10-Có việc dễ thương lượng, sự việc của quần chúng để quần chúng thương lượng, để nhân dân thực sự nói lên tiếng nói chân thành dân chủ.
Danh ngôn Nhân cách
Phẩm cách có thể biểu hiện ra trong thời khắc quan trọng, nhưng nó lại hình thành trong thời khắc không quan trọng. Bacon (Anh).
Danh ngôn Sự nghiệp
Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì ý nghĩa, ấy là một đức hạnh thật sự. Senancourt
Danh ngôn Đối nhân xử thế
Khi bạn không thể thực hiện những gì ao ước, bạn nên ao ước những gì có thể làm. Terence
Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017
Tư Tưởng của Tập Cân Bình có gì khác thường không?
Đại hội 19 đảng cộng sản Trung Quốc đã kết thúc một cách
thất vọng. Người ta đã háo hức chờ đợi, vừa tò mò lo sợ, vừa hy vọng
một sự thay đổi lịch sử, nhưng cuối cùng thì chẳng có gì. Con tàu khổng
lồ rầm rập đến, nhưng đi qua một cách lặng lẽ. Sự vĩ đại của con tầu
khiến người ta nghĩ tới một sự bí ẩn đang được che đậy.
Giấc mơ Trung Hoa với mục tiêu trở thành «quốc gia hùng
cường và tươi đẹp» vào giữa thế kỷ XXI được xem như phương châm cai trị
của Tập. Nó là động lực quy tụ mọi sức mạnh của một quốc gia 1,3 tỷ dân
và cung cấp chính danh cho mọi thủ đoạn và kỹ thuật cai trị, từ tiêu trừ
tham nhũng cho đến các chính sách cải cách kinh tế xã hội. Tuy nhiên,
giấc mơ này, dù hấp dẫn bằng ý tưởng, có lẽ chưa được ông Tập cùng các
cộng sự của ông giải phẫu chi tiết.
Tư tưởng lãnh tụ và khát vọng vĩ nhân
Lịch sử Trung Quốc luôn được đánh dấu gắn liền với tên tuổi một nhân vật xuất chúng. Các triều đại vĩ đại đều gắn với tên tuổi vị Hoàng đế.Vinh quang thuộc về cá nhân lãnh tụ là
tập quán ý thức hệ của người Trung Quốc. Công cuộc cách mạng phụ thuộc
lãnh tụ. Tuân phục lãnh tụ có quy tắc như luật của Hội kín. Lòng trung
thành thể hiện bằng niềm tin bất di bất dịch và hy sinh vô điều kiện cho
lãnh tụ.
Tư tưởng của Tập một khi đã đạt đến cấp độ chi phối mọi
hoạt động, tự động trở thành kim chỉ nam và tiêu chuẩn thử thách và sàng
lọc bộ máy. Khác các tập đoàn lãnh đạo các quốc gia khác, ở Trung Quốc,
việc xây dựng một cá nhân thành một lãnh tụ là việc làm có ý thức. Nó
trở thành một thể thức trong các sách lược cai trị. Tập thể các nhà lãnh
đạo Quốc gia luôn tìm kiếm cá nhân xuất chúng để gây dựng thành lãnh
tụ, vừa như để tạo dựng xương sống của chế độ vừa là phương sách tìm
kiếm vinh quang cho đất nước. Tập đang trở thành một trong hai lãnh tụ
vĩ đại nhất thời hiện đại, sau Mao Trạch Đông, không chỉ do ước vọng cá
nhân mà còn là quyết tâm của tập thể lãnh đạo, trước hết là Ban thường
vụ Bộ chính trị.
Giấc mơ Trung Hoa của Tập là giấc mơ quay trở lại thời huy hoàng trong quá khứ. Nhắc lại con số chiếm giữ 58 % tổng thu nhập thế giới của thời nhà Đường, thế kỷ thứ 7, Tập Cận Bình muốn ngầm ý, Trung Quốc thời đại hiện nay sẽ quay trở lại là quốc gia lớn nhất và hùng mạnh nhất thế giới. Lãnh
thổ nhà Đường bao trùm phía bắc hết lãnh thổ Mông Cổ, phía Nam chiếm
một phần Việt Nam và phía Tây hầu hết khu vực Trung Á, tới giáp
Kazakhstan. Với 80 triệu dân, khi đó, Trung
Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới. Con đường tơ lụa ra đời chính
trong thời kỳ này là bằng chứng cho sự thịnh vượng và phát triển huy
hoàng của nền kinh tế và văn minh Trung Hoa.
Cũng có nghĩa là Tập Cận Bình có ý đặt mình vào vị trí tương tự Đường
Thái Tông Lý Thế Dân, vị Hoàng đế vĩ đại nhất trong số các Đại Đế vĩ
đại nhất của lịch sử Trung Quốc, gồm Tần Thuỷ Hoàng, Hán Cao Tổ, Đường
Tông và Tống Tổ.
Đây chính là linh hồn, là xương sống của tư tưởng Tập Cận Bình: Cai trị bằng khát vọng vinh quang và khát vọng giầu có. Là
sản phẩm của Tập, nhưng có thể đã trở thành tư tưởng của tầng lớp lãnh
đạo Trung Quốc, thậm chí của cả giới tinh hoa Trung Hoa.
Tập luôn nhấn mạnh con đường tới vinh quang là chắc chắn
nhưng là con đường không ngắn và không dễ dàng. Nhưng Tập lại không chỉ
định người kế cận vào đầu nhiệm kỳ thứ hai như thông lệ, trong khi tất
cả 5 vị trong Ban thường vụ Bộ chính trị đều quá tuổi ứng viên Tổng bí
thư khi vào nhiệm kỳ 20. Đây có thể là ý đồ của riêng Tập Cận Bình, nhằm
tập trung quyền lực, vì khi chỉ định người kế cận, lực hút quyền lực sẽ
có hướng thoát khỏi Tập. Sự nhất quán có vẻ dễ dàng trong việc bầu ra
Ban thường vụ quá tuổi, trong khi trước đó dư luận cho rằng Tập sẽ giải
tán và huỷ bỏ cơ chế thường vụ, cho thấy việc dọn đường để Tập có cơ hội
thực thi tới cùng kế hoạch của Tập, không phải chỉ là ý đồ của riêng
Tập, mà có thể là tư tưởng của cả Bộ chính trị đảng cộng sản Trung Quốc.
Ngoài những gì có thể công khai, người ta biết chắc Tập đã báo cáo các
nhân vật quan trọng nhất những kế hoạch tuyệt mật, và sự thuyết phục
chính nằm ở những điều tuyệt mật đó.
Với lối tư duy triều đại, một khi đã xác lập, Tập Cận
Bình sẽ không bị quy tắc nhiệm kỳ cản trở. Đặng Tiểu Bình chỉ là nhà cải
cách, nhưng ở đỉnh quyền lực 20 năm cho đến năm 1989, lúc 85 tuổi, do
nhu cầu của công cuộc cải cách. Mao Trạch Đông trị vì nước Cộng Hoà
Trung Hoa cho đến lúc chết, vì là chủ nhân ông triều đại. Nếu làm được
như Đường Thái Tông Lý Thế Dân, thì Tập còn vĩ đại hơn cả Mao, đứng cùng
hàng với Tứ Đại Hoàng Đế Trung Hoa.
Nhưng sự vĩ đại mà Tập đang dụng tâm lôi kéo 1,3 tỷ dân
Trung Quốc, cùng ước vọng làm kinh ngạc thế giới không thấy được ông mô
tả ở đâu. Đại Dự án «một vành đai một con đường» và «đường tơ lụa trên
biển » lấy cảm hứng từ con đường tơ lụa thời nhà Đường vừa biểu lộ sự
thèm khát vinh quang của quá khứ, vừa phản ánh lối tư duy lạc hậu của
Tập và lãnh đạo Trung Quốc. Ở thời đại mà cuộc cách mạng kỹ thuật lần
thứ tư đang diễn ra từng ngày, kinh tế tri thức đang đang chiếm ngôi
hoàng đế các ngành công nghiệp, một cá nhân có thể kinh doanh toàn cầu
từ một căn phòng, tư duy khuếch trương lãnh thổ và chinh phục thế giới
bằng những con đường vận chuyển hàng hoá, là loại tư duy trung cổ. Tập
và Trung Quốc sẽ thất bại, hoặc ít nhất, tiền của của Trung Quốc sẽ trở
nên vộ dụng.
Trung Quốc sẽ đứng ở đâu khi trở thành “hùng cường và tươi đẹp”
Giấc mơ Trung Hoa được Tập Cận Bình diễn giải bằng một báo cáo 32000 từ, dài nhất trong lịch sử các báo cáo chính trị đại hội đảng cộng sản Trung Quốc từ trước tới nay, gấp đôi báo cáo cũng đã dài nhất trước đó của Hồ Cẩm Đào. Bản báo cáo đề cập tất cả, không bỏ sót một lĩnh vực nào, cho thấy Tập cố thể hiện mình như một chủ nhân ông, một tác gia của chế độ. “Chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc bước vào Thời đại mới và sẽ trở thành một quốc gia hùng cường và tươi đẹp vào giữa thế kỷ XXI”. Tuy vậy, hình hài của quốc gia hùng cường và tươi đẹp đó không thấy được xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể.
Báo cáo của ông viết: « Thời kỳ nhà Đường (618-907) là giai đoạn thịnh trị của Trung Quốc. GDP của Trung Quốc thời kỳ này có thời điểm chiếm tới 58% tổng GDP của thế giới, vượt xa Ấn Độ, Anh hay Pháp.
Nhưng
vài thế kỷ sau, Trung Quốc đã không theo kịp các nước phương Tây và cả
Nhật Bản trong quá trình hiện đại hóa, điển hình là từ sau cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ nhất ở Anh.”
Ông Tập nhắc tới 58% Tổng thu nhập thế giới từ thời nhà Đường, và một con số khác được ông chỉ ra là thu nhập đầu người Trung Quốc đạt khoảng 30.000 USD vào năm 2035, ngang với Italy, quốc gia công nghiệp đứng thứ 7 trong nghóm G7 hiện nay. Đây có lẽ là bằng chứng định hình giấc mơ của ông Tập. Thử xem Trung Hoa đã có hình thù như thế nào trong đầu ông.
Theo công thức tính tăng trưởng: An = Ao(1+i)^n
Trong đó:
Ao = Thu nhập đầu người/năm khởi tính
i = tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm
n= số năm tính từ năm khởi tính.
1- Với mức thu nhập hiện tại 8.800 USD/người/năm(theo Statista), nếu ông Tập muốn Trung Quốc có một thu nhập 30,000 USD/ đầu người/năm vào năm 2035, thì bắt buộc trong suốt 18 năm tới, Trung Quốc phải duy trì một tốc độ tăng trưởng bình quân tối thiểu bằng 7,1%. Đây là một khả năng không thể thực hiện, từ năm 2014, suy giảm tăng trưởng là xu thế không thể đảo ngược, trong khi tài nguyên đã cạn kiệt, môi trường đã bị ô nhiễm ở mức tối đa, tỷ trọng thu nhập vẫn chủ yếu từ sản xuất công nghiệp trong khi không còn lao động giá rẻ và thị trường xuất khẩu co lại cùng với mọi loại rào cản bảo hộ trên toàn cầu. Trung Quốc đang buộc phải thay đổi lại cơ cấu nền kinh tế, dựa chủ yếu vào thị trường nội địa và kinh tế dịch vụ thay cho sản xuất công nghiệp và tăng trưởng bằng tăng cường vốn đầu tư. Ngân hàng thế giới dự báo nền kinh tế Trung Quốc giảm dần từ 6% xuống dưới mức 4%. Mục tiêu 30.000 USD/đầu người/năm vào năm 2035 là một mục tiêu không có khả năng hiện thực.
2- Năm 2015, thu nhập đầu người của Trung
Quốc chỉ mới đạt 8.800 USD/năm(world bank group), tới năm 2050, tức
trong khoảng 33 năm nữa, Trung Quốc với mức tăng trưởng giả định là
4,0%, thu nhập đầu người khi đó sẽ là: 32.000USD/năm, trong khi Mỹ, nếu
tăng trưởng bình quân đạt 3,0%, vào năm 2050, thu nhập đầu người sẽ là
154.000 USD/năm. Châu Âu, với bình quân tăng trưởng 2,0%, thì năm 2050,
sẽ đạt thu nhập đầu người 57.000/năm, Malaysia với chỉ 3,0 % cũng đạt
62.000 USD/người /năm. Như vậy TQ vẫn chỉ là quốc gia có thu nhập vào
hạng trung bình thấp. (Việt Nam, nếu duy trì được mức 6,5%, sẽ có thu
nhập : 24000 USD/người/năm).
Nhìn vào thu nhập đầu người, năm
2050, Trung Quốc chưa phải là nước giầu, mức sống của dân Trung Quốc chỉ
vào loại trung bình thế giới, vì vậy chưa thể gọi là một quốc gia “sung
túc và tươi đẹp” xét về mức sống chung hay sức mua của người dân trong tương quan với thế giới.
Tuy nhiên, nhiều khả năng Trung Quốc sẽ không dân chủ hoá theo mô hình chung của các nước phát triển trên thế giới mà tiếp tục đường lối độc đảng kiểm soát nền cai trị quốc gia, chênh lệch giầu nghèo sẽ không có khả năng thu hẹp. Nếu giả định khoảng ¼ dân số chiếm đoạt ¾ tổng tài sản quốc gia, số dân này sẽ có mức sống cao vượt hẳn số còn lại. Khi đó, khoảng 400 triệu người Trung Quốc sẽ có thu nhập đầu người bình quân vào khoảng : (1,5 tỷ x 51000)x3/4)/400triệu =143.340 USD, đứng thứ hai sau Mỹ.
3- Thu nhập toàn cầu năm 2013= 86.500 ỷ USD. Cũng theo Statista, năm 2013, tổng thu nhập GDP của Trung Quốc là 11.200 tỷ Mỹ kim= 13%, trong khi Mỹ là: 18.558 tỷ USD =21% tổng thu nhập toàn cầu.
Tỷ lệ tăng trưởng toàn cầu năm 2016= 3,154%, nếu bình quân 3%,(ước tính của Ngân hàng thế giới) thì đến năm 2050, Tổng thu nhập toàn cầu sẽ là: 86.500( 1,0354)^37= 313.341 tỷ UDS. Trung Quốc, với 76.500 tỷ USD sẽ chiếm khoảng 76500/313341= 24% và Mỹ (416 triệu dân năm 2050), có Tổng thu nhập bằng 154000x 416 triệu= 64.064 tỷ USD chiếm 20%. Trung Quốc đứng đầu thế giới về quy mô nền kinh tế, nhưng chỉ chiếm 24%.
Theo ước mơ của Tập Cận Bình, vào năm 2050, Trung Quốc sẽ lập lại kỷ lục của Đại
Đường chiếm 58% tổng tài sản toàn cầu, thì khi đó, Tổng GDP của Trung
Quốc phải là 181.737 tỷ USD. Muốn đạt được thu nhập này, tỷ lệ tăng
trưởng bình quân hàng năm bắt buộc phải đạt 7,3% trong suốt 37 năm. Đó là điều không tưởng. Như phân tích ở trên, kể từ sau năm 2030, tăng trưởng bình quân của nền kinh tế Trung Quốc chỉ khoảng 3-4%.
Nói tóm lại, cả về thu nhập đầu người lẫn quy mô nền kinh tế, vào giữa thế kỷ XXI, lúc mà Tập cho rằng Trung Quốc hoàn thành giấc mộng Trung Hoa, dù lớn nhất thế giới, Trung Quốc chỉ chiếm 24% tổng thu nhập toàn cầu, cách xa con số 58% của nhà Đường. Thu nhập đầu người chỉ đạt 32.000 USD/năm, trong khi Mỹ là 154.000 USD đầu người /năm, Malaysia 62.000 USD/năm. Dân Trung Quốc không nghèo nhưng cũng không giầu.
Tập không có gì phi thường, và giấc mơ của ông vẫn chỉ là giấc mơ, chưa kể, hàng nghìn tỷ đô có thể theo ông ta chìm xuống biển cùng với các con đường tơ lụa rải ra trên toàn cầu.
Chủ quyền và Biển Đông
Tập Cận Bình tuyên bố « Trung Quốc trở thành hùng
cường không đe doạ bất kỳ quốc gia nào», nhưng «Trung Quốc là một nước
mớn», Trung Quốc «phải tập để có một tư duy thích ứng, đảm bảo quốc
tế phải biết đến ý muốn của Trung Quốc». Và «đừng có ai tin rằng Trung
Quốc sẽ bỏ qua một tấc đất chủ quyền của mình, chúng ta sẽ không dung
thứ cho bất cứ ai, bằng cách nào, vào thời điểm nào, muốn tách một tấc
đất ra khỏi Trung Quốc”». Biển Hoa Đông, đảo Sekaku tranh chấp với
Nhật. Hàng ngàn km biên giới Tây Nam với Ấn Độ, Biển Đông với đường lưỡi
bò vi phạm chủ quyền của Việt Nam và các nước ASEAN. Với những tuyên bố
này, kể cả vào giữa thế kỷ XXI, nếu các nước không chịu khuất phục, các
vấn đề tranh chấp và nguy cơ chiến tranh sẽ vẫn còn nguyên. Có nghĩa
rằng Trung Quốc sẽ không có bình yên và đem lại một cảm giác bất an cho
láng giềng và hoà bình thế giới. Hình ảnh một Trung Quốc tham lam, nham
hiểm và bần tiện sẽ không thể bị xoá với bất cứ một lãnh tụ tiếp tục
lối tư duy như vậy.
Một Trung Quốc vẫn phi dân chủ chứa đựng những hiểm hoạ
muôn thưở. Các quốc gia lớn có trách nhiệm với thế giới không thể không
tìm kiếm cách che chắn tự vệ. Đó là phản ứng tự nhiên, là sản phẩm tất
yếu. Tứ giác kim cương gồm Mỹ, Nhật, Ấn Độ và Australia sẽ là một chiến
lược lá chắn mà Trung Quốc không thể một mình đối phó. Con đường vượt
qua lưới bao vây đó chỉ có thể là giải pháp đồng nhất hoá lợi ích với
thế giới, đồng nhất hoá hệ thống giá trị tổng quát, nghĩa là từ bỏ Đặc
sắc Trung Hoa, không tìm kiếm giá trị riêng cho riêng người Trung Hoa.
Còn chuyên chế, còn độc đảng, Trung Quốc còn chứa đựng
nguy cơ chiến tranh. Chỉ bằng con dường dân chủ hoá, Trung Quốc mới
thoát được vòng vây cảnh giác và thù địch của thế giới.
Có một giải pháp được che đậy?
Người Trung Quốc không bao giờ đi một nước cờ chỉ nhằm
tới một mục đích. Tập quyền và lãnh tụ hoá hệ thống cai trị, vừa có mục
tiêu nhằm hiệu quả hoá hiệu lực lãnh đạo, nhưng đồng thời cũng nhằm vô
hiệu hoá mọi phản kháng trong trường hợp một cải cách có ý nghĩa cách
mạng ngược chiều.
Ngoài Tập và Thủ tướng Lý Khắc Cường, 5 vị trong Ban
thường vụ đều qúa tuổi vào nhiệm kỳ tới, trong khi hai nhân vật được dư
luận xem là triển vọng kế vị là Hồ Mẫn Chi và Hồ Xuân Hoa vẫn bị bỏ ngỏ.
Nếu hai vị này vào được Ban thường vụ vào nhiệm kỳ tới thì để được bầu
vào chức Tổng bí thư cũng phải chờ tới nhiệm kỳ 21, có nghĩa là Tập phải
còn đứng đấy ít nhất 15 năm nữa. Việc này để lộ ý đồ dọn đường cho một
triiều đại 25 năm. Cần một thể chế tập quyền có một chiều dài bấy nhiêu
năm, có phải chỉ để tận diệt tham nhũng của phe cánh khác và tự biến
thành tham nhũng nếu tiếp tục cùng một con đường?
Ông Tưởng Kiến Quốc, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nói rằng Đại hội đảng lần thứ 19 “sẽ không chỉ đặt ra nhiệm vụ cho 5 năm tới mà cả hai đến ba thập niên tới“. Hai, ba thập niên tới không rõ người kế tục, có nghĩa rằng quyền lực vào một chỗ sẽ còn kéo dài.
Có một công thức: độc tài kết hợp với kinh tế tư bản sẽ
sinh ra dân chủ: Đài Loan, Sigapore, Nam Hàn, có thể giống như Italy,
Đức Hít-le và Nhật bản. Độc tài cộng với tự do kinh tế cho phép một tốc
độ khác thường của Kinh tế, nhưng sự khác thường của thành quả kinh tế
đem lại nhu cầu cân bằng nhân phẩm, và sự giác ngộ về hệ thống giá trị
căn bản.
Lịch sử hiện đại cũng cho thấy, cách mạng dân chủ chỉ có
thể thành công bằng chính tập đoàn cầm quyền, và tập đoàn cầm quyền chỉ
có thể thực hành cải cách khi tuyệt đối tập quyền, tức là ở vị thế của
nhà độc tài.
Trong một đất nước rộng lớn, đông dân, nhiều sắc tộc,
nhiều bè cánh, với tập quán tư duy «thiên hạ cứ tan lâu lại hợp, hợp lâu
khắc tan», chia cắt cát cứ và xứ quân như một tất yếu, việc tập quyền
tuyệt đối có thể là cần thiết. Nhưng Tập Quyền phản lại chủ trương mở
cửa rộng rãi ra bên ngoài và cùng với nó là mở rộng quyền công dân là
dân chủ hoá sinh hoạt xã hội. Nếu không tập trung quyền lực đủ mạnh, bất
kỳ một cuộc thay đổi cách mạng nào cũng có thể tạo ra tan vỡ và sụp đổ
quốc gia.
Một nhân vật được coi là trí tuệ số một của một dân tộc
1,3 tỷ người, ông ta không thể không hiểu Trung Quốc đứng ở đâu, nhân
loại sẽ có hình dạng thế nào, quan hệ giữa các quốc gia sẽ ra sao, văn
minh thế giới về đâu vào giữa thế kỷ này.
Trong một hội nghị quốc tế tại Singapore cuối năm 2015,
có mặt tham dự của Tập Cận Bình, bộ trưởng ngoại giao Australia đã phát
biểu: Trung quốc không thể dẫn dắt khu vực, vì Trung quốc không phải là
quốc gia dân chủ. Lời phát biểu của vị bộ trưởng này đã làm Tập Cận Bình
bối rối. Là một người tham vọng vĩ nhân, ông Tập không thể không suy
nghĩ về lời phát biểu giản dị nhưng đúng hoàn toàn đó. Trung Quốc có thể
trở thành khổng lồ, ở trung tâm của thế giới, nếu tiếp tục là một trong
bốn quốc gia phi dân chủ còn lại trên trái đất?
Học giả Ngô Tộ Lai, một cán bộ cũ của Viện Nghệ thuật Trung Quốc đã chia sẻ:“Nếu
ông ta tiếp tục theo con đường này, có nghĩa sẽ trở thành nhà chính trị
thất bại”, “nếu như dám làm cuộc cách mạng thay đổi thể chế, ông Tập
Cận Bình sẽ trở thành vĩ nhân lưu danh sử sách. Hiện nay ông Tập đang
đối diện cuộc chiến trong nội bộ nên chưa thay đổi được hệ thống Tư pháp
hủ bại, cục diện kinh tế thì khó khăn. Trong tình cảnh rối loạn này
chúng ta chưa thể biết được ông ta muốn đi như thế nào. Chỉ khi loại bỏ
được đối thủ trong hệ thống xong, lúc đó chúng ta mới có thể biết ông ấy
muốn quay về xã hội truyền thống hay thực hiện chế độ văn minh hiện
đại”.
“Đài Loan nhờ có Hiến pháp dân chủ cộng thêm sự kế
thừa văn minh Trung Hoa nên đã hòa nhập vào thế giới, đây là con đường
cần phải đi, kế thừa văn hóa đa dạng của văn minh Trung Hoa nhưng kết
cấu chính trị phải theo chuẩn mực của văn minh thế giới”.
Tân Hoa Xã ngày 19/10 cho biết, trong 19 điều của bản
báo cáo dài kỷ lục của Chủ tịch Tập Cận Bình được dư luận Trung Quốc
đánh giá là tâm đắc có ba điều úp mở tới một xã hội dân chủ :
«9-Cánh cửa lớn mở cửa của Trung Quốc sẽ không bao giờ khép lại, chỉ có mở rộng thêm.10-Có việc dễ thương lượng, sự việc của quần chúng để quần chúng thương lượng, để nhân dân thực sự nói lên tiếng nói chân thành dân chủ.
11-Đặt lợi ích của nhân dân lên vị trí tối cao.»
Từ vài năm nay, Trung Quốc lan truyền một câu chuyện vào
năm 80 của thế kỷ trước, khi còn chưa ai biết Giang Trạch Dân là ai.
Một cao nhân trong chốn dân gian khi được hỏi ĐCS Trung Quốc ở ngôi bao
nhiêu lâu, đã trả lời: Giang, Hồ, Tập, Vô. Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào,
và Tập Cận Bình đã ứng nghiệm. Nhưng sau Tập, không có người họ Vô. Vậy
«vô» là không, không còn gì. Tập là triều đại cộng sản cuối cùng.
Ở Trung Quốc, các sự kiện chính trị lớn thường được
chuẩn bị trước bằng các điềm báo bí ẩn, các bài đồng giao, các chuyện
thần thoại truyền khẩu. Ai là người phát tán câu chuyện truyền khẩu này?
Hiện nay ở Trung Quốc có nhiều người đề nghị
chuyển sang “chế độ tổng thống”, cho rằng Tập Cận Bình sau khi
đảm nhiệm hai nhiệm kỳ Tổng bí thư, sẽ đề nghị soạn thảo
Hiến pháp, để đảm nhiệm chức tổng thống nhiệm kỳ đầu tiên thêm
5 năm nữa.
Ông La Vũ, con trai của cố đại tướng La Thụy Khanh, từng nói: “Tập
Cận Bình có thể phá bỏ cái gọi là bố cục truyền thống,
không làm Đại hội 19, Đại hội 20 gì cả, cũng không làm chủ
tịch đảng gì đó, chủ tịch quân ủy gì đó, cũng không làm cái
này, làm cái kia, chính là bầu chọn tổng thống, ai trúng tuyển
thì người đó làm”.
Ngày 30/8, trong chuyên mục của đài phát thanh VOA
của Mỹ, ông Ngô Tộ Lai – học giả Trung Quốc hiện đang cư trú ở
Hoa Kỳ cho rằng, Tập Cận Bình có thể cân nhắc sau khi đảm
nhiệm thêm một hai khóa Tổng bí thư, rồi chuyển sang đảm nhiệm
Ủy viên trưởng của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, đồng
thời chuyển giao quân quyền sang Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn
quốc. Từ đó khiến cho quân đội và quốc gia đều thuộc về Đại
hội Đại biểu Nhân dân.
Ông Trần Phá Không, bình luận viên chính trị của Mỹ cũng bày tỏ quan điểm trong quyển sách mới “Mưu kế của Tập Cận Bình, cái chết của ĐCS Trung Quốc” tiên đoán một lộ trình dân chủ hoá Trung Quốc bắt đầu từ nhiệm kỳ 19.
Không ai biết được điều gì chắc chắn có thể xảy ra. Với người Trung Quốc thì càng không thể đoán biết trước. Khói
ở phía Đông, nhưng lửa sẽ bốc lên từ phía Tây. Nếu lửa và khói xuất
hiện ở cùng một chỗ, thì cái chỗ ấy dứt khoát không phải đất Trung Quốc.
Có gì khác thương không
Đai hội với những bí ẩn chờ đợi được giải đáp đã kết
thúc chẳng gây một ấn tượng nào. Tư tưởng của Tập cuối cùng cũng được
giải mã. Chẳng có gì đặc sắc. Chẳng có gì khác thường. Điều mà thiên hạ
biết về người Trung Quốc và lối mòn tư duy nuối tiếc quá khứ vẫn là nét
đặc trưng của tư duy chính trị Trung Hoa. Chỉ khác nhau là ở chỗ này hay
chỗ khác gắn với ít hay với nhiều sự hằn học. Ở Mao người ta đã chứng
kiến một thứ tình cảm lẫn lộn giữa tiếc nuối và cay cú như một thứ hận,
một thứ hận mà người Trung Quốc có bổn phận phải trả. Ông ta đã từng nói
«Các nước đế quốc sau khi đánh bại Trung Quốc, đã chiếm các nước
phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần
đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Hương Cảng, Pháp
chiếm An Nam…», «tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu bần nông Trung Quốc đưa quân xuống Đông Nam châu Á».
Tập Cận Bình tự ý thức mình đứng ngang hàng với Mao,
thậm chí với Tứ Đại Hoàng Đế, Tập có bổn phận giành lại sự vĩ đại của
dân tộc. «Hùng cường không đe doạ ai, nhưng không một ai có thể làm cho
Trung Quốc từ bỏ chủ quyền của mình». Xung đột sẽ tồn tại mãi mãi như
mồi lửa ủ sẵn cho cuộc chiến khi Trung Quốc sẵn sàng. Đó là một Trung
Quốc của quá khứ, trong hiện tại và sẽ còn lâu trong tương lai, nếu một
nền dân chủ đích thực không được xác lập để thay đổi não trạng và lối
mòn tư duy của giới tinh hoa Trung Quốc hết thế hệ này tới thế hệ khác.
Tập có vĩ đaị không? Có thể có và có thể không. Lập lại
một Trung Hoa chiếm 58% tài sản thế giới, vạch ra những con đường trên
bộ, trên biển, và trên không để chia rẽ thế giới, lấn chiếm thế giới
bằng thủ đoạn và sức mạnh bạo lực, Tập sẽ chỉ là một tên đồ tể, ngay cả
với lịch sử chân chính của Trung Quốc.
Nhưng nếu Tập Cận Bình bằng cách tập trung tuyệt đối
quyền lực để chuẩn bị cho một cuộc cách mạng dân chủ đích thực và triệt
để, thì cùng với 1,35 tỷ dân, Tập sẽ đem lại cơ hội loài người thực sự
là chủ nhân thực thụ cho số phận của mình và quyết định vận mệnh của
Hành Tinh. Đó là một công trình vĩ đại vượt xa mọi đại hoàng đế Trung
Hoa. Tập nếu thật sự vĩ đại, ông ta không thể không biết tới điều đó. Đó
mới thật là giấc mộng Trung Hoa, và nên phải là giấc mơ của ông.
29/10/2017
Bùi Quang Vơm Lý giải sự suy giảm của các cuộc chiến tranh lớn
Nguồn: Mueller, John (2006). “Accounting for the Waning of Major War,” in Raimo Vayrynen, ed., The Waning of Major War: Theories and Debates (London and New York: Routledge), pp. 64-79.
Biên dịch: Nguyễn Thị Tâm | Hiệu đính: Ngô Thị Thu Hương
Khoảng đầu năm 1989 tôi đã xuất bản cuốn sách Rút lui khỏi ngày tận thế: Sự lỗi thời của Chiến tranh nói về các cuộc chiến tranh giữa các nước phát triển. Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự và ngoại giao – Michael Howard đã phê bình quyển sách này với một thái độ hết sức hoài nghi về luận điểm chính của nó, đồng thời đưa ra một lời khuyên hữu ích rằng “người đọc cẩn trọng sẽ kiểm tra xem hầm tránh bom của mình có còn sử dụng được không”. Nhưng sau đó, vào năm 1991, chính Michael Horward đã nói “có khả năng các cuộc chiến tranh theo nghĩa là những xung đột vũ trang lớn giữa các xã hội có trình độ phát triển cao sẽ không tái diễn, và một khuôn khổ ổn định cho trật tự thế giới sẽ được hình thành một cách vững chắc”.[i]
Hai năm sau đó, nhà sử học đồng thời là nhà phân tích quân sự John Keegan đã kết luận trong tác phẩm Lịch sử Chiến tranh rằng loại hình chiến tranh chủ yếu mà ông nghiên cứu có thể đang ở giai đoạn cáo chung:
Sau khi dành cả đời nghiên cứu về vấn đề này, tiếp xúc với những người trong cuộc, đi thăm nhiều điểm chiến sự và theo dõi các tác động của chiến tranh thì theo tôi, chiến tranh dường như không còn là một phương tiện đáng mong muốn hay hiệu quả, chứ chưa nói là hợp lý, để con người giải quyết các bất đồng của mình.[ii]Vào cuối thế kỷ 20, Mary Kaldor cho rằng “sự tàn bạo của các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia có thể đã trở thành dĩ vãng” và trước thềm thế kỉ mới, Robert Jervis kết luận rằng chiến tranh giữa các cường quốc “sẽ không xảy ra trong tương lai” hay theo cách diễn đạt của Jeffrey Record thì chiến tranh có thể “biến mất hoàn toàn”.[iii]
Từ đó đến nay, thế giới dường như vẫn tiếp tục, thậm chí còn tăng tốc công cuộc rút lui khỏi ngày tận thế – một từ đã bắt đầu mang hàm ý khá lạ trong hơn 15 năm qua. Và, mặc dù có hơi chủ quan nhưng chẳng còn ai quan tâm đến việc bảo quản những hầm tránh bom của mình nữa.
Không chỉ các quốc gia phát triển đã tránh được chiến tranh với nhau trong suốt thời kì Chiến tranh lạnh mà thực ra có rất ít các cuộc chiến tranh trên bình diện quốc tế dưới bất kỳ hình thức nào từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Chỉ có một ngoại lệ thực sự đáng chú ý từ năm 1975 (và đây cũng là một ngoại lệ quan trọng), đó là cuộc chiến đẫm máu giữa Iran và Iraq kéo dài từ năm 1980 đến năm 1988. Ngoài ra, mặc dù xung đột vũ trang giữa chính phủ Israel và quân nổi dậy Palestine vẫn diễn ra thường xuyên nhưng từ sau năm 1973 đến nay, không có quốc gia Arập hay Hồi giáo nào muốn xung đột leo thang thành chiến tranh quốc tế bằng cách gửi binh lính trực tiếp tham chiến. Đồng thời, các cuộc nội chiến, chiến tranh thực dân và chiến tranh ý thức hệ dường như cũng trong quá trình suy giảm.
Thái độ đối với chiến tranh đang thay đổi
Theo tôi, hiện tượng đáng chú ý này chủ yếu bắt nguồn từ việc thái độ đối với giá trị và tính hiệu quả của chiến tranh đã thay đổi, đặc biệt là trong thế kỷ vừa qua, và điểm mấu chốt của hiện tượng này nằm ở ý đồ của những nhà truyền bá tư tưởng. Một sự thất vọng sâu sắc đối với chiến tranh đã xuất hiện ở châu Âu vào thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều này không phải bởi cuộc chiến đó hết sức tàn phá và hao tốn của cải mà mà là vì thành công của những nhà truyền bá tư tưởng của phong trào phản chiến trước cuộc đại chiến thế giới này. Họ đã đưa ra một lập luận vào thời điểm đó được coi là mới mẻ rằng chiến tranh, mà theo ý họ chủ yếu là chiến tranh giữa các nước phát triển, phải bị loại bỏ.[iv] Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ở châu Âu gần như do Adolf Hitler một tay gây ra bởi lẽ bối cảnh lịch sử lúc đó không cho thấy sự cần thiết phải có một cuộc chiến trên lục địa khác ở khu vực này và các nước lớn cũng không có mâu thuẫn dẫn tới xung đột. Nguyên nhân của Chiến tranh Lạnh, theo tôi, chủ yếu là do sự sùng bái ý thức hệ về bạo lực cách mạng và chiến tranh giai cấp quốc tế của những người theo chủ nghĩa Cộng sản và điều này được coi là sự bành trướng đe dọa nền dân chủ tư bản phương Tây. Tuy nhiên, mặc dù có mâu thuẫn quyết liệt về ý thức hệ giữa thế giới Cộng sản và phi Cộng sản và cho dù đã xảy ra cuộc chiến tranh đại diện ở Triều Tiên – cuộc chiến đã khiến người ta mãi mãi mất lòng tin vào thăm dò quân sự hạn chế như là một kỹ thuật thúc đẩy cách mạng, một cuộc chiến tranh lớn chưa bao giờ thực sự nằm trong tính toán của các bên.[v]
Trong phần lớn tiến trình lịch sử, chiến tranh được chấp nhận như một quy luật tự nhiên, không thể tránh được và thường là đáng mong muốn của xã hội loài người. Tuy nhiên, trong thế kỷ qua, dường như chiến tranh dang dần đánh mất sự chấp nhận tự nhiên đó và đang trở nên lỗi thời giống như chế độ nô lệ hay các cuộc đấu tay đôi trước đó. Đặc biệt, trong khi chiến tranh theo nghĩa vật chất vẫn hoàn toàn có thể xảy ra, thì dường như chiến tranh lớn – chiến tranh giữa các nước phát triển – đang ngày càng khó xảy ra hơn khi mà các nước này nắm được vận mệnh của chính mình và quyết định rằng chiến tranh không nên/ không nhất thiết là một phần trong mối quan hệ của họ. Hiện nay, chiến tranh giữa các cựu thù trong thế giới phát triển, chẳng hạn như giữa Pháp và Đức đã trở thành một sự vô lý không thể tưởng tượng được – thậm chí không phải là một lựa chọn có lý trí, và nếu cuộc chiến này có xảy ra thì cũng sẽ bị bác bỏ không phải vì đó là điều không khôn ngoan mà là vì nó hết sức ngớ ngẩn.[vi]
Sự giảm tàn hiển nhiên của chiến tranh, hoặc ít nhất là của những loại hình chiến tranh phổ biến nhất, có thể là một phần của xu hướng lớn hơn, tách biệt với sự chấp nhận một số hình thức giết người có chủ ý, ít nhất là trong thế giới phát triển. Ví dụ như tục giết trẻ sơ sinh để làm vật hiến tế đã giảm đi trong những thế kỷ qua, điều mà theo Barbara Ehrenreich đã từng là “tập quán phổ biến trong nhiều nền văn hóa khác nhau, từ các bộ tộc nhỏ đến các nền văn minh đô thị vĩ đại”.[vii] Một hiện tượng mới hơn đã được David Garfield tóm lược lại như sau:
Hiện tại mặc dù không hoàn toàn đồng thuận với nhau nhưng vẫn có có một sự nhất trí tương đối giữa các nhà sử học rằng thời kì từ năm 1700 đến nay đã chứng kiến sự thay đổi trong thái độ đối với bạo lực, sự ác cảm tăng lên đối với tất cả các thể loại tội ác, và sự xuất hiện của một hệ thống quan điểm mới làm thay đổi bản chất của các mối quan hệ và lối hành xử giữa con người với nhau.[viii]
Trước hết, rõ ràng là việc thực thi công lý một cách phi chính thức – do các đội dân phòng, các nhóm phân biệt chủng tộc hay các nhóm vũ trang – đã giảm đi. Các hình thức tử hình từng được chấp nhận trước đây như để giải quyết những mối thù truyền kiếp hay nợ máu nhìn chung cũng ít xuất hiện hơn trong nhiều nền văn hóa. Donald Horowitz cũng ghi nhận sự suy giảm rõ nét và có lẽ là có liên quan đến nhau của những cuộc bạo động chết người ở phương Tây.[ix] Các cuộc đấu tay đôi từng diễn ra thường xuyên trong một số tầng lớp xã hội nhất định cũng đã trở nên lạc hậu. Việc kết án tử hình những kẻ giết người cũng đã được xóa bỏ ở hầu hết các nước phát triển, và sự tra tấn thể xác từng rất phổ biến cũng đã ngừng được áp dụng. Cuối cùng, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng giết người hay việc sử dụng bạo lực với con người nói chung phổ biến hơn ở những thế kỉ trước, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.[x]
Những lý giải khác cho sự suy giảm của chiến tranh
Khi nhấn mạnh vào sự thay đổi thái độ đối với chiến tranh để giải thích sự suy giảm của nó, tôi đồng ý với nhận xét của Robert Dahl rằng:
Do bận tâm đối với sự vững chắc của lý thuyết và không hài lòng với “sự mềm dẻo” của các mô tả, khái quát và lý giải lịch sử, hầu hết các nhà khoa học xã hội đã quay lưng lại với sự vận động mang tính lịch sử của các ý tưởng. Kết quả là, các lý thuyết của họ, dù “vững chắc” đến đâu, cũng đã bỏ sót một biến số mang tính lý giải quan trọng và thường dẫn tới những giản hóa luận ngây thơ.[xi]
Theo Dahl, vì niềm tin và tư tưởng thường là “một biến số độc lập chủ yếu”, việc lờ đi những thay đổi trong tư tưởng, ý thức hệ và thái độ đồng nghĩa với việc bỏ qua những điều quan trọng. Nghĩa là, các tư tưởng luôn để lại những hậu quả.[xii]
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số cách lý giải khác cho sự suy giảm của chiến tranh. Một vài quan điểm trong số này nhấn mạnh ảnh hưởng của công nghệ, đặc biệt là vũ khí hạt nhân, số khác nhấn mạnh tác động của phát triển kinh tế, chi phí chiến tranh tăng lên, sự trỗi dậy của thể chế dân chủ, gia tăng thương mại quốc tế hay là vai trò của các thể chế quốc tế.
Vũ khí hạt nhân
Trong quá trình đi tìm lời giải thích cho bước ngoặt không gắn với sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử – sự biến mất tuyệt đối vô tiền khoáng hậu của các cuộc chiến tranh lớn trong nửa thế kỉ qua – nhiều nhà phân tích đã chỉ ra nguyên nhân chính là phát minh ngẫu nhiên về vũ khí hạt nhân vào năm 1945 và nhấn mạnh vào sự khiếp sợ đặc biệt mà nó mang lại.[xiii] Những phân tích này áp dụng cái được gọi là “giả định phản thực tiễn của Churchill”, một giả định ghi nhận sự xuất hiện của một “nghịch lý kỳ lạ” và một “sự châm biếm tuyệt vời” từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, theo đó vũ khí hạt nhân bao phủ “một khu vực nguy hiểm chết người” với hậu quả tiềm tàng rằng “an toàn sẽ trở thành mầm mống khủng bố đáng sợ, và sự sinh tồn trở thành anh em sinh đôi của sự hủy diệt”.[xiv] Nói một cách ngắn gọn súc tích và ít trau chuốt hơn, giả định phản thực tiễn của Churchill cho rằng nếu vũ khí hạt nhân không được phát minh ra thì khó mà tránh khỏi thảm họa. Có nghĩa là những người điều hành thế giới sau năm 1945 về cơ bản là quá bất cẩn và quá xem thường tính mạng con người, chỉ thích lao vào xung đột, quá bạo ngược, quá háo hức với sự tận diệt, quá kém cỏi, và/hoặc là ngớ ngẩn đến mức không thể tránh không đâm đầu vào hoặc bị cuốn vào một cuộc chiến tranh lớn khi mà theo dự đoán của họ, điều tồi tệ nhất có thể xảy ra chắc cũng chỉ bằng sự hủy diệt thảm khốc mà họ vừa trải qua trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì vậy những người căm ghét chiến tranh có lẽ nên nghe theo lời khuyên của Kenneth Waltz và “cám ơn sự phù hộ của vũ khí hạt nhân” hay, theo Elspeth Rostow thì vũ khí hạt nhân xứng đáng giành được giải Nobel hòa bình.[xv]
Tôi nghĩ lập luận ngược lại giả thuyết của Churchill có vẻ hợp lý hơn. Nghĩa là, giả sử vũ khí nhạt nhân không được phát minh ra thì lịch sử của thế giới có lẽ sẽ diễn ra giống như nó đã từng diễn ra.[xvi] Nói một cách cụ thể là vũ khí hạt nhân và khả năng tàn phá của nó không nhất thiết đã khiến các nhà lãnh đạo thế giới từ năm 1945 quá lo ngại sự lặp lại của những điều đã diễn ra trong Chiến tranh thế giới thứ hai (hoặc của Chiến tranh thế giới thứ nhất). Suy cho cùng, phần lớn các nhân vật này chính là những người trực tiếp lãnh đạo hoặc truyền nhân của những người đã cố gắng một cách tuyệt vọng, điên cuồng, thống thiết và cuối cùng là bất thành trong việc ngăn chặn Chiến tranh thế giới thứ hai. Họ làm như vậy một phần do sợ hãi – đúng hơn là do họ cảm thấy không thoải mái khi phát hiện ra rằng một cuộc đại chiến khác có thể sẽ còn tệ hơn Chiến tranh thế giới thứ nhất.[xvii] Tôi không hiểu nổi bằng cách nào mà những con người với nhận thức như vậy, vừa trải qua những sự kiện sống động và kinh hoàng như vậy lại trở thành những người, nói nhẹ nhất thì là bất cẩn, mà nặng lời nhất thì là háo hức muốn lặp lại sự thảm khốc đó. Nhưng thực chất đó chính là những gì mà giả định phản thực tiễn của Churchill muốn chúng ta tin.
Và bên cạnh đó cũng có thêm một vài yếu tố quan trọng gây nên sự thoái trào của chiến tranh. Thế giới từ năm 1945 được lãnh đạo bởi những người chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và nhìn chung thì họ hài lòng với nguyên trạng lãnh thổ. Hơn thế nữa, mặc dù ý thức hệ Cộng sản – yếu tố gây lo ngại nhất trong suốt thời kì Chiến tranh Lạnh – chọn đường lối bạo lực, nó thực ra lại nhấn mạnh vào cách mạng nội khối và trong nước chứ không hẳn là một cuộc xâm lược vượt ra ngoài biên giới quốc gia, và đồng thời cũng phải kể đến sự nhấn mạnh vào sách lược đầy thận trọng của Lenin.
Tất nhiên những lập luận này không nhằm phủ nhận rằng việc hoạch định một cuộc chiến tranh hạt nhân là quá kinh khủng và ghê gớm đối với trí óc, đặc biệt là tốc độ phá hủy trên quy mô lớn khủng khiếp của nó. Và tôi cũng không phủ nhận rằng những nhà hoạch định chính sách trong cả giai đoạn khủng hoảng và không khủng hoảng đều nhận thức rõ về những thảm họa mà chiến tranh hạt nhân có thể gây ra. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng sự khủng khiếp của việc lặp lại Chiến tranh thế giới thứ hai cũng để lại ấn tượng không kém và những người lãnh đạo thực chất đang bằng lòng với hiện trạng của thế giới sẽ cố gắng đấu tranh để tránh bất kỳ điều gì mà họ cảm thấy có thể dẫn đến thảm họa. Một cú nhảy từ cửa sổ tầng thứ 50 của một tòa nhà có lẽ sẽ đáng sợ hơn là một cú nhảy từ tầng 5, nhưng bất kì ai thấy rằng cuộc sống này đáng sống, dù chỉ ở mức tối thiểu, sẽ không muốn làm bất cứ hành động nào nói trên.[xviii]
Tuy nhiên, trong khi hình ảnh những đám mây hình nấm không nhất thiết khiến các nhà lãnh đạo thế giới từ sau năm 1945 phải thận trọng về một cuộc đại chiến, có những hoàn cảnh giả định khác trong đó việc sở hữu vũ khí hạt nhân có thể tỏ ra hữu ích – ví dụ như sự xuất hiện một kẻ cuồng tín may mắn, khôn khéo, liều lĩnh và hung bạo khác như Hitler. Hơn thế nữa, trong nhiều trường hợp vũ khí hạt nhân có thể làm nên sự khác biệt. Ví dụ như Iraq có thể đã không tấn công Iran vào năm 1980 hoặc Kuwait năm 1990 nếu như hai nước này có vũ khí hạt nhân để đáp trả. Lập luận ở đây không phải là phủ nhận việc vũ khí hạt nhân có thể tạo nên sự khác biệt, nhưng sự tồn tại của nó chưa hẳn cần thiết để tạo nền hòa bình lâu dài mà các nước phát triển đã được hưởng hơn một nửa thế kỷ qua.
Phát triển kinh tế và cách mạng công nghiệp
Trong nỗ lực đánh giá sự trỗi dậy của tinh thần chống chiến tranh trong thế giới phát triển, Michael Howard xem sự phát triển kinh tế như một nhân tố. Ông nhận xét rằng tại một thời điểm, các nước phát triển đã từng được tổ chức thành “xã hội của các chiến binh”, trong đó chiến tranh được xem là “số phận cao cả nhất của loài người”. Nhưng ông cho rằng điều này đã bị thay đổi bởi quá trình công nghiệp hóa khi nó “cuối cùng đã sản sinh ra một xã hội không chuộng chiến tranh mà tập trung vào sự thịnh vượng về vật chất hơn là những bản anh hùng ca”.[xix]
Vấn đề chính của lý luận này, mà có vẻ Howard cũng nhận ra, là tiến trình công nghiệp hóa có quá trình rất phức tạp lắt léo. Giai đoạn giữa 1750 và 1900, các nước phát triển đã trải qua cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển vượt bậc của kinh tế, sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu, sự tiến bộ đáng kể của giao thông và truyền thông, tỉ lệ người biết chữ tăng nhanh, và sự lớn mạnh của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, nếu hiện tượng này khuyến khích một số người từ bỏ tinh thần chiến tranh, thì đồng thời nó dường như cũng khiến một số người lại càng yêu thích chiến tranh hơn. Chính Horward đã theo dấu sự tồn tại dai dẳng, thậm chí là trỗi dậy, của tinh thần quân phiệt khi nó kết hợp với làn sóng dân tộc bành trướng chủ nghĩa trong giai đoạn châu Âu tiến hành công nghiệp hóa ở thế kỷ 19. Như vậy công nghiệp hóa có thể tác động đến chủ nghĩa hiếu chiến cũng nhiều như ảnh hưởng của nó lên chủ nghĩa hòa bình. Howard chưa bao giờ thật sự lý giải bằng cách nào hay tại sao quá trình công nghiệp hóa lại chắc chắn dẫn đến tinh thần phản chiến. Thay vào đó, nỗi kinh hoàng và các cuộc tàn sát gắn liền với quá trình công nghiệp hóa lại được ông quy vào “những vấn đề ngày càng lớn của xã hội công nghiệp”.[xx]
Phí tổn cho chiến tranh ngày càng tăng
Carl Kaysen đã kết luận rằng chiến tranh quân sự đang trở nên lỗi thời, và ông đã phát triển một luận điểm tương tự với Howard, nhưng chi tiết hóa hơn về tiến trình, đặc biệt là về khía cạnh kinh tế của nó. Ông lý luận rằng “trong phần lớn lịch sử nhân loại, xã hội được cơ cấu theo định hướng chiến tranh mang lại lợi ích cho người chiến thắng, cả về mặt kinh tế lẫn chính trị”. Tuy nhiên “những biến đổi sâu sắc … mà cuộc Cách mạng Công nghiệp mang lại đã thay đổi các giá trị trong tính toán đó”, dẫn đến việc lợi ích tiềm năng của chiến tranh giảm đi, trong khi phí tổn tiềm năng tăng lên.[xxi] Kaysen có xu hướng giảm thiểu những phí tổn kinh tế của chiến tranh trước kỷ nguyên hiện đại, nhưng rất nhiều nghiên cứu cho thấy chi phí này là đặc biệt cao cho cả người thắng và kẻ thua. Dù sao thì khái niệm “chiến thắng phải trả giá đắt” cũng đã xuất hiện từ cuộc chiến năm 279 Trước Công nguyên.
Theo Frederick Đại đế, nước Phổ đã mất 1/9 dân số trong Cuộc chiến 7 năm, một tỉ lệ cao hơn hẳn tổn thất của bất kỳ quốc gia nào tham chiến trong các cuộc chiến tranh của thế kỷ 20. Dân số Đức giảm khoảng 15 – 20% trong Cuộc chiến 30 năm, và theo như Kalevi Holsti tính toán, “xét trên số thương vong trực tiếp và gián tiếp, theo tỉ lệ của dân số” thì đó là cuộc xung đột vũ trang mang tính tàn phá lớn nhất của Châu Âu.[xxii] Lawrence Keeley dẫn chứng rằng các cuộc chiến cổ xưa thậm chí còn có tỉ lệ chết chóc cao hơn cả một trong hai cuộc Chiến tranh thế giới.[xxiii] Rất nhiều cuộc chiến tại châu Âu trước đây kéo dài đến khi các bên tham chiến đều cạn kiệt về kinh tế mới thôi. Phân tích của Richard Kaeuper về những tác động của hàng thập kỷ chiến tranh trong cuối thời trung đại đã ghi nhận tình trạng kiệt quệ về tài sản, các ngân hàng phá sản, thương mại đình trệ, dân số suy giảm trên diện rộng, các khu đất trồng trọt biến mất, sản xuất sụt giảm, thu nhập xuống thấp, hệ thống tiền tệ và tín dụng trì trệ, đầu cơ tích trữ vàng, và xuất hiện các loại thuế (kèm theo sự nhũng nhiễu) để sung quỹ cho chiến tranh. Cuộc chiến 30 năm đã kéo nền kinh tế Đức đi lùi hàng thế kỷ, Cuộc chiến 7 năm đưa Áo vào tình trạng gần như phá sản, trong khi nhiều cuộc chiến tranh cổ đại về cơ bản đã phá hủy toàn bộ các xã hội. Hơn nữa, các cuộc nội chiến thường là sự tiến hành chủ nghĩa bạo ngược một cách có tổ chức, nó phá hủy cả hai phía, và nhiều cuộc chiến tranh cổ đại về cơ bản đã xóa bỏ toàn bộ xã hội. Thật ra, theo Keeley, bởi vì các phí tổn chiến tranh là quá cao đối với các xã hội cổ đại, do đó chiến tranh lẽ ra phải ít xảy ra giữa họ hơn là giữa các nhà nước và đế chế, nhưng có vẻ sự việc lại diễn ra theo chiều hướng ngược lại.[xxiv]
Mặt khác, trong vòng vài năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, hầu hết các quốc gia tham chiến về căn bản đã phục hồi về mặt kinh tế: năm 1929, kinh tế Đức đã hoàn toàn phục hồi như giai đoạn trước cuộc chiến, trong khi nền kinh tế Pháp đã tăng 38% so với trước chiến tranh. Không những thế, nước Đức đã phục hồi nền kinh tế từ những tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai trong vòng 5 năm, trong khi Nhật Bản – vốn nghèo hơn, và thậm chí còn bị tàn phá nặng nề hơn trong cuộc chiến đó, đã phục hồi trong vòng chưa đến 10 năm. Trong số những người chiến thắng, Chiến tranh thế giới thứ hai chắc chắn là một mối lợi kinh tế cho Mỹ (và số thương vong mà quốc gia này gánh chịu, theo tỉ lệ phần trăm với dân số, là rất nhỏ so với số thương vong trong bao nhiêu cuộc chiến trước đó). Không chỉ từ lâu được biết đến với sức tàn phá kinh khủng, thậm chí là hủy diệt, mà nhiều người còn tin rằng những cuộc chiến tranh khủng khiếp hơn những gì được biến đến. Thật ra, nhìn chung thì các câu chuyện chiến tranh thường phóng đại quy mô tàn phá và thương vong. Ví dụ, một truyền thuyết thịnh hành hàng thế kỷ sau Cuộc chiến 30 năm kể rằng Đức đã mất 75% dân số trong cuộc chiến đó.[xxv] Tuy nhiên, những niềm tin và trải nghiệm đó chưa bao giờ gây ra một sự hoang mang trên diện rộng về chiến tranh như một thể chế, hay khuyến khích các nhu cầu hiệu quả và có tổ chức về việc loại bỏ chiến tranh. Thay vào đó, chiến tranh tiếp tục được chấp nhận như một cách thức giải quyết xung đột thông thường.
Alan Milward nhận định “Câu hỏi có ý nghĩa nhất là liệu chi phí chiến tranh có ngốn mất một tỷ lệ ngày càng lớn trong Tổng sản lượng quốc gia ngày càng tăng của các nước tham chiến hay không. Với tư cách là một lựa chọn kinh tế, chiến tranh, tính toán theo cách này, không thể hiện xu hướng gia tăng về phí tổn một cách rõ ràng và lâu dài.”[xxvi] Hơn nữa, theo luận điểm của Howard, vấn đề là sự bành trướng mạnh mẽ về phát triển kinh tế ở châu Âu thế kỷ 19 không chỉ kèm theo xu hướng hòa bình (suy cho cùng), mà còn có khát khao đầy lãng mạn về quá trình thanh lọc của chiến tranh.
—-
Chú thích
[i] M. Howard, “A Death Knell for War?”, New York Times Book Review
[ii] John Keegan, A History of Warfare(New York: Alfred A. Knopf : Distributed by Random House, Inc., 1993).
[iii] Mary Kaldor, New and Old Wars : Organized Violence in a Global Era(Stanford, Calif.: Stanford University Press, 1999)., p.5; R. Jervis, “Theories of War in an Era of Leading Power Peace”, American Political Science Review, 96 (2002), p.1; J. Record, “Collapsed Countries, Casualty Dread, and the New American Way of War”, Parameters, Summer (2002), p.6. Xem thêm M. Mandelbaum, “Is Major War Obsolete?” Survival, 40, 4 (1998-9), pp. 20-38; M. Mandelbaum, The Ideas That Conquered the World: Peace, Democracy, and Free Markets in the Twenty-first Century (New York: Public Affairs, 2002); P. Johnson, “Another 50 Years of Peace?” Wall Street Journal, 9May 1955; A. Mack, “Civial War: Academic Research and the Policy Community”, Journal of Peace Research, 39, 5 (2002), p. 523.
[iv] Xem J. Mueller, Quiet Cataclysm: Reflections on Recent Transformation of World Politics (New York: HarperCollins, 1995), ch. 9.
[v] Xem Mueller, Retreat from Doomsday: The Obsolescence of Major War (New York: Basic Books, 1989), chs. 3-9. Về Hitler, xem thêm J. Mueller, The Remnants of War (Ithaca: Cornell University Press,2004), pp. 54-65.
[vi] Xem Mueller, Retreat from Doomsday, pp. 240-4.
[vii] B. Ehrenreich, Blood Rites: Origins and History of the Passions of War (New
York: Metropolitan, 1997), p. 61. Xem thêm R.C. Forsberg,
“Socially-Sanctioned and Non-Sanctioned Violence: On the Role of Moral
Beliefs in Causing and Preventing War and Other Forms of Large Group
Violence”, in R. Stanley (ed.) Gewalt und Konflict in Einer Globalizierten Welt: Festschrift fur Ulrich Albrecht (Wiebaden: Westdeuscher Verlag, 2001).
[viii] D. Garfield, Punishment and Modern Society: A Study in Social theory (Chicago: University of Chicago Press, 1990), p.232.
[ix] D.L. Horowitz, The Deadly Ethnic Riot (Berkeley: University of California Press, 2001), pp. 560-5.
[x] Về án tử hình, xem Garfield, Punishment and Modern Society, pp. 225-9. Về xu hướng án giết người, xem J.B Given, Society and Homicide in Thirteenth Century in England (Standford:
Stanford University Press, 1977); T.R. Gurr, “Historical Trends in
Violent Crime: A critical Review of the Evidence”, Crime and Justice, 3 (1981), pp. 295-353; Garfield, Punishment and Modern Society, pp 230-1; L.H. Keeley, War Before Civilization: The Myth of the Peaceful Savage (New York: Oxford University Press, 1996), p.118; C.Tilly, The Politics of Collective Violence (New
York: Cambridge University Press, 2003), pp. 60-1. Đấu súng tay đôi
không còn phổ biến vì nó được xem như một dạng hành vi kỳ quặc, chứ
không phải vì có các hình thức giải quyết xung đột ưu việt hơn. Xem
Mueller, Retreat from Doomsday, p. 10.
[xi] R.A. Dahl, Polyarchy (New Haven, Yale University Press, 1971), pp.182-3, 188.
[xii] Ibid. Xem thêm A. Wendt, Social Theory of International Relations (New York: Cambridge University Press, 1999), ch. 3.
Các chú thích khác xin vui lòng xem tại địa chỉ: http://books.google.com.au/books?id=vgEdfZDCAe4C&printsec=frontcover&dq=The+Waning+of+Major+War&hl=en&sa=X&ei=vVysUYXfHMnGkAWl14CQAg&redir_esc=y#v=onepage&q=The%20Waning%20of%20Major%20War&f=false
Đế chế có thời hạn
Nguồn: Niall Ferguson[1] (2006). “Empires with Expiration Dates”, Foreign Policy (September/October), pp. 46-52.
Biên dịch: Nguyễn Hồng Ngọc | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Sự tồn vong của các đế chế đóng vai trò thúc đẩy lịch sử phát triển. Tuy nhiên, những đế chế ra đời trong suốt 100 năm qua đều chịu chung số phận “đoản mệnh”; không một đế chế nào tồn tại đủ lâu để chứng kiến buổi bình minh của thế kỷ mới. Ngày nay, trên thế giới không còn tồn tại đế chế nào nữa, ít nhất là một cách chính thức. Nhưng điều đó có thể sớm thay đổi nếu nước Mỹ – hay thậm chí là Trung Quốc – nắm bắt được vận mệnh đế chế của mình. Làm thế nào để những cường quốc này không đi vào vết xe đổ của những đế chế đã sụp đổ?
Các đế chế, chứ không phải các quốc gia-dân tộc, mới là những tác nhân chính trong các sự kiện của lịch sử thế giới. Phần lớn cái mà chúng ta gọi là lịch sử được cấu thành bởi những hành động của 50 – 70 đế chế đã từng thống trị nhiều dân tộc trên khắp địa cầu. Tuy nhiên, cùng với thời gian, quãng đời của các đế chế có xu hướng ngắn đi. So với những đế chế thời cổ đại và cận đại, các đế chế ra đời trong thế kỷ vừa qua có quãng đời ngắn hơn một cách đáng kể. Hiện tượng này đã tạo ra những tác động sâu sắc tới thời đại chúng ta đang sống.
Hiện tại, ngoài hơn 190 quốc gia-dân tộc, trên thế giới không tồn tại một đế chế “danh chính ngôn thuận” nào. Thế nhưng, những bóng ma đế chế vẫn tiếp tục lẩn khuất đâu đó trên khắp hành tinh này. Những cuộc xung đột khu vực từ Trung Phi tới Trung Đông, từ Trung Mỹ tới vùng Viễn Đông có thể được lý giải một cách dễ dàng và trơn tru bằng những tội ác đế chế trước đây: thiết lập biên giới tùy tiện ở chỗ này, hay thực thi chiến lược “chia để trị” ở chỗ kia.
Hơn nữa, phần lớn các quốc gia lớn mạnh nhất ngày nay đều là hậu duệ của các đế chế, chẳng hạn như Liên bang Nga, quốc gia có chưa đến 80% dân số là người Nga, hay Vương quốc Anh ngày nay từng là đế chế Anh. Nước Ý hay nước Đức đương đại không phải là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc mà là kết quả của quá trình bành trướng của người Piedmont và người Phổ. Bên ngoài lãnh thổ châu Âu, tàn dư đế chế càng thể hiện rõ nét hơn. Ấn Độ ngày nay là “người thừa kế” của đế chế Mughal và dễ thấy hơn là một thuộc địa trước đây của Anh (British Raj). (Một sĩ quan quân đội Ấn Độ từng nói với tôi rằng, “Quân đội Ấn Độ ngày nay đặc sệt chất Anh hơn cả quân đội Anh.” Lái xe cùng ông qua những doanh trại quân đội lớn ở Madras, tôi hiểu ra điều ông nói khi nhìn thấy hàng trăm lính bộ binh trong trang phục ka ki đứng nghiêm và giơ tay chào theo kiểu nhà binh.) Trung Quốc ngày nay là hậu duệ của Đế chế Trung Hoa. Ở châu Mỹ, chúng ta có thể thấy rõ tàn dư đế chế từ các quốc gia phía Bắc như Canada đến Argentina ở phía Nam. Người đứng đầu Canada là Nữ hoàng Anh; quần đảo Falkland hiện cũng thuộc quyền sở hữu của Anh Quốc.
Nói tóm lại, thế giới ngày nay vừa là một thế giới của các cựu đế chế và cựu thuộc địa, vừa là một thế giới các quốc gia – dân tộc. Ngay cả những thể chế chính trị được cho là tổ chức lại trật tự thế giới sau năm 1945 cũng mang các khuynh hướng đế chế rõ nét. Năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc còn là gì khác nếu không phải một nhóm thân thiết các đế chế từng tồn tại trong quá khứ? Và cái gọi là “can thiệp nhân đạo” còn mang ý nghĩa gì khác nếu không phải là phiên bản được hợp lý hóa về chính trị của “sứ mệnh khai hóa” bởi các đế chế phương Tây xưa kia?
Xác định quãng đời các đế chế
Chúng ta có xu hướng giả định rằng vòng đời của các đế chế, cường quốc và nền văn minh đều tuân theo quy luật có thể dự đoán trước. Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất về các đế chế từng tồn tại trong lịch sử chính là sự đa dạng rất lớn về niên đại cũng như sự bành trướng về mặt lãnh thổ. Điểm đặc biệt nổi bật chính là việc các đế chế thời hiện đại ra đời gần đây nhất có vòng đời ngắn hơn một cách đáng kể so với những đế chế thời cổ đại và tiền hiện đại.
Hãy lấy trường hợp đế chế La Mã làm ví dụ. Đế chế Tây La Mã ra đời từ năm 27 trước Công nguyên khi Octavian lấy tên Caesar Augustus và trở thành hoàng đế trên mọi phương diện trừ tên gọi. Đế chế này tồn tại trong 422 năm và sụp đổ khi Constantinople được lập nên ở phía Đông làm kinh đô đối địch và Hoàng đế Theodosius băng hà vào năm 395. Đế chế Đông La Mã tồn tại kể từ đó đến năm 1453 khi Byzantium bị cướp phá bởi người Thổ của đế chế Ottoman, tổng cộng 1.058 năm. Đế chế La Mã Thần thánh – đế chế kế vị của Đế chế Tây La Mã – tồn tại từ năm 800 khi Charlemagne được phong làm Hoàng đế La Mã, cho tới khi Napoleon tiêu diệt đế chế này năm 1806. Như vậy, trung bình mỗi đế chế La Mã tồn tại trong vòng 829 năm.
Những phép tính dù thô sơ như vậy cũng đã cho phép chúng ta so sánh quãng đời của các đế chế. Ba đế chế La Mã kể trên có thời gian tồn tại khá dài. Trong khi đó, chúng ta có thể thấy tuổi thọ trung bình của các đế chế ở Cận Đông (bao gồm các đế chế Assyria, Abassid và Ottoman) vào khoảng hơn 400 năm một chút, còn con số này đối với các đế chế ở Ai Cập và Đông Âu là khoảng 350 năm. Trung bình mỗi đế chế ở Trung Quốc (chia nhỏ thành các triều đại) cai trị trong hơn 3 thế kỷ. Các đế chế khác nhau ở Ấn Độ, Ba Tư và Tây Âu tồn tại trong khoảng từ 200 đến 300 năm.
Tuổi đời trung bình của các đế chế và triều đại (năm)
Sau sự kiện Constantinople bị cướp phá, đế chế tồn tại lâu nhất chính
là đế chế Ottoman với 469 năm. Các đế chế ở Đông Âu của vương triều
Habsburg và Romanov đều tồn tại trong hơn 3 thế kỷ. Dòng họ Mughal thống
trị phần lớn lãnh thổ nay là Ấn Độ trong 235 năm. Nhà Safavid cũng
thống trị Ba Tư trong khoảng thời gian tương tự.Xác định chính xác thời gian tồn tại của các đế chế hải dương ở Tây Âu không phải là việc dễ dàng bởi tồn tại nhiều thời điểm khác nhau có thể được dùng để tính nguồn gốc ra đời và thời gian tồn tại của các đế chế này. Tuy nhiên, chúng ta có thể khẳng định các đế chế Anh, Hà Lan, Pháp và Tây Ban Nha đều tồn tại trong khoảng thời gian 300 năm. Quãng đời của đế chế Bồ Đào Nha dài hơn, gần 500 năm.
Những đế chế ra đời trong thế kỷ 20 lại có vòng đời tương đối ngắn. Liên Xô (1922-91) của những người Bolshevik chỉ tồn tại chưa đầy 70 năm, một khoảng thời gian thực sự khiêm tốn dù vẫn còn dài hơn so với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa [cho tới bây giờ]. Đế chế thuộc địa của Nhật Bản ra đời từ sau khi Nhật chiếm đóng Đài Loan vào năm 1895 và tồn tại trong khoảng 50 năm. Đế chế có thời gian tồn tại ngắn nhất thời hiện đại chính là Đệ tam đế chế của Adolf Hitler, vốn chỉ mở rộng lãnh thổ ra khỏi biên giới nước Đức trước đây từ năm 1938 và phải rút lui từ đầu năm 1945. Nếu tính toán trên phương diện kỹ thuật, Đệ tam đế chế tồn tại trong 12 năm, nhưng thời gian tồn tại như một đế chế thực sự theo đúng nghĩa của từ này, tức là thực thi quyền cai trị đối với các quốc gia khác, thì nó chỉ tồn tại trong khoảng nửa thời gian đó. Hitler chỉ hơn được mỗi trùm phát xít Ý Benito Mussolini trong vai trò lãnh đạo đế chế.
Thời gian tồn tại ước tính của các đế chế thời cận đại và hiện đại (năm)
Tại sao các đế chế mới ra đời trong thế kỷ 20 lại chỉ tồn tại trong
thời gian ngắn như vậy? Câu trả lời phần nào nằm ở mức độ tập quyền,
kiểm soát kinh tế và sự đồng nhất về xã hội mà những đế chế này nuôi
tham vọng có được.Những đế chế mới xuất hiện sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất không bằng lòng với các dàn xếp quản lý thành công nhưng thiếu quy củ đã trở thành nét đặc trưng của các đế chế kiểu cũ, trong đó có sự pha trộn hỗn tạp giữa luật pháp của đế chế mẹ với luật pháp bản địa cũng như sự ủy quyền về mặt quyền lực và địa vị cho một số nhóm người bản địa. Những đế chế mới này thừa hưởng từ các nhà lập quốc của thế kỷ 19 tham vọng tột cùng muốn có được sự đồng nhất trong lòng đế chế; những thể chế chính trị này có thiên hướng giống như các “nhà nước đế chế” hơn là các đế chế kiểu cũ. Các đế chế mới không chấp nhận các ràng buộc về mặt tôn giáo và luật pháp truyền thống đối với việc sử dụng vũ lực. Các đế chế này một mực muốn tạo dựng hệ thống thứ bậc mới thay cho các kết cấu xã hội hiện thời. Họ hả hê đánh đổ các thể chế chính trị xưa cũ một cách không thương tiếc. Để theo đuổi các mục tiêu đề ra, họ sẵn sàng gây chiến với tất cả các tầng lớp xã hội, kể cả trong nước và ở nước ngoài, thay vì chỉ khiêu chiến với một nhóm đại diện có vũ trang và tinh nhuệ của một chính quyền đối địch. Việc Hitler buộc tội các nhà cầm quyền Anh quá nhẹ tay trong việc xử lý những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Ấn Độ là một biểu hiện tiêu biểu của một thế hệ những hoàng đế tương lai lúc bấy giờ.
Những đế chế ra đời từ giữa thế kỷ 20 ở một mức độ đáng kể nào đó đều tự đào mồ chôn mình. Đặc biệt, người Đức và người Nhật đã áp đặt quyền cai trị lên các dân tộc khác một cách tàn bạo đến mức làm phá hủy sự hợp tác của người bản địa với chính quyền cai trị và tạo điều kiện cho các cuộc nổi dậy của người dân bản địa. Đó quả là một cách làm ngu ngốc, bởi những dân tộc được các cường quốc phe Trục “giải phóng” khỏi những kẻ thống trị trước đây (Stalin ở Đông Âu, hay các đế chế châu Âu ở châu Á) ban đầu đều chào đón những kẻ thống trị mới. Cùng lúc đó, các đế chế này luôn nung nấu lòng tham vô đáy trong việc mở rộng lãnh thổ – trong khi việc phối hợp đại chiến lược lại phi thực tế. Điều này nhanh chóng kích thích sự ra đời của một liên minh bất khả chiến bại gồm những đế chế đối địch như Anh, Liên Xô và Mỹ.
Vì sao chiến tranh nổ ra
Các đế chế không thể tồn tại lâu dài nếu không thiết lập và duy trì được sự đồng tình của người dân ở nước bản địa, hay nếu họ cho phép những liên minh của các đế chế mạnh hơn đoàn kết chống lại họ. Một câu hỏi quan trọng cần đặt ra, đó là liệu các cường quốc ngày nay có hành xử theo một cách khác biệt so với các đế quốc trước đây hay không?
Một cách công khai mà nói, các nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc đều bác bỏ cáo buộc rằng họ đang nuôi dưỡng khát vọng trở thành đế chế. Cả hai cường quốc này đều là sản phẩm của các cuộc cách mạng và có truyền thống lâu đời trong việc chống chủ nghĩa đế quốc. Thế nhưng, dù có diễn tốt thế nào thì cũng có lúc chiếc mặt nạ hoàn hảo rơi xuống. Trong tấm thiệp chúc mừng Giáng sinh năm 2003, Phó Tổng thống Mỹ Dick Cheney từng đặt ra câu hỏi, “Nếu không có một con chim sẻ nào có thể rơi xuống đất mà Chúa Trời lại không biết, thì liệu có một đế chế nào có thể vươn lên mà không cần sự trợ giúp của Người hay không?” Năm 2004, một cố vấn cấp cao cho Tổng thống Bush tiết lộ với nhà báo Ron Suskind rằng “Nước Mỹ hiện là một đế chế và khi chúng ta hành động, chúng ta tạo nên hiện thực của riêng mình… Chúng ta là những diễn viên chính của lịch sử.” Những quan niệm tương tự có lẽ cũng đã manh nha trong suy nghĩ của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Thậm chí nếu họ chưa từng nghĩ như vậy, thì một nền cộng hòa vẫn rất có thể hành xử như một đế chế trên thực tế, trong khi tiếp tục bác bỏ việc đánh mất bản chất cộng hòa của mình.
Nếu xét theo tiêu chuẩn lịch sử đặt ra, đế chế Mỹ vẫn còn quá non trẻ. Quá trình bành trướng lục địa của Mỹ vào thế kỷ 19 đã mang khuynh hướng đế chế rõ ràng. Thế nhưng, sự sáp nhập các vùng lãnh thổ ít cư dân sinh sống vào cấu trúc liên bang ban đầu một cách tương đối dễ dàng đã ngăn cản sự phát triển của một trạng thái tâm lý đế chế thực thụ và hầu như không gây áp lực nào đối với những thể chế chính trị của nền cộng hòa. Trong khi đó, kỷ nguyên mở rộng lãnh thổ sang các nước khác của Mỹ bắt đầu từ cuộc chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ năm 1898 lại khó khăn hơn nhiều, và cũng chính vì lý do này, đã thường xuyên làm gợi lên hình ảnh của các vị tổng thống Mỹ mang bản chất đế quốc. Ngoài trường hợp American Samoa, Guam, quần đảo Bắc Mariana, Puerto Rico và quần đảo Virgin, vốn vẫn đang là những lãnh thổ phụ thuộc của Mỹ, các vụ can thiệp của Mỹ ở nước ngoài thường diễn ra chóng vánh.
Trong suốt thế kỷ 20, Mỹ đã chiếm đóng Panama trong suốt 74 năm, Philippines trong 48 năm, Palau trong 47 năm, Micronesia và quần đảo Marshall trong 39 năm, Haiti trong 19 năm và Cộng hòa Dominica trong 8 năm. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ chiếm đóng chính thức Tây Đức trong 10 năm và Nhật Bản trong 7 năm, mặc dù quân đội Mỹ vẫn tiếp tục hiện diện ở các quốc gia nói trên và cả ở Hàn Quốc. Lính Mỹ cũng được triển khai ồ ạt vào miền Nam Việt Nam từ năm 1965, nhưng đến năm 1973, Mỹ đã cho rút hết quân về nước.
….
[1]
Nial Ferguson là Giáo sư sử học tại trường Đại học Havard và là nghiên
cứu viên cấp cao tại Viện Hoover thuộc trường Đại học Stanford. Cuốn
sách mới nhất của ông mang tựa đề The War of The World: Twentieth Century Conflict and The Descent of the West (NXB Penguin Press, 2006).
Chính sách thắt lưng buộc bụng sai lầm của Châu Â
Tác giả: Joseph E. Stiglitz | Biên dịch: Hà Quỳnh Hương
Một câu ngạn ngữ cổ nói rằng “Nếu thực tế không khớp với lý thuyết, hãy thay đổi lý thuyết ấy đi”. Tuy nhiên, giữ nguyên lý thuyết và thay đổi các bằng chứng thì thường dễ dàng hơn – và Thủ tướng Đức Angela Merkel và các nhà lãnh đạo châu Âu khác ủng hộ chính sách thắt lưng buộc bụng có vẻ tin chắc như vậy. Mặc dù các bằng chứng hiện hữu vẫn đang sờ sờ trước mặt họ, họ tiếp tục phủ nhận thực tế.
Chính sách thắt lưng buộc bụng đã thất bại. Tuy nhiên, những người bảo vệ chính sách này đang mong muốn tuyên bố thắng lợi dựa trên cơ sở một bằng chứng yếu nhất có thể: nền kinh tế không còn ở tình trạng suy sụp, do đó hẳn là chính sách thắt lưng buộc bụng đang phát huy vai trò!
Nhưng nếu đó là tiêu chuẩn đánh giá thì nó cũng giống như chúng ta có thể nói rằng nhảy ra khỏi một vách đá là cách tốt nhất để đi xuống núi. Rốt cuộc sự suy giảm này đã được chặn lại. Nhưng suy thoái nào rồi cũng đến hồi kết thúc. Thành công không phải được đo bởi thực tế là sự phục hồi cuối cùng cũng xảy ra, mà bằng việc sự phục hồi đó bám rễ nhanh như thế nào và thiệt hại mà khủng hoảng gây ra lớn tới bao nhiêu.
Xem xét dưới các góc độ này, chính sách thắt lưng buộc bụng là một thảm họa hoàn toàn và tuyệt đối, điều đã trở nên ngày càng rõ ràng khi các nền kinh tế Liên minh châu Âu một lần nữa đang đối mặt với tình trạng trì trệ, nếu không phải là một cuộc suy thoái lần ba sau giai đoạn phục hồi ngắn ngủi, với tỷ lệ thất nghiệp dai dẳng ở mức cao kỷ lục và GDP bình quân đầu người thực tế (đã được điều chỉnh lạm phát ) ở nhiều nước vẫn duy trì ở dưới mức trước khủng hoảng. Ngay cả ở những nền kinh tế đang vận hành tốt nhất, ví dụ như Đức, tăng trưởng kể từ cuộc khủng hoảng năm 2008 chậm đến nỗi xét trong bất cứ một hoàn cảnh nào khác thì sẽ được đánh giá là ảm đạm.
Các nước khổ sở nhất là những nước đang trong suy thoái. Không có từ ngữ nào khác để mô tả một nền kinh tế tương tự như của Tây Ban Nha hay Hy Lạp, nơi mà gần một trong bốn người – và hơn 50% thanh niên – không thể tìm được việc làm. Nói rằng thuốc chữa đang có tác dụng bởi vì tỷ lệ thất nghiệp đã giảm một vài điểm phần trăm, hoặc bởi vì người ta có thể nhìn thấy một tia hi vọng tăng trưởng ít ỏi, thì cũng giống như một anh thợ cắt tóc thời trung cổ nói rằng có thể trích máu được, bởi vì bệnh nhân còn chưa chết.[1]
Khi phân tích tăng trưởng khiêm tốn của châu Âu từ năm 1980 trở đi, tính toán của tôi cho thấy sản lượng trong khu vực đồng euro hiện nay thấp hơn 15% so với mức nó đã có thể đạt nếu cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 không xảy ra, có nghĩa là chỉ tính riêng năm nay đã mất khoảng 1,6 nghìn tỷ đô la, và sự mất mát lũy kế là hơn 6,5 nghìn tỷ đô la. Thậm chí đáng lo ngại hơn, khoảng cách giàu nghèo đang nới rộng, không khép lại (như người ta mong đợi sau một cuộc suy thoái, tăng trưởng sẽ thường nhanh hơn so với bình thường do nền kinh tế lấy lại những gì đã mất).
Nói một cách đơn giản, suy thoái dài hạn đang làm giảm tăng trưởng tiềm năng của châu Âu. Thanh niên là những người đáng ra nên được tích lũy các kỹ năng thì lại không được trang bị. Có vô số bằng chứng cho thấy họ phải đối mặt với triển vọng thu nhập suốt đời thấp hơn đáng kể so với thời đầy đủ công ăn việc làm.
Trong khi đó, Đức đang ép các nước khác theo đuổi các chính sách đang có hậu quả làm suy yếu nền kinh tế – và nền dân chủ của họ. Khi công dân liên tục bỏ phiếu cho một sự thay đổi chính sách – và ít chính sách nào quan trọng đối với người dân hơn là những chính sách ảnh hưởng đến nồi cơm manh áo của họ – thì họ lại được cho biết rằng những vấn đề này được quyết định ở một nơi khác hoặc là họ không có lựa chọn nào khác. Do đó, cả nền dân chủ và niềm tin vào dự án hội nhập châu Âu quả thật đang phải gánh chịu hậu quả từ điều đó.
Người Pháp đã bỏ phiếu để có được thay đổi ba năm trước đây. Nhưng thay vào đó, các cử tri đã được đưa cho một liều thuốc khác, đó là chính sách thắt lưng buộc bụng có lợi cho giới doanh nghiệp. Một trong những vấn đề lâu đời nhất trong kinh tế học là số nhân ngân sách cân bằng (balanced-budget multiplier) – tăng thuế và tăng chi tiêu cùng lúc để kích thích nền kinh tế. Và nếu thuế nhắm vào người giàu, chi tiêu nhắm vào người nghèo, thì số nhân này có thể cao một cách đặc biệt. Nhưng cái gọi là chính quyền xã hội chủ nghĩa của Pháp đang giảm thuế doanh nghiệp và cắt giảm chi tiêu – một công thức gần như đảm bảo làm suy yếu nền kinh tế, nhưng đó lại là chính sách giành được sự ủng hộ từ Đức.
Niềm hy vọng là thuế doanh nghiệp ở mức thấp hơn sẽ kích thích đầu tư. Đây là điều tuyệt đối vô nghĩa. Điều đang cản trở đầu tư (cả ở Mỹ và châu Âu) là tổng cầu yếu, chứ không phải thuế cao. Thật vậy, trong khi phần lớn đầu tư được huy động qua vay nợ, và các khoản thanh toán lãi vay được khấu trừ thuế, thì mức thuế doanh nghiệp ít có tác động lên đầu tư.
Tương tự, Ý đang được khuyến khích để thúc đẩy tư nhân hóa. Tuy nhiên, Thủ tướng Matteo Renzi có cảm quan tốt khi nhận ra rằng việc bán các tài sản quốc gia với giá vứt đi là không khôn ngoan. Xem xét trong dài hạn, chứ không phải nhu cầu cấp bách về tài chính ngắn hạn, sẽ quyết định hoạt động nào nên dành cho khu vực tư nhân. Quyết định này cần được dựa trên việc xác định tại khu vực nào (công hay tư) các hoạt động được thực hiện một cách hiệu quả nhất, phục vụ tốt nhất lợi ích của hầu hết các công dân.
Ví dụ, tư nhân hóa (quỹ) lương hưu đã cho thấy tốn kém ở nhiều nước đã thử nghiệm. Hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ mà phần lớn thuộc sở hữu tư nhân là kém hiệu quả nhất trên thế giới. Đây là những câu hỏi khó, nhưng nó rất dễ dàng để cho thấy rằng việc bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước với giá thấp không phải là một cách tốt để cải thiện sức mạnh tài chính dài hạn.
Tất cả những đau khổ ở châu Âu – bị gây ra nhằm giúp duy trì một sản phẩm do con người tạo ra, đồng euro – thậm chí còn bi đát hơn vì bản thân những đau khổ đó là không cần thiết. Mặc dù các bằng chứng cho thấy chính sách thắt lưng buộc bụng không hiệu quả tiếp tục hiện diện, Đức và những người ủng hộ khác vẫn tiếp tục nhân đôi cam kết của mình, đánh cược tương lai của châu Âu vào một lý thuyết đã mất uy tín. Tại sao phải cung cấp thêm cho các nhà kinh tế các bằng chứng để chứng minh quan điểm này?
Joseph E. Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế và giáo sư tại Đại học Columbia, là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Bill Clinton, từng giữ chức Phó Chủ tịch cao cấp và Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới. Cuốn sách mới nhất của ông đồng tác giả với Bruce Greenwald là Creating a Learning Society: A New Approach to Growth, Development, and Social Progress.
Bản gốc tiếng Anh: Project Syndicate
————–
[1] Thời trung cổ ở châu Âu, người ta đôi khi rút máu của bệnh nhân để chữa hoặc ngăn chặn bệnh tật của người đó. Việc làm này dựa trên một niềm tin rằng máu và các dịch cơ thể khác phải được duy trì ở tỉ lệ cân bằng thì cơ thể mới khỏe mạnh được (NBT).
Trả lại sự thật cho lịch sử
| 24 tháng 7, 2010 |
I. Ba Cụt Lê Quang Vinh
Phải trả lại tính trung thực cho lịch sử,
người viết cảm thấy phải nêu ra nhược điểm đáng chê trách của chính
quyền Cụ Diệm Nhu: Nhứt là sự kiện đối xử với chiến sĩ Ba Cụt, một
nông dân yêu nước đã từ trong quần chúng miền nam, quật khởi lên
chống đối Việt Minh, vì họ ám sát Giáo chủ Huỳnh-Phú -Sổ, thần tượng
của Ba-Cụt. Sự sai lầm tai hại của ông cố vấn Nhu khi ra tay đàn áp
các giáo phái và các đảng đối lập chính trị miền nam. Tiếc thay hành
động nầy lại gián tiếp cho sự tuyền truyền có lợi cho phía Hà Nội
theo mưu đồ của chính sách sau hậu trường nước Mỹ. Vì thế biến cố
thất nhân tâm nầy làm cho Tổng thống Ngô Đình Diệm mất hẳn uy tín
đối với dân chúng nông dân trong tầm nhìn chủ quan của một trí thức
khoa bảng đầy tính quan lại miền trung, Cụ Diệm đã không thấu hiểu
được tâm trạng của một chiến sĩ như Lê Quang Vinh tự Ba-Cụt, một
nông dân yêu nước như Đinh Bộ Lĩnh thời nay, chất phát đã từ trong
quần chúng đồng bằng sông Cửu Long, quật khởi đứng lên chống đối
Việt Minh cùng Trịnh Minh Thế. Lê Quang Vinh lo công việc đồng áng từ lúc còn nhỏ, nhưng khi lớn khôn, đã tiêm-nhiểm những lời giảng của Huỳnh Giáo chủ về Phật Pháp và bổn phận tranh đấu chống ngoại xâm. Ông mê thích học vỏ nghệ với thầy Sáu-Kim; Ông có lần bị người cha quở mắng dữ-dội vì chễnh mảng bỏ bê công việc. Ông lấy cây dao phãng phát cỏ, tự chặt một lóng tay và thề “Nếu ngón tay nầy mọc lại, sẽ an phận về làm ruộng cho vui lòng cha” Kể từ ngày đó Lê Quang Vinh thường được biết đến với tên Ba-Cụt
Tình báo OSS Mỹ xúi bẫy tham vọng của thực dân Pháp trở lại đô hộ Việt Nam để Mỹ viện trợ tiêu xài cho hết số vũ khí thặng dư của Thế chiến II; Ngày 6/3/1946 quân đội Pháp được Đại tá OSS, Alfred Kitts hướng dẩn, đổ bộ vào Hải Phòng trang bị từ đầu đến chân đều là quân viện của Mỹ.
Cậu Lê.Quang.Vinh năm ấy được 21 tuổi đầy nhiệt huyết yêu nước, đã tụ họp các thanh niên ở rạch Bằng Tăng, phát động việc vọt tầm vong đâm Tây giựt súng để thành lập toán vỏ trang địa phương đánh Tây. Toán cảm tử quân Ba-Cụt càng ngày càng bành trướng đúng vào vào năm 1946, được sát nhập vào Vệ Quốc Liên Đội Nguyễn Trung Trực của ông Nguyễn Giác Ngộ. Ngày 16/4/1947, Việt Minh ám hại Đức thầy Huỳnh Phú Sổ tại Dốc Vàng Hạ. Các nhóm như Trần Văn Soái cần nơi nương tựa, nên đã phải ký kết Hiệp định Liên quân với Cluzet, Đại tá Pháp Tư Lệnh Miền Tây.
Ba-Cụt vẩn một dạ quyết chống Pháp, không tán thành, kéo quân vào bưng tiếp tục kháng chiến dưới danh nghĩa mới “Nghĩa Quân Cách Mạng” nắm vững địa hình địa vật, lính Ba-Cụt đã nhiều lần di chuyển nhanh chóng lâm trận để tiếp ứng các toán vỏ trang bạn bị lính Tây truy nã. Ba-Cụt đã tỏ ra là một chỉ huy gan dạ, luôn luôn sát cánh với đồng đội, nhiều mưu lược nên đã được tôn vinh, kính nể, những trận đụng độ với các toán nhỏ Việt Minh, các chiến sĩ kháng chiến Hòa Hảo đã cang cường đương đầu với bộ đội của Nguyễn Bình nên thanh thế càng ngày càng tăng. Một toán bộ đội Việt Minh định xâm nhập vùng trú đóng Hòa Hảo, lúc đó các kháng chiến quân Ba-Cụt đã áp dụng chiến thuật “đống chốt” với các toán võ trang quyết tử đóng rãi rác ở các vị trí hiểm yếu, khiến trận mạc nầy kéo dài từ sang đến tối dựa vào địa hình quen thuộc để lòn-lách tiêu diệt đối phương, cuối cùng Nguyễn Bình phải thãm bại rút lui.
Cụ Diệm là một tín đồ Ky-Tô-Giáo, một trong những tôn giáo lớn trên thế giới với những lời thuyết giảng về tình thương và tôn trọng sự sống, Cụ Ngô Đình Diệm đã ký sắc lịnh số 98-TP ngày 8/7/1956 không ân xá cho Lê Quang Vinh. Quyết định tối hậu về mạng sống của Lê Quang Vinh đến lúc chót nầy ở trong tay Thủ Tướng Ngô Đình Diệm là người duy nhứt có quyết định cứu xét đơn thỉnh cầu ân xá của tội nhân. Trong một cuộc phỏng vấn được thâu hình và phát thanh do đài Saigon TV ở California, Cụ Lâm Lễ Trinh có cho biết là Cụ đã tình cờ chứng kiến được việc Cụ Ngô Đình Nhu vào trình lên Cụ Diệm, thơ can thiệp của Đại Sứ Anh quốc ở Việt Nam, đề nghị xin ân xá Ba-Cụt.
Thật tội nghiệp là một quân nhân có cấp bậc chính thức là Trung Tá trong quân đội Việt Nam, Lê Quang Vinh xin được xử bắn ở pháp trường, nhưng lời yêu cầu được chết trong danh dự nầy của một sĩ quan cũng không được chấp thuận, chúng ta nghĩ thế nào? Cái máy chém của thực dân Pháp xử dụng trong thời Pháp thuộc đã được đao phủ thủ là Đội Phước lau chùi, đem từ Saigon xuống Cần Thơ để xử trảm Ba Cụt; Sau khi bị chặt đầu, thi thể Lê Quang Vinh đã không được trao trả cho thân nhân chôn cất. Xác của chiến sĩ áo vải Nam bộ nầy hình như đã được sự bí mật nào đó, một việc làm tàn ác, bất nhân, trái với đạo lý và văn hóa dân tộc Việt – Có phải đây là “Ác lai Ác báo?” của nghiệp “Nhân-Quả” .
Việc điều động một ông Đại Sứ Nguyễn Ngọc Thơ đang công tác ở ngoại quốc về tìm cách chiêu dụ Lê Quang Vinh ra hàng, nhưng đã hành xử không trong sáng với một người đã góp nhiều công trong việc đương đầu với Việt Minh, với quân đội Pháp, một chiến sĩ như Đinh Bộ Lĩnh thời nay, nhưng đã giữ vững được ba khu vực quân sự: Khu Thốt Nốt Cờ Đỏ, Khu Đồng Tháp Mười, và Khu Rừng Tràm Long Châu Hà. Cụ Ngô Đình Diệm đã thật sự đánh mất lòng tin cậy, ái-mộ của người dân hiền lành Miền Nam, Cụ Ngô Đình Diệm thất tín, thất nghĩa, khi Bảo Đại từ Cannes gởi liên tiếp hai công điện, ngày 28/4/1955 và 30/4/1955 để triệu hồi Cụ Diệm, Cụ đã không tuân lệnh, chính nhờ có hội nghị các 18 Chính-đảng và 29 Nhân-sĩ miền nam, ngày 29/4/1955 do Cụ Nguyễn Bảo Toàn chủ tọa đã đưa đến quyết định: Truất phế Bảo Đại, giải tán chính phủ và ủy nhiệm Cụ Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ lâm thời, tổ chức tổng tuyển cử, trưng cầu dân ý. Sau đó Cụ Diệm trở thành tổng thống của nền Đệ 1 Cộng Hoà phần lớn do Nguyễn Bảo Toàn chủ toạ. Đặc biệt Cụ Nguyễn Bảo Toàn, một nhà ái quốc đã từng bôn ba tranh đấu thời thực dân Pháp, tuy rằng Cụ không phải thuộc giáo phái Hòa Hảo nhưng được Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ tín nhiệm trong chức vụ Tổng Bí Thư đầu tiên của Dân Xả Đảng. Mật vụ của Ngô Đình Nhu đã bí mật bắt Nguyễn Bảo Toàn, bỏ vào bao bố, cột vào trụ xi-măng và xô nhận chìm thân xác ở sông Nhà-Bè đề phòng Cụ Toàn có thể thay thế Cụ Diệm, khi Mỹ cần thay ngựa giữa đường.
Ngày 13/7/1964, một lễ kỷ niệm 18 năm Lê Quang Vinh tức Ba-Cụt bị bức tử đã được long trọng tổ chức ở Thốt Nốt với sự tham dự của hơn 5000 chiến sĩ Dân Xả Đảng. Đại diện chính quyền thời đó có Tổng Trưởng Nội Vụ, Thiếu Tướng Lâm Văn Phát và Tổng Trưởng thông tin ông Phạm Thái; Một kiến-nghị xin hủy bỏ các bản án, phục hồi công quyền và phục chức của Ba-Cụt đã được trình lên chính phủ nhưng Lê Quang Vinh đã đi vào cỏi vĩnh hằng. Trong việc xử án Ba-Cụt, việc cố tình thủ tiêu đối thủ của hai Cụ Diệm Nhu đã quá rỏ ràng. Các nhà viết sữ trong tương lai cũng nên truy tìm xem những ai ở hậu trường trong ngành Tư pháp vào thời buổi ấy, đã bày mưu đặt kế để các thủ tục pháp lý có thể đưa đến xử một án tử hình gấp rút trong ba phiên tòa lien tiếp trong vòng 23 ngày? Không cần phải suy nghĩ dông dài: Đây là một sự cố tình chính trị, dứt khoát thủ tiêu một chướng ngại trong tương lai cho quyền lực của Ngô triều. Thái độ ấy có lẽ sau nầy cũng đã được những người lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm suy gẫm lại, đưa đến quyết định cuối cùng là cái chết thê thãm của hai Cụ Diệm Nhu, đó là những gì người viết ước ao “Phải trả lại tính trung thực cho lịch sử Việt Nam”
► o ◄
II. Ai giết Tướng Trịnh Minh Thế
Một trong những bí mật lớn nhứt của lịch
sử cận
đại là cái chết bất ngờ của Tướng Cao Đài Liên Minh Trịnh Minh Thế vào
ngày 3/5/1955, đúng vào lúc mà cuộc chiến dẹp Bình Xuyên, do thực dân
Pháp đứng đằng sau lưng xúi dục và do Savani chỉ đạo, đang ở vào giai
đoạn cuối cùng; uy tín của Tướng Thế và nhóm Liên Minh đang ở vào lúc
cao nhất sau khi giúp TT Diệm dẹp yên được vụ đảo chánh của Vỹ. Vị trí
của Tướng Thế trong lịch sử VN có thể coi Ông như một vì sao băng chói
lòa bay vụt trên nền trời Miền Nam vào những lúc đen tối nhất rồi tắt
lịm trong khoảng khắc, khiến không còn mấy ai nhắc tới nữa; tên tuổi,
công trạng của ông đã bị lịch sử quên lãng! Cái chết bí mật của Tướng
Thế dĩ nhiên cũng bị nhiều người nghi ngờ là do TT Diệm hoặc Nhu hoặc
CIA giết sau khi thấy uy tín của ông đang lên theo chìu thẳng đứng (bạo
phát bạo tàn?) Nhắc đến cái chết của Tướng Thế thì cũng phải mất hàng chục năm mới có thể biết được sự thật (cây kim để lâu trong túi rồi sẽ có ngày lú ra) Sau khi bị ám sát cho đến nay đả có hàng chục giả thuyết khác nhau khiến dư luận hết sức hoang mang và có nhiều lời bàn soạn đôi khi thiên lệch vì mục đích chính trị hay tư thù cá nhân, không đúng với sự thật khách quan. Giờ đây cây kim đã từ từ lú ra với nhiều bằng chứng khá chính xác về những lời khai của những người dính líu trực tiếp đến vụ án nầy nên có thể nói là bí mật bắt đầu bật mí về cái chết của Tướng Thế đã được sáng tỏ qua lý luận liên quan với thực tế.
Ảnh: http://www.dongduongthoibao.net/
Nghi ngờ Diệm Nhu - Ngày 3/5, trong
khi nhóm Bình Xuyên và Bảy Viển bị đánh thua tan tác và tìm đường rút
lui về Mật khu Rừng Sát; TT Diệm triệu hồi Tướng Thế vào Dinh và yêu cầu
ông đem Lực lượng Liên Minh đi tảo thanh một nhóm tàn quân Bình Xuyên
còn đang ẩn núp ở khu Khánh-Hội, Tân Thuận Đông và đang được tàu của
Pháp giúp di tản. Đây là nghi vấn đầu tiên; vì nhiều người hỏi tại sao,
TT Diệm không dùng Quân đội Quốc Gia làm việc nầy mà lại giao cho nhóm
Liên Minh của Thế và tự kết luận’ ai đã tổ chức vụ giết Tướng Thế? -Giả thuyết (1) - được nêu ra, TT Diệm muốn thử sự trung thành của Tướng Thế vì trước đây Tướng Thế và Bảy Viển có mối giao hòa rất tốt. Thêm một giả thuyết nữa
-Giả thuyết (2) -, TT Diệm muốn để cho Tướng Thế có dịp lập nên chiến công để làm nền tảng đưa ông lên thay Tướng Tỵ lừng khừng; Cũng có thể giải thích là TT Diệm để cho Bộ chỉ huy phân công cho cả hai phe cùng đi đánh Bình Xuyên, phe Liên Minh thì đi chiếm cây cầu Tân Thuận Đông còn phía Quân đội Quốc gia thì chiếm cầu Tân Thuận Tây và trong dịp nầy các Sĩ quan thân Pháp ghen ghét nên kiếm cách làm thịt Ông?
-Giả thuyết (3) - do Ông Ngô-Đình Nhu bày mưu để ám sát Tướng Thế vì uy tín ông đang lên quá cao, có thể CIA đưa lên thế TT Diệm?
-Giả thuyết (4) - của TS Sergei Blagov là do Lansdale muốn dẹp nhóm Liên Minh vì không còn hữu dụng nữa thì lại càng không đứng vững vì ông là bạn chí thân của Lansdale rất ái mộ hành động quyết liệt chống thực dân Pháp.
-Giả thuyết (5) - là do một nhóm Sĩ quan trong Quân đội như Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Trần Văn Đôn…vì ghen tức Tướng Thế, không cấp trọng pháo, quân xa cho Thế, nên tìm cách triệt hạ ngầm.
-Giả thuyết (6) - do đạn lạc, không ai tin giả thuyết nầy vì viên đạn quá chính xác, ở ngay gần chỗ Tướng Thế đứng nên không cần được nghĩ tới giả thuyết nầy.
(Còn tiếp)
Vtruong2602
nguồn
http://www.canhthep.com/modules.php? ngày 14 tháng 4, 2010
Phụ Lục do sachhiem.net đính kèm:
Bài Nói Chuyện Của Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế
Báo Saigon Nhỏ, số 437, tr 48, tháng 1/2007Ngày 3 tháng 5 năm 1955, ngày chồng tôi mất, Ông trung tá tham mưu trưởng Trương Lương Thiện có về Tây Ninh báo tin và chở tôi và mẹ chồng tôi về Saigòn. Về đến nơi, lúc thấy xác chồng tôi là 1giờ khuya. Khi ngồi bên xác chồng tôi, tôi mới phát hiện chồng tôi chết vì 2 viên đạn. Viên đạn thứ 1 từ ót trổ ra miệng, miệng còn ám khói đạn. Viên đạn thứ 2 từ lỗ tai phải trổ ra mắt trái, tròng mắt bay mất, mí mắt lõm xuống và còn nguyên vẹn không rách, lỗ tai còn ám khói đạn. Tôi có lấy khăn ước lau chùi nhưng không sạch được!
Nhìn 2 vết đạn này, tôi nghĩ là chồng tôi bị ám sát chứ không chết trận được vì 2 lỗ đạn rất nhỏ, nhỏ như đầu chiết đũa và không phá rộng. Từ lúc đó tôi luôn luôn ở bên xác chồng tôi, tôi không ngủ, không ăn uống gì được cho đến trưa ngày hôm sau là liệm xác. Sáng hôm sau thì ông Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn đến. Tôi có nhìn thấy ông Diệm té xỉu trước mặt tôi. Sau khi ông Diệm về, có mấy người em chồng tôi và các anh em trong đoàn thể Liên Minh đến thăm xác. Tôi có chỉ cho tất cả mọi người thấy là chồng tôi chết vì hai viên đạn. Khi chết chồng tôi mặt quân phục kaki vàng và bộ đồ đẫm máu đỏ; người em gái thứ 5 của chồng tôi đã đem về Tây Ninh đốt.
Chánh quyền Ngô Đình Diệm không giải thích gì về cái chết của Tướng Thế mà trái lại khi chôn cất chồng tôi xong thì có mấy người lạ mặt hăm he tôi không cho tôi nói là chồng tôi chết vì hai viên đạn, không cho nói gì về cái vụ của chồng tôi chết hết. Cho tới bây giờ thì cũng không có cái giấy xác nhận về cái chết của của chồng tôi, cái giấy khai tử tới nay bây giờ tôi cũng không có.
Ông Tạ Thành Long nói là chồng tôi chết khi đi khám mặt trận, nhưng theo 2 viên đạn bắn vào đầu đó thì tôi nghĩ chồng tôi bị ám sát bằng súng kề vô đầu bắn chứ khôngphảii là tử trận.
Nhắc đến ông Văn Thành Cao, cựu Thiếu Tướng và ông Tạ Thành Long, cựu đại tá của QLVNCH thì bà Trịnh Minh Thế cho biết, bà đối với 2 vị sĩ quan cao cấp đó như là tất cả các anh em trong đoàn thể Liên Minh mà thôi. Mãi đến năm 1993, khi anh em cựu chiến binh trong đoàn thể Cao Đài Liên Minh tổ chức lễ kỷ niệm 45 năm thành lập quân đội Cao Đài, Ban Tổ Chức gởi vé máy bay mời tôi qua tham dư…
Trong Đại Hội, tôi có gặp các ông Văn Thành cao và Tạ Thành Long. Riêng ông Tạ Thành Long thì đó là lần đầu tiên từ lúc chồng tôi chết tôi mới gặp lại. Chú Long có mời tôi về nhà vợ chồng chú tá túc trong những ngày đại hội. Thật ra tôi có nghi ngờ là những người này có dính líu vào cái chết của chồng tôi, tôi nghi từ lâu rồi, nhưng chưa có bằng cớ rõ rệt nên tôi đối đãi mọi người như nhau. Từ khi nghe tin tức và tài liệu những người đó có dính líu đến cái chết của chồng tôi, thì tôi cắt đứt không liên lạc với những người đó nữa…
Trích Báo Saigon Nhỏ, số 437, tr 48, tháng 1/2007
NDVN, ngày 2/11/07
Giải Tỏa Bí Mật Về Cái Chết Của
Tướng Trịnh Minh Thế
(Tạp chí GÓP GIÓ, số 112, thứ ba, ngày7/2/03)LỜI TÒA SOẠN (GG): Tướng Trịnh Minh Thế, Tư lịnh Lực Lượng Cao Đài Liên Minh bị giết vào lúc 6 giờ chiều ngày 3-5-1955, là một nghi án mà đã có một số tin tức loan khác nhau, như:
1- Về phía chính quyền Ngô Đình Diệm cho biết rằng tướng Trịnh Minh Thế đã trúng một viên đạn vào đầu, khi ông đi trên chiếc xe Jeep chạy trên cầu Tân Thuận, trong khi đang truy quét lực lượng Bình Xuyên.
2- Theo ông Lê Trọng Văn, viết rằng cái chết của tướng Trịnh Minh Thế là do tướng Văn Thành Cao cho đàn em ngôi chung xe Jeep với tướng Thế , ha sát ông tại cầu Tân Thuận, theo mật lệnh của ông Ngô Đình Nhu.
3- Theo một tài liệu bằng tiếng Pháp do ông Nhị Lang công bố trên báo chí, thủ phạm giết tướng Thế là Thiếu tá Tình báo Savani của Pháp, trả thù cho tướng Chanson. Thiếu tá Savani từ trên chiếc thuyền nhỏ của Pháp từ dưới sông bắn lên xe tướng Thế.
Nhưng theo tài liệu do ông Trịnh Minh Sơn công bố trên tờ Làng Văn, Canada, số 232 tháng 12-2002, dưới đây, cho biết thân phụ ông - tướng Trịnh Minh Thế đã bị giết tại Dinh Độc Lập rồi đem xác ông chở tới cầu Tân Thuận để đánh lạc hướng.
Rõ ràng đây là một bằng chứng thật CHÍNH XÁC nhứt. Bởi vì là người trong gia đình mới có thể nhìn tận mắt có cả thảy HAI vết đạn bắn rất gần, một vào ót và một vào vào lỗ tai tướng Thế còn để lai ám khói trên vết thương, chứ không phải MỘT phát duy nhứt như tin công bố.
Được biết khi hay tin chồng chết, bà Trịnh Minh Thế đã đến ôm xác chồng và khóc kể “Ông Nhu đã giết chồng tôi!”.
Cũng vào thời gian đó có tin ông Nhu đã bí mật cho người tới hăm dọa gia đình tướng Thế buộc phải giữ im lặng. Tướng Thế sẽ được truy thăng Trung tướng, được hưởng một số tiền tử tuất để sinh sống, và các con sẽ được thâu vào trường Quốc Gia Nghĩa Tử ăn học tử tế. Phải chăng vì để bảo vệ sự an toàn cho gia đình, bắt buộc gia đình tướng Thế phải giữ bí mật cho tới bây giờ?
GÓP GIÓ
Giải-tỏa bí mật về cái chết
của tướng Trịnh Minh Thế
Trong mục này, Làng Văn số 231, BC (Bút Chì) viết
rằng: “Tướng Trịnh Minh Thế tử trận đang khi điều quân tấn công lực
lượng Bình-Xuyên bên kia cầu Tân-Thuận, đạn đạo phát xuất từ một
giang-thuyền Pháp, do Bình-Xuyên điều khiển. Sau này có tin, tướng Thế
bị Savani, sĩ quan Phòng Nhì Pháp ra lệnh ám sát để trả thù cho tướng
Chanson.”Sau khi báo phát hành, thân nhân của tướng Thế, hiện sinh sống ở Canada, đã gửi thư cho BC, công bố bí mật về cái chế của tướng Thế, nội dung như sau. BC xin đăng tải nguyên văn như một sử liệu:
“Brossard, ngày 12 Nov, 2002
Kính thưa ông Bút Chì
Nhân đọc thấy một độc giả thắc mắc về cái chết của tướng Trịnh Minh Thế, và đã được ông trả lời trong mục giải đáp, Làng Văn số 231.
Tôi xin tự giới thiệu là con trai út của cố Trung tướng Trịnh Minh Thế. Mẹ tôi là quả phụ Nguyễn Thị Kim, hiện đang sinh sống với tôi ở Canada. Nhờ ông Bút Chì đính chánh giùm một bí mật về cái chết của ba tôi, sau 47 năm mà gia đình tôi giữ im lặng.
Sự thật là ba tôi bị ám sát, không chết trận như tin tức và lời đồn đãi
Ba tôi bị ám sát lúc 6 giờ chiều ngày 3 tháng 5, 1955, do 2 viên đạn súng nhỏ, vì vết thương không phá rộng. Viên đạn thứ nhất dí sát vào ót, bắn trổ ra miệng, miệng còn ám khói đạn. Viên đạn thứ hai, phát ân huệ, cũng dí sát vào lỗ tai phải, bắn trổ ra bể tròng mắt trái, lỗ tai ám khói súng. Điều đó cho thấy, kẻ ra tay là người thân cận, đứng sau lưng hoặc đứng kế bên. Mẹ tôi tin rằng ba tôi bị mưu sát trong dinh Độc Lập, khi về họp tham mưu. Sau đó đưa xác ra mặt trận cầu Tân Thuận và hô lên là tử trận.
Từ ngày mất nước, ở hải ngoại có nhiều giả thuyết được đưa ra, nói về cái chết của ba tôi. Đề tài này thường một số người liên hệ tới cái chết mờ ám của ba tôi, khuê ra, tạo nhiều giả thuyết vô lý, vô căn cứ, ngụy tạo, hoặc đem viết sách hoặc đăng trên báo chí, để cố tình che đậy sự thật, tung hỏa mù đánh lừa dư luận để bưng bít tội ác năm xưa.
Như ông Bút Chì đã thấy, qua nhiều sách báo và tài liệu, tất cả đều nói tướng Thế tử thương vì một viên đạn duy nhất; nhưng gia đình tôi và cả giòng họ Trịnh đều biết là ba tôi chết vì 2 viên đạn được bắn rất gần (dí sát và bóp cò). Chỉ cần chi tiết quan trọng đó thôi cũng đủ để tôi khỏi tốn công dẫn chứng dài dòng để đả phá các giả thuyết ngụy tao khác
Sau cùng, để đính chánh trả lời trên báo, ông có thể tóm tắt: “Anh em ông Diệm Nhu ngày về chấp chánh bấp bênh nên đã chiêu dụ tướng Trịnh Minh Thế về hợp tác để củng cố địa vị; sau đó chủ mưu hạ sát để trừ hậu hoạn”
Xin thành thật cám ơn ông”
Trịnh Minh Sơn
2810 Bourgogne
Brossard, Quebec J4Z 1T5
Canada
GÓP Ý CỦA ĐDTB:
Trong cuốn “Phong Trào Kháng Chiến Trịnh Minh Thế” của ông Nhị Lang tên thật là Thái Lân, xuất bản 1984 nơi trang 328 – 329 viết như sau:
“Tướng Thế mất đúng 7 giờ chiều ngày mồng 3 tháng 5 năm 1955. Ông bị một viên đạn Carbin duy nhất bắn vào lỗ tai bên phải, xuyên qua mắt trái, tròng mắt bay mất. Khói đạn còn dính bên tai, chứng tỏ kẻ sát nhân phải đứng gần lắm nên mới chính xác như vậy. Một con mắt còn lại nhắm nghiền, hàm răng giả của ông cũng đã bay đi đâu mất.”. Điều này chứng tỏ điều ông Trịnh Minh Sơn đúng, bố ông bị bắn 2 phát. Đạn đi từ lỗ tai lên mắt viên đạn đó không chạm đến răng được và viên đạn đó không phải là súng Carbin mà là súng lục loại Rouleau. Phát bắn đầu tiên từ sau ót ra miệng bay đi hàm răng giả, Tướng Thế chưa chết, vì chưa vào óc. Người bắn phải cao hơn tướng Thế
* Ký giả Như Phong Lê Văn Tiến phỏng vấn ông Tô Bình Cầm em vợ của Tướng Thế, ông Cầm cho biết rằng: “Tướng Thế đã bi giết trong dinh Độc Lập, có thể ở dưới tầng hầm (basement), rồi ông Nhu cho đem qua cầu Tân Thuận Ông Cầm quả quyết tướng Thế không có ở trong xe, không lái xe và không đi đến Tân Thuận. Thi thể tướng Thế được đưa tới đó để giả như ông ta chết tại mặt trận.”
* Ký giả Như Phong Lê Văn Tiến phỏng vấn ông Tạ Thành Long là tùy viên của tướng Thế. Ông Long bác bỏ việc ông có liên hệ đến cái chết của tướng Thế và ám chỉ ông biết ai đứng đàng sau vụ hạ sát này, nhưng từ chối không cho biết chi tiết. Cuộc phỏng vấn này vào ngày 8-8-1999, mà bức thư của cựu trưởng phòng nhì Pháp là Savani đã được tạp chí Việt Nam Hải Ngoại của Luật sư Đinh Thạch Bích phổ biến từ lâu chứng tỏ là tài liệu giả mạo, vì Đại tá Tạ Thành Long không nhắc đến người Pháp giết và còn cho biết ai đứng đằng sau vụ hạ sát
* Phóng Sự - Ký Sự của Tuổi Trẻ Cuối Tuần Online: Phạm Xuân Ẩn – Tên Người Như Cuộc Đời của Nhà Văn Nguyễn Thị Ngọc Hải, kỳ thứ 8, ngày 25/10/06, Phạm Xuân Ẩn đã cho biết: “…Người Sài Gòn ngày đó nhớ những biển lửa từ Tân Thuận đến Xóm Củi, và kể cho nhau nghe cái chết của tướng Cao Đài Trịnh Minh Thế. Thế ở trong Tứ Liên rồi quay ra đi với Diệm. Chính Diệm - Nhu cho người giết Thế ngay chỗ cầu Tân Thuận…”, click đọc: PHẠM XUÂN ẨN – TÊN NGƯỜI NHƯ CUỘC ĐỜI - Nguyễn Thị Ngọc Hải
* Ông Lê Trọng Văn chưa bao giờ gặp Ông Trịnh Minh Sơn cho đến hiện nay, mong Ông Nguyễn Cần bút hiệu Tú Gàn đừng có viết Càn – viết Gàn nghe ông Tú Tàn, vì Lê Trọng Văn và Trịnh Minh Sơn đang sinh sống tại San Diego và Quebec, Canada
ĐDTB, ngày 18/12/06


07:49
Hoàng Phong Nhã