Cũng như nhân dân các nước Âu Châu, nhân
dân các nước Mỹ Châu cũng căm phẫn và thù ghét Vatican đến tận xương tận
tủy. Vì thế mà ngay từ hồi mới lập quốc, Hoa Kỳ đã ghi vào Hiến Pháp
điều khỏan “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền” với mục đích ngăn chặn Giáo Hội La Mã và tín đồ của “cái giáo hội khốn nạn”
không còn có cách nào có thể đem tôn giáo trộn lộn với chính quyền. Tất
cả các quốc gia khác ở Mỹ Châu cũng chống Vatican một cách vô cùng mãnh
liệt không khác gì nhân dân Âu Châu.
▪ I.- Hoa Kỳ Chống Vatican
Vì rằng “tổ tiên của người Mỹ là những người Âu Châu đã
từng bỏ chạy qua Mỹ Châu để tránh sự ruồng bắt của Tòa Thánh La Mã trong
thời kỳ Inquisition”[1],
cho nên hơn dân tộc nào khác, ngay từ ngày mới lập quốc, người dân Hoa
Kỳ đã nhìn thấy rõ bộ mặt thật cực kỳ ghê tởm của Vatican. Cũng vì thế
mà Tổng Thống Mỹ Thomas Jefferson (1473-1826) cũng là tác giả bản Tuyên
Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ và là tác giả 10 Tu Chính Hiến đầu tiên trong bản
Hiến Pháp Hoa Kỳ, mới tuyên bố:
"Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đã thù nghịch đối với tự do." (In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty.)
"Thượng Đế (của Giáo Hội La Mã) là một nhân vật có
những đức tính cực kỳ độc ác, ưa thích trả thù, bất khoan dung, đồng
bóng và bất công." (The God is a being of terrific character - cruel, vindictive, capricious, and unjust.)
"Đã tới 50, 60 năm tính từ ngày tôi đọc cuốn Khải
Huyền và từ đó tôi coi nó chỉ là những lời điên dại mê sảng của một kẻ
cuồng điên." (It has been 50 and 60 years since I read the Apocalypse, and I then considered it merely the ravings of a maniac.)
Tổng Thống Hoa Kỳ James Madison (1751-1836) nhận xét đạo Ki-tô La Mã:
"Trong gần 15 thế kỷ cơ sở hợp pháp của Kitô giáo đã
được phán xét, hoa trái của Kitô giáo là gỉ? Ở khắp nơi, không nhiều thì
ít, sự lười biếng và hợm hĩnh của giới giáo sĩ, sự ngu tối và quỵ lụy
của giới tín đồ, sự mê tín, sự cố chấp và bạo hành trong cả hai giới." (During
almost 15 centuries has the legal establishment of Christianity been on
trial? More or less in all places, pride and indolence in the clergy;
ignorance and servility in the laity, in both, superdtition, bigotry,
and persecution.) [2]
▪ 1. Cuộc nội chiến Hoa Kỳ
Vì bất đồng chính kiến về vấn đề nô lệ và quyền lợi kinh
tế, cho nên sau khi ông Abraham Lincoln (1809-1865) vừa mới đắc cử tổng
thống trong kỳ bầu cử được tổ chức vào đầu tháng 11 năm 1860, thì ngày 1
tháng 2 năm 1861, một số tiểu bang miền Nam tuyên bố ly khai, thành
lập một liên bang mới với danh xưng là “The Confederate States of
America”, rồi đưa ông Jefferson Davis thuộc tiểu bang Mississippi lên
làm tổng thống và Tướng Robert E. Lee làm tổng tư lệnh quân đội miền
Nam chống lại Liên Bang Hoa Kỳ (cũng gọi là miền Bắc). Đứng trước hành
động phản quốc này, Tổng Thống Lincoln đã hành động vô cùng khôn kéo để
trình bày cho nhân dân toàn quốc thấy rằng, ông không bao giờ có ý định
bắt ép ai phải theo quan niệm chính trị của ông, nhưng mọi người cũng
phải nên hiểu rằng quyền lợi tối thượng của đất nước Hoa Kỳ phải được
đặt lên trên mọi quyền lợi của cá nhân hay phe nhóm. Sách This Is
America’ s Story ghi lại cung cách ứng xử của Tổng Thống Lincoln vào giờ
phút nghiêm trọng này như sau:
“Khi trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ vào ngày 4/3/1861, ông
Abraham Lincoln phải đương đầu với một vấn đề vô cùng khó khăn. Ông
phải làm gì với các tiểu bang ly khai này?
Khi tuyên thệ nhậm chức, ông nói: “Ông không muốn chiến
tranh. Giả thử các bạn tiến đến chiến tranh, các bạn cũng không phải
chiến đấu mãi mãi! Sau khi cả hai bên cùng bị tổn thất nặng nề, các bạn
phải ngưng chiến đấu, những vấn đề xưa cũ vẫn còn lại với các bạn.”
Vấn đề nô lệ ở miền Nam không nguy hiểm, vì rằng Tổng
Thống Lincoln hứa rằng ông “không có ý định, dù trực tiếp hay gián tiếp,
can thiệp vào vấn đề nô lệ ở các tiểu bang vốn đã có nô lệ.” Ông
nói tiếp: “Hỡi đồng bào bất mãn! Chính do nơi các bạn, chứ không phải
do nơi chúng tôi, đã tạo nên cuộc nội chiến này. Chính phủ sẽ không tấn
công các bạn.” Tuy nhiên, Tổng Thống Lincoln đã làm sáng tỏ vấn đề khi
ông long trọng thề phải “duy trì và bảo vệ chính quyền Hiệp Chủng Quốc.”
Sau hết, ông kêu gọi toàn dân hãy đoàn kết. Ông long trọng nói:
“Chúng ta không phải là kẻ thù mà là bạn. Chúng ta nhất
định không phải là kẻ thù. Tiếng vọng huyền bí của trí nhớ bao trùm từ
những nấm mồ của các nhà ái quốc cho đến hết thảy mọi trái tim của những
người còn sống ở trong khắp đất nước này sẽ trờ thành bài ca đồng điệu
của toàn thể quốc gia, và khi xúc động thì chắc chắn sẽ là những thiên
thần lộng lẫy trong vũ trụ của chúng ta.” [3]
Cuộc nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ vào 4:30 sáng ngày 12/4/1861,
kéo dài gần 4 năm trời và thực sự chấm dứt vào ngày 9/4/1865 khi Tướng
Robert E. Lee, tổng chỉ huy quân đội miền Nam, đầu hàng Tướng Ulysses
Grant, tư lệnh chiến trường của quân đội miền Bắc.
▪ 2. Bàn tay của Giáo Hội La Mã trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ
Bốn năm chiến tranh đã gây ra không biết bao đau thương,
khốn khổ và tổn thất rất nhiều về nhân mạng cũng như về tài sản cho nhân
dân của cả miền Nam lẫn miền Bắc. Đây là điều không thể nào tránh được
khi đã có chiến tranh xẩy ra. Tuy nhiên, có một điều làm cho nhân dân
thế giới phải hết sức kinh tởm là trong khi tiến hành chiến tranh, Tổng
Thống Lincoln phát hiện được việc Giáo Hội La Mã đã xúi giục miền Nam
đẩy mạnh chiến tranh chống miền Bắc để đóng vai trò ngư ông thủ lợi.
Chúng ta có thể nhìn thấy rõ vấn đề này trong lời tuyên bố của Tổng
Thống Abraham Lincoln được sách Smokescreens ghi lại dưới đây:

T.Th. Abraham Lincoln (1809 – 1865)
"Cuộc nội chiến này sẽ chẳng bao giờ xẩy ra nếu không có
ảnh hưởng ác độc của Dòng Tên. Vì chính sách (xâm thực) của Giáo Hội La
Mã mà giang sơn chúng ta đã nhuộm đầy máu của chính những người con cao
quý nhất của chúng ta. Dù rằng giữa miền Nam và miền Bắc có nhiều khác
biệt lớn lao về vấn đề nô lệ, nhưng cá nhân Tổng Thống Jeff Davis (của
miền Nam) cũng như tất những nhân vật lãnh đạo khác trong chính quyền
miền Nam, không có ai dám nghĩ đến việc tấn công miền Bắc Nếu họ không
trông cậy vào những lời hứa hẹn của Dòng Tên rằng Nếu miền Nam tấn công
miền Bắc thì Giáo Hội La Mã, và ngay cả nước Pháp nữa, sẽ gửi tiền bạc
và vũ khí đến tiếp viện cho họ. Khi nhân dân Hoa Kỳ nhận thức được rằng chính
các ông giám mục và tất cả các tu sĩ khác của Giáo Hội La Mã ở Hoa Kỳ
phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến đẫm máu và đầy nước mắt này, tôi
cảm thấy thương xót cho họ. Từ sự hiểu biết tình hình của đất nước, tôi
phải giấu kín những gì tôi biết về vấn đề này; vì rằng Nếu nhân dân Hoa
Kỳ biết hết sự thật (về chuyện này) cuộc chiến sẽ biến thành cuộc chiến
tranh tôn giáo, sẽ trở nên tàn khốc với tất cả đặc tính của một cuộc
chiến tranh tôn giáo và máu của người dân Hoa Kỳ sẽ đổ ra gấp mười lần. Ở
vào trường hợp này, cả miền Nam lẫn miền Bắc đều trở nên vô cùng tàn
nhẫn để tận diệt lẫn nhau. Khi đó, những tín hữu Tin Lành ở cả miền Bắc
lẫn miền Nam sẽ cùng nhau đoàn kết để tận diệt hết các ông tu sĩ Dòng
Tên và các tu sĩ khác của Giáo Hội La Mã nếu họ nghe được những gì
Giáo-sư Morse đã nói với tôi về những âm mưu được hoạch định ngay tại
La Mã để tiêu hủy chế độ Cộng Hòa Hoa Kỳ của chúng ta, và Nếu họ biết
được rằng các ông tu sĩ và các bà phước của Giáo Hội La Mã hàng ngày
nhập cảnh vào Hoa Kỳ những người với bề ngoài là truyền đạo, dạy học và
săn sóc những người ốm đau, mà thực chất chỉ là những tên gián điệp của
Giáo Hoàng, của Napoleon (Đệ III của nước Pháp) và của những tên bạo
chúa khác ở Âu châu đến đây để phá hoại những cơ cấu chính quyền của
chúng ta, làm cho nhân dân ta mất thiện cảm với hiến pháp và luật lệ của
chúng ta, để phá hoại các trường học của chúng ta. Mục đích của họ là
làm cho đất nước chúng ta trở thành hỗn loạn, một tình trạng vô chính
phủ như họ đã làm ở Ái Nhĩ Lan, ở Mễ Tây Cơ, ở Tây Ban Nha, và ở bất kỳ
nơi nào mà nhân dân ở đó muốn được sống đời tự do."
"Tổng Thống Abraham Lincoln nói tiếp: "Có phải là một sự
vô lý hay không, nếu đem cho một người một cái gì mà chính họ đã thù
ghét, nguyền rủa và thề phải hủy diệt? Và vào bất kỳ khi nào có thể làm
được một cách an toàn, Giáo Hội La Mã có thù ghét, nguyền rủa và hủy
diệt tự do lương tâm hay không? Tôi là người đứng về phía tự do của
lương tâm theo ý nghĩa cao thượng nhất, rộng rãi nhất và cao cả nhất.
Nhưng tôi không thể nào lại trao tự do lương tâm cho giáo hoàng và những
người tín đồ của ông ta khi mà qua các công đồng của họ, qua các nhà
thần học của họ và qua luật thánh của họ, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng
nói lương tâm của họ ra lệnh cho họ phải thiêu đốt và bóp cổ vợ con tôi
cho đến chết, và cắt cổ tôi khi mà họ có cơ hội! Nhân dân ta ngày nay
hình như chưa hiểu được điều này. Nhưng rồi sớm hay muộn, ánh sáng của
công lý sẽ làm sáng tỏ điều này, và khi đó tất cả mọi người sẽ hiểu rằng
không thể nào trao tự do lương tâm cho những người đã thề phải tuân
phục một ông giáo hoàng tự phong cho chính mình cái quyền được sát hại
những người khác biệt niềm tin tôn giáo với ông ta." [4]
Việc Giáo Hội La Mã xúi giục các tiểu bang miền Nam ly
khai, cùng việc hứa sẽ viện trợ tài chánh, vũ khí cùng nhân sự và tích
cực tiếp tay cho miền Nam tiến hành chiến tranh chống lại miền Bắc khiến
cho chính quyền Hoa Kỳ phải cắt đứt quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh
Vatican kể từ đó. Sự kiện này được ông Lương Minh Sơn ghi lại như sau:
"Đối với Hoa Kỳ, mặc dầu là đất nước được gây dựng trên
nền tảng luân lý và đạo đức của niềm tin nơi Thiên Chúa
(Judeo-Christian), tổ tiên của người Mỹ là những người Âu Châu đã từng
bỏ chạy qua đây để tránh sự ruồng bắt của Tòa Thánh La Mã trong thời kỳ
"Inquisition". Thành thử, Hiến Pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm và tách rời mọi sự
liên hệ về quyền lực chính trị giữa chính quyền và tôn giáo, không phải
chỉ vì trình độ ý thức chính trị cao mà còn là vì những kinh nghiệm đau
đớn có thật lúc trước. Nếu Hoa Kỳ đã cấm bang giao với Cộng Sản Trung
Quốc trong 23 năm (1949-1972), với Cộng Sản Việt Nam trong 19 năm
(1975-1994) vì không tương quan trên chính kiến và quyền lợi, thì Hoa Kỳ cũng đã từng cấm bang giao với Vatican trong 117 năm (1867-1984).
Điều này cho thấy, trong thập niên 1950, Ngô Đình Diệm được Đức Hồng Y
Spellman và các Ủy Viên Chính Trị Tôn Giáo của một số nhà thờ Mỹ đưa đi
gặp một số giới chức Hoa Kỳ chẳng những phải bằng trường hợp bí mật để
che dấu nhân dân Hoa Kỳ mà còn không thể nào hợp pháp được với hiến pháp
của Hiệp Chủng Quốc. Trong khi ông Diệm cho giới chức Hoa Kỳ biết rằng
ông "tin tưởng vào Vatican và ông chống Cộng cực lực" thì
năm 1960, Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy đã phải khẳng định với Phó Tổng
Thống Richard Milhous Nixon và hàng chục triệu người Mỹ rằng mọi quyết
định của ông trên cương vị của một Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc sẽ không
thể nào bị chi phối bởi tôn giáo của ông. Lý do là vì ông Kennedy đang
tranh cử để trở thành tổng thống đầu tiên và duy nhất của Hoa Kỳ cho đến
ngày hôm nay là người Thiên Chúa Giáo La Mã trong một quốc gia mà gần
80% dân số không phải là những người có cùng giáo phái, và không có
quyền bang giao với Vatican, [WAR. Census of Religious Groups in U.S."]
Richard M. Nixon và dư luận người Mỹ thắc mắc về trường
hợp tín ngưỡng của John F. Kennedy không phải vì tôn giáo nhưng là vì
chính trị. Hoa Kỳ là một quốc gia chấp nhận đa tôn giáo với hơn 180 hệ
phái từ đủ mọi tôn giáo, trong đó có khoảng 60 triệu là người Thiên Chúa
La Mã. Vatican vừa là Tòa Thánh với nhiệm vụ phát huy và bảo tồn giáo
luật, vừa là một quốc gia có nhiệm vụ phát biểu và khẳng định quan điểm
chính trị để bảo vệ quyền lợi đối với các quốc gia khác trong cộng đồng
thế giới. Và Kennedy muốn trở thành tổng thống của một quốc gia đang bị
cấm bang giao với quốc gia mà tâm linh ông tin tưởng là điều mà nhân dân
Hoa Kỳ có quyền biết trong năm 1960. Nỗi thắc mắc này đã hiện ra trong
cuộc bỏ phiếu với sự kiện Kennedy được trội hơn Nixon chỉ có 113.067 dân
phiếu trong tổng số 69 triệu phiếu đi bầu, có nghĩa là chưa được 2 phần
ngàn số phiếu [6], [TRA, "Political Events - 1960". Thành thử, nếu Ngô Đình Diệm đã trở thành một "Spanish Inquisitor" thì ngay cả Kennedy cũng không thể nào có thẩm quyền để tiếp tục dung túng
ông. Và nếu vấn đề "Inquisition" đã từng có thật ở miền Nam Việt Nam
thì Cộng Sản không phải là nỗi kinh hoàng duy nhất đã xẩy đến cho dân
tộc Việt. - Hồ Sơ Ngũ Giác Đài."[5]
Đánh bại được miền Nam và mang lại được nền thống nhất đất
nước là công lao vĩ đại và tài lãnh đạo vô cùng khôn khéo của Tổng Thống
Abraham Lincoln. Nhờ vậy mà Hoa Kỳ mới có thể dồn nỗ lực vào công cuộc
kiến thiết đất nước và mở rộng lãnh thổ về phía Tây tới tận bở biển
Thái Bình Dương, về phía bắc tới vĩ tuyến 49 rồi lại mua thêm Alaska của
nước Nga, về phía nam xuống tới Vịnh Mễ Tây Cơ và biên giới Mexico.
Cũng nhờ vậy mà quốc gia này càng ngày càng trở nên hùng mạnh. Chính vì
lẽ này mà nhân dân Hoa Kỳ đã coi Tổng Thống Lincoln là một trong hai vị
tống thống vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và đã dành cho ông một chỗ
ngồi danh dự nhất trong lịch sử, sánh ngang cùng với Tổng Thống George
Washington. Để tri ơn hai vị tổng thống vĩ đại này, Quốc Hội Hoa Kỳ đã
chọn một ngày quốc lễ của đất nước gọi là Ngày Tổng Thống (President’ s
Day). Ngày quốc lễ này được ấn định vào Ngày Thứ Hai của tuần lễ thứ ba
trong tháng Hai hàng năm.
Trong bất kỳ một xã hội văn minh nào cũng đều có quy luật
thưởng phạt phân minh, có suy tôn và vinh danh, thì phải có lên án và
nguyền rủa. Trong cuộc chiến thống nhất đất nước này, nhân dân Hoa Kỳ đã
vinh danh và suy tôn Tổng Thống Abraham Lincoln và Tướng Ulysses S.
Grant, chỉ huy quân đội miền Bắc đánh bại quân đội miền Nam, thì tất
nhiên cũng phải lên án và nguyền rủa những kẻ chủ mưu và xúi giục các
nhà cầm quyền các tiểu bang miền Nam ly khai và phát động chiến tranh
chống lại chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ.
Như đã trình bày ở trên, “những âm mưu tiêu hủy chế độ Cộng Hòa Hoa Kỳ được hoạch định ở ngay trong Tòa Thánh Vatican.”
Dĩ nhiên là những sự thật này đã được ghi vào sách sử Hoa Kỳ, và nhân
dân Hoa Kỳ đã cực lực lên án, đời đời khinh bỉ và nguyền rủa Tòa Thánh
Vatican cùng các “ông tu sĩ và các bà phước của Giáo Hội La Mã”.
Lý do là vì họ đã “nhập cảnh vào Hoa Kỳ
những người với bề ngoài là truyền đạo, dạy học và săn sóc những người
ốm đau, mà thực chất chỉ là những tên gián điệp của Giáo Hoàng, của
Napoleon (Đệ III của nước Pháp) và của những tên bạo chúa khác ở
Âu châu đến đây để phá hoại những cơ cấu chính quyền của chúng ta, làm
cho nhân dân ta mất thiện cảm với hiến pháp và luật lệ của chúng ta, để
phá hoại các trường học của chúng ta. Mục đích của họ là làm cho đất
nước chúng ta trở thành hỗn loạn, một tình trạng vô chính phủ như họ đã
làm ở Ái Nhĩ Lan, ở Mễ Tây Cơ, ở Tây Ban Nha, và ở bất kỳ nơi nào mà
nhân dân ở đó muốn được sống đời tự do.”
Một trong những bằng chứng của hành động lên án và khinh bỉ
đối với Nhà Thờ Vatican là Hoa Kỳ đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Tòa
Thánh Vatican kể từ năm 1867. Một bằng chứng khác nữa là nhân dân Hoa
Kỳ ngày nay dù là tín đồ của Giáo Hội La Mã, họ cũng thẳng tay lôi cổ
bọn tu sĩ Da-tô phạm pháp và tội hiếp dâm trẻ vị thành nhiên và nữ tín
đồ ra trước ánh sáng công luận và công lý. Sự thật này đã thể hiện cho
chúng ta thấy, từ đầu năm 2002, có cả trên một ngàn linh mục, giám mục
đã bị đưa ra ánh sáng công luận về tội loạn dâm, sờ mó, làm tình với con
nít và nữ tín đồ. Tình trạng này khiến cho Giáo Hội La Mã đã phải bỏ ra
nhiều tỉ Mỹ kim để trang trải mọi thứ phí khoản về pháp lý và bồi
thường thiệt hại cho hàng ngàn nạn nhân của các ông mang chức thánh ở
Hoa Kỳ. Sự kiện này được các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ loan báo cho
tất cả mọi người đều biết. Trong bài viết “Group: Church Abuse Scandal May Cost $3B”, ký giả Ken Kusmer của hãng Liên Hiệp Thông Tấn Xã (Asociated Press) ghi nhận Giáo Hội Ca-tô Hoa Kỳ có thể chi tới khoảng từ 2 đến 3 tỉ Mỹ kim
để trang trải cho những vụ các ông tu sĩ của Vatican sờ mó và làm tình
bậy bạ với nữ tín đồ và các em thiếu nhi phụ lễ ở trong các nhà thờ.
Dưới đây là một số những đoạn văn căn bản trong bài viết này được người
viết chuyển dịch sang Việt ngữ như sau:
“Tin từ Indianappolis: Chủ tịch của tổ
chức “Tiếng Nói của Nhóm Cải Cách của Tín Hữu Da-tô “ tiên đoán rằng
những vụ ô nhục gây ra bởi các ông tu sĩ Da-tô hãm hiếp nữ tín đồ và các
em thiếu nhi trong các họ đạo có thể gây tôn phí cho các giáo phận Hoa Kỳ một khoản tiền lên tới từ 2 đến 3 tỉ Mỹ kim.
Nói chuyện tại cuộc họp toàn quốc của tổ chức này trong 3
năm, ông David Castaldi đã thuyết phục các vị lãnh đạo các chi nhánh
của tổ chức tại các địa phương phải gây áp lực với các ông giám mục địa
phương của họ, đòi họ phải đưa ra bản báo cáo tài chánh (của giáo phận)
về những khoản tiền trả cho các nạn nhân, luật sư cùng các chi phí khác,
rồi phổ biến rộng rãi cho mọi người cùng biết.
Hãng Liên Hiệp Thông Tấn Xã tháng rồi tường trình rằng
cho đến lúc này, nhà thờ đã chi ra tới hơn một tỉ Mỹ-kim cho các vụ làm
tình bậy bạ của các ông tu sĩ Ca-tô trong mấy chục năm vừa qua. Ông
Castaldi tiên liệu số tốn phi này có thể tăng lên gấp hai lần.
Tại thành phố Boston, nơi mà các vụ hiếp dâm này được
phát hiện và công bố trước nhất cách đây ba năm trước khi lan truyền ra
toàn quốc, đã lên tới 85 triệu Mỹ-kim vào năm 2003 để trang trải cho 552 nạn nhân. Tháng 12 năm rồi (2004), Giáo Phận Orange thuộc tiểu bang California cũng đã chi phí tới 100 triệu Mỹ-kim để trang trải cho 90 vụ. Tiếp theo là tháng rồi (June/2005), Giáo Phận Covington thuộc tiểu bang Kentucky cũng đã phải chi ra 120 triệu để trang trải cho những vụ làm tình bậy bạ của các ông tu sĩ của giáo phận.”
“Ông Castaldi, cựu trưởng phòng tài chánh của giáo phân
Boston, nói rằng ”kỷ lục này sẽ không kéo dài được lâu”. Ông nói tiếp,
“iGiáo Phận Portland, Oregon cũng đã khai phá sản và phải chi ra tới 500
triệu (để bồi thường những vụ các linh mục hiếp dâm tương tự như vậy),
và Tổng Giáo Phận Los Angeles cũng phải giải quyết các vụ tội ác như vậy
với số tiền ít nhất là 500 triệu và có thể lên đến một tỉ rưỡi. Chúng
ta có thể thấy tổng số tiền tốn phí đồ có thể lên tới từ 2 tỉ đến 3 tỉ
Mỹ kim.” [6]
Tờ News Tribune (Tacoma) phát hành ngày Thứ Sáu 4 tháng 4
năm 2003 loan tin về việc Giáo Phận Seattle giàn xếp với nạn nhân bị các
ngài "mang chức thánh" sờ mó một cách bất bình thường, trong đó có mấy câu nói về khỏan tiền sử dụng để giàn xếp. Nguyên văn bản tin này như sau:
"Giáo Phận: Tổng số lệ phí cố vấn giàn xếp lên đến 4.1 triệu Mỹ Kim.-
Giáo Phận Seattle tường trình rằng, giáo phận đã tốn tới 4.1 triệu Mỹ
kim chi phí cho phí tổn cố vấn vấn đề giàn xếp trong vụ các nạn nhân
kiện giáo phận về việc các ngài "mang chức thánh" hủy họai cuộc đời
trong trắng của các em nạn nhân. Vào khoảng 2.8 triệu Mỹ kim trả cho 65
nạn nhân bị các ông linh mục hủy họai cuộc đời trong trắng của họ. Giáo
phận nói rằng giáo phận phải chi ra một khoản tiền 500 ngàn Mỹ kim trả
cho các mục vụ và tham khảo cố vấn của các nạn nhân, và 800 ngàn Mỹ kim
tiền phí tổn trả cho luật sư. Đây là lần đầu tiên giáo phận tiết lộ các
khoản tiền này. Tất cả các khoản tiền tốn phí này đều được hãng bảo
hiểm trả cho hết. Giáo phận nói rằng, từ năm 1987, một năm trước khi
giáo phận thêm vào vấn đề bào vệ các trẻ em vị thành niên.” [7]
▪ II.- Cuộc Chiến Chống Lại Vatican Của Dân Tộc Mễ Tây Cơ
Với diện tích là 759, 534 dặm (miles) vuông (1,967, 185 cây
số vuông) và dân số là 90,870,000 người (vào năm 1995), Mễ Tây Cơ
(Mexico) là quốc gia lớn đứng vào hàng thứ nhì dân số (sau Ba Tây) và
thứ ba về diện tích (sau Ba Tây và Argentina) ở Châu Mỹ La-tinh. Mễ
Tây Cơ vốn là nơi phát sinh ra các nền văn minh Olmec, Maya, Toltec và
Aztec của người Da Đỏ. Vào đầu thế kỷ 16, toàn vùng đất này nằm dưới
quyền thống trị của Đế Quốc Aztec.
Sau khi Christopher Columbus (1451-1506) khám phá ra Mỹ
Châu vào ngày 12/10/1492, thì chẳng bao lâu sau (đầu thế kỷ 16), Liên
Minh Xâm Lược Tây Ban Nha – Vatican đem quân đến tấn chiếm Châu Mỹ
La-tinh và Mễ Tây Cơ là quốc gia nạn nhân đầu tiên bị quân đội thập ác
này tiêu diệt hoàn toàn vào năm 1521, rồi toàn bộ Trung và Nam Mỹ cũng
rơi vào cái thảm họa Da-tô giống như Mễ Tây Cơ. Kể từ đó, toàn bộ các
dân tộc Da Đỏ ở Châu Mỹ dần dần bị diệt vong, các nền văn minh và văn
hóa bản địa kể cả ngôn ngữ của họ bị “diệt tận gốc, trốc tận rễ”
và được thay thế bằng văn minh và văn hóa Thiên Chúa Giáo La Mã với
việc cưỡng bách người dân bản địa phải từ bỏ tín ngưỡng cổ truyền của họ
và phải theo đạo Da-tô. Cũng từ đó, giống như các dân tộc khác ở Châu
Âu, Châu Phi, toàn bô Trung và Nam Mỹ nằm dưới quyền thống trị của Giáo
Hội La Mã. Cũng từ đó, Mễ Tây Cơ bị áp đặt phái sống dưới chế độ giáo
hoàng (còn được gọi là chế độ đạo phiệt Da-tô).
Dưới chế độ này, như đã nói ở trên, toàn bộ tài nguyên của
đất nược bị Vatican cướp đoạt vì rẳng theo quan niệm của Giáo Hội La Mã
đất đai ở trên thế giới này là do Chúa tạo dựng nên và là tài sản của
nhà Chúa, và chi có Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican là đại diện duy
nhất của Chúa mới được quyền quản lý. Bản văn sử dưới đây cho chúing ta
thấy rõ được một phần nào trong những chính sách cướp đoạt tài nguyên,
tài sản của nước Mễ Tây Cơ và cưỡng bách nhấn dân quốc gia này làm nô
lệ phục vụ trong các công trường xây cất các nhà thờ, chủng viện, và các
cơ sở kinh doanh khác của Vatican:
“Du khách Hoa Kỳ đến Mễ Tây Cơ thường ngạc nhiên khi
thấy rằng có quá nhiều nhà thờ vĩ đại nguy nga ở khắp nơi trong nước.
Người ta thường thắc mắc, “Làm thế nào họ có khả năng xây một số quá
nhiều nhà thờ to lớn, oai nghiêm và tráng lệ như vậy?” Câu trả lời dĩ
nhiên là lao nô. Sau khi Cortez chinh phục quốc gia này, thổ dân Da Đỏ
bị cưỡng bách làm lao nô phục dịch cho các công trường xây cất những
ngôi nhà thờ này và tất cả các công trình kiến trúc khác của Giáo Hội La
Mã. Đọc cuốn Lịch Sử Mễ Tây Cơ của tác giả Henry Bamford Parkes, chúng
ta thấy “Muời hai ngàn ngôi nhà thờ Thiên Chúa Giáo đã được hoàn thành
trong thời kỳ thuộc địa. Những ngôi nhà thờ này đã nói lên sự kiện Chúa
Ki-tô đại thắng thượng đế Huitzilopochtli của người Aztecs bản địa, đồng
thời nó cũng nói lên cái kỹ năng của các ông truyền giáo Dòng Tên cưỡng
bách thổ dân Da Đỏ phải làm việc không công (lao nô) cho họ. Trong số
những lao nô này, có rất nhiều người đã chết vì bị cưỡng bách phải làm
việc cực nhọc mà họ vốn không quen phải làm như vậy.” [8]
Vì Vatican không trực tiếp quản lý hay cai trị các quốc gia
đã cưỡng chiếm được, mà ủy nhiệm cho các chính quyền tay sai tại các
quốc gia địa phương đảm nhận bằng cách thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô
để thi hành các quyết định và chính sách của Vatican đã đề ra. Những
quyết định và chính sách này đã được trình bày khá rõ ràng trong tiểu
mục 2, Mục C (Thời Kỳ 1954-1975), Chương 17 ở trên. Vì thế mà cũng như
dân tộc của bất kỳ quốc gia nào bị áp đặt sống trong chế đọ đạo phiệt
Ca-tô, dân tộc Mễ Tây Cơ cũng phải kéo lê kiếp đời một cổ hai tròng:
vừa bị cưỡng bách làm nô lệ cho chính quyền độc tài tham nhũng tại địa
phương, vừa phải làm nô lệ cho Giáo Hội La Mã.
Chế độ cha cố song quyền này của Vatican đã làm cho nhân
dân các quốc gia Châu Mỹ La-tinh nói chung, và nhân dân Mễ Tây Cơ nói
riêng rơi vào tình trạng chậm tiến, lạc hậu và nghèo đói triền miên,
giống như tình trạng chung của tất cả các nước nằm dưới ách thống trị
của Giáo Hội La Mã mà sử gia Malachi Martin đã ghi nhận nơi hai trang
155-156 trong cuốn Rich Church Poor Church (New York: G.P. Putnam's
Sons, 1984). Xin xem lại Chương 18 ở trên.
Dù rằng có tới 89% dân số Mễ Tây Cơ là tín đồ của Giáo Hội
La Mã, nhưng vào năm 1857, nhân dân quốc gia này cũng vẫn theo gương các
nước Anh, Pháp, cương quyết vùng lên làm Cách Mạng chống Vatican, đạp
đổ bạo quyền đạo phiệt Ca-tô, rồi soạn thảo hiến pháp làm căn bản pháp
lý cho tân chính quyền với những điều khoản đối phó với Nhà Thờ Vatican
một cách thẳng tay. Nhưng rồi Cách Mạng bị phản bội giống như Cách Mạng
Pháp 1789. Cuối cùng đến năm 1917, nhân dân Mễ Tây Cơ lại một lần nữa
quyết tâm làm cách mạng, tái sử dụng bản hiến Pháp 1857 và bổ túc thêm
một số điều khoản để đối phó thẳng thừng với Vatican một cách cứng rắn
hơn. Sự kiện này được sách Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa
(cùng tác giả) ghi lại như sau:
“Từ Hiến Pháp 1857 đến Hiến Pháp 1917 của Mexico:
Mexico cũng như các quốc gia khác ở Trung và Nam Mỹ Châu đều có đại đa
số dân theo đạo Công Giáo. Dân số Mexico hiện nay lên tới trên 100 triệu
người. Mặc dầu đa số dân là những tín đồ đạo Công Giáo ngoan đạo nhưng
đã hơn một thế kỷ qua chính quyền Mexico đến nay vẫn tuyệt giao với
Vatican.
Năm 1857, quốc hội và chính phủ Mexico đã đưa ra một bản
hiến pháp mang tính chất cách mạng quyết liệt chống lại Giáo Hội Công
Giáo La Mã:
1.- Giải tán tất cả các tu viện nam cũng như nữ.
2.- Các nam tu sĩ bị cấm mặc áo dòng khi xuất hiện ở nơi công cộng.
3.- Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội Công Giáo.
Tinh thần bản Hiến Pháp 1857 của Mexico được nhiều nước
Châu Mỹ La Tinh noi theo. Năm 1917, Mexico sửa lại hiến pháp, nhưng các
biện pháp đối với Giáo Hội Công Giáo vẫn không thay đổi.” [9]
Nói về Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1917, sử gia thân Giáo Hội là Linh-mục Sahnnon M. Collins ghi nhận như sau:

Linh-mục Sahnnon M. Collins
“Các cuộc cách mạng thời hiện đại đã lật đổ các chế độ
quân chủ (ngai vàng) và nghiền nát tôn giáo (bàn thờ). Năm 1917, những
cách mạng Cộng Sản Bôn-sê-vích đã lật đổ chế độ Nga hòang, hoàng đế Nga
và cả gia đình ông đều bị sát hại. Mấy tháng trước thảm kịch này, một
cuộc cách mạng bùng nổ ở Mễ Tây Cơ. Cuộc Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1917 thi
hành bản hiến pháp xã hội đầu tiên ở trên thế giới và Giáo Hội Mẹ (Giáo
Hội La Mã) bị thiệt hại nặng nề. Chính quyền chiếm giữ nhà thờ và các cơ
sở khác của giáo hội. Trong một cuộc nổi loạn của ác quỷ, những người
cách mạng hủy hoại các chén thánh, những đồ tế lễ và các tác phẩm nghệ
thuật về đạo Da-tô. Tu sĩ và giáo dân Da-tô ngoan đạo bị hành hạ và bị
sát hại. Trong tỉnh Tobasco, mọi sự đều khó khăn. Viên thống đốc xã hội
của tỉnh này đặt tên con là Lenin, Satan và Lucifer. Ông ta phá hủy tất
cả nhà thờ, cưỡng bách các tu sĩ phải lập gia đình và hành hạ các tín đồ
Da-tô ngoan đạo.”[10]
Sách Việt Nam Với Cuộc Dấy Loạn Hòa Bình của Giáo Chủ John
Paul II ghi lại những điều khoản trừng phạt Giáo Hội La Mã với nguyên
văn như sau:
“Hiến Pháp Mexico năm 1917 có điều khoản cấm chính quyền
đặt quan hệ ngoại giao với Vatican, tu sĩ Gia-tô không được phép hoạt
động chính trị hay mặc áo tu sĩ nơi công cộng, không được phép mở trường
học hay làm chủ bất động sản.” [11]
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ lòng căm thù
của nhân dân Mễ Tây Cơ đối với Giáo Hội La Mã hết sức mãnh liệt. Họ
cương quyết loại bỏ mọi ảnh hưởng của Vatican ra khỏi chính quyền cũng
như trong các phạm vi hoạt động trong ngành giáo dục và trong lãnh vực
kinh tế (không được làm chủ bất động sản.)
▪ III.- Cuộc Chiến Chống Lại Vatican Của Dân Tộc Cuba
Cuba là một quốc đảo nằm trong vùng biển Caribbean và ở
phía nam bán đảo Florida khoảng chừng 90 dặm hay 150 cây số. Cuba có
diện tích rộng chừng 42,804 dặm vuông hay 110, 861 cây số vuông (lớn hơn
1/3 diện tích Việt Nam một chút). Vào năm 1995, dân số Cuba vào khoảng
11 triệu người.
Trước năm 1492, Cuba vốn là đất sinh sống của thổ dân người
Da Đỏ. Khi khám phá ra Mỹ Châu vào tháng 10 năm 1492, ông Christopher
Columbus tuyên bố Cuba là của Tây Ban Nha. Kể từ đó, Cuba trở thành
thuộc địa trực trị của chính quyền đạo phiệt Da-tô Tây Ban Nha, rồi bắt
đầu vào năm 1511, người Tây Ban Nha đến Cuba chiếm đoạt đất đai của thổ
dân, lập đồn điền (trồng các cây kỹ nghệ). Trong khi đó thì chính quyền
Tây Ban Nha vừa thi hành chính sách Ki-tô hóa bằng bạo lực, vừa phóng
tay sát hại thổ dân một cách bừa bãi. Vì vậy, chẳng bao lâu, dân Da Đỏ ở
đây gần như bị tuyệt diệt (died out). Vì thổ dân bị tiêu diệt gần hết,
người Tây Ban Nha mới phải đem dân Da Đen Phi Châu đến đây làm lao nô
trong các đồn điền và phục dịch trong gia đình của họ.
Theo thời gian, phần lớn dân Cuba là hợp chủng của con cháu
qua những cuộc hôn nhân giữa những thổ dân bản địa còn sống sót với con
cháu dân nô lệ Da Đen đến từ Phi Châu và với con cháu những người Tây
Ban Nha nghèo khổ đến đây lập nghiệp. Điểm đặc biệt họ đều là dân Chúa,
tín đồ của Giáo Hội La Mã từ đời tổ tiên, ông cha của họ đều bị Vatican
cưỡng bách phải theo cái “tôn giáo ác ôn” này. Như vậy, cũng như ở Âu
Châu, ở Cuba nói riêng và toàn bộ Mỹ Châu La-tinh và Phi Luật Tân nói
chung, tuy cũng là dân Chúa, nhưng không có những thành phần “đi đạo lấy gạo mà ăn” và cũng không có những thành phần “theo đạo để tạo danh đời” như ở Việt Nam. Xin xem lại Chương 6 (Phần II) ở trên để biết rõ những ác tính cực kỳ ghê tởm của những thành phần “đi đạo lấy gạo mà ăn” và “theo đạo để tạo danh đời”.
Về phương diện chủng tộc, người dân Cuba đã thay đổi khá
nhiều. Về phương diện tôn giáo, họ gần như thuần nhất là tín đồ Thiên
Chúa Giáo La Mã, về ngôn ngữ họ đều sử dụng tiếng Tây Ban Nha, về phương
diện chính trị, tất cả họ đều nằm dưới ách thống trị của chế độ đạo
phiệt Ca-tô Tây Ban Nha cấu kết với Giáo Hội La Mã, và đại diện cho Giáo
Hội La Mã tại đây là hội đồng giám mục và giới tu sĩ Ca-tô tại địa
phương. Như vậy là kể từ đầu thế kỷ 16, nhân dân Cuba bắt đầu phải sống
trong thảm cảnh một cổ hai tròng: vừa phải nằm dưới ách thống trị vô
cùng bạo ngược của Đế Quốc Tây Ban Nha, vừa nằm trong cái “thòng lọng”
của Nhà Thờ Vatican (Catholic loop), một thế lực vốn đã từng lừng danh
về tàn ngược, gian tham, và man rợ ở Âu Châu trong suốt thời Trung Cổ.
Tình trạng này khiến cho xã hội Cuba luôn luôn bất ổn vì nhân dân luôn
luôn nổi loạn chống chính quyền. Sách This Is America’s Story ghi lại
giai đoạn lịch sử này ở Cuba với nguyên văn như sau:
“Cuối thế kỷ 19, chính quyền Tây Ban Nha ở trên hòn đảo
này lâm vào tình trạng bất ổn. Đã nhiều lần dân chúng Cuba nổi loạn
tranh đấu giành lại chủ quyền độc lập. Mỗi lần có nổi loạn như vậy thì
quân sĩ Tây Ban Nha tràn đến đè bẹp. Dù vậy, năm 1895, dân Cuba lại cố
gắng nổi lên thử thách một lần nữa. Tây Ban Nha vẫn không chịu trao trả
độc lập cho Cuba, và nhân dân Cuba vẫn kiên trì nổi loạn đánh đuổi người
Tây Ban Nha, khiến cho quân lính Tây Ban Nha phải luôn luôn bận rộn
hành quân dẹp loạn. Và mỗi lần Quân Đội Tây Ban Nha đánh dẹp nhân dân
nổi loạn cũng bị quân nổi loạn chặn đánh, đốt hết tất cả các đồ tiếp
liệu, thiêu rụi các khu đồng mía, một thứ nông phẩm chính của Cuba.” [12]
Tình trạng này kéo dài đến năm 1898 khi Hoa Kỳ xua quân tấn
công Đế Quốc Tây Ban Nha chiếm đoạt luôn một lúc cả bốn thuộc địa của
Tây Ban Nha là Cuba, Puerto Rico, Phi Luật Tân và đảo Guam ở giữa Thái
Bình Dương.
Sau đó, Puerto Rico và Guam bị sáp nhập vào lãnh thổ Hoa
Kỳ, nhưng Cuba và Phi Luật Tân lại bị coi như là một thuộc địa để khai
thác tài nguyên và là một nguồn cung cấp nhân công rẻ tiền cho các nhà
tư bản Hoa Kỳ.
Vì lệ thuộc vào Tu Chính Hiến Số 1 trong đó có điều khoản “tách rời giáo quyền ra khỏi chính quyền”
và cũng không có chủ trương nâng cao dân trí, cho nên tại các thuộc địa
Cuba và Phi Luật Tân, Hoa Kỳ không can thiệp vào nếp sống sinh hoạt và
các tổ chức tôn giáo của người dân. Vì thế mà tại hai thuộc địa này, hội
đồng giám mục và các tu sĩ Ca-tô vẫn còn hoạt động như xưa, nghĩa là
tín đồ Ca-tô ở hai quốc gia này vẫn tiếp tục bị hội đồng Giám-mục tiếp
tục mê hoặc, siết cổ và bóc lột tận tình để dâng cúng cho Tòa Thánh
Vatican và chi phí cho cuộc sống huy hoàng đàng điếm của họ.
Năm 1902, Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Cuba theo kiểu người
Pháp trả độc lập cho Việt Nam bằng cách đưa ông vua gỗ Bảo Đại lên
thành lập cái gọi là “chính quyền quốc gia”. Tình trạng này cũng giống
như ông chủ đồn điền cao su đưa một tên tay sai đắc lực, xuất thân từ
hàng ngũ cai phu trong đồn điền lên làm quản lý thay họ để điều động
công nhân đồn điền cho được hữu hiệu hơn.
Khốn nõi, những tên tay sai của Hoa Kỳ đưa lên thành lập
chính quyền đều là tín đồ Ca-tô cuồng tín giống như Ngô Đình Diệm ở Việt
Nam. Như đã trình bày ở các phần trước, tín đồ Ca-tô có những đặc tính
độc đáo như::
1.- Cuồng tín,
2.- Thiển cận, hẹp hòi,
3.- Tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican,
4.- Triệt để vâng lời và thi hành lệnh truyền của các đấng bề trên.
5.- Nặng đầu óc thiên vị (thiên vị về tôn giáo, thiên vị về gia đình, thiên vị về băng đảng).
6.- Tham lợi, háo danh, luôn luôn lấn lướt, vơ vào (aggresive) và thèm khát quyền lực.
7.- Xun xoe nịnh bợ những người có thế lực hay quyền thế,
đố kỵ, tị hiềm, ganh ghét và kèn cựa với người ngang hàng, và khinh rẻ
những người dưới hay lép vế, thế cô.
8.- Quay quắt, lắt léo và lươn lẹo để chạy tội và ngụy biện chạy tội ác của Giáo Hội La Mã và những đặc tính xấu xa trên đây.
Những đặc tính này đã biến chính quyền Cuba thành một chế
độ đạo phiệt Da-tô với tất cả những bất công cả về chính trị và xã hội,
dù rằng toàn bộ giai cấp thống trị và bị trị đêu là tín đồ Ca-tô và đều
là “tôi tớ hèn mọn” của Giáo Hội La Mã cả.

Fulgencio Batista
(1901 - 1973)
Vì thế mà xã hội Cuba luôn luôn ở trong tình trạng bất ổn
và xẩy ra đảo chánh nhiều lần vào những năm 1909, 1917, 1933, 1934. Mỗi
lần xẩy ra đảo chánh, thì Hoa Kỳ lại nhẩy vào can thiệp để ổn định
tình hình và bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ, rồi sau đó lại để mặc cho
tân chính quyền tay sai của cả Vatican và Hoa Kỳ tự tung tự tác thao
túng nội bộ, giống y hệt như sau này Hoa Kỳ để mặc cho chế độ đạo phiệt
Da-tô Ngô Đình Diệm tự tung tự tác thao túng nội bộ miền Nam Việt Nam
trong những năm1954-1963. Cũng nên biết, tân chính quyền nào cũng đều do
tín đồ Ca-tô cầm đầu và chính quyền nào cũng là tay sai của Tòa Thánh
Vatican cả. Cuộc đảo chánh 1934 do Fulgencio Batista (1901-1973) là một
trường hợp điển hình cho thực trạng này. Tiếp theo sau nhiều biến cố
chính trị thay đổi chính quyền, rồi đến năm 1952, Fulgencio Batista biến
chính quyền thành chế độ đạo phiệt Ca-tô giống như Tổng Thống Louis
Napoléon đã làm vào tháng 12 năm 1852 và Ngô Đình Diệm cũng làm sau đó
vào những năm 1954-1963.
Nguời Đông Phương có câu nói “Bà già cầu cho bạo chúa sống lâu”
với ngụ ý nói rằng bạo chúa đến sau là bạo chúa tham tàn và độc ác hơn
các bạo chúa trước đó. Bởi thế cho nên, chúng ta không lấy gì làm ngạc
nhiên khi thấy chính quyền Fulgencio Batista (1952-1959) tham tàn và ác
độc hơn các chế độ đạo phiệt Da-tô Cuba trước đó. Dưới chế độ đạo phiệt
Ca-tô Batista, tình cảnh người dân Cuba còn tệ hơn tình cảnh người dân
Pháp vào những năm 1788-1789 (như sách Cách Mạng và Hành Động đã ghi
nhận mà chúng tôi trích dẫn ở trong một chương nói về Cách Mạng Pháp
1789 ở trên.) Cũng vì thế mà nhân dân Cuba vô cùng căm phẫn và thù ghét
chế độ Batista và sẵn sàng đi theo bất kỳ thế lực nào có khả năng đạp
đổ chính quyền Batista và tống khứ Giáo Hội La Mã ra khỏi đất nước hoặc
là ra khỏi chính quyền để giải thóat cho họ ra khỏi cái thòng lọng Ca-tô
(Catholic loop). Cái tâm lý bất mãn và căm thù các chế độ đạo phiết
Batista như vậy của nhân dân Cuba là cơ hội bằng vàng cho ông Fidel
Castro (cũng là dân Chúa, và cũng tín đồ của Vatican) vận động và lôi
cuốn được đại khối nhân dân (cũng là dân Chúa và xung là tín đồ của
Vatican) ủng hộ và tham gia tổ chức cách mạng của ông để đạp đổ chính
quyền, đòi lại quyền làm người và tạo phúc lợi cho nhân dân Cuba ở ngay
trong kiếp đời này. Nhờ vậy mà đầu tháng 1 năm 1959, ông mới có thể kéo
quân vào thủ đô Havana diệt trừ bạo quyền tàn ngược đạo phiệt Batista
và cũng là phá tan chế độ giáo hoàng cực ký ác độc cực kỳ gian tham đã
bám rễ ở quốc đảo này từ đầu thế kỷ 16. Nói về cuộc Cách Mạng Cuba 1959,
sử gia Lillian Kiezel ghi lại trong bài viết “Cubans Oust Batista
Dictatorship” với nguyên văn như sau:
“Chế độ độc tài Batista đáng ghét đã bị nhân dân Cuba lật đổ.
Ông Fidel Castro, người lãnh đạo Phong Trào 26/7 trong cuộc chiến du
kích kéo dài cả hai năm chống chế độ Batista cầm đầu đoàn quân chiến
thắng rách rưới tiến về thủ đô Havana. Hoa Kỳ đã nhìn nhận chính phủ cải
cách tự do ông Manael Urrita làm thủ tướng vào ngày 7 tháng 1 năm
1959. Nhà độc tài Batista và các nhân viên cao cấp trong chế độ của ông
ta đã phải chạy trốn sang nước Cộng Hòa Dominic rồi sang Hòa Kỳ. Việc
trốn chạy này đã gây nên những cuộc biểu tình phản đối Hoa Kỷ ở thủ đô
Havana.
Batista cho rằng Castro có ưu thế về quân sự. Nhưng vào
khi cuộc chiến chấm dứt, đạo quân của Castro chỉ có vào khoảng từ 5 ngàn
đến 10 ngàn người là nhiều nhất. Trong khi đó quân đội của chính quyền
Batista có tới 50 ngàn người. Quân đội của Batista được trang bị bằng
các thiết giáp xa, phi cơ và pháo binh hạng nặng của Anh và của Mỹ.
Trong khi đó quân đội du kích của Castro chỉ được trang bị bằng súng
lục, súng trường và những vũ khí thô sơ khác.
100 so với 1: Nhà độc tài Batista nói với
báo chí Dominic rằng chiến thuật du kích của Castro không thể nào đánh
bại được: “Quân đội phải cần tới 100 người để địch lại một du kích quân.
Đây là trường hợp của Tito ở Nam Tư và chính quyền Trung Hoa.” Ông
Bertram Johansen của tờ Christian Science Monitor cho rằng Batista nói
đúng. Castro đã sử dụng những chiến thuật mà quân đội Cộng Sản đã sử
dụng ở Đông Dương, ở Nam Tư và ở Trung Hoa “và nông dân thời thuộc địa ở
Concord và Lexington đã sử dụng trong cuộc Cách Mạng chống lại quân Anh
cách đây 182 năm.” Ông Johanssen cho biết, người dân tại các địa
phương, đặc biệt là trong các vùng nông thôn, đã thành tâm chỉ đường dẫn
lối cho quân lính của Fidel Castro, trong khi đó thì họ lại cố tình chỉ
dẫn sai đường cho quân đội của Batista và còn tỏ ra mỉa mai nữa.
Sống trong tình trạng bị khủng bố thường trực:
Từ khi Batista lên nắm chính quyền vào năm 1952, nhân dân Cuba thường
trực sống trong tình trạng bị khủng bố. Chế độ Batista nổi tiếng về việc
bắt bớ giam cầm, tra tấn và sát hại các thành phần đối lập chính trị.
Nạn thất nghiệp trầm trọng và những người có công ăn việc làm thì chỉ
được lĩnh đồng lương ốm đói không đủ nuôi sống gia đình. Đây là số phận
của 5 triệu dân Cuba. Những người biểu tình chống chính quyền thì bị mô
tả là những “phường du đãng và quân ăn cướp.” Tuy nhiên, ông Johanssen
ghi nhận vào ngày 3 tháng 1 (1959) rằng “đại thể, những người nổi loạn
vào Ngày Tết đã chọn lọc những mục tiêu để cướp phá. Những mục tiêu đó
là những cơ sở cờ bạc và các gia đình triệu phú làm giầu nhờ dựa vào
chính quyền để tham nhũng. Những đồng hồ đậu xe do bà con của Batista
làm chủ bị họ dùng búa đập bể để lấy tiền. Những người chù đồng hồ đậu
xe này bị nghi là đã làm giầu bằng cách thâu tiền như vậy.
Chính quyền Batista được giới đại tư bản và Bộ Ngoại
Giáo Hoa Kỳ ủng hộ. Lòng phẫn nộ đối với người Hoa Kỳ về việc chi phối
đời sống người dân Cuba thật là khủng khiếp.” [13]
Bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ chế độ đạo phiệt
Ca-tô Batista cũng là một chế độ đạo phiệt gia đình trị và cảnh sát trị,
với đặc tính cực kỳ tham nhũng và cực kỳ bạo ngược. Tình trạng này đã
làm cho nhân dân Cuba vừa luôn luôn ở trong tình trạng thường trực bị
khủng bố, vừa phải gánh chịu những cảnh bất công, bị áp bức giống y như
chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam trong những năm
1954-1963. Vì vậy mà nhân dân Cuba vô cùng phẫn uất và hết sức căm thù
chế độ. Chính vì thế mà họ đã triệt để ủng hộ quân Cách Mạng dưới quyền
lãnh đạo của ông Fidel Castro. Nhờ được nhân dân triệt để ủng hộ, quân
Cách Mạng của ông Castro chỉ có vào khoảng từ 5,000 đến 10,000 người
rách rưới với những vũ khí thô sơ như súng trường, súng lục hoặc là còn
tệ hơn nữa mà vẫn có thể đánh bại được đạo quân hùng mạnh của chính
quyền Batista đông tới 50,000 người (đông hơn 10 lần) lại được vũ trang
bằng những vũ khí tối tân, có phi cơ, có đại bác hạng nặng và có xe tăng
thiết giáp yểm trợ cùng với quân trang và lương thực đầy đủ.
Sự kiện này chứng tỏ rằng quân đội Cách Mạng của ông Fedel
Castro là quân đội của đại khối nhân dân bị trị có chủ trương mang lại
bình đẳng về chính trị, xoá bỏ tất cả bất công trong xã hội do các chế
độ cũ tạo nên để mang lại phúc lợi thiết thực ở trên cõi đời này là cơm
no, áo ấm và quyền làm người cho toàn dân. Cũng vì thế mà chính quyền
Cách Mạng Cuba 1959 có chủ trương theo xã hội chủ nghĩa. Ai cũng biết
rằng bất kỳ chính quyền cách mạng nào theo xã hội chủ nghĩa cũng đều:
1.- Sử dụng những biện pháp mạnh để quốc hữu
hóa những tài sản và các cơ sở kỹ nghệ của những thành phần đã dựa vào
chính quyền độc tài mà chiếm đoạt được,
2.- Bãi bỏ mọi đặc quyền đặc lợi mà các chế độ cũ đã dành riêng cho hai giới quý tộc và tu sĩ,
3.- Bảo đảm quyền bình đẳng về chính trị, tôn giáo, kinh tế và xã hội cho tất cả mọi người dân,
4.- Không suy tôn một tôn giáo nào lên làm quốc giáo và đối xử công bằng với mọi tôn giáo.
5.- Bảo vệ quyền không theo một tôn giáo nào của người dân.
6.- Quốc hữu hóa tất cả các tài sản cũng như
các cơ sở kinh doanh và giáo dục của Vatican đã dựa vào chế độ cũ để
chiếm đoạt. Có làm như vậy thì mới có thể thực thi công bằng về kinh tế,
công bằng trong xã hội và bình đẳng giáo dục cho toàn dân.
Thi hành những biện pháp này tất nhiên là làm tổn thương
đến quyền lợi chính trị và kinh tế của Giáo Hội La Mã. Vì vậy, Tòa Thánh
Vatican mới cực lực lên án chính quyền Cuba là Cộng Sản và hô hào giáo
dân Cuba đứng lên lật đổ chính quyền này. Thế nhưng, dù rằng có tới 90%
dân số là tín đồ Da-tô của Giáo Hội, ngoại trừ một nhóm thiểu số cuồng
tín rất nhỏ, đại đa số nhân dân Cuba không những đã không thèm để ý đến
lời kêu gọi của Vatican, mà còn hăng say ủng hộ chính quyền Castro và
tích cực tham gia vào cuộc chiến chống Vatican. Chính vì thế mà chính
quyền Cách Mạng Cuba 1959 mới tồn tại đến ngày nay. Cho đến nay đã có
hơn một nửa thế kỷ rồi mà toàn khối tín đồ Da-tô ở quốc đảo này vẫn
không hề nghĩ đến chuỵện PHỤC HỒI NIỀM TIN QUÁI ĐẢN hay PHỤC HỒI CHẾ ĐỘ
ĐẠO PHIỆT DA TÔ BATISTA KHỐN NẠN ngày xưa của Nhà Thờ Vatican. Sự kiện
này hoàn toàn trái ngược với nhóm thiểu số con chiên người Việt Nam. Tai
sao lại như vậy? Chũng ta hay suy nghĩ về vấn đề này.
▪ IV.- Lòng Căm Thù Giáo Hội La Mã Của Dân Tộc Nicaragua
Nước
Nicaragua (Trung Mỹ) có diện tích là 129. 640 km vuông (50.054 dặm
vuông) lớn hơn diện tích nước Cuba một chút, và dân số vào khoảng
4.267.000 (vào năm 1995). Về tín ngưỡng, có tới hơn 95% dân số là dân
Chúa thuộc hệ phái Vatican, và tất cả đều là con cháu những người bị
cưỡng bách phải theo Ca-tô qua bàn tay bàn tay máu của chính quyền đạo
phiệt Ca-tô, tay sai của Vatican. Cũng như các dân tộc Âu Châu và các
dân tộc khác tại Mỹ Châu La-tinh, nhân dân Nicaragua cũng rất kinh tởm
và thù ghét Vatican đến thấu xương. Cũng vì thế mà họ đã cố gắng giẫy
dụa cả thập niên 1980 để thoát khỏi ách thống trị tham tàn bạo ngược của
băng đảng "Hắc Y Ác Quỷ" (lũ quạ đen), tách rời ra khỏi Giáo Hội La Mã
để lập một giáo hội riêng gọi là Giáo Hội Nhân Dân (People's Church).
Lòng căm thù của họ đối với Giáo hội La Mã được thể hiện bằng những hành
động khi Giáo Hoàng John Paul II "thánh du" đến quốc gia này vào tháng 3
năm 1983. Trong cuốn The Jesuites, cựu giáo sĩ Malachi Martin ghi lại
những hành động này của họ với nguyên văn như sau:

"Vào lúc bắt đầu lên đọc bài thuyết giáo được chuẩn bị
để công kích Giáo Hội Nhân Dân của nước Nicaragua, Giáo Hòang John Paul
II ngạc nhiên khi thấy hệ thống âm thanh mà Ngài đang sử dụng không lấn
át được tiếng hô những khẩu hiệu cách mạng có nhịp điệu vang lên từ đám
đông quần chúng ở dưới khán đài. Ngài ráng hết sức để trấn áp những
tiếng hô này, nhưng sức Ngài có hạn, tiếng kinh cầu nguyện (đúng hơn là
những tiếng hô những khẩu hiệu) "Quyền lực phải thuộc về nhân dân!" "Hãy
nói với chúng tôi tiếng nói của dân nghèo!" "Chúng tôi mong muốn một
Giáo Hội Thống Nhất cho dân nghèo!" "Không có gì mâu thuẫn giữa Thiên
Chúa Giáo và Cách Mạng!" cứ liên tục vang lên như sấm gầm làm rung động
cả không gian và lấn át cả những lời thuyết giảng của Ngài.
Sự kiện này làm cho Giáo Hòang giận tái mặt và Ngài đã
nhìn ra sự thật đang xẩy ra ở trước mặt. Ngài đã bị sa vào cái bẫy:
tiếng nói của Ngài chìm lỉm trong những tiếng vang của tiếng hô những
khẩu hiệu cách mạng. Trong cơn giận dữ và tuyệt vọng, Ngài lớn tiếng la
thét "Im lặng!" Nhưng tiếng hô những khẩu hiệu cách mạng vẫn cứ vang lên
lấn át cả tiếng la thét ra lệnh của Ngài. Lần thứ hai Ngài lại la thét
lớn "Im lặng", nhưng lệnh truyền của Ngài vẫn bị tiếng hô những khẩu
hiệu cách mạng của nhân dân lấn át. Lần thứ ba, Ngài lại la thét lớn "im
lặng!". Nhưng Ngài đã đuối sức, tiêng hô ra lệnh của Ngài không còn
thành tiếng nữa, chỉ còn là dấu hiệu bằng tay mà thôi. Tiếng hô những khẩu
hiểu cách mạng "Quyền lực của Nhân Dân!" và "Chúa sống với Giáo Hội của
nhân dân" đã lấn át và đè bẹp hết mọi cố gắng của Ngài. Quả thật là
nhân dân ở đây vượt ra ngoài tầm tay của Ngài.
Tức giận quá, Ngài văng ra những lời mắng nhiếc vào
Microphone và ném những cái nhìn nẩy lửa vào các nhân viên cao cấp trong
chính quyền Niicaragua đang ngồi trên khán đài trong buổi lễ. Nhân dân
dưới khán đài lại càng hô lớn hơn nữa khiến cho bài thuyết giáo của Ngài
phải bị bỏ dở. Thế cũng chưa đủ. Quần chúng ở bên dưới vẫn tiếp tục hô
lớn "Quyền lực thuộc về nhân dân!" "Tín đồ Ca-tô có thể là người theo
chủ nghĩa Marx!" và "Hãy nói với chúng tôi về sự bất công của chủ nghĩa
tư bản!" Cũng vẫn chưa hết bị làm nhục. Khi Ngài và đoàn tùy tùng lên
máy bay ra về, và khi mọi người đã ngồi vào ghế ngồi trong chiếc máy bay
DC 10 của hãng Alitalia tại phi trường Managua vào đêm hôm đó, viên phi
công báo cho đài kiểm soát biết là máy bay đã sẵn sàng cất cánh, thì
chính quyền Nicaragua ra lệnh cho chiếc phi cơ chở Ngài phải ở lại thêm
10 phút nữa. Đây là cử chỉ cuối cùng để nói cho Ngài biết ai là người
thực sự làm chủ ở đây (Nicaragua). Còn nữa, chính quyền Nicaragua còn
chơi Ngài cho đến chót. Đài phát thanh Nicaragua lên tiếng đòi Ngài phải
xin lỗi về thái độ của Ngài.” [14]
Bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ những người dân
Chúa của Giáo Hội La Mã ở Nicaragua không những đã khinh thường và
chống lại quyền lực của Tòa Thánh Vatican, mà còn khinh rẻ và chống lại
cả giáo hoàng ngay cả khi trực diện đối đầu với ông ta. Họ đã không còn
nhìn nhận tính cách thiêng liêng trong vai trò đại diện chúa của giáo
hoàng ở trên thế gian này nữa. Thực ra, không phải chỉ có nhân dân
Nicaragua đã hành xử như vậy, mà hầu như tất cả người dân Chúa thuộc hệ
phái Vatican ở Âu Châu, ở Mỹ Châu La-tinh và rất nhiều nơi khác cũng đã
thức tỉnh và cũng đã hành xử như vậy. Chỉ còn có nhóm thiểu sô cừu non
(con chiên) người Việt ở nước ngoài như “xóm đạo Bolsa” và ở trong
nước vẫn còn cuồng tín, và La Mã hơn La Mã mà thôi! Người viết ước mong
rằng chính quyền Việt Nam cố gắng giúp đỡ họ thức tỉnh để nhìn ra bộ mặt
thật ghê tởm của Vatican bằng chính sách giáo dục tự do khai phóng, phổ
biến sâu rộng những tài liệu lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã
giống như ở các nước Âu Mỹ. Có như vậy thì mới hy vọng các con chiên
người Việt sẽ thức tỉnh và hành xử giống như dân Chúa ở Nicaragua, và
người Âu Châu. Mong lắm thay!
CHÚ THÍCH
[1] Lê Hữu Dản, Sự Thật – Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont. CA: Tự xuất bản, 1997), tr 28
[2] Trần Chung Ngọc, Đúc Tin Công Giáo (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 292
[3] Harriett McCune Brown, Robert P. Ludlum & Howard B. Wider,
This Is America’ s Story
(Atlanta, GA: Houghton Miffin Company” , 1975) 392-393. Nguyên văn:
“When Abraham Lincoln became President of the United States on March 4,
1861, he faced a very difficult problem. What should he do about the
seceded states?
Lincoln did not want war. As he took oath of office, he
said, “Suppose you go to war, you cannot fight always; and when, after
much loss on both sides, and no gain on either, you cease fighting, the
[same] old questions… are upon you.”
Slavery in the South was in no danger, for Lincoln
promised that he had “no purpose, directly or indirectly, to interfere
with… slavery in the states where it exists.” He went on to say, “In
your hands, my dissatisfied fellow countrymen, and not in mine, is the
momentous issue of civil war. The government will not assail you.”
Lincoln, however, made it clear that he had taken a solemn oath to
“preserve, protect, and defend” the United States government. Finally he
pleaded with the people of the whole country to unite one again.
Solemnly he said:
“We are not enemies, but friends. We must not be enemies…
The mystic chords of memory, streching from every patriot grave to
every living heart and hearthtone all over this broad land, will yet
swell the chorus, as surely they will be, by the better angels of our
nature.”
[4] Jack.T.Chick,
Smokescreens (Chino, Chick Publications, 1983, trang 85-86. Nguyên văn: "
This
war would never been possible without the sinister influence of the
Jesuits. We owe it to the popery that we now see our land reddened with
the blood of her noblest sons. Though there were great differences of
opinion between the South and the North on the question of slavery,
neither Jeff Davis nor anyone of the leading men of the Confederacy
would have dared to attack the North, had they not relied on the
promises of the Jesuits, that, under the mask of Democracy, the money
and the arms of the Roman Catholic, even the arms of France were at
their disposal, if they would attack us. I pity the priests, the bishops
and monks of Rome in the United States, when the people realize that
they are, in great part, responsible for the tears and the blood shed in
this war. I conceal what I know, on that subject, from the knowledge of
the nation; for if the people knew the whole truth, this war would turn
into a religious war, and it would at once, take a tenfold more savage
and bloody character. It would become merciless as all both sides. The
Protestants both the North and the South would surely united to
exterminate the priests and the Jesuits, if they could hear what
Professor Morse has said to me of the plots made in the very city of
Rome to destroy this Republic, and if they could learn how the priests,
the nuns, and the monks, which daily land on our shores, under the
pretext of preaching their religion, instructing the people in their
schools, taking care of the sick in the hospitals, are nothing else but
the emissaries of the Pope, of Napoleon, and the other despots of
Europe, to undermine our institutions, alienate the hearts of our people
from our constitution, and our laws, destroy our schools, and prepare a
reign of anarchy here as they have done in Ireland, in Mexico, in
Spain, and wherever there are any people who want to be free."
"
And then President Abraham Lincoln went on to say:
"Is it not an absurdity to give a man a thing which is sworn to hate,
curse, and destroy? And does not the Church of Rome hate, curse and
destroy liberty of conscience whenever she can do it safely? I am for
liberty of conscience in its noblest, broadest, highest sense. But I
cannot give librerty of conscience to the Pope and to his followers, the
Papists, so long as they tell me, through all their councils,
theologians, and canon laws, that their conscience orders them to burn
my wife, strange my children, and cut my throat when they find their
opportunity! This does not seem to be understood by the people today.
But sooner or later, the light of common sense will make it clear to
every one that no liberty of conscience can be granted to men who are
sworn to obey the Pope, who pretends to have right to put death those
who differ from him religion."
[5] Lê Hữu Dản, Sự Thật (Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997), (Fremont, CA: TXB: 1997), tr 28-29.
[6] Nguồn:
http://forums.redflagdeals.com/voice-faithful-clergy-sexual-abuse-scandal-will-eventually-cost-2-3-billion-177531/ Nguyên văn:(INDIANAPOLIS - The chairman of the Catholic lay reform group Voice of the Faithful predicted Saturday that
the clergy sexual abuse scandal will eventually cost U.S. dioceses $2 billion to $3 billion.
Speaking at the first national meeting of the group in
three years, David Castaldi urged leaders of local affiliates to press
their bishops for better financial reporting as individual dioceses post
large payouts to abuse victims, lawyers and others.
The Associated Press reported last month that the costs
to the church so far totaled slightly more than $1 billion for abuse
cases that date back decades. The projection by Castaldi indicates that
direct costs could rise twice as high.
Boston, where the scandal first erupted more than three years ago before spreading nationwide, reached
an $85 million settlement with
552 people in 2003. The Diocese of Orange, Calif., settled 90 abuse claims for
$100 million last December, followed by last month's settlement of
$120 million by
the Diocese of Covington, Ky.
"That record will not last," said Castaldi, who is also a
former chancellor and chief financial officer for the Boston
Archdiocese.
The bankrupt Diocese of Portland, Ore., faces claims
topping $500 million, and the Archdiocese of Los Angeles will settle
cases for at least $500 million and perhaps as much as $1.5 billion, he
said.
"We can now see total direct costs of $2 billion to $3 billion," he said.”
[7] Steve Maynard (The News Tribune) "Church lists sex abuse costs"
The News Tribune [Tacoma, WA] Friday, April 4, 2003: B1 & B8. Nguyên văn
: ("
Archdiocese: Settlement fees counseling total $4.1 million.-
Clergy sex abuse complaints against the Catholic Archdiocese of Seattle
have cost $4.1 million since 1987, the archdiocese reports. About $2.8
million had been paid to 65 victims of sex abuse by priests in the
archdiocese. Another $500,000 covered pastoral case and counseling for
victims, and $800,000 went for attorneys' fees the archdiocese said
Wednesday, disclosing the amounts for the first time. All costs have
been covered by archdiocese's insurance. There have been no reports of
clergy sexually abusing children in the archdiocese since 1987, the
year before it added safeguards to protect minors, the archdiocese
said.
.." Vấn đề này đã được trình bày đầy đủ trong Chương 16, Phần II của bộ sách Lịch Sử và Hồ Sợ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.
[8]
Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipsburg, NJ (The Presbyterian
and Reformed Publishing Company), p. 273.Nguyên văn: “The American
visitor to Mexico is often amazed to discover an abundance of large
beautiful churches in almost every part of the nation. Frequently the
question arises, “How could they afford to construct such a vast number
of imposing edifices?” The answer, of course, is slave labor. “Following
the conquest by Cortez, the Indians were force into slavery by the
Roman Church and put to work building its places of worship and other
religious structures. In Henry Bamford Parkes’ most excellent work, a
History of Mexico, we read: “Twelve thousands churches were built in
Mexico during the colonial period; and though they testify to the
triumph of Christ over Huitzilopochtli (chief god of the Aztecs), they
also testify to the skill of the missionaries (Jesuits) in obtaining
unpaid labor from the indians.” Many of the Indians died as a result of
being forced into strenous labor to which they were not accustomed.”
[9] Charlie Nguyễn,
Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr 159.
[10] Father Shannon M. Collins, CPM. Nguồn:
http://www.ewtn.com/library/MARY/COLAGPRO.HTM.
Nguyên văn: “The modern has been especially revolutionary toppling
kings from their thrones and smashing altars. In the year 1917, for
example, the Bolsheviks, the Communist revolutionries in Russia
overthrrew and assassinated the Czar and his royal family. But months
before this tragedy, a revolution occurred in Mexico. Yes, the 1917
revolution in Mexico established the world’s first socialist
constitution and Holy Morther Church suffered greatly. Authoirities
demolished, desecrated, and seized Catholic Churches and religious
houses. In a satanic rebellion, revolutionaires destroyed sacred
vessels, sacramentals, and sacred works of art. Priests, religious and
Catholic laity were persecuted and killed. In the Mexican province of
Tobasco things were especially difficult. The socialist governor of
Tobasco named his children Lenin, Satan, and Lucifer. He destroyed all
churches, forced priests to marry, and persecuted any true Christian...”
“BI. Miguel Agustin Pro –23 November 2004.”
[11] Chu Văn Trình, Thái Vân, Trần Quang Anh,
Việt Nam Với Cuộc Dấy Lọan Hòa Bình của Giáo Chủ John Paul II (Dora, FL: Văn Sử Địa, 1994), tr 68.
[12] Howard B. Wilder, Robert P. Ludlum & Harriett McCune Brown,
This Is America’s Story
(Attlanta, GA: Houghton Mifflin Company Boston, 1975), tr 594. Nguyên
văn: “In the late 1800’s, however, the Cubans became restless under
Spanish rule. Several times they rebelled and tried to win independence.
Each time the soldiers of Spain overpowered them. In 1895, however,
they tried again. When Spain refused to give Cuba its freedom, rebellion
flamed from one end of Cuba to the other. Spanish troops marched
against Cubans, the Cubans fell upon the Spanish soldiers in surprise
attacks. They burned supplies and acres of sugar cane, the Island’s
chief crop.”
[13] Nguồn:
http://www.walterlippmann.com/militant-cuba-1959.html. Ngày 30/6/2006. Nguyên văn: “Cuban’s hated Batista dictatorship was overthrown last week. Fidel Castro, leader of the 26
th
of July movement that waged the two-year guerilla war against Batista,
led his ragged forces in a dramatic triumphal march to Havana.
Washington recognized the new liberal reform government headed Manuel
Urritia on January 7 (1959). Batista and other top government fled to
Dominican Republic and the United States. Their escape touched off
protest demonstration in Havana.
Batista claimed that Castro had superior arms. But Castro
had between 5,000 to 10,000 troops when the civil war ended and this
was the largest force he ever had. Batista had the government army of
50,000 troops. His troops with tanks, planes and heavy artillery
obtained from the U.S. and England. Castro’s guerrillas were armed with
revolvers, riffles and even more primitive weapons.
100 to 1: The ousted dictator told a Dominican
newspaper editor that Castro guerrilla tactics were impossible to lick:
“An army would need 100 men for each guerrilla it fought. That was the
case of Tito in Yugoslavia and the Chinese government.” Bertram B.
Johanssen of the Christian Science Monitor said that Batista was right.
Castro used the same tactics as were used by Communist forces in
Indochina, Yugoslavia and China "“and 182 years ago by farmers in
Concord and Lexington against the British in the American Revolution.”
Johanssen reports how “local populations, especially in
rural area, aided rebels enormously with their friendliness. They hid
them from Batista soldiers, gave rebels correct directions down abscure
roads and passages, provided wrong directions, flavored with sardonic
humor, to government troops.”
Lived in terror: Sicne Batista seized power in
1952, Cuba’s population had lived in terror. The regime was notorious
for its jailing, torture and murder of political opponents. Abysmal pay,
unemplyment were the lot of Cuba’s 5,000,0000 inhabitants. The victory
demonstrators have been depicted as “mobs of looters and gangsters.”
However, Johanssen reports (January 3) “Generally, the New Year’s Day
mob rioters were selective obviously had become rich on political
corruption. The parking meters which the mobs battered with
sledgehammers and emptied of their small coins had been installed by
Batista relatives, who were suspected or reaping huge profits from them.
The Batista government was propped up all these years by
American big business interests and the U.S. Star Department. The
resentment against American domination of Cuban life is tremendous.”
[14] Malachi Martin,
The Jesuits
(New York: The Linden Press, 1987), pp. 119-120. Nguyên văn: “When the
moment came for him to deliver his prepared homily - a vigorously
onslaught on the People's Church. - he appeared surprised that even the
microphone that had been set up for him could not overcome the
well-rehearsed and beautifully timed cacophony that now rose from the
crowds....When John Paul strained to make his deep voice resound over
competition, the litany of the crowd became thunderously loud as regular
heartbeats: "Power to the People!" "Speak to us of the poor!"... We
want a united Church on the side of the poor!" "There is no
contradiction between Christianity and revolution!"...
John Paul's face became livid with indignation as he
realized what was happening: He was being trapped and nullified in a
well of noise. In anger and desperation, he finally shouted, "Silencio!"
In the well-orchestrated symphony of the claques, the Pope's command
was but a signal to increase the tempo of slogans. "Silencio!" John Paul
shouted a second time. A new crescendo of slogans engulfed him. A third
time: "Silencio!" the word accompanied now by staying gesture of his
hand. An unimaginably loud chorus of "Power to the People! Christ lives
in the People' s Church!" overwhelmed his efforts. The crowd was beyond
his control. Angered, John Paul shouted a taunt into his microphone, his
fury-filled glance shooting over at the Junta in their reviewing stand:
"Miskito Power!" Finally the thumping cascade of amplified shouts
defeated John Paul. He did not finish his homily. But even that was not
enough... The slogans continued ... "Power of the People!" and "It is
possible to be Marxist and Christian!" and "Speak to us about the
injustice of capitalism!".
Yet the humiliation was not complete. When John Paul and
his entourage took their seats in the Alitalia DC-10 at Managua's
airport that night and the pilot notified the control tower that he was
ready to take off, the Junta ordered the papal plane to be kept waiting
an extra ten minutes on the ground. It was their gesture to underline
who was really in control here. When at last the humiliation had been
played to its last note, the government radio insisted to the Nicaraguan
people that the Pope should apologize for his behavior.”