Good Luck - Bí mật của May mắn - là cuốn sách nổi tiếng và độc đáo nhất được Nhà xuất bản Jossey-Bass xuất bản ngày 1/9/2004. Theo các công ty bản quyền châu Âu, Good Luck là cuốn sách đầu tiên trong lịch sử hiện đại bán được bản quyền dịch ra 15 ngôn ngữ trên thế giới trước khi được xuất bản ở bất kỳ quốc gia nào (chỉ được truyền miệng và qua Internet). Cuốn sách được xuất bản đầu tiên ở Tây Ban Nha vào tháng 2/2004. Chỉ trong vòng hai tuần, Good Luck đã vượt lên dẫn đầu danh sách những cuốn sách bán chạy nhất ở Tây Ban Nha, Nhật Bản, Brazil, Mỹ. Hàn Quốc, Đài Loan và đang lan tỏa nhanh chóng sang các quốc gia, châu lục khác những tháng đầu năm 2005.
Danh ngôn Nhân cách
Phẩm cách có thể biểu hiện ra trong thời khắc quan trọng, nhưng nó lại hình thành trong thời khắc không quan trọng. Bacon (Anh).
Danh ngôn Sự nghiệp
Hiểu biết giá trị của tiền bạc và luôn biết hy sinh tiền bạc vì bổn phận hoặc vì ý nghĩa, ấy là một đức hạnh thật sự. Senancourt
Danh ngôn Đối nhân xử thế
Khi bạn không thể thực hiện những gì ao ước, bạn nên ao ước những gì có thể làm. Terence
Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012
Video: Bí mật của may mắn
Good Luck - Bí mật của May mắn - là cuốn sách nổi tiếng và độc đáo nhất được Nhà xuất bản Jossey-Bass xuất bản ngày 1/9/2004. Theo các công ty bản quyền châu Âu, Good Luck là cuốn sách đầu tiên trong lịch sử hiện đại bán được bản quyền dịch ra 15 ngôn ngữ trên thế giới trước khi được xuất bản ở bất kỳ quốc gia nào (chỉ được truyền miệng và qua Internet). Cuốn sách được xuất bản đầu tiên ở Tây Ban Nha vào tháng 2/2004. Chỉ trong vòng hai tuần, Good Luck đã vượt lên dẫn đầu danh sách những cuốn sách bán chạy nhất ở Tây Ban Nha, Nhật Bản, Brazil, Mỹ. Hàn Quốc, Đài Loan và đang lan tỏa nhanh chóng sang các quốc gia, châu lục khác những tháng đầu năm 2005.
Sách: Sức Mạnh Của Hiện Tại
Tác giả: Eckhart Tolle.
Nhà xuất bản: Nxb Tổng hợp TP.HCM
Bản quyền thuộc First News – Trí Việt.
“Sức Mạnh Của Hiện Tại” được viết một cách súc tích và thâm thuý nên nhiều khi ta chỉ cần đọc một cây hay một đoạn ngắn thì đã cảm thấy vừa đủ, vì quả thực chúng ta cần có không gian để chiêm nghiệm những điều sâu sắc mà tác giả đã đưa ra. Nhờ sử dụng ngôn ngữ đương đại nên “Sức Mạnh Của Hiện Tại” dễ dàng đi vào lòng độc giả. Cuốn sách này có năng lực rất lớn để giúp bạn chuyển hoá khổ đau và đưa bạn đến giải thoát.
“Sức Mạnh Của Hiện Tại” sẽ rất hữu ích và thực dụng nếu bạn đang có những khó khăn trong đời sống cá nhân, hay đời sống vợ chồng, cuốn sách này sẽ giúp bạn vượt qua những khó khăn đó, xây dựng lại mối quan hệ ngày một tốt đẹp hơn. Thậm chí quyển sách này còn có khả năng giúp bạn thực hiện những ước mơ, hoài bão sâu kín ở trong bạn bấy nay. Và xa hơn nữa, “Sức mạnh của hiện tại” có thể giúp bạn thực hiện được mục đích tối hậu của một con người là nhận thức được bản chất chân thực của mình là gì.
Sức mạnh của hiện tại – The Power of now – tác phẩm nổi tiếng thế giới, được thời báo New York Times bình chọn là cuốn sách hay và bán chạy nhất, thực sự thiết thực và hữu ích cho cuộc sống tinh thần mọi người trong thời đại mới.
Chân lý mà bậc thầy về tâm linh – Eckhart Tolle, truyền tải trong tác phẩm đặc biệt này chính là phân tích được nỗi đau khổ tinh thần của con người xảy ra triền miên khi luôn chìm đắm suy nghĩ vào quá khứ và không nhận thức được giá trị và sức mạnh của Hiện tại. Khi tập trung vào hiện tại, bạn sẽ vượt lên tất cả những suy nghĩ tiêu cực, tìm được bản ngã của mình và tinh thần của bạn sẽ thanh thản hơn rất nhiều. Cuốn sách là người đồng hành giúp bạn tìm về với chính mình. Bạn sẽ bất ngờ khám phá ra những chân giá trị quý báu mà chính bạn đang có sẵn nhưng bạn đã không nhận ra. Cuốn sách là kim chỉ nam cho tất cả chúng ta tìm lại giá trị đích thực của cuộc sống và cảm nhận những giá trị tươi đẹp vốn có.
Download Sức Mạnh Của Hiện Tại
Video: BÀI GIẢNG CỦA GIÁO SƯ MICHAEL SANDEL VỀ CÔNG LÝ
GS Michael J. Sandel (sinh 1953) là giáo sư ngành triết học chính trị tại Đại học Harvard. Bài giảng dưới đây của ông bàn về nhiều vấn đề như công lý, bình đẳng, dân chủ, đạo đức, pháp luật v.v...
GS Michael Sandel, Ảnh: NewStatesman
Đây là những vấn đề mà lâu nay vẫn thường được nhiều người hiểu là khô khan, phức tạp và trừu tượng. Tuy nhiên khi nghe GS Michael Sandel giảng người ta thấy điều ngược lại, vấn đề trở nên thú vị, sinh động và thiết thực đến không ngờ. Thông qua việc đưa ra các ví dụ, các câu hỏi mở, cùng lối dẫn dắt vấn đề đầy thuyết phục, ông đã đưa tất cả người học cùng tham gia vào một cuộc chơi khoa học - một cuộc chơi mà ai cũng muốn tham gia, khi tham gia ai cũng phải tư duy, phải suy nghĩ và mọi người đều cùng được hưởng lợi từ cuộc chơi ấy.
Sau khi theo dõi hết toàn bộ bài giảng của GS Sandel, tôi có nhận xét rằng bài giảng của ông không chỉ hay, mà còn thành công ở nhiều phương diện. Bài giảng của ông hay và thành công, vì nó đem đến cho người học những kiến thức khoa học, cách tiếp cận vấn đề thực sự mới mẻ, chứ không phải "hay" vì pha trò, vì dùng những từ ngữ dung tục cốt chỉ để gây cười như nhiều giáo viên vẫn đang làm. Nếu theo dõi từ đầu đến cuối bài giảng bạn sẽ thấy ông luôn tôn trọng người học, ông hiểu sâu vấn đề mình trình bày, ông biết cách dẫn dắt, gợi mở vấn đề, ông biết cách biến các vấn đề phức tạp trở nên đơn giản và biết cách cuốn hút người nghe cùng tham gia bài giảng. Hình ảnh của ông cũng là hình ảnh của một thầy giáo thời hiện đại, một người thầy có lối tư duy mở, vừa sâu sắc, khiêm tốn, mà lại vừa dễ gần - một hình ảnh hoàn toàn đối ngược với người thầy bảo thủ, cứng nhắc, luôn cho mình là đúng và luôn độc quyền về tri thức.
Dưới đây là bộ bài giảng về công lý của GS Michael J. Sandel, một bài giảng hữu ích không chỉ cho các bạn sinh viên mà còn cho cả các thầy cô giáo, một bài giảng mà người nghe có thể học được không chỉ về kiến thức, mà còn rất nhiều điều khác.
Xin trân trọng chia sẻ và giới thiệu cùng bạn đọc!
Nguồn bài giảng (Source): Đường link gốc các bài giảng Justice của GS. Michael Sandel được công bố công khai online tại địa chỉ website justiceharvard.org, truy cập tại: http://www.justiceharvard.org/, phiên bản phụ đề Tiếng Việt dưới đây: do nhóm HTT thực hiện.
CÔNG LÝ là một trong những khóa học nổi tiếng trong lịch sử Đại học Harvard do Giáo sư Sandel giảng. Cả Đại Giảng Đường Sanders đã chật cứng sinh viên đến để nghe về Công lý, Bình đẳng, Dân chủ và Công dân. Michael J. Sandel (sinh 1953) là giáo sư ngành triết học chính trị tại Đại học Harvard, nổi tiếng với môn Công lý vì thu hút số sinh viên kỷ lục, hơn 10.000 người học trong hai thập niên, 1.115 sinh viên chỉ riêng trong học kỳ hai năm 2007. Là thành viên trong ủy ban đạo đức sinh học của tổng thống Bush, Giáo sư Sandel cũng thường xuất hiện trên truyền thông về các vấn đề đạo đức, mà theo ông cũng chính là chính trị. Mở đầu khóa học, Giáo sư Sandel đặt ra hai tình huống. Trong tình huống thứ nhất, chiếc xe điện đang phóng nhưng bị hỏng phanh. Người lái xe phải có hai lựa chọn: tiếp tục đi thẳng và sẽ đâm chết 5 người trên đường ray, rẽ trái và sẽ đâm chết 1 người. Nếu là người lái xe, bạn sẽ đi thẳng hay rẽ ? Ở tình huống thứ hai, bạn không phải người lái xe mà là một người quan sát đứng trên cầu. Đứng cạnh bạn là một anh béo, và chỉ cần bạn đẩy anh béo xuống mũi xe thì chiếc xe sẽ dừng và cứu được 5 người. Bạn có đẩy không ? Trong khóa học 12 phần, giáo sư Sandel đưa ra các tình trạng rất khó xử về mặt đạo đức kiểu như trên và yêu cầu sinh viên trình bày các ý kiến về việc đúng nên làm. Ông hỏi sinh viên để kiểm tra câu trả lời khi xuất hiện những tình huống mới. Kết quả thường khá bất ngờ, và cho thấy các câu hỏi đạo đức quan trọng thường không thể trả lời Đúng hay Sai. Khóa học bao phủ nhiều vấn đề "nóng" hiện nay: ưu đãi nhóm thiểu số, hôn nhân đồng giới, yêu nước và các quyền công dân, công an có nên đánh tù nhân để lấy thông tin, có nên bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe ngoài đường ... Cách giảng dạy của Giáo sư mang tính gợi mở cao, đưa những vấn đề Triết học khô khan, những giá trị đạo đức luân lý phức tạp vào ngữ cảnh thực của cuộc sống. Tra tấn có thể biện minh được không ? Một người cha ăn trộm thuốc để cứu sống con mình qua cơn thập tử nhất sinh thì sao ? Có chấp nhận được đôi khi nói dối không ? Mạng sống con người có giá trị bao nhiêu ? Đó là những vấn đề mà hàng ngày chúng ta phải đối mặt. Mục tiêu của Khóa học là cung cấp những kiến thức cơ bản về Triết học và Đạo đức để người học tự mình có kiến giải riêng trong những hành động hàng ngày. Làm hay không làm ? Làm như thế là Đúng hay Sai.
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Phần 23
Phần 24
Phim : Binh Pháp Tôn Tử Và 36 Mưu Kế
Tên phim: Binh Pháp Tôn Tử Và 36 Mưu Kế
Đạo diễn: Trương Trí Thắng,Trương Huy Lực,
Diễn viên: Cừu Vĩnh Lực,Dương Hồng Vũ,Trương Tử Kiện,Trương Tiểu Lỗi,
Thể loại: Phim Võ Thuật - Kiếm Hiệp,Phim Dã Sử - Cổ Trang,
Quốc gia: Phim Trung Quốc,
Năm sản xuất: 2000
Thời lượng: 36 Tập
Dịch: Thuyết Minh
Thời Chiến Quốc, kỳ nhân Quỷ Cốc Tử có 2 đệ tử tâm đắc Tôn Tẫn và Bàng Quyên Nhưng khi 2 người rời núi chỉ Tôn Tẫn mới được truyền "Binh Pháp Tôn Tử" Bàng Quyên vì ham công danh phú quý nên xin Quỷ Cốc tiên sinh xuống núi trước để tìm công danh. Bàng Quyên làm tướng nước Ngụy, vì ghen ghét tài học của Tôn Tẫn đã mượn pháp luật mà trị tội chặt 2 chân, chạm vào mặt để Tẫn phải giấu mình không lộ diện. Sứ giả nước Tề đến đất Lương, Tôn Tẫn lén gặp thuyết phục sứ giả. Sứ giả nước Tề cho là kỳ lạ bèn mang trộm Tôn Tẫn lên xe về Tề. Tướng Tề là Điền Kỵ phục tài, tâu với Tề Uy Vương phong Tẫn làm thầy, cùng với Kỵ đem quân đánh Nguỵ. Tẫn ngồi trong xe kín, bày mưu kế cho Kỵ đánh Nguỵ phải kiệt quệ.
Mười ba năm sau, Ngụy và Triệu đánh Hàn. Hàn cáo cấp với Tề, Tề lại sai Điền Kỵ làm tướng, Tôn Tẫn làm quân sư đi cứu Hàn. Tôn Tẫn dùng kế "vây Ngụy cứu Triệu" khiến cho tướng Ngụy là Bàng Quyên nghe vậy phải rời bỏ Hàn quay về. Tẫn lại dùng kế giảm số bếp trong quân lừa Bàng Quyên đuổi theo, rồi sau đó sai quân cung nỏ mai phục hai bên đường Mã Lăng, lấy một khúc gỗ to cạo sạch vỏ, lấy than khắc lên dòng chữ: "Bàng Quyên sẽ chết dưới cây này". Sau đó dặn quân lính hễ thấy ánh lửa nổi lên là bắn thẳng vào chỗ đó. Bàng Quyên đuổi đến nơi, thấy có chữ bèn sai quân thắp đuốc lên để đọc. Quyên đọc xong, thất kinh vội sai quân rút nhưng đã muộn. Quân Tề mai phục thấy ánh lửa đốt lên vội bắn như mưa về phía đó. Bàng Quyên bị tên bắn ngã ngựa, sợ bị quân Tề làm nhục vội rút gươm tự tử".
Bộ Phim tái hiện lại toàn bộ 36 kế trong Binh Pháp Tôn Tử Và 36 Mưu Kế:
Tập 1 - Kế Lên Gác Rút Thang (Lên Cao Rút Thang) Đó là mưu kế qua sông phá cầu để cho kẻ địch không qua được sông nữa, hoặc phải tốn công làm lại cầu mới qua được. Mưu kế lên cao rút thang là mưu kế của những người, những nước đã thành công rồi, không muốn cho người khác, nước khác thành công như mình một cách nhanh chóng nhờ học hỏi mình, phải tìm mọi cách để cản trở không cho họ biết những điều đã biết của mình.
2. Nụ cười giấu dao
3. Không điên giả khùng
4. Ve sầu thoát xác
5. Lấy mận thay đào
6. Vây Ngụy cứu Triệu
7. Băt kẻ đầu sỏ
8. Lấy sức nhàn chống kẻ địch mệt mỏi
9. Bịa đặt vu khống
10. Mượn dao giết người
11. Mượn gió bẻ măng
12. Giấu trời vượt biển
13. Lấy xà thay cột
14. Mượn đường diệt quắc
15. Dương đông kích tây
16. Kế bỏ trống thành
17. Kế phản gián
18. Hoa nở trên cây
19. Ném ngói dụ ngọc
20. Đục nước bắt cá
21. Lén vượt trần thương
22. Kế mỹ nhân
23. Biến khách thành chủ
24. Chỉ gà mắng chó
25. Kế liên hoàn
26. Thân nước xa đánh nước gần
27. Đánh rắn động cỏ
28. Điệu hổ li sơn
29. Vờ tha để bắt
30. Mượn xác hoàn hồn
31. Rút củi dưới đáy nồi
32. Tiện tay dắt dê
33. Đóng cửa bắt giặc
34. Kế khổ nhục
35. Đứng cách bờ nhìn lửa cháy
36. Chuồn là thượng sách
Đạo diễn: Trương Trí Thắng,Trương Huy Lực,
Diễn viên: Cừu Vĩnh Lực,Dương Hồng Vũ,Trương Tử Kiện,Trương Tiểu Lỗi,
Thể loại: Phim Võ Thuật - Kiếm Hiệp,Phim Dã Sử - Cổ Trang,
Quốc gia: Phim Trung Quốc,
Năm sản xuất: 2000
Thời lượng: 36 Tập
Dịch: Thuyết Minh
Thời Chiến Quốc, kỳ nhân Quỷ Cốc Tử có 2 đệ tử tâm đắc Tôn Tẫn và Bàng Quyên Nhưng khi 2 người rời núi chỉ Tôn Tẫn mới được truyền "Binh Pháp Tôn Tử" Bàng Quyên vì ham công danh phú quý nên xin Quỷ Cốc tiên sinh xuống núi trước để tìm công danh. Bàng Quyên làm tướng nước Ngụy, vì ghen ghét tài học của Tôn Tẫn đã mượn pháp luật mà trị tội chặt 2 chân, chạm vào mặt để Tẫn phải giấu mình không lộ diện. Sứ giả nước Tề đến đất Lương, Tôn Tẫn lén gặp thuyết phục sứ giả. Sứ giả nước Tề cho là kỳ lạ bèn mang trộm Tôn Tẫn lên xe về Tề. Tướng Tề là Điền Kỵ phục tài, tâu với Tề Uy Vương phong Tẫn làm thầy, cùng với Kỵ đem quân đánh Nguỵ. Tẫn ngồi trong xe kín, bày mưu kế cho Kỵ đánh Nguỵ phải kiệt quệ.
Mười ba năm sau, Ngụy và Triệu đánh Hàn. Hàn cáo cấp với Tề, Tề lại sai Điền Kỵ làm tướng, Tôn Tẫn làm quân sư đi cứu Hàn. Tôn Tẫn dùng kế "vây Ngụy cứu Triệu" khiến cho tướng Ngụy là Bàng Quyên nghe vậy phải rời bỏ Hàn quay về. Tẫn lại dùng kế giảm số bếp trong quân lừa Bàng Quyên đuổi theo, rồi sau đó sai quân cung nỏ mai phục hai bên đường Mã Lăng, lấy một khúc gỗ to cạo sạch vỏ, lấy than khắc lên dòng chữ: "Bàng Quyên sẽ chết dưới cây này". Sau đó dặn quân lính hễ thấy ánh lửa nổi lên là bắn thẳng vào chỗ đó. Bàng Quyên đuổi đến nơi, thấy có chữ bèn sai quân thắp đuốc lên để đọc. Quyên đọc xong, thất kinh vội sai quân rút nhưng đã muộn. Quân Tề mai phục thấy ánh lửa đốt lên vội bắn như mưa về phía đó. Bàng Quyên bị tên bắn ngã ngựa, sợ bị quân Tề làm nhục vội rút gươm tự tử".
Bộ Phim tái hiện lại toàn bộ 36 kế trong Binh Pháp Tôn Tử Và 36 Mưu Kế:
Tập 1 - Kế Lên Gác Rút Thang (Lên Cao Rút Thang) Đó là mưu kế qua sông phá cầu để cho kẻ địch không qua được sông nữa, hoặc phải tốn công làm lại cầu mới qua được. Mưu kế lên cao rút thang là mưu kế của những người, những nước đã thành công rồi, không muốn cho người khác, nước khác thành công như mình một cách nhanh chóng nhờ học hỏi mình, phải tìm mọi cách để cản trở không cho họ biết những điều đã biết của mình.
2. Nụ cười giấu dao
3. Không điên giả khùng
4. Ve sầu thoát xác
5. Lấy mận thay đào
6. Vây Ngụy cứu Triệu
7. Băt kẻ đầu sỏ
8. Lấy sức nhàn chống kẻ địch mệt mỏi
9. Bịa đặt vu khống
10. Mượn dao giết người
11. Mượn gió bẻ măng
12. Giấu trời vượt biển
13. Lấy xà thay cột
14. Mượn đường diệt quắc
15. Dương đông kích tây
16. Kế bỏ trống thành
17. Kế phản gián
18. Hoa nở trên cây
19. Ném ngói dụ ngọc
20. Đục nước bắt cá
21. Lén vượt trần thương
22. Kế mỹ nhân
23. Biến khách thành chủ
24. Chỉ gà mắng chó
25. Kế liên hoàn
26. Thân nước xa đánh nước gần
27. Đánh rắn động cỏ
28. Điệu hổ li sơn
29. Vờ tha để bắt
30. Mượn xác hoàn hồn
31. Rút củi dưới đáy nồi
32. Tiện tay dắt dê
33. Đóng cửa bắt giặc
34. Kế khổ nhục
35. Đứng cách bờ nhìn lửa cháy
36. Chuồn là thượng sách
Phim Truyện ngài Khổng Tử
Cuộc
đời của Khổng Tử là cuộc đời của một nhà giáo dục chân chính, một bực
thầy vĩ đại không phải là chỉ riêng Trung Hoa mà còn cho cả thế giới
loài người nữa. Với Khổng Tử địa vị của ông thầy đã được người đời xưa
nâng lên trên cả địa vị của ông cha trong gia đình . “ Quân, Sư, Phụ”
sau ông vua là đến ông thầy rồi sau hết mới đến ông cha. Người cha cũng
có bổn phận dạy dỗ, giáo dục con cái của mình, nhưng trong xã hội xưa
người dạy dỗ con mình nhiều nhất, người theo dõi san sóc vun xới cái
vườn kiến thức và đạo đức của con mình biến nó thành một vườn hoa tươi
tốt người đó chính là ông thầy nó. Làm cho một người trở thành một người
có kiến thức có đạo đức sống xứng đáng với ý nghĩa cao đẹp của con
người đó là công của ông thầy, của người biết mang trong mình cái trọng
trách “hối nhân bất quyện” (dạy người không biết mệt). Khổng Tử đã ý
thức được sứ mạng cũng như thiên chức cao quý của một lương sư. Sứ mạng
cũng như thiên chức đó là truyền bá cho người đời đạo làm người hay lề
lối sống thế nào để cho cá nhân, gia đình, quốc gia, xã hội loài người
được tốt đẹp, trật tự, hòa bình. Hậu thế đã tôn sung Ngài như bậc thầy
của muôn đời, bậc “vạn thế sư biểu”, bởi chủ trương, đường lối, mục
tiêu, phương pháp giáo dục của Ngài chứa đựng nhiều giá trị mà người đời
sau phải công nhận và học hỏi.
Phương pháp giảng huấn mà đức Khổng Tử đã áp dụng trong cuộc đời dạy học của Ngài cho đến ngày nay vẫn còn được khoa sư phạm (pedagogy) lưu ý học hỏi để áp dụng, nhất là ở những nước có tự do dân chủ và nền giáo dục mang nhiều tính chất nhân bản. Phương pháp giảng huấn của Khổng Tử không được ghi chép thành văn nhưng người đời sau có thể suy ra từ những gì mà các đệ tử của Ngài ghi lại về cuộc đời dạy học của Ngài. Có thể tóm tắt những nét chính trong phương pháp giảng huấn của ông thầy vĩ đại này như sau:
1. Thương từng người học trò; hiểu rõ từng cá nhân mỗi người; giúp mỗi cá nhân phát triển tựa trên hoàn cảnh và điều kiện của mỗi người. Đây là một điểm tâm lý sư phạm rất đáng được lưu ý. Ngày nay nhiều nhà tâm lý sư phạm vẫn đề cao đường lối “cá nhân giáo huấn” (individualized instruction) vì người ta thấy rằng mỗi người có một đời sống tâm lý (nhất là tính tình, nhân cách, trí tuệ…) cũng như một môi trường sinh sống (hoàn cảnh gia đình và xã hội) đặc biệt của mình, không ai hoàn toàn giống ai cả. Do đó khi áp dụng một chương trình học duy nhất, cứng rắn cùng một cách giảng dạy như nhau cho cùng một số đông người thì kết quả của công trình giảng dạy, học tập (teaching / learning process) sẽ không được tốt đẹp lắm. Đáng lý ra người ta phải có một chương trình học và một phương pháp giảng dạy thích hợp cho mỗi cá nhân học sinh nhưng việc đó không thể nào thực hiện được cho nên người ta phải tạm dùng cách chuyên môn hóa (specializing) phân chia các ban, phân chia học sinh ra từng lớp hay từng nhóm có trình độ gần nhau để công việc giảng dạy / học tập có kết quả hơn. Tạo cơ hội đồng đều (equal opportunity) để mọi người đều được hưởng quyền giáo dục, tức là không kỳ thị, không loại bỏ một ai là điều cần phải có trong một nền giáo dục nhân bản, nhưng điều đó không có nghĩa là phải xem tất cả các người đi học đều giống hệt như nhau và đều bằng nhau về phương diện khả năng thu nhận và học tập.
2. Vai trò của người thầy không phải là tạo ra những bộ óc cho người đi học, cũng không phải là để nhồi vào đầu óc người đi học một mớ kiến thức nào đó một cách máy móc và cũng không nên xem bộ óc con người như một tờ giấy trắng mà mình muốn vẽ cái gì lên đó cũng được.
Vai trò thực sự đúng nghĩa của người thầy là người hướng dẫn, giúp đỡ cho người đi học có cơ hội và biết đường hướng để phát triển con người toàn diện. Ở bên trời Tây, và cũng xấp xỉ đồng thời với Khổng Tử, nhà hiền triết Socrates cũng có quan niệm tương tự như Khổng Tử về vai trò của giáo dục hay của người làm giáo dục. Socrates dùng một hình ảnh cụ thể hơn để nói rõ vai trò của kẻ làm thầy. Người làm thầy cũng làm công việc tương tự như người hộ sinh (đỡ đẻ). Người đó giúp cho đứa trẻ ra khỏi bụng mẹ để vào đời chớ người đó không phải là người sanh ra đứa bé.
3. Phương pháp giảng huấn của đức Khổng Tử đòi hỏi phải dựa trên thực tế và có phần thực hành trong việc học chứ không phải chỉ có tính cách lý thuyết suông. Phương pháp đó dùng lối đối thoại, dùng cách hỏi và trả lời giữa trò và thầy khiến cho sự học vấn giáo dục trở nên linh động, gần gũi đi liền với cuộc sống thật sự ở ngoài đời. Với mỗi đệ tử trong mỗi hoàn cảnh, Khổng Tử có câu trả lời khác về cùng một vấn đề, vì phải tùy lúc, tùy người, tùy hoàn cảnh mà có cách giải đáp cho sát với thực tế. Lý thuyết và thực hành cần phải đi đôi với nhau thì cái học mới hữu dụng.
Tập 1
Tập 2
Tập 3
Tập 4
Tập 5
Tập 6
Tập 7
Tập 8
Tập 9
Tập 10
Đức Khổng Tử sanh vào khoảng 551 trước công nguyên ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, và mất vào đời vua Ai Công, nước Lỗ, khoảng 478 trước công nguyên, thọ 73 tuổi. Ngài mất rồi, học trò thương khóc thảm thiết, ai cũng để tâm tang ba năm, lại có đến hơn 100 người làm nhà ở gần mộ Ngài đến hết tang. Đức Khổng Tử dạy được 3000 môn đệ, trong đó có 72 vị xuất sắc, gọi là thất thập nhị hiền.
Đức Khổng Tử lấy đạo luân thường làm tôn chỉ của Đạo Ngài:
Luân là ngũ luân, năm giềng mối trong gia đình và xã hội: đạo vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em và bậu bạn. Thường là ngũ thường, gồm năm đức tánh ở nơi con người: nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín.
Đạo luân thường do các Thánh hiền xưa để lại và chính Đức Khổng Tử san định và hệ thống hóa cho dễ giảng dạy và học hiểu.
Những sách của Khổng Giáo gồm có Tứ Thư: Đại Học, Trung Dung, Luận Tử và Mạnh Tử. Ngũ Kinh gồm có Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Nhạc và Kinh Xuân Thu.
Triết lý của Khổng giáo gồm hai phần: hình nhi hạ học và hình nhi thượng học.
Hình nhi hạ thuộc về phần công truyền, dạy cho tất cả hàng môn đệ về nhơn sinh triết học, học vấn, tu thân tề gia, xử thế tiếp vật, phục vụ nhơn sanh làm gốc.
Hình nhi thượng là phần tinh ba, tâm truyền của Khổng Giáo. Ngài chọn một số môn đệ có trình độ tri thức cao mà trao truyền đạo lý thâm sâu huyền bí của Tạo Hóa.
Bài nầy chúng tôi chỉ trình bày chơn dung của Đức Khổng Tử, Giáo chủ của Nho Giáo, gồm hai phần về tướng mạo và tác phong đạo đức của Ngài để chúng ta noi gương Ngài. Ơn Trên có dạy người tu hành muốn làm Tiên Phật thì phải học và bắt chước hành động gương mẫu của hàng Tiên Phật mới về sống chung được với các Ngài ở Bồng Lai Tiên cảnh.
1. Tướng mạo: Người cao lớn, có tướng ngũ lộ (mắt lồi, lỗ mũi rộng, lộ hầu, tai bạt, răng hở). Mặt to và có những vạch như quả dưa chín. Bàn tay hổ, ngực rùa, râu rậm, mồm rộng, miệng nói tươi, đi nhanh.
2. Tác phong: Ngài ôn hòa, nghiêm trang và kính cẩn. Uy mà không dữ, kính cẩn mà an vui tự nhiên. Lúc nào Ngài cũng khoan thai, ung dung và bao giờ cũng có cái vẻ mặt tự nhiên, tươi tỉnh an vui. Những khi ăn uống, nằm nghỉ, luôn ngay chính, kín đáo. Đối với vua quan, tới lui rất cung kính, điều gì cũng giữ cho hợp lễ phép, cẩn thận từ li từ tí để bày tỏ cái đạo của người quân tử. Lúc động lúc tĩnh đều có thể làm gương cho người bắt chước.
Ngài là người rất nhân hậu. Thấy ai đau đớn buồn rầu thì Ngài cũng động lòng thương xót. Ngồi ăn bên cạnh người có tang thì Ngài ăn không no. Ngày nào đã đi phúng điếu về thì suốt cả ngày không đàn hát (dù tính Ngài thích đàn hát).
3. Cái chí: Một hôm Thầy Tử Lộ, đệ tử ruột của Ngài, hỏi Ngài rằng: “Đệ tử muốn biết cái chí của Phu Tử thế nào?”
Ngài trả lời rằng: “Lấy sự yên vui mà đối với kẻ già cả, lấy sự tin mà đối với bạn bè, lấy sự yêu mến mà đối đãi với trẻ thơ.” (Luận Ngữ, Công Dã Tràng)
4. Cách học: Ngài rất hiếu học. Ngài nói rằng: “Ta không phải là người sanh ra đã biết, chỉ là người thích đạo của Thánh hiền ngày trước, cố sức mà cầu học lấy được.”
Ngài hết lòng dạy bảo người ta. Ngài nói: “Thầm lặng nghĩ ngợi mà biết mọi lẽ, học mà không chán, dạy người mà không mỏi, ba điều ấy, ta có điều gì hơn người đâu!” Bất cứ điều gì, Ngài cũng để chí học cho hiểu, hoặc để biết điều hay mà theo hoặc để biết điều dở mà sửa mình.
Tánh Ngài rất hiếu học và không thẹn học hỏi với những kẻ khác ngang hoặc dưới mình. Ngài có cho biết: “Ta từ 15 tuổi đã có chí lo học, qua 30 tuổi mới biết rõ lễ, đến 40 tuổi thì hết mê lẫn…”
Ngài học điều gì cũng cẩn thận, không khinh suất. Ngài nói rằng: “Có người chẳng biết rõ nghĩa lý gì đã làm chứ ta thì không thế. Nghe nhiều, rồi chọn điều mà theo, thấy nhiều mà nhớ lấy, để xét cho rõ cái hay cái dở, thì cũng đã cho là biết vậy.” (Luận Ngữ, Thuật Nhi VII)
5. Cái lo: Bình sinh lúc nào Ngài cũng lo việc sửa mình cho ngay chính. Ngài nói rằng: “Đức của mình không sửa cho tốt, học của mình không giảng cho rõ, nghe điều nghĩa mà không theo được, nghe điều dở mà không sửa đổi được, đó là cái lo của ta vậy.”
6. Khiêm tốn: Ngài quả thật là một người chí thánh, chí chơn, nhưng Ngài vẫn khiêm tốn, không dám nhận mình là Thánh, là nhân. Ngài nói rằng: “Nếu bảo ta là Thánh, là nhân, thì ta sao dám đương, nhưng ta làm việc Thánh, việc nhân không chán, dạy người không mỏi, có thể bảo ta được thế mà thôi.”
7. Đối với học trò: Đức Khổng Tử rất cởi mở dễ dãi. Hễ ai theo đúng lễ thì không bao giờ Ngài từ chối dạy bảo. Sự giáo hóa của Ngài có cái chủ ý làm cho sáng cái đức sáng của người ta, chớ không phải chỉ đem cái biết của mình mà trao cho người ta. Ngài dùng cách làm cho người ta tự mình hiểu được mọi lẽ phải trái. Ngài nói rằng: “Ta có biết gì không? Không biết gì cả! Không biết gì cả! Có người quê kệch đến hỏi ta, ta không không như không biết gì, đem đầu đuôi trước sau mà nói, làm cho người ấy biết hết mọi lẽ.” (Luận Ngữ, Tử Hãn IX)
Đó thật là một cái phương pháp giáo hóa rất hay để mở rộng cái biết của người ta vậy.
Đối với học trò, không bao giờ Ngài làm việc gì mà không cho mọi người biết. Ngài bảo rằng: “Các anh tưởng ta có giấu gì các anh chăng? Ta không giấu các anh điều gì cả, ta không làm điều gì mà không cho các anh biết. Thực tế là vậy.”
Ngài ôn hòa và thành thực như thế, cho nên học trò rất đông, mà ai cũng yêu mến và kính trọng Ngài như cha sinh ra họ vậy.
Kết luận: Qua tác phong đạo hạnh trong đời sống thường nhựt, Đức Khổng Tử thấy Ngài không phải là một thường nhân mà chính là một Thánh nhân, thà chịu nghèo để sống thanh bần, không để cho danh lợi, địa vị quyền tước lôi cuốn, chi phối. Ngài thà từ quan về nhà dạy học trò bởi vì cái Đạo của Ngài thuộc vương đạo nên không được các vua chúa trọng dụng vì họ chuyên về bá đạo, thích chiến tranh, giết hại lẫn nhau, không tôn trọng đạo đức nhơn nghĩa. Tuy nhiên học thuyết của Ngài được lưu truyền khắp Á Đông, cả đến Tây Phương cũng nghiên cứu học hỏi. Ngài được sùng bái là “Vạn thế sư biểu”, tức tấm gương sáng cho ngàn đời sau noi theo.
Tập 11
Tập 12
Tập 13
Tập 14
Tập 15
Tập 16
Phương pháp giảng huấn mà đức Khổng Tử đã áp dụng trong cuộc đời dạy học của Ngài cho đến ngày nay vẫn còn được khoa sư phạm (pedagogy) lưu ý học hỏi để áp dụng, nhất là ở những nước có tự do dân chủ và nền giáo dục mang nhiều tính chất nhân bản. Phương pháp giảng huấn của Khổng Tử không được ghi chép thành văn nhưng người đời sau có thể suy ra từ những gì mà các đệ tử của Ngài ghi lại về cuộc đời dạy học của Ngài. Có thể tóm tắt những nét chính trong phương pháp giảng huấn của ông thầy vĩ đại này như sau:
1. Thương từng người học trò; hiểu rõ từng cá nhân mỗi người; giúp mỗi cá nhân phát triển tựa trên hoàn cảnh và điều kiện của mỗi người. Đây là một điểm tâm lý sư phạm rất đáng được lưu ý. Ngày nay nhiều nhà tâm lý sư phạm vẫn đề cao đường lối “cá nhân giáo huấn” (individualized instruction) vì người ta thấy rằng mỗi người có một đời sống tâm lý (nhất là tính tình, nhân cách, trí tuệ…) cũng như một môi trường sinh sống (hoàn cảnh gia đình và xã hội) đặc biệt của mình, không ai hoàn toàn giống ai cả. Do đó khi áp dụng một chương trình học duy nhất, cứng rắn cùng một cách giảng dạy như nhau cho cùng một số đông người thì kết quả của công trình giảng dạy, học tập (teaching / learning process) sẽ không được tốt đẹp lắm. Đáng lý ra người ta phải có một chương trình học và một phương pháp giảng dạy thích hợp cho mỗi cá nhân học sinh nhưng việc đó không thể nào thực hiện được cho nên người ta phải tạm dùng cách chuyên môn hóa (specializing) phân chia các ban, phân chia học sinh ra từng lớp hay từng nhóm có trình độ gần nhau để công việc giảng dạy / học tập có kết quả hơn. Tạo cơ hội đồng đều (equal opportunity) để mọi người đều được hưởng quyền giáo dục, tức là không kỳ thị, không loại bỏ một ai là điều cần phải có trong một nền giáo dục nhân bản, nhưng điều đó không có nghĩa là phải xem tất cả các người đi học đều giống hệt như nhau và đều bằng nhau về phương diện khả năng thu nhận và học tập.
2. Vai trò của người thầy không phải là tạo ra những bộ óc cho người đi học, cũng không phải là để nhồi vào đầu óc người đi học một mớ kiến thức nào đó một cách máy móc và cũng không nên xem bộ óc con người như một tờ giấy trắng mà mình muốn vẽ cái gì lên đó cũng được.
Vai trò thực sự đúng nghĩa của người thầy là người hướng dẫn, giúp đỡ cho người đi học có cơ hội và biết đường hướng để phát triển con người toàn diện. Ở bên trời Tây, và cũng xấp xỉ đồng thời với Khổng Tử, nhà hiền triết Socrates cũng có quan niệm tương tự như Khổng Tử về vai trò của giáo dục hay của người làm giáo dục. Socrates dùng một hình ảnh cụ thể hơn để nói rõ vai trò của kẻ làm thầy. Người làm thầy cũng làm công việc tương tự như người hộ sinh (đỡ đẻ). Người đó giúp cho đứa trẻ ra khỏi bụng mẹ để vào đời chớ người đó không phải là người sanh ra đứa bé.
3. Phương pháp giảng huấn của đức Khổng Tử đòi hỏi phải dựa trên thực tế và có phần thực hành trong việc học chứ không phải chỉ có tính cách lý thuyết suông. Phương pháp đó dùng lối đối thoại, dùng cách hỏi và trả lời giữa trò và thầy khiến cho sự học vấn giáo dục trở nên linh động, gần gũi đi liền với cuộc sống thật sự ở ngoài đời. Với mỗi đệ tử trong mỗi hoàn cảnh, Khổng Tử có câu trả lời khác về cùng một vấn đề, vì phải tùy lúc, tùy người, tùy hoàn cảnh mà có cách giải đáp cho sát với thực tế. Lý thuyết và thực hành cần phải đi đôi với nhau thì cái học mới hữu dụng.
Tập 1
Tập 2
Tập 3
Tập 4
Tập 5
Tập 6
Tập 7
Tập 8
Tập 9
Tập 10
Đức Khổng Tử sanh vào khoảng 551 trước công nguyên ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, và mất vào đời vua Ai Công, nước Lỗ, khoảng 478 trước công nguyên, thọ 73 tuổi. Ngài mất rồi, học trò thương khóc thảm thiết, ai cũng để tâm tang ba năm, lại có đến hơn 100 người làm nhà ở gần mộ Ngài đến hết tang. Đức Khổng Tử dạy được 3000 môn đệ, trong đó có 72 vị xuất sắc, gọi là thất thập nhị hiền.
Đức Khổng Tử lấy đạo luân thường làm tôn chỉ của Đạo Ngài:
Luân là ngũ luân, năm giềng mối trong gia đình và xã hội: đạo vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em và bậu bạn. Thường là ngũ thường, gồm năm đức tánh ở nơi con người: nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín.
Đạo luân thường do các Thánh hiền xưa để lại và chính Đức Khổng Tử san định và hệ thống hóa cho dễ giảng dạy và học hiểu.
Những sách của Khổng Giáo gồm có Tứ Thư: Đại Học, Trung Dung, Luận Tử và Mạnh Tử. Ngũ Kinh gồm có Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Nhạc và Kinh Xuân Thu.
Triết lý của Khổng giáo gồm hai phần: hình nhi hạ học và hình nhi thượng học.
Hình nhi hạ thuộc về phần công truyền, dạy cho tất cả hàng môn đệ về nhơn sinh triết học, học vấn, tu thân tề gia, xử thế tiếp vật, phục vụ nhơn sanh làm gốc.
Hình nhi thượng là phần tinh ba, tâm truyền của Khổng Giáo. Ngài chọn một số môn đệ có trình độ tri thức cao mà trao truyền đạo lý thâm sâu huyền bí của Tạo Hóa.
Bài nầy chúng tôi chỉ trình bày chơn dung của Đức Khổng Tử, Giáo chủ của Nho Giáo, gồm hai phần về tướng mạo và tác phong đạo đức của Ngài để chúng ta noi gương Ngài. Ơn Trên có dạy người tu hành muốn làm Tiên Phật thì phải học và bắt chước hành động gương mẫu của hàng Tiên Phật mới về sống chung được với các Ngài ở Bồng Lai Tiên cảnh.
1. Tướng mạo: Người cao lớn, có tướng ngũ lộ (mắt lồi, lỗ mũi rộng, lộ hầu, tai bạt, răng hở). Mặt to và có những vạch như quả dưa chín. Bàn tay hổ, ngực rùa, râu rậm, mồm rộng, miệng nói tươi, đi nhanh.
2. Tác phong: Ngài ôn hòa, nghiêm trang và kính cẩn. Uy mà không dữ, kính cẩn mà an vui tự nhiên. Lúc nào Ngài cũng khoan thai, ung dung và bao giờ cũng có cái vẻ mặt tự nhiên, tươi tỉnh an vui. Những khi ăn uống, nằm nghỉ, luôn ngay chính, kín đáo. Đối với vua quan, tới lui rất cung kính, điều gì cũng giữ cho hợp lễ phép, cẩn thận từ li từ tí để bày tỏ cái đạo của người quân tử. Lúc động lúc tĩnh đều có thể làm gương cho người bắt chước.
Ngài là người rất nhân hậu. Thấy ai đau đớn buồn rầu thì Ngài cũng động lòng thương xót. Ngồi ăn bên cạnh người có tang thì Ngài ăn không no. Ngày nào đã đi phúng điếu về thì suốt cả ngày không đàn hát (dù tính Ngài thích đàn hát).
3. Cái chí: Một hôm Thầy Tử Lộ, đệ tử ruột của Ngài, hỏi Ngài rằng: “Đệ tử muốn biết cái chí của Phu Tử thế nào?”
Ngài trả lời rằng: “Lấy sự yên vui mà đối với kẻ già cả, lấy sự tin mà đối với bạn bè, lấy sự yêu mến mà đối đãi với trẻ thơ.” (Luận Ngữ, Công Dã Tràng)
4. Cách học: Ngài rất hiếu học. Ngài nói rằng: “Ta không phải là người sanh ra đã biết, chỉ là người thích đạo của Thánh hiền ngày trước, cố sức mà cầu học lấy được.”
Ngài hết lòng dạy bảo người ta. Ngài nói: “Thầm lặng nghĩ ngợi mà biết mọi lẽ, học mà không chán, dạy người mà không mỏi, ba điều ấy, ta có điều gì hơn người đâu!” Bất cứ điều gì, Ngài cũng để chí học cho hiểu, hoặc để biết điều hay mà theo hoặc để biết điều dở mà sửa mình.
Tánh Ngài rất hiếu học và không thẹn học hỏi với những kẻ khác ngang hoặc dưới mình. Ngài có cho biết: “Ta từ 15 tuổi đã có chí lo học, qua 30 tuổi mới biết rõ lễ, đến 40 tuổi thì hết mê lẫn…”
Ngài học điều gì cũng cẩn thận, không khinh suất. Ngài nói rằng: “Có người chẳng biết rõ nghĩa lý gì đã làm chứ ta thì không thế. Nghe nhiều, rồi chọn điều mà theo, thấy nhiều mà nhớ lấy, để xét cho rõ cái hay cái dở, thì cũng đã cho là biết vậy.” (Luận Ngữ, Thuật Nhi VII)
5. Cái lo: Bình sinh lúc nào Ngài cũng lo việc sửa mình cho ngay chính. Ngài nói rằng: “Đức của mình không sửa cho tốt, học của mình không giảng cho rõ, nghe điều nghĩa mà không theo được, nghe điều dở mà không sửa đổi được, đó là cái lo của ta vậy.”
6. Khiêm tốn: Ngài quả thật là một người chí thánh, chí chơn, nhưng Ngài vẫn khiêm tốn, không dám nhận mình là Thánh, là nhân. Ngài nói rằng: “Nếu bảo ta là Thánh, là nhân, thì ta sao dám đương, nhưng ta làm việc Thánh, việc nhân không chán, dạy người không mỏi, có thể bảo ta được thế mà thôi.”
7. Đối với học trò: Đức Khổng Tử rất cởi mở dễ dãi. Hễ ai theo đúng lễ thì không bao giờ Ngài từ chối dạy bảo. Sự giáo hóa của Ngài có cái chủ ý làm cho sáng cái đức sáng của người ta, chớ không phải chỉ đem cái biết của mình mà trao cho người ta. Ngài dùng cách làm cho người ta tự mình hiểu được mọi lẽ phải trái. Ngài nói rằng: “Ta có biết gì không? Không biết gì cả! Không biết gì cả! Có người quê kệch đến hỏi ta, ta không không như không biết gì, đem đầu đuôi trước sau mà nói, làm cho người ấy biết hết mọi lẽ.” (Luận Ngữ, Tử Hãn IX)
Đó thật là một cái phương pháp giáo hóa rất hay để mở rộng cái biết của người ta vậy.
Đối với học trò, không bao giờ Ngài làm việc gì mà không cho mọi người biết. Ngài bảo rằng: “Các anh tưởng ta có giấu gì các anh chăng? Ta không giấu các anh điều gì cả, ta không làm điều gì mà không cho các anh biết. Thực tế là vậy.”
Ngài ôn hòa và thành thực như thế, cho nên học trò rất đông, mà ai cũng yêu mến và kính trọng Ngài như cha sinh ra họ vậy.
Kết luận: Qua tác phong đạo hạnh trong đời sống thường nhựt, Đức Khổng Tử thấy Ngài không phải là một thường nhân mà chính là một Thánh nhân, thà chịu nghèo để sống thanh bần, không để cho danh lợi, địa vị quyền tước lôi cuốn, chi phối. Ngài thà từ quan về nhà dạy học trò bởi vì cái Đạo của Ngài thuộc vương đạo nên không được các vua chúa trọng dụng vì họ chuyên về bá đạo, thích chiến tranh, giết hại lẫn nhau, không tôn trọng đạo đức nhơn nghĩa. Tuy nhiên học thuyết của Ngài được lưu truyền khắp Á Đông, cả đến Tây Phương cũng nghiên cứu học hỏi. Ngài được sùng bái là “Vạn thế sư biểu”, tức tấm gương sáng cho ngàn đời sau noi theo.
Tập 11
Tập 12
Tập 13
Tập 14
Tập 15
Tập 16
Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012
Sách: Work the System: The Simple Mechanics of Making More and Working Less
Bản tóm tắt này không có sẵn. Vui lòng
nhấp vào đây để xem bài đăng.


22:40
Hoàng Phong Nhã

