Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Thử tìm hiểu quan niệm về dân chủ, quyền lực chính trị và cơ sở kinh tế của chúng

Vũ Quang Việt [1]

Dân chủ (democracy)[2] là đề tài của nhiều học thuyết nhưng tựu trung nói đến nguyên tắc về quyền ứng cử và bầu cử của tất cả mọi người dân đến tuổi trưởng thành nhằm tham gia chính quyền trực tiếp hoặc thông qua đại biểu được bầu chọn; về tương quan giữa thiểu số và đa số, về nhân quyền, về vai trò tối thượng của pháp luật không phân biệt đối xử về giai cấp, tầng lớp xã hội, mầu da, tôn giáo, người lãnh đạo và người bị lãnh đạo. 

Từ ngữ dân chủ dù không hàm ý tự do nhưng các nước dân chủ thường là những nước có tự do. Nếu không có tự do sẽ không có dân chủ.  Các quyền tự do của công dân thường được nói tới là tự do ngôn luận, tôn giáo, ý kiến, tham gia hội đoàn, và tình trạng tự do cụ thể như không phải là nô lệ, không bị đặt dưới quyền lực của người khác hoặc quốc gia khác, không vô cớ bị tù tội, bắt bớ, giam cầm, bị đặt dưới sự kiểm soát của một nhà nước độc tài. Tuy nhiên dân chủ và tự do có nghĩa khác nhau. Dân chủ có thể chỉ dành cho một số người quyền tham gia chính quyền và do đó chỉ đòi hỏi sự bình đẳng và tự do của những người có quyền dân chủ này. Tự do theo ý nghĩa của chủ nghĩa tự do (liberalism) nhấn mạnh về quyền hành động của cá nhân theo ý nghĩa con người, có lý trí, cần có tự do ngang nhau, và chỉ cần hành động trên cơ sở là trong một xã hội, tự do của người này không vi phạm hoặc hạn chế tự do của người khác.  Chủ nghĩa tự do không đặt vấn đề bình đẳng vì tất cả những hành động tạo ra sân chơi bình đẳng hơn như các chính sách nhà nước nhằm san bằng một phần cách biệt về những mất bình đẳng về thể chất sinh lý, gia thế, giai cấp khi sinh ra, hoặc do xã hội tạo ra là vi phạm đến tự do của công dân. Họ đòi hỏi, một cách không hạn chế, quyền mang súng, quyền sử dụng tiền ủng hộ những chính trị gia họ muốn, và phản đối các chính sách nhà nước nhằm phân chia lại lợi tức xã hội. Nếu có điều gì đó họ muốn ngăn chặn, như quyền phá thai, quyền luyến ái giữa những người cùng giới tính thì họ nhân danh đạo đức, tôn giáo thay vì dùng đến ý niệm tự do mà họ cổ võ.  
 
Những lý thuyết về dân chủ hiện nay phản ánh các lý thuyết về dân chủ hiện đại của John Locke, Montesquieu, Rousseau và các điều kiện xã hội mà các nước trên thế giới ngày nay đã đạt được từ sau sự ra đời của bản hiến pháp ở Mỹ năm 1787, cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789 và cuộc cách mạng tư sản ở Anh trước đó. Tuy vậy những từ ngữ hoặc ý niệm trên ra đời trên cơ sở các thể chế dân chủ đã được xây dựng thời Hy Lạp cổ đại rồi sau đó biến mất trên bản đồ thế giới cho đến lúc nước Mỹ lập quốc dựa trên lý thuyết dân chủ phát triển ở Anh và ở Pháp.[3]  Quyền lực gắn liền với chế độ kinh tế hiện thực trong mỗi thời đại, và chỉ qua xem xét chế độ kinh tế, ta mới có thể biết được giai cấp nào về thực chất nắm chính quyền. Lý thuyết về dân chủ ra đời, biến mất và trở lại trong lịch sử loài người với một nội dung khác khi cơ sở của nền kinh tế thay đổi. Tuy vậy, ngay từ kinh nghiệm đầu tiên của dân chủ ở Tây phương, và từ nguồn gốc của nó là Hy Lạp, tính giai cấp và nền tảng kinh tế của nó đã rõ rệt. Bài viết này nhằm tìm hiểu nội dung của thể chế dân chủ ấy rồi thử nghé nhìn tương lai ở các nước phương tây và Việt Nam.
I.  Dân chủ thời Hy Lạp cổ đại
Sự hiểu biết về các chế độ dân chủ thời cổ đại Hy Lạp là qua sách vở còn giữ lại được của các triết gia đầu tiên của văn hoá phương tây, chủ yếu là Plato và Aristotle. Nền dân chủ Athens kéo dài từ năm 479 đến năm 323 trước công nguyên (tcn). Đây là thời kỳ được mệnh danh là thời kinh điển (classical period) đặt nền tảng cho tư tưởng phương tây. Nhưng trước đó một thời gian rất dài, các hình thức gần với dân chủ đã trong quá trình hình thành. Trường ca Iliad, lưu truyền là của Homer và ra đời khoảng năm 800 tcn, cho ta suy đoán là chế độ dân chủ đã manh nha có mặt. Không có một nhà vua toàn quyền quyết định như ở phương đông, dù là phương đông của Ấn Độ, Trung Quốc hay Lưỡng Hà  (vùng Mesopotamia giữa hai con sông Tigres và Euphrates mà ngày nay là Iraq).  Ở truyện thơ Iliad, Agememnon là lãnh tụ (basileus), nhưng lại phải nghe ý kiến của hội đồng bô lão (council of elders) gồm thành phần thượng lưu giầu có và lãnh đạo quân sự, cũng như nghị viện nhân dân (assembly of the commons). Ba trăm năm sau, đến thời Aristotle, nhiều hình thức dân chủ đã có mặt. Chính vì thế mà ông đã thu thập tới 158 bản hiến pháp của các quốc gia thành phố ở Hy Lạp để phân loại, phân tách và phê phán các loại thể chế chính quyền, trong đó có các loại dân chủ.
Tóm tắt thời biểu cổ đại
3500 tcn
2700 tcn
800 tcn
479 tcn
323 tcn
Lưỡng Hà (Mesopotamia)
Văn minh Summer phát triển với thi ca, toán học (3500-3000)
Đế quốc đầu tiên do Sargon thành lập (2300)
Ai cập
Ai cập có chữ viết, 3000 tcn
Kim tự tháp đầu tiên ở Ai Cập
Hy Lạp
Trường ca Iliad và Odyssey của Homer
Bắt đầu của thời  Hy Lạp kinh điển khi dân chủ phát triển ở mức cao nhất
Kết thúc thời Hy Lạp kinh điển
Socrates (470-399)
Plato (427-347)
Aristotle (384-323)
Ấn Độ, Trung Quốc
Văn minh Harappan của người Ayans (3000-1500)
Kinh Veda (1200-1300)
Siddhartha Gautama (560-480)
Lão Tử (sinh 604?)
Khổng Tử (551?-479?)
 
1. Quá trình hình thành nhà nước dân chủ thời Hy Lạp cổ đại

Hy Lạp thời cổ đại chỉ gồm các quốc gia có bề rộng của một thành phố, được gọi là polis (quốc gia thành phố). Những quốc gia thành phố nổi tiếng thời đó là Athens, Ithaca, Sparta, Mycenae, Corinth. Athens là quốc gia thành phố để lại nền văn hoá lớn với các triết gia, nhà thơ, kịch tác gia và các khu vực đền đài tôn giáo như Acropolis, hí trường Dionysos còn tồn tại cho đến ngày nay. Athens là thành phố có cảng biển, bao bọc bởi các vùng nông thôn. Có vùng của các thế gia giầu với các trang trại trồng nho và cây olive để làm rượu và dầu olive xuất khẩu. Có vùng nghèo của nông dân trồng lúa mì. Trong hơn 270 năm tồn tại, Athens thay đổi không phải vì dựa trên sự phát triển tư tưởng của các triết gia thời đó như Socrates, Plato và Aristotle, v.v. mà là tranh chấp, hay đúng hơn là đấu tranh giai cấp dựa vào quyền lợi kinh tế trong xã hội. Các triết gia chỉ là những người ghi lại và phân tích.

Trước khi trở thành một quốc gia thành phố với nền dân chủ mẫu mực trong thời cổ đại, kéo dài rực rỡ từ năm 479 đến năm 323 tcn, Athens, trước đó cả 100 năm cũng như các polis khác, người đứng đầu là lãnh tụ theo hình thức mà thơ Homer đã diễn tả, nhưng rồi hệ thống quyền hành dần dần bị giai cấp thượng lưu ngày càng giầu có ảnh hưởng rồi chiếm đoạt. Quyền được giao cho 9 người thế lực trong hội đồng qúi tộc (được gọi là Areopagus). Plato và Aristotle gọi đó là thể chế tập đoàn qúi tộc lãnh đạo (oligarchy). Do xuất khẩu rượu vang và dầu olive, giới quí tộc nhập lúa mì từ những nơi có giá rẻ hơn. Giá lúa mì ở Athens do đó xuống giá, sản xuất lúa mì giảm. Người nông dân trở nên nghèo đói, thành con nợ của giới quí tộc, và để trả nợ họ phải bán vợ, con và chính họ thành nô lệ cho giới quí tộc. Giới quí tộc khi ngửi thấy mùi thuốc nổ cách mạng sắp bùng, họ đã trao quyền cho một cá nhân Solon để giải quyết. Đó là năm 594 tcn. Solon quyết định xóa bỏ hoàn toàn nợ nần, giải phóng những người trở thành nô lệ vì nợ. Ông ta chia xã hội thành 4 đẳng cấp: 2 đẳng cấp giầu nhất là thành viên của Hội đồng quí tộc (cố vấn). Đẳng cấp thứ ba là số đông được bầu cử người vào gồm hội đồng 400 người. Đẳng cấp thứ tư nghèo nhất tham gia vào Nghị viện. Nghị viện biểu quyết về các vấn đề do hội đồng 400 người đem tới. Toà án mang tính nhân dân.[4]  Dĩ nhiên dân Athens coi ông ta là anh hùng nhưng tiếc là ông ta không giải quyết được khủng hoảng kinh tế. Quyền hành rơi vào nhà lãnh đạo quân sự Peisistratus. Ông này phát triển văn hóa, biểu dương các nhà thơ, nghệ sĩ và biến Athens thành vùng văn hóa. Ông ta cũng đồng thời bằng mọi cách phá bỏ quyền hành của giai cấp quí tộc, nâng quyền của nghị hội công dân (assembly) và tòa án cùng với vai trò của người nghèo. Ông ta có tham vọng đế vương nên trở thành nhà lãnh đạo độc tài, khi chết quyền được trao lại cho con, một người nghi kỵ, độc đóan do đó có nhiều kẻ thù. Một dòng họ giầu có bắt liên lạc với vua Sparta chiếm đóng Athens. Sparta là đại biểu của thể chế lãnh đạo tập đoàn thuộc giới quí tộc (oligarchy) và thường dùng quân sự làm biện pháp cướp bóc tài sản còn Athens là đại biểu của thể chế dân chủ.
2. Nội dung và cơ sở kinh tế của dân chủ thời cổ đại       
Athens chỉ thực sự bắt đầu xây dựng thể chế dân chủ khi Cleisthenes đánh đuổi quân Sparta, lên cầm quyền vào năm 508 tcn. Cleisthenes tiếp tục cải cách, công nhận quyền công dân của mọi người tự do (không phải là nô lệ), lập ba khu vực chính quyền: Hôi đồng Aeropagus, Nghị hội công dân (Asembly) và toà án (Thesmothetae).
Theo Aristotle trong quyển The Athenian Constitution,[5] Hội đồng Aeropagus có trách nhiệm viết hiến pháp, làm luật, chọn các chức vụ hành pháp và tư pháp mà mọi công dân trên 30 tuổi có tài sản ở mức do luật định đều có tư cách tham gia. Hội đồng này gồm 500 thành viên được chọn bằng cách rút thăm (lottery) từ 10 bộ lạc (tribes) mỗi bộ lạc chọn 50 người và có nhiệm kỳ là một năm. Chức vụ hành pháp cao nhất là 9 Archons. Nghị hội công dân (assembly) gồm các công dân nam, có quyền phủ quyết quyết định của Hội đồng Aeropagus và là cơ quan độc nhất có quyền tuyên bố chiến tranh.[6] Một số loại án, toà án xử theo bồi thẩm (jury) thường khoảng 500 người. Bồi thẩm do 9 người đứng đầu hành pháp và thư ký toà án lựa chọn, theo lối bắt thăm từ công dân. Năm 487, Nghị hội lại có thêm quyền tước bỏ quyền công dân[7] trong vòng 10 năm của cá nhân nhằm ngăn chặn các cá nhân có hành vi chiếm quyền. Nghị hội thường xuyên họp một tháng một lần. Dĩ nhiên không phải mọi công dân đều tham gia, một phần bị bận rộn công việc, một phần không muốn tham gia. Nền dân chủ Athens vận hành đại khái như thế, dù hiến pháp cũng luôn thay đổi, trong 150 năm, phản ánh đấu tranh quyền lực giữa cá nhân và gia cấp thượng lưu muốn nắm quyền, và số đông dân chúng cho đến khi bị đại đế Alenxander tiêu diệt. Nền dân chủ đó được gọi là democracy, tức là thể chế trong đó người công dân (demos) cai trị (kratein).
Để hiểu thêm về những yếu kém của dân chủ Athens mà Socrates, Plato và Aristotle phê phán sau này ta cũng nên điểm qua vài nét về cấu trúc xã hội thời đó. Các Polis thời cổ đại thường chỉ có từ vài trăm đến vài ngàn công dân nam. Athens là một polis lớn nhất thời đó, có chừng 40 ngàn công dân nam theo Martin.[8] Theo Will Durant,[9] tổng số dân Athens có chừng 400 ngàn người, trong đó 250 ngàn (hơn một nửa) là nô lệ và trong số 150 ngàn người tự do thì chỉ có 2/3, tức là 112 ngàn có thể trở thành công dân do cha mẹ là công dân, nhưng ít nhất một nửa là phụ nữ không thể trở thành công dân, do đó số công dân khoảng 56 ngàn. Dù 40 ngàn hay 56 ngàn, tức là chỉ bằng 10-14% số dân thì đây là con số rất lớn để làm việc chọn người theo lối bốc thăm thay phiên một cách hiệu qủa. Thế nhưng dân chủ Athens đã kéo dài khoảng 150 năm và là thời huy hoàng của thi ca, kịch nghệ, triết học, khoa học và kiến trúc. Trong khoảng thời gian trên có ít nhất một lần nền dân chủ Hy Lạp bị đe doạ. Đó là năm 404 tcn, sau cuộc chiến với Sparta, tập đoàn được mệnh danh là 30 người độc đoán (tyrants) nắm quyền bằng bạo động nhằm xoá bỏ chế độ dân chủ nhưng thất bại. Plato là người ủng hộ nhóm này nhưng vì không chấp nhận bạo động nên rút lui.
         
Vài nét sơ lược về lịch sử cổ đại Hy Lạp cho thấy hình thái dân chủ được xây dựng ở đó không phải là kết quả của tư tưởng và lý thuyết từ các triết gia hoặc tư tưởng gia. Nó ra đời một cách bất ngờ, chỉ xảy ra ở một nơi duy nhất là Athens trong thế giới cổ đại từ tây sang đông, cho đến khi bị đế chế của Alenxander và sau đó là La Mã xoá bỏ. Lý do nào để cho nó ra đời như vậy? Chắc là không có câu trả lời. Thế nhưng nó không hoàn toàn ngẫu nhiên. Có thể nói lực lượng kinh tế là một yếu tố tạo điều kiện cho nó ra đời. Trong thời kỳ dân chủ, Athens đã sống chủ yếu bằng sản xuất và xuất khẩu rượu vang, dầu olive, hàng thủ công và nhập lúa mì để nuôi dân. Công nghệ như vậy đã phát triển khá cao. Nó cho phép tạo việc làm để nuôi số dân khá lớn với một mức sống khá cao trong xã hội cổ đại. Đời sống cao này được thể hiện qua các công trình nhà ở và đền đài hiện còn để lại dấu vết, cũng như qua các công trình văn hoá phát triển về nhiều mặt như triết học, toán học và các khoa học khác, kịch nghệ và thi ca. Athens có nhà hát kịch, có các đấu trường để tổ chức các cuộc thi thể thao như olympics, và có giáo dục cưỡng bách hai năm cho thanh niên (công dân) trên 18 tuổi và có các trường nổi tiếng như Academy của Platon và Lyceum của Aristotle. Để ta hình dung thêm về sự giầu có thời đó, Aristotle có thư viện lớn tốn 800 talents,[10] tính bằng tiền hiện nay (2003) lên tới 22 triệu US, một số tiền khá lớn so với thư viện trung bình ở đại học Mỹ hiện nay. Dù không hoàn toàn tin cậy được, con số trên cho thấy thư viện của Aristotle rất lớn, cũng như tầm quan trọng của việc học và sự giầu có của Athens.  Số người giầu có và có tài sản không phải là ít. Có thể nói chính đời sống cao như vậy là lý do giải thích tại sao mà trong suốt 150 năm không có những cuộc biến lọan do người nghèo chủ mưu như đã xảy ra trước thời kinh điển.
Nói tóm lại, trước khi bị các đế chế to lớn nuốt trôi, Athens là quốc gia thành phố có sản xuất hàng hóa, với ngoại thương phát triển và do đó có tầng lớp tư sản khá lớn tới mức nuôi sống nổi số lao động tự do và nô lệ khá đông đảo và xây dựng được một nền văn hóa rực rỡ. Có thể nói, nó chẳng khác gì quốc gia thành phố Singapore hiện nay về mặt kinh tế cộng thêm với tư cách một trung tâm văn hóa của nhân lọai. Nó không cần và cũng không có khả năng về dân số gây chiến tranh chiếm đoạt. Từ các cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử, nó đã hình thành một thể chế dân chủ nhằm bảo đảm tự do sản xuất, thương nghiệp và quyền công dân.  Quyền công dân này tất nhiên dành riêng cho những công dân nam có tư sản, trong nhà thì phụ nữ lo việc nhà, sản xuất thì nô lệ lo, các demos đàn ông do đó có quyền rong chơi bàn và làm chuyện dân chủ.
             
3. Dân chủ dưới cái nhìn của triết gia

Nếu dân chủ Athens là kết qủa của sự cân bằng thế lực giai cấp trong xã hội thì các triết gia như Socrates, Plato và Aristotle vẫn tỏ ra không mấy hài lòng vì hình thức dân chủ này không đạt tiêu chuẩn họ đặt ra.
 
Socrates - Plato
Socrates không để lại tác phẩm nào do đó tư tưởng của ông ta chỉ là những gì mà Plato, học trò và bạn ông, thể hiện qua các tác phẩm trong Đối Thoại (Dialogues). Và cũng vì vậy không thể biết được tư tưởng nào là của Plato và tư tưởng nào là của Socrates.  Nhưng có thể nói hai triết gia trên là những nhân vật “phản cách mạng” theo cách nói và phân tích của I. F. Stone.[11] Theo Xenophone người cùng thời với Socrates viết trong Memorabia thì Socrates chủ trương quyền hành tuyệt đối của một nhà vua thông thái (wise king), dựa trên tiền đề là “vai trò của người lãnh đạo là ra lệnh và vai trò của kẻ bị trị là phục tùng.” “Vua hay người lãnh đạo là người biết lãnh đạo.”[12] Ông công kích dân chủ, coi đó là một thể chế quyết định bởi những người không biết, không có kiến thức, hoặc những doanh thương giầu có, đầu óc mê muội vì tiền bạc. Không chỉ phát biểu ý kiến, Plato còn tham gia vào cuộc binh biến nhằm lật đổ chính quyền dân chủ như đã nói ở trên. Nhiều học trò của Socrates hợp tác với Sparta và tham gia vào cuộc binh biến. Socrates bị xử tội chết vì công dân dân chủ (demos) ở Athens lo sợ ông ta sách động thanh niên tham gia các cuộc bạo động phản cách mạng.   
Socrates và Plato là hai nhà tư tưởng thuần lý cho nên thực tế đối với họ không quan trọng lắm. Theo họ, ý (ideas) theo nghĩa sự thật, định luật, lý tưởng có tính vĩnh cửu bị bề mặt của thực tế che dấu cho nên ngũ giác không thể cảm nhận được, nhưng lại có thể nhận thức được qua lý trí và tư tưởng thông qua đối thoại. Plato ví thực tế mà con người nhìn thấy giống như các hình thể mập mờ trên tường mà một người ngồi quay mặt vào lòng hang nhìn thấy trên tường, do ánh sáng phản chiếu sự thực ở ngoài hang. Cho nên đối với Plato, đối thoại, triết lý và toán học là phương pháp luận tìm đến sự thực. Sự thật mà tư tưởng khoa học tìm kiếm phải có khả năng diễn tả bằng toán học. Toán học là loại suy luận chính xác và chắc chắn nhất của con người.[13] Giáo dục là dạy đi tìm ý. Người lãnh đạo thông thái là vua - triết gia (philosopher king), là người ưu tú nhất của xã hội về tư tưởng, và những nguời trong giai cấp lãnh đạo cũng phải là những người ưu tú, được huấn luyện từ nhỏ. Chính vì thế mà Plato chủ trương một thế giới cộng sản dành riêng cho những người được chọn lựa để trở thành lãnh đạo toàn hảo. Họ có vợ chung, không có tài sản riêng, sống và được huấn luyện chung kiểu trại lính bởi vì theo Plato đó là cách duy nhất để những người này trở nên hiền đức, không tư hào cá nhân, không ghen tuông, không bị quyến rũ bởi vật chất, không cần biết đến luật pháp, vì luật pháp cản trở họ làm quyết định trước những thực tế luôn luôn thay đổi, họ là người có khả năng tư duy để tìm ra sự thật.[14]  Tư tưởng chính trị của Socrates – Plato xem ra còn quá khích hơn chủ nghĩa Mao – Pol Pot. 
       
Aristotle
Aristotle, dù là học trò của Plato, đã phản bác toàn bộ quan điểm của thầy về chính trị và cả triết lý. Aristotle cơ bản là nhà khoa học thực nghiệm, dù chỉ dựa vào quan sát chứ chưa biết đến phương pháp kiểm chứng giả thuyết bằng thực nghiệm.[15] Ông cho rằng để hiểu biết thế giới chung quanh, cần có óc quan sát và xếp loại. Để viết một điều gì ông ta thu thập những gì đã được viết về đề tài này, xem xét các ý kiến về đề tài này và tìm hiểu tất cả những vấn đề liên quan đến đề tài đó. Từ những quan sát, ông ta đi đến kết luận về định luật. Phương pháp qui nạp (inductive reasoning) mà ông dùng là một trong những phương pháp khoa học căn bản của phương tây. 
Trong tác phẩm Politics, Aristotle quan niệm về mục đích cuối cùng của cuộc đời không phải là làm tốt mà là hạnh phúc. Ông ta viết: “Chúng ta chọn hạnh phúc vì chính [giá trị tự tại của] nó mà không vì những điều gì khác; còn khi chúng ta chọn danh dự, khoái lạc, tri thức, ...bởi vì chúng ta tin rằng chúng làm ta hạnh phúc.”[16]  Polis [quốc gia thành phố - hàm ý quốc gia] là một hội nhập chính trị nhằm đạt điều tốt đẹp nhất. Nhiều gia đình hội nhập thành làng. Nhiều làng hội nhập thành polis. Polis phải hội đủ điều kiện để tự túc nhằm đạt được cuộc sống tốt đẹp. “Polis ra đời vì yêu cầu sống còn cơ bản, nhưng nó hiện hữu vì mục đích phục vụ cuộc sống tốt đẹp.” “Con người, theo bản chất tự nhiên, là con vật chính trị” bởi vì chỉ có nó mới có khả năng trao đổi suy nghĩ về công lý, bất công và những điều tốt đẹp. Nhà nước dựa trên pháp luật là thiết yếu cho cuộc sống. “Con người, khi được làm hoàn hảo thêm [ngầm nói qua giáo dục], là đỉnh cao nhất của loài vật, nhưng khi bị tách khỏi luật pháp và công lý, nó là con vật tồi tệ nhất...Chính công lý là sợi dây nối kết con người với nhà nước vì lẽ việc thực hiện công lý là nguyên lý cao nhất trong một tập thể chính trị.”[17]  Để đạt được hạnh phúc, con người phải dựa vào chức năng duy nhất mà chỉ con người mới có, đó là: “hoạt động của tâm hồn theo lý trí.” (activity of the soul according to reason).
Triết lý về chính trị của Aristotle có thể tóm gọn như sau: Mục tiêu cuối cùng của con người là hạnh phúc mà hạnh phúc chỉ có thể đạt được trong một xã hội dựa trên công lý và công lý là kết qủa của hoạt động lý trí ngày càng được nâng cao bởi giáo dục.     
Trên cơ sở triết lý trên, Aristotle chống lại công hữu bởi vì nó tạo nên tranh chấp quyền lực khi chính con người đã có khó khăn làm việc chung với nhau. Ngoài ra nếu có tư hữu thì con người mới quan tâm đến bảo toàn của cải, chia sẻ với bạn bè và người khác và qua đó mới tạo ra những cái chung một cách tự nguyện. Cách hay nhất là có những cái riêng để sử dụng chung, nguồn gốc của hạnh phúc và cơ sở để thực tập đức tính tiết chế và rộng lượng. Chỉ có giáo dục là Aristotle nhìn khác, nó nên là trách nhiệm của nhà nước.
Cách chọn lãnh đạo của Plato, theo Aristotle, nguy hiểm ở chỗ người lãnh đạo sẽ luôn luôn là người lãnh đạo, nguồn gốc gây ra tranh giành và bản thân họ cũng không hạnh phúc. Plato nhìn vào sự thông thái hoàn hảo của một cá nhân nhưng xã hội lại cần hoà hợp giữa con người, gia đình và quốc gia, cho nên cách nhìn của Plato là phi chính trị.[18] Luật pháp là dựa trên con người, tình hình của quốc gia và các nước chung quanh.
Aristotle tuy vậy cũng đề cao tiêu chuẩn chọn lựa lãnh đạo dựa trên sự xứng đáng (merit) về thông thái, đức hạnh và lý trí, do đó chủ trương tầng lớp lãnh đạo phải là tầng lớp ưu tú (aristocrates).[19]  Không thể coi mọi công dân là bình đẳng. Ông nghi ngờ giới làm giầu từ thương mại và chủ trương gạt họ ra khỏi chính quyền. Qua những lập luận ông đưa ra trong tác phẩm Politics, ta có thể lên bảng xếp hạng các dạng thể chế chính trị từ cao đến thấp như sau: vua/tổng thống (monarchy), tầng lớp ưu tú (aristocracy), cộng hoà lập hiến (constitutional republic), dân chủ (democracy), tập đoàn nhà giầu (oligarchy), và cuối cùng là độc tài (tyranny). Rồi sau đó ông làm bài toán loại trừ. Vua/tổng thống theo ý nghĩa là một lãnh đạo thông thái là không tưởng. Tầng lớp ưu tú cũng không thể thực hiện được vì nó không hiện hữu. Dân chủ ai cũng như ai thì là chế độ của người nghèo, u tối kiến thức. Theo ông, kẻ nghèo thì hay tham lam, dễ mua chuộc, không thể có tự lập để tự do quyết định.  Tập đoàn nhà giầu, độc tài thì không thể chấp nhận được. Như vậy chỉ còn một thể chế hiện thực và tốt hơn cả là cộng hoà lập hiến, nhất là khi nó đại diện cho tầng lớp trung lưu đông đảo nhất. Tầng lớp này có tư sản cho nên không phải lo lắng về đời sống vật chất hàng ngày, có giáo dục và do đó không quá tham lam để dễ bị mua chuộc, còn bọn thương nhân giầu có có thể mua quyền lực. Chỉ có chính quyền của tầng lớp trung lưu đông đảo hành xử theo luật pháp mới có khả năng bền vững. Ông đánh giá là với số công dân ngày càng đông thì chính quyền dân chủ là hình thức có khả năng trở thành hiện thực nhất. Không thể trả lời câu hỏi chính thể nào là tốt nhất một cách trừu tượng vì nó còn tùy vào điều kiện hiện thực. Ông nghĩ một nhà nước không nên lớn quá và cũng không nên nhỏ quá, 10 ngàn công dân là vừa. Lịch sử của quốc gia thành phố Athens là chuỗi của các chế độ thay phiên nhau, có khi độc tài (tyranny), có khi dân chủ (democracy) và có khi là tập đoàn nhà giầu. Tập đoàn nhà giầu leo lên được là do dựa vào thế ngoại bang Sparta. Độc tài cũng không sống lâu được vì không có cơ chế quân sự có thể dùng làm phương tiện đàn áp.   
Nói tóm lại tư tưởng của Aristotle về chinh quyền là một nhà nước dân chủ hạn chế, thiết chế bằng hiến pháp và pháp luật cho tầng lớp trung lưu. Dân chủ hạn chế theo nghĩa chỉ có nam công dân, có tài sản, có kiến thức mới được tham gia và quyết định việc nước. Quan điểm về phụ nữ và nô lệ của Aristotle có thể bị đánh giá là lạc hậu với suy nghĩ ngày nay chỉ vì trong tất cả những phạm trù về đạo đức ông không bao giờ nêu vấn đề về nhân phẩm (human dignity) như là thuộc tính của con người.  
 Tư tưởng của Aristotle về chính trị đã nêu lên nhiều vấn đề mà cho đến ngày nay vẫn là những điều vẫn còn đang được bàn cãi:
-    Có thể có dân chủ khi nhà nước trở nên quá lớn không? Và như vậy quyền lợi của thiếu số (giai tầng khác nhau trong xã hội và địa phương) sẽ giải quyết như thế nào? Điều này không phải chỉ là quan tâm của Aristotle mà của cả J.J. Rousseau sau này trong tác phẩm On The Social Contract. Chính vì thế mà Alexis de Tocqueville khi đi thăm và quan sát nước Mỹ đã tìm thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của các hình thức dân chủ ở cấp dưới quốc gia qua các đoàn thể đủ loại, hoặc về tôn giáo hoặc liên quan đến các vấn đề mà thành viên có cùng quan tâm nhằm mục đích tập hợp bảo vệ quyền lợi riêng hoặc chỉ để chia sẻ kinh nghiệm hoặc chuyên môn. Những loại tổ chức này ngày nay ta gọi chung là xã hội dân sự một điều mà Tocqueville đã nhận ra tầm quan trọng trong việc bảo vệ tổ chức xã hội đa dạng, tránh tình trạng xã hội bị ép vào một mẫu chung. Cũng chính vì thế mà việc tập trung toàn bộ quyền hành vào chính quyền trung ương hay tản quyền cho chính quyền địa phương cũng được đặt ra.[20]  Dân chủ có thể trở thành độc tài của đa số nếu như quyền tự do của cá nhân không được tôn trọng. Cho nên một xã hội đồng thuận đòi hỏi nó phải giải quyết một cách hợp lý giữa dân chủ và tự do. Chủ nghĩa tự do quá trớn đi ngược lại sự sống còn của tập thể và sự hiện hữu của xã hội và quốc gia. 
-    Công hữu đưa con người đến việc tập trung tranh giành quyền lực là chính?
-    Phải chăng việc không có tư hữu làm cho con người mất khả năng tự túc về đời sống kinh tế cá nhân và gia đình do đó đưa đến việc họ mất khả năng tự do quyết định?
-    Chính quyền vững mạnh là của giai cấp trung lưu đa số hay là của thiểu số? Đây là vấn đề sẽ được khai thác trong phần tới.
II. Từ cơ sở kinh tế của xã hội đến vấn đề giai cấp và nhà nước dân chủ
1. Thời kỳ phong kiến
Có thể nói hệ thống tư tưởng của Aristotle chỉ đặt nền móng cho tư tưởng phương tây từ khi giai cấp tư sản ra đời. Trước đó, nó mất dần ảnh hưởng khi Athens bị chiếm đóng. Trong thời trung cổ đen tối, sách vở bị thiêu hủy khi xã hội phương tây bị đặt dưới ách thống trị của Công giáo La Mã . Chế độ công giáo La mã kéo dài suốt cả ngàn năm là một chế độ không chỉ là độc tài theo xếp loại của Aristotle mà là độc tài thần quyền dựa trên phán quyết của giáo hoàng.[21] Độc tài thần quyền của giáo hội và độc tài của đế chế La Mã phải dựa nhau để tồn tại. Để giữ uy quyền của giáo hoàng, ngay cả thánh kinh cũng bị cấm phổ biến vì nó đi ngược với phán quyết của giáo hội La Mã.  Nhưng rồi quyền lợi địa phương dần dần phân hóa đế chế La Mã. Các nhà nước quốc gia độc lập ra đời đã lấy cở sở đoàn kết là cải cách tôn giáo, là việc truyền bá và diễn dịch thánh kinh, và rồi là sự kết hợp giữa việc bành trướng đế quốc quốc gia của giai cấp tư bản và việc truyền đạo.
Khi hoàn cảnh nền kinh tế còn thuần nông nghiệp và dựa vào nông nô, người dân chủ yếu là nông nô không thể tự túc về kinh tế, thì nhà nước phong kiến của giai cấp chủ nông giầu có với khả năng đàn áp nắm quyền lực là chuyện đương nhiên. Không chỉ ở Tây Âu, mà còn ở nơi khác cũng thế, nếu một nông nô nào đó lãnh đạo được đám đông lật đổ được chính quyền tàn ác hoặc rệu rã nào đó thì họ cũng sẽ chỉ lập lại một thể chế như cũ. Đám đông nông nô hoặc làm nông nghiệp nhỏ không có khả năng về kinh tế để trở thành một giai cấp tự nó và cho nó, có nghĩa là nó không thể có ý thức về vai trò của nó và không có cơ sở kinh tế để thực hiện vai trò nào đó dù có ý thức. Ai trong đám nông nô ngoi lên được thì cũng sẽ trở thành chủ nô, hoặc quan văn của thể chế phong kiến.   
2. Thời tư sản của cách mạng công nghiệp
Phong trào vận động dân chủ chỉ ra đời khi giai cấp tư sản (tư sản lớn và tiểu tư sản) ra đời và lớn mạnh ở các thành phố thương mại, công nghiệp do phát triển của khoa học kỹ thuật. Họ đòi hỏi quyền tự do cá nhân, trong đó có tự do kinh doanh. Những lý thuyết gia của nó cũng như Aristotle là từ những gia đình hoặc giầu có hoặc tiểu tư sản có đủ phương tiện kinh tế cho con em mình học hành. Montesquieu thuộc dòng quí tộc, J.J. Reasseau có bố là thợ làm đồng hồ có khả năng cho con ăn học[22]. Cũng như Aristotle, và bị ảnh hưởng của ông, họ quan sát cuộc vận động của phát triển xã hội. Nhưng các lý thuyết gia cũng chỉ là người xem xét sự vận động của xã hội chứ bản thân lý thuyết không thể đảo lộn hướng vận động của xã hội. Lý thuyết về giai cấp vô sản nắm chính quyền cũng chỉ đảo lộn được trật tự xã hội một thời gian nhưng không thể đảo lộn hướng đi của nó.
Quan điểm tư sản khởi đầu bằng luận thuyết của John Locke (1632-1704) về nguồn gốc của sở hữu là từ lao động, về tự do cá nhân là quyền tự nhiên của con người, đã gạt bỏ vai trò lãnh đạo tự nhiên của vua chúa và giới thượng lưu.[23] Giai cấp trung lưu trong thời diễn ra cuộc cách mạng kỹ nghệ chính là giai cấp lao động: chủ, thợ và lao động trí thức. Sau đó, tư tưởng Aristotle đã có cơ hội ảnh hưởng sâu đậm đến Montesquieu và Rouseau. Montesquieu là nhà lý thuyết về quyền tự do chính trị, hiến pháp và pháp luật (1748) mà cống hiến quan trọng nhất là phân quyền tam lập (hành pháp, lập pháp và tư pháp) dù ông ta vẫn chưa chủ trương xóa bỏ quyền của vua chúa. Lý thuyết về khế ước xã hội của J.J. Rousseau (1762) coi xã hội là một khế ước mà con người như một tập thể lập nên. Rousseau là người đi trước Marx, phê phán thể chế dựa trên tư hữu, và cũng như Aristotle đánh dấu hỏi về giả thuyết coi quyết định của đa số là đúng đắn, và coi mục đích của chính quyền là bảo đảm tự do, bình đẳng và công lý cho công dân bất chấp ý kiến của đám đông.  Cuộc vận động dân chủ ở phương tây cho ta thấy lại thấy tầm quan trọng của nhận xét của Aristotle:
-    Quyền lực nếu muốn thành công và tồn tại lâu bền phải là quyền lực của giai cấp đông đảo nhất trong xã hội có thể tự lực và độc lập về kinh tế và có hiểu biết qua giáo dục để làm quyết định chính trị;
-    Giai cấp đông đảo này chính là giai cấp trung lưu trong xã hội trong đó có giới trí thức. Họ là thành phần có thể tự lập về kinh tế, không còn phải sống nhờ vào giáo hội và giai cấp thượng lưu, do đó có thể phát triển tư tưởng độc lập và ý thức về vai trò của mình, về giá trị lao động và quyền con người nói chung. Nói theo kiểu triết học, nó là giai cấp tự nó và cho nó.
-    Nhiệm vụ của nhà nước là nâng mọi người công dân ở trình độ kinh tế thấp hơn vào giai cấp đông đảo này.        
Quan điểm này tất nhiên rất khác với quan điểm giai cấp của Marx. Và vào thời Marx thì giai tầng này chưa đông đảo đủ để có vai trò. Với Marx và vào thời Marx, giai cấp đông đảo nhất là giai cấp lao động cơ bắp, giai cấp làm ra của cải cho xã hội, nhưng bị giai cấp tư sản nắm phương tiện sản xuất, không lao động và bóc lột thặng dư. Cũng như nông nô, giai cấp lao động cơ bắp này chưa bao giờ là giai cấp tự nó và cho nó. Và hiện nay giai cấp lao động cơ bắp này ngày càng nhỏ đi ở các nước tư bản phát triển chứ không lớn lên. Nhưng có lúc giai cấp vô sản là đa số, nếu lật đổ được giai cấp tư sản để nắm chính quyền thì nó không tránh khỏi việc trở thành chính quyền tư sản. Lý do đơn giản là nó không phải là giai cấp tự nó và cho nó. Cuộc cách mạng mà Marx đề xướng và sau đó được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới chỉ là nhân danh giai cấp vô sản nhưng thực chất chính quyền là từ thành phần thiểu số tự coi mình là “ưu tú” của xã hội nằm trong đảng tiền phong và giao cho mình quyền quyết định về luật pháp, chọn lựa ứng cử viên vào mọi cấp chính quyền. Chính quyền này về cơ bản có thể xếp loại theo Aristotle vào tầng lớp ưu tú (aristocracy), hoặc là vua/tổng thống (monarchy) khi chủ tịch đảng hoặc tổng bí thư theo nghĩa vua – triết gia (philosophy king) của Plato nắm toàn quyền ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Nhưng cũng như Aristotle đánh giá, tầng lớp ưu tú và vua – triết gia theo đúng nghĩa của nó là không tưởng, không hiện thực. Tính ưu tú, nếu có, cũng dần mất đi để thay thế bằng tranh dành quyền lực cá nhân. Hơn nữa thể chế này không có cơ sở kinh tế để tồn tại nếu không dùng đến các biện pháp đàn áp.
III. Thử nghé mắt nhìn tương lai
Dù nhìn cách nào thì vấn đề phân tích giai cấp và đấu tranh giai cấp của Marx là phương pháp luận quan trọng nhất để phân tích sự vận động của xã hội. Và đó cũng là phương pháp biện chứng duy vật mà Marx chủ trương. Tuy nhiên từ phương pháp biện chứng duy vật để rút ra một kết luận thì kết luận đó cũng chỉ là giả thuyết cần có thực tế trong tương lai kiểm chứng, nếu không nó phản khoa học, không khác gì phương pháp tư duy đi tìm “ý” bằng đối thoại duy lý của Plato hay biện chứng duy lý của Hegel sau này.
Ở các nước phát triển hiện nay, giai cấp lớn nhất là trung lưu, trong đó có lao động cơ bắp, nhưng lao động có trí thức trong các hoạt động dịch vụ đang trở thành tầng lớp đa số.[24]  Tầng lớp này dùng tri thức là chính, dù đi làm công, nhưng có quyền lựa chọn, không phải gắn mình vào một ông chủ, có đời sống kinh tế tự lập, có kiến thức và do đó có thể nói nó là giai cấp tự nó và cho nó. Tầng lớp này ở một nghĩa nào đó cũng phù hợp với quan điểm của Marx về giai cấp nắm phương tịện sản xuất, theo nghĩa nắm vốn tư bản sản xuất. Hiện nay họ tham gia vào việc nắm sở hữu tư bản thông qua sở hữu cổ phần công ty, nhưng về thực tế chưa thể hiện được quyền làm chủ của mình. Thể chế tồn tại được khi chính quyền là từ họ và đại diện cho quyền lợi của họ. Giai cấp này ngày càng trở thành giai cấp tự nó và cho nó, cho nên nó không thể không ý thức về mục tiêu cuối cùng của con người mà Aristotle bàn đến là hạnh phúc, mà hạnh phúc chỉ có thể đạt được trong một xã hội dựa trên công lý và công lý là kết qủa của hoạt động lý trí ngày càng được nâng cao bởi giáo dục. Phân tích về giai cấp lao động trí thức và xã hội dựa chủ yếu vào trí thức trong tương lai đã là đề tài của nhiều người, một thứ khoa học viễn tượng, giả thuyết. Nhưng dù là khoa học viễn tượng, nó cũng là điều đáng làm.  Tuy không phải là đề tài của bài viết này, cũng nên phác hoạ vài nét về nền kinh tế Mỹ hiện nay.  Sự phát triển của hoạt động dịch vụ ở đây đã lên trên 70% thu nhập quốc dân (GDP) và được điều động chính bởi tài sản tài chính. Đây là điều Marx chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của chúng nên đã chỉ tập trung vào phân tích sản xuất vật chất và coi dịch vụ là thuộc phạm trù phi sản xuất. Tư bản hiện nay có thể nói là đã đi qua thời làm chủ trực tiếp phương tiện sản xuất mà tập trung làm chủ phương tiện tài chính. Làm giầu nhanh chóng có thể do các phát minh có ảnh hưởng lớn đến năng xuất hoặc tạo ra các hàng hóa mới, không còn dựa vào bóc lột lao động trực tiếp; nhưng chủ yếu làm giầu nhanh chóng ngày nay là do việc tạo ra thế độc quyền về tư bản tài chính, tạo giá trị ảo ở thị trường tái chính rồi ăn chênh lệch giá tài sản, có nguồn gốc từ những người có sở hữu.[25] Vai trò của lao động tri thức và thể chế tương lai của một nền kinh tế trí thức trong tương lai cùng với sự vận động của tư bản tài chính là điều đáng tìm hiểu.    
        
Đối với một số nước mà thần học ngày càng đóng vai trò gìn giữ nhân phẩm và lòng tự hào về văn hóa và dân tộc thì vấn đề dân chủ theo nghĩa chọn lựa theo đa số hẳn không phải là con đường mang lại hạnh phúc và công lý cho đám đông, mà là mang tới cho con người một ách đô hộ mới, đồng thời tước bỏ quyền của thiểu số. Tư tưởng vận động cho một nhà nước thần học hoặc đậm tính thần học này không chỉ đã và đang xảy ra ở các nước Hồi giáo mà ngay cả ở Mỹ, với tổng thống Bush. Thể chế thần quyền tất nhiên cũng không có cơ sở kinh tế để tồn tại dài lâu. Trường hợp tranh đấu cho dân chủ ở Iran hiện nay là điển hình. Vấn đề chọn lựa dân chủ của đám đông u tối chính là lý do mà Aristotle phủ nhận dân chủ về mặt lý trí, nhưng đồng thời lại chấp nhận đó là giải pháp thực tế tốt nhất. Cũng như Aristotle, tất nhiên nhà nước Mỹ hiện nay, hơn ai hết nhận thức được hệ quả của chương trình vận động phất cao ngọn cờ dân chủ. Nhưng không như Aristotle, nơi nào Mỹ phất và không phất ngọn cờ dân chủ còn tùy theo đòi hỏi của thực tế nhằm mục đích bảo vệ quyền thống trị riêng. Cho nên họ phất ngọn cờ này rất ác liệt đối với Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Liên Xô trước đây nhưng lại dẹp ngọn cờ này, đứng sau lưng các thể chế độc tài trước đây và hiện nay như đối với Pakistan, Afghanistan, Iraq, Saudi Arabia, Ai cập, v.v.
Ở Việt Nam hiện nay, nếu nhìn vào số lao động thì giai cấp lớn nhất, chiếm đến gần 80% dân số là nông dân với tầm tri thức nằm cao nhất là ở trình độ giáo dục cơ bản, đời sống kinh tế chỉ tạm đủ ở mức nghèo khổ nên nó không thể là giai cấp tự nó và cho nó về mặt kinh tế và tư tưởng. Giai cấp lao động cơ bắp còn nhỏ bé và bản thân nó dù có lớn lên trong tương lai cũng không phải là giai cấp tự nó và cho nó như đã xảy ra ở các nước tư bản phát triển. Và khi nó lớn lên về số lượng thì nó sẽ trở thành một phần của giai cấp trung lưu có tư sản và tri thức. Cho nên nhà cầm quyền hiện nay, dù chỉ là “nhân danh giai cấp,” và không cần đến bạo lực trấn áp, vẫn có thể tồn tại nếu như nó phục vụ quyền lợi của số đông dân chúng, nhất là khi nông dân dù còn nghèo khổ nhưng đã có đời sống được nâng cao hơn xưa rất nhiều. Tính nhân danh này cũng đã được hổ trợ bằng sức nặng của một quá khứ đóng góp vào công cuộc giải phóng đất nước. Tuy vậy chỉ cần thêm một vài thế hệ nữa là những nguời lãnh đạo sẽ không còn có quá khứ để bám vứu, và người dân cũng không còn nhìn về quá khứ mà nhượng bộ. Tự do kinh doanh đã mở cửa cho người dân có cơ hội độc lập trong hành động và tư tưởng, vì bát cơm không còn do nhà nước ban phát như trước kia. Ý thức về giai cấp sẽ lớn dần khi giai cấp trung lưu lớn mạnh và nếu phát triển như hiện nay thì giai cấp này sẽ nhanh chóng trở thành giai cấp tự nó và vì nó. Quyền lực chỉ có tính “nhân danh,” tự chọn lựa nhau, trên lý thuyết là dựa vào tính “ưu việt” của những người “ưu tú”, nhưng thực tế nếu chỉ nhằm bảo vệ sự tồn tại của tính nhân danh, thì quyền lực đó không có khả năng tồn tại lâu dài. Điều này đã xảy ra ở Đài Loan, Nam Triều Tiên và Thái Lan. Tất nhiên, ở một mức độ nào đó, nhà cầm quyền hiện nay cũng ý thức về tính “nhân danh” của mình nên đã phải thay đổi, chấp nhận một số quyền tự do và mở rộng dân chủ, vừa có tính tự nguyện vừa bị khách quan bó buộc phải thay đổi. Nhận xét này tất nhiên là giả thuyết và chắc chắn là sẽ có người phản bác.  
Mục đích cuối cùng của chính quyền là mang lại hạnh phúc và công lý cho công dân như Aristotle nói. Dân chủ chỉ là phương tiện. Muốn có dân chủ thì trước tiên người công dân phải có tự do để có đời sống kinh tế tự chủ, tức là có tư sản cho phép họ có tri thức thông qua giáo dục để làm quyết định chọn lựa độc lập. Muốn có tự do thì tất nhiên phải có nhà nước độc lập.  Và khi nói đến mang lại hạnh phúc và công lý cho công dân thì không thể quên cái đuôi của nhóm từ “thể chế kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa” nếu nội dung của định hướng xã hội chủ nghĩa là công lý theo quan điểm của Aristotle. Con người sinh ra không bình đẳng về thể chất sinh lý, về trí tuệ, về hoàn cảnh gia đình, cho nên công lý đòi hỏi định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tạo bình đẳng về cơ hội, phân phối lại tài sản để nâng đời sống cho những người thiệt thòi.  Thể chế tư bản cũng thay đổi vì áp lực đấu tranh của những người tin vào định hướng xã hội chủ nghĩa này.  Càng nhìn vào nước Mỹ hiện nay, không thể không thấy sự quan trọng của cái đuôi này. Tất nhiên cái đuôi này không mang ý nghĩa nhân danh tính ưu việt của tầng lớp ưu tú.                             
08 tháng 7 năm 2003
Vũ Quang Việt
             


[1] Chuyên viên thống kê kinh tế, Statistics Division, Liên Hợp Quốc. Tác giả bài viết xin cám ơn giáo sư Cao Huy Thuần đã đọc và góp ý kiến quí báu nhằm hoàn chỉnh hơn bản thảo đầu, cũng xin cám ơn anh Ái Việt đã sửa dùm nhiều lỗi chính tả.
[2] Nếu dân chủ là nhằm nói về nguyên tắc quản lý việc tham gia điều hành dù dưới hình thức chính quyền nhà nước hay một tổ chức hay hiệp hội nào đó thì cộng hoà là nhằm nói về thể chế về người đứng đầu nhà nước dân chủ. Chẳng hạn vương quốc Anh, Hà Lan, Bỉ, có Vua hoặc Nữ Hoàng đứng đầu nhà nước, do cha truyền con nối nhưng thực ra họ không còn chút quyền nào đáng kể nên dù không gọi là cộng hòa, các nhà nước này không khác gì một nhà nước cộng hòa.   
[3] Người ta thường nói về ảnh hưởng tư tưởng của John Locke đối với các cha đẻ của Hiến pháp Mỹ về bảo vệ tự do cá nhân trong đó quyền tư sản là quan trọng nhất, hạn chế tối đa quyền của nhà nước, và quyền lập đổ chính phủ nếu chính phủ vi phạm công ước xã hội (social contract) về quyền tự nhiên của công dân. Nhưng rõ rang là tư tưởng phân quyền khá triệt để ở Mỹ là do ảnh hưởng của Montesqieu.
[4] Aristotle nói về Solon và toà án nhân dân (the courts are popular) trong chương 12 của quyển Politics. Có lẽ đây là xử theo bồi thẩm (jury) bỏ phiếu quyết định.
[5] The Athenian Constitution, Great Books, Volume 9, Aristotle: Volume II, Britannica, US 1952.
[6] Tổ chức ở cấp dưới là demes cũng khá phức tạp.
[7] Từ ostracism ra đời vì cách bầu là dùng mảnh sành gọi là ostra.  
[9] Will Durant, The Story of Philosophy, the Pocket Library, New York, 1995, tr.4.
[10] Will Durant, như trên, tr. 54. Talents là đơn vị đo lường tiền tệ thời cổ đại ở Hy Lạp và La Mã sau này. Durant tính giá trị của 800 talents là 4 triệu US năm 1955, tương đương 22 triệu năm 2003 khi chuyển đổi bằng cách dùng chỉ số giá ở Mỹ.
[11] I.F. Stone, The Trial of Socrates, Anchor Books, New York, 1989.
[12] I.F. Stone, như trên, trang 12.
[13] G. C. Field, The Philosophy of Plato.
[15] Có thể nói Aristotle là nhà san định, phân loại hoặc viết về toàn bộ khoa học về sinh học, vật lý, khí hậu học, thi ca, chính trị, siêu hình học, tâm lý học, logic, đạo đức học, mỹ học, v.v. Những gì còn sót lại không khác gì một bộ bách khoa toàn thư cỡ lớn. Nhiều từ ngữ về khoa học đang dùng hiện nay là xuất phát từ Aristotle. Lưu truyền rằng Aristotle đã viết từ 400 đến hàng ngàn tác phẩm. Dù số tác phẩm thực viết như thế nào chưa biết nhưng chỉ nhìn những tác phẩm còn lại cho đến ngày nay thì trước tác của ông ta quả là lớn lao.
[16] Nicochamean Ethics, Book 1, chapter 7, Great Books, Volume 9, Aristotle: Volume II, Britannica, US 1952.
[17] Politics, Book 1, chapter 2, Great Books, Volume 9, Aristotle: Volume II, Britannica, US 1952.
[18] Politics, Book 2, Great Books, Volume 9, Aristotle: Volume II, Britannica, US 1952: .
[19] Aristocrates, aristocracy dịch là ưu tú, thay vì thượng lưu, thì mới đúng ý của Aristotle.
[20] Tất cả những vấn đề của một nền dân chủ nhiều thành phần này đã được Robert A. Dahl xem xét khá kỹ trong tác phẩm nổi tiếng: Dilemmas of Pluralist Democracy, Autonomy vs. Control, Yale University Press, New Haven, 1982.
[21] Chỉ đến năm đến năm 1225 mới tìm lại được tác phẩm của Aristotle trong thư viện của người Hồi giáo và được dịch ra tiếng Latin. Chính tu sĩ công giáo St. Thomas Aguinas (1225-1274) là người dịch Aristotle từ tiếng Hy Lạp ra tiếng Latin. Ông là người bảo vệ Aristotle, bảo vệ khoa học và lý luận chống lại các nhà thần học khác coi Aristotle là không phù hợp với thiên chúa giáo trong Summa Theologica nhưng lý luận thần học vòng thúng của Aguinas chẳng giúp gì cho sự phát triển của khoa học. Từ St. Thomas Aguinas đến J.J. Rousseau (1762) mất thêm 500 năm nữa. Đó cũng chính là vì cơ sở kinh tế chưa ra đời, cho phép một cuộc cách mạng tư tưởng.
[22] Great books, Volume 38, Montesquieu, Rousseau, Britannica, 1952.
[23] Đã được thảo luận trong bài viết trong hội thảo Lìège (1999): Cơ Sở Triết Lý Và Kinh Tế Chính Trị Của Sở Hữu. 
[24] Thành phần lao động trí thức hiện nay ở Mỹ năm 2000 chiếm tới 25.6% tổng lao động nếu tính dựa theo số lao động tốt nghiệp đại học.
[25] Mặc dù ở Mỹ đã có hơn 50% hộ gia đình có sở hữu cổ phần, nhưng sức mạnh bị phân tán. Tuy nhiên, khi nhìn nguồn tài chính từ quĩ hưu trí, chiếm tới 38% tổng tiêu sản (số tiền đóng góp vào nguồn vốn đầu tư của xã hội) – theo US Reserse Bulletin, summary of financial assets and liabilities, ta thấy khả năng kiểm soát thị trường tài chính của nguồn vốn từ dân này không phải là nhỏ. Sự dối trá trong các hoạt động tài chính được phát hiện năm 2000-2002 cũng làm nhiều người đã đặt lại vai trò thụ động của các quĩ hưu trí.
© 2004 Thời Đại Mới

Nietzsche, cái chết của Thượng Đế và minh triết Phật giáo

Nói tới Nietzsche là phải nói tới ‘đối thủ’ của ông, người mà ông đã khai tử một cách gọn gàng; ‘Thượng Đế đã chết’. Thượng Đế ngày xưa được ưa chuộng bao nhiêu thì bây giờ bị lạnh nhạt bấy nhiêu, nhất là ở Tây Phương. Ngay cả hàng ngũ chăn chiên cũng không còn mấy người tin là Thượng Đế có thật...

Ở Việt Nam, ngườii viết về triết gia Friedrich Nietzsche nhiều nhất là Phạm Công Thiện. Những hố thẳm triết lý mà Phạm Công Thiện nhắc tới là những hố thẳm tuyệt vọng của triết lý Tây Phương khi chưa tìm ra ngỏ thoát.
Nhưng người nghiên cứu nghiêm chỉnh là Linh Mục Lê Tôn Nghiêm. Thái độ nghiêm chỉnh này đưa đến chuyện mất niềm tin vào một Thượng Đế giả định của lý trí. Lê Tôn Nghiêm có một phản ứng can đảm là trả áo vì không còn niềm tin của một người chăn chiên.
Mấy triết gia Việt nam đi trước thời đại. họ đặt vấn đề hố thẳm của tư tưởng vào thập niên 60 vì hai thập niên sau, ở Anh Quốc có một phong trào nghiên cứu tim hiểu tư tưởng Nietzsche một cách rầm rộ không kém. Hội Nghiên Cứu Nietzsche được thành lập tại Anh vào năm 1990 và sách vỡ nghiên cứu Nietzsche tràn ngập thị trường chữ nghĩa. Các bài nghiên cứu về sự liên hệ giữa tư tưởng Nietzsche và Socrate, Kant, Schopenhauer, Heiddegger, thi sĩ Blake, Darwin, các nhà phê bình hậu hiện đại, thái độ của ông về Ky Tô Giáo, Phật Giáo vân vân...được in ra nhan nhản. Các lời phát biểu của Nietzsche thường gây ra tranh cãi được phân tích tường tận.
Tuy nhiên không phải triết gia nào cũng có thiện cảm với Nietzsche. Bertrand Russell nhạy cảm với chũ nghĩa quốc xã, nên cho Nietzsche cổ vỏ một thứ triết lý con người quyền lực, nhằm loại bỏ những người hoặc chủng loại kém cỏi (như Quốc Xã đã tiêu diệt Do Thái và thí nghiệm tạo những con người tuyệt hảo như trong phim The Boys From Brazil) khỏi mặt địa cầu và chỉ còn lại những con người hoàn hảo theo kiểu Nietzsche, một con người ‘không còn tình cảm, tàn nhẫn, gian trá, chỉ chuyên nghĩ tới quyền lực’. Dĩ nhiên những ngộ nhận đó ngày nay không còn nữa.
Nói tới Nietzsche là phải nói tới ‘đối thủ’ của ông, người mà ông đã khai tử một cách gọn gàng; ‘Thượng Đế đã chết’. Thượng Đế ngày xưa được ưa chuộng bao nhiêu thì bây giờ bị lạnh nhạt bấy nhiêu, nhất là ở Tây Phương. Ngay cả hàng ngũ chăn chiên cũng không còn mấy người tin là Thượng Đế có thật (ít nhất là Thượng Đế hữu ngã). Tuỳ Viên báo chí của Tổng Giám Mục Canterbury (Giáo Trưởng cao nhất của Anh Giáo) đã tuyên bố trong tờ Independence là có nhiều Mục Sư không còn tin tưỏng vào sự hiện diện của Thượng Đế nữa nhưng vẫn tiếp tục chăn chiên. Nói một cách khác các ứng viên Mục Sư Anh Giáo không còn phải xác nhận lòng tin Thượng Đế trước khi được tuyển làm Mục Sư, hay có khi còn được phong vào hàng ngũ Tổng Giám Mục.
Cái Chết Của Thượng Đế
Nietzsche muốn nói gì khi tuyên bố là Thượng Đế đã chết và còn bảo là tất cả chúng ta là những kẻ đã giết Ngài?
Xác nhận của Nietzsche không phải là một xác nhận có tính cách thần học (nghĩa là ai muốn tin thì cứ tin). Nietzsche cũng không đưa lý luận đầy đủ để chứng minh là Thượng Đế không hiện diện, mà nói là Ngài chỉ hiện diện trong tâm trí của con người. Nó chỉ là một lời kêu cứu trầm thống của triết lý và văn hoá Tây Phương hiện đại. Nói một cách khác nó nói lên sự mất mát lòng tin vào thế giới quan siêu hình cùng với toàn thể hệ thống giá trị (nhất là các giá trị luân lý) đã được chấp nhận trong văn hoá và tôn giáo (it refers to the complete loss of belief in the accepted religious and metaphysical world view along with the system of values it upholds). Lời tuyên bố này tiên đoán sự phát hiện của thời đại hư vô, một thời đại thiếu trù phú về văn hóa do việc mất mát lòng tin này. Oái oăm thay việc mất lòng tin vào Thượng Đế mà người Tây Phương xem là tối thượng và vô giá này, lại là một hệ quả tự nhiên và hợp luận lý của thế giới quan siêu hình và tôn giáo đã được chấp nhận trong lịch sử văn hoá Tây Phương.
Tất cả bắt đầu từ nền tảng tư tưởng của Socrate và Plato phân chia hai thế giới, bị chia cắt riêng biệt: một thế giới vô thường, thực tế và hiện sinh; một thế giới khác trường tồn, nền tảng của mọi hữu thể. Chính thế giới Thực Hữu (true Reality) này mang ý nghĩa cho mọi ý nghĩa và giá trị cho ‘đời sống’. Quê nhà đích thực của con người là thế giới thiêng liêng này, nó giúp cho con người định hướng đời sống của mình. Thế giới này cũng cho con người khả năng dùng lý trí để ‘làm hoa tiêu cho linh hồn’ (the pilot of the soul). Trong khi thế giới tự nhiên, hiện hữu không có một giá trị gì, không ý nghĩa tự tại nào, mà chỉ là một phản ảnh yếu ớt, một phó bản mờ nhạt của thế giới ‘thực hữu’. Trong nền tảng thế giới nhị nguyên này, đời sống đích thực của con người là đời sống đi tìm thực hữu trường cữu của thế giới ‘bên trên’, và mục tiêu của đời sống cho đến lúc qua đời là theo đuổi con đường đạt được kiến thức, thiết lập mối liên hệ với, và cuối cùng đi vào, thế giới ‘trường cữu’ đó. Đó là quê nhà đích thực của con người. Giá trị nhân sinh cao cả nhất của con người về mặt tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ, không thể tìm ở thế giới tự nhiên này, nhưng chỉ có thể tìm thấy trong một thế giới đã được siêu nhiên hóa. Thế giới hiện hữu chỉ qua là thế giới vô thường, vô nghĩa, vô giá trị và có thể gọi là thế giới ‘bất thiện’ (evil). Do đó những đam mê, ước muốn và mục đích đều vô giá trị và vô nghĩa. Và những tình cảm này phải được chế ngự bỡi những thiện nhân (Good man). Trong thế giới Tây Phương, tư tưởng của Plato đã cung cấp nền tảng thần học cho Ky Tô Giáo. Như Augustine nói: ‘Ky Tô Giáo là tư tưởng Plato của quần chúng’ (Christianity is Platonism for the people). Thế giới thực hữu trường tồn của Plato trở thành Vương Quốc của Thượng Đế! Thế giới này còn được nhiều người ‘vươn tới’ hơn thế giới thuần lý của triết gia, vì chỉ cần một điều kiện duy nhất là Lòng Tin là có thể về với nước Chúa! Tuy nhiên đối tượng của lòng tin chỉ có thể minh chứng được khi chết (eschatological verification).
Plato, diễn dịch tư tưởng Socrate, theo Nietzsche là một bước ngoặt và là đỉnh cao nhất của lịch sử thế giới. Mặc dù Ky Tô Giáo tuyên bố là chỉ cần lòng tin là được lên thiên đàng, tư tưởng Plato, hay có thể nói là toàn thể lịch sử tư tưởng Tây Phương, khuyến khích con đường theo đuổi trí thức của những con người có thiên tư. Con đường theo đuổi tri thức đã định tính và định hướng cho việc hình thành văn hoá Tây Phương cho đến ngày nay. Ngang trái thay, chính vì theo đuổi con đường đi tìm tri thức và sự thật đã khiến cho nhãn quan thế giới nhị nguyên của Plato không còn đứng vững nữa. Có nghĩa là đến lúc không còn mấy ai tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế. Và việc mất lòng tin này đưa đến một thời đại tràn ngập chủ nghĩa hư vô (nihilism). Việc theo đuổi đi tìm sự thật khiến người ta khám phá ra được một chân lý là, không có một chân lý nào cả, không có cái gọi là thế giới thực hữu trường tồn theo thị kiến của Plato. (Phật trong 49 ngày tỉnh tọa cũng không tìm thấy gì khác hơn không có cái gì gọi là trường tồn cả, Tất cả vô thường vì tất cả là duyên khởi). Nếu không có thế giới bất biến trường tồn thì cũng không có vương quốc của Thượng Đế và không có cả một Thượng Đế không có vương quốc! Cái chết của Thượng Đế có nghĩa là sự sụp đổ toàn diện của một thế giới quan, sự giải thích về sự hiện hữu, cả một hệ thống giá trị, đạo đức diễn dịch ra từ thế giới quan này. Tại sao chuyện ‘động trời’ như thế có thể xảy ra được?
Sự kiện này liên hệ đến toàn thể lịch sử triết lý và thần học Tây Phương, nhất là sự phát triển của khoa học hiện đại (khoa học theo nghĩa của từ ngữ Đức Wissenschaft gồm cả khoa học chính xác thực nghiệm lẫn khoa học nhân văn như khoa ngữ văn mà Nietzsche là một chuyên viên).
Đầu thế kỷ 18 bắt đầu với nhà tư tưởng Ý Vico, các nhà triết lý đi đào bới lịch sử để tìm các dấu hiệu có ý nghĩa để giải thích sự liên tục giữa quá khứ, thời đại họ đang sống và hướng đi của lịch sử trong tương lai. Mặc dù là quan điểm khác nhau, các triết gia này đều nhìn lịch sử qua lăng kính Plato, tất cả đều kết luận là lịch sử nhân loại tiến hoá theo một mục đích có ý nghĩa và mục đích này phản ảnh những nổ lực và tiềm năng của con người. Con người và hành động là trung tâm điểm của vũ trụ và vũ trụ này có mục đích và được cấu trúc một cách nào đó để thực hiện những mục đích nói trên. Nhưng theo Nietzsche, vì những khám phá của các khoa học gia, nhất là Darwin, cho thấy là ý nghĩa và mục tiêu chỉ là sự lừa bịp vĩ đại và chúng chỉ phát xuất từ lòng mong ước của con người. Với tác phẫm Về Nguồn Gốc Của Các Chủng Loại (On the Origin of Species), các dữ kiện khoa học sẵn có cho thấy con người bây giờ không còn là trung tâm của cái gì ngoài cuộc đời của chính họ, không có bằng chứng gì chứng tỏ những thế lực siêu nhiên lo lắng chăm sóc cho số phận của con người. Thế giới thiên nhiên không có cấu trúc nhằm mục đích để ‘lo’ cho sự an sinh của con người hơn là các loài vật khác. Hoàn toàn không có bằng chứng nào để chúng ta có thể kết luận lạc quan kiểu đó. Theo Darwin con người cũng giống như các loài vật khác và trong vũ trụ không có luật lệ cần thiết nào để bảo đảm sự tiến bộ trong tương lai. Nietzsche nói trong tác phẩm Daybreak:’Trước đây người ta đi tìm cái cảm giác về sự cao cả của con người bắt nguồn từ siêu nhiên. Con đường này nay đã trở thành `con đường cấm: đứng gác cổng có mấy con vượn, bên cạnh có các loài thú dữ khác, như thể muốn nói với con người là: đừng có đi về hướng này nữa’. Tự xem mình khác hẳn với thiên nhiên, linh ư vạn vật, con người xem mình là một sản phẩm của một thế lực siêu nhiên nào đó, có một linh hồn siêu nhiên hóa, không còn được mấy ai có suy nghĩ chấp nhận nữa. Nietzsche tự hỏi phải chăng cái cảm tưởng cao cả đó phát sinh từ một hướng khác?
Nietzsche dĩ nhiên là không vui vẻ gì khi thấy Thượng Dế chết vì ông không chấp nhận chủ nghĩa hư vô. Thượng Đế được xem như là vô giá trong văn minh và văn hoá Tây Phương, vốn là nguốn cỗi lòng tự hào của con người, và nếu Ngài (hiểu theo lăng kính của Plato, nền tảng triết lý và thần học Tây Phương) không còn nữa, tất cả sẽ bị tràn ngập và phá hủy bởi một thời đại tàn bạo như thú vật. Trong Những Suy Nghiệm Không Đúng Thời (Untimely Meditations) Nietzsche cho thấy nỗi lo sợ của ông:
Lý thuyết cho là giữa con người và con vật không có gì khác nhau- nếu được truyền bá trong một vài thế hệ nữa, không ai ngạc nhiên khi thấy con người chìm đắm trong lòng vị kỷ nhỏ nhen, tham lam, tan vỡ và biến dạng không còn là con người nữa. Thay vào đó, trong tương lai có những hệ thống cá nhân ích kỷ, nhóm người này bốc lột những nhóm người khác .
Cái chết của Thượng Đế và sự phát sinh của chủ nghĩa hư vô, mặc dù là do kết quả của một sự duyệt xét thành khẩn về những định chế mà người Tây Phương tạo dựng ra, lẽ ra phải đưa đến những gì có giá trị hơn cho nhân loại, trái lại nó tạo ra một hố thẵm về mặt văn hoá. Sự sụp đổ của ý niệm Thượng Đế làm mở ngỏ những sức mạnh tàn hại khốc liệt cho văn hóa nhân loại. Những gì mà chúng ta tự hào về con người đang bị tàn phá sụp đổ mà chưa có hệ thống giá trị nào thay thế.
Tất cả những hệ thống giá trị là sản phẩm của con người, do chính con người sáng tạo ra, và nếu chúng bị hủy bỏ đi, cả vũ trụ chúng ta đang sống trở thành lạnh lẽo, vô nghĩa. Con người cảm thấy mình bị lừa dối trong một thời gian quá dài và tự dưng cảm thấy hoàn toàn vô vọng vì mất mát quá lớn này. Tuy nhiên chưa ai có thể biết chắc là cuộc đời thực sự vô nghĩa không, hay nó có thể có ý nghĩa vượt ngoài sự suy nghĩ của con người. Nietzsche cũng nghĩ như thế và ông ta bắt đầu đi xây dựng một thế giới quan mới và một hệ thống giá trị mới để thay thế cho hệ thống đã bị sụp đổ. Cái chết của Thượng Đế đặt lại một câu hỏi căn bản về ý nghĩa của đời sống và của con người mà tất cả mọi người đều phải đi tìm ra câu giải đáp. Nietzsche ví von điều nầy với một con tàu lại ra khơi trong một chuyến viễn du mới, một cuộc hành trình mới.
Mỗi cá nhân có những tiềm năng chưa hề được vén mở và khi tiềm năng này được hé mở, đời sống của họ trở nên vô giá, có ý nghĩa hơn và làm con người thõa mãn không biết tới mức nào mà lường. Lầm lạc một lần để đi theo viễn kiến của Plato và Thượng Đế hữu ngã của Ky Tô Giáo không có nghĩa là tất cả mọi con đường tiến hóa khác trở thành những ngỏ cụt, không có nghĩa là không còn một con đường nào khác. Nietzsche dĩ nhiên làm chuyến viễn du mới, chỉ tiếc là ông chưa đi được xa để thấy mặt trùng dương, Đề nghị trả lời của ông khi đối mặt với chủ nghĩa hư vô, đề nghị lượng giá lại mọi giá trị chưa đi đến đâu thì ông qua đời. Tuy nhiên ông cũng đã để lại cho chúng ta vài dấu ấn, dù mờ nhạt. Nietzsche có nhắc tới mối lo sợ của ông là mọi người trong cơn khủng hoảng đối mặt với hư vô, có thể tìm về Phật Giáo như là một niềm an ủi trong hố thẵm in lặng.
Phật Giáo Qua Lăng Kính Của Nietzsche
Nietzsche thấy có một sự tương đồng giữa thời đại của ông và thời đại của Đức Phật. Theo Nietzsche Đức Phật cũng thấy hoàng hôn của những thần tượng như ông ta thấy Thượng Đế đã chết. Nhưng thay vì tìm một con đường mới vén mở những tiềm năng của con người để đối phó lại với hư vô, Đúc Phật tạo ra một tôn giáo giúp con người ‘thích ứng’ với hư vô một cách ‘an lạc’! Đức Phật dạy những đệ tử cùng thời làm thế nào để đối diện với sự vô nghĩa của hữu thể và đời sống, đối diện với một vũ trụ mà trong đó con người không có một chỗ đứng đặc biệt nào hơn những chúng sinh khác, mà vẫn giữ được an lạc. Đó tình trạng mà theo Nietzsche PG gọi là ‘nhập nát bàn’. Mặc dù Đức Phật đã tránh được một thảm họa do chuyện Thượng Đế đã chết, tức là rơi vào tình trạng hỗn mang vô tổ chức, Đức Phật đã không hiểu im lặng của hố thẵm, cái tình trạng tâm lý tuyệt vọng khi thấy cái thế giới quan mà mình dùng làm nền tảng của tất cả hệ thống giá trị bị hoàn toàn sụp đổ. Cái tuyệt vọng của một người khi thấy là đời sống hoàn toàn không có một ý nghĩa nào và do đó thế giới mình sống cũng hoàn toàn không có một giá trị hay ý nghĩa nào. Đức Phật vì không hiểu được hố thẵm đó từ đâu, nên đã chấp nhận hố thẵm đó như là hiện trạng cuối cùng của hữu thể. Đức Phật đã tìm cho con người một mục đích của sự sống, đó là nát bàn, một liều thuốc cuối cùng, giúp con ngưòi an lạc, vô dục, vô cầu trong đó mọi khổ đau của trần thế sẽ không còn nữa và cái chết được xem như là niềm an lạc tối hậu. Do đó Nietzsche xem Phật Giáo là một tôn giáo cho một nền văn minh đã mệt mõi đến hồi kết thúc. Mặc dù theo Nietzsche Đức Phật đã không siêu việt hóa được cái hố thẵm hư vô, ông xem Đức Phật như là một người y sĩ thực sự đã tìm được phương thuốc cứu chửa cho con bệnh. Không giống như những tôn giáo khác, Phật Giáo không hứa hẹn với con người những mục tiêu giả tưởng, mà chỉ cung cấp những mục tiêu thực tế. Con đường Phật đạo đưa tới hạnh phúc thực sự chứ không phải là một thứ hạnh phúc hứa hẹn hoang đường. Tuy nhiên Đức Phật không vượt qua được hố thẵm hư vô và chỉ làm tăng thêm cái vô nghĩa của một vũ trụ cứng nhắc, lạnh lẽo và vô nghĩa. Nietzsche thấy những nhà tư tưởng đương thời mất niềm tin nơi Ky Tô Giáo nên bắt đầu thấy Phật Giáo quyến rũ nên lo sợ là Phật Giáo sẽ lần lần lan tràn qua Âu Châu. Phật Giáo cung cấp một cách trị liệu cho tâm trạng thất vọng của thành phần trí thức Âu Châu và giúp họ đối đầu với hố thẵm hư vô một cách an lạc.
Giải Pháp Của Nietzsche Để Đối Đầu Với Hố Thẵm Hư Vô
Nietzsche đi tìm câu trả lời cho câu hỏi căn bản: Nếu nguồn cỗi của chân lý, thế giới tuyệt đối thường hằng của Plato không có thực, thế giới hiện sinh vô thường mà chúng ta đang sống thì sao? Câu trả lời của Nietzsche, ngạc nhiên thay, không khác câu trả lời của Phật Giáo Đại Thừa là bao nhiêu:
Khi chúng ta hủy bỏ thế giới ‘thực’ thì còn lại thế giới nào? Có lẽ là thế giới hiện sinh? NHƯNG KHÔNG! Hủy bỏ thế giới thường hằng có nghĩa là chúng ta cũng hủy bỏ luôn thế giới hiện sinh, vô thường.
Để độc giả thấy cái nhìn của Nietzsche gần gũi với Phật Giáo tới mức nào, câu khẳng định của Đại Thừa có lẽ nên được nhắc tới đây: Ta Bà tức Tịnh Độ. Thiền bẻ gẩy cái nhìn nhị nguyên để đạt tới cái khởi đầu của vòng khâu Bát Chánh Đạo: Chánh kiến. Nietzsche cũng thấp thóang nhìn thấy chính kiến. Cái còn lại với chúng ta chỉ giản dị là ‘thế giới’, khi thế giới giao lưu với cuộc đời và được giải thích qua thị kiến của con người. Theo Nietzsche tới đây chúng ta không còn ai ngạc nhiên khi thấy Ông đã quá gần gũi với lý giải duy thức và cuối cùng đến cái mà Phật xem là chân lý căn bản và tột cùng: duyên khởi. Ai thấy được duyên khởi tức là thấy chánh pháp và ai có được chánh kiến về pháp tức là thấy được lý duyên khởi. Thế giới được mô tả và định nghĩa một cách có thể hiểu được: đó là ‘ý chí quyền lực (will to power) chứ không là gì khác ‘ Cái ý niệm ‘ý chí quyền lực’ của Nietzsche thay thế cho ‘ý niệm’ niệm về Thượng Đế và ý niệm này ‘rút ra được từ thế giới hiện sinh’ ( nói theo Phật Giáo, thế giới ở đây và bây giờ). Nhờ cái ý chí quyền lực này mà thế giới và cuộc đời lại một lần nữa có ý nghĩa và con người có được một thị kiến mới, đầy ý nghĩa về hữu thể hiện sinh được và giúp chúng ta vượt qua hố thẵm hư vô. Qua bờ bên kia. Yết Đế Ba La Yết Đế.
Làm thế nào Nietzsche đạt được chánh kiến này?
Theo quan điểm văn hóa của Nietzsche, trong toàn thể lịch sử văn hoá Tây Phương, chỉ có một dân tộc đạt đến hình thức tuyệt hảo này: dân Hy Lạp cổ đại. Họ là một dân tộc thiên tài ‘độc nhất’ trong lịch sử nhân loại bởi vì họ đã tạo ra nhiều nhân vật cao cả nhất. Để thấy tháp thoáng là nhân loại sẽ ‘đi về đâu’, Nietzsche trở về với hình ảnh của dân Hy Lạp. Đi tìm nguyên nhân tại sao dân Hy Lạp có thể tạo ra nhiều hình ảnh cao cả như vậy, Nietzsche khám phá ra là nhờ thái độ của người Hy Lạp đối với dục vọng và đam mê (desires and passions; để cho độc giả có cảm tưởng gần gũi, đó là thái độ đối với tham và sân). Người nhìn thấy những tàn hại ghê gớm của ‘bản tính’ con người có thể gây ra, nhưng khác với Plato họ không tách con người ra khỏi bản tính. Họ không có ý định giải thích cái này là có giá trị hơn cái kia bằng cách dựa vào những nguồn gốc siêu nhiên ‘chỉ có trong trí tưởng tượng’, nhưng họ thấy được những gì cao đẹp nhất ở ngay trong bản tính con người (trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật!), ngay trong thế giới ta bà này. Người Hy Lạp nhận là trong con người có cả những chủng tử xấu xa và ‘vô nhân’, nhưng thiên tài của họ nằm ở chỗ là họ tạo ra những phương cách đối trị lại những chủng tử xấu xa đó. Trong tác phẩm của thi sĩ Hy Lạp, Hesiod, một trong những tính chất căn bản của con người là xung đột, tranh chấp mà ông gọi là Eris. Hesiod nhân cách hoá Eris thành hai ông thần: một ông ‘ác’ luôn gây chiến tranh và một ông ‘Thiện’ luôn là hiệp sỉ khuyên khích mọi người cạnh tranh (chứ không phải xung đột) nhau. Nietzsche phê bình đây là điểm sáng giá nhất trong tư tưởng Hy Lạp. Điều quan trọng là, ‘bản tính’ của con người có thể được uốn nắn không phải để đưa đến những hành động chiến tranh, mà khiến mọi người tranh nhau để hướng thượng thăng hoa. Người Hy Lạp không có phán đoán ‘nhân tâm’ là thiện hay bất thiện, bởi vì đó chỉ là phản ảnh thiên nhiên, phi thiện-phi ác. ‘Chân tâm’ chỉ là ‘tự nhiên nhi nhiên’. Tùy con người đi hướng nào thì chừng đó mới có thiện ác. Nếu dùng theo hướng sáng tạo, cạnh tranh con người có thể thăng hoa và theo đuổi sự tuyệt hảo, arete. Những bi kịch ngày nay mà mọi người còn thưởng thức như Sophocles, Aeschylus và Euripides, cũng được sáng tạo từ tinh thần agon này. Người Hy Lạp biết nghệ sĩ là người luôn luôn dấn thân trong một cuộc đấu tranh cá nhân.
Qua những thí dụ về chủng tử tốt qua thi sỉ Hesiod, người Hy Lạp tạo ra một mẫu mực đấu tranh (agon) để theo đưổi sự tuyệt hảo và mẫu mực này đã trở thành câu trả lời cho hố thẵm hư vô. Eris của Hesiod đã trở thành ý chí quyền lực của Nietzsche. Củng như Eris của Hy lạp, will power này cũng có thể là chủng tử thiện hay ác. Nhưng cuộc tranh đấu này, thay vì tranh đấu với những người khác nhau, nó là một cuộc tranh đấu trong chính bản thân con người. Kẻ thù ta đâu có phải là người. Kẻ thù ta tên nó là gian ác, thù hận. Khả năng tự chế dục vọng, si mê Nietzsche gọi là khả năng tự chế (Self overcoming- Selbstuberwindung). Con đường tự chế ngự dục vọng-si mê là con đường vượt qua hố thẵm. Ý chí quyền lực trong mỗi cá nhân được Nietzsche đề nghị thay thế cho nổ lực tôn giáo (Ky Tô Giáo). Mục tiêu của đời người không phải là hướng về một thế giới khác, mà là nổ lực tái tạo cá nhân trên thế giới này để thăng hoa, đi tìm cái tối hảo (exellence-Ubermensch). Mục đích tạo ra Ubermensch trở thành ý nghĩa của cuộc đời.
Khuôn mẫu persuit for excellence do văn hoá Hy Lạp cung cấp vẫn chưa đủ trong thế giới hiện nay. Một thị kiến mới về con người và cuộc đời nếu muốn được mọi người tin tưởng và chấp nhận phải khế hợp với những tiến bộ về khoa học. Tuy nhiên một thái độ máy móc về khoa học cũng sẽ đưa con người về hố thẵm hư vô. Cái nhìn phân tích máy móc không giúp ích gì trong việc đi tìm ý nghĩa của con người và cuộc đời. Khi đọc tác phẩm Lịch Sử Chủ Nghĩa Duy Vật (History of Materialism) của Friedrich Lange, Nietzsche tìm ra một phương tiện để phản bác chủ nghĩa duy vật máy móc : đó là lý thuyết sinh động của một toán học gia, Roger Boscovitch. Vật thể thay vì chỉ là một khối ù lì bất động, cứng nhắc, được thay thế bởi puncta, những lực vô hình, không định hướng, trung tâm của lực, mà các khoa học gia gọi là Những Trung Tâm Lực (Force-centres-Kraftcentren). Cái mà chúng ta gọi là một khối rắn chắc thật ra các chùm-lực. Cái mà chúng ta nghĩ là không châm thủng được, thực ra chỉ là những phản lực. Tất cả những hiện tượng tự nhiên từ một vi tử đến con người theo mô thức này, là tổng hợp của những lực. Con người cũng tiến hóa như thiên nhiên, dùng những hình ảnh mà chúng ta có về chính bản thân của ta, là tổng thể của những lực ‘bên trong’ chúng ta như nhu cầu, bản năng, tình cảm, đam mê. Ai am hiểu giáo lý Duy Thức đýu biết là ‘tư tưởng’ và cảm giác chỉ là kết quả của sự giao lưu giữa tâm vương và tâm sở và ý thức chỉ là một ‘điều hợp viên’, Con người chấp vào ngã hữu vì nghĩ là phải có một ngã hữu điều hợp tư tưởng và tình cảm này. Tuy nhiên trong Phật Giáo có thể có tư tưởng nhưng không có người suy nghĩ (Thoughts without a thinker). Nietzsche thấy là thuyết vật thể sinh động của Boscovitch phải được bổ khuyết thêm bằng ‘ý chí bên trong’ (inner-will), những động lực từ bên trong khiến chúng ta suy nghĩ hay hành động- và ngay cả một nguyên tử cũng có một wille zur Match này. Có thể gọi những động lực tiên khởi (nisus) này là ‘bản năng’ thêm vào thuyết khối- lực của Boscovitch thành Willen-Punktationen hay các điểm-lực (Will points), Đây là nổ lực của Nietzsche đi tìm nền tảng khoa học cho tư tưởng về bản chất nhân loại (nhân tâm-chân tâm) một nền tảng khoa học. Tất cả những nhu cầu, bản năng, dục vọng là thành quả của sự giao tiếp của những lực trong hiện tượng vật lý. Do đó không có cái gọi là vật chất, và do đó cũng không có cái chủ nghĩa duy vật máy móc. nhưng chỉ có những cuộc tranh chấp giữa những lực, giữa ý chí này và ý chí khác. Nietzsche do đó tuyên bố ‘thế giới nhìn từ bên trong, thế gìới được định nghĩa bằng những tính chất có ý nghĩa, không có gì khác hơn là ý chí quyền lực. Dựa trên mô thức các lực sinh động tạo ra vật chất, ngay cả đất đá, nếu con người có một hy vọng nào tìm điều gì có thể thay thế cho khát khao về tôn giáo đã bị sụp đổ (Thượng Đế-thế giới ý niệm của Plato). con người phải hướng nội để ‘làm việc’ với những ‘lực’ bên trong chúng ta như nhu cầu, tình cảm, đam mê bằng quá trình ‘tự chế ngự’ (self-overcoming- Selbstuberwindung). Phật Tử hẳn ai cũng nhớ lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú: tự thắng mình mới là chiến thắng lớn nhất! Nếu Nietzsche sinh ra là một người Phương Đông, nghiên cứu Phật Giáo bằng Pali-Sankrit-Hán-Tạng hay cả Việt ngữ, ông khỏi cần phải lập thuyết dông dài mất thì giờ, vì những điều ông nói là những giáo pháp căn bản của Đức Phật: Duyên Khởi. Vô minh-tương đương với cái mà Nietzsche gọi là primitive nisus- volitional actions và trăm ngàn pháp của tâm. Bắt đầu từ hành là bắt đầu tạo nghiệp- nghĩa là từ lúc có will to power. Và lời tuyên bố sau đây không có khác một chút nào về quan niệm giải nghiệp của Phật Giáo:
Chúng ra có hoàn toàn tự do để tái tạo chúng ta và khai mở khả năng tiềm ẩn mà mỗi người chúng ta đều có. Chỉ khi nào chúng ta đi theo con đường đó chúng ta mới có thể thấy đời sống lại có ý nghĩa và có thể được thỏa mãn sâu xa. Chúng ta sẽ cảm nghiệm chính chúng ta như một cuộc đời sống động, một cuộc đời nên sống và có thể sống. (We are free to re-create ourselves and release the potential that we each have. It is only by following such a path that we can once find more meaningful and deeply satisfying lives. We will come to experience ourselves as living life as it should be and can be lived)
Nói suông chuyện chuyển nghiệp, tu hành, giải thoát thì ai cũng nói được, nhưng làm thế nào để sống đạo, thực hành con đường giải thoát mới là chuyện khó. Về điểm này Nietzsche không giúp ích được gì nhiều. Chỉ thấy rãi rác một vài lời khuyên trong các tác phẩm Daybreak, The Wanderer and His Shadow (Hoài Khanh đã dịch tác phẩm này trước 75) và The Twilight of the Idols (đã làm cho Lê Tôn Nghiêm hết tin Chúa), Nietzsche nói là tự chế cũng giống như một người làm vườn, tỉa cỏ dại, cắt cành cây, ươm cây...Nietzsche nói:
Huân tập các chủng tử tâm linh tốt trong mảnh đất mà đam mê đã được tiết chế là một công việc khẩn cấp và tức thời (To sow the seeds of good spiritual work in the soil of the subdued passions is then the immediate urgent task).
Nietzsche chỉ dơ tay chỉ mặt trăng, nhưng không nói cho chúng ta biết bằng cách nào để lên mặt trăng. Chúng ta phải quay về phi thuyền Phật Giáo.
Ý Chí Quyền Lực Và Vô Minh
Nietzsche đi tìm một con đường để vượt qua cái hố thẵm hư vô do sự sụp đổ của cả nền tảng của tư tưởng Tây Phương, nhất là tư tưởng độc thần của Ky Tô Giáo, khiến cho đời sống lại có ý nghĩa. Hứng khởi từ con đường đi tìm sự tuyệt hảo của tư tưởng Hy Lạp, sử dụng lý thuyết về vũ trụ của Boscovitch để có một nền tảng khoa học và sau đó thêm vào ý tưởng ý chí quyền lực để tự thắng tình cảm để thăng hoa khiến người đời và đời người có ý nghĩa. Phật Giáo chính là con đüòng tâm linh mà Nietzsche đã khổ tâm tìm kiếm để vượt qua hố thẵm hư vô. Phật Giáo gọi là đáo bỉ ngạn, qua bên kia bờ, giải thoát, tịnh độ, ngộ, tùy pháp môn mà người Phật Tử hành trì. Phật Giáo không phải chỉ muốn cho chúng sinh an lạc bên bờ này của hư vô. Không không phải là không mà là có, Không cũng không phải là có, mà là không. Không cũng không phải là không không, mà cũng không phải là không không có. Sở dĩ Phật phải dài dòng vì sợ mấy ông Tiến Sĩ PG ở các đại học Tây Phương ‘y kinh giải nghĩa’ thành ra Phật mắc oan ba đời!. Kim Dung viết kiếm hiệp ‘nói láo mà chơi nói láo chơi’ nhưng tâm đầy đạo vị. Ông nói : Viên cũng là Không mà Không cũng là Không! Chỉ những con khỉ con vượn nào trong tiến trình của Darwin như ‘Ngộ Không’, mới theo phò được Tam Tạng. Không phải chỉ là Đường Tam Tạng của Ngô Thừa Ân mà thôi, đó còn là Sutras của Phật. Và trong Tam Tạng Phật nói gì? Tự mình thắp đuốc lên mà đi. Cúng dường chư Tăng thì cứ cúng dường chư Tăng, ký ca ký cóp phước điền thì cứ ký ca ký cóp để chuyển nghiệp chừng nào hay chừng đó. Nhưng Huệ Năng nói trong Pháp Bảo Đàn Kinh: không tu thì không bao giờ giải thoát. Nói như Nietzsch không tự chế thì không qua được bên kia bờ. Nếu muốn làm một cuộc hành trình tâm linh như Nietzsch thì chúng ta phải dừng lại cái quan niệm cốt lõi nhất của Đạo Phật; Duyên Khởi. Sở dĩ Phật có thể đứng dậy khỏi gốc cậy Bồ Đề là vì Ngài đã thấy Duyên Khởi. Thấy Duyên Khởi là thấy Pháp. Và bước đầu duyên khởi là Vô Minh (trsna- Thirst). Vô Minh không có gì khác hơn là ‘Will to power’ của Nietzsche. Đó là bước đàu của tác nghiệp như Ông đã định nghĩa: The most primitive form of affect.Từ đó mà sinh ra những tình cảm khác mà Phật Giáo nói rõ : hành, thức, danh sắc...Vô minh thúc đẩy bản năng, dục vọng, ham muốn...để đạt đến mức làm con người ...hài lòng hơn. Các chủng tử bất thiện thúc đẩy con người chinh phục kẻ khác, tàn ác, độc tài, thù hận. Tuy nhiên nếu được huân tập đúng cách các chủng tử này trở thành chủng tử Thiện và có thể biến con người thành từ bi hỷ xã (tứ vô lượng tâm). Vô minh thúc đẩy con người tham và sân. Vô minh vì nghĩ rằng thân mình có thật nên si mê tự ngã. Và Hoà Thượng Thanh Từ lý giải sỡ dĩ con người tham và sân là vì si, chấp thân này là có thật. Si là nguổn cỗi của các hành động tác nghiệp xấu. Nietzsch nhận xét là vì Will of Power thúc đẩy nên con người đi tìm hạnh phúc theo những phương cách mà con người dần dần bị buộc chặc vào khổ đau và khiến họ trở nên hung ác, bạo động và tuyệt vọng (will to power seeks happiness and fulfilment in ways that are inextricably link to pain and frustration which in turn, create such secondary effects as cruelty, violence and despair...). Nietzsche nói câu này như một Sa Môn nói pháp, không có gì khác. Khi con người biết tự thắng mình, biết huân tập những chủng tử thiện, Trsna vô minh có thể thăng hoa thành một con đường tâm linh dharma chanda (sublimation- Sublimierung). Chúng ta có thể nhìn cuộc đời với con mắt khác, từ nhãn thị chúng sinh, nhìn thấy bổn lai diện mục của mình và một chân trời mới mở ra cao rộng đến mức nào, chưa ai có thể biết được. Đó là điều mà Nietzsche nói là khai mở tiềm năng mà ai cũng có. Có chánh kiến thì chúng ta mới có được những ‘chánh’ khác. Con người do đó sống một đời có ý nghĩa, thoả mãn, không còn bận tâm về cái lưới sinh tử nữa. Quan niệm Dharma Chanda là phương tiện giúp chúng ta đáo bỉ ngạn, Hố thẵm hư vô đã bị lấp kín. Không ai còn bận tâm về Thượng Đế giả tưởng, như Nietzsche than phiền, đã lường gạt nhân loại trong một thời gian quá dài.
QUÁN NHƯ (CHUYENLUAN.NET)

Tết Nguyên Tiêu

Ngày rằm tháng giêng âm lịch của TQ là tết Nguyên Tiêu mộ trong những ngày tết truyền thống của TQ, cũng là ngày cuối trong cả dịp Tết Xuân.

    Tết Nguyên Tiêu cũng gọi là Nguyên Tịch, Nguyên Dạ còn gọi là tết Thượng Nguyên. Đêm rằm tháng giêng là đêm trăng tròn đầu tiên trong năm mới theo Âm lịch. Đêm hôm đó, trong dân gian Trung Quốc  ( TQ ) từ trước đến nay đều có tập trước treo hoa đăng, vì vậy Tết Nguyên Tiêu còn gọi là tết “Hoa Đăng”.

     Ngắm đèn ăn bánh trôi là hai nội dung chính trong ngày tết Nguyên Tiêu. Vậy tại sao Tết Nguyên Tiêu lại treo đèn ? nghe nói, năm 180 trước Công nguyên, vua Hán Văn- nhà vua đời Têy Hán của TQ được lên ngôi đúng vào ngày rằng tháng giêng. Để  chúc mừng, nhà vua Hán Văn quyết định lấy ngày rằm tháng giêng là ngày hội Hoa Đăng. Hàng năm vào tối ngày rằm tháng giêng, nhà vùa đều ra khỏi cung để đi dạo cùng chung vui với người dân. Ngày hôm đó, nhà nào nhà nấy, trên khắp các ngả đường, thôn xóm đều treo đủ các loại đèn với muôn hình nghìn vẻ để mọi người thưởng thức. Đến năm 104 trước công nguyên, tết Nguyên Tiêu đã chính thức trở thành ngày tết lớn của nhà nước. Quyết định này, khiến quy mô của ngày tết Nguyên Tiêu được mở rộng hơn nữa. Theo quy định, ở những nơi công cộng và nhà nào nhà nấy đều phải chăng đèn kết hoa, nhất là những khu phố đông đúc và trung tâm văn hóa phải tổ chức hội Hoa Đăng, triển lảm Hoa Đăng rất long trọng; Già trẻ gái trai đi xem hoa Đăng , đoán câu đối trên Hoa đăng, múa đèn Rồng thâu đêm v,v, về sau năm nào cũng vậy, dần dần thành thói quen và truyền từ đời này sang đời khác. Theo ghi chép, năm 713 trước công nguyên, ở kinh thành Trường An trong đời nhà Đường <tức Tây An ngày nay>đã làm “núi đèn” rất lớncao khoảng 7 mét, với hơn 50 nghìn các loại đèn màu.

     Những đèn màu trong ngày tết Nguyên Tiêu, thường làm bằng giấy màu sặc sỡ, với đủ các tạo hình như non nước, các kiến trúc, các nhân vật, Hoa cỏ, chim muông v,v,trong đó đèn   ngực bay là có đặc sắc của TQ nhất. Đèn ngực bay là một trò chơi, nghe nói đã hơn một nghìn năm lịch sử. Trong đèn này có lắp một bánh xe, khi thắp chiếc nến trong trong đèn, thì nhiệt độ lên cao khiến cho bánh xe quay, qua đó đẩy con ngựa giấy trên bánh xe chạy. Bóng ngựa hiện lên chụp đèn, nhìn từ bên ngoài như thấy ngực đang phi nược đại, trông rất sống động.

     Tết Nguyên Tiêu ăn bánh trôi cũng là một tập tục lớn. Vào khoảng đời nhà Tống <năm 960 công nguyên cho đến năm 1279 công nguyên>, khi ăn tết này, trong dân gian bắt đầu thịnh hành một loại thức ăn mới lạ. Nhân bằng các loại hoa quả, bên ngoài lấy bột gạo nếp gói thành từng viên tròn, rồi nấu chín, ăn thơm ngon, ngon miệng. . Về sau, phần lớn các khu vực ở miền Bắc TQ đều gọi loại thức ăn này là “Nguyên Tiêu” còn miền Năm thì gọi là “bánh trôi”.

     Bánh trôi phát triển đến ngày nay đã có đến gần 30 lọai, nhân bánh trôi gồm có sơn tra, thập cẩm, vừng, kem sữa cao cao, xô-cô-la v,v. Phong vị bánh trôi của mỗi địa phương cũng không giếng nhau, bánh trôi của tỉnh Hồ Nam trắng, trong suốt, thơm, ngon và  ngọt, ở Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang ở miền Đông nhiều nhân, vỏ mỏng, bánh trôi như trứng chim bồ câu của Thượng Hải trông xing xắn, ăn mát, ngon, ngọt, bánh trôi nhân Sơn tra, nhân vừng, nhân kem sữa v,v của Bắc Kinh cũng có hương vị độc đáo

     Trong ngày tết Nguyên Tiêu, ngoài ngắm đèn, ăn bánh trôi, còn có rất nhiều hoạt động vui chơi giải trí. Như đi cà kheo, múa ương ca, múc sư tử v,v,Đặc biệt là múa sư tử , ngoài ở TQ ra, các nơi trên thế giới cá người Hoa cư trú, mỗi khi vào dịp tết đều tổ chức múa sư tử. Múa sư tử của TQ được chia thành hai phái là “phái Nam” và Phái Bắc” . Múa sư tử của phái miền Nam thì chú trọng về thay đổ động tác và kỹ xảo, thường là với hình thức hai người múa là chính, điệu múa linh họat và biến đổi khôn lường; Múa sư tử phái Bắc coi trọng khí thế, thường là mười mấy người, thậm chí là mấy chục người cùng múa. Khi múa có đệm nhạc mang đậm đặc sắc dân gian TQ, bắt kể là người múa hay là người xem đều tích cực tham gia, thể hiện sự náo nhiệt của bầu không khí ngày rằm tháng giêng.

Kết quả tổng tuyển cử tại Thái Lan chưa được công bố

VOV.VN - Nếu tính theo điểm bỏ phiếu thì có tới 83.813 điểm bỏ phiếu hoạt động, trong tổng số 93.952 điểm, tỷ lệ đạt hơn 89%.
Cuộc tổng tuyển cử tại Thái Lan hôm nay (2/2) đã kết thúc lúc 15 giờ (theo giờ Việt Nam) và được tiến hành kiểm phiếu ngay sau đó. Tuy nhiên, Ủy ban bầu cử quốc gia Thái Lan tuyên bố, kết quả kiểm phiếu cũng như kết quả sơ bộ cuộc bầu cử sẽ không được công bố.
Cuộc tổng tuyển cử hôm nay tại Thái Lan diễn ra tương đối yên tĩnh, không có những xô xát nghiêm trọng giữa những người biểu tình chống chính phủ và ủng hộ chính phủ, như giới nghiên cứu dự đoán.
Tại khu vực bỏ phiếu Watthana, chị Ruonkham chia sẻ với phóng viên VOV niềm vui khi được thực hiện quyền bỏ phiếu vì nền dân chủ của mình.
Thông báo mới nhất của Ủy ban bầu cử quốc gia Thái Lan (ECT) cho biết, trong tổng số 375 khu vực bầu cử trên toàn quốc, chỉ có 69 khu vực là không thể mở cửa hoặc chỉ mở cửa một phần để cử tri đến bỏ phiếu. Nếu tính theo điểm bỏ phiếu thì có tới 83.813 điểm bỏ phiếu hoạt động, trong tổng số 93.952 điểm, tỷ lệ đạt hơn 89%.
Như vậy có thể thấy, cuộc tổng tuyển cử tại Thái Lan hôm nay đã diễn ra tốt đẹp, mặc dù người biểu tình chống chính phủ do cựu Thủ tướng Thái Lan Suthep Thausuban lãnh đạo đã có những hành động cản trở việc tổ chức bầu cử tại một số tỉnh. Cuộc bỏ phiếu này cũng cho thấy thắng lợi của chính phủ của Thủ tướng tạm quyền Yingluck Shinawatra trong việc cương quyết đến cùng tổ chức cuộc tổng tuyển cử, trong bối cảnh gặp sự chống đối quyết liệt của lực lượng biểu tình.
Qua quan sát của phóng viên VOV, lượng cử tri đi bỏ phiếu tại Bangkok không nhiều, một số khu vực bầu cử bị đóng cửa và cử tri đã không thể thực hiện quyền đi bỏ phiếu của mình.
Tại khu vực bầu cử Din Deang, chị Wattana cho biết: "Chúng tôi phản đối việc ngăn cản cuộc bầu cử và không ủng hộ những người biểu tình ngăn cản bầu cử, bởi đây là quyền theo luật định của chúng tôi"
Thông báo chiều tối nay của ECT cho biết, có 18 tỉnh trong tổng số 77 tỉnh thành Thái Lan không thể tổ chức hoặc chỉ tổ chức được một số khu vực bầu cử do hòm phiếu không được vận chuyển đến địa điểm bỏ phiếu, không đủ nhân viên hoặc do xung đột giữa người ủng hộ và không ủng hộ chính phủ gây ra. Mặc dù công việc kiểm phiếu được tiến hành ngay sau khi đóng hòm phiếu tại hơn 80.000 điểm bỏ phiếu, nhưng kết quả bầu cử cũng như kết quả kiểm phiếu sẽ không được công bố.
Chủ tịch Ủy ban bầu cử Supachai tuyên bố: "Hôm nay, chúng tôi không thể công bố kết quả kiểm phiếu và kết quả bầu cử sơ bộ do theo luật định, phải có cả kết quả kiểm phiếu của cuộc bỏ phiếu ngoài lãnh thổ Thái Lan và cuộc bỏ phiếu trước thời hạn hôm 26/1 vừa qua. Chúng tôi đã quyết định những cử tri trong diện này sẽ đi bỏ phiếu bổ sung vào ngày 23/2 tới đây".
Trả lời phóng viên VOV, chị Wattana cho biết phản đối người biểu tình bởi họ đã làm chị không thể đi bỏ phiếu.

Như vậy, cuộc tổng tuyển cử hôm nay tại Thái Lan sẽ chưa có ngay kết quả sơ bộ mặc dù giới phân tích dự đoán chiến thắng nhiều khả năng vẫn thuộc về đảng Peu Thai của Thủ tướng Yingluck. Từ nay đến khi kết quả chính thức được công bố và sau đó là nhóm họp Quốc hội và bầu Thủ tướng, lập ra một chính phủ mới, chính phủ tạm quyền hiện nay của bà Yingluck sẽ tiếp tục điều hành đất nước, nhưng với một vai trò bị hạn chế so với một chính phủ bình thường theo luật định.
Cuộc tổng tuyển cử hôm nay tại Thái Lan đã kết thúc được coi là thắng lợi tạm thời của đảng Peu Thai, cũng như chính phủ của bà Yingluck, tuy nhiên tình hình Thái Lan nhiều khả năng vẫn phức tạp trong thời gian tới./.
Tin, ảnh: Xuân Sơn/VOV-Bangkok