Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Bi kịch thái giám của trai nghèo chuyển giới Thái Lan

Mặt chưa gọt, cơ bắp chưa teo, da chưa tắm trắng, nên trông "cô" thành ra kệch cỡm với bộ ngực to sụ trên thân thể đàn ông...

Tối, đang ngồi lướt web nghe nhạc, vô tình mò thấy bộ ảnh "nóng" trong quán Bar ở Thái Lan của bạn Leviathan.
Bạn Le nghi ngờ không thừa đâu, vì theo suy đoán của tôi, 3/4 các em gái nóng bỏng đang uống éo trong entry của bạn, trước đây đều là... đực rựa cả đấy.
Lại nhớ, hồi năm 2009, tôi từng có dịp sang Thái Lan dự một buổi hội thảo về bình đẳng giới. Ở đó, tôi được một vị bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ người Thái giới thiệu làm việc với một vài katoey (người chuyển giới).
Chuyện về những cô gái chuyển giới đẹp mê ly người Thái Lan, báo chí và cộng động mạng đã nói rất nhiều rồi, có lẽ tôi không cần kể thêm nữa. Họ đúng là rất xinh đẹp, từ mắt môi , làn da đên thân hình sexy bốc lửa khiến cho những cô gái như chúng tôi cũng phải tròn mắt ghen tỵ.
Nhưng tôi không chú tâm đến họ lắm. Người làm tôi ấn tượng nhất , là một "cô gái" cao to lực lưỡng, dễ chừng phảo cao tới mét bảy, tay chân vẫn còn hằn dấu vết cơ bắp, nước da rám nắng và khuôn mặt gồ ghề. Duy có bộ ngực là không ăn nhập gì với thân thể - nó to, căng tròn như hai trái bóng nhỏ và chỉ chực muốn làm bứt tung cúc áo.
Như đọc được sự ngạc nhiên trong tôi, vị bác sĩ giải thích rằng đó là một người chuyển giới không hoàn chỉnh (Lady boy) . Gọi là cô cũng không hẳn, gọi là anh cũng chẳng sai, vì "cô gái" này đã bơm ngực, đã tiêm hoocmon nữ nhưng lại không phẫu thuật cơ quan sinh dục nam sang nữ.
Trong mấy hôm ở lại Thái Lan, thi thoảng tôi có bắt chuyện với "cô gái" này. "Cô" rất cởi mở, vui tính và rất vui khi có người quan tâm đến mình.
Qua những câu đối thoại bập bõm bằng tiếng Anh, tôi lờ mờ hiểu được câu chuyện của "cô". Rằng "cô" vốn là một chàng trai bình thường cả về sinh lí, tâm hồn và thể xác. Nhưng vì gia cảnh quá nghèo, lại mất việc vì cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, bí quá "cô" đành bắt chước các bạn, đi giải phẫu thẩm mĩ để bán dâm.
Vì không có nhiều tiền để tiêm hoocmon và phẫu thuật chỉnh hình cơ thể, nên thân hình "cô" vẫn không khác mấy so với ngáy xưa. Mặt chưa gọt, cơ bắp chưa teo, da chưa tắm trắng, nên trông "cô" thành ra kệch cỡm với bộ ngực to sụ trên thân thể đàn ông.
"Cô" cũng không đủ tiền để phẫu thuật nốt cái chỗ bên dưới. Mà "cô" cũng không muốn cắt bỏ "nó", vì không muốn làm phụ nữ. Cô chỉ cố gắng làm công việc này một thời gian, kiếm đủ tiền trang trải món nợ của gia đình, rồi lại đi cắt bỏ ngực và quay lại cuộc sống bình thường. Bạn bè "cô" cũng có nhiều người như thế lắm!
Tôi hỏi, thế như thế này vẫn đi khách được à. Cô bảo được tuốt, bọn Tây nhiều thằng có sở thích kì quái lắm. Không thì cô đi múa cột trong bar, hoặc làm những trò gì gì theo yêu cầu của du khách. Cô vừa nói vừa mỉm cười, nụ cười gượng gạo và chua chát.
Bẵng đi một thời gian, hồi hè vừa rồi tôi gặp lại vị bác sĩ kia trên mạng. Trò chuyện một hồi, tôi có hỏi ông về "cô gái" nọ.
Ông bảo, "cô" ấy đã phẫu thuật luôn cả "chỗ dưới" rồi. Vì gia đình "cô" dạo này khó khăn quá, phải đi khách miệt mài để kiếm thêm tiền. Với lại, sau mấy năm tiêm hoocmon liên tục, cái của quý năm xưa đã teo tóp lại, chỉ còn như của một đứa trẻ 7-8 tuổi, chẳng thể nào phục hồi lại như xưa nữa.
Đọc xong lời chat của ông bác sĩ, tôi bỗng thấy buồn buồn. Thương cho một kiếp nghèo.
Chẳng khác gì những thái giám xưa, phải chịu bị thiến để vào làm việc trong cung, ăn bổng lộc của vua vậy.
LINYE (TAMTAY.VN)



Chùm ảnh 'người đẹp chuyển giới' trong quán bar Thái Lan

Những hình ảnh dưới đây do thành Leviathan , blog Tamtay.vn, cùng một số du khách Việt Nam khác thực hiện trong một chuyến đi Thái  Lan.

Cảnh báo về nội dung: Có nhiều hình ảnh mang tính nhạy cảm.


LEVIATHAN9999 (BLOG TAMTAY.VN)

Sự sụp đổ nhục nhã của nền đức hạnh Nhật Bản

Từ rất lâu rồi, người ta đã lưu truyền câu nói “ăn cơm tàu, lấy vợ nhật, ở nhà Tây”. Ngoan hiền, chung thủy, chịu thương chịu khó, đã có thời những người vợ Nhật được đàn ông nhiều nước trên thế giới coi là chuẩn mực tối cao của … nghiệp làm vợ.
Song, thời thế đã thay đổi.
Trong cơn lốc suy thoái kinh tế và suy thoái các giá trị truyền thống, những phụ nữ trẻ Nhật Bản là những người chịu ảnh hưởng nặng nhất.
Không thể phủ nhận rằng, phụ nữ Nhật là những người có truyền thống chiều chồng, thương con và hết mực chăm lo cho gia đình. Thế nhưng, yếu tố quan trọng nhất mang đến sự "hoàn hảo" của vợ Nhật, chính là từ sự phân công trách nhiệm rất rõ ràng trong các gia đình Nhật.
Ở đó, câu nói "đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm" được quán triệt tuyệt đối. Những người chồng chịu trách nhiệm kiếm tiền nuôi sống gia đình, còn người vợ chỉ việc làm tốt vai trò nội tướng. Chuyện những cô gái cầm vài tấm bằng đại học về nhà nội trợ là chuyện thường ở huyện.
Thế nhưng, khoảng 6-7 năm trở lại đây, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, những cô gái Nhật buộc phải thay đổi cách nghĩ. Những cô gái trẻ buộc phải tự chủ về kinh tế, không thể "sau này lấy chồng dựa chồng". Còn những bà nội trợ, cũng bị quăng ra khỏi căn bếp, tự đi kiếm việc làm.
Và, rất nhiều người trong số đó, bị cuốn vào ma trận của ngành công nghiệp tình dục
Khoảng 5-6 năm trở lại đây, các nhà sản xuất JAV (phim người lớn) cho biết, công việc tìm kiếm diễn viên mới trở nên rất dễ dàng. Đơn giản là thu nhập từ mỗi lần đóng phim quá cao, quá hấp dẫn đối với cả những cô gái trẻ lẫn phụ nữ có gia đình.

Cả các khu phố kinh doanh tình dục nổi tiếng như Shijuku và Shibuya cũng được dịp... phất theo.

Mỗi tối, hàng loạt cô gái từ khắp nơi đổ về để bắt đầu "làm việc". Theo trang tokyo reporter - một trang web điểm tin tức của Nhật Bản thì 30% trong số đó là các phụ nữ trẻ đã có gia đình. Đồng thời, thi thoảng cảnh sát còn phát hiện cả những cô bé 12-13 tuổi trang điểm già dặn và tới đây đi khách.

Theo trang tokyo reporter (http://www.tokyoreporter.com, một trang web điểm tin tức của Nhật Bản) thì 40% trong số đó là các phụ nữ trẻ đã có gia đình. Đồng thời, thi thoảng cảnh sát còn phát hiện cả những cô bé 12-13 tuổi trang điểm già dặn và tới đây đi khách. Mới hồi tháng 4 vừa quá, cảnh sát ở Osaka đã phát hiện một quán bar người lớn đã sử dụng tiếp viên là nữ sinh tiểu học!
(Chú ý: bậc tiểu học ở Nhật kéo dài đến lớp 6. Cô bé bị bắt ở Osaka đang học lớp 6, 12 tuổi)

Một cô gái nhỏ bước trên phố ở Kabukicho.

Các cửa hàng kinh doanh sex và câu lạc bộ ở Kabukicho đặc biệt tập trung vào các khía cạnh mới mẻ của tình dục, đặc biệt là cosplay với các cô gái trong vai y tá, bác sĩ, bồi bàn… và nhiều “phong cách” khác.

Trên tờ Shukan Bunshun Cô Ayano Y. , 32 tuổi, cho biết : cô đã làm tiếp viên trong Sex Bar từ đầu năm nay. Trước đó, hồi năm ngoái,cô đã quyết định kiếm một công việc làm thêm để giúp trả khoản nợ của gia đình.
Tuy nhiên, rất nhiều người cũng đang đi tìm một công việc bán thời gian, lương thấp, không cần kỹ năng như cô. Sự suy giảm của nền kinh tế đã khiến những việc làm toàn thời gian trở nên khan hiếm.
Sau rất nhiều nỗ lực, cô vẫn không tìm được việc làm. Cô nhận ra sự thật phũ phàng rằng rằng mình không hề có cơ hội khi những đối thủ của cô là những phụ nữ trẻ, độc thân và những người đàn ông trung niên sẵn sàng làm việc cả ngày. Ayano chua chát nói: "Một phụ nữ bận rộn với công việc gia đình, không có kinh nghiệm làm việc như tôi, làm gì còn công việc nào khác ngoài đi mua vui cho những kẻ giàu có?"
Tờ Weekly Playboy ra ngày 3 tháng 5 còn dẫn lời một bà mẹ trẻ: Nếu tôi không làm công việc này thì con gái tôi sau này sẽ phải làm. Nếu không, một gia đình làm công ăn lương như chúng tôi không thể trang trải nổi cuộc sống và cho các con học hành đến nơi đến chốn. GIá mà NHật Bản cũng miễn phí giáo dục hoàn toàn như ở Bắc Âu thì tốt.
Ăn nên làm ra nhất là các quán Bar dành cho người lớn. Họ có thêm cả nguồn khách hàng và tiếp viên khổng lồ. Những night pub kiểu "happening bar" hay "couple kissa" xuất hiện ngày càng nhiều. Ở đó, các cô gái độc thân hay có gia đình, các viên chức ăn lương dù đầu hói hay tóc còn xanh, sẽ cùng "vui vầy" trong những bữa tiệc tình dục theo nhóm.
Ở đây, ngoài những tiếp viên đi làm để kiếm tiền, còn có cả những cô gái bình thường, đến đây kiếm tìm niềm vui, sau khi đã quá mệt mỏi với chuyện chồng con và công sở. Áp lực cuộc sống và gánh nặng tiền bạc quá nặng nề, khiến cuộc sống tình dục trong gia đình gần như đóng băng. Những ông chồng vì bận công việc nên cả tháng trời không thèm đụng đến vợi, khiên họ chán nản và quyết định đi tìm luồng gió mới ở ngoài.
Vấn đề này đã được Vnexpress đăng tải cách đây không lâu. Người viết điểm lại một vài chi tiết đáng chú ý:
"Tôi không thích đàn ông già, nhưng cũng tùy, nói chung tôi có thể quan hệ với ai cũng được", một cô nội trợ tuổi ngoài 20 tên là Mari nói. Cô đi cùng người mối lái của quán bar Happening và một viên chức hói đầu gấp đôi tuổi cô.

"Tôi chưa bao giờ đến những nơi như thế này trước đây, nhưng bạn bè tôi rất hay kể về nó", cô giải thích. "Gần đây tôi gặp nhiều chuyện không vui ở nhà nên cuối cùng, tôi bảo bạn tôi dẫn đến đây".

Giống nhiều giáo viên tiếng Anh, các nhân viên văn phòng và những khách hàng khác ở khu Kabukicho của Tokyo, Mari bước ra khỏi cuộc sống thường nhật để đến với Happening Bar. Đó là những câu lạc bộ tư nhân, nơi những người độc thân hay các đôi trai gái nhau tụ tập để cùng tham gia "trò chơi người lớn".

"Hôm nay, tôi đã quan hệ với khoảng 20 người. Chuyện này giống như chơi thể thao vậy, chúng tôi kết nối với nhau. Tôi cảm thấy rất cởi mở", Mari nói.

Saori, một cô gái khác, thì giải thích rằng quán bar đã trở thành một điểm đến quen thuộc hàng tuần của cô. "Chồng tôi không biết tôi đến đây đâu", Saori thừa nhận.

"Khi đến đây lần đầu tiên, tôi có cảm giác khá tội lỗi và nghĩ rằng mình nên ly hôn. Tuy nhiên, sau đó tôi nhận ra tôi vừa muốn có chồng vừa thích nơi này, vì thế tôi phải giữ bí mật".


Thậm chí, nhiều khảo sát cho thấy, đa số nữ thanh niên Nhật hoàn toàn không nghĩ đến chuyện lập gia đình. Với họ, lập gia đình chỉ là một gánh nặng, cản trở họ tìm đến những "cơ hội giàu có" và "tìm niềm vui trong cuộc sống".
Một nữ sinh viên Nhật cho biết: "Độc thân, tôi dễ dàng kiếm được những công việc hay ho mà thu nhập lại cao. Độc thân, tôi có thể vui vẻ với bất kì chàng trai nào tôi thích. Vậy lấy chồng làm gì?"
Nhiều Blogger Nhật Bản đã viết, chẳng bao lâu nữa thôi những cô vợ Nhật truyền thống sẽ chỉ còn là huyền thoại
Khủng hoảng kinh tế đúng là một bi kịch. Nó phá tung tất cả lề thói xã hội và tư cách con người.
Ngẫm ra, đâu cũng vậy thôi. "Không có tiền thì cạp đất mà ăn à ?"
LINYE (BLOG TAMTAY)

Một số quan điểm phương Tây hiện đại về bản chất của cái tôi

Lược sử nghiên cứu cho thấy đề tài cái tôi/ the self luôn dễ làm nản lòng các nhà nghiên cứu tâm lý học.

Như Satir & Baldwin (1987) đã chỉ ra, cái tôi là một vấn đề rất cá nhân và có thể không bao giờ được biết đến trạng thái toàn vẹn của nó. Do cái tôi thuộc về phương diện văn hoá, chủ yếu hàm ẩn và mang tính giả thuyết, nên rất khó định nghĩa nó (Pfuetze, 1958).
Tuy vậy, một sự phân tích về các cách giải thích khác nhau và xem xét lại nhiều nghiên cứu có liên quan đã cung cấp một loạt con đường dẫn đến việc hiểu biết cái tôi.
Trong số này phải kể đến: sự tự tin/ self-efficacy của Bandura (1986, 1989, 1997); “cái tôi khả thể”/ the “possible self” (Markus & Wurf, 1986, 1987; Nurius, 1986; Stein & Markus, 1994); “cái tôi thầm thì”/ the “whispering self” (Purkey, 2000); và cái tôi tự kể/ self as a narrative (Greenberg, 1995; Polkinghorne, 1991; Singer & Salovey, 1993).
Cơ bản, có thể xem cái tôi như một phức hợp, động thái và hệ thống có trật tự về hệ xác tín học hỏi được mà mỗi cá nhân nắm giữ như sự thật về sự tồn tại bản ngã mình.
Cái tôi này cung cấp tính kiên định của nhân cách và cho phép cá nhân duy trì một điểm tham khảo về các tiền đề cũng như hậu quả của nhận thức và hành vi (David J. Cain, Julius Seemans [eds]. Humanistic Psychotherapies: Handbook of Research and Practice. [2nd edn]. Washington, DC: APA, 2002, pp.474-479).
Trước hết, cần nhắc lại rằng, theo quan điểm truyền thống khởi từ W. James (1890), cái tôi được chia thành cái tôi chủ thể hoặc cái tôi tồn tại (I-self/ existential self) liên quan đến trải nghiệm chủ quan về sự sống còn, và cái tôi khách thể hay cái tôi trải nghiệm (Me-self/ sempirical self) bao gồm các đặc tính khách quan của một người.
Theo đó, khái niệm về cái tôi ám chỉ cách thức con người cảm giác, nhìn nhận hay suy nghĩ về chính bản thân mình; nó tiếp tục phát triển khi đứa trẻ tương tác với người khác. (Natalie Kalman, Claire G. Waughfield. Mental Health Concepts. [2nd edn]. New York: Delmar Publisher Inc, 1987, pp. 42-43).
Khái niệm cái tôi trở thành điều bắt buộc đối với các nhà phân tâm học, vì nó là một khái niệm rất phù hợp với nỗ lực chiếm được cấu trúc hình thức của toàn thể con người.
Mearn (2003) cho khái niệm về cái tôi là thái độ của chúng ta hướng về cái tôi của mình .
Giống như bất kỳ thái độ nào, nó có 3 thành phần, thường quy vào nhận thức- tri thức của chúng ta và các niềm tin của chúng ta về cái tôi; xúc cảm- xúc cảm và sự lượng giá của chúng ta về cái tôi; và hành vi- khuynh hướng ứng xử của chúng ta trong những cách thức khác nhau phản ánh tư duy và xúc cảm của chúng ta về cái tôi. (Dave Mearns. Developing Person- Centred Counselling. [2nd edn]. London: Sage Publications, 2003, p. 89).
Theo Lawrence Josephs (1995), cảm nhận của con người về cái tôi biểu lộ rất rõ bản chất cá nhân hơn bất cứ khía cạnh nào khác của hoạt động nhân cách. Nói về các ước mơ, sự phòng vệ, tưởng tượng, các chức năng của cái tôi, các tiến trình vô thức, các sơ đồ quan hệ,… là đề cập đến các bộ phận cấu thành của nhân cách.
Còn nói về cái tôi là nói đến con người như một cá thể duy nhất. Khái niệm cái tôi, tựa như khái niệm tính cách, cố gắng nắm bắt chức năng của con người như một đơn vị tích hợp. (Lawrence Josephs. Character and Self- Experience: Working with Obsessive-Compulsive, Depressive-Massochistic, Narcissistic, and Other Character Styles. London: Jason Aronson Inc, 1995, p.90).
Người ta cũng nhận thấy rằng, kết quả của tình trạng thiếu vắng sự nối kết và sự thật là do xu hướng nghiêng về việc tự bảo vệ/ self-proctection, khi truyền thông cùng những người khác. Đặt trong điều kiện bất an, giải pháp là có thể dự đoán được: nỗ lực vì mục đích chăm sóc và biện hộ cho cái tôi.
Hành vi tự duy trì/ self-maintenance nổi lên từ một vài cảm nhận về tính không biết chắc với tha nhân, từ sự tri giác hiểm nguy đối với bản thân; nảy sinh các cơ chế phòng vệ.
Theo Karl E. Scheibe, các cơ chế phòng vệ quá nổi tiếng trong lý thuyết phân tâm học bởi vì “cái tôi”/ ego được xem là ở bên dưới một trạng thái ít hoặc nhiều bất biến của sự vây hãm; Marshall Edelson thì cho các cơ chế phòng vệ là “một khía cạnh có mặt khắp mọi nơi trong hành động của con người.” (John Steward [ed.] Bridges Not Walls: A Book about Interpersonal Communication.[7th edn]. USA: McGraw-Hill College Inc, 1999,p.132).
Còn hệ thống cái tôi/ self-system là một tập hợp tiến trình có liên quan với nhau- hiểu biết cái tôi/ self-knowledge/ self-awareness, tự lượng giá/ self-evaluation và tự điều chỉnh/ self-regulation- cấu thành cái tôi. (Ross Vasta, Marshall M. Haith, Scott A. Miller. Child Psychology: The Mordern Science. [2nd edn]. USA: John Wiley & Sons, Inc, 1995, p.486).
Là các thành phần thuộc hệ thống cái tôi, tự hiểu biết/ self-knowledge/ self-awareness/ referential self liên quan đến hiểu biết của cá nhân về bản thân, tự lượng giá thì nói đến sự đánh giá của người ta về bản thân và các năng lực riêng, còn tự điều chỉnh dính dấp đến sự tự kiểm soát/ self-control.
Theo Staub (1979) và M. Hoffman (1971), việc kỷ luật bằng cách giới thiệu (giải thích tại sao hành động nào đó là sai trái, điều ấy vi phạm nguyên tắc ra sao, nó gây ra cảm giác ở người khác như thế nào) hướng đứa trẻ hấp thu các giá trị của bố mẹ và trở thành một trong các tiêu chuẩn riêng của trẻ; tự kiểm soát được hình thành như thế. (Morton Hunt. The Story of Psychology. New York: Anchor Books, 1994, p. 372).
Có nhiều cách định nghĩa tự kiểm soát: (a) đáp ứng của cơ thể tạo nên sự kiểm soát khả năng có thể xảy ra của một đáp ứng khác (Cautela, 1969); (b) mắc bận vào hành vi hiếm có khả năng xảy ra khi vắng mặt những sự thúc ép ngay lập tức từ bên ngoài (Thoresen & Mahoney, 1974); (c) một sự gán nhãn xã hội khác nhau áp dụng cho các mẫu hành vi bao gồm vài kiểu nỗ lực, ước muốn xã hội và lĩnh hội việc hy sinh, theo ý của Mahoney & Arnkoff, 1979. (Deane H. Shapiro, John A. Astin. Control Therapy: An Integrated Approach to Psychotherapy, Health and Healing. USA: John Wiley & Sons, Inc, 1998, p.12).
Kiểm soát nhận được một sự chú ý to lớn trong tài liệu tâm lý học thời gian gần đây. Ví dụ, trong khi xét lại các cơ chế của sự điều chỉnh hay “quản lý hành động tự ý”, Karoly (1993) bình luận: “Việc giới thiệu về sự tự điều chỉnh và những thuật ngữ có liên quan vào tâm lý học đương đại không gặp một sự hạn chế nào đối với nguyên tắc đơn lẻ.”
Với các tác giả Baumeister, Heatherton & Tice (1994) thì hầu hết sự thất bại trong việc tự điều chỉnh xảy đến với đàn ông, trong khi đó họ mô tả “tự kiểm soát” như là “đức hạnh tinh tuý của phụ nữ trong nền văn hoá phương Tây.”
Họ trích dẫn các nghiên cứu để hỗ trợ cho kết luận: năng lực tự kiểm soát là một khía cạnh trung tâm, hùng mạnh, bền vững và có lợi cho nhân cách. Khả năng lớn lao của việc trì hoãn sự hài lòng được nối kết với trạng thái chú ý, hữu lý, thông minh, tháo vát, có trình độ và hợp tác… Trẻ em có năng lực thấp để trì hoãn việc thoả mãn nên có khuynh hướng bị xung hấn, bồn chồn, không có khả năng đối phó với stress, nghiêng về cảm xúc bị ngược đãi, thích được hờn dỗi và hú hét.
Do đó, tự điều chỉnh giải thích cho gần một nửa các hành động thích ứng của con người. Theo họ, tự quản lý/ self-management mang nghĩa bảo trọng bản thân. Và sự thất bại đối với việc tự kiểm soát bản thân, nghĩa là trạng thái không có khả năng kiểm soát cảm xúc và tâm trạng cũng như các cơn xung năng và lòng thèm muốn rượu, thức ăn, thuốc lá, cờ bạc, mua sắm và sự gây hấn. (Luciano L’Abate. The Self in Family: A Classification of Personality, Criminality, and Psychopathology. USA: John Wiley & Sons, Inc, 1996, pp. 67-68).
Từ thực tế cuộc sống, mọi người đều cảm nhận được một điều là không có ai thực sự thành công hay hạnh phúc chân chính cho đến khi người đó đạt được một mức độ nhất định của sự tự chấp nhận bản thân.
Có lẽ những người khốn khổ nhất và bị hành hạ nhất trên thế giới là những kẻ không ngừng phấn đấu để chứng minh với bản thân họ và với người khác rằng, họ là một cái gì đó khác hơn những gì họ cơ bản là.
Và vì thế, dường như không có một sự khuây khoả và toại nguyện nào đến với một người bằng việc cuối cùng, người ấy đã từ bỏ những sự giả vờ và làm ra vẻ để khao khát được là chính mình. (Maxwell Maltz. Psycho-Cybernetics. [18th edn]. New York: Prentice-Hall Inc, 1972, pp.124-125).
Thành công, đến từ sự tự biểu đạt/ self-expression, thường lảng tránh đối với những người nỗ lực và căng thẳng để được là ai đó; trái lại, nó quay về với người có sự hoà hợp riêng khi người đó ước ao thư giãn và là chính mình.
Thay đổi hình ảnh về cái tôi/ self-image không có nghĩa là làm chuyển biến cái tôi, hoặc củng cố nó, mà là thay đổi bức tranh tâm thần riêng của chính bạn, thay đổi ước đoán của riêng bạn, quan niệm và tự thực hiện về cái tôi đó.
Những kết quả bất ngờ đi theo sau sự phát triển một hình ảnh cái tôi thích hợp và thực tế, không phải từ sự chuyển dạng biến chất/ self-transformation mà là từ sự thực hiện bản ngã/ self-realization và tự mặc khải/ self-revelation. Tạo nên một hình ảnh đẹp hơn về cái tôi không phải là tạo nên những năng khiếu mới, thiên tài, quyền lực; nó giải thoát và tích hợp chúng.
Nghiên cứu về bản chất cái tôi, Markus và cộng sự (1997; Markus & Wurf, 1986, 1987), Goldfried & Robins (1984) đã tập trung tiêu điểm vào các sơ đồ nhận thức về cái tôi/ self-schemas và những cái tôi khả thể/ possible selves.
Ở đây, các sơ đồ nhận thức về cái tôi là một bức chân dung nhận thức bên trong cái tôi thường dùng để thiết lập thông tin về cái tôi; “self-schemas” chi phối việc thông tin được xuất hiện hay không, thông tin được cấu trúc như thế nào, và thông tin có thể được ghi nhớ ra sao (Markus, 1977).
Hơn nữa, “self-schemas” được định hình trên cơ sở người khác nắm được như thế nào về chúng ta và từ các kinh nghiệm trực tiếp của chúng ta, đặc biệt là việc trải nghiệm đầy ý nghĩa cảm xúc mà chúng ta có với người khác.
Còn theo Markus & Nurius (1986), thì khái niệm những cái tôi khả thể bao gồm những ý niệm “cá thể” của những gì chúng phải trở thành, những gì chúng muốn được trở thành và những gì chúng e ngại trở thành (Donald J. Kiesher. Contemporary Interpersonal Theory and Research: Personality, Psychopathology, and Psychotherapy. USA: John Wiley & Sons, Inc, 1996, p.68).
Theo Markus (1977), người ta chọn lọc từ cái kho chứa mênh mông của sự tự hiểu biết thông tin thích hợp với các kinh nghiệm hoặc sự kiện riêng biệt.
Kết quả chọn lọc thông tin trong cấu trúc của sơ đồ nhận thức về cái tôi giúp con người quyết định chú ý đến kích thích nào, thông tin nào được ghi nhớ và tích hợp vào cái tôi hệ thống, và những kết luận cũng như quyết định được đưa ra trong bối cảnh đặc thù.
Khuôn khổ này có giá trị để nhà tâm lý trị liệu nhìn nhận nhân dạng của cái tôi/ self-identity như là trung tâm của nhân cách con người.
Theo Allport (1961), nhân dạng của cái tôi là cảm giác “tôi là ai” gồm các suy nghĩ và hành động của tôi cũng như trí nhớ của tôi về chúng và chấp nhận chúng như là của tôi; ở trẻ thơ, cảm nhận này đầu tiên rất yếu ớt, rất gắn bó với môi trường xã hội chung quanh, đặc biệt là gia đình. (Jess Feist, Gregory J. Feist. Theories of Personality [4th edn]. USA: McGraw- Hill Company Inc, 1998, p.414).
Với các nhà tâm lý học Nhân văn thì thành tựu sau chót của sự phát triển nhân cách là sự tự khẳng định bản ngã/ self-actualization. Đó là một trạng thái của sự toàn mãn, một cái tôi tràn đầy/ self-fulfillement mà trong đó con người nhận ra tiềm năng cao nhất của chính họ. (Robert S. Feldman. Essential of Understanding Psychology.. [3rd edn]. USA: McGraw-Hill Companies Inc, 1997, p.390).
Nói chung, việc xác định cái tôi được ấn vào 5 phẩm chất: (a) trật tự; (b) động thái; (c) nhất quán; (d) có thể thay đổi; và (e) học hỏi. Những phẩm chất này được minh họa như là vòng xoáy của khái niệm về cái tôi.
S.T

Ẩn số về khả năng thần giao cách cảm

Thần giao cách cảm (telepathy) xuất phát từ tiếng Hy Lạp, “Tele” có nghĩa là “xa” và “pathos” có nghĩa là “cảm giác”, chỉ khả năng cảm nhận mọi thứ đang/sắp xảy đến từ xa.

Bạn đang làm việc, đột nhiên nghe thấy tiếng bố, mẹ hay bạn bè giục bạn gọi điện cho họ và ngay sau khi nhấc máy gọi điện, họ reo lên thích thú bởi họ cũng đang nghĩ đến bạn. Hay như một trường hợp khác, bạn và người bạn của mình cùng thốt lên một từ mà cả hai nghĩ tới trong cùng lúc. Đó chính là một giản thể của thần giao cách cảm.
Những câu chuyện về thần giao cách cảm
Trong cuộc Chiến tranh Thế giới thứ I và II, số binh lính chết trên chiến trận nhiều vô kể, đó cũng là lúc mà nhiều người cho rằng, hiện tượng thần giao cách cảm rộ lên. Một góa phụ kể lại: "Trong Chiến tranh Thế giới lần II, chồng tôi được gọi nhập ngũ và đưa ra nước ngoài vào tháng 12 năm 1941. Một đêm đang nằm trằn trọc, tôi nghe thấy tiếng gõ cửa, rồi tiếng chìa khóa tra vào ổ cửa phòng. Thoáng sau, chồng tôi đứng cạnh giường, nhìn tôi, hôn má tôi, nắm tay tôi rồi biến mất. Mãi đến năm 1945, tôi mới nhận được giấy báo tử: chồng tôi chết tại trại tù binh chiến tranh ở Viễn Đông vào tháng 4 năm 1942. Đó cũng chính là thời điểm tôi mơ thấy giấc mơ kỳ lạ ấy".
Vào năm 2009, cặp song sinh Leanne và Gemma đã làm mọi người kinh ngạc khi chỉ ra rất nhiều kết nối tâm trí mà họ chia sẻ với nhau chỉ bằng ý nghĩ mà không hề thông qua bất kỳ giác quan nào trên cơ thể. Như mọi ngày, Gemma làm những công việc của mình tại Anh, đột nhiên cô có cảm giác nguy hiểm đang đến gần và người em song sinh của mình đang gặp rắc rối. Lúc đó em gái của cô đang tắm, Gemma cảm nhận sự nguy hiểm mỗi lúc một nhiều hơn. Cô chạy vào phòng tắm, thấy em mình đang nằm bất tỉnh, chìm xuống bồn tắm đầy nước. Ngay lập tức Gemma kéo Leanne ra khỏi bồn tắm và thực hiện các phương pháp sơ cứu tạm thời, Leanne được cứu sống. Câu chuyện ngay sau đó được lan rộng khắp châu Âu, người ta tin rằng, Leanne đã truyền ý nghĩ cầu cứu tới chị của mình.
Trong khi con người có khả năng kết nối tâm linh với nhau thì rất nhiều người nói rằng, họ có khả năng nói chuyện với vật nuôi của mình. Mới đây của cô Lauren Bobe (Canada) - một huấn luyện viên cưỡi ngựa, cô chia sẻ rằng mình có thể nói chuyện “thì thầm” với con ngựa của mình. Con ngựa nói với cô, nó rất buồn bã về việc sắp phải chuyển đến một trang trại khác và lo lắng không biết có thích hợp với nơi mới hay không. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu khoa học nào khẳng định được điều này.
Trường hợp khác nữa là con người có khả năng kết nối với cây cối. Nhiều trường hợp, nếu chủ nhân qua đời hoặc đi vắng thì cái cây mà họ yêu quý cũng héo úa và chết dần.
Lý giải hiện tượng
Thần giao cách cảm (telepathy) xuất phát từ tiếng Hy Lạp, “Tele” có nghĩa là “xa” và “pathos” có nghĩa là “cảm giác”, chỉ khả năng cảm nhận mọi thứ đang/sắp xảy đến từ xa. Ý nghĩa của thần giao cách cảm là một người có khả năng truyền suy nghĩ, cảm xúc của họ vào tâm trí của người khác, bằng cách sử dụng tâm trí của mình. Dù là cố ý hay không, chúng ta thường xuyên gặp các triệu chứng thần giao cách cảm. Khả năng này chuyên cảm biến và truyền tải cảm xúc qua một khoảng cách mà không cần sự tham gia của 1 trong 5 giác quan của con người.
Nhiều nhà khoa học phương Tây đã bắt đầu nghiên cứu về khả năng đặc biệt này của con người từ những năm 1882. Công trình nghiên cứu “truyền ý nghĩ” sơ khai và nổi tiếng nhất là thí nghiệm của tiến sĩ Henry Sidgwick cùng vợ (bà Eleanor Sidgwick) tiến hành tại Brighton vào những năm 1889 - 1891. Trong thí nghiệm này, những người cảm thụ bị thôi miên. Người ta yêu cầu họ tưởng tượng trên các thẻ trống một hình ảnh hoặc tranh vẽ được chọn bởi người “phát ra ý nghĩ” và đang cố gắng truyền thông điệp tới họ. Người phát ra ý nghĩ chọn một trong các tấm thẻ đánh số từ 10 đến 90 và người cảm thụ sẽ đọc to những số mà người kia chọn. Họ đã đưa ra kết quả đúng một cách kinh ngạc.
Cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em là những người có mối liên hệ mật thiết trong việc truyền ý nghĩ. Các bà mẹ thường có trực giác khi con mình đang gặp nguy hiểm, vợ chồng thường rất hiểu ý nhau, nhạy cảm với suy nghĩ của nhau nếu họ có cuộc hôn nhân bền vững và hạnh phúc. Anh, chị, em cũng có khả năng thần giao cách cảm với nhau đặc biệt là các cặp song sinh thường cảm nhận rõ rệt trạng thái của người song sinh với mình dù đang ở rất xa nhau.
Lý giải hiện tượng này, các nhà khoa học cho rằng, thời điểm con người thể hiện khả năng thần giao cách cảm tốt nhất là khi cơ thể ở trạng thái căng cứng, tâm lý căng thẳng. Các hormone adrenaline và noradrenalline (làm tăng nhịp tim và lượng đường huyết) tiết ra một lượng lớn vào những lúc xúc cảm đạt cao độ. Một lý giải khác nữa là ở lý thuyết “Làn sóng vô tuyến điện”. Theo lý thuyết này, thần giao cách cảm hoạt động như làn sóng radio, "bộ não sóng" sẽ di chuyển những "rung cảm", truyền từ người này sang người khác.
Nhiều người tin rằng, khả năng thần giao cách cảm thuộc về lĩnh vực tâm linh và không nhà khoa học nào có thể lý giải cặn kẽ được điều này. Ngày nay, hầu hết các quốc gia Âu Mỹ và ngay cả Việt Nam chúng ta đều công nhận khả năng ngoại cảm nói chung và thần giao cách cảm nói riêng, qua nhiều chứng cứ thuần khoa học. Mỹ, Anh, Nga là những nước đi tiên phong trong việc tiến hành những thí nghiệm khoa học để minh chứng cho khả năng kỳ diệu này của con người.
Theo MASK ONLINE

Giở Chồng Báo Cũ: Vua An Nam — Le Monde Illustré: Le Roi d’Annam

GIỞ CHỒNG BÁO CŨ
Le Monde Illustré
23 Fév. 1889
Nguyễn Duy Chính dịch
Đây là một bài báo cũ trích từ tuần báo Le Monde Illustré [số 1665 ra ngày 23 tháng 2 năm 1889 tại Paris] nhan đề “Le Roi d’Annam” từ trang 118-120 do ký giả Jean Locquart tường thuật về việc người Pháp bắt giữ vua Hàm Nghi và đưa ông sang an trí ở Alger. Tài liệu tuy đơn giản nhưng có đính kèm một số hình ảnh hiếm quí, được vẽ lại và khắc bản vì thời đó sách báo chưa làm được bản kẽm theo lối hiện thời. 
Tư liệu sưu tầm của người dịch

VUA AN NAM
Ông bộ trưởng bộ Hải Quân vừa nhận được tin mới nhất thông báo vua Đồng Khánh nước An Nam đã từ trần ở Huế ngày 27 tháng 1 [năm 1889] sau một cơn bạo bệnh.
Vua Đồng Khánh thọ 25 tuổi, lên kế vị em ông là vua Hàm Nghi ngày 19 tháng 9 năm 1885, người đã được quan phụ chính Thuyết [Tôn Thất] đưa đi khỏi kinh thành sau vụ tấn kích ở Huế ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885. Vua Hàm Nghi sau đó bị truất vị đã phải sống một thời gian khó khăn và không chấp nhận những đề nghị thoả hiệp cho đến khi ông bị biệt đội của đại uý Boulangier bắt được. Cũng có tin là ông đã đến Alger và trú ngụ tại một biệt thự ở Mustapha, nơi ông nghe tin về cái chết đột ngột của người kế vị mình.
Tân vương [tức vua Đồng Khánh] được coi là rất thân với người Pháp và để lại một đứa con trai mới lên ba.
Bức điện tín báo tin vua An Nam băng hà cũng cho hay thái hậu mẹ cựu hoàng Hàm Nghi cũng đã chết tại Huế. Việc bắt giữ vua Hàm Nghi cũng đã dập tắt mọi vụ nổi dậy còn tồn tại ở Bắc Kỳ. Người ta nói rằng sau vụ binh biến tháng 7 năm 1885 chống lại thống tướng de Courcy, vua Hàm Nghi đã nhiều lần kêu gọi dân chúng tấn công nhiều lần khác nhau các địa điểm ở Huế và vùng phụ cận.
Nhờ mật báo và tài điều quân của đại uý Boulangier đột kích bắt giữ vua Hàm Nghi nên khu vực này ngày nay mới được trị an. Một buổi chiều binh đội của đại uý được tin là sau khi bị đội lính dõng thiện chiến truy kích liên tục, cựu hoàng lẩn trốn cùng với người tuỳ viên là Than-Tat-Thiep [Tôn Thất Thiệp], con trai cựu phụ chính Thuyết tại một làng hẻo lánh và kín đáo trong rừng núi cao nguyên Giai [?].
Binh đoàn của Boulangier liền bao vây nơi nhà vua ở và khi cửa chính bị đạp tung ra thì thấy Thiệp thì đã thức giấc vì tiếng động của vụ tấn công còn vua Hàm Nghi đang ngủ say ở bên cạnh. Cả hai người đều để gươm trần ở bên cạnh và trong tay có khí giới nhưng không chống trả được gì.
Thấy chủ soái thất thế, và để tránh cảnh tủi nhục khi bị bắt đem đi, Thiệp toan đâm chết ông [vua Hàm Nghi], nhưng vì quân Pháp dự tính bắt sống nên lập tức nổ súng hạ gục Thiệp. Sau đó họ chặt đầu Thiệp và đem bêu trên cọc tre ở ngoài chợ Dang-Kha là một nơi sầm uất và còn đang xao động.
Hàm Nghi, từ đó không chống cự gì nữa và theo đoàn quân đến một nơi chính quyền đã định chờ ngày đưa ông đi an trí. Việc này thể theo ý nguyện của vua Đồng Khánh mới qua đời là cựu hoàng phải ra khỏi nước, và Algérie là quốc gia có phong tục và khí hậu thích hợp nhất để tiếp nhận kẻ mới bị bắt.
Vua Hàm Nghi được đưa lên chiến hạm Biên Hoà, do thuyền trưởng Caillard chỉ huy, rời Hải Phòng ngày mồng 7 tháng 12 vừa qua và vào cảng Alger khoảng 3 giờ chiều ngày chủ nhật 13 tháng 1 [1889].
Cựu hoàng đòi cho người nhà của ông được đi theo bao gồm một thông ngôn, một quản gia và người đầu bếp. Hàm Nghi nay đã 19 tuổi có nước da vàng giống như những người đồng chủng khác với đôi mắt tuy hơi nhỏ nhưng sáng và lanh lợi đầy vẻ thông minh.
Lưỡng quyền ông hơi cao tương ứng với khuôn mặt trái soan khá thanh tú. Dáng người nhỏ nhắn còn non nớt và không có râu. Chúng tôi tặng ông một bức chân dung mà bức ảnh này đã rất khó khăn mới có được vì vua Hàm Nghi không chịu chụp hình theo lệnh của viên thống đốc.
Nhà vua mặc quần dài bằng vải trắng rộng quá khổ trông thấu đôi vớ bằng lụa màu. Ông đi dép bằng da và nhung, trang trí chữ vàng và thêu thùa tỉ mỉ. Khi ở nhà vua Hàm Nghi chỉ mặc áo cánh hay áo dài màu xanh dương, trông tương tự như y phục đàn bà.
Vua Hàm Nghi nay không còn ở khách sạn la Régence là nơi ông tạm trú khi vừa tới Algérie mà được đưa về ngôi biệt thự tráng lệ Pins tại Mustapha gần Alger. Biệt thự này sẽ là cư sở của ông cho đến mãn đời.
Trong nhà ông ở Giai người ta tìm thấy đủ loại giấy tờ trong đó có nhiều ghi chú quan trọng chỉ nơi chôn những của cải của ông trong kinh thành Huế.
Ông vua bị bắt không tiếp khách đến thăm và những gì chúng tôi biết được đều qua lòng hảo tâm của viên thông ngôn và vị quản gia. Chúng tôi kèm theo đây một bức hình trung thực của nhà vua và hình toà biệt thự Pins, nơi cư trú của vị hoàng đế nổi loạn bị lưu đày.
Jean Locquart
www.vietthuc.org

Le Monde Illustré
23 Fév. 1889

Quy tắc giao tiếp của người Nhật







Trong giao tiếp truyền thống của người Nhật có những quy tắc, lễ nghi mà mọi người đều phải tuân theo tùy thuộc vào địa vị xã hội, mối quan hệ xã hội của từng người tham gia giao tiếp. Những biểu hiện đầu tiên trong quá trình giao tiếp của người Nhật là thực hiện những nghi thức chào hỏi. Tất cả các lời chào của người Nhật bao giờ cũng phải cúi mình và kiểu cúi chào như thế nào phụ thuộc vào địa vị xã hội, từng mối quan hệ xã hội của mỗi người khi tham gia giao tiếp.
Một quy tắc bất thành văn là “người dưới” bao giờ cũng phải chào “người trên” trước và theo quy định đó thì người lớn tuổi là người trên của người ít tuổi, nam là người trên đối với nữ, thầy là người trên (không phụ thuộc vào tuổi tác, hoàn cảnh), khách là người trên... Người Nhật sử dụng ba kiểu cúi chào sau:

+ Kiểu Saikeirei: cúi xuống từ từ và rất thấp là hình thức cao nhất, biểu hiện sự kính trọng sâu sắc và thường sử dụng trước bàn thờ trong các đền của Thần đạo, chùa của Phật giáo, trước Quốc kỳ, trước Thiên Hoàng.
+ Kiểu cúi chào bình thường: thân mình cúi xuống 20-30 độ và giữ nguyên 2-3 giây. Nếu đang ngồi trên sàn nhà mà muốn chào thì đặt hai tay xuống sàn, lòng bàn tay úp sấp cách nhau 10-20cm, đầu cúi thấp cách sàn nhà 10-15cm.

+ Kiểu khẽ cúi chào: thân mình và đầu chỉ hơi cúi khoảng một giây, hai tay để bên hông. Người Nhật chào nhau vài lần trong ngày, nhưng chỉ lần đầu thì phải chào thi lễ, những lần sau chỉ khẽ cúi chào. Ngay cả người Nhật cũng thấy những nghi thức cúi chào này hết sức rườm rà nhưng nó vẫn tồn tại trong quá trình giao tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác và cho đến tận ngày nay.
+ Giao tiếp mắt: người Nhật thường tránh nhìn trực diện vào người đối thoại, mà họ thường nhìn vào một vật trung gian như caravat, một cuốn sách, đồ nữ trang, lọ hoa..., hoặc cúi đầu xuống và nhìn sang bên. Nếu khi nói chuyện mà nhìn thẳng vào người đối thoại thì bị xem như là một người thiếu lịch sự, khiếm nhã và không đúng mực.
+ Sự im lặng: người Nhật có khuynh hướng nghi ngờ lời nói và quan tâm nhiều đến hành động, họ sử dụng sự im lặng như một cách để giao tiếp và họ tin rằng nói ít thì tốt hơn nói quá nhiều. Trong buổi thương thảo, người có vị trí cao nhất thường ít lời nhất và những gì anh ta nói ra là quyết định sau cùng, im lặng cũng là cách không muốn làm mất lòng người khác. 
Người Nhật rất chú trọng làm sao cho người đối thoại cảm thấy dễ chịu. Họ không bao giờ muốn làm phiền người khác bởi những cảm xúc riêng của mình, cho dù trong lòng họ đang có chuyện đau buồn nhưng khi giao tiếp với người khác họ vẫn mỉm cười. Dù người Nhật rất khoan dung với người nước ngoài về khoản này, nhưng sẽ là một lỗi trong giao tiếp nếu không dùng ngôn ngữ lễ phép và kính ngữ khi dùng tiếng Nhật để nói chuyện với người có địa vị cao hơn. Kính ngữ “san” có thể dùng khi bạn nói tiếng Anh nhưng đừng dùng nó để gọi chính mình. Tên người Nhật có họ để phía trước nhưng họ cũng thường để ngược lại vì lợi ích của người Tây phương trong giao tiếp.