tính cảnh báo của bộ trưởng Tài chính Trung Quốc Lou Jiwei đang cho thấy, Trung Quốc thực sự lo ngại trước viễn cảnh Donald Trump trở thành tổng thống Mỹ, bởi nó đồng nghĩa với các kịch bản tồi tệ dành cho Trung Quốc, ít nhất là về mặt kinh tế. Vì một thực tế là trong suốt chiến dịch tranh cử của mình, Donald Trump đã luôn hướng tới Trung Quốc như một mục tiêu của sự trừng phạt, một bước để khôi phục lại nền kinh tế Mỹ, theo đúng slogan tranh cử của vị tỷ phú này – Make America Great Again. Trump tuyên bố thẳng thắn, nếu ông trở thành tổng thống thì một trong những điều đầu tiên sẽ làm là đánh thuế 45% lên tất cả hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ từ Trung Quốc, ngoài ra Mỹ cũng sẽ xem xét lại các hiệp định thương mại đã ký với Trung Quốc và điều chỉnh lại theo hướng có lợi hơn cho Mỹ.
Sở dĩ Trump chọn Trung Quốc làm đích nhắm cho chiến dịch tranh cử của mình vì một tâm lý khá phổ biến trong xã hội Mỹ hiện nay là coi Trung Quốc như một đối tác thương mại xảo quyệt, không chỉ chiếm rất nhiều công việc làm ăn của người dân Mỹ, mà còn đẩy Mỹ vào thế thâm hụt thương mại nặng nề.
Cụ thể, ước tính từ năm 1990-2010 Mỹ đã mất khoảng 2,4 triệu việc làm vào tay Trung Quốc do các tập đoàn và doanh nghiệp Mỹ chuyển cơ sở sản xuất sang Trung Quốc để tận dụng ưu thế nhân công và nguyên liệu giá rẻ. Ngoài ra, tình trạng thâm hụt thương mại đang gia tăng mạnh của Mỹ những năm gần đây chủ yếu đến từ việc buôn bán và trao đổi thương mại với Trung Quốc. Năm 2015, mức thâm hụt thương mại của Mỹ trong quan hệ thương mại với riêng Trung Quốc đã lên tới 366 tỷ USD, tăng so với mức 343 tỷ USD năm 2014 và chỉ trong 2 tháng đầu năm 2016 mức thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc đã lên tới 57 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2015. Donald Trump đã hướng tới thực tế này như một vũ khí thu hút sự ủng hộ của người dân Mỹ thông qua những tuyên bố sẽ điều chỉnh lại thực tế mà kinh tế Mỹ đang chịu đựng.
Tuy nhiên, điều khiến bài trả lời phỏng vấn của Lou Jiwei trở nên đáng chú ý nữa là ở chỗ dường như Trung Quốc đang thực sự tin vào những gì mà Donald Trump tuyên bố trong chiến dịch tranh cử của mình.
Trên thực tế, những kế hoạch có phần đao to búa lớn nhằm vào Trung Quốc của Trump mới chỉ dừng lại ở những lời hứa hẹn khi tranh cử mà thôi và không phải ứng cử viên nào trong cuộc chạy đua, cũng như không phải tất cả người dân Mỹ, đều coi đó là sự thật. Chưa nói đến đảng Dân chủ mà ngay trong nội bộ đảng Cộng hòa cũng không phải tất cả đều đồng ý với Trump. Một ứng cử viên khác của đảng Cộng hòa là Ted Cruz đã chỉ trích mạnh mẽ lời tuyên bố sẽ đánh thuế 45% vào hàng hóa Trung Quốc của Trump. Truyền thông thế giới cũng như các chuyên gia kinh tế đều không coi lời tuyên bố nâng thuế của Trump là thật. Nhưng lời bác bỏ của Lou Jiwei thì lại đang chứng tỏ một cách rõ ràng hơn bao giờ hết, rằng Trung Quốc lại đang tin vào điều đó. Vì nếu không tin vào một nguy cơ không thể xảy ra thì chẳng việc gì phải bác bỏ nó cả.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, dù ứng cử viên nào giành chiến thắng trong cuộc chạy đua đến Nhà Trắng trong năm nay đi nữa, cũng đều có thể khiến Trung Quốc cảm thấy lo ngại. Vì một xu hướng đang trở nên nổi trội trong cuộc tranh cử năm nay là phản đối các hiệp định thương mại tự do. Hầu như tất cả mọi ứng cử viên năm nay đều có xu hướng này, từ Hilary Clinton và Bernie Sanders của đảng Dân chủ đến Donald Trump và Ted Cruz của đảng Cộng hòa.
Hiện Trung Quốc đang là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ và cũng là tác nhân khiến kinh tế Mỹ thâm hụt thương mại hàng trăm tỷ USD mỗi năm, vì thế chắc chắn Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng nếu vị tổng thống Mỹ kế tiếp đòi xem xét lại mối quan hệ trao đổi thương mại giữa hai nước. Trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc hiện nay, một sự giảm sút trao đổi thương mại với Mỹ mà chủ yếu là xuất khẩu sẽ có thể đe dọa kinh tế Trung Quốc rơi vào lụn bại thực sự.
Có lẽ đó là lý do khiến cho Chính phủ Trung Quốc lần đầu tiên phá vỡ thói quen lâu nay, khi cho phép bộ trưởng Tài chính Lou Jiwei lên tiếng chỉ trích những quan điểm phi thương mại tự do của Donald Trump. Vì chắc chắn kinh tế Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất nếu người chiến thắng là Donald Trump.
Nhàn Đàm (theo Reuters)

Vì sao chúng ta cần quan sát điểm nóng trong tranh cử tổng thống Mỹ 2016?

  Nếu có một vấn đề từ lâu đã trở thành chủ đề trọng tâm có tầm ảnh hưởng thuộc hàng lớn nhất trong cuộc chạy đua tranh cử chức tổng thống Mỹ những năm vừa qua, thì đó hẳn không gì khác ngoài vấn đề kinh tế.
Năm 2008, ông Obama đã giành chiến thắng trước John McCain cũng nhờ ở chính sách thúc đẩy hồi phục kinh tế Mỹ mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, 8 năm sau mọi thứ dường như cũng đang được lặp lại, khi hầu hết các ứng cử viên đều ra sức đưa ra những chương trình kinh tế của riêng mình như một con át chủ bài.
Khác ở chỗ, nền kinh tế Mỹ hiện nay đã tương đối hồi phục so với cách đây 8 năm, vì thế trung tâm của cuộc tranh cử giờ đây chuyển sang một khía cạnh khác của nền kinh tế Mỹ: tự do thương mại. Hầu hết các ứng cử viên hàng đầu, trong đó 3 người đang dẫn đầu là Hilary Clinton, Bernie Sanders và Donald Trump đều ra sức phản đối vấn đề tự do thương mại. Vậy thì, đâu là lý do cho sự việc kỳ lạ này?
Một xu hướng dễ dàng nhận ra trong cuộc chạy đua vào chiếc ghế tổng thống Mỹ năm nay, đó là xu hướng chống lại vấn đề tự do thương mại. Đặc điểm này nổi bật ở hầu hết các ứng cử viên, và đặc biệt nổi bật ở các ứng cử viên hiện đang dẫn đầu, đó là hai ứng cử viên của đảng Dân Chủ là Hilary Clinton và Bernie Sanders và người đang dẫn đầu trong đảng Cộng Hòa Donald Trump.
Điểm chung giữa ba người này trong cuộc vận động tranh cử năm nay, đó là đều hướng đến động thái bài chủ nghĩa thương mại tự do, trong đó Donald Trump nổi tiếng với những tuyên bố sẽ đánh thuế 45% với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và buộc tất cả các tập đoàn lớn như Apple phải chuyển nhà xưởng sản xuất về hoạt động trên đất Mỹ.
Bernie Sanders thì đòi xem xét lại tất cả các hiệp định thương mại mà Mỹ đã, đang và sẽ ký kết với các đối tác thương mại của mình, từ Canada, các nước Trung và Nam Mỹ, cho đến châu Âu và thậm chí là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Cựu ngoại trưởng Hilary Clinton cũng không đứng ngoài cuộc, thậm chí còn nổi tiếng hơn với động thái mang tính “trở cờ” trong đó bà này quay sang chỉ trích và phản đối hiệp định TPP, trong khi trước đó vị cựu ngoại trưởng này ca ngợi hết lời và coi đó như “tiêu chuẩn vàng” cho các hiệp định thương mại không chỉ với Mỹ mà với tất cả các nước trên thế giới.
Tác động của xu hướng phản đối vấn đề tự do thương mại, đi kèm với nó là các hiệp định thương mại, trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm nay đang có một tầm ảnh hưởng thực sự lớn, và vượt xa khỏi tầm dự đoán của nhiều chuyên gia. Không phải ngẫu nhiên khi ba ứng cử viên chỉ trích mạnh mẽ nhất vấn đề tự do thương mại lại đang là ba người dẫn đầu cuộc đua. Nhưng đâu là nguyên nhân của hiện tượng có một không hai này, nhất là khi vấn đề tự do thương mại trong những năm qua luôn được xem là một khuynh hướng mà nước Mỹ luôn tìm mọi cách thúc đẩy trong chiến lược ngoại giao toàn cầu của mình.
Câu trả lời đến từ những mặt trái mà nước Mỹ đang phải gánh chịu từ xu hướng tự do thương mại trên thế giới trong những năm qua, bên cạnh những mặt tích cực của nó. Mặt tích cực của tự do thương mại với nước Mỹ và nền kinh tế Mỹ là hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Mỹ nhiều hơn, đa dạng hơn và có giá thành rẻ hơn rất nhiều; người được lợi lớn nhất không ai khác ngoài người dân Mỹ.
Nhưng, những mặt trái của nó thì cũng không phải là ít. Trước hết là vấn đề thâm hụt thương mại. Tính trung bình hàng năm thì mức thâm hụt thương mại mà nước Mỹ phải gánh chịu đang vào khoảng 500 tỷ USD, tương đương khoảng 3% GDP. Ngoài ra tự do thương mại còn lấy đi khá nhiều việc làm của người dân Mỹ.
Theo ước tính trong 20 năm từ 1990-2010 Mỹ đã mất khoảng 2,4 triệu việc làm chỉ tính riêng vào tay Trung Quốc do sự dịch chuyển sản xuất, trong đó các tập đoàn và công ty Mỹ chuyển cơ sở sản xuất sang Trung Quốc để tận dụng lợi thế nhân công và nguyên vật liệu giá rẻ. Tự do thương mại vì thế đang lấy đi nhiều việc làm hơn và đẩy nhiều người dân Mỹ vào tình cảnh thất nghiệp hơn. Cùng với đó là vấn đề sụt giảm thu nhập, tính trung bình thu nhập của người lao động Mỹ đã giảm khoảng 1.800 USD mỗi năm vì các tác động của tự do thương mại.
Câu hỏi đặt ra là, vậy thì ai đang là người thu lợi lớn nhất từ xu hướng tự do thương mại hiện nay của nước Mỹ. Câu trả lời là các tập đoàn, doanh nghiệp và công ty Mỹ. Đây là những đối tượng nhận được nhiều lợi ích nhất từ xu hướng tự do thương mại, chủ yếu thông qua việc dịch chuyển cơ sở sản xuất để tận dụng nguồn nhân công và nguyên vật liệu giá rẻ, cũng như khả năng tiếp cận tại chỗ đối với các thị trường tiêu thụ lớn, mà Trung Quốc là điển hình.
Nói cách khác, tự do thương mại đang khiến cho khoảng cách giàu nghèo tại Mỹ tăng lên, khi người dân khó tìm việc hơn và thu nhập có xu hướng giảm đi, trong khi những nhà lãnh đạo và điều hành các tập đoàn, doanh nghiệp và công ty lại đang ngày càng giàu có hơn.
Vì thế, việc các ứng cử viên trong cuộc chạy đua đến chiếc ghế tổng thống Mỹ hiện nay đều ra sức phản đối các hiệp định thương mại, là họ đang hướng đến việc tìm kiếm sự ủng hộ bằng cách cam kết sẽ giải quyết tận gốc rễ tình trạng khoảng cách giàu nghèo gia tăng hiện nay, đó không gì khác ngoài tự do thương mại. Trong đó mỗi ứng cử viên lại có những cách tiếp cận khác nhau. Donald Trump thì tuyên bố sẽ đánh thuế nặng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, và buộc các công ty Mỹ phải chuyển nhà xưởng sản xuất trên khắp thế giới về hoạt động tại Mỹ.
Trong khi đó các ứng cử viên của Đảng Dân Chủ lại có một cách tiếp cận khác, dù vẫn công kích các hiệp định thương mại, tuy nhiên Bernie Sanders và Hilary Clinton lại hướng nhiều hơn đến việc tăng thuế đánh vào người giàu trong xã hội Mỹ. Vì để giải quyết tình trạng khoảng cách giàu nghèo gia tăng thì một biện pháp mang tính gián tiếp khá hữu hiệu là đánh thuế người giàu và tăng phúc lợi cho người nghèo.
Sanders đề xuất một khoản chi tiêu trị giá 18.000 tỷ USD để trang trải cho một gói phúc lợi xã hội toàn diện, đồng thời tăng mức thu thuế lên 6.500 tỷ USD mà chủ yếu là từ những người giàu, khoản 11.500 tỷ USD còn lại dự kiến cũng sẽ đến từ các khoản tăng thuế khác. Cựu ngoại trường Hilary Clinton cũng có những đề xuất tương tự, dù con số dự kiến có phần nhỏ hơn.
Khả năng vị tổng thống kế tiếp của Mỹ, dù là người của đảng nào chăng nữa, hủy bỏ tất cả những hiệp định thương mại mà nước Mỹ đã, đang và sẽ ký kết được đánh giá là tương đối thấp, vì nó sẽ gây ra một xáo trộn lớn đối với nền kinh tế toàn cầu, và trực tiếp đẩy kinh tế Mỹ vào khó khăn.
Tuy nhiên, những gì đang diễn ra trong cuộc chạy đua đến chiếc ghế tổng thống Mỹ hiện nay đang chỉ ra một thực tế rằng, nước Mỹ đã không còn quá hào hứng với vấn đề tự do thương mại như trước, và có thể sẽ bắt đầu điều chỉnh lại trong tương lai.
Trong bối cảnh đó, tất cả những quốc gia và nền kinh tế có những quan hệ thương mại tự do với kinh tế Mỹ, trong đó có Việt Nam, sẽ phải cẩn trọng trước những thay đổi có thể xảy ra trong tương lai.
Nhàn Đàm (theo Reuters)

Trung Quốc Trỗi Dậy Và Suy Tàn: Giới Hạn Của Quyền Lực Nguyễn Quang Dy


18-Apr-2016
“Quyền lực đẻ ra từ nòng súng” (Mao Trạch Đông)
Câu nói của Mao (quyền lực đẻ ra từ nòng súng) chỉ đúng một phần. Thứ nhất, nó chỉ đúng với quyền lực cứng, chứ không đúng với quyền lực mềm, vì súng và tiền không thể đẻ ra quyền lực mềm. Thứ hai, nó chỉ đúng với việc giành quyền lực, chứ không đúng với việc giữ quyền lực, vì muốn giữ quyền lực lâu dài thì phải đổi mới và phát triển. Muốn phát triển bền vững phải đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị. Nhưng “quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng tuyệt đối”, nên những kẻ độc tài và tham nhũng không chịu đổi mới chính trị.
Chính Mao đã từng nói “chính trị là thống soái” (politics in command) và hô hào phải làm “cách mạng thường trực”. Chính Mao đã huy động “Hồng vệ Binh” (fringe power) đối đầu và đánh sập hệ thống quyền lực của Đảng (mainstream power) để giành lại quyền lực (độc tôn). Chính Mao đã tạo ra “tiền lệ chống Đảng” (bằng bạo lực). Phải chăng Tập Cận Bình cũng đang bắt chước Mao một cách “sáng tạo” theo “Neo-Maoism” để giành quyền lực (độc tôn). Đối với Mao (và Tập) chính trị là độc tài. Cả Mao và Tập đều sùng bái quyền lực tuyệt đối và áp dụng sùng bái cá nhân, nên không hiểu giới hạn của quyền lực cứng.
Giới hạn của quyền lực không phải là điều mới lạ. Bệnh sùng bái quyền lực rất phổ biến, không phải chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác. Con người vốn sợ quyền lực, sợ kẻ mạnh, sợ nước lớn (như sợ Trung Quốc). Một số người (ở Việt Nam) sợ Trung Quốc nên không dám phản kháng khi bị họ bắt nạt; không dám kiện khi bị họ xâm phạm chủ quyền; không dám chơi với nước khác làm đối trọng vì sợ họ giận. Một số nước không dám lên án Trung Quốc quân sự hóa và lấn chiếm Biển Đông, vì sợ mất lòng Trung Quốc, và mất lợi ích kinh tế. 
Napoléon Bonaparte đã từng nói “Trung Quốc là một người khổng lồ đang ngủ. Hãy để cho nó ngủ yên, vì khi thức dậy nó sẽ làm đảo lộn thế giới”. Lời cảnh báo đó nay đã trở thành sự thật. Trung Quốc đã trỗi dậy (không hòa bình), bắt nạt các nước yếu hơn, và thách thức trật tự thế giới. Nhưng Trung Quốc mạnh tới đâu và có đáng sợ không? Sức mạnh của họ có giới hạn không? Và làm thế nào để đối phó với sức mạnh của Trung Quốc?  
Trung Quốc trỗi dậy: Dựa vào quyền lực cứng
Sau ba thập kỷ phát triển kinh tế ngoạn mục với tốc độ tăng trưởng hai con số, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản, trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới và đang cạnh tranh với Mỹ về kinh tế và quân sự, với tham vọng sẽ vượt cả Mỹ. Trung Quốc hiện là chủ nợ lớn nhất của Mỹ (với 1.300 tỷ USD tài sản). Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc vẫn đứng đầu thế giới, tuy gần đây đã bị tụt xuống mức 3.300 tỷ USD (cuối năm 2015). Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2016 tuy tăng một cách khiêm tốn là 7,6% nhưng vẫn đứng thứ hai thế giới (146,67 tỷ USD), chỉ sau Mỹ (573 tỷ USD cho ngân sách năm 2016).
Trung Quốc không chỉ là “quái vật kinh tế” (economic monster) như Nhật trước đây, mà còn là “quái vật quân sự” (military monster). Trung Quốc vừa sử dụng “cái gậy” để triển khai quyền lực (project power), vừa sử dụng “củ cà rốt” để mua chuộc các nước bằng túi tiền (checkbook diplomacy).  Để mua chuộc Pakistan, Trung Quốc đã đầu tư 46 tỷ USD (4/2015). Để cạnh tranh với thể chế tài chính của Mỹ và Nhật, Trung Quốc đã khởi xướng Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB) và góp vốn 50 tỷ USD (4/2015). Tập Cận Bình muốn theo đuổi “Giấc mộng Trung Hoa” để làm bá chủ thế giới bằng “Một vành đai, Một con đường”. Đó là con đường cực đoan dựa trên sức mạnh cứng của cơ bắp và tiền.  
Tại Biển Hoa Đông, Trung Quốc thách thức Nhật Bản, đòi chủ quyền đảo Điếu Ngư và áp đặt Khu vực Nhận diện Phòng không (ADIZ). Tại Biển Đông, Trung Quốc bắt nạt các nước láng giềng, xâm phạm chủ quyền Việt Nam bằng giàn khoan HD981, bồi đắp các đảo đá ngầm và xây dựng các căn cứ quân sự, thách thức quyền tự do hàng hải quốc tế với yêu sách “đường chín đoạn”, nhằm kiểm soát và độc chiếm Biển Đông. Bằng “cái gậy” và “củ cà rốt”, Trung Quốc tăng cường phân hóa và thao túng các nước ASEAN (như cách tách bó đũa ra để bẻ từng chiếc) nhằm đối phó với chính sách ngăn chặn của Mỹ.  
Đảo Trường Sa Lớn năm 2012 -Ảnh: Lê Văn Hùng
Khi Tập Cận Bình đến thăm Canberra (17/11/2014), chính phủ Tony Abbott đã trải thảm đỏ đón như một hoàng đế. Tập Cận Bình đã đọc diễn văn tại Quốc Hội Úc, nhấn mạnh hai nước “tay trong tay” và “vai kề vai” vì sự phát triển hai nước và ổn định khu vực. Khác với chuyến thăm vội vàng của Tổng thống Obama (11/2014), Tập Cận Bình đã được chính phủ Úc tìm mọi cách làm hài lòng (kể cả việc trước đó bỏ công sức và tiền bạc tìm kiếm vô vọng chiếc máy bay mất tích MH-370) để lấy lòng Trung Quốc, nhằm ký được một hiệp định thương mại có lợi cho nền kinh tế đang cần vốn và thị trường.
Không biết có phải vì họ ngộ nhận hay ngây thơ về Trung Quốc hay không, mà chính phủ bang Northern Teritory đã quyết định cho tập đoàn Landbridge thuê cảng Darwin 99 năm, với giá 506 triệu AUD. Quyết định này đã bị dư luận báo chí trong nước thổi còi và chính phủ Mỹ phản ứng (New York Times, 21/3/2016). Landbridge có quan hệ mật thiết với PLA, và Darwin là nơi đóng quân của 2500 lính thủy đánh bộ Mỹ theo kế hoạch “xoay trục” sang Châu Á để đối phó với Trung Quốc.  
Nước Anh cũng tuyên bố về một “kỷ nguyên vàng” trong quan hệ với Trung Quốc và bày tỏ nguyện vọng được làm “người bạn tốt nhất” của Trung Quốc tại Tây Âu. Khi Tập Cận Bình đến thăm London (20-23/10/2015) chính phủ David Cameron không chỉ trải thảm đỏ mà còn “treo cờ trắng đầu hàng” (về vấn đề Hong Kong) để đổi lấy những lợi ích kinh tế (nghe nói là 6 tỷ USD). Một cựu cố vấn cho Thủ tướng Anh (ông Steven Hilton) nhận xét rằng việc cúi đầu chịu khuất phục Trung Quốc là “sai lầm về đạo đức và thiển cận về kinh tế”. Nói cách khác, không nên làm bạn với “con mãng xà nấp trong chùm đèn” (tên một bài báo của Perry Link). Một nhà hoạt động nhân quyền người Anh (ông Benedict Rogers) bình luận, “Trung Quốc là kẻ bắt nạt, chúng ta cần đứng lên…”(Jonathan London blog, 3/3/2016).   
Không phải chỉ có Úc và Anh sợ Trung Quốc mất lòng, mà nhiều nước khác (như Malaysia, Indonesia, Myanmar, Cambodia và Thailand) cũng thích “củ cà rốt” Trung Quốc. Nhưng gần đây, Malaysia và Indonesia bắt đầu thay đổi thái độ, vì Trung Quốc hành xử quá thô bạo. Tập Cận Bình đang thể hiện “xu hướng Phát-xít” trong nước và cách ứng xử ngày càng trắng trợn ở ngoài nước. Tình hình chính trị bên trong Trung Quốc hiện đáng báo động, và là mối đe dọa cho sự ổn định trong khu vực. (Jonathan London blog, 22/3/2016).
Trung Quốc suy tàn: Thiếu quyền lực mềm
Mô hình phát triển kinh tế với “bản sắc Trung Quốc” (Chinese exceptionalism) dựa trên thuyết “authoritarian resilience” được đánh giá là động lực chính đưa Trung Quốc cất cánh về kinh tế (sau sự kiện Thiên An Môn). Mô hình này đã giúp Trung Quốc phát triển ngoạn mục trong một thời gian, nhưng đến nay đã hết đà và hết hiệu nghiệm. Kinh tế Trung Quốc không thể dựa mãi vào xuất khẩu, mà cần phải chuyển đổi cơ cấu (dựa trên sức mua cho tiêu dùng trong nước). Nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đã phát triển “kịch đường” (Paul Krugman), và đang gặp phải những mâu thuẫn trầm trọng, có thể dẫn đến sụp đổ hệ thống, nếu không đổi mới chính trị và dân chủ hóa. Nhưng đổi mới lại mâu thuẫn với bản chất chế độ chuyên chế độc đảng, đúng lúc này chuyển hướng cực đoan, tăng cường trấn áp.    
Thay vì đổi mới thể chế chính trị thì Tập Cận Bình lại tăng cường kiểm soát và trấn áp. Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật TƯ (CCDI) do Vương Kỳ Sơn làm Bí thư, là cánh tay phải của Tập Cận Bình và là cơ quan quyền lực đáng sợ nhất. CCDI đã bắt 160 “hổ to” (cán bộ cao cấp) và 1.400 “hổ nhỏ” để điều tra tham nhũng, nhằm “giết gà dọa khỉ” (xiaji jinghou). Dưới ngọn cờ chống tham nhũng, Tập Cận Bình đã ráo riết thanh trừng các đối thủ chính trị. Bộ Công nghệ Thông tin (MIT) còn ra quy định cấm các công ty báo chí do nước ngoài đầu tư không được xuất bản kể cả trực tuyến, nếu không được phép. Tập Cận Bình tuyên bố, “Tất cả các cơ quan truyền thông do Đảng chỉ đạo phải nói tiếng nói của Đảng và bảo vệ uy quyền và thống nhất của Đảng”. (Orville Schell, New York Review of Books, April 21, 2016).
Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình, phải, với Wang Qishan, người đã là lực lượng chính trong cuộc đàn áp gần đây dưới chức vụ thư ký của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCDI), tại Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, Bắc Kinh, tháng ba năm 2015.
Giới nghiên cứu độc lập và các giáo sư có quan điểm cởi mở tại các viện nghiên cứu và các trường đại học rất lo ngại về “hệ quả đáng sợ” của các chính sách cực đoan này đối với học thuật. Nhiều luật sư về nhân quyền đã bị bắt, trong số 300 luật sư với các cộng sự và người thân của họ, trong “Chiến dịch 709” (từ 9/7/2013). Từ năm 2013, tỉnh Chiết Giang đã tiến hành chiến dịch phá hủy thánh giá trên các nhà thờ, đến nay hơn 1.000 cây thánh giá đã bị phá hủy, gồm các nhà thờ bị xử phạt chính thức. Nhiều nhà báo và học giả nước ngoài không được cấp visa nhập cảnh. Chiến dịch trấn áp này còn vươn ra khỏi Trung Quốc.
Chiến dịch trấn áp này không phải chỉ giống thời Cách mạng Văn hóa mà còn giống mô hình “Đông Xưởng” (Eastern Depot) thời nhà Minh, dưới đời vua Chu Lệ (Yongle Emperor, 1402-1424) với một hệ thống mật thám theo dõi nội bộ rất chặt chẽ, để bảo vệ vương quyền. Các cơ quan tuyên truyền của Đảng gọi Tập Cận Bình là lãnh đạo “nòng cốt” (hexin) theo kiểu “độc tài cá nhân” (dictatorial personality). Nhiều người lo ngại Trung Quốc đang trượt theo xu hướng Mao (Neo-Maoism), chứ không theo xu hướng Đặng Tiểu Bình, và ngày càng giống mô hình “Đông Xưởng” đầy tai tiếng. Nhưng tăng cường kiểm soát và trấn áp không có nghĩa là Trung Quốc đang mạnh lên, mà là đang suy yếu. Theo David Shambaugh, Trung Quốc đang trong “màn chót” (endgame) hay trong “buổi hoàng hôn” (twilight) của chế độ cộng sản (Minxin Pei). Còn theo Ross Peros thì Trung Quốc sẽ “hạ cánh cứng” (hard landing).      
Bất chấp trấn áp, dư luận phản đối Tập Cận Bình vẫn không bị dập tắt. Trong một bức thư ngỏ lưu hành trên mạng , phóng viên Tân Hoa Xã Zhou Fang đã phê phán chính sách kiểm duyệt thô bạo và cực đoan của Tập Cận Bình là “vi phạm quyền tự do ngôn luận trực tuyến”. Một bức thư ngỏ khác của một nhóm các “Đảng viên Cộng sản Trung kiên” (đăng trên website CCDI) không những lên án Tập về tệ “sùng bái cá nhân” mà còn công khai kêu gọi Tập từ chức vì, “không có năng lực lãnh đạo Đảng và đất nước tiến vào tương lai…”
Bức thư đó lập luận rằng “chính sách đối ngoại hung hăng của Tập đã gây hấn với các nước láng giềng và để Mỹ giành ảnh hưởng, trong khi làm Hong Kong và Đài Loan li tán. Quản trị kinh tế của Tập đã dẫn đến sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán năm ngoái, làm cho các doanh nghiệp nhà nước phải sa thải hàng loạt nhân viên và làm nền kinh tế suy sụp”. Một giáo sư của  trường Đảng cảnh báo “đàn áp sẽ gây nguy hiểm cho Đảng”. Theo Andrew Nathan, những ý kiến chỉ trích đăng trên website CCDI chứng tỏ những người ủng hộ Tập đang lo ngại những quyết sách của ông có thể làm sụp đổ chế độ (Washington Post, March 29, 2016).
Người dân lo sợ tìm mọi cách chuyển tiền ra nước ngoài, làm Trung Quốc chảy máu ngoại hối ngày càng nhiều. Riêng năm 2015, đã có 1000 tỷ USD chạy khỏi Trung Quốc, làm dự trữ ngoại hối chỉ còn 3.300 tỷ USD. Chỉ cần 5% dân số Trung Quốc chuyển tiền ra nước ngoài hợp lệ (mỗi người được chuyển 50.000 USD/năm) thì số dự trữ ngoại hối nói trên sẽ hết sạch. Theo AFP (20/1/2016) 1/4 số công ty Hoa Kỳ kinh doanh tại Trung Quốc đang rút khỏi nước này. Chỉ trong 3 tháng đầu 2016, tổng giá trị ngoại tệ mà Trung Quốc mua lại các công ty nước ngoài là 73 tỷ USD (so với 6,2 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái).
Đảng Cộng Sản Trung Quốc càng dựa vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bài ngoại, thì các chính sách của Tập Cận Bình càng cản trở Bắc Kinh trong việc điều chỉnh mối quan hệ căng thẳng với các nước láng giềng tại Biển Hoa Đông cũng như Biển Đông. Những bước ngoặt lớn trong quan hệ Trung-Nhật và Trung-Việt đã làm thay đổi bức tranh địa chính trị tại hai khu vực trọng yếu này. Trong khi Nhật buộc phải thay đổi hiến pháp (điều 9) để tái vũ trang, thì Việt Nam buộc phải xoay trục xích lại gần Mỹ, theo hướng đối tác chiến lược. 
Giới hạn của quyền lực
Việt Nam trước đây không sợ Trung Quốc, dám chống lại khi bị Trung Quốc xâm lược và đô hộ. Người Việt đã từng thắng, dù người Trung Quốc mạnh hơn nhiều lần, dù thời trước người Việt không có đồng minh nào làm đối trọng. Đó là sự thật lịch sử. Nhưng khi thắng trận, các cụ thời trước rất khiêm tốn, không hạ nhục đối phương (không ghi kẻ thù vào Hiến pháp và không xua đuổi người Hoa). Các cụ còn xin lỗi đối phương để hòa giải, vì họ là nước lớn. Đó là văn hóa ứng xử khôn ngoan. Nói cách khác, đó là quyền lực mềm. 
Khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam (2/1979), họ đã sử dụng một lực lượng lớn hơn nhiều lần, tấn công trên toàn tuyến biên giới, trong khi lực lượng cơ động chiến lược tinh nhuệ của Việt Nam còn ở Campuchia (chưa chuyển quân về kịp thời). Nhưng quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề, chủ yếu bởi lực lượng tại chỗ của Việt Nam. Có nhiều lý do, như địa hình hiểm trở, quân đội Trung Quốc lúc đó còn yếu kém về trang bị và chiến thuật, ý chí chiến đấu của người Việt Nam lúc đó rất cao, làm giới hạn quyền lực cứng Trung Quốc.  
Trong suốt cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, Trung Quốc chỉ thắng một trận lớn đáng kể là trận Lão Sơn, khi giành giật cao điểm 1509 tại Vị Xuyên (4/1984). Họ thắng chỉ vì có kẻ phản bội làm nội gián cung cấp kế hoạch tấn công của ta cho địch. Bốn năm sau (3/1998), Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma (Johnson South Reef). Việt Nam mất Gạc Ma không phải chỉ vì lực lượng quá chênh lệch (ta chỉ có lính công binh giữ đảo), mà còn vì “lệnh trên” không cho nổ súng, nên đơn vị giữ đảo đã bị địch tàn sát (hy sinh 64 chiến sĩ). Thất bại Gạc Ma và Lão Sơn là vết nhục và mối hận đối với quân đội Việt Nam. Cuốn sách “Vòng tròn Bất tử” (do tướng Lê Mã Lương chủ biên) không được xuất bản là một món nợ.
Khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu chuyển giai đoạn (1965), tổng thống John Kennedy lưỡng lự trước quyết định can thiệp quân sự. Nhưng dàn cố vấn của ông gồm những người “tài giỏi và thông minh nhất nước Mỹ” (the best and the brightest) ủng hộ can thiệp quân sự. Trong đó có cố vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy và bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara. Chỉ có George Ball (trợ lý Ngoại trưởng) nhìn thấy trước sai lầm và cố can ngăn tổng thống đừng can thiệp, nhưng họ không nghe. George Ball là người có tầm nhìn. 
Trong chiến tranh Việt Nam, người Mỹ đã triển khai tối đa sức mạnh cứng. Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã triển khai “hàng rào điện tử” để ngăn chặn quân đội Bắc Việt thâm nhập, nhưng đã bất lực. Mỹ đã dùng hỏa lực tối đa (kể cả máy bay ném bom B52), tưởng sẽ bình định được Việt Nam trong vòng 18 tháng, nhưng họ đã nhầm. Chiến tranh Việt Nam đã làm người Mỹ nhận ra “giới hạn của quyền lực” (limits of power). 
Vài tử huyệt của Trung Quốc
Vấn đề đầu tiên là “tiền đâu”. Chỉ cần quan sát dòng tiền đi đâu về đâu là biết sức khỏe nền kinh tế thế nào. Nhiều tiền như Trung Quốc chưa chắc đã khỏe. Thiếu tiền như Việt Nam hiện nay cũng khốn đốn. Thật là một câu hỏi hóc búa khi Giám đôc World Bank hỏi thẳng thủ tướng NTD, “chính phủ ông lấy đâu ra tiền để phát triển nhanh và bền vững”. Điều bà Victoria Kwakwa không tiện hỏi là “tiền viện trợ đi đằng nào?” 
Thứ nhất, dòng tiền chạy ra khỏi Trung Quốc đang đe dọa dự trữ ngoại hối. Khoảng 1.400 tỷ USD đã chạy khỏi Trung Quốc trong 10 năm qua. Riêng năm 2015, khoảng 1.000 tỷ USD đã chạy mất, làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối, gây bất ổn cho nền kinh tế. Nhiều quan chức tham nhũng và các đại gia làm ăn mờ ám tìm mọi cách trốn thuế và rửa tiền. Hồ sơ Panama là một quả bom nổ chậm khổng lồ, lớn hơn nhiều so với hồ sơ “Offshoreleaks” (2013).
Theo tờ Guardian (1/2014), Liên minh Báo chí Điều tra Quốc tế (ICIJ) đã nắm được hơn 200 GB dữ liệu tài chính bị rò rỉ liên quan đến các công ty tài chính (PricewaterhouseCoopers, Credit Suisse và UBS) đã làm trung gian lập công ty vỏ bọc tại British Virgin Islands cho các quan chức Trung Quốc. Tài liệu của ICIJ tiết lộ hơn 21.000 khách hàng từ Trung Quốc đại lục và Hồng Kông đã lợi dụng các tài khoản để trốn thuế ở BVI. Với 11,5 triệu tài liệu nằm trong 2,6 terabyte dữ liệu về Mossack Fonseca, nếu được lần lượt công bố thì chưa thể hình dung hệ quả sẽ thế nào. Trong khi thủ tướng Iceland vừa tuyên bố từ chức, thì nhiều người khác có liên can chắc vẫn đang nín thở chờ, hay nghĩ cách đối phó.  
Theo tờ New York Times (10/2012) công ty tư vấn luật của con gái ông Ôn Gia Bảo, tên là Lily Chang, đã được JPMorgan, trả 1,8 triệu USD… Tài liệu của ICIJ cho biết mối liên hệ giữa cô Chang và công ty tư vấn Fullmark Consultants được lập năm 2004 ở BVI dưới tên chồng của Chang là Liu Chunhang, tồn tại đến năm 2006 trước khi anh này chuyển đi làm cho một ngân hàng ở Trung Quốc. Quyền sở hữu Fullmark Consultants khi đó được chuyển sang cho Zhang Yuhong, một người bạn của gia đình Ôn Gia Bảo. Tờ New York Times nói rằng Zhang Yuhong có liên hệ tới các hoạt động làm ăn của gia đình Thủ tướng Ôn Gia Bảo, và cáo buộc gia đình ông Ôn Gia Bảo đã tích lũy tài sản lên tới 2,7 tỷ USD trong thời gian ông cầm quyền. ICIJ cũng tiết lộ con trai ông Ôn Gia Bảo là Ôn Vân Tùng đã thành lập công ty Trend Gold Consultants tại BVI dưới sự trợ giúp của Credit Suisse (năm 2006). 
Hồ sơ Panama cho biết, gần một phần ba thương vụ của tập đoàn Mossack Fonseca đến từ văn phòng tại Hong Kong và Trung Quốc, khiến Trung Quốc trở thành thị trường lớn nhất và Hong Kong là văn phòng bận rộn nhất của họ. Thật trớ trêu là từ khi cầm quyền (2012), ông Tập Cận Bình đã phát động chiến dịch chống tham nhũng “đả hổ diệt ruồi” mạnh mẽ. Hơn 300.000 quan chức Trung Quốc đã bị thanh trừng vì vi phạm luật chống tham nhũng… Hồ sơ Panama xuất hiện đúng vào lúc gay cấn nhất đối với Tập Cận Bình.
Theo Hồ sơ Panama, Mossack Fonseca đã giúp ông Đặng Gia Quý, anh rể ông Tập Cận Bình (chồng của Tập Kiều Kiều là chị gái ông Tập) lập ba công ty tại Virgin Islands (năm 2009). Năm 2012, hãng Bloomberg News cũng đã phát hiện các khoản tiền đầu tư lên tới 365 triệu USD của gia đình ông Tập Cận Bình khi còn là phó Chủ tịch Nước. Một phần của khối tài sản nói trên được nộp vào công ty của ông Đặng Gia Quý.
Ngoài ra, trong hồ sơ Panama còn có tên tuổi nhiều người khác như bà Lý Tiểu Lâm, con gái cựu Thủ tướng Lý Bằng và cô Jasmine Li, cháu gái ông Giả Khánh Lâm, cựu Ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSTrung Quốc. Công ty của bà Lý Tiểu Lâm, tên là Cofic Investments Ltd, có địa chỉ tại British Virgin Islands, còn cô Jasmine Li đã nhận được một công ty ở hải ngoại khi còn tuổi vị thành niên. Trong Hồ sơ Panama còn có tên tuổi các thân hữu của hai đương kim ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSTrung Quốc là ông Trương Cao Lệ và Lưu Vân Sơn.
“Đả hổ diệt ruồi” là con dao hai lưỡi. Tuy chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt của Tập Cận Bình đã thanh trừng được hơn 300.000 quan chức tham nhũng, nhưng cũng gây ra mâu thuẫn nội bộ rât sâu sắc, làm xã hội hoảng loạn (như thời cách mạng văn hóa) và làm bộ máy công quyền gần như tê liệt, với những tin đồn dai dẳng về nguy cơ đảo chính và ám sát. Vụ Lệnh Hoàn Thành (anh của Lệnh Kế Hoạch đang bị giam) chạy sang Mỹ, đem theo nhiều tài liệu tối mật (nghe nói còn quan trọng hơn cả vụ Vương Lập Quân) là một quả bom nổ chậm đang làm đau đầu Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn. Vụ Panama papers làm cho Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn còn đau đầu hơn nhiều (như mất chính danh). Trong khi các đối thủ chính trị trong nước có thể lợi dụng để phản công, thì các chính phủ nước ngoài có thể tìm cách khống chế Mossack Fonseca, một khi họ muốn trừng phạt kinh tế Trung Quốc. Trong thế giới toàn cầu hóa, các nhà độc tài (như Tập hay Putin) không ai an toàn tuyệt đối.    
Thứ hai, kinh tế suy thoái dẫn đến phá giá đồng tiền, chứng khoán đổ vỡ, nguy cơ nợ xấu và vỡ bong bóng bất động sản, thất nghiệp và biểu tình tăng nhanh (năm 2015 có 28 triệu công nhân thất nghiệp và 2.700 vụ đình công). Trong khi người nghèo “di cư ngược” về nông thôn, thì người giàu di cư ra nước ngoài một cách ồ ạt. Người ta nói chứng khoán đổ vỡ là một cuộc ‘tàn sát tầng lớp trung lưu”, làm dòng người chạy khỏi Trung Quốc ngày càng lớn. Nói cách khác, đây là hiện tượng dân chúng “bỏ phiếu bằng chân”.   
Thứ ba, phong trào “thoát Trung” ngày càng rõ (tại Hong Kong, Đài Loan), trong khi phong trào li khai (có thể kèm theo cả khủng bố) ngày càng gia tăng (tại Tân Cương, Tây Tạng). Dư luận Hông Kong ngày càng bất bình về chính sách của Bắc Kinh, không tôn trọng những cam kết về quyền tự do dân chủ cho Hồng Kong, là nguyên nhân chính làm nổ ra phong trào biểu tình “bất tuân dân sự” (năm 2014). Tại Đài Loan, việc Đảng đối lập Dân Tiến bất ngờ thắng cử và bà Thái Anh Văn lên làm tổng thống (1/2016) đã làm Bắc Kinh đau đầu. 
Thứ tư, ô nhiễm môi trường và thực phẩm nhiễm độc ngày càng nặng, tới mức báo động, không những làm chất lượng cuộc sống của người dân Trung Quốc ngày càng bất ổn, mà còn làm cho hình ảnh của Trung Quốc ngày càng xấu xí. Một xã hội bất an và chất lượng cuộc sống bất ổn, trong khi tự do dân chủ và nhân quyền bị bóp nghẹt, là một xã hội tụt hậu. Trong khi đó, bóng ma Thiên An Môn và oan hồn của những người dân tập Pháp Luân Công bị sát hại, đang chờ đòi mạng, như một quả bom nổ chậm chưa được tháo ngòi.  
Thứ năm, xung đột tại Biển Đông và Biển Hoa Đông do thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc đã buộc Việt Nam phải xoay trục xích lại gần Mỹ như đối tác chiến lược (trên thực tế), và buộc Nhật phải thay đổi hiến pháp để tái vũ trang nhằm tự vệ và bảo vệ đồng minh tại khu vực (Biển Đông). Trước mối đe dọa của Trung Quốc, vai trò của Nhật tại khu vực Đông Á ngày càng lớn. Cùng với chính sách “xoay trục” của Mỹ và TPP, những thay đổi địa chính trị tại khu vực đang làm cho Trung Quốc ngày càng bị cô lập.
Thay cho lời kết
Khi Nhật đứng trên đỉnh cao quyền lực (trước khủng hoảng 1997) ai cũng lo “Nhật mua cả thế giới”.  Nhật cũng bị suy sụp vì khủng hoảng, thì Trung Quốc không phải ngoại lệ. Nếu sức mạnh chỉ dựa trên quyền lực cứng, thì nó chỉ nhất thời. Muốn phát triển bền vững, Trung Quốc phải đổi mới thể chế, cả kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc tăng cường kiểm soát và trấn áp các quyền tự do dân chủ (bên trong) và hung hăng với bên ngoài, không phản ánh sức mạnh đang lên, mà bộc lộ thế yếu đi xuống, nên lo sợ đối phó để duy trì nguyên trạng.
Để đối phó với mối đe dọa của Trung Quốc, các nước ASEAN phải đoàn kết. Các nước có tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, cần ngồi lại với nhau để giải quyết tranh chấp, không bị phân hóa, để có tiếng nói chung với Trung Quốc. Khối “tứ cường” (Mỹ-Nhật-Ấn-Úc) cần củng cố thể chế và phối hợp chặt chẽ trong vai trò an ninh khu vực, bao gồm tuần tra chung và giúp các nước ASEAN (đặc biệt là Philippines và Việt Nam) tăng cường khả năng phòng thủ, thông qua khuân khổ Đối tác Chiến lược Mỹ-ASEAN, TPP và Tầm nhìn Đông Á. Cần dựa trên các khuân khổ hợp tác an ninh (cả cũ và mới), để tăng cường hợp tác quân sự, chia sẻ thông tin tình báo, phối hợp tập trận và tuần tra chung tại Biển Đông, để đảm bảo nguyên tắc tự do hàng hải quốc tế. 
Theo Thượng nghị Sỹ John McCain, đã đến lúc Mỹ phải vượt qua những động tác tượng trưng để xúc tiến “một chiến dịch tự do trên biển” mạnh mẽ, cả về nhịp độ và quy mô chương trình tuần tra FONOP của các chiến hạm Mỹ tại Biển Đông để thách thức thái độ của Trung Quốc. Cần tăng cường các hoạt động tập trận và tuần tra chung, thu thập tin tức tình báo tại khu vực Tây Thái Bình Dương. Trước thay đổi về tương quan lực lượng, Mỹ phải tập trung tăng cường vị thế quân sự tại khu vực, phù hợp với Báo cáo của CSIS tại Quốc hội gần đây, bao gồm triển khai thêm các lực lượng không quân, hải quân, và lục quân tại khu vực này để làm cho các nước đồng minh yên tâm (Financial Times, April 12, 2016).
Trong chuyến thăm Việt Nam sắp tới (5/2016) hy vọng tổng thống Obama có tiếng nói chung với TNS John McCain, để chấm dứt “tiếng kèn ngập ngừng” trong trò chơi “mèo vờn chuột” ở Biển Đông. Đối tác chiến lược Mỹ-Việt phụ thuộc vào cách thức chính quyền Obama (hay chính quyền tiếp theo) triển khai chính sách “tái cân bằng” để ngăn chặn Trung Quốc, cũng như thái độ hợp tác thực sự của dàn lãnh đạo mới tại Hà Nôi.  
Tham khảo
1. “America needs more than symbolic gestures in the South China Sea”, John McCain, Financial Times, April 12, 2016
2. “A Gut Check on US China Policy”, Elizabeth  Economy,  Council on Foreign Relations, April 5, 2016
3. “Crackdown in China: Worse and Worse”, Orville Schell, New York Review of Books, April 21, 2016  
4. “Xi Jinping flirts with danger in his turn to ideology”, Stein Ringen, South China Morning Post, April 11, 2016,
5. “Chinas resistance to Xi Jinping slide into Maoism”, Editorial Board, Washington Post, March 28, 2016

Nguyễn Quang Dy
NQD. 13/4/2016
Nguồn Viet-studies  Tác giả gửi cho viet-studies ngày 13-4-16

CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA TƯ DUY


PHẠM ĐÌNH NGHIỆM


Ta xét hai ví dụ suy luận:
“Mọi người đều phải chết.
Socrate là người.
Vậy, Socrate phải chết."  (1)
và:
“Vợ tôi là đàn bà.
Em là đàn bà.
Vậy, em là vợ tôi”  (2)
Rõ ràng suy luận thứ nhất đúng, còn suy luận thứ hai thì sai. Nhưng căn cứ vào cơ sở nào mà ta xác định được như vậy? Tất nhiên là có thể căn cứ trực tiếp vào thực tiễn. Tuy nhiên thực hiện việc đó gặp phải rất nhiều khó khăn, vì ở đây sau khi kiểm tra thấy kết luận đúng ta cũng không thể nói rằng chắc chắn suy luận đúng. Một phương pháp khác thuận tiện và hiệu quả hơn nhiều là sử dụng các quy luật của tư duy, tức là các quy luật mà môn logic nghiên cứu, để làm cơ sở cho việc xét đoán. Suy luận nào tuân theo các quy luật đó thì hợp lý, đúng; suy luận nào không tuân theo những quy luật đó thì vô lý, sai.
Như đã biết, quy luật của tư duy là những mối liên hệ bên trong, bản chất, lặp đi lặp lại trong các quá trình tư duy. Con người phát hiện ra các quy luật của tư duy thông qua hoạt động nhận thức trải nhiều thế kỷ chứ không phải bẩm sinh đã biết đến chúng. Con người biết cách vận dụng các quy luật đó, biết suy luận tuân theo các quy luật đó là nhờ quá trình học tập và rèn luyện chứ không phải có tính chất bản năng.
Trong số các quy luật của tư duy có bốn quy luật cơ bản. Các quy luật này được gọi là cơ bản vì: thứ nhất, chúng phản ánh những tính chất cơ bản nhất của các quá trình tư duy; thứ hai, vì bất cứ quá trình tư duy nào cũng phải tuân theo chúng; thứ ba, vì các quy luật khác có thể rút ra được từ chúng, nhưng không thể rút ra chúng từ các quy luật khác. Các quy luật cơ bản đó là: quy luật đồng nhất, quy luật không mâu thuẫn, quy luật triệt tam.
I. QUY LUẬT ĐỒNG NHẤT
Phát biểu: A là A. Một tư tưởng, khi đã định hình, phải luôn là chính nó trong một quá trình tư duy.
Quy luật này phản ánh tính ổn định, xác định của tư duy. Điều này có nghĩa là, trong quá trình hình thành của mình, một tư tưởng (khái niệm, phán đoán, lý thuyết, giả thuyết, …) có thể thay đổi, nhưng khi đã hình thành xong thì không được thay đổi nữa. Nếu nó vẫn tiếp tục thay đổi thì logic hình thức sẽ coi nó là tư tưởng khác. Tính ổn định như vậy là điều kiện cần cho mọi quá trình tư duy. Mặc dù tư tưởng - cũng như mọi sự vật và hiện tượng khác -, luôn luôn vận động và biến đổi, nhưng nếu tuyệt đối hóa mặt biến đổi đó của tư tưởng thì không thể nào tư duy được. Một ý kiến được nói ra phải có nội dung không đổi ít nhất là trong cùng một quá trình tranh luận, trình bày ý kiến, chứng minh quan điểm, … nghĩa là một quá trình tư duy, thì người ta mới có thể căn cứ vào nó để xét đoán đúng sai, hợp lý hay bất hợp lý, …
Nội dung của quy luật đồng nhất có thể được diễn giải cụ thể hơn thông qua những yêu cầu sau:
1. Một từ chỉ được dùng trong suy luận với một nghĩa duy nhất. Không được phép dùng một từ hoặc một biểu thức ngôn ngữ nói chung lúc thì với nghĩa này, lúc thì với nghĩa khác trong cùng một quá trình suy luận. Cũng vậy, trong cùng một quá trình suy luận một khái niệm, một tư tưởng, … không được thay đổi nội dung của mình. Nếu một tư tưởng xuất hiện nhiều lần trong một quá trình tư duy thì tất cả những lần xuất hiện đó nó phải có cùng một nội dung, phải có giá trị chân lý như nhau. Điều này có nghĩa là ở các quá trình tư duy khác nhau ta có thể dùng từ với nhiều nghĩa khác nhau, tư tưởng có thể có những giá trị chân lý khác nhau, nhưng trong cùng một quá trình suy luận thì từ ngữ bao giờ cũng được dùng với một nghĩa duy nhất, tư tưởng phải có cùng một nội dung duy nhất, phải có cùng một giá trị chân lý duy nhất. Vi phạm yêu cầu này, tư duy sẽ không nhất quán, lẫn lộn và người khác sẽ không hiểu.
2. Những từ ngữ khác nhau nhưng có nội dung như nhau, những tư tưởng tương đương với nhau về mặt logic, nghĩa là bao giờ cũng có giá trị chân lý như nhau, phải được đồng nhất với nhau trong quá trình suy luận. Vi phạm yêu cầu này, ta không rút ra được thông tin cần thiết. Ví dụ: người ta cho biết rằng, tác giả Truyện Kiều là người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, và hỏi quê quán của nhà thơ Nguyễn Du. Nếu ta không đồng nhất nhà thơ Nguyễn Du với tác giả Truyện Kiều thì ta không trả lời được cho câu hỏi này. Ta cũng không thể suy luận được.
Đây là những yêu cầu dành cho quá trình tư duy, những yêu cầu này bắt buộc phải tuân theo để tư tưởng được sáng tỏ, dễ hiểu. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta gặp rất nhiều trường hợp chúng bị vi phạm một cách vô tình hay cố ý. Ví dụ, các trò chơi chữ là những vi phạm cố ý:
Bà già đi chợ Cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng ?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn.
Ở đây, cùng một chữ “lợi” nhưng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau.
Yêu cầu của quy luật này rất đơn giản. Tuy nhiên, để tuân thủ yêu cầu này không phải là dễ. Đồng nhất những cái gì và không đồng nhất những cái gì là dựa vào sự hiểu biết, dựa vào trình độ văn hóa của chủ thể tư duy, và dựa vào bối cảnh tư duy. Bởi vì, xét cho cùng, quy luật này đòi hỏi phải đồng nhất những thứ không đồng nhất. Chính điều này giải thích tại sao khi nghe một câu chuyện vui thì nhiều người bật cười nhưng một số người khác thì không. Người ta cười vì đã đồng nhất được những cái mà người kể muốn đồng nhất, còn nếu không làm được điều đó thì người ta không cười. Như trong ví dụ sau đây:
Lớp đang học về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, Cu Tèo ngủ gật. Thấy vậy, thầy giáo hỏi: “Tèo, ai đã lấy cắp nỏ của An Dương Vương ?”. Giật mình, Cu Tèo vội đáp: “Thưa thầy con không lấy, con không lấy, bạn nào lấy con không biết…”.
Thầy giáo chán nản, đem câu chuyện kểlại cho hiệu trưởng nghe. Hiệu trưởng nghe xong, trầm ngâm một lúc rồi bảo: “Thôi được, chuyện đâu còn có đó, trẻ con ấy mà. Thầy xem thử cái nỏ đó giá bao nhiêu để trường bỏ tiền ra mua một cái khác thay thế. Rõ khổ, đồ dùng dạy học thì đang thiếu tứ bề!”.
Câu chuyện được đem kể lại ở sở giáo dục và đào tạo. Những người có mặt bò lăn ra cười, chỉ một người không cười, đó là kế toán trưởng. Mọi người ngạc nhiên nhìn bà ta, bà ta nói: “Tôi mà là giám đốc sở thì tôi sẽ cách chức tay hiệu trưởng đó. Tiền đâu ra mà cái gì cũng mua, cái gì cũng chi như vậy?…”
(Theo báo “Người lao động”)
Quy luật đồng nhất là quy luật của tư duy hình thức, không nên nhầm lẫn rằng đây là quy luật của hiện thực khách quan bên ngoài tư duy. Quy luật đồng nhất, vì vậy, không dẫn đến việc phủ định nguyên lý biện chứng là sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động và biến đổi, trong cùng một thời điểm một sự vật vừa chính là nó vừa không phải là nó. Tư duy hình thức phản ánh hiện thực khách quan một cách lý tưởng[1], phản ánh hiện thực khách quan trong sự đứng im tương đối của nó, bỏ qua sự vận động và biến đổi của nó, phản ánh các sự vật và hiện tượng trong sự tách rời ra khỏi các sự vật và hiện tượng khác. Một sự vật của hiện thực khách quan có thể được tư duy phản ánh từ nhiều góc độ khác nhau, tạo nên những đối tượng khác nhau trong tư duy. Nếu hai sự vật trong hiện thực khách quan A và B có chung một tính chất nào đó thì tư duy có thể phản ánh tính chất chung đó ở hai sự vật đã nêu và tạo thành hai đối tượng khác nhau trong tư duy. Hai đối tượng này của tư duy đồng nhất với nhau. Chính vì vậy mà mặc dù trong hiện thực khách quan không hề có hai sự vật hoàn toàn giống nhau, nhưng ta vẫn có thể đồng nhất chúng với nhau. Có thể làm như vậy là bởi ta chỉ đồng nhất chúng trong một mối quan hệ nhất định mà thôi. Ví dụ, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai người khác nhau, tuy nhiên, khi tư duy phản ánh các ông từ góc độ là nhà thơ thì tạo thành hai đối tượng đồng nhất với nhau trong tư duy.
Vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan nên thông qua quy luật đồng nhất của tư duy ta có thể nói về ba loại đồng nhất khác nhau: đồng nhất tư tưởng với tư tưởng, đồng nhất tư tưởng với đối tượng trong hiện thực và đồng nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực. Cần lưu ý rằng ở đây thông qua sự đồng nhất tư tưởng với tư tưởng ta mới có thể đồng nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực. Điều này làm cho phạm vi ứng dụng của quy luật này được mở rộng hơn nhiều.
Ta xét vài ví dụ:
Ví dụ 1. Trước Tòa bà Minh nói “Tôi đồng ý bán nhà giúp con trả nợ” nhưng thư ký phiên tòa ghi “Tôi đồng ý bán nhà trả nợ giúp con”. Sai lầm này của thư ký phiên tòa đã làm cho việc thi hành án sau này gặp nhiều khó khăn.[2]
Ví dụ 2. Có diễn giả nói: “Hình như trên đời có luật bù trừ. Người ta bị mù một mắt thì mắt kia sẽ tinh hơn. Bị điếc một tai thì tai kia sẽ nghe rõ hơn, ....”. Nghe vậy, có thính giả kêu lên: “Rất đúng, tôi cũng thấy rằng nếu một người cụt chân thì y như rằng chân kia sẽ dài hơn”. Câu nói này của anh ta làm cho cả thính phòng cười ồ lên. Anh ta đã không nhận thấy rằng khi diễn giả nói “…mắt kia sẽ tinh hơn”, “…tai kia sẽ nghe rõ hơn” là tác giả so sánh với mắt và tai bình thường, còn anh ta thì so sánh “chân kia” với chân cụt.
Quy luật đồng nhất là quy luật vô cùng quan trọng của logic hình thức. Nếu như các quy luật khác có thể đúng trong một số hệ logic hình thức và không đúng trong một số hệ logic hình thức khác thì cho đến nay chưa ai xây dựng được hệ logic hình thức nào có giá trị mà trong đó quy luật đồng nhất không đúng.
II.  QUY LUẬT KHÔNG MÂU THUẪN
Phát biểu: Hai phán đoán, nhận định mâu thuẫn nhau, trái ngược nhau không thể nào cùng đúng. Trong hai phán đoán, nhận định như vậy có ít nhất là một phán đoán, nhận định sai.
Quy luật này phản ánh tính chất không mâu thuẫn của quá trình tư duy. Mâu thuẫn phá vỡ quá trình tư duy nên trong tư duy nhất định phải tránh nó. Tư duy của chúng ta không được chứa mâu thuẫn vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan, mà trong hiện thực khách quan thì ở mỗi thời điểm không thể có trường hợp một đối tượng vừa có, lại vừa không có một tính chất nhất định nào đó. Ví dụ, tại một thời điểm, một bông hồng cụ thể không thể nào vừa có màu đỏ, vừa không có màu đỏ. Cần lưu ý rằng, mâu thuẫn mà chúng ta nói đến ở đây là mâu thuẫn hình thức, chứ không phải là mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn hình thức không thể có được vì, như đã biết, logic hình thức nghiên cứu tư duy với tư cách là sự phản ánh các sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan trong sự đứng im của nó, nghĩa là phản ánh hiện thực khách quan theo kiểu lý tưởng hóa.
Nội dung của quy luật không mâu thuẫn được diễn giải cụ thể hơn qua các yêu cầu sau đây:
1. Quá trình tư duy không được chứa mâu thuẫn trực tiếp. Cụ thể là không được cùng một lúc vừa khẳng định vừa phủ định một điều gì đó. Ví dụ, không thể vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ có được bản hiến pháp của mình, lại vừa khẳng định rằng Liên minh châu Âu sẽ không thể thông qua được một bản hiến pháp như thế.
Trong thực tế đôi khi ta gặp những câu nói có vẻ như chứa mâu thuẫn trực tiếp nhưng vẫn thấy chấp nhận được. Ví dụ, câu “Giải vô địch bóng đá quốc gia V-leage vừa qua vừa đạt, vừa chưa đạt” nhìn bề ngoài như chứa mâu thuẫn trực tiếp, nhưng lại vẫn chấp nhận được. Vậy phải chăng ở đây ta đã bỏ qua yêu cầu của quy luật không mâu thuẫn? Thật ra thì trong trường hợp này yêu cầu của luật không mâu thuẫn vẫn được tôn trọng, vì từ “đạt” trong câu nói trên được hiểu theo nhiều cách khác nhau, và vì vậy ở đây không có mâu thuẫn. Nếu tiếp tục làm rõ ý kiến của mình thì người đưa ra câu nói đó sẽ giải thích đã đạt ở mặt nào và không đạt ở mặt nào (đó là các mặt khác nhau). Nghĩa là anh ta sẽ cho biết hiểu theo nghĩa nào thì chuyến tập huấn được coi là đạt và hiểu theo cách nào thì không đạt.
2. Quá trình tư duy không được chứa mâu thuẫn gián tiếp. Cụ thể là không được khẳng định (hay phủ định) một vấn đề nào đó rồi lại phủ định (hay khẳng định) các hệ quả của nó. Ví dụ, nếu khẳng định rằng lý thuyết tương đối hẹp của Einstein là đúng thì không thểphủnhận công thức E = mc2 thể hiện mối liên hệ giữa năng lượng và khối lượng của ông.
Nếu như mâu thuẫn trực tiếp dễ được nhận thấy, và vì vậy dễ tránh, thì mâu thuẫn gián tiếp khó nhận thấy hơn, và vì vậy khó tránh hơn nhiều.
Ví dụ 3. Lời nói của Đức Phật với quỷ Mala: “(…) Ta không cần danh vọng, Mala, mi hãy thuyết những điều đó với những kẻ hám danh vọng. (…) Thành đạt, danh tiếng, danh dựvà vinh quang chỉ là sự hư ảo, sự thắng lợi của kẻ này là thất bại của người kia. (…) Ta trải cơ mạn xa để chiến đấu với người đây. Ta thà chết vinh trong trận chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng.”[3] Trong lời nói này ta thấy câu cuối cùng “ta thà chết vinh trong trận chiến, còn hơn sống nhục trong đầu hàng” mâu thuẫn với những câu ở phía trên.
Khi rèn luyện tư duy nhiều ta sẽ nâng cao được khả năng phát hiện mâu thuẫn trong các suy luận của chính mình và của người khác, phát hiện thấy những cái không ổn trong các suy luận đó. Khi phát hiện rằng suy luận “có điều gì đó không ổn”, nghĩa là phát hiện ra khả năng chứa mâu thuẫn gián tiếp của nó, ta có thể tiến hành đặt liên tiếp các câu hỏi để người đưa ra suy luận trả lời và bằng cách đó chỉ ra mâu thuẫn trực tiếp.
Ví dụ 4. Khi thấy lời khai của người bị tình nghi phạm tội có chứa điều gì đó không ổn, cán bộ điều tra sẽ đặt ra cho người đó hàng loạt câu hỏi cho đến khi người đó không trả lời được nữa, vì thấy mình đã gặp mâu thuẫn rõ ràng, trực tiếp.
Ví dụ 5. Trong câu chuyện tiếu lâm về con rắn vuông, khi nghe chồng kể về một con rắn khổng lồ, chị vợ đã liên tục tỏ ý nghi ngờ về chiều dài của nó. Điều này làm cho anh chồng liên tục rút ngắn chiều dài của con rắn, và cuối cùng là có được con rắn vuông. Như vậy, mâu thuẫn chưa lộ rõ hẳn giữa sự tồn tại của con rắn khổng lồ trong câu chuyện của người chồng với thực tế đến lúc này đã trở thành mâu thuẫn rõ ràng giữa sự tồn tại của con rắn vuông với thực tế.
Câu “nói dối hay cùng” chính là nói về những trường hợp như thế này.
Nắm vững nội dung và áp dụng thành thạo quy luật không mâu thuẫn giúp ta trình bày tư tưởng nhất quán và dễ dàng phát hiện các biểu hiện ngụy biện trong suy luận.
III. QUY LUẬT TRIỆT TAM
Phát biểu: Một phán đoán, nhận định hoặc đúng hoặc sai chứ không thể có một giá trị thứ ba nào khác.
Đây là quy luật đặc trưng của logic hai giá trị - logic thông thường mà ta vẫn sử dụng.
Với một phán đoán, nhận định nhất định, quy luật triệt tam không cho biết nó đúng hay sai, nhưng cho biết rằng nó chỉ có thể hoặc đúng, hoặc sai chứ không thể có giá trị nào khác. Ví dụ, ta chưa biết câu nói “Có người ngoài Trái đất đến thăm Trái đất” đúng hay sai, nhưng quy luật triệt tam khẳng định rằng hoặc nó đúng, hoặc nó sai!
Quy luật triệt tam không cho phép người ta tránh né vấn đề khi trả lời câu hỏi. Nó không cho phép trả lời lấp lửng, nước đôi, mà đòi hỏi câu trả lời dứt khoát.
Ví dụ, khi một thanh niên đi kiếm việc làm được hỏi có biết ngoại ngữ hay không thì anh ta chỉ có thể trả lời “có” hoặc “không”, tất cả các câu trả lời khác đều không có giá trị.
Trong thực tiễn, người ta ứng dụng quy luật triệt tam để chứng minh bằng phản chứng.
Đôi khi ta gặp những câu nói rất sâu sắc mà biểu hiện trực tiếp là quy luật triệt tam. Ví dụ, cuối bộ sách Tam quốc diễn nghĩa, sau khi kể chuyện nhà Tấn thống nhất Trung Quốc, tác giả La Quán Trung đã viết, đại ý: Lịch sử các nước cứ như vậy, hết hợp thì tan, hết tan rồi lại hợp. Hay, cuối bộ sách Hồng lâu mộng, sau khi kể vợ Bảo Ngọc sinh con trai và gia đình họ Giả bắt đầu hưng thịnh trở lại, tác giả Tào Tuyết Cần viết, đại ý: Ở đời cứ như vậy, hết thịnh rồi thì suy, hết suy rồi lại thịnh.
Một số tác giả cho rằng quy luật triệt tam là hệ quả của quy luật đồng nhất. Đây là một sự nhầm lẫn. Ta có thể bác bỏ điều đó hết sức dễ dàng. Thật vậy, nếu quy luật triệt tam là hệ quả của quy luật đồng nhất thì ở bất cứ chỗ nào mà quy luật đồng nhất đúng thì quy luật triệt tam cũng phải đúng. Nhưng rõ ràng là trong các hệ logic ba giá trị quy luật đồng nhất vẫn đúng, trong khi đó thì quy luật triệt tam không đúng. Trong những suy luận nhằm rút ra quy luật triệt tam từ quy luật đồng nhất mà thỉnh thoảng ta gặp trong các tài liệu logic đã chứa sẵn vòng tròn logic. Thật vậy, những suy luận kiểu này được thực hiện trong khuôn khổ của logic hai giá trị và sử dụng các tính chất của logic đó. Tuy nhiên sở dĩ logic hai giá trị là logic hai giá trị là vì nó tuân thủ quy luật triệt tam. Như vậy có nghĩa là những tính chất của logic hai giá trị được sử dụng để rút ra quy luật triệt tam từ quy luật đồng nhất phụ thuộc vào chính quy luật triệt tam!
IV. QUY LUẬT LÝ DO ĐẦY ĐỦ
Phát biểu: Một tư tưởng chỉ có giá trị khi nó có đầy đủ các cơ sở.
Khác với ba quy luật trên, - những quy luật được Aristote tìm ra từ thời cổ đại -, quy luật này được Leibnitz phát hiện ở thế kỷ thứ XVIII.
Quy luật lý do đầy đủ đòi hỏi các tư tưởng phải được đưa ra trên những cơ sở nhất định. Tư duy của chúng ta cấu thành từ một chuỗi các tư tưởng như vậy. Những tư tưởng đi trước làm cơ sở cho những tư tưởng đi sau. Chỉ trong trường hợp đó thì tư duy mới được coi là chặt chẽ, có logic. Ngược lại, tư tưởng sẽ lủng củng. Người nghe sẽ thấy người nói nhảy từ vấn đề này qua vấn đề khác một cách tùy tiện. Trong thực tế, đòi hỏi làm một việc gì đó hoặc trình bày một vấn đề nào đó theo một trình tự nhất định chính là đòi hỏi thỏa mãn quy luật này.
Quy luật lý do đầy đủ dựa trên một quy luật rất cơ bản của tự nhiên là quy luật nhân - quả: Mọi sự vật và hiện tượng đều có nguyên nhân của nó. Trong cùng một điều kiện, cùng một nguyên nhân sẽ đưa đến cùng một kết quả. Nếu như tư tưởng phản ánh hiện tượng thì cơ sở của nó là cái phản ánh nguyên nhân của hiện tượng đó. Trong tự nhiên, nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả. Nhưng trong tư duy ta lại có thể biết hiện tượng trước rồi mới đi tìm nguyên nhân sau, nên thứ tự ở đây không giống trong tự nhiên.
Nguyên nhân mà chúng ta nói đến ở đây là nguyên nhân hiện thực, chứ không phải là nguyên nhân siêu nhiên, thần thánh, ma quỷ.
Ví dụ 6. Một người lái taxi nào đó luôn có thu nhập cao hơn so với nhiều người khác, mặc dầu anh ta làm việc trong cùng một điều kiện như họ. Khi đó, người ta hay nói rằng số anh ta may mắn. Nhưng nếu quan niệm như vậy thì ta sẽ không cải thiện được tình hình của mình. Ngược lại, nếu hiểu rằng hiện tượng này cũng phải có nguyên nhân của nó, và nguyên nhân đó là nguyên nhân vật chất, nghĩa là nguyên nhân có thể hiểu và ứng dụng được, thì ta sẽ tìm hiểu, phân tích những yếu tố đưa lại thành công cho người kia, rồi tìm cách để áp dụng, và nhờ đó có thể nâng cao thu nhập của mình.
Tuân thủ nghiêm các quy luật cơ bản trình bày trên đây sẽ giúp chúng ta suy nghĩ và trình bày tư tưởng của mình một cách rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu. Ứng dụng các quy luật này chúng ta cũng dễ dàng phát hiện các sai lầm trong suy luận của người khác và của chính mình để phản bác, để vạch trần sự ngụy biện, hoặc để tránh sai lầm.


Nguồn. Phạm Đình Nghiệm. Nhập môn Logic học. Nxb. Đại học quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh, 2008, tr. 35-42. Bản đăng trên triethoc.edu.vn đã được tác giả cho phép.


[1] Chữ lý tưởng ở đây hiểu theo nghĩa là đẩy đến giới hạn, như các trừu tượng hóa toán học vậy.
[2]  Lấy từ tư liệu của ThS. Lê Duy Ninh.
[3] Daisaku Ikeda Quan điểm của tôi về cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mầu Ni, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996, tr.91.