Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015

NGƯỜI VIỆT NAM & “ĐẠO GIÊ-SU” - NMQ - 10

CHƯƠNG 9



XVIII. - NỀN ĐẠO LÝ PHẢN NHÂN LUÂN
Để giúp cho độc giả dễ dàng nhìn ra tài nghệ bịp bợm và đặc tính phản nhân luân của Giáo Hội La Mã, người viết xin trình bày hai vấn đề trái ngược của hai nền đạo lý: (1) mục tiêu đào luyện con người trong Nho Giáo trái ngược với mục tiêu đào luyện con người của ông Chúa Con Jesus trong đạo Da-tô, và (2) một số lời dạy của nhà Phật và của Nho giáo hoàn toàn trái ngược với lời dạy của Giáo Hội La Mã.

I.- Mục tiêu đào luyện con người:
A.- Mục tiêu đào luyện con người của Đức Khổng Tử trong đạo Nho. Mục tiêu này được Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ (một tín đồ Da-tô đã thức tỉnh) viết:
Khi nói rằng Thánh-nhân có thể làm cho thiên hạ hợp thành một nhà, Trung Quốc trở thành như một người, không phải nói là Thánh-nhân có thể thực hiện được nguyên bằng ý chí. Muốn đạt được mục phiêu ấy, cần biết rõ nhân tình. Giảng dạy cho họ biết bổn phận và giải thích cho họ biết thế nào là lợi hại.
Nhân tình là gì? Nhân tình là hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục (vui, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, muốn). Bảy tình đó chẳng cần học cũng vẫn có.
Thế nào là bổn phận làm người? Bổn phận làm người có mười điều là “Cha phải hiền, con phải thảo, anh phải tốt, em phải ngoan, chồng phải biết điều, vợ phải biết nghe, người trên phải rộng rãi, người dưới phải kính thuận, vua phải nhân, tôi phải trung (Phụ từ, tử hiếu, huynh lương, đệ đễ, phu nghĩa, phụ thính, trưởng huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung, thập giả vị chi nhân nghĩa). Cố gắng tu nhân tích đức, gây niềm hòa hiếu, đó là cái lợi cho con người. Tranh đoạt tàn sát lẫn nhau, đó là cái hại cho con người. Phương pháp bình trị con người của Thánh-nhân tức là dạy dỗ mười bổn phận làm người, dạy họ tu đức lập thân, gây niềm hòa hiếu, tránh mọi sự tranh đoạt.”[i]
B.- Mục tiêu đào luyện con người của Chúa Jesus.- Mục tiêu này được ghi rõ ràng trong Matthew (10: 34-37) với nguyên văn như sau:.
Ta đến đây không phải mang lại sự bình an, mà là mang gươm dáo. Ta đến để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng và làm cho người trong nhà trở thành thù địch chống lại nhau. Kẻ nào yêu kính cha mẹ hơn ta thì không đáng gì đối với Ta, và kẻ nào yêu thương con cái hơn Ta cũng không đáng gì đối với Ta. ” Nguyên văn: “Do not think that I came to bring peace on earth. I did not come to bring peace but a sword.” “For I have come to set a man against his father, a daughter against her mother, and a daugher-in-law against her mother-in–law.” “And a man’ s foe will be be of his own household.” “He who loves father or mother more than Me is not worthy of Me. And he who loves son or daughter more than Me is not worthy of Me.”

II.- Lời khuyên răn người đời :
A .- Mười lời khuyên dạy của Đức Như Lai như sau:
1.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
2.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
3.- Chớ vội tin vào điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.
4.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay trong sách vở.
5.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.
6.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình
7.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
8.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với định kiến của mình.
9.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
10.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình truyền thuyết.”[ii].
B.- Những lời dạy dỗ tín đồ của Giáo Hội La Mã: Dưới đây là những lời dạy dỗ của Giáo Hội La Mã mà tất cả mọi giáo dân ngoan đạo (cuồng tín), đều phải tuân thủ:
”Niềm tin tôn giáo không cần đến lý trí”.
"Phúc cho ai không thấy mà tin",
“Vâng lời quý hơn của lễ
“Chỉ cần có một niềm tin bằng hạt cải thì có thể bê cả trái núi quăng xuống biển”
“Phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Tòa Thánh Vatican”
“Phải triệt để vâng lời và tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên” ,
“Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết”.
“Cha (linh mục) là đại diện của Chúa”. “Phải coi Cha như Chúa”. Những gì Cha nói và hành động là nói và hành động theo ý Chúa”.
“Nếu các Cha có làm gì sai trai, thi đã có Chúa phán xét”. Là giáo dân ngoan đạo, không được bàn tán và nói hành nói tỏi các Cha.
“Bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu các Cha, tức là bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu Chúa và sẽ bị Chúa trừng phạt đàng xuống gỏa ngục đời đời”.
“Chỉ công nhận quyền lực của Tòa Thánh Vatican, chỉ công nhận các chính quyền Liên Minh với Tòa Thánh Vatican và các chính quyền bù nhìn làm tay sai cho Vatican hay các thế lực liên minh với Vatican.”

So sánh các lời dạy A với B trong cả I và II, chúng ta thấy rõ :
1.- Mục tiêu đào luyện con người trong Nho Giáo hoàn toàn trái ngược với mục tiêu đào luyện con người trong đạo Da-tô: Trong khi Đức Khổng Tử dạy đời phải “Cha phải hiền, con phải thảo, anh phải tốt, em phải ngoan, chồng phải biết điều, vợ phải biết nghe, người trên phải rộng rãi, người dưới phải kính thuận, vua phải nhân, tôi phải trung…. ”, thì ông Jesus và đạo Da-tô lại dạy tín đồ rằng Chúa Ki-tô Jesus đến với thế gian là “để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng và làm cho người trong nhà trở thành thù địch chống lại nhau.”.
2.- Những lời khuyên răn trong Phật Giáo hoàn toàn trái người với những lời dạy dỗ tín đồ của Giáo Hội La Mã: Nhà Phật chủ trương khuyên dạy người đời hãy nên dùng lý trí, suy cho kỹ, nghĩ cho cùng trước khi tin tưởng một cái gì hay trước khi phát ngôn cũng như trước khi hành động, chớ nên vội vã nhắm mắt tin vào một cái gì mà không suy nghĩ. Vì thế mà các bậc trí giả Tây Phương mới gọi đạo Phật là đạo của trí tuệ.
Trong khi đó thì Giáo Hội La Mã lại dạy dỗ tín đồ và người đời cứ nhắm mắt mà tin, không nhìn thấy cũng tin, niềm tin không cần đến lý trí, càng nhắm mắt mạnh tin vào tín lý Ki-tô và lời dạy của Giáo Hội, thì những tín điều đó càng có hiệu lực. Cái lối rao truyền và dạy dỗ tín đồ như vậy của Giáo Hội La Mã quả thật không khác gì mấy anh làm nghề mãi võ bán thuốc Sơn Đông mà chúng ta thường thấy trong xã hội Đông Phương, và cũng không khác gì bọn đồng bóng và thày cúng cấu kết với bọn cường hào ác bá ở trên bờ khúc sông Chương Thuỷ thuộc nước Ngụy ở Trung Quốc trong thời Đông Châu bịa đặt ra chuyện ông thần hà bá ở khúc sông này muốn mỗi năm cưới một cô vợ vừa trẻ vừa đẹp. Cũng vì thế mà học giả Da-tô Charlie Nguyễn mới gọi đạo Da-tô là “đạo bịp”. Dưới đây là nguyên văn của ông Charlie Nguyễn nói về thành tích "bịp" của Giáo Hội La Mă:
"Cho nên người ta gọi Công Giáo là đạo bịp hay đạo dối, thật không sai chút nào. Nếu phải kể cho hết những chuyện bịp của Công Giáo chắc phải viết một tràng thiên tiểu thuyết thì may ra mới tạm đủ. Riêng về chuyện Thánh Phêrô là giáo hoàng đầu tiên cũng có hàng chục chuyện bịp. Chẳng hạn cái được gọi là "Chiếc ghế Phêrô" (Chair of Peter) cốt để mọi người tin rằng Công Giáo là đạo chính truyền của chúa Jesus qua thánh Phêrô. Vào tháng 7 năm 1968, một phái đoàn khoa học quốc tế đã đến tận Tòa Thánh giảo nghiệm phương pháp carbon (carbon dating method) đã xác nhận rằng chiếc ghế này được ngụy tạo trong thế kỷ 9. Còn tượng thánh Phêrô bằng đồng đen rất lớn đứng gần bàn thờ chính trong Đền Thánh Phêrô đã được toàn Giáo Hội Công Giáo tôn kính nhiều thế kỷ qua hàng triệu triệu người đã quỳ mọp hôn chân tượng này. Các nhà khoa học và khảo cổ đã xác định bức tượng này là tượng thần Jupiter của các hoàng đế thời cổ La Mã vài thế kỷ trước khi Jesus ra đời! (Babylon Mystery Religion, p. 78). Chúng ta thường nghe Vatican khoe khoang rằng "Giáo Hoàng là đấng thừa kế ngôi vị của Thánh Phêrô" (Saint Peter's Sưccessor), nhưng có lẽ ít ai biết giáo hoàng nào là người đầu tiên nêu lên danh hiệu này..."[iii]
Bịp đã trở thành bản chất của Tòa Thánh Vatican và đã lên men trên nét mặt các ngài mang chức thánh trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã cũng như trên nét mặt các ông văn sử nô Da-tô.
Những người biết sử dụng lý trí đều nhận thấy rằng hầu hết những lời dạy trong Cựu Ước, trong Tân Ước cùng như trong thánh lệnh của Tòa Thánh Vatican và trong những lời dạy của Giáo Hội La Mã đều có chứa đựng ít nhiều bịp bợm để mê hoặc và lừa gạt người đời hầu thủ lợi.
Xin hiểu từ “bịp” ở trên đây là :
a.- Bưng bít những sự kiện muốn bưng bít và bịa đặt ra những điều tốt đẹp để hoặc là đánh bóng Giáo Hội La Mã và bọn tay sai của Giáo Hội, hoặc là để gièm pha và làm hạ giá những thành phần bị Giáo Hội cho là chống đối hay bất lợi cho Giáo Hội.
b.- Diễn dịch một cách lươn lẹo để bóp méo sự thật và xuyên tạc lịch sử với cùng mục đích như trường hợp a ở trên.
Nói đến tài nghệ bịp bợm của Giáo Hội La Mã, người viết xin kể ra đây một vài chuyện hoang đường trong Kinh Thánh Ki-tô mà Giáo Hội La Mã chủ trương đòi hỏi tín đồ phải đọc hằng tuần hàng ngày cho đến khi nhập tâm, không bao giờ quên được. Những câu chuyện kể trong "Phúc Âm" nhiều lúc rất mâu thuẩn với hình ảnh đẹp của Chúa Giêsu như hiền lành, nhân từ và toàn thiện mà chính Giáo Hội thường cao rao. Chuyện Giáo Hội bịa đặt ra ông Chúa Con Jesus có tài biến hóa đủ mọi thứ mà Giáo Hội cao rao quảng bá để có thể làm cho tín đồ lầm tưởng rằng Chúa Jesus mà tôn vinh thờ cúng quả thật là có phép tắc vô cùng để rồi thán phục và dành trọn cảm tình cho"Thiên Chúa", nghĩa là cho Giáo Hội. Đây là một vấn đề cần được phân tích để tìm ra chân lý hay ý đồ của Giáo Hội.
1- Chuyện Chúa Jesus hóa phép năm cái bánh và hai con cá thành một khối lượng bánh và khối lượng cá nhiều đến nỗi cả hơn 5 (năm) ngàn người ăn cũng không hết: Chuyện này được sách (Matthiew 14:15-21) viết như sau:
"Buổi chiều tối, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Ở đây vắng vẻ, và trời tối rồi, xin thầy cho dân chúng về, để họ đi vào các làng đặng mua đồ ăn. Đức Chúa Jesus phán rằng: Không cần họ phải đi; chính các ngươi hãy cho họ ăn. Môn đồ thưa rằng: Chúng tôi có đây năm cái bánh và hai con cá mà thôi. Ngài phán rằng: Hãy đem đây cho ta. Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống trên cỏ, đoạn, lấy năm cái bánh và hai con cá đó, ngửa mặt lên trời và tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng. Ai nấy đều ăn no, còn bánh thừa lại thâu được đầy 12 giỏ. Số người ăn ước chừng năm ngàn, không kể đàn bà con nít." (Matthiew 14:15-21)
2.- Chuyện Chúa Jesus hóa phép làm cho cây vả (sung) khô héo: Chuyện này cũng được ghi rõ ràng trong sách Matthiew như sau:
"Sáng mai, khi trở lại thành thì Ngài đói. Thấy một cây vả ở bên đường, Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy những lá mà thôi, thì Ngài phán rằng: Mày chẳng khi nào sinh ra trái nữa! Cây vả tức thi khô (héo) đi. Môn đồ thấy điều đó, lấy làm kỳ, nói rằng: Cớ sao trong giây phút mà cây vả liền khô đi vậy? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ chi hết thì chẳng những các ngươi làm được điều đã làm cho cây vả mà thôi, song dầu các ngươi biểu hòn núi này rằng: Hãy cất mình lên và quăng xuống biển, điều đó cũng sẽ làm được. Trong khi cầu nguyện các người hăy lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thẳy đều được." (Matthiew 21: 18-24)
Đọc qua hai chuyện này, những người có lý trí không thể nhịn cười được vì nó vừa hết sức tiếu lâm vừa hàm chứa ý đồ bịp bợm một cách quá trơ trẽn và hết sức trắng trợn.
Chuyện 1 cho ta thấy rằng ông Chúa Jesus có khả năng biến hóa năm cái bánh và hai con cá cho hơn năm ngàn người ăn mà vẫn còn thừa tới 12 giỏ bánh. Nhưng chuyện 2 lại cho thấy ông ta bất lực không thể biến hóa ra thức ăn để mà ăn, không thể làm cho cây vả (cây sung) có trái cho ông ta ăn đỡ khi đói lòng.
Giáo Hội thường rao truyền rằng Chúa Jesus "toàn thiện" và "lòng lành vô cùng", Trong khi đó thì Chúa lại làm cho cây sung khô héo đi mà chết chỉ vì nó không có trái lúc ông đói lòng. Cây sung chỉ là một sinh vật thuộc loài thực vật, không thể làm hại ai, mà Chúa Jesus “lòng lành vô cùng” của đạo Da-tô cũng ban cho nó bản án tử hình. Hành động này cho chúng ta nhìn thấy rõ là cái tâm địa ác độc "không được ăn thì đạp đổ” của Chúa Jesus. Tâm địa của Chúa Jesus ác độc như vậy mà Giáo Hội lại dám nói rằng Chúa Jesus toàn thiện và lòng lành vô cùng! Như vậy, rõ ràngi là Giáo Hôi đã bịp tín đồ, bịp người đời và bịp dài dài cả gần hai ngàn năm nay! Vấn đề này cần phải được phân tích để cho mọi người có thể nhìn ra việc làm bịp bợm này của Giáo Hội:
a.- Ông Giêsu thực sự là người hiền, nhưng Giáo Hội muốn thị oai với con chiên nên mới bịa ra chuyện ông Jesus ác độc như vậy và gọi đó là Phúc Âm. Trong trường hợp này, không ai chối cãi được Giáo Hội La Mã đã có hành động bịp bợm. Điều đáng buồn cho tín đồ thờ ông Jesus vì rằng hành động bịp này của Giáo Hội đã vô tình hay cố ý vu khống cho ông Jesus cái tội ác giết chết cả cây sung hiền lành. Hành động vu không để bội nhọ ông Jesus như vậy quả thật là hết sức nghiêm trọng. Cả đến Chúa Jesus mà Giáo Hôi cũng không buông tha, cũng vẫn vu khống và bôi nhọ, miễn là có lợi cho Giáo Hội.
b.- Ông Giêsu thực sự có tài hoá phép giết hại sinh vật nào làm cho ông ta không ưa hay thù ghét, nhưng Giáo Hội lại nói láo với con chiên rằng ông ta hiền lành toàn thiện. Trong trường hợp này, Giáo Hội cũng là tay tổ sư bịp mà không có ai có thể chối cãi được.
Ở trường Chúa Jesus làm cho cây sung khô héo và chết đi, nếu Chúa Jesus để cho cây sung sống, thi tới thời điểm thích hợp (tới mùa), nó sẽ sinh trái để cho những người khác ở trong vùng hưởng dụng, nhưng Chúa Jesus đã không làm như vậy. Trái lại, ông ta đã hành động theo phương châm “Không được ăn thì đạp đổ”.
Cái triết lý “không được ăn thì đạp đổ” này đã được Giáo Hội La Mă dùng làm “sách lược hành động” để đánh phá những chính quyền của những quốc gia mà (1) quyền lực và đặc quyền đặc lợi của Giáo Hội đã bị truất bỏ, (2) người lãnh đạo chính quyền không phải là người do Giáo Hội đưa lên. Đây là trường hợp của Việt Nam trong các thời vua Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1840-1847), Tự Đức (1847-1883) và từ năm 1975 cho đến ngày nay.
Chính quyền Việt Nam hiện nay ở vào cả hai trường hợp trên đây, cho nên mới bị Giáo Hội và tín đồ Da-tô “ngoan đạo” người Việt đã liên tục sử dụng sách lược này từ năm 1975 để đánh phá chính quyền và đất nước Việt Nam bằng mọi giá.
Sự thật về những thủ đoạn và hành động bịp bợm của Giáo Hội rành rành như vậy! Ấy thế mà TẠI SAO tín đồ Da-tô lại không nhìn thấy?
Phải chăng tín đồ Da-tô người Việt đã nhắm mắt nghe theo lời dạy “Niềm tin không cần đến lý trí”, cho nên họ mới không nhìn thấy những thủ đoạn bịp bợm trong lời dạy lưu manh này của Vatican?
Phải chăng vì máu tham ham chạy theo miếng mồi “Chúa sẽ trả ơn”, “Chúa sẽ đền ơn” và “quyền lực sẽ được trao cho họ khi mà Giáo Hội có thể lật đổ chính quyền hiện nay để đưa tín đồ Da-tô lên cầm quyền”, đã làm mờ mắt họ, cho nên họ mới không nhìn ra những thủ đoạn và hành động bịp bợm này của Giáo Hội La Mã?
Phải chăng chính sách ngu dân của Giáo Hội La Mã đã làm tê liệt hết tất cả các tế bào lý trí trong não bộ của tín đồ Da-tô người Việt khiến cho họ không còn khả năng thông minh để tìm hiểu sự vật, cho nên họ mới không nhìn ra những thủ đoạn và hành động bịp bợm này của Giáo Hội La Mã?
Phải đợi đến khi họ thức tỉnh thoát ra khỏi “cái ngục tù ngu dốt” mà Giáo Hội đã giam hãm ở trong đó, thì họ mới có thể nhìn ra những thủ đoạn và hành động bịp bợm này của Giáo Hội. Đây là trường hợp cúa.Giám-mục Desmond Tutu ở Phi Châu, khi thức tỉnh, ông đã nhìn ra thủ đoạn bịp bợm này của Giáo Hội và kể lại cho nhân dân thế giớ biết. Dưới đây là lời kể lại của Giám-mục Tutu:
Chúng tôi có đất đai và họ đến với cuốn Thánh Kinh của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Thánh Kinh trên tay, nhắm mắt cầu nguyện. Khi chúng tôi mở mắt ra, thì chúng tôi có cuốn Thánh Kinh và họ có đất đai của chúng tôi.” Nguyên văn: “We have our lands and they came with their Bible. We believed in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we open our eyes, we have the Bible and they have our land.”[iv]
Và đây cũng là những trường hợp của Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ, của ông Charlie Nguyễn, của Linh-mục Trần Tam Tỉnh, của ông Giuse Phạm Hữu Tạo và hàng ngàn nhà trí thức Da-tô khác mà các tác phẩm của họ đã được chúng tôi dùng làm tài liệu tham khảo để biên soạn tập sách này và bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.

XIX.- ĐẶC TÍNH LÁ MẶT LÁ TRÁI CỦA GIÁO HỘI LA MÃ
Bộ mặt thật về lá mặt lá trái hay tráo trở của Giáo Hội La Mã cũng cần phải được trình bày rõ ràng để mọi người cùng biết. Có rất nhiều bằng chứng về vấn đề này. Một trong những bằng chứng rõ rệt nhất là việc Tòa Thánh Vatican đã kết tội người thiếu nữ anh hùng của dân tộc Pháp tên là Jeanne d’ Arc (1412-1431) với những tội danh như là một “con mụ phù thủy” và “tà đạo”, bằng cách biến hóa bà ấy vốn là một nữ anh hùng của nước Pháp thành một người vô cùng độc ác. Rồi xuyên suốt cả gần năm thế kỷ, thấy rằng dân tộc Pháp, dù hơn 90% là tín đồ của Giáo Hội, cũng vẫn tôn vinh người thiếu nữ anh hùng này lên hàng cứu tinh cúa Dân tôc [one of the three saviours of France: Jeanne d’ Arc (1412-1431), Napoléon I (1769-1821) và Charles de Gaulle (22/11/1890- 9//11/1970] Giáo Hội quay ra biến hóa Bà thành một vị thánh của Giáo Hội. Người ta có thể bảo đầy là một sự lầm lãn của Giáo Hội khi kế tội bà là phù thủy và thiếu sống bà cho đến chết. Thế nhưng, chính Giáo Hội lại tự phong là “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền”, là “Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người” và cũng chính Giáo Hội đã dạy dỗ tín đồ rằng “Giáo Hoàng không lẫm lẫn”. Trong vụ án Jeanne d'Arc, chúng ta thấy rõ ràng là cả Giáo Hội và Giáo Hoàng đều lầm lẫm. Như vậy thì có phải là Giáo Hội đã ăn không nói có, đổi trắng thay đen, tráo trở, lật lọng, trở mặt như trở bàn tay không?
Những hành động của Giáo Hội La Mã đối với Bà Jeanne d’ Arc cho chúng ta thấy rõ cái bản chất lá mặt lá trái và đặc tính nhận vơ “thấy người sang bắt quàng làm họ” của Giáo Hội.
Nhân tiện đây, cũng nên nói rõ là nền văn minh Tấy Phương với những tư tưởng tiến bộ về phát minh cùng những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật như ngày nay là nhờ có những công trình đóng góp tim óc của các bậc vĩ nhân trong các thời kỳ mà sách sử gọi là Thời Kỳ Phục Hưng và Cải Cách Tôn Giáo (The Renaissance and Reformation –1309-1648, Thời Đại Khoa Học và Lý Trí (Science and the Age of Reason 1500 -1789), cũng gọi là Thời Đại Khai Sáng (The Enlightenment), Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ (The Age of Democratic Revolutions – 1603-1815). Đó là các nhà học như Johannes Kepler (1571-1630), Galileo Galilei (1564-1642), Isaac Newton (1642-1727), John Lock (1632-1704), Voltaire (1694-1778) [tên thật là Francois Arouet], Dennis Diderot (1713-1784), Montesquieu (1689-1755) Jean Jacques Rousseau (1712-1788), Albert Einstein (1879-1955), v.v…, Tất cả các vĩ nhân trên đây đều hầu như hoàn toàn không tin tưởng vào hệ thống tín lý thần học Ki-tô, hoàn toàn không tin vào cái đạo cứu rỗi bịp bợm của Giáo Hội La Mã, và đều chống Vatican. Cũng vì thế mà Giáo Hội thù ghét họ đến tận xương tận tủy, gọi họ là những phần tử “vô thần”, những tên “chống Chúa”, những phường “phản Chúa:, “phản đạo” và “lạc đạo”. Cũng may là, ngoại trừ nhà bác học Galileo Galilei, các bậc vĩ nhân này đều sống ở ngoài vòng kiểm soát của Tòa Thánh Vatican, cho nên họ mới có thể tiếp tục trước tác hay phát minh được không biết bao công trình vĩ đại, góp phần vào cuộc cuộc phát triển văn minh sáng chói như ngày nay mà ta thường gọi là nên văn minh Tây Phương. Nhờ vậy, nền văn minh nhân loại càng ngày càng trở nên tiến bộ và phong phú. Giả thử như chẳng may họ phải sống ở trong vòng kiểm soát của Giáo Hội như trong Thời Trung Cổ (476-1500) mà các nhà viết sử gọi là Thời Kỳ Hắc Ám (the Dark Ages), thì số phận của họ cũng đã bị tóm cổ, đem trói vào một cái cột ở giữa đống củi khô, rồi châm lửa thiêu sống cho đến chết cháy thành than, giống như số phận của các nạn nhân của Giáo Hội như John Huss (1373-1415), Jeanne d’ Arc (1412-1431) Savonarola Girolamo (1452-1498), Bruno (1548-1600), Galileo Galilei (1564-1642) [bị tù chung thân và giam hãm cho đến chết] và hàng trăm triệu nạn nhân khác của Giáo Hội ở Âu Châu và ở các thuộc địa của các đế quốc liên minh với Giáo Hội như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ.
Nếu như vậy, cho đến ngày nay, chắc chắn là nhân dân Âu Châu vẫn còn sống “trong ngục tù ngu dốt”, vẫn còn ngu xuẩn tin rằng “loài người là con cháu của hai cục đất sét có tên là Adam và Eva”, rằng “bà già xề Maria người Do Thái đã có chồng và một đàn 7 người con mà vẫn gọi gái đồng trinh”, rằng “mặt trời quay chung quanh trái đất”, rằng “Thiên Chúa Toàn Năng,” có thể biến hóa vô cùng, đã có thể “biến hoá hai con cá và 5 ổ bánh mì cho hơn năm ngàn người ăn không hết”, nhưng lại bất lực và lo sợ người ta thờ cúng quỷ Satan, bất lực không thể làm cho cây vả (sung) sinh trái khi Chúa ăn đỡ vào lúc đói lòng, rằng, “Thiên Chúa Toàn Thiện”, nhưng lại cực kỳ nhỏ nhen, nặng lòng đố kị, tị hiềm, cực kỳ độc ác và hết sức dã man như được mô tả trong các Leviticus (26: 1-18), Phục Luật (6:14, 12: 2-3, 13: 6-9, 21:18-21, 22:13-23), Dân số (31:28, 31:40), Xuất Hành (12:12, 13:12, 22:18, 20), v.v…
Thành tích của Giáo Hội La Mã chống lại văn minh nhân loại và đối xử tàn tệ với các bậc vĩ nhân có công lớn tạo nên nền văn minh Tây Phương là như vậy! Ấy thế mà cả Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô người Việt lại nhân vơ gọi nền văn minh Tây Phương là “nền văn minh Thiên Chúa Giáo”. Hành động nhân vơ như vậy cho chúng ta thấy Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô người Việt đều là những hạng người vô liêm sỉ đến cùng độ của vô liêm sỉ.
Tài nghệ “ăn không nói có” và “đổi trắng thay đen” của Giáo Hội La Mã quả thật là siêu việt trong lịch sử nhân loại, và đã được tín đồ Da-tô người Việt thụ giáo đến nơi đến chốn. Nhờ vậy mà đồ đệ ưu tú người Việt của Giáo Hội đã biến hóa tên bạo chúa Da-tô tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm thành một nhà ái quốc đã chết vì dân tộc bất kể là tên tam đại Việt gian tàn ngược họ Ngô này đã bị sách sử ghi nhận là một trong 100 tên bạo Chúa ác độc nhất trong lịch nhân loại.[v] Miệng lưỡi của Tòa Thánh Vatican và tín đồ Da-tô ngoan đạo người Việt là như thế đó!
Miệng Vatican có gang có thép,
Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm.[vi]

XX.- TÀI NGHỆ NÓI LÁO CỦA GIÁO HỘI LA MÃ
Đúng ra, nói láo cũng chỉ là một trong những tài nghệ bịp bợm của Giáo Hội La Mã. Nói láo cũng có thể hiểu là không nói thành có và có nói thành không. Thực ra, cái mửng bịp này đã trở thành bản chất của hầu hết tất cả mọi thành phần trong Giáo Hội. Trong pham vi giới hạn của tiêu mục này, người viết xin chỉ nói về nguyên nhân nào đã khiến cho tín đồ Da-tô ngoan đạo cũng trở thành những người bất khả tín và nói láo như cuội.
Theo sự hiểu biết của người viết, bản chất NÓI LÁO của tín đồ Da-tô là do:
1.- Noi gương của các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội.- Các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực trong Giáo Hội La Mã là từ giáo hoàng cho đến cac vi chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican, xuống tới các hông y, tổng giám mục, giám mục và linh mục cai quản các giáo phận và các họ đạo tại các quốc gia địa phương. Tất cả những người này đều là những người nói láo chuyên nghiệp, nói láo đến độ nếu chú cuội là nhân vật có thật thì chú cuội cũng phải ngả mũ chào thua. Bằng chứng rõ ràng nhất là tất cả các ngài trên đây đều chưa hề lên thiên đường bao giở cả và cũng chưa hề xuống hỏa ngục một lần nào. Ấy thế mà các ngài nói chuyện ở trên thiên đương và nói chuyện hỏa ngục giống y như là những người đã ở thiên đường lâu năm và y như những người mới từ địa ngục trở về.
2.- Bắt nguồn từ chuyện giáo luật của Giáo Hội bắt buộc giáo dân phải đên xưng tội với vị linh mục quản nhiêm ít nhất là một lần trong một năm. Nơi xưng tôi là một căn phòng nhỏ bé được thiết kế ở một góc trong nhà thờ. Phòng này có chiều dài không qua 2 thước và chiều ngang khoảng hơn 1 thước rưỡi. Khi xưng tội, tín đồ quỳ trước một vị linh mục ngồi trên một cái ghế trong cảnh nửa tối nửa sáng tạo nên cái vẻ âm u. Tín đồ tự kể ra những tội lỗi đã phạm phải trong thời gian từ lần xưng tội trước hay là từ thuở bé (nêu là xưng tội lần đầu tiên), rồi xin Cha (nhân danh Chúa) tha thứ cho. Dĩ nhiên, sau khi vừa nghe tín đồ xứng thú tội lỗi xong, vị linh mục ngồi tòa liền phán rằng nhân danh Chúa, tha thứ cho những việc làm tội lỗi của đương sự, và tiếp theo là khuyên đương sự phải hối lỗi và tạ lỗi bằng cách cầu nguyện và dâng lễ cầu nguyện để tạ ơn Chúa đã tha thứ cho những tội lỗi của họ.
Bề ngoài của giáo luật này là giúp cho tín đồ tự kiểm điểm lại bản thân nếu thấy đã phạm tội lỗi, thì đến nhà thờ xưng thú với Cha để nhờ Cha giải tội với hy vọng cho tâm hồn được thanh thản và trở thành người sống đời lương thiện, ngay thẳng thật thà.
Vấn đề đặt ra là, nếu Giáo Hội có thực tâm làm cho tín đồ sống đời lương thiện, thì Giáo Hội đã đào tạo ra giai cấp cán bộ (gọi là những người mang chức thánh) lương thiện để làm gương cho tín đồ noi theo mà hành xử. Thế nhưng, thực tế cho thấy rằng, trong suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội, từ thế 4 cho đến nay, các ông giáo hoàng cũng như các ông hồng y, giám mục và linh mục đều la những phường đạo đức giả, những hạng người đại gian đại ác, sống đời phóng đãng, loạn luân, loạn dâm, xúi giục tín đồ làm những chuyện phi nhân ác đức (khinh rẻ và tàn sát những người thuộc các tôn giáo khác, hủy diệt các công trình và di sản của các tôn giáo và văn hóa khác. Vấn đề này đã được trình bày đầy đủ nơi Mục III, Phần II trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.) Nói tóm lại, tất cả các ngài đều là những phường đạo đức giả.
Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Các đấng bề trên mà là những hạng người đạo đức giả, thì tất nhiên tín đồ cũng noi theo gương các ngài và trở thành hạng người đạo đức giả. Hơn nữa,i Giáo Hội luôn luôn dạy đõ tín đồ rằng “tốt khoe ra, xấu xa đậy lại” và “là người ngoan đạo phải có bổn phận giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật xẩy ra trong giáo xứ”, thì tất nhiên họ cũng phải triệt để tuân hành lời dạy “tốt khoe ra, xấu xa đạy lại”, cũng phải “giấu kín những chuyện tội lỗi của họ, không nên để cho người khác biết”. Vì thế, khi đến xưng tội, họ chỉ xưng thú, kể cho Cha biết những chuyện tội lỗi tầm phào vô hại mà thôi. Còn những tối lỗi tầy trời, dĩ nhiên là họ phải giấu kín và giấu thật kỹ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho tín đồ Da-tô trở thành những người nói láo hơn cuội..
Sự đời, chiếc huy chương nào cũng có bề trái của nó. Mục đính chính của Giáo Hội La Mã trong việc ban hành giáo luật cưỡng bách tín đồ phài đến xưng tội với vị linh mục quản nhiệm họ đạo mỗi năm một lần là để tạo cho giới linh mục có cơ hội trổ tài tán tỉnh gạ gẫm thông dâm với nữ tín đồ hầu có thể giải thoát tình trạng bế tắc về sinh lý. Có như vậy, họ mới không còn cảm thấy thèm muốn lập gia đình, và trở thành thích thú sống đời độc thân và tỏ lòng tuyết đối trung thành với Giáo Hội. Xin gọi biện pháp này là biện pháp giúp cho tu sĩ giải quyết vấn đề sinh lý bị dồn ép.
Biện pháp dã man này được cho ra đời vào thời điểm sau khi Giáo Hội đã điều nghiên tình trạng giới tu sĩ bị dồn ép về sinh lý, không có "nơi xả xú bắp", khiến cho họ có thể từ bỏ cuộc đời mang danh nghĩa là “mang chức thánh” nhưng chỉ "hữu danh vô thực" "có tiếng mà không có miếng". (Miếng đây có nghĩa là hường thụ thú vui nhục dục hay tình yêu lứa đôi trai gái.) Biện pháp này nhằm gây cho các ngài linh-mục, giám mục, hồng y cảm thất hứng thú trong cuộc đời làm linh mục vì lý do mà cựu giáo sĩ Peter de Rosa ghi lại như sau:
"Đệ Tứ Hội Nghị Lateran vào năm 1215 quyết định buộc giáo dân phải xưng tội với giáo sĩ hàng năm. Cũng tại Hội Nghị này, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) đưa ra quyết định chót về luật tu sĩ phải sống độc thân. Hai giáo luật này hợp lại làm nguy hại cho nền luân lý của cả giáo sĩ và giáo dân. Nó đưa đến tội lỗi mà giáo luật gọi là "gạ gẫm ", có nghĩa là một giáo sĩ lợi dụng lúc xưng tội để làm chuyện vô luân. Dĩ nhiên là Giáo Hội có những hình phạt vê tội lỗi này. Những hình phạt này dần dần trở nên nghiêm khắc hơn, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy có sự giảm bớt về số lần các ông giáo sĩ lợi dụng chức vụ để gạ gẫm các nữ tín đồ đến xung tội." Nguyên văn: “The Fourth Council of the Lateran in 1215 made it obligatory for lay people to confess annual to their priests. This was the same Council at which Innocent III gave celibacy its final form. The combination of these two rules was to prove harmful to the morals of both clergy and laity. It led to the sin known in canon law as "solicitation", that is a priest using confession for immoral purposes. Of course, penalties were imposed by the church. They became increasingly severe, but there is no evidence that they disminished the number of times priests took advantage of their position to make passes (tìm cách gạ gẫm) at their penitents.") [vii]
Việc sử dụng biện pháp dã man trên đây chứng tỏ Giáo Hội La Mã có dã tâm sử dụng nữ tín đồ như là miếng mồi dụ dỗ giới tu sĩ để lôi cuốn họ dấn thân vào hố sâu tội ác dâm loàn bất kể gì đến hạnh phúc gia đình của giáo dân. Sử dụng biện pháp này, tức là Giáo Hội đã cố tình tạo ra một môi trường thuận lợi để cho giới tu sĩ có cơ hội "gạ gẫm". "tán tỉnh" nữ tín đồ ở một nơi vắng vẻ "cấm ngoại thủy không ai được biết". Trong hoàn cảnh đó, nữ tín đồ đến xưng tội, hiện lên giống như một con nai tơ chờn vờn trước mặt con cọp đói đã nhịn ăn lâu ngày. Không biết luật xưng tội quy định nơi "xưng tội" như thế nào, mà trong thực tế, nơi xưng tội nằm trong khuôn viên nhà thờ (có thể gọi là phòng xưng tội) được bố trí trong ánh sáng mờ mờ ảo ảo và trong hoàn cảnh "trai đơn gái chiếc", "chỉ có hai đứa mình thôi nhé", rất thích hợp cho các Ngài trổ tài ban "thánh ngôn" để "gạ gẫm", và nếu có tài thì cứ việc "bốc hốt" thả giàn tùy theo khả năng. Làm như vậy là làm cho tu sĩ cảm thấy có sinh thú trong cái nghề làm linh mục khiến cho họ bám chặt lấy Giáo Hội để được sử dụng chức "thánh" mà hưởng thụ "miễn phí" những gì mà tất cả những "đấng mày râu" thực sự là đàn ông đều ước ao khao khát. Nếu chẳng may bị nạn nhân hay giáo dân tố cáo thì Giáo Hội sẽ hết lòng bao che, giấu giếm và cưu mang cho đến cùng để cho các ngài cứ như thế mà hành xử và hưởng thụ. Những bản văn sử dưới đây do cựu Linh-mục Peter de Rosa viết trong cuốn Vicars of Christ cho chúng ta thấy rõ được phần nào trong chính sách dã man này của Giáo Hội:
"Sự lạm dụng tại phòng xưng tội đã trở thành quá thông thường ở khắp mọi nơi đến nỗi giáo dân phải nói với nhau rằng nếu giáo sĩ nghe xưng tội của họ mà đã có tai tiếng rồi thì khỏi cần phải xưng tội dâm đãng với ông ta. Sự cách biệt và kín như bưng của phòng xưng tội đã giúp cho các ông linh mục nghe xưng tội được gần gũi các bà hay các cô vào những lúc sơ hở nhất của họ, nghĩa là theo giáo luật đòi hỏi họ phải xưng thú cả những ý nghĩ thàm kín cũng như hành động và khát vọng tà dâm hay không được trong sáng. Nếu có một bà xưng thú rằng bà ta đã gian dâm hay ngoại tình thì ông linh mục nghe xưng tội có thể làm cho vấn đề trở thành trầm trọng ghê gớm nếu ông ta muốn lợi dụng trường hợp này để gạ gẫm. Vì không muốn mất thanh danh cho nên bà ta sẽ không đem những chuyện đã xẩy ra ở phòng xưng tội nói cho người khác biết." ... "Phải nên nhớ rằng sau thời Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) cả mấy thế kỷ, những người sám hối, lúc xưng tội hoặc là ngồi kế bên gíao sĩ nghe xưng tội, hoặc là quỳ ngay tại chân của ông ta. Phòng xưng tội mới có từ giữa thế kỷ thứ 16, và mãi đến năm 1614 Bộ Nghi Lễ của Giáo Hội mới ra lệnh bắt buộc phải có phòng xưng tội. Dù là đã ra lệnh rồi, không phải ở đâu cũng sử dụng phòng xưng tội. Ở Tây Ban Nha, người ta sử dụng những dụng cụ thay thế đặc biệt. Có thể là một cái khung làm bằng nhiều thanh gỗ ghép lại, hoặc là một cái sàng, một cành cây hay một cái quạt để ngăn cách giữa giáo sĩ nghe xưng tội với người xưng tội. Hoàn cảnh vắng vẻ và tối om om ở trong nhà thờ rất thuận tiện cho việc gã gẫm của vị giáo sĩ nghe xưng tội. Như vậy, việc xưng tội thường là phương tiện cho giáo sĩ tán tỉnh và làm hư hỏng phụ nữ và cũng là giải thoát được tình trạng bị dồn ép của các ngài phải sống độc thân.... .
Khi nào có một linh mục bị một người xưng tội tố cáo thì tòa án của Giáo Hội có khuynh hướng là khoan hồng cho ông ta. Tháng Hai năm 1535, vị linh mục thuộc họ đạo Almodovar bị tố cáo nhiều tội cưỡng dâm và dâm đãng trong đó có cả những tội thường xuyên mò mẫm tới các ổ gái điếm và tội gạ gẫm các bà ở trong phòng xưng tội. Ông giáo sĩ này đòi một phụ nữ trẻ phải bằng lòng làm tình với ông ta rồi mới chịu ban phép xá tội cho bà ta. Ấy thế mà ông linh mục này chỉ bị phạt nhẹ và bị quản thúc tại gia có 30 ngày. Sau đó, chắc chắn là ông ta được tự do và tiếp tục hành xử như trước."
Nguyên văn: "So widespread was confessional) abuse that the laity were told that if their priests of evil repute they were dispensed from the need to confess their carnal sins to him. The privacy of the confessionial provided the clergy with ready access to women at their most vulnerable, that is, when they were obliged by canon law to confess every impure thought, deed and desire. If, say, a woman confessed to fornication or adultery, the priest made matters far worse if he solicitted her. But she was not keen to take this outside the seal of confession. She did not want to risk losing her reputation" ..."It has to be remembered that for centuries after Innocent III (1198-1216), penitents confessed either sitting next to the priest or kneeling at his feet. The confessional box or stall, now a fixture in churches, was not invented until the middle of the sixteenth century. Only from 1614 was it made compulsory by the Roman Ritual. Even then it was not widely used. In Spain any number of ad hoc substitutes were employed. It might be a grating that separated priest and penitent, or a hankerchief, a sieve, twigs or a fan. Soliciting under these circumstance in a dark and lonely church remained prevalent. Confession was thus often a means by which the clergy corrupted women eluded the demand of celibacy....
Whenever a parish priest was denounced by a penitent, the ecclesiastical court bent over backwards to be linient to him. In February 1535 the parish priest of Almodovar was accused of numerous sexual offences, including frequenting brothels and soliciting in the confessional. He had refused to give a young woman absolution until she consented to have sex with him. He was given a small fine and confined to his house for thirty days. Afterwards he was doubtless free to continue as before.") [viii]
Thủ đoạn bịp bợm của Giáo Hội La Mã là như thế đó! Cũng vì phóng ngôn bịa đặt và thêu dệt ra không biết bao nhiêu chuyện láo trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội La Mã đã chiểm kỷ lục về thành tích nói láo. Đây là nguyên nhân TẠI SAO các học giả chuyên nghiên cứu về đạo Da-tô mới quyết định cùng nhau thiết lập môt ủy ban nghiên cứu Tân Ước để xem Giáo Hội đã "bịa đặt" những điều mà Giáo Hội gọi "Đó là lời Chúa" lên đến bao nhiêu phần trăm ở trong đó. Sau nhiều năm làm việc, ủy ban này công bố kết quả công trình nghiên cứu thấy có tới hơn 82% những điều mà Giáo Hội La Mã bảo rằng "Đó là lời Chúa" chỉ là những điều Giáo Hội gắn vào miệng Chúa Jesus, chứ không phải Chúa Jesus nói. Sự kiện này đều được các cơ quan truyền thông trên thế giới loan tin đầy đủ. Tờ The News Tribune (Tacoma, Washington), số ra ngày 19 tháng 8 năm 1994 đăng tải tin này với nguyên văn như sau:
"Ông Roy Hoover, một học giả nghiên cứu về Thánh Kinh, đã mạnh dạn tiến sâu vào lãnh vực thần học để tìm ra những điều Jesus thực sự đã nói. Bản đúc kết mà ông và các thành viên khác của Hội Nghị Nghiên Cứu về Jesus đã cùng thỏa thuận làm cho mọi người (đúng hơn là Giáo Hội và các tín đồ của Giáo Hội) sửng sốt: Trong số 1.500 câu châm ngôn, tục ngữ mà Thánh Kinh cho là do Jesus nói thì có tới 82 phần trăm Jesus không hề nói. Ông Hoover, một cựu giáo sư dạy môn tôn giáo tại trường Đại Học Whitman ở Walla Walla, nói: "Hơn nữa, Jesus thực sự không xưng là thần thánh hay Chúa Cứu Thế"[ix]
Bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ thành tích nói láo của Giáo Hội La Mã đã khiến cho các nhà viết sử không còn một chút nào tin tưởng vào những lời nói của các ông truyền giáo hay những người "mang chức thánh" trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội. Sự kiện này cũng được Linh-mục Phan Phát Huồn ghi lại trong bộ sách Việt Nam Giáo Sử với nguyên văn như sau:"Phần đông các sử gia cho những chuyện của giáo sĩ thuật lại là những chuyện hoang đường,..." [x]
Quyền lực sinh ra tội ác: Quyền lực càng cao thì tội ác càng nặng, quyền lực càng nhiều và nắm quyền càng lâu thì tội ác càng nhiều trùng trùng như sóng đại dương. Cũng vì vậy mà Saint Just, một nhà cách mạng trong thời Cách Mạng Pháp 1789, mới để lại cho nhân lọai lời nói lịch sử rằng:
“Ngồi trên ngai vàng để trị vì bao giờ cũng là một trọng tội, một sự thoán đoạt không thể khoan miễn… vì không ai có thể trị vì một cách ngây thơ vô tội.” [xi]
Và trong lá thư gửi cho Giám-mục Mandell Creighton vào năm 1887, Lord Action cũng viết:
Tất cả quyền lực đều có khuynh hướng hay đưa đến tham nhũng; quyền lực tuyệt đội thì tham nhũng cũng tuyệt đối.” Nguyên văn: “All power tends to corrupt; absolute power corrupts absolutely”.[xii]
Giáo Hội là một thế lực nắm trọn cả thần quyền và thế quyền, bao trùm lên cả quyền lực các vua chúa trong các nước theo đạo Ki-tô La Mã và nắm quyền từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay, tất nhiên là tội ác của Giáo Hội chồng chất cao chất ngất như đỉnh núi Hy Ma Lạp Sơn và trùng trùng không khác gì những đợt sóng ở giữaThái Bình Dương
Gây ra tội ác tất nhiện là phải có những nạn nhân của tội ác. Quy luật tự nhiên là những nạn nhân của tội ác bao giờ của ghê tởm và căm thù những kẻ đã gây ra tội ác khiến cho họ phải lâm nạn. Nạn nhân tội ác của Giáo Hội La Mã không phải chỉ có một vài người hay vài chục triệu người, mà hầu như toàn thể các dân tộc Âu Châu, toàn thể các dân tộc theo đạo Hồi (vi Giáo Hội đã phát động các cuộc chiến thập tự trong thời Trung Cổ), toàn thể các dân tộc trong các thuộc địa của Bồ Đào Nha, của Tây Ban Nha, của Pháp và của Bỉ ở khắp nơi trên thế giới. Sách Vatican Thú Tôi Và Xin Lỗi viết:
Giáo Hội Công Giáo Rôma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội vào ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 thánh chiến tàn bạo hãi hùng! v.v… .” [xiii]
Người Âu Châu không phải chỉ khiếp sợ Giáo Hội và lánh xa Giáo Hội như lánh hủi, mà họ đã cướng quyết đứng lên nói lên tiếng nói ghế tởm và thù ghét Giáo Hội đến tận xương tận tủy, và quyết tâm vùng dậy tiến lên diệt tận gốc trốc tận rễ “cái giáo hội khốn nạn” này. Một trong những đại diện cho tiếng nói của hàng trăm triệu nạn nhân Âu Châu của Giáo Hội La Mã là nhà báo Jacques René Hebert (Nov. 15, 1757- March 24, 1794). Ông nói:
"Các bạn người Pháp, các bạn hãy nói cho tôi nghe xem có được không. Nếu cái người mà các bạn gọi là Đức Thánh Cha cương quyết chống lại luật pháp của các bạn, các bạn có ngu xuẩn và hèn hạ đến độ phải từ bỏ luật pháp của các bạn. Các bạn còn hy vọng gì ở một ông Giáo Hoàng. Đ.M Giáo Hoàng, hãy tin ở tôi đi, bây giờ là đến lượt các bạn; cả trong mười thế kỷ qua, Giáo Hoàng đã áp bức các bạn quá nhiều rồi.". Nguyên văn: Tell me, Frenchmen, is it possible? if that man you call the Holly Father takes it into his head to oppose your laws, do you dare, are you stupid and base enough, to give them up? What do you expect from a Pope? Screw the Pope, believe me; it is your turn at last; for ten centuries the Pope has screwed you."[xiv]
Tiếng nói trên đây của nhà báo Jacques René Hebert là tiếng nói nhân dân Pháp đối với Giáo Hội La Mã mà cũng là tíếng nói hàng trăm triệu nạn nhân của Giáo Hội La Mã ở khắp mọi nơi trên thế giới, trong đó có tiếng nói của dân tộc Việt Nam chúng ta.



Chú thích Chương 9
[i] Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ, Khổng Học Tinh Hoa. (Saigon: TXB, 1966), tr. 254-255.
[ii] Thích Nhật Từ, Kinh Tụng Hàng Ngày (New Delhi, Ấn Độ:Đạo Phật Ngày Nay, 2002), tr. 98-99
[iii] Charlie nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr, 228 và 272. [iv] Nhiều tác giả, Đối Thoại Với Giáo Hoàng Goian Phao Lồ II (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1995), tr. 280.
[v] Nigel Cawthorne, Tyrants History’s 100 Most Evil Despots & Dictators (London: Arcturus, 2004), p. 167-168. [vi] Nhại thơ Cao Bá Quát.
[vii] Peter de Rosa; Sđd., tr 422-423.. [viii] Peter de Rosa; Sđd., tr.423.
[ix] Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 316-317. [x] Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử (Sàigòn: Cứu Thế Tùng Thgư, `965), tr. 39..
[xi] Nghiêm Xuân Hồng, Sđd., tr. 66-67.
[xii] Peter de Rosa, Ibid., p.9.
[xiii] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 245-246.
[xiv] J.E. Boshier, The French Revolution (New York, W. W. Norton & Company, 1988), tr 155.


NGƯỜI VIỆT NAM & “ĐẠO GIÊ-SU” - NMQ - 9

CHƯƠNG 8



XV.- ĐẶC TÍNH NGƯỢC NGẠO TRONG ĐẠO DA TÔ VÀ CỦA TÍN ĐỒ DA TÔ NGOAN ĐẠO (CUỒNG TÍN)

Từ ngày 30/4/1975, đất nước đã được thống nhất và vừa với mới thoát ra khỏi cuộc chiến triền miền cả hơn 30 năm trời, Việt Nam thân thương của chúng ta và chính quyền đương thời luôn luôn bị thù trong giặc ngoài quay phá:
1.- Năm 1979, chính quyền Pol Pot tại Cao Mên xua quân tấn cống vào lãnh thổ Việt Nam cướp của giết ngưpời và tàn phá những nơi chũng tràn tới.
2.- Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đem “32 sư đoàn tương đương với 600 ngàn quân với 550 xe tăng, 480 khẩu pháo và 1260 súng cối) ” tràn vào lãnh thổ tấn công và tàn phá các tỉnh ven biên “từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu)”.[i]
3.- Bị siêu cường Hoa Kỳ bao vây kinh tế triền miên từ năm 1975 cho đến năm 1994.
4.- Năm 2003, mấy nhóm dân săc tộc ít người ở vùng cao nguyên Nam Trung Bộ nghe lời xúi giục của ngoại nhân nổi loạn chống chính quyền đòi thành lập nước Tây Nguyên. Sự kiện này khiến cho chúng ta nhớ lại vào mùa xuân năm 1946, Giáo Hội La Mã đã làm như vậy. Vấn đề này được trình bày đầy đủ trong Phần V, Mục XV với chủ đề là Chính Sách Chia Để Trị Của Vatican Tại Việt Nam.
5.- Với sự xúi giục và khích lệ cúa Vatican, nhóm thiêu số tín đồ Da-tô ở hải ngoại cũng như ở trong nước tìm đủ mọi cách chống đối và đánh phá Việt Nam và chính quyền ta. Bằng chứng rõ rệt nhất cho sự thật này là vào ngày 15/3/2001, tại Giáo Phận Orange County, California, vị Bộ Trưởng Bộ Thánh Vụ Truyền Giáo trong Giáo Triều Vatican là Giám-mục Nguyễn Văn Thuận đưa ra lời tuyên bố có nội dung mang nặng tính cách khích lệ và xúi giục tín đồ Da-tô người Việt tại hải ngoại cũng như ở trong nước nổi loạn chống chính quyền. Chuyện này đã được nói rõ ở Chương 2 ở trên. Một lần nữa, xin ghi lại đây lời tuyên bố vô liêm sỉ này để độc giả dễ dàng nhìn ra bộ mặt thật ghê tởm của Tòa Thánh Vatican. Dưới đây là nguyên văn lời tuyến bố vô liêm sỉ này của viên Bộ Trưởng Bộ Thánh Vụ Tuyền Giáo của giáo triều Vatican Giám Mục Nguyễn Văn Thuận"“Vatican không nói, mà làm. Làm ra sao thì cứ nhớ lại biến cố Đông Âu thì rõ.”
Trong khi tổ quốc và dân tộc ở quê nhà bị lâm vào tình cảnh thử thách khó khăn như vậy, thì ở hải ngoại, tiín đồ Da-tô cuồng tín người Việt không những đã không làm gì để góp sức với đại khối dân tộc ở trong nước để chống đờ giặc thù và ổn định tình thế, không những đã không tỏ ra một chút thương cảm cho quê hương đất nước bị thù trong giặc ngoài đánh phá, mà họ còn tỏ ra hân hoan vui mừng sung sướng, mưu đồ đánh hôi, gây thêm khó khăn cho tổ quốc và chính quyền để mưu đồ bất chính. Dưiới đây là những hành động vô liêm sĩ phản dân tộc phản tố quốc của họ:
1.- Năm 1979, khi tin Quân Xâm Lược Trung Hoa tràn qua biên giới Việt Hoa, tấn công và tàn phá các tỉnh ven biên của tổ quốc Việt Nam, thì bọn người này ở hải ngọai lại hồ hởi ăn mừng.
2.- Năm 2003, khi hay tin nhóm thiểu số Tin Lành người Việt cấu kết với một nhóm người thuộc một vài sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên nổi loạn đòi thành lập xứ Tây Nguyên, thì cũng chính bọn người cuồng nô vô tổ quốc “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” này lại tỏ ra vô cùng hân hoan vui mừng. Tệ hơn nữa, các cơ quan truyền thông của những người vong bản này ở hải ngọai còn hô hào ủng hộ những phẩn tự phản động và phản quốc trong tổ chức nổi loạn trên đây và lên án chính quyền Việt Nam vì đã thẳng tay trừng trị bọn phản lọan đội lốt tôn giáo này để đánh phá tổ quốc Việt Nam.
3.- Cũng trong năm 2003, ngay sau khi Hoa Kỳ xua quân tấn công vào lãnh thổ nước Irak vào tháng 3 năm 2003, thì tháng 7 năm đó, bọn người Việt hải ngọai vong bản này lại hí hửng đón gió, thành lập cái gọi là “Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation”, rủ nhau đến họp hành ở Tòa Nhà Civic Center trong thành phố Wesminster (California), cùng sọan thảo một bản thỉnh nguyện thư gửi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, khẩn khoản yêu cầu tổ chức quốc tế này cưỡng bách chính quyền Việt Nam hiện nay phải tái lập tình trạng Việt Nambị chia đôi như thời 1954-1975 với hy vọng sẽ được Mỹ đưa về Việt Nam nhẩy lên bàn độc để tíếp tục làm tay sai cho Vatican và đè đầu cới cổ nhân dân ta như thời chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu trong những năm 1954-1975.
Cũng nên biết là phần lớn những người trong tổ chức này là những tín đồ Da-tô, cũng là những người có bằng cấp đại học và đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam truớc ngày 30/4/1975. Vấn đề này đã được người viết trình bày đầy đủ nơi Chương 1 trong cuốn “Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation” (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004).
4.- Năm 2005, khi tòa án Liên bang Hoa Kỳ bác đơn khiếu nại của chính phủ Việt Nam về việc “Trong thời gian từ năm 1962 đến 1971, quân đội Mĩ rải khoảng 77 lít chất độc da cam xuống miền và Nam Trung Việt, gây ảnh hưởng va tác hại đến môi trường của 2.63 triệu mẫu tây và gần 5 triệu người sống trong 25,585 thôn ấp[ii] , thì bọn người vong bản, phản quốc này và đồng bọn lại tỏ ra hí hửng vui mừng như là một đại thắng lợi của chúng.
Phần trình bày trên đây cho thấy rằng, đối với nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cuồng tín người Việt, khi Vatican còn quyền lực ở Việt Nam, thì chúng cho là chính nghĩa quốc gia và chính quyền quốc gia (mà thực chất chỉ là chính quyền bù nhìn tay sai Vatican liên minh với đế quốc Pháp hay siêu cường Hoa Kỳ) của chúng còn tồn tại, và chúng quyết tâm chiến đấu để bào vệ cái chính quyền Việt gian này. Khi Vatican không còn quyền lực ở Việt Nam, thì chúng gọi là mất nước, rồi hè nhau tìm cách lạy lục cầu xin các thế lực phản động Âu Mỹ giúp chúng để trở về Việt Nam cầm quyền hầu có thể tiếp tục bán nước và làm tay sai cho Vatican như thời kỳ 1862-1954 trên toàn thể lãnh thổ và thời kỳ 1954-1975 ở mền Nam Việt Nam. Hành động “rước voi về giầy mả tổ” như vậy được chúng gọi là “phục quốc”. Điều đáng buồn là trong cái đám người sử dụng từ “mất nước” ở vào trương hợp này lại có cả bọn phản động phong kiến, bọn lưu manh hoạt đầu chính chính trị đội lốt là “người Việt Quốc Gia” và bọn lưư manh xu thời đón gió. Tất cả những hạng người này đều bị đại khối nhân dân Việt Nam lên án là những quân vong bản phản dân tộc và phản quốc.

¨
Nhìn lại thời kỳ từ năm 1858 đến ngày 30/4/1975, đất nước Việt Nam trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đây cũng là thời kỳ đau thương buồn thảm nhất của tổ quốc và dân tộc:
1.- Tài nguyên đất nước bị cướp đọat.
2.- Hàng trăm ngàn mẫu đất bờ xôi ruộng mật bị Giáo Hội La Mã chiếm đoạt làm của riêng của Giáo Hội.
3.- Những mảnh đât ngon lành nhất trong các thành phố, trong các tỉnh lỵ, trong các thị trấn bị chiếm đoạt để xây cất nhà thờ, chủng viện, tu viện, và các cơ sở kinh tài khác của Giáo Hội.
4.- Chùa chiền đình miếu bị phá huỷ và nền đất bị cướp đọat để xây nhà thờ và các cơ sở khác của Vatican.
5.- Dân bị bóc lột tận xương tận tủy cả về vật lực và nhân lực:
a.- Về vật lực: Dân tabij cưỡng bách phải đóng những thứ thuế phi nhân dã man nhất trong lịch sử loài người như thuế thân, thuế muối và nhiều thứ thuế vô lý khác,
b.- Về nhân lực: dân ta bị cưỡng bách phải đi làm lao nô phục dịch cho các công trường xây hàng ngàn dinh thự của các quan lớn quan nhỏ trong bộ máy cai trị của của bọn thực dân xâm lược Pháp và Vatican, hàng ngàn ngồi nhà thơ to lớn vĩ đại với những tháp chuông cao chót vót lên đến tận lưng trời.
6.- Dân ta bị xô đảy vào thảm cảnh đói khổ triền miên và, thảm thương nhất là hai triệu người chết đói trong mấy tháng mùa xuân năm Ất Dậu 1945. .
7.- Dân ta bị chèn ép, bị kỳ thị, bị bách hại, bị sát hại với hơn 300 ngàn nạn chết tức tưởi trong những chiến dịch “làm sáng danh Chúa” trong những năm 1955-1963.
8.- Dân ta bị khinh rẻ, bị coi như là những quân “mọi rợ: những hạng người “vô đạo” và những quân “tà giáo” và bị coi như chó như ngựa.
9.- Nền văn hóa cổ truyền của dân tộc chà đạp, bị nhục mạ. Sách "Vatican Thú Tội và Xin Lỗi" viết:
“Trọng tội của Giáo Hội không phải là nguồn phúc lộc bình an dưới thế! Ngược lại, và riêng Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên, chà đạp văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần Ma quỷ… Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam là dân có đạo là dân riêng của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoại đạo theo tà thần, tạo dựng thành kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô bạo.. Đức Hồng Y Hà Nội Phạm Đình Tụng xác minh trọng tội này của Giáo Hội trong bài tham luận đọc tại Roma vào năm 1998, có Đức Giáo Hoàng đương kim (John Paul II) ngồi dự thính.” [iii]
Nói làm sao hết được thảm cảnh của dân ta trong nỗi nhục nhằn vong quốc trong thời gian 1858-1975 này! Chính vì vậy mỗi người dân Việt đều mang một con tim sôi máu, bao nhiêu triệu người dân Việt là bấy nhiêu con tim sôi máu, ngoại trử (1) nhóm thiểu số tín đô Da-tô cuồng tín “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”, (2) nhóm thiểu số phản động phong kiến, (3) bọn lưu mạnh hoạt đầu chính trị và (4) bọn lư manh xu thời đón gió.
(Cũng nên biết ba nhóm người thiểu số trên đây tự phong là “người Việt Quốc Gia” rêu rao là chiến đấu cho cái mà chúng gọi là “chính nghĩa quóc gia” dưới lá “cờ vàng ba sọc đỏ” do Liên Minh Pháp – Vatican đạo diễn và cho ra đời vào ngày 5/6/1945 để làm bức bình phong che đậy cho chính sách chia để trị, dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Da-tô làm tay sai để cai trị đại khối nhân dân người Việt thuộc các tôn giáo khác. Vấn đề này đã được trình bày khá đầy đủ trong Mục XV với tựa đề là Chính Sách Chia Để Trị của Vatican tại Việt Nam, Phần V trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.)
Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Đứng trước những thảm cảnh như đã nói trên đây, từ năm 1858, đặc biệt nhất là từ mùa thu năm 1945, hàng triệu con tim sôi máu đã cương quyết lên đường đi đòi lại công lý, đòi lại quyền làm người và đòi lại núi sông cho dân tộc:
Trong mắt tôi đã thấy,
Dân tôi:
Người trước nối người sau,
Tay trong tay kết chặt một vòng,
Đi đòi lại núi sông trong tay giặc
"Thế giặc mạnh lấy gì mà chống đỡ?"
Lời Diên Hồng vạn tiếng quyết tâm.
Phải trải xương,
Phải đỏ máu với quân thù
Phải đoàn kết triệu bước chân dấn bước,
Từ sông Hồng xuôi về sông Cửu,
Từ đồng bằng nối mãi tới Trường Sơn.
Khắp non sông vang dội bước quân hành
Tay giáo mác và con tim sôi máu.
Trong ánh mắt triệu niềm tin rực sáng
Buổi quân về giải phóng Việt Nam.
Quê hương tôi hôm nay đã thấy
Những mẹ già chị gái
Làm hậu cần nuôi quân,
Những thanh niên hôm nay
Đã làm anh kháng chiến,
Những em bé mười lăm
Gánh vai trò liên lạc.
Cả nước đồng một lòng
Đứng lên tiêu diệt giặc.
Lời réo gọi của non sông đất nước:
Các anh
Xin đứng dậy
Lên đường!
(Nguyễn Tố Chi)
Cũng vì những "con tim sôi máu" mà họ tự nguyên đến với nhau và kết hợp thành một đại gia đình bộ đội và đối xử với nhau trong tình "huynh đệ chi binh", không hề có chuyện cấp trên gọi cấp dưới là "thằng" là "mày", là "mi" và xưng "tao" với cấp dưới. Và cũng vì "con tim sôi máu" nung nấu ý chí diệt thù đi đòi lại núi sông cho dân tộc, cho nên mới có những anh hùng như Hoàng Văn Nô[iv] lăn xả vào địch, dùng lưỡi lê đâm địch rồi ôm chặt lấy địch cùng chết với địch để cho đồng đội tiến lên hòan thành nhiệm vụ, như Tô Vĩnh Diện, Nguyễn Văn Chức nhào ra nằm xuống lấy thân xác làm sức cản bánh xe súng cao xạ để khỏi rơi xuống vực sâu trong khi chuyển súng tới nơi bố trí, mới có Trần Oanh lao vào sát tường lô cốt gắn bộc phá, giật sập ổ súng đại liên của địch, mới có Phan Thành Giót trườn lên dưới làn đạn tiến tới ném lựu đạn vào lỗ châu mai, làm tê liệt hỏa lực đối phương để mở đường cho đồng đội xung phong, mới có Trần Cừ [v] liều thân lao mình vào bịt họng súng đại liên của địch cho đồng đội tiến lên, mới có La Văn Cầu đã bị thương gẫy một cách tay mà còn ôm bom chạy nhào tới mục tiêu để hoàn thành nhiệm vụ: “Đòi lại núi sông cho dân tộc”..
Mặt khác, cũng trong thời kỳ 1858-1975 này, nhóm tín đồ Da-tô đã tỏ ra vô cùng sung sướng và hết sức hồ hởi triệt để tuân hành lệnh truyền của đấng bề trên nhẩy ra tích cực tiếp tay cho quân cướp xâm lăng vừa để được vinh thân phì gia, vừa để phục vụ cho Tòa Thánh Vatican trong sứ mạng mở mang nước Chúa. Vấn đề này sẽ được trình bày rõ ràng và đầy đủ ở nơi Chương 7 ở trên..
Tình trạng này đã gây nên một sự hoàn toàn trái ngược về tư duy, thái độ, hành động cũng như quan niệm về sự tồn vong của đất nước và dân tộc giữa một bên là tuyệt đại đa số nhân dân theo nền đạo lý tam giáo cổ truyền và một bên là nhóm thiểu số tín đồ Da-tô. Những khi đại khối nhân dân ta hân hoan đón mừng nhừng ngày vui của dân tộc, thì họ (nhóm thiểu số tín đồ Da-tô) coi những ngày này như là những ngày buồn thàm nhất đối với họ. Đó là những ngày:
1.- Ngày 19//8/1945: Vào ngày này, toàn dân ta quyết tâm vùng lên phất cờ khời nghĩa đánh đuổi quân cướp ngoại thù Nhât Bản và Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc.
2.- Ngày 2/9/1945: Vào ngày này, chính quyền của nhân dân ta dưới quyền lãnh đạo của Cụ Hồ Chí Minh tuyên bố với nhân dân thế giới rằng kể từ đây, nhân dân nước Việt Nam đã thoát khỏi ách thống trị của người Nhật, thoát khỏi ách thống trị của Liên Minh Pháp – Vatican, cương quyết đứng lên liều chết để bảo vệ quyền độc lập của dân tộc và quyền làm người vừa mới giành lại được.
3.- Ngày 7/5/1954: Vào ngày này, toàn thể nhân dân Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt Minh đánh bại Liên Quan Pháp – Vatican tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khiến cho Liên Minh Pháp – Vatican phải tan rã và đế quốc Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam rồi cuốn gói ra đi. Đại chiến công này giống như đại chiến công của quân dân ta dưới quyền lãnh đạo của Đại Đế Quang Trung đánh bại đạo quân Thanh tại trận Đông Đa vào ngày 5 Tết năm Kỷ Dậu 1789, khiến cho toàn bộ 280 ngàn quân giặc phải hối hả bỏ chạy vè Tầu. .
4.- Ngày 30/4/1975: Vào ngày này, đai quân miền Bắc tiến vào thủ đô Sàigòn, khiến cho Liên Minh - Mỹ - Vatican phải tan rã, Mỹ phải cuốn gói ra đi, quân đội và chính quyền quân phiệt Da-tô tay sai của Liên Minh Mỹ - Vatican rã ngũ tan hàng. Nhờ vậy nước nhà được thống nhất, và quyền lực của Vatican ở Việt Nam cũng chấm dứt kể từ đây. Ta có thể ví ngày này của dân tộc ta giống như:

a.- Ngày 9/4/1865 của dân tộc Hoa Kỳ, ngày mà Tướng Robert E. Lee, Tư Lệnh Quân Đội Miền Nam, thân hành đến tòa nhà tư pháp của làng Appomattox đầu hàng Tướng Ulysses Grant, Tư Lệnh Quân Đội miền Bắc, mang lại thống nhất cho đất nước Hoa Kỳ kể từ đó,

b.- Ngày 20/9/1870 của dân tộc Ý Đại Lợi. Vào ngày này, Quân Đội Cách Mạng Ý dưới quyền lãnh đạo của nhà cách mạng anh hùng dân tộc Ý là Giuseppe Garibaldi đem đại pháo nã vào Tòa Thánh Vatican khiến cho Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng đầu hàng vô điều kiện. Nhờ vậy mà các tiểu quốc nằm dưới quyền trực trị của Vatican (papal states) thoát khỏi ách thống trị tham tàn bạo ngược của “bọn quạ đen” và đất nước Ý được thống nhất kể từ đó. Chuyện này đã được trình bày khá đầy đủ trong một chương sách có tựa đề là Cuộc Chiến Chống Vatican để Thống Nhất Đất Nước của Dân Tộc Ý (trong Mục XXVI, Phần VII) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã.
Cũng nên biết, sau ngày 30/4/1975, theo gương chính quyền Cách Mạng Pháp 1789, chính quyền cách mạng Việt Nam ban hành biện pháp quốc hữu hóa khối bất động sản kếch sù của Giáo Hội ở miền Nam Việt Nam, vì rằng khối tài sản khổng lồ này là do Giáo Hội đã ăn cướp được của nhân dân ta từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975. Thi hành biện pháp này, chính quyền Việt Nam chỉ làm công việc bắt buộc phải làm là xử lý những kẻ có tội với tổ quốc và dân tộc Việt Nam theo nguyên tắc “Trả lại cho Caesar cái gì của Caesar.” (Render into Caesar the things that are Caesar’s) mà thôi!.
Có thể vì Giáo Hội La Mã đã mất hết quyền lực và mất hết đặc quyền đặc lợi ở Việt Nam cho nên tín đồ Da-tô người Việt mới gọi ngày 30/4/1975 là “ngày mất nước”, “ngày quốc nhục” và những ngày 19/8/1945, 2/9/1945, 7/5/1954 là những ngày buồn thảm đau thương. Cũng từ ngày 30/4/1975, họ tự coi như là những người mất nước. Chúng ta có thể thấy rõ tình trạng nói ngược này trong những sách báo, trong các băng nhạc do các trung tâm sản xuất băng nhạc Asia và Paris By Night, Mây Production, v.v… và trong những ngôn từ họ sử dụng khi họ giao dịch với nhau qua thư từ hay khi nói chuyện với nhau.
Trong thực tế, tín đồ Da-tô người Việt và băng đảng lưu manh xu thời không phải chỉ nói ngược khi chúng sử dụng từ kép”mất nước”. Nếu để ý đến những từ ngữ họ sử dụng như dân chủ, tự do, tự do tôn giáo, nhân quyền, lòng ái quốc, mất nước, Việt gian v.v…, rồi kiểm chứng cung cách hành xử của chúng, chúng ta sẽ thấy, tất cả đều bị chúng cưỡng từ đoạt lý, nghĩa là hoàn toàn trái ngược với những định nghĩa trong tự điển, trái ngườc với truyền thống của dân tộc, trái ngược với ngôn ngữ của xã hội loài người, trái ngược với ý nghĩa thông thường đuợc mọi người công nhận, trái ngược với công lý (commom sense) và trái ngược với cả cung cách hành xử của chính chúng, nhưng lại rất thích hợp và rất đúng với xã hội “con chiên” hay “con cừu” của chúng. Bằng chứng là:
1.- Việt Nam ngày nay đã hoàn toàn độc lập. Chính quyền do người Việt Nam lãnh đạo. Nước Việt Nam đang trên đường canh tân hóa đất nước, dân chủ hóa chính quyền. Cả thế giới cùng công nhận Việt Nam là một nược độc lập theo chế độ cộng hòa chủ nghĩa và đã có chỗ ngồi trong Liên Hiệp Quốc sánh vai cùng với gần hai trăm quốc gia hội viên trong tổ chức này. Ấy thế mà chúng vẫn cho rằng “mất nước”. Trong cuốn băng Paris By Night 90, ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn, một trí thức Da-tô, vừa là nhà văn, vừa là nhà giáo mà vẫn dùng từ “mất nước”, giống như những người ít học hay vô học trong cộng đồng Da-tô thường sử dụng.
2.- Chúng gọi những người suốt đời hy sinh cho đại cuộc đánh đuổi Liên Quân Xâm Lược Pháp Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và những người chiến đấu cho đại cuộc thống nhất đất nước trong những năm 1954-1975 là “Việt gian”. Ngược lại, chúng lại tôn vinh thằng phản thần tam đại Việt gian Da-tô Ngô Đình Diệm lên là “chí sĩ yêu nước”, là “nhà ái quốc đã chết vì dân (Da-tô)”, bất kể là nhà các viết sử thế giới đều gọi nó là thằng bù nhìn làm tay sai cho Mỹ và cho Vatican, bất kể là trong cuốn sử Tyrants History’s 100 Most Evil Despots & Dictators (London: Arcturus, 2004), sử gia Nigel Cawthorne đã ghi nhận thằng tam đại Việt gian họ Ngô này là một trong số 100 tên bạo chúa độc ác nhất trong lịch sử nhân loại.
3.- Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô của Giáo Hội vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho tự do tôn giáo cho Việt Nam, nhưng nếu có một người nào thuộc một tôn giáo khác muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Da-tô, thì người đó lập tức bị đòi hỏi phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình, phải đi học giáo lý, phải làm lễ rửa tội theo đạo Da-tô, rồi mới được làm lễ thành hôn ở nhà thờ. Cũng vì thế mà trong buổi Hội Thảo Liên Tôn Việt Mỹ được tổ chức tại San José, California vào ngày 15/10/1994, Bà Ngọc Tuyết Tiên đã phải nghẹn ngào nói cho mọi người biết rằng:
"Tôi rất đau buồn suốt mấy chục năm qua khi thấy những mối tình duyên bất thành giữa nhiều đôi trẻ, phần lớn do cha mẹ Thiên Chúa Giáo quá khắt khe buộc dâu, rể theo các đạo khác phải đi nhà thờ rửa tội, xưng tội; đã có nhiều trường hợp đôi bạn trẻ phải ly di hoặc quyền sinh." [vi]
4.- Vatican và tín đồ Da-tô vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho nhân quyền cho các dân tộc sống trong các chế độc độc tài.. Ấy thế mà vào tháng 8/2001, chính Giáo Hoàng John Paul II lại cưỡng bách Giám-mục Giám-mục Emmanuel Milingo 71 tuổi phải từ bỏ bà vợ Maria Sung 43 tuổi [mới cưới đã được gần ba tháng dù rằng cặp tân lang và giai nhân này đã có làm lễ cưới trước bàn thờ Chúa Jesus trong một ngôi giáo đương của một hệ phái Tin Lành.
5.- Vatican và tín đồ Da-tô vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho tự do dân chủ cho Việt Nam, nhưng chính bản thân Vatican lại là một quốc gia theo chế độ tăng lữ, quân chủ chuyên chính toàn trị, một chế độ cực kỳ chuyên chế, cực kỳ phong kiến và cực kỳ lạc hậu.
6.- Vatican và tín đồ Da-tô của Giáo Hội La Mã vẫn lớn tiếng cao rao tranh đấu cho tự do dân chủ, nhưng tín đồ Da-tô người Việt ở Bắc Mỹ không bao giờ tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận của những người bất đồng chính kiến với họ. Chúng sử dùng tất cả các phương tiện truyền thồng như báo giấy, báo điện tử, truyền thanh, truyền hình và rỉ tai để chửi bới, vu khống, sỉ vả, xoi mói vào đời tư các tác giả có tác phẩm nói lên những sự thật trong lịch sử trong đó có những sự thật về những việc làm đại gian đại ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua hay những sự thật về các chế độ đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội. Cũng vì thế mà tất cả anh em trong nhóm Giao Điểm đã trở thành những nạn nhân của chúng từ giữa thập niên 1990 cho đến nay. Chúng cũng hành động thô bạo và mọi rợ như vậy đối với (1) những người Việt hải ngoại trở về thăm quê hương hay cư ngụ ở Việt Nam (trường hợp các ông Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy,và rất nhiều người khác), (2) những văn nghệ sĩ người Việt hải ngoại về Việt Nam trình diễn và những văn nghệ sĩ từ trong nước ra hải ngoại trình diễn, và (3) tờ báo có chủ trương thông tin và nghị luận trung thực phản ảnh đúng theo lương tâm của nhà báo trong một quốc gia theo chế độ tự do dân chủ như ở Bắc Mỹ và Tây Âu. Nạn nhân gần đây nhất của họ là tở Viet Weekly ở Westminster, California từ tháng 7/2007 cho đến nay. Sẽ nói rõ hơn ở phần dưới.
Tạm kể sơ sơ năm (6) trường hợp điển hình trên đây để quý vị thấy rõ là Vatican hay Giáo Hội La Mã và tín đồ của Giáo Hội có cái bản chất ăn nói và hành động ngược ngao, nói một đàng làm một nẻo.
Tóm lại, phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ ràng là tất cả những tín lý, giáo luật, lời dạy và truyền thống hay tập tục trong đạo Da-tô dù là đã có sẵn ở trong Cựu Ước hay Tân Ước, dù là do chính Giíao Hội La Mã đặt ra từ ngày 20/5/325, tất cả đều ngược ngạo, trái ngược với công lý (human laws), trái ngược với công đạo (common sense), trái ngược với nhân tính (human characters), trái ngược với tình người (human feelings), trái ngược với lẽ phải, trái ngược với lương tâm, trái ngược với nhân luân, trái ngược với đạo lý, trái ngược với nhân quyền, trái ngược với khoa học, trái ngược với đà tiến của nhân loại, trái ngược với nền văn minh của xã hội loài người, trái ngược với thể chế dân chủ tự do, trái ngược với tất cả nguyên tắc đạo lý của xã hội Đông Phương như hiếu, trung, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, v.v… Nếu có điều nào đồng thuận với công lý, công đạo hay đồng thuận với bất cứ điều gì trong xã hội văn minh của loài người, thì đó chỉ lả:
1.- Huênh hoang, khoác lác, khoa trương để lừa bịp người đời mà Giáo Hội thường cao rao như:

a.- Giáo Hội La Mã là “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và trông truyền” và là “Hiền Thê của Thiên Chúa Hiện Làm Người”.

b.- Đạo Da-tô là “đạo của bắc ái, đạo của tình thương.

c.- Tranh đấu cho dân nghèo và giai cấp lao động.

d.- Tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo cho nhân dân Việt Nam.

e.- Tranh đấu cho dân chủ tư do cho nhân dân Việt Nam.
2.- Bắt chước và nhận vơ là của Giáo Hội La Mã như:

a.- Điều răn nói về đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ (trong Mười Điều Răn)

b.- Phong thánh cho bà Jean D’ Arc (1412-1431) để nhận vơ người nữ anh hùng này của dân tộc Pháp là bà thánh của Giáo Hội, và

c.- Nhân vơ nền văn minh Tây Phương là nền văn minh Thiên Chúa Giáo.
Sở dĩ có tình trạng ngược ngạo và quái đản như vậy là vì chủ trương bất di bất dịch của Giáo Hội là muốn bơi ngược dòng lịch sử, dùng bạo lực (dựa vào bạo lực của cường quyền hay của các đế quốc thực dân xâm lược Âu Mỹ) để cưỡng bách các dân tộc nạn nhân phải làm nô lệ và phải sống theo những điều ngược ngạo trên đây của Giáo Hội. Bằng chứng rõ ràng và hùng hồn nhất cho sự thật này là việc Giáo Hội ban hành Sắc Chỉ Pontifex Romanus và ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455)[vii] và các sắc chỉ hay thánh lệnh khác được ban hành tiếp theo sau đó như Inter Caetera được ban hành vào năm 1456 trong thời Giáo Hoàng Callistus III (1455-1458), Aeterni Regis được ban hành vào năm 1481 trong thời Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1482), Inter Caetera, Examinae Devotions và Dudun Siquidem được ban hành vào hai năm 1493 và 1494 trong thời Giáo Hoàng Alexander VI (1493-1503).[viii]
Căn cứ vào chủ trương và những hành động ngược ngạo của Giáo Hội và của tín đồ Da-tô cuồng tín như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể nói, “Đừng tín những gì Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô nói, mà hãy nhìn vào những gì họ làm.” (Nhại theo lời tuyên bố của một nhân vật lãnh đạo chính quyền Miên Nam trong những năm đầu của thập niên 1970.)

XVI .- TRÌNH ĐỘ KIẾN THỨC CÙNG CUỘC ĐỜI

BẤT LƯƠNG VÀ ĂN BÁM XÃ HỘI CỦA GIỚI TU SĨ DA TÔ
Trong các chương sách ở trên, chúng tôi đã trình bầy (1 về nguyên nhân khiến cho tín đồ Da-tô nói láo như cuội, và về (2) về phương cách tạo cơ hội cho các ông tu sĩ của Giáo Hội hủ hóa để giải quyết vấn đề sinh lý bị dồn ép. Dưới đây xin nói về trình độ kiến thức cũng như cuộc đời bất lương và ăn bám của các ông tu sĩ Da-tô. Về vấn đề này, điều chắc chắn là không ai biết rõ bằng các ông trí thức Da-tô. Trong cuốn sách Thực Chất Đạo Công Giáo và Các Đạo Chúa, học giả Da-tô Charlie Nguyễn nói về trình độ kiến thức hiểu biết của các ngài tu sĩ Da-tô như sau:
“Cái gọi là sự học vấn của các trường tôn giáo hoặc sự uyên bác của học sĩ Ulama thực chất chỉ là môn học “tán hươu tán vượn” về những điều huyền hoặc của thần học (theology). Thần học Hồi Giáo cũng tương tự như thần học của Do Thái Giáo hoặc Ki-tô Giáo. Thần học là một môn học đầy tính chất hoang tưởng, viển vông và nhảm nhí. Càng đi sâu vào thần học, con người càng lún sâu vào “ốc đảo tâm linh”, xa rời thực tế và đầy đặc những định kiến sai lầm. Những mảnh bằng “Tiến Sĩ Thần Học” là những giấy chứng chỉ công nhận sự ngu xuẩn của kẻ được cấp. Chỉ đến khi có cơ duyên tỉnh ngộ, kẻ đó mới cảm thấy xấu hổ là đã được cấp những mảnh bằng về thần học mà thôi.” [ix]
Về cuộc đời bất lương và ăn bám xã hội của giới người này, ông viết:
Hầu hết các tu sĩ là những kẻ đại gian đại ác ngụy trang dưới lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai đạo đức giả phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau, thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn để bòn rút tiền bạc xương máu của giáo dân, để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời. Mái nhà thờ của họ càng rộng lớn bao nhiều, càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho đám tín đồ vô tội hoặc ít tội hơn họ. Họ thực sự là một bọn ăn cướp nguy hiểm hơn bọn cướp thường vì những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được xã hội tâng bốc là “những vị lãnh đạo tinh thần”. Tất cả các tệ nạn này đều phát xuất từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đối đa số giáo dân không hề biết tới.”[x]

XVII.- KẾT LUẬN:

TU SĨ VÀ TÍN ĐỒ DA TÔ LÀ NHỮNG QUÂN VONG BẢN

PHẢN QUỐC CỰC KỲ NGƯỢC NGẠO
Căn cứ vào sự dạy dỗ các tín đồ của Giáo Hội La Mã như:
Phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Tòa Thánh Vatican”
“Phải triệt để vâng lời tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên” ,v.v….
“Chỉ công nhận quyền lực của Tòa Thánh Vatican, chỉ công nhận các chính quyền Liên Minh với Tòa Thánh Vatican và các chính quyền bù nhìn làm tay sai cho Vatican hay các thế lực liên minh với Vatican.”
Căn cứ vào những hành động xấc xược, ngược ngạo, hiếu sát, khát máu, lấn lướt, vơ vào và tàn ngược của tín đồ Da-tô Âu Châu trong thời Trung Cổ,
Căn cứ vào những việc làm tàn ác dã man của tín đồ Da-tô người Pháp trong vụ tàn sát khoảng hai chục (20) ngàn tín hữu Tin Lành người Pháp vào ngày 22/8/1572 mà sách sử gọi là “the St. Bartholomew’s Day Massacre of 1572”,
Căn cứ vào những hành động dã man của tín đồ Da-tô người Ái Nhĩ Lan tàn sát nhiều ngàn người Tín Lành Ái Nhĩ Lan và hành hạ họ một cách cực kỳ dã man trước khi sát hại họ,
Căn cứ vào những hành động dã man và tàn ngược của tín đồ Da-tô người Croatia đã tàn sát tới gần 800 ngàn tín đồ Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo và Hồi Giáo ở Croatia trong những năm 1941-1945,
Căn cứ vào những hành động dã man và tàn ngược của tín đồ Da-tô người Việt trong thời kỳ từ năm 1858 cho đến năm 1954 (trên toàn lãnh thổ), đặc biệt là trong những năm 1954-1975 họ đã tàn sát tới hơn 300 ngàn người ở miền Nam Việt Nam,
Căn cứ vào những hành động dã man và tàn ngược của tín đồ Da-tô người Rwanda và chế đọ đạo phiệt Da-tô của Giám-mục Augustin Misago trong vụ tàn sát khoảng 800 ngàn người Tutsis ở Rwanda trong năm 1994.
Căn cừ vào những hành động ngạo ngược và dã man của tín đồ Da-tô người Việt ở Bắc Mỹ từ cuối thập niên 1970 cho đến ngày nay,
Căn cứ vào hành động ngược ngạo và dã man của tín đồ Da-tô người Cuba trong vụ bắt giữ em bé Alian vào năm 2000 để làm con cờ chính trị, không cho em bé này trở về sống với cha ruột của em ở Cuba,
Căn cứ vào những hành động của tín đồ Da-tô người Pháp nổi loạn chống lại chính quyền Cách Mạng 1789 Pháp và nước Pháp để tiếp tay cho Liên Minh Thánh Phổ - Áo- Anh – Nga – Vatican trong những năm 1792-1815,
Căn cứ vào những hành động của tín đồ Da-tô người Việt đã cấu kết với các thế lực ngoại cường Pháp, Vatican và Hoa kỳ để chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ thập niên 1780 cho đến ngày nay,
Chúng ta có thể kết luận rằng, tất cả tín đồ Da-tô ngoan đạo của Giáo Hội La Mã ở vào bất kỳ thời điểm nào và ớ bất cứ nơi nào trên thế giới, cũng đều là những người không còn khả năng sử dụng lý trí để nhận ra được sự khác biệt giữa đúng và sai, giữa phải và trái. Họ đã trở thành những người mất hết lương tâm và cực kỳ vô liêm sỉ, đã trở thành những quân vong bản, phản quốc với những ác tính hết sức ngược ngạo, hết sức hung dữ, hết sưc háo sát, cực kỳ gian dối, cực kỳ tham tàn, cực kỳ thô bạo, cực kỳ sống sượng, ưa thích lấn lướt, vơ vào và cực kỳ bạo ngược. Tùy theo tình hình hay thời thế, những ác tính này của chúng sẽ thể hiện ra thành hành động cụ thể vào những khi hoàn cảnh mà chúng cho rằng đủ mạnh để hành động. Thực trạng này đã được sử gia Loraine Boettner ghi nhận mà chúng tôi đã ghi lại ở trên, xin ghi lại đây một lần nữa để độc giả dễ dàng nhận ra:

Rome in the minority is a lamb (Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mã là con cừu).

Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mã La Mã là con cáo).

Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mã là con cọp).
Sau ngảy 30/4/1975, tất cả những người Việt hải ngoại ở Bắc Mỹ và Âu Châu đều đã được sống trong các chế độ tự do dân chủ, tự do học hỏi, tự do vào các thư viện tìm đọc sách sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã. Nếu tín đồ Da-tô người Việt chịu khó vào các thư viện, tìm đọc lịch sử thế giới và tìm hiểu những tài liệu nói về những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã, thì họ đã có thể nhìn ra bộ mặt thật cực kỳ ghê tởm của Giáo Hội La Mã. Đây là những trường hợp của các ông Charlie Nguyễn, Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ, ông Phạm Hữu Tạo và hành ngàn tín đồ Da-tô người Viểt khac nữa.

Bộ mặt thật của Giáo Hội La Mã ghê tởm như thế nào?
Xin thưa, Giáo Hội La Mã ghê tởm ở chỗ chuyên nghề sử dụng những chuyện hoang đường được mệnh danh là những "tín lý Ki-tô" để mê hoặc người đời rồi lùa những nạn nhân dại đột đã nghe theo Giáo Hội vào cái tròng Ki-tô (Catholic loop), rồi giam nhốt họ trong "cái ngục tù ngu dốt" và kìm hãm họ mãi mãi ở trong tình trạng bán khai để lợi dụng họ (1) làm hậu thuẫn cho Giáo Hội tiếm đoạt chính quyền tại các địa phương vào khi con số tín đồ đã đạt đến mức độ mà Giáo Hội có thể trở thành con cáo hay con cọp, (2) làm những con thiêu thân trong những lực lượng xung kích gọi là những đạo quân thập tự trong những chiến dịch “làm sáng danh Chúa” với những nhiệm vụ tàn sát những nhóm dân thuộc các tôn giáo khác, tàn phá tất cả các công trình kiến trúc (đền đài, chùa chiền, đình miếu) không phải là Ki-tô giáo, thiêu hủy tất cả những sách vở và tài liệu lịch sử thuộc các nền văn hóa khác, cưỡng bách những người còn sống sót phải theo đạo Da-tô làm nô lệ cho Giáo Hội. Tất cả những việc làm bạo ngược như vậy của Giáo Hội chỉ là thể hiện đúng theo tinh thần của những lời dạy trong Cựu Ươc mà rõ ràng nhất là trong các sách Leviticus (26: 1-18), Phục Luật (6:14, 12: 2-3, 13: 6-9, 21:18-21, 22:13-23), Dân số (31:28, 31:40), Xuất Hành (12:12, 13:12, 22:18, 20), và theo tinh thần Sắc Chỉ Romanus Pontifex do chính Giáo Hội ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455).
Giang sơn dễ đổi, bản chất khó chừa. Mặc dù đã sống hơn 30 năm ở các nước tự do dân chủ như ở Hoa Kỳ với định chế "Tôn giáo phải tách rời khỏi chính quyền" và với tất cả những quyền tự do như tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do ngôn luân, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do di chuyển, tự do cư trú, v.v…, nhưng họ vẫn tự giam mình trong cái “ngục tù ngu dốt” của Giáo Hội La Mã, không dám hay không có khả năng sử dụng các quyền tự do trên đây. Họ vẫn không chịu phóng tâm mở rộng tầm mắt để học hỏi cái hay cái đẹp trong chế độ tự do dân chủ hầu có thể hành xử thích nghi với hoàn cảnh mới và cuộc sống mới ở Hoa Kỳ hay ở Bắc Mỹ. Vì thế, tâm trí họ mới vẫn còn như khi ở trong nước trước ngày 30/4/1975, chẳng tiến bộ được một chút nào cả.
Thế mới biết, đã là con chiên hay con cừu thì phải mang cái bản chất của con chiên hay con cừu, nghĩa là phải ngu dốt như con cừu, phải đi bằng bốn chân thì mới thể hiện được cái bản sắc của loài thú. Chả trách nào nhà báo Long Ân đã có lời nhận xét rất chính xác về bọn người này với nguyên văn như sau:
Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”[xi]


Chú thích Chương 8
[i] Lê Xuân Khoa, Sđd., tr.398.
[ii] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 171.
[iii] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 245-246.
[iv] Võ Nguyên Giáp, Sdd., trang 168 nói về trường hợp của chiiến sĩ Hoàng Van Nô, trang 217 nói về trường hợp chiến sĩ Phan Thành Giót, trang 112 nói về trường hợp của hai chiến sĩ Tô Vinh Diên và Nguyễn Văn Chức.
[v]Nghiêm Kế Tổ, Sđd. tr. 206.
[vi] Ban Nghiên Cứu Ðạo Giáo, Tạl Sao Không Theo Đạo Chúa - Tuyển Tập I (Spring, TX: TXB, 1994), tr 223.
[vii] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 14-15.
[viii] Nguyên Vũ, Ngàn Năm Soi Mặt (Houston, TX: Văn Hóa, 2002), tr. 389.
[ix] Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo và Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr. 355-56.
[x] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 63-64.
[xi] Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1953 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 340.