Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Hình phạt lăng trì (tùng xẻo) và các bước tiến hành



Tùng xẻo (còn gọi là lăng trì hay xử bá đao) (tiếng Hoa giản thể: 凌迟, tiếng Hoa phồn thể: 凌遲, bính âm: língchí) là một trong những hình phạt tàn khốc và dã man được dùng rộng rãi ở Trung Quốc thời cổ xưa từ năm 900 cho đến khi chính thức bãi bỏ vào năm 1905. Từ ngữ trong tiếng Hán “lăng trì” có nghĩa lấn lên một cách chậm chạp.
Đây cũng là hình thức ghê rợn vào bậc nhất trong các án tử hình, phạm nhân sẽ vô cùng đau đớn vì không được chết nhanh chóng, có trường hợp xẻo tróc nửa phần thịt trên cơ thể mà phạm nhân vẫn còn giãy dụa gào thét. Mức độ tàn bạo của nó thì không có gì có thể sánh nổi; ngoài việc xẻo từng miếng thịt trên người tử tội, đao phủ còn có nhiệm vụ là giữ cho tử tội không được chết một cách nhanh chóng, tức là sau bao nhiêu nhát xẻo thì nạn nhân mới được chết.
Lăng trì đôi khi được dùng như một nhục hình để hành quyết người còn sống, hoặc như một hình thức lăng mạ phạm nhân sau khi bị xử chết. Những kẻ phạm những tội như: phản quốc, nổi loạn chống vua, sát nhân hay giết cha mẹ v.v… đều bị pháp luật thời đó luận án và xử lăng trì.
Cách tiến hành 
dựa theo những bức tranh vẽ và sách vở xưa viết lại thì thường phạm nhân sẽ bị trói vào cột, sau đó bị bọn khoái tử thủ (đao phủ) chặt hết tay chân rồi dùng dao bén xẻo từng miếng thịt cho đến chết; cũng có tài liệu viết rằng đôi khi hình thức hành hình kéo dài đến 3 ngày, phạm nhân sẽ bị xẻo những phần nhỏ (như mắt, mũi, tai, lưỡi, ngón tay, ngón chân) trước khi bị cắt những phần lớn như tứ chi, vai, đùi v.v… Thịt bị lóc ra sẽ được trưng bày nơi công cộng với mục đích răn chúng. Có những nơi nhân đạo hơn, phạm nhân sẽ được sử dụng nha phiến trước khi hành hình để làm nhẹ bớt cơn đau đớn.
Trong chương 5 của tiểu thuyết “Đàn hương hình”, tác giả có mô tả khá kĩ phương pháp hành hình , mọi người đọc cho hiểu biết thêm
Đàn Hương Hình – II Chương 5 : KIỆT TÁC
Triệu Giáp tay cầm dao nhọn, đứng giữa bãi tập của trạm lính, chú học việc chân vòng kiềng đứng bên. Trước mặt lão là cây cọc to gỗ thông, phạm nhân hành thích Viên Thế Khải đại nhân không thành, bị xử tùng xẻo năm trăm mảnh, trói ở cột. Sau lưng lão, mấy chục con tuấn mã đứng chen chúc, trên lưng ngựa là các sĩ quan cao cấp của quân đội mới thành lập. Phía sau cột hành hình, năm nghìn lính xếp thành khối vuông vức, trông xa như một rừng cây, lại gần như những ông phỗng. Gió lạnh đầu đông cuốn tung đất phèn trắng xóa, táp vào mặt các binh sĩ. Hàng nghìn cặp mắt nhìn vào, Triệu Giáp có vẻ hơi căng thẳng, thậm chí hơi e ngại, mặc dù lão đã quá quen với khung cảnh pháp trường. Lão cố nén những ý nghĩ không tốt cho công việc, không ngắm những sĩ quan trên lưng ngựa hoặc binh lính trên mặt đất, mà tập trung nghiên cứu tên tội phạm trước mặt lão.
Lão nhớ lại lời ân sư – Già Dư: một đao phủ ưu tú là khi đứng trước bục hành hình, trong con mắt anh ta không có người sống, mà chỉ có những cơ bắp, những phủ tạng và những chiếc xương. Trải qua hơn bốn chục năm rèn luyện trong nghề, Triệu Giáp đã đạt tới bậc cao thủ, vậy mà hôm nay lão hơi hoảng. Hơn bốn mươi năm thi hành án, lão trực tiếp thực hiện gần một nghìn vụ, nhưng đây là lần đầu tiên lão thấy một cơ thể đàn ông cân đối, khỏe mạnh và đẹp đến thế. Tội phạm mũi cao, miệng rộng, lông mày lưỡi mác, mắt sáng như sao, ngực nở, bụng thon, da mịn màu đồng điếu. Đặc biệt, trên khuôn mặt hắn luôn mỉm cười châm biếm. Triệu Giáp ngắm hắn, hắn cũng ngắm lại, khiến Triệu Giáp hơi xấu hổ, chẳng khác đứa trẻ có lỗi, không dám nhìn vào mặt người lớn.
Bên rìa bãi tập đặt ba cỗ đại bác bằng thép có màu đen, hơn chục binh lính xúm xít xung quanh. Ba phát nổ liên tiếp khiến Triệu Giáp giật mình, tai ù đi, không còn nghe thấy gì nữa, mùi lưu huỳnh bay ra từ đầu nòng pháo xộc vào mũi. Phạm nhân nhìn về phía những khẩu pháo, khẽ gật đầu, hình như có ý khen kỹ thuật của bọn pháo binh. Triệu Giáp chưa kịp hết bàng hoàng, lại thấy lửa phụt ra từ đầu nòng và một loạt tiếng nổ. Lão trông thấy những vỏ đạn vàng chóe văng ra bãi cỏ phía sau các cỗ pháo, nóng đến nỗi cỏ cháy sém. Sau cùng là ba phát nổ rền, các pháo thủ đứng nghiêm sau các cỗ pháo, biểu thị đã hoàn thành nhiệm vụ. Trong tiếng dội rào rào, một giọng rất cao hô to:
- Chào đại nhân… chào!

Ba nghìn lính đồng loạt bồng súng chào, hình thành một rừng súng phía sau cọc hành hình, ánh thép sáng ngời. Khí thế oai nghiêm khiến Triệu Giáp đứng ngây ra Ở Bắc Kinh bao nhiêu năm, từng xem ngự lâm quân của hoàng gia thao diễn, nhưng không thể so với những gì lão trông thấy trước mắt. Lão hơi khiếp, thậm chí cảm thấy lo sợ, vẻ tự tin và phong thái ung dung mỗi khi hành hình ở Thái Thị Khẩu hoàn toàn biến mất.
Viên Thế Khải, bên trong mặc quân phục, ngoài khoác hồ cầu, vô cùng oai vệ. Ông ta giơ tay vẫy đội ngũ trên bãi tập, rồi ngồi xuống ghế bành phủ da hổ. Viên quan trực nhật đứng trước đội kỵ mã hô to:
- Lễ tất!

Các binh sĩ nhất loạt hạ súng đánh roạt, nghe rợn người. Một sĩ quan trẻ, da thiết bì, răng vàng khè, tay cầm mảnh giấy, khom người ghé miệng sát mặt Viên đại nhân thì thầm điều gì đó. Viên đại nhân chau mày, ngoảng mặt đi nơi khác, hình như để tránh hơi thối từ miệng viên sĩ quan trẻ, nhưng viên sĩ quan lại nhích lên theo. Triệu Giáp không biết, và không bao giờ biết viên sĩ quan vừa gầy vừa đen, răng vàng khè đó sau này là Biện soái Trương Huân nổi danh trong thiên hạ. Triệu Giáp buồn htay Viên đại nhân, lão đoán hơi thở của Trương Huân chắc là khó ngửi lắm. Cuối cùng, Trương Huân nói xong, Viên Thế Khải gật đầu, ngồi lại tư thế cũ. Trương Huân đứng trên chiếc ghế cao, đọc to nội dung ghi trong giấy:
“Xét phạm nhân Tiền Hùng Phi, tự Bằng Cử, quê quán Ích Dương, Hà Nam, năm nay hai mươi tám tuổi. Tiền Hùng Phi, năm Quang Tự thứ hai mươi mốt, học trường sĩ quan Nhật Bản, thời kỳ ở Nhật tự ý cắt bỏ bím tóc, kết giao với đảng gian, mưu toan phản biến. Sau khi về nước, câu kết chặt chẽ với loạn đảng Khang – Lương, một phường gạt mạt cưa mướp đắng. Sau do nghịch tặc Khang bày vẽ, giả vờ trung thành, chui vào Hữu quân Vũ vệ của ta, mưu toan làm nội ứng cho nghịch tặc. Loạn đảng bị phép nước trừng trị tại Bắc Kinh, phạm Tiền cầy cáo thương nhau đến loạn trí, ngày mười một tháng Mười năm nay âm mưu hành thích đại nhân, may mà trời phù hộ quân ta, Viên đại nhân không hề hấn gì. Giặc Tiền phạm thượng, đại nghịch vô đạo, tội ác nghiêm trọng, không thể tha thứ. Chiểu theo pháp luật Đại Thanh, hành thích mệnh quan triều đình, tội táng xẻo thịt năm trăm mảnh. Hình phạt đã báo Bộ Hình phê chuẩn, đặc cách cử đao phủ về Thiên Tân thi hành án…
Triệu Giáp cảm thấy nhiều ánh mắt đổ dồn về phía lão. Đao phủ thi hành án ở ngoài kinh thành là chuyện hi hữu, không cứ gì ở triều Đại Thanh, mà tất cả các triều đại đều không có tiền lệ. Do vậy lão thấy trách nhiệm của lão rất nặng, trong lòng thấp thỏm không yên.

Viên Thế Khải dặng hắng, cất cao giọng:
- Anh em, hôm nay lăng trì Tiền Hùng Phi, bản quan đau lòng lắm! Vì rằng hắn là một sĩ quan rất có triển vọng, bản quan đã từng gửi gắm kỳ vọng ở hắn. Nhưng hắn kết giao với đảng loạn, phản lại triều đình, phạm thập ác không thể tha thứ. Không phải bản quan giết hắn, cũng không phải triều đình giết hắn, mà chính hắn giết hắn. bản quan vốn định ban cho hắn chết toàn thây, nhưng đây là pháp luật nhà nước, bản quan không dám tư túi. Để cho hắn chết được trọn vẹn, đặc cách mời đao phủ giỏi nhất của Bộ Hình về đây. Tiền Hùng Phi, đây là món quà cuối cùng bản quan tặng nhà ngươi, mong ngươi thanh thản mà thụ hình, nêu một tấm gương cho lớp quân nhân kiểu mới của ta. Các con em nghe đây, hôm nay mời các ngươi đến xem hành hình, nói câu khó nghe một tí, là giết gà dọa khỉ. Bản quan hi vọng các ngươi rút ra được bài học từ Tiền Hùng Phi, trung thực, cẩn thận, tận trung với triều đình, phục tùng quan trên. Miễn là các ngươi làm theo lời bản quan, đảm bảo các ngươi có một tiền đồ tốt đẹp!

Viên Thế Khải lùi lại ghế, ngồi xuống, nhìn quan trung quân Trương Huân, gật đầu. Trương Huân hiểu ý, hô lớn:
- Khai đao!

Triệu Giáp bước lên một bước, đối diện với Tiền Hùng Phi. Đồ đệ đưa vào tay lão con dao nhỏ chuyên dùng xẻo thịt trong hình phạt lăng trì. Lão trầm giọng nói nhỏ:
- Đắc tội, người anh em!

Tiền Hùng Phi coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, nhưng đôi môi trắng nhợt cứ run lên. Nỗi sợ không che giấu được của Hùng Phi, lấy lại sự vinh diệu nghề nghiệp cho Triệu Giáp. Con tim lão thoắt cái lại rắn như đá, lặng như nước tù. Trước mặt lão không phải con người đang sống, mà chỉ còn là một đống những xương thịt gân cốt tạo theo khuôn mẫu của tạo hóa. Lão vỗ mạnh một phát trúng tim, khiến Tiền Hùng Phi mắt trợn ngược. Chính lúc tiếng vỗ chưa kịp lặng, tay phải cầm dao của lão khéo léo khoanh một nhát ở ngực bên phải của Tiền Hùng Phi.
Triệu Giáp làm theo qui trình bất thành văn trong nghề, dùng mũi dao xọc miếng thịt giơ cao lên cho Viên đại nhân và đám sĩ quan trông thấy, sau đó lại giơ cho năm ngàn binh sĩ xem. Đồ đệ của lão đứng bên đếm:
- Miếng thứ nhất!

Lão nghe rõ tiếng thở gấp của đám sĩ quan sau lưng, nghe rõ tiếng ho không tự nhiên rất gần của Viên Thế Khải, không cần ngoảnh lại, lão cũng biết bọn quan quân đã biến sắc mặt. Lão còn biết, tim họ, có cả tim của Viên Thế Khải trong đó, đập không đều. Nghĩ vậy, lòng lão tràn đầy khoái cảm của niềm vui trong tai họa. Những năm gần đây, các đại nhân rơi vào tay Bộ Hình khá nhiều, lão đã quen nhìn những ông khi đắc thế diệu võ giương oai, nhưng khi thụ hình chỉ là đồ bị thịt. Loại hảo hán như Tiền Hùng Phi che giấu được nỗi sợ trước hình phạt tàn khốc, thì quả là trăm người chưa có một. Thế là, lão cảm thấy chít ít là trong giờ phút này, lão là tối cao vô thượng, lão không phải là lão, lão là đại biểu cho Hoàng thượng, Hoàng Thái Hậu, lão là cánh tay pháp luật của triều Đại Thanh.
Theo cách gọi của người trong nghề, miếng thứ nhất tạ trời.
Nhát thứ hai bên ngực trái, vẫn nhanh gọn như thế, vẫn chuẩn xác không sai sót như thế. giờ đây trên ngực Hùng Phi xuất hịên hai lỗ to bằng đồng xu, chảy máu nhưng rất ít. Nguyên do, trước khi khai đao, trái tim Hùng Phi co rút do bất chợt bị vỗ mạnh, tốc độ tuần hoàn của máu chậm hẳn lại. Đây là kinh nghiệm Bộ Hình mò mẫm và tổng kết được qua một thời gian dài của rất nhiều đao phủ ở Ngục Aùp Tư, có thể nói không lần nào ngoại lệ.
Tiền Hùng Phi tỏ ra không run sợ khi thụ hình, nhưng tiếng rên khẽ đến nỗi chỉ mình Triệu Giáp nghe thấy, hình như nó thoát ra từ lỗ tai của Hùng Phi. Triệu Giáp chỉ chăm chăm nhìn vào mặt Hùng Phi, lão đã quá quen với tiếng la hét của phạm khi bị xéo thịt, trong bối cảnh ấy, la càng to, lão càng bình tĩnh. Nhưng gặp trường hợp rắn rỏi tới mức cắn răng không kêu một tiếng của Hùng Phi, lão đâm ra tâm thần hoảng hốt, do bên tai lão im ắng quá, hình như sắp có chuyện động trời xảy ra. Trợ thủ của lão đứng bên, đếm:
- Miếng thứ hai!

Theo lão phân tích, đao phủ trình làng thứ gì xẻo từ trên người phạm, là dực trên cơ sở pháp luật và tâm lý: Một, biểu thị sự vô tư của luật pháp và sự cẩn trọng của đao phủ. Hai, tạo sự chấn động về tâm lý trong dân chúng đến xem hành hình, do đó mà loại bớt những ý nghĩ độc ác, bớt phạm tội. Đây là lý do vì sao các triều đại đều cho dân chúng đến xem. Ba, thỏa mãn nhu cầu tâm lý. Không một vở diễn, một tích hát, một kịch nghệ nào hay bằng. Đây cũng là lý do cơ bản khiến các đao phủ cao cấp của Bộ Hình coi thường các kép hát được sủng ái trong cung. Khi giơ miếng thịt thứ hai cho mọi người xem, Triệu Giáp nhớ lại những ngày lão theo thầy học nghệ. Để rèn luyện tuyệt kỹ trong hình phạt lăng trì, các đao phủ ở Ngục Tư thiết lập quan hệ mật thiết với lò mổ lợn ở Sùng Văn Môn Ngoại. Những lúc thưa iệc, sư phụ dẫn họ đến làm không công ở đây. Họ đã thái không biết bao nhiêu con lợn béo để làm nhân bánh bao, cuối cùng, trình độ cao siêu tới mức chính xác như cân, bảo cắt một cân là đúng một cân, không thừa không thiếu. Thời kỳ Già Dư giữ ấn Ngục Aùp Tư, đã từng cho mở lò mổ liên hoàn ở Tây Tứ, bên ngoài bán thịt, phía sau là lò mổ, buôn bán cực kỳ phát đạt. Về sau, không biết ai để lộ, người ta không đến mua thịt đã đành, lại còn mắt trước mắt sau mỗi khi đi qua, chỉ sợ bị bắt làm thịt. Thế là sập tiệm.
Lão nhớ trong chiếc tráp ở đầu giường sư phụ có một quyển sách giấy đã ố vàng, rất ròn, vẽ rất nhiều đồ họa có chú giải bên cạnh. Tên quyển sách đó là “Sách không phổ biến của thu quan”, nghe nói của một “Già” đời Minh truyền lại. Trong sách ghi lại rất nhiều loại hình phạt, cách thức thi hành án và những điều cần chú ý. Quả là trứ tác kinh điển về nghề đao phủ. Sư phụ cho xem đồ họa và phần chữ, giải thích cặn kẽ cho anh em lão về hình phạt lăng trì. Sách nói rằng, lăng trì có ba cấp độ. Cấp một, xẻo ba nghìn ba trăm năm mươi bảy miếng; cấp hai, hai nghìn tám trăm chín mươi sáu miếng; cấp ba, một nghìn năm trăm tám mươi lăm miếng. Lão nhớ sư phụ còn nói, bất kể xẻo bao nhiêu miếng, nhưng miếng cuối cùng phải là vừa xẻo xong, phạm chết liền. Do vậy, phải bắt đầu xẻo từ chỗ nào, miếng trước miếng sau cách nhau bao lâu, đều phải thiết kế chính xác căn cứ vào giới tính và thể trạng của phạm. Nếu chưa xẻo đủ số miếng mà phạm đã chết hoặc xẻo đủ số miếng rồi mà phạm vẫn chưa chết, thì phải coi đó là lỗi của đao phủ. Sư phụ nói, tiêu chuẩn tối thiểu của lăng trì là các miếng phải sàn sàn như nhau, đưa lên bàn cân không được hơn kém nhiều quá. Điều này đòi hỏi khi thi hành án, đao phủ phải bình tâm tĩnh khí, tâm phải chi li như sợi tóc, phải quyết đoán khi ra tay; vừa như thiếu nữ thêu hoa, vừa như đồ tể giết lừa. Bất cứ sư nhu nhược chần chừ nào, bất cứ sự lơi lỏng nóng vội nào, đều ảnh hưởng đến tay dao, làm cho động tác bị biến dạng. Làm được như trên thật không phải dễ. Vì rằng cơ bắp con người, sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận và đường gân thớ thịt không giống nhau, hướng dao và dùng sức nhiều hay ít đều dựa vào linh cảm. Sư phụ nói, những đao phủ thiên tài như Cao Đào, như cụ Trương Thang, đều dùng tâm, dùng mắt xẻo thịt, mà không dùng dao, dùng tay. Do vậy từ xưa tới nay, có hàng ngàn vạn án lăng trì, nhưng thi hành đạt tới mức hoàn mỹ gần như không có. Đại để chỉ là xẻo cho đến chết mà thôi. vì thế, càng về cận đại, số nhát dao càng ít đi, cho đến bản triều, năm trăm nhát là nặng nhất. Nhưng thực hiện được năm trăm nhát thì cũng hiếm như lông phượng sừng lân rồi. Đao phủ ở Bộ Hình hành sự cẩn trọng theo đúng ui củ của người xưa để lại, là xuất phát từ lòng tôn kính một chức nghiệp thiêng liêng lâu đời. Còn ở các tình, phủ, châu, huyện, rồng tôm lẫn lộn, hành nghề đao phủ đa phần là bọn lưu manh, phỉ. Bọn chúng bớt xén, phạt xẻo năm trăm miếng, xẻo được hai trăm ba trăm là đã giỏi, phần lớn chặt người ta làm tám, hoặc đâm nhiều nhát cho đến chết.
Triệu Giáp vẩy miếng thịt thứ hai vừa xẻo trên người Hùng Phi xuống đất theo cách gọi của nghề, miếng thứ hai tạ đất.
Lão dùng chiếc khăn lau làm bằng da bụng con dê, dấp nước muối, lau ngực Hùng Phi, để nhát cắt giống vết mới chém trên vỏ cây. Lão xẻo miếng thịt thứ ba trên ngực Hùng Phi, miếng này cũng to bằng đồng tiền, có hình vẩy cá, mép vết cắt mới liền kề vết cũ mà vẫn phân minh, vết nào ra vết ấy. Sư phụ nói, hình phạt lăng trì còn gọi là “xẻo vẩy cá”, gọi như vậy rất hình tượng và xác đáng. Triệu Giáp cảm thấy trong lòng thư thái, công việc hôm nay, xem ra đã cầm chắc thành công một nửa.
Lão quăng miếng thứ ba lên trời, miếng này là tạ quỉ thần. Đồ đệ đứng bên đếm:
- Miếng thứ ba!
Ném đi miếng thứ ba, lão xẻo miếng thứ tư.
Khi Triệu Giáp xẻo miếng thứ năm mươi thì cơ bắp trên ngực Hùng Phi đã hết. Đến đây, công việc của lão đã hoàn thành được một phần mười. Đồ đệ đổi cho lão lưỡi dao mới. Lão thở mạnh hai hơi, điều chỉnh lại hô hấp. Có một điều khiến lão cảm thấy chưa trọn vẹn, đó là cho đến phút này, chàng thanh niên vẫn không kêu một tiếng, khiến cho cuộc biểu diễn vốn đầy màu sắc, thành vở kịch vụng về, thiếu hấp dẫn. Lão nghĩ thầm, ta đã trở thành tên đồ tể bán thịt trong con mắt của những người kia. Lão vô cùng khâm phục chàng trai họ Tiền này. Ngoài tiếng rên khe khẽ như có như không ở hai nhát dao đầu, sau đó, im như thóc. Lão ngẩng nhìn người thanh niên vũ dũng, chỉ thấy tóc dựng đứng, mắt tròn xoe, lòng đen biến thành màu đỏ, lỗ mũi nở rộng, hàm răng nghiến chặt, cơ má nổi lên như hai con chuột. Khuôn mặt dữ dằn đó khiến lão hơi hoảng, tay cầm dao nhũn ra. Sư phụ nói, kinh nghiệm lâu năm chi biết, nam giới không sợ róc da rút gân, mà sợ cắt mất bảo bối trong đũng quần. Vì rằng không chỉ đau kinh khủng khi bị cắt cái đó, mà còn nỗi khiếp hãi về mặt tâm linh, sự nhục nhã về mặt nhân cách. Tuyệt đại đa số đàn ông thà chịu chặt đầu, quyết không chịu thiến đi con giống. Sư phụ nói, người đàn ông dù hung hăng đến mấy, chỉ cần cắt bỏ cái trong đũng quần là mất sạch oai phong, gà trống bị nhổ sạch lông vũ. Triệu Giáp không nhìn lên bộ mặt bi tráng khiến lão thấp thỏm không yên. Lão cúi nhìn bộ tam sự của Hùng Phi. Lão nghĩ thầm: thật không phải với chú em! Lão dùng tay trái lôi cái ấy ra khỏi ổ, tay phải nhanh như chớp, “soạt”, đã cắt đứt. Đồ đệ lão cao giọng đếm:
- Miếng thứ năm mốt!

Lúc này, Hùng Phi từ đầu đến giờ vẫn nghiến răng không nói câu gì, bỗng gào lên một tiếng đầy tuyệt vọng. Triệu Giáp tuy đã có sự chuẩn bị về tư tưởng, vậy mà vẫn giật mình. Lão không hay mắt lão chớp lia lịa, lão chỉ cảm thấy hai tay nóng ran, tê dại như có hàng ngàn vạn cây nung đỏ châm vào đầu ngón tay, không thể chịu đựng, cũng không thể hình dung nổi sự khó chịu. Tiếng kêu của Hùng Phi không giống lừa, không giống ngựa, cực kỳ thê thảm, khiến đám sĩ quan thuộc Hữu quân vũ vệ bị kích thích và chấn động sâu sắc. Cứ lý mà xét, Viên Thế Khải cũng không thể ngoại lệ. Triệu Giáp không còn thì giờ ngoảnh lại xem thái độ Viên đại nhân và các sĩ quan của ông ta, chỉ nghe thấy tiếng khịt mũi hoảng sợ của lũ ngựa, tiếng lách cách của hàm thiết và tiếng loong coong của lục lạc đao dưới cổ ngựa. Lão thấy hai chân bị trói chặt của Hùng Phi đang run rẩy không yên. Hùng Phi gào liên tục, người vặn vẹo. Lão ngẩng nhìn đồ đệ. Thằng nhỏ mặt sạm như đất, miệng trễ xuống như cái dĩa, mong nó giúp lão hoàn thành nhiệm vụ là không ổn. Lão cắn răng làm tiếp, xẻo một nhát, miếng thứ năm hai, lão khẽ nhắc chú học trò lúc này đã mụ đi. Đồ đệ giọng như khóc, đếm:
- Miếng… thứ… năm hai!

Lão buồn nôn, một trạng thái tâm lý mà bao năm nay lão không bị.
- Đồ chó đẻ!… – Đùng một cái, Hùng Phi cất tiếng chửi – Viên Thế Khải, tên gian tặc kia, ta sống không giết được ngươi, chết sẽ thành quỷ lấy mạng ngươi!

Triệu Giáp không dám ngoảnh lại. lão không rõ sắc mặt Viên Thế Khải ngồi phía sau lão như thế nào? lão chỉ muốn tranh thủ thời gian làm cho xong công việc của lão. Lão cúi xuống xẻo đứt bên còn lại. trong khi lão dợm đứng dậy, Hùng Phi há miệng ngoạm vào đầu lão, may mà lão đội mũ mới không bị cắn vỡ đầu. Nhưng dù có mũ che, Hùng Phi vẫn cắn rách da đầu lão. Chuyện xảy ra khiến lão không rét mà run. Giả dụ khi nãy Hùng Phi cắn vào gáy lão, chắc chắn lão sẽ bị ngốn như tằm ăn dâu; nếu cắn vào tai, chắc chắn không còn. Lão thấy buốt tận óc, trong lúc nguy cấp lão đứng bật dậy, đầu lão tông ngay vào giữa cằm Hùng Phi đánh “cốp” một tiếng. Máu tươi vọt ra, lưỡi dập, nhưng Hùng Phi vẫn luôn miệng chửi Viên Thế Khải. Miếng thứ năm mươi ba. Lão cảm thấy đầu váng mắt hoa, chất dịch tởm lợm cứ trào trên cổ. Lão cắn răng tự nhủ, nôn lúc này là đào sâu chôn chặt tiếng tăm lừng lẫy của đao phủ Bộ Hình.
- Cắt lưỡi nó đi!

Lão nghe thấy tiếng nói giận dữ và oai vệ của Viên Thế Khải phía sau, quay lại, thấy Viên đại nhân mặt tím tái, đập tay vào gối, nhắc lại mệnh lệnh:
- Cắt lưỡi nó đi!

Triệu Giáp định nói, cắt lưỡi là không hợp với qui định tổ tông, nhưng thấy Viên Thế Khải lửa giận bừng bừng, lão đành ngậm miệng. Nói mà làm gì! Ngay đương kim Hoàng Thái Hậu cũng phải nhượng bộ ba phần, lời Viên là khuôn phép! Liền quay lại để đối phó với cái lưỡi của Hùng Phi.
Mặt Hùng Phi đã sưng mọng, máu miệng sủi bọt, phun phì phì, không còn chỗ nào để lách dao. Cắt lưỡi một tử tù đang nổi cơn điên là nhổ răng trong miệng cọp. Nhưng lão không có gan chống lệnh Viên Thế Khải. Lão rà thật nhanh lời dạy và kinh nghiệm của sư phụ trong những trường hợp này, nhưng không có. Hùng Phi vẫn chửi, Viên Thế Khải nhắc lần thứ ba:
- Cắt lưỡi nó đi!

Trong giờ phút nghiêm trọng này, bằng linh cảm, lão cảm thấy thần linh tổ sư phù hộ lão. Tiết mục nửa chừng thêm vào này khiến quân lính ồn ào như vỡ chợ.
Triệu Giáp cầm cái đầu lưỡi trên tay để mọi người nhìn thấy. Lão cảm thấy cái lưỡi bất khuất vẫn đang run rẩy. Con nhái lúc nãy giẫy chết cũng như thế. Miếng thứ năm mươi tư, Triệu Giáp nói không ra tiếng:
- Miếng thứ năm tư! – Đồ đệ lão đếm.

Mặt Hùng Phi chuyển sang màu vàng kim. Máu trào ra từ miệng, hòa với nước. Không còn lưỡi, nhưng Hùng Phi vẫn chửi, dù phát âm cực kỳ khó khăn. Tuy biết anh ta đang chửi, nhưng chửi như thế nào không rõ.
Hai bàn tay Triệu Giáp nóng như chèm lửa, lão cảm thấy chúng sẽ cháy như ngọn đuốc rồi biến thành tro. Lão không trụ nổi, nhưng lòng tôn vinh nghề nghiệp mạnh mã tới mức lão không cho phép mình bỏ dở qui trình của hình phạt. Vì rằng Viên Thế Khải ra lệnh cắt lưỡi, làm rối trình tự gia hình. Lẽ ra lão có thể cho phạm chết rất nhanh một cách tùy tiện, nhưng trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp không cho phép lão xử sự như thế. Lão thấy, nếu không xẻo đủ số đã định, chẳng những vi phạm pháp luật triều Thanh, mà còn có lỗi với chàng hảo hán trước mặt. Bất kể ra sao, phải xẻo đủ năm trăm nhát Hùng Phi mới chết. Nếu chưa đủ số đã chết, thì đao phủ Bộ Hình chỉ là tên đồ tể hạng bét của thang !
Triệu Giáp dùng khăn tẩm nước muối, lau sạch máu và những chất dơ bẩn trên người Hùng Phi. Khi giặt khăn, lão ngâm tay một lúc vào thùng nước rồi lau khô. Cái miệng không còn lưỡi của Hùng Phi vẫn khép mở liên tục, nhưng âm thanh phát ra thì yếu dần. Triệu Giáp hiểu, phải gia hình thật nhanh, phải điều chỉnh phương án ban đầu căn cứ vào tình hình thực tế trước mắt. Đừng trách đao phủ Bộ Hình bất tài, chỉ trách Viên Thế Khải ra lệng bừa, phá qui tắc. Lão làm một động tác mà ít ai để ý: chích một nhát vào bắp chân lão để cái đau thót tim đẩy lùi sự mệt mỏi và tính lỳ của cơ thể, đồng thời để phân tán sự chú ý của lão vào hai bàn tay nóng như chèm lửa của lão. Lão làm ra vẻ phấn chấn, không thèm để ý Viên Thế Khải và đám sĩ quan phía sau, càng không thèm để ý năm nghình lính phía trước, lão múa dao như gió, đếm như đếm những cục mưa đá, những miếng thịt xẻo ra từ trên người Hùng Phi bay như những con bọ cánh cứng. Triệu Giáp, đứng thẳng lên, khoan khoái thở một hơi. Người lão ướt đẫm, dính nhơm nhớp giữa hai chân, không rõ máu hay mồ hôi. Lão đã trả giá bằng máu của lão cho tiếng thơm một đời của Tiền Hùng Phi, cho vinh dự của đao phủ Bộ Hình.
Chỉ còn sáu nhát dao cuối cùng. Lúc này bộ dạng của Tiền Hùng Phi trông thật đáng sợ. Triệu Giáp chuẩn bị xẻo nhát thứ bốn trăm chín mươi bảy. Theo qui định, vào thời điểm này có hai cách lựa chọn, một là khoét đôi mắt, hai là xẻo đôi môi. Nhưng đôi môi Hùng Phi đã nát bét, quả thực không nỡ xẻo, xẻo là nhẫn tâm. Triệu Giáp quyết định khoét hai mắt. Lão biết Hùng Phi chết mà mở mắt, nhưng chết mà mở mắt phỏng có ích gì? Người anh em, ta không thể trưng cầu ý kiến ở người anh em được nữa! Khoét đi hai con mắt, để người anh em trở thành con ma biết an phận, mắt không nhìn thấy thì tâm không loạn, xuống âm tào địa phủ khỏi phá quấy. Dương gian không cho phép quậy, âm gian cũng không cho phép quậy. Bất luận ở đâu, quậy là không cho phép.
Triệu Giáp chích mũi dao nhọn vào mắt Hùng Phi, đột nhiên Hùng Phi nhắm mắt lại, ngoài dự kiến. Lão vô cùng cảm kích Hùng Phi về sự phối hợp này, vì rằng ngay cả đao phủ giết người như ngóe, khoét đi đôi mắt mở thao láo không phải là chuyện vui vẻ gì. Lão chộp lấy thời cơ có một, khoang mũi dao một vòng quanh hốc mắt… Miếng thứ bốn trăm chín mươi bảy, lão thều thào như hụt hơi.
- Miếng thứ bốn trăm chín mươi bảy!… Đồ đệ còn hụt hơi hơn lão.

Lúc lão giơ dao, thì con mắt phải của Hùng Phi lại mở trừng trừng, đồng thời Hùng Phi gào lên một tiếng cuối cùng, tiếng gào khiến Triệu Giáp lạnh xương sống trong hàng quân, mấy chục binh sĩ nặng nề đổ rạp xuống như tường đổ. Triệu Giáp cực chẳng đã, phải động dao đối với con mắt rực lửa còn lại, rực lửa chứ không phải ánh lửa, như một quả cầu cháy đỏ. Bàn tay Triệu Giáp đã cháy khô, hầu như không cầm nổi cán dao trơn tuột nữa. Lão thấp giọng, khẽ van: Người anh em, nhắm lại đi… Nhưng Hùng Phi không nhắm. Triệu Giáp biết không còn thời gian, đành cắn răng hạ thủ. “Nhát thứ bốn trăm chín mươi tám” – lão nói.
Đồ đệ của lão đã ngất lịm.Mấy chục binh sĩ nữa ngã gục.
Hai con ngươi của Hùng Phi sáng trên mặt đất. Dù lấm lem bùn đất, nhưng con mắt vẫn phát tia lạnh của chết chóc như đang nhìn ai đó. Triệu Giáp biết, nó đang nhìn Viên Thế Khải. “Viên đại nhân có thường xuyên nhớ tới đôi mắt phát sáng này không nhỉ?” – Triệu Giáp nghĩ thầm
Nhát thứ bốn trăm chín mươi chín xẻo mất mũi Hùng Phi.
Cuối cùng, Triệu Giáp một nhát dao đâm trúng tim Hùng Phi, một dòng máu đen, đen như nước hàng thắng từ đường mía, chảy theo lưỡi dao. Mùi máu xộc vào mũi, khiến Triệu Giáp lại cảm thấy buồn nôn. Đầu cúi gằm, lão nhìn xuống chân lão, nói:
- Mảnh thứ năm trăm, mời đại nhân xem xét!

Mời các bạn xem mô tả qua hình ảnh
Đây là một nữ tử tù của Trung Quốc













Và cuối cùng thân thể thành như thế này:

Kết thúc một cuộc đời tội lỗi của mình.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Sự thật về những đứa trẻ luôn ngủ trên tay người ăn xin


Dưới đây là đoạn ký của một tác giả phương Tây giấu tên về sự thật phía sau đường dây ăn xin có tổ chức ở các nước châu Á. Bài viết đã được hãng CNN đăng lại dù không đứng ra bảo đảm thông tin. Tuy vậy, câu chuyện đã thực sự gây tiếng vang lớn trong lòng dư luận.
“Bên lề đường, một người phụ nữ với mái tóc rối bù, lem luốc cúi gằm mặt, lặng lẽ nhìn xuống mặt đất đen đúa, bên cạnh là chiếc túi đựng những đồng xu lẻ xin được của người đi đường. Không ai biết người phụ nữ ấy bao nhiêu tuổi. Trên tay cô bế một đứa bé khoảng 2 tuổi. Dù chỉ được bọc bằng bộ quần áo bẩn thỉu nhưng đứa trẻ vẫn say sưa ngủ.
Chứng kiến cảnh tượng này, chắc chắn nhiều người qua đường sẽ động lòng và chia sẻ với cảnh đời đáng thương của 2 mẹ con bên lề đường.
Thế nhưng, suốt 1 tháng liền đi qua người phụ nữ ấy, tôi đã không cho họ một đồng tiền lẻ nào vì tôi biết, đằng sau họ là cả một băng nhóm có tổ chức – nơi những người đi xin ăn phải nộp lại tiền cho kẻ cầm đầu. Và những tên “đầu xỏ” này lại sở hữu số tài sản khổng lồ với xe hơi, nhà lầu xa hoa.
Sau 1 tháng quan sát, tôi phát hiện ra điều gì đó bất ổn. Tại con đường đông người qua lại, vẫn là người phụ nữ ấy, vẫn đứa trẻ với bộ quần áo vốn bẩn thỉu như thế, nhưng dường như từ sáng đến tối, đứa bé ấy lúc nào cũng vùi mặt trong vòng tay “mẹ” và ngủ li bì. Thậm chí, nó không hề cựa quậy hay kêu khóc gì.
Với những đứa trẻ trong độ tuổi 1 – 3, mỗi giấc ngủ chỉ có thể kéo dài nhiều nhất từ hai đến ba tiếng. Vậy nhưng, suốt 1 tháng qua khi đi qua bến tàu điện ngầm, tôi không bao giờ thấy đứa trẻ ấy thức.
Tôi nhìn đứa trẻ đang ngủ rồi hỏi người phụ nữ ăn xin “Tại sao lúc nào nó cũng ngủ thế?”. Người phụ nữ chỉ lặng lẽ cúi gằm mặt xuống đất rồi giả vờ như không hề nghe thấy câu hỏi của tôi.
Tôi nhắc lại câu hỏi đến lần thứ hai, thứ ba. Ngay lúc này, một bàn tay đặt lên vai tôi. Tôi quay người lại. Một người đàn ông lớn tuổi nhìn tôi với vẻ mặt không thiện cảm. Ông ta hỏi tôi “muốn gì ở cô ấy”,rằng tôi không thấy cô ấy đang phải vật lộn với cuộc sống khó khăn của mình à. Sau đó, ông ta lấy ra trong túi mình mấy đồng tiền lẻ rồi để vào chiếc túi ăn xin.
Người đàn bà thể hiện niềm biết ơn với vẻ mặt sầu khổ. Sau khi thể hiện lòng tốt, người đàn ông bỏ tay khỏi vai tôi rồi tiếp tục bước đi đến trạm ga.
Hôm sau, tôi gọi cho một người bạn. Nhờ anh bạn này, tôi bắt đầu hiểu rõ hơn về đường dây ăn xin có tổ chức. Những đứa trẻ nằm ngủ ngon lành trên tay nhiều người ăn xin thực chất là được “thuê” từ những gia đình có cha mẹ suốt ngày say xỉn, thậm chí, có nhiều đứa trẻ còn bị đánh cắp.
Cũng nhờ người bạn của mình, tôi hiểu được tại sao những đứa trẻ đó luôn ngủ. Với giọng điệu bình thản, anh cho biết: “Chúng hoặc là phê ma túy, hoặc là đã say rượu rồi…”
Tôi choáng váng hỏi lại “Ai phê ma túy? Ai say rượu cơ?”
Anh bạn đáp lại “Đứa trẻ. Vì thế, nó không thể kêu khóc được. Người ăn xin luôn ngồi cả ngày để hành nghề, vậy cậu thử tưởng tượng xem đứa bé đó sẽ cảm thấy chán chường thế nào nếu còn thức?”
Để khiến đứa bé ngủ cả ngày, những kẻ ác độc phía sau màn ăn xin nghèo khổ đã bắt nó phải uống rượu hoặc chích thuốc.
Rõ ràng, cơ thể của những đứa trẻ không thể chịu nổi việc bị sốc thuốc. Và, chúng thường sẽ chết. Điều tồi tệ nhất là có lúc chúng chết ngay trong “giờ làm việc”. Sau đó, “bà mẹ” ăn xin sẽ phải thay nó bằng đứa trẻ khác rồi ôm cho đến tối. Đây là luật rồi. Và người đi đường thì sẽ vẫn cho tiền, vẫn tin rằng hành động của mình rất đạo đức.
ảnh minh họa
Ngày hôm sau, tôi quay trở lại ga tàu nơi người phụ nữ ăn xin đang ngồi. Tôi đưa thẻ phóng viên của mình ra và sẵn sàng cho một cuộc nói chuyện nghiêm túc. Thế nhưng, cuộc nói chuyện ấy đã không diễn ra. Tôi tiến đến để hỏi cô ta về giấy khai sinh của đứa bé, và đứa trẻ hôm qua cô ta bế đang ở đâu. Đáp lại những câu hỏi của tôi, người phụ nữ ăn xin vẫn chỉ phớt lờ.
Nhiều người đi đường quay lại mắng tôi té tát và cho rằng tại sao tôi lại có thể hét vào mặt người ăn xin và đứa trẻ tội nghiệp như thế. Ngay sau đó, tôi bị tống ra khỏi ga tàu. Lúc này, chỉ còn 1 điều duy nhất tôi có thể làm đó là báo cảnh sát. Nhưng khi cảnh sát đến, cả người phụ nữ và đứa trẻ đều đã biến mất… Lúc này, tôi mới nhận ra rằng mình đang chống đối cả 1 thế lực lớn mạnh.
Có lẽ, sau khi đọc những dòng tâm sự này, các bạn sẽ phần nào hiểu được sự thật về những đứa trẻ luôn ngủ trên tay người ăn xin. Vì vậy, khi trông thấy những người ăn xin bế một đứa trẻ trên tay ở bất cứ nơi nào, hãy suy nghĩ và quan sát thật cẩn thận trước khi ra tay giúp đỡ họ.
Hãy nghĩ rằng: nếu không phải vì lòng thương hại của hàng nghìn người, nghề ăn xin đã không thể tồn tại. Nếu ăn xin không còn tồn tại, sẽ không còn đứa trẻ sơ sinh nào phải chết vì sốc thuốc hay rượu nữa.
 

Những điều Đức Phật dạy về hóa giải bất hòa

Đối với Đức Phật, việc hóa giải những bất hòa cũng quan trọng không kém việc xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp giữa những người sống chung.
Cộng đồng Tăng già mới thành lập của Ngài bao gồm cả nam và nữ đến từ mọi thành phần xã hội, những thành viên trong cộng đồng đó có những khác biệt lớn về nhiều phương diện và điều không thể tránh là sự phát sinh những mâu thuẫn.  




Với cái thấy xuyên suốt, Đức Phật đã cho những người sống chung những bài học quý báu để ngăn ngừa và hóa giải những mâu thuẫn xảy ra giữa họ. Mặc dù lúc đó Đức Phật nhắm đến những đệ tử xuất gia, những lời khuyên của Ngài cũng áp dụng có hiệu quả cho những cộng đồng xã hội khác và vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Sau đây, chúng ta lần lược trình bày và phân tích những lời dạy của Ngài.

Năm sự khéo léo trong việc trao đổi

Những lời dạy của Đức Phật về sự khéo léo trong cách giải quyết tốt đẹp những bất hòa được Ngài Xá Lợi Phất giải thích rành mạch(1).
Đức Phật dạy, có năm sự khéo léo trong giao tiếp đem đến nhiều kết quả tốt đẹp. Theo Ngài Xá Lợi Phất, không tuân theo năm cách xử sự này sẽ đem đến những hậu quả tiêu cực và đáng ân hận - và hầu hết người nói sẽ gặp phản ứng từ người nghe. Sau đây, chúng ta khảo sát năm phương pháp mà Đức Phật và Ngài Xá Lợi Phất coi như thiết yếu trong việc hóa giải những bất hòa trong đời sống hàng ngày.
1. Nêu vấn đề đúng thời
Đúng thời là một điều kiện quan trọng trong việc truyền đạt của Đức Phật. Ngài tự nhận là một “người nói đúng thời” và thường nhấn mạnh rằng sự thất bại hay thành công trong cuộc trao đổi tùy thuộc rất lớn vào thời điểm(2). Theo Ngài Xá Lợi Phất, đúng thời là điều kiện thiết yếu trong việc hóa giải những mâu thuẫn giữa người với người.
Với những bằng chứng được ghi lại, Đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử loài người nhấn mạnh sự quan trọng của việc đúng thời trong lời nói. Đó là vào thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch. Tư tưởng gia Hy Lạp tiền Socrate là Protagoras đề cập đến khái niệm này lần đầu tiên trong lịch sử Tây phương vào thế kỷ thứ tư trước Tây lịch.
Khái niệm “nói đúng thời” của Đức Phật mang một ý nghĩa rộng rãi. Điều cần chú ý đầu tiên là trạng thái tinh thần của người nghe. Cuộc đối thoại giữa Đức Phật và bà Gotami, người có đứa con duy nhất chết khi còn nhỏ, chứng tỏ sự quan trọng của tác nhân này(3). Gotami ôm đứa con đã chết đến cho nhiều vị thầy thuốc để mong được cứu, nhưng tất cả các thầy thuốc đều trả lời rằng đứa bé đã chết, không ai có thể cứu sống được. Quá thất vọng và đau buồn, bà ôm con đến chỗ Đức Phật, người được coi là “vị thầy vĩ đại nhất”, cầu khẩn Ngài cứu sống đứa bé. Thấy sự đau đớn khôn cùng của người mẹ, Đức Phật quyết định không nói ngay về sự thật. Ngài bảo bà đi tìm một nắm hạt cải ở nhà nào chưa từng có người chết. Vì biết rằng bà sẽ phản ứng và và đau đớn khi nghe sự thật, Ngài đợi đúng lúc để nói cho bà về sự thật không vui rằng cái chết là phổ biến cho mọi người, không ai có thể tránh khỏi, không ai có thể thay đổi. Và điều đó đã giúp bà giảm đi nỗi đau và đạt đến trí tuệ.
Các nhà tâm lý xác nhận rằng một người đang lúc không vui ít muốn lắng nghe. Một trẻ vị thành niên khi mang về một giấy báo điểm thấp có thể sẽ phản kháng mãnh liệt trước lời khuyên của cha mẹ rằng hãy cố gắng để khá hơn trong kỳ học tới. Một người vợ hay chồng về nhà sau một cuộc chạm trán không vui với cấp trên có thể thấy những lời cau có của người kia nhức nhối khó chịu hơn. Trao đổi khi người nghe ở trong trạng thái vui vẻ có thể đem lại những kết quả tốt đẹp hơn.
Sự thoải mái về thể xác cũng phải được kể vào nguyên tắc đúng thời. Đức Phật bảo đệ tử của Ngài cho một người muốn nghe pháp đang đói được ăn trước khi Ngài thuyết pháp cho người đó(4). Đức Phật biết rằng thuyết pháp cho một người đang đói sẽ đem lại ít lợi lạc hơn. Và trước khi nói pháp cho một đệ tử xuất gia, Đức Phật đã hỏi han về chứng bệnh của vị đó đang mang(5). Chúng ta thấy rõ ràng rằng điều kiện thể xác cũng là một yếu tố để có một tinh thần khỏe mạnh; do đó “đúng thời” cũng có nghĩa là thời điểm khi người nghe có tình trạng cơ thể thích hợp.
Mục tiêu của “đúng thời” là đem lại sự vui vẻ và lợi ích cho cả người nghe và người nói. Chờ đợi thời điểm thích hợp để truyền đạt không có nghĩa là tìm cơ hội tốt nhất để tạo tác động lên người nghe. Sự hiện diện của những động năng ích kỷ và lạm dụng đi ngược lại lời dạy của Đức Phật. Ngài lặp đi lặp lại rằng người nói nên được hướng dẫn bằng tâm từ bi, hoàn toàn không có động cơ lợi dụng.
Chọn thời điểm thích hợp nhất để nói là sự khéo léo có sức mạnh rất lớn trong việc hóa giải những bất hòa trong mối quan hệ.
2. Chỉ đề cập đến sự kiện
Đức Phật nói thêm rằng tránh những lời buộc tội sai lầm là bước thứ hai trong việc làm tốt cuộc đối thoại và giảm bớt những mâu thuẫn trong mối quan hệ. Theo Ngài Xá Lợi Phất, người nói cần luôn tâm niệm: “Tôi sẽ nói điều gì đã xảy ra, không nói điều gì không xảy ra”(6). Sự khéo léo này cũng bao gồm việc tránh cường điệu, phóng đại những lỗi lầm và những yếu kém của người nghe, cũng như những lời kết tội không có thật khác.
Dưới nhãn quan tâm lý học, chúng ta thổi phồng những yếu kém hay lỗi lầm của một người chính yếu là để lôi kéo sự chú ý của người đó, hoặc bày tỏ sự tức giận của chúng ta. Để nhấn mạnh sự săn sóc thích hợp cho một đứa con, người vợ có thể nói với chồng: “Con bị cảm cúm do anh không đắp kỹ cho nó”. Để trút giận, người chồng có thể trả đũa: “Cô lúc nào cũng nói chuyện ngớ ngẩn”. Trong trường hợp đầu, điều thật sự xảy ra là đứa trẻ bị bịnh cúm; lý do người vợ đưa ra chỉ là một sự gán cho. Trường hợp thứ hai, câu trả lời của người chồng là một câu nói chung chung, một luận điệu chung chung về một sự việc riêng lẻ. Cả hai đều nói những lời cường điệu. Cả hai đều không nói đúng chính xác “điều xảy ra”.
Sự cường điệu thể hiện dưới nhiều hình thức trong đời sống hàng ngày. Một người mẹ thấy một chiếc dĩa tuột khỏi tay người con gái có thể la lên: “Mày không bao giữ được cái gì”. Một người vợ đọc kết quả xét nghiệm sức khỏe hàng năm của chồng có thể nói: “Ông không chịu tập thể dục. Đó là lý do lượng mỡ trong máu tăng cao”. Tất cả những lời nói này đều là những lời thổi phồng, cường điệu, hoặc gán thêm.
Cách phát ngôn này một cách nào đó có vẻ xoa dịu cho người nói - mặc dù không xoa dịu chút nào cho người nghe. Có thể một người sẽ cảm thấy sự căng thẳng trong tâm của mình nhẹ bớt bằng việc tấn công bằng lời nói vào người đã tạo ra sự căng thẳng. Nhưng hầu như điều đó chỉ làm tăng thêm phản ứng ương ngạnh của người nghe. Người nghe cho rằng những lời của người nói là những lời kết tội vô căn cứ hay là những lời lăng mạ. Phản ứng đó tạo ra sự khó khăn trong việc đưa đến một cuộc đối thoại lành mạnh giữa người nói và người nghe.
Đức Phật khuyên chỉ nên nêu ra sự kiện, không thêm vào sự kiện những giải thích theo ý riêng. Khi đó hoàn cảnh sẽ thuận lợi hơn để hóa giải những mâu thuẫn một cách thân tình. Điều xảy ra đã xảy ra. Để cứu vãn mối quan hệ, tốt nhất là đừng để cho sự bất hòa lại xảy ra lần nữa.
Đề cập đến sự kiện không có nghĩa là luôn luôn phải nói về sự kiện đã xảy ra. Đức Phật nói: “Cho dù sự việc là thật, ta không nói sự thật đó khi không được người nghe đồng ý”(7). Một số sự thật nói ra không có mục đích ích lợi nào, nói ra có thể là vô ích. Để đem lại kết quả tích cực trong thái độ và cách cư xử của một người, chúng ta nên chỉ đề cập đến sự kiện, không gán ghép vào đó bất cứ điều gì khác.
3. Nói lời ôn nhu
Dùng lời nói ôn nhu, theo Ngài Xá Lợi Phất, là một khía cạnh quan trọng khác trong việc truyền đạt có kết quả việc giải tỏa những mối bất hòa. Theo Ngài, người nói nên có một thái độ dứt khoát trong việc sử dụng ngôn ngữ: “Tôi nguyện nói lời ôn nhu, không nói lời lỗ mãng, thô bạo”. Tránh sử dụng lời nói lỗ mãng cũng là một trong năm giới của người Phật tử tại gia. Sự nhấn mạnh này nói lên vai trò quan trọng của lời nói ôn nhu trong mối liên hệ hàng ngày.
“Nói lời ôn nhu” ở đây cũng chuyên chở một ý nghĩa rộng rãi. Nó bao gồm mọi thứ liên quan đến ngôn ngữ: lời nói, câu nói, giọng nói, cách nói.
Theo Đức Phật, khi chúng ta nói lời thô bạo để giải quyết mâu thuẫn, sự vô minh và sân hận thống trị tâm thức chúng ta. Ý nghĩ cho rằng sự thô bạo sẽ làm cho người nghe chịu hiểu phát xuất từ một tâm thức vô minh. Sự thật, ngôn ngữ lỗ mãng chắc chắn sẽ làm cho người nghe phản ứng và chống lại. Một số người nghĩ rằng dùng những lời lỗ mãng để buộc người nghe không nói được, họ thuyết phục được người nghe chấp nhận những ý kiến của họ. Một đứa trẻ giữ im lặng và không phản ứng khi bị cha mẹ la rầy có thể dường như đã được thuyết phục, nhưng sự thật, sự im lặng của đứa trẻ có thể là một phản kháng mạnh mẽ, nói lên sự thất bại của cha mẹ. Ngôn ngữ lỗ mãng có thể đem đến một cảm giác thỏa mãn tạm thời, nhưng nó không bao giờ giải quyết được sự mâu thuẫn.
Tâm lý học hiện đại giải thích rằng sự nóng giận, tác nhân thúc đẩy phía sau của những lời nói lỗ mãng, là một phản ứng trước những tình huống đe dọa. Nói lời giận dữ là một kỹ thuật để triệt tiêu nguồn gốc của một mối đe dọa, không phải để giải quyết sự mâu thuẫn. Ngôn ngữ, giọng điệu hung dữ biểu lộ một sự tấn công. Cảm giác rằng người nói đang tấn công mình bằng lời là cảm giác tồi tệ nhất đối với người nghe về khả năng có thể đối thoại. Ít ai khoan thứ với một sự tấn công; họ tự vệ hoặc tấn công lại. Sự thô bạo được hướng dẫn bởi lòng tức giận ít khi đưa đến kết quả tốt trong việc giải quyết những bất hòa.
Có người cho rằng lời nói hòa dịu phản ảnh sự yếu nhược, và có thể bị người nghe lợi dụng. Sự hiểu sai lạc này bắt nguồn từ việc hiểu sai khi cho rằng ôn hòa là thiếu khả năng hay nhút nhát. Tuy nhiên, lời lẽ ôn hòa không nằm trong ý nghĩa đó. Đức Phật luôn luôn dùng lời lẽ ôn hòa, nhưng Ngài cũng thấy rằng lời nói cứng rắn, dứt khoát là cần thiết. Lời nói thô bạo là một thái cực và yếu nhược là thái cực kia. Theo Đức Phật, chúng ta có thể không ở trong một thái cực nào và vẫn có thể dùng những lời lẽ dứt khoát để giải quyết những mâu thuẫn một cách có hiệu quả.
Trong Dhammapada (Pháp cú), Đức Phật khuyên nên kiểm soát lời nói, tránh những lời nói tức giận(8). Thái độ đó sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi trong việc hóa giải những mâu thuẫn bất hòa trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
4. Nhắm vào những hiệu quả tích cực
Đi xa hơn, Ngài Xá Lợi Phật còn giải thích rằng người nói cần tập trung vào mặt tích cực trong giải pháp giải quyết vấn đề. Sự tập trung này có thể đem lại những kết quả lớn trong việc hóa giải những mâu thuẫn giữa những người có mối liên hệ gần gũi. Theo Ngài Xá Lợi Phất, người nói cần luôn tâm niệm “Tôi sẽ nói vì sự lợi ích cho người nghe”. Thái độ này của người nói gợi lên hai điểm. Thứ nhứt, người nói cần biết rõ về những kết quả tích cực của giải pháp. Thứ hai, người nói cần giải thích thấu đáo cho người nghe về những kết quả tốt đẹp của giải pháp đó.
Cách giải quyết mâu thuẫn này nói lên sự việc rằng chỉ phê bình mà không có đường hướng để giúp đỡ người nghe thì sẽ thất bại. Một số người có khuynh hướng tìm lỗi của người kia chỉ để phê phán. Nhận thấy thói quen nguy hại đó, Đức Phật dạy: “Một người luôn luôn phê phán người bạn của mình, việc đó không chứng tỏ một tình bạn chân thật”(9). Khi nhận ra động cơ thúc đẩy của người nói, theo bản năng, người nghe sẽ phản bác những lời phê bình của người nói. Với một hướng giải quyết được chuẩn bị sẵn, người nói có thể làm cho người nghe chú ý lắng nghe.
Sự rõ ràng rành mạch của người nói về những hiệu quả tích cực của giải pháp thuyết phục người nghe chấp nhận cách giải quyết. Người nói cần giải thích cho người nghe lý do vì sao vấn đề cần được giải quyết, và sự giải quyết đó sẽ có lợi cho người nghe như thế nào. Người nghe có thể hiểu sai lạc việc phê bình xây dựng khi người nói không nói rõ mục đích và những kết quả tích cực trong những đề nghị của mình.
5. Nói với lòng từ bi
Sau cùng, lòng từ bi có thể hướng dẫn toàn bộ tiến trình đối thoại. Những người có ý tưởng, lời khuyên và giải pháp phát xuất từ lòng từ bi thường dễ giải quyết tốt đẹp những mối bất hòa. Người nói nên tâm nguyện rằng “Tôi nguyện nói với lòng từ bi, không nói với lòng tức giận”(10).
Bốn phương pháp đề cập ở trên - đúng thời, chỉ đề cập đến sự kiện, sử dụng ngôn ngữ ôn nhu, và nhắm vào lợi ích của người nghe - là những phương pháp thuộc phạm vi hùng biện, ở bên ngoài. Từ bi, thuộc tình cảm, ở bên trong và dĩ nhiên là thiết yếu.
Những phương pháp hùng biện bên ngoài là cần thiết nhưng có thể là những kỹ thuật không thích hợp trong việc sửa đổi một cá nhân. Sự nguy hiểm nằm ở chỗ người nghe có thể cảm nhận sự “thiếu tấm lòng” nơi người nói. Câu “Tôi thương anh do đó tôi muốn anh được tốt đẹp” có sức mạnh lớn trong việc ảnh hưởng một người, nhưng sự bày tỏ không bằng lời nói còn có sức mạnh lớn lao hơn.
Đôi khi chúng ta cần tự hỏi về ý hướng của chúng ta khi nói với người khác về những hành vi không đẹp của họ. Phải chăng có tác động tình cảm thật sự trong việc chăm sóc, giúp đỡ một người, hay một thứ gì khác đang giở trò? Vì sao một người vợ hay chồng luôn luôn nhắc nhở người kia về lỗi lầm mà người đó đã tạo ra trong quá khứ? Vì sao chúng ta luôn luôn sửa sai một người nào đó? Những sự việc này cần quan sát kỹ lưỡng. Một hành động sẽ có ý nghĩa và kết quả nếu nó được khởi động bằng lòng từ bi.
Những ngoại lệ
Năm bước giải quyết trong truyền thống Phật giáo không phải là những phương thuốc toàn hảo cho mọi xung đột giữa người và người. Chúng được coi như những phương pháp để có sự đối thoại khéo léo, thiện xảo, có thể dùng để giải quyết hầu hết những xung đột một cách có hiệu quả, nhưng lúc nào cũng có những ngoại lệ. Khi Ngài Xá Lợi Phất trình bày hiệu năng của năm phương pháp này, Đức Phật nêu lên một điểm quan trọng:
“Lại nữa, Xá Lợi Phất, dù ông theo năm phương pháp đối thoại này, vẫn còn một số người không tán đồng những điều ông nói”(11).
Lời nói này phản ảnh cái thấy sâu xa của Đức Phật rằng năm phương pháp ở trên không thể giải quyết tất cả mọi xung đột giữa con người, và theo đó, Ngài bảo Xá Lợi Phất giải thích vì sao có một số người quá cứng cỏi và làm thế nào để đối trị.
Trả lời Phật, Ngài Xá Lợi Phất thừa nhận có một số người luôn luôn phản kháng dù năm phương pháp khéo léo trong đối thoại đã được đem ra áp dụng; và Ngài nói rằng sở tri chướng được coi là một lý do tạo ra phản ứng nơi người nghe. Đức Phật khen ngợi Ngài Xá Lợi Phất và khuyến khích Ngài phát triển những kỹ thuật được dạy để làm lợi lạc cho những người sẵn sàng lắng nghe. Điều đáng chú ý là những phương pháp đối thoại mà Ngài Xá Lợi Phất trình bày giúp giải quyết những xung đột trong tinh thần hòa bình.
Nói thêm về sự khéo léo trong việc trao đổi
1. Tránh tranh luận những vấn đề nhạy cảm
Để giảm thiểu tối đa những xung đột trong quan hệ, Đức Phật khuyên chúng ta nên tránh tranh luận về những vấn đề nhạy cảm. Những vấn đề này bao gồm những ý niệm có tính cách ức đoán, những quan điểm và tin tưởng không có cơ sở khoa học. Ngài nói rõ ràng rằng cuộc tranh luận như vậy thường chỉ tạo nên sự đối kháng thay vì đem đến sự nhất trí.
Sự trao đổi giữa Đức Phật và Kassapa, một nhà tu khổ hạnh thuộc một hệ thống tư tưởng khác, nói lên điều này. Đức Phật giữ mối quan hệ gần gũi với những vị thầy trong những tôn giáo khác, thường viếng thăm họ và có những cuộc trao đổi thân mật với họ. Trong cuộc trao đổi với Kassapa, Đức Phật khuyến cáo chỉ nên đề cập đến những chủ đề mà hai người có quan điểm chia sẻ, tránh những chủ đề gay gắt(12). Mục đích của cách tiếp cận đó là giữ mối quan hệ lành mạnh giữa người nói và người nghe.
Khi có người nêu ra những vấn đế nhạy cảm, Đức Phật đôi khi giữ im lặng. Im lặng có thể tốt hơn là tạo ra kết quả tiêu cực trong việc tranh luận. Và đôi khi Đức Phật không do dự tán đồng những quan điểm khác. Ngài coi mối quan hệ quan trọng hơn sự tranh luận về những vấn đề không đem đến kết quả tích cực nào cũng như Ngài tránh tranh luận về những vấn đề siêu hình.
Điều này không có nghĩa là Đức Phật hoàn toàn tránh né tranh luận, cũng không phải Ngài bảo đệ tử đừng bao giờ tranh luận. Trong nhiều trường hợp, Ngài đã tranh luận một cách hùng hồn về những vấn đề xã hội, chẳng hạn như vấn đề phân biệt giai cấp. Trong Digha Nikàya I, chúng ta thấy ghi lại nhiều cuộc tranh luận đầy thuyết phục của Đức Phật. Những cuộc tranh luận này cho thấy những lý lẽ đầy thuyết phục chống lại những tin tưởng và thói tục sai lầm và gây tổn hại trong xã hội. Đối với những tin tưởng và thực hành nhạy cảm có tính cách cá nhân, Đức Phật cho rằng tranh luận về những vấn đề đó là vô ích và có thể gây tổn hại cho mối quan hệ.
Ngày nay, có một số tin tưởng và thực hành về tôn giáo, chính trị và xã hội thuộc vào những nhóm này. Nếu người chồng và người vợ theo hai tôn giáo khác nhau tranh luận về niềm tin tôn giáo, sự quan hệ sẽ bị tổn thương rất nhiều. Tương tự, hai người bạn phê phán nhau về thói quen xã hội của mỗi người sẽ mở ra con đường đưa đến sự căng thẳng và bất hòa.
Để giữ mối quan hệ được tốt đẹp, Đức Phật khuyên chúng ta nên tránh tranh luận về những chủ đề như vậy. Ngài cho thấy rằng trong khi những tranh luận hợp lý lẽ có thể là cần thiết đối với những tin tưởng và hành động gây ra những hậu quả xấu, hầu hết những niềm tin tôn giáo và những thói quen xã hội đều có thể có ích. Trong trường hợp này, thay vì tranh luận, sự tiếp cận tốt nhất là tôn trọng lẫn nhau.
2. Ý thức rằng có một số cách cư xử không thể thay đổi
Để giữ mối quan hệ được lành mạnh, chúng ta có thể phải chấp nhận một số mặt không thể thay đổi trong cách cư xử của người đang sống với chúng ta. Đức Phật nhận thấy rằng hầu hết con người đều có một số yếu kém bên trong. Ngài nói: “Người không có những chứng bệnh trong tâm thật hiếm thấy”(13). Một trong những chứng bệnh này là “không nhận ra, chấp nhận, và chịu sửa đổi cách cư xử của mình”(14). Đó là bản chất của một số người, cố gắng sửa đổi của người khác chỉ đem lại sự thất vọng và mệt mỏi. Đức Phật cho thấy rằng có một số người bản chất tự nhiên là phản ứng bằng sự tức giận, ác tâm và gây hấn đối với những lời khuyên xây dựng về cách cư xử của họ(15). Trong hoàn cảnh đó, cách hay nhất là hiểu và chấp nhận một số thái độ của người sống chung là không thể thay đổi tuy rằng một cách lý tưởng, mỗi người trong mối quan hệ cần tự sửa đổi cách cư xử của mình thay vì buộc người kia phải chấp nhận. Có một số người có thể bày tỏ thái độ khó chịu không gây ra những mối đe dọa trầm trọng cho mối quan hệ. Trong trường hợp không thể sửa đổi, sự chấp nhận có vẻ thực tiễn hơn là cố gắng sửa đổi.
Đức Phật cũng nhắc nhở chúng ta rằng tự sửa mình là tính chất của một người hiền trí. Sự tự sửa như vậy cũng có thể làm giảm đi những sự không vui trong mối quan hệ. Chúng ta có thể thấy khó khăn khi muốn sửa đổi người khác theo ý muốn của mình, nhưng chúng ta có thể sửa đổi ý nghĩ và hành động của mình để thích hợp với thái độ của người khác. Chúng ta có thể rèn luyện một tâm thức tỉnh táo để có thể chấp nhận và khoan thứ khi đón nhận những điều bất đồng, nhưng không đe dọa đến mối quan hệ, từ người sống chung.
Khuynh hướng giữ im lặng của người chồng và khuynh hướng muốn bày tỏ của người vợ là điển hình của những cách cư xử đòi hỏi sự khoan dung và chấp nhận. Người vợ có thể muốn người chồng nghe và đáp ứng trong khi người chồng muốn người vợ bày tỏ những ý nghĩ của mình một cách đơn giản. Tuy nhiên, nếu mỗi người đều hiểu bản tính của người kia, họ có thể chấp nhận cách cư xử của người kia thay vì cố gắng thay đổi. Luôn luôn than phiền về sự không quan tâm của người chồng hay tính tự biểu hiện của người vợ có thể làm căng thẳng mối quan hệ. Ngược lại, kiên nhẫn, khoan dung và chấp nhận sẽ làm giảm mối bất hòa trong quan hệ.
3. Tạo cơ hội sửa đổi
Đạo Phật tin vào khả năng biết tha thứ và có thể sửa đổi của con người. Chúng ta ai cũng có lỗi lầm. Đôi khi chúng ta tạo ra những lỗi lầm trầm trọng có ảnh hưởng đến mối quan hệ của chúng ta. Đức Phật luôn luôn khuyên đệ tử biết tha thứ những lỗi lầm và tạo cơ hội sửa đổi cho người gây lỗi. Cách cư xử này sẽ đưa đến việc xây dựng một mối quan hệ gắn bó hơn.
Lời khuyên này không có nghĩa là phải quên hết mọi lỗi lầm trầm trọng của người vợ hay người chồng, bạn bè, hay những người thân. Nó có nghĩa là những lỗi lầm quá khứ của một người sẽ không làm cho người đó bị kết án là một kẻ xấu ác cố hữu và không thể có mối quan hệ lành mạnh. Chúng ta có thể học hỏi từ những sai lầm của chúng ta. Chúng ta có khả năng tiến hóa, và chúng ta có thể vượt qua quá khứ không tốt đẹp để trở nên tốt đẹp hơn:
Có những người biếng nhác trong quá khứ, trở nên cảnh giác và tiến bộ. Họ làm sáng thế giới giống như mặt trăng khi ra khỏi đám mây(16).
Đức Phật tỏ ra rất tin tưởng khả năng tiến bộ của con người. Và tạo cho người khác cơ hội để tiến bộ có thể là cách tiếp cận khôn ngoan trong việc hóa giải những bất hòa.
Cách tiếp cận này có thể là cách tiếp cận thích hợp trong việc làm sâu đậm mối quan hệ hơn những cách khác. Nhiều người trong mối quan hệ kỳ vọng người chung sống trung thành nhưng những kỳ vọng đó không phải luôn luôn được đáp ứng. Sự bất tín không phải là không phổ biến trong xã hội của chúng ta. Một người càng yêu người kia thì càng bị phiền muộn nhiều hơn khi khám phá ra những điều tuột ra ngoài sự kỳ vọng của mình. Nền văn hóa của chúng ta khuyến khích chúng ta dày vò “người có tội” một cách tàn nhẫn. Tuy nhiên, khi chúng ta để chúng ta miệt mài trong oán giận, chắc chắn chúng ta sẽ chấm dứt mối quan hệ trong đau đớn. Một cách giải quyết khéo léo là làm cho người kia hiểu rõ hơn về bản chất lỗi lầm của người đó và cho phép thời gian sửa đổi.
Đức Phật nói rằng sự hấp dẫn của người khác phái là khuynh hướng mạnh nhất nơi con người. Ngài nói: “Ta không thấy một cái nhìn, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm nào lôi cuốn trái tim của người đàn ông hơn phụ nữ”(17). Một người nữ cũng bị người nam lôi cuốn như vậy(18). Việc đó có thể được coi là tự nhiên. Tuy nhiên, con người cũng phát triển một lối tư duy thực tiễn để chống lại những khuynh hướng bản năng. Khi được ban cho cơ hội, con người có thể hiểu ra những lợi ích của việc tiếp cận thực tế với những thôi thúc bản năng. Sự hiểu biết đó có thể giúp con người sửa chữa những sai lầm làm tổn hại mối quan hệ thân thiết.
Bước quan trọng nhất để sửa mình và làm cho mối quan hệ thêm gắn bó là “nhìn thấy lỗi lầm như nó là, chấp nhận lỗi lầm, và quyết định không tái phạm”(19). Khi chúng ta thực hiện điều này, chúng ta được Đức Phật gọi là pandita - người hiền trí.
4. Tìm một cuộc chia tay hài hòa
Trong mọi sự đều có ngoại lệ. Trách nhiệm và bổn phận, khéo léo trong trao đổi, và những kỹ thuật khác là những phương tiện làm giảm, không phải là triệt tiêu, những mâu thuẫn trong một mối quan hệ. Mặc dù với những cố gắng chân thật, một số người thấy rằng vấn đề của họ không thể giải quyết. Đức Phật dạy gì về mối quan hệ không vui và không ai muốn này? Ngài dạy gì cho đệ tử về việc đối xử với những người không còn gần gũi với mình?
Đức Phật nhìn thấy những lý do đưa đến sự chấm dứt chính đáng một mối quan hệ: người kia cứ tiếp tục những hành vi sai trái không kiềm chế, có sự nguy hiểm do mối quan hệ gây ra, nhận thấy một sự vô ích trong việc kéo dài mối quan hệ. Trong mỗi trường hợp vừa nêu, Đức Phật chấp nhận quyền chọn lựa cá nhân trong sự quyết định. Ngài khuyên đệ tử rút lui khỏi những mối quan hệ không thích hợp như vị vua rút khỏi vùng đất bị chiếm(20).
Tuy nhiên, sự chấp nhận tự do cá nhân này không có nghĩa là tán đồng những quyết định vội vàng, sắt đá, không hài hòa; thay vì vậy, những sự cân nhắc hợp lý và hợp đạo đức phải được đặt ra trước khi có sự quyết định sau cùng. Người đó phải chắc chắn rằng quyết định của mình sẽ đem đến lợi ích, thay vì sẽ đem đến kết quả trái ngược, cho những người có liên quan trong mối quan hệ, kể cả bản thân người quyết định. Ai cũng có quyền chấm dứt mối quan hệ nếu quyết định đúng chuẩn mực.
Lời khuyên của Đức Phật với Upali (Ưu Ba Li), một đệ tử cũng là một người bạn của Giáo chủ Kỳ Na Giáo là Mahavira, chứng tỏ việc này. Theo yêu cầu của thầy, Upali đến chỗ Đức Phật để tranh luận. Tuy nhiên, sau khi nghe Đức Phật, Upali nhận thấy giáo pháp của Phật có giá trị hơn của Mahavira và muốn trở thành đệ tử của Ngài. Đức Phật nói: “Ông nên suy nghĩ thêm về quyết định của ông; đối với người đáng tôn kính như ông, tốt hơn là suy nghĩ và thẩm định về quyết định của mình”(21). Sau khi Upali thưa với Đức Phật rằng quyết định của ông đã được cân nhắc kỹ lưỡng, Đức Phật cho phép ông được rời bỏ Mahavira và trở thành đệ tử của Ngài. Sự lựa chọn cá nhân có suy nghĩ chín chắn và hợp lý của Upali là tác nhân chính yếu đưa đến quyết định của ông.
Việc này cũng áp dụng được cho những mối quan hệ khác. Trong thời Đức Phật, có những người nam cũng như nữ đã có gia đình muốn từ bỏ người hôn phối, sống cách biệt để thực hành phạm hạnh. Đức Phật không bao giờ ngăn cản nếu sự tu hành của họ không phương hại đến đời sống của người còn lại và con cái họ. Đức Phật khuyên Ugga, một người giàu có, chu cấp và đùm bọc những người vợ của ông trước khi rời xa họ(22). Đức Phật không bao giờ cho rằng một người có thể từ bỏ vợ hay chồng để tìm những thú vui khác. Tuy nhiên, Ngài nói rõ rằng một cuộc chia tay hài hòa khỏi một mối liên hệ không vừa ý có thể tốt hơn là cứ tiếp tục.
Đức Phật cũng có những lời khuyên cho những người sau khi chia tay người sống chung hay bạn hữu. Cuộc nói chuyện của Ngài với Kesi, một người huấn luyện ngựa, cho chúng ta thấy rằng cần phải từ bỏ sự oán ghét và thù hằn đối với người sống chung ngày xưa, dù người đó đã tạo ra những đau buồn phiền muộn trong mối quan hệ. Kesi nói với Đức Phật rằng ông sẽ giết những con ngựa không muốn hợp tác trong việc huấn luyện. Đức Phật nói với Kesi rằng đối với Ngài, Ngài không quan tâm đến những người không thể thuần thục hay không chịu hợp tác(23).
Trong giáo pháp của Đức Phật, sự theo đuổi hận thù không bao giờ được khuyến khích, ngay cả khi người đó bị lạm dụng hay bị làm tổn thương trong mối quan hệ. Đức Phật dạy rằng, một người không thể tìm thấy bình an khi vẫn còn vướng mắc trong những sai quấy của người khác trong quá khứ(24). Dĩ nhiên cần có những phản ứng thích hợp trước những hành vi sai trái, nhưng như Đức Phật nhìn thấy, đeo đẳng chạy theo sự oán hận chỉ làm trầm trọng thêm nỗi đau do mối quan hệ không được hạnh phúc gây ra. Có những người làm cho cuộc sống của họ khổ đau với việc không chịu thoát ra khỏi mối quan hệ đã đổ vỡ, trong khi họ có thể tìm thấy sự hài hòa trong cuộc sống bằng cách biết tha thứ và quên đi.
Kết luận
Đức Phật và đệ tử của Ngài là Xá Lợi Phất đã đưa ra những hướng dẫn giá trị để giải quyết một cách hòa bình những mâu thuẫn trong cộng đồng Tăng già. Những hướng dẫn này cũng áp dụng hiệu quả cho những người sống chung trong những mối quan hệ xã hội khác. Trau dồi sự khéo léo trong giao tiếp, phát triển những cách cư xử khôn khéo là những điều cần thiết cho mục tiêu này. Đức Phật nhấn mạnh rằng, hầu hết những vấn đề xảy ra trong mối liên hệ gần gũi đều có thể giải quyết tốt đẹp bằng những phương pháp Ngài nêu ra. Tuy nhiên, vẫn có một số quan hệ không thể giải quyết, dù người trong cuộc hết sức cố gắng. Trong trường hợp này, chia tay có thể là một giải pháp tốt nhất để giải phóng những người trong cuộc thoát khỏi gánh nặng của những xung đột. Sự chia tay không nên được coi là một cách trả thù, nhưng là một cách để có thể đem lại sự tốt đẹp cho mình và cho những người khác liên quan trong mối quan hệ. 
Bhikkhu Basnagoda Rahula - Thị Giớidịch
(1) Anguttara Nikaya V: Sona Vagga: Subhasitavaca Sutta. (2) Majjhima Nikaya I: 27: Culahatthipadopama Sutta. (3) Dhammapadathakatha: Sashassa Vagga: Kisagotamya Vatthu. (4) Dhammapadatthakatha: Sukkha Vagga: Annatarassa Upasakassa Vattha. (5) Dhammapadatthakatha: Citta Vagga: Putigattatissatthera Vatthu. (6) Aguttara Nikaya V: Aghata Vagga: Codana sutta. (7) Majjima Nikaya II: 58: Abhayarajakumara Sutta. (8) Dhammapada: kệ 232. (9) Sutta Nipata: Cula Vagga: Hiri Sutta. (10) Anguttara Nikaya V: Aghata Vagga: Codana Sutta. (11) Ibid. (12) Digha Nikaya I: 8: Maha Sidanada Sutta. (13) Anguttara Nikaya IV: Indriya Vagga: Roga Sutta. (14) Anguttara Nikaya III: Bala Vagga: Accaya Sutta. (15) Anguttara Nikaya III: Puggala Vagga: Vajiropama Sutta. (16) Majjhima Nikaya II: 86: Agulimala Sutta. (17) Anguttara Nikya I: Ekaka Vagga:1. (18) Anguttara Nikya I: Ekaka Vagga:2. (19) Anguttara Nikaya III: Bala Vagga: Accaya Sutta. (20) Dhammapada: 329. (21) Majjhima Nikaya II: 56: Upali Sutta. (22) Anguttara Nikaya VIII: Gahapati Vagga: Hatthigamaka Ugga Sutta. (23) Anguttara Nikaya IV: Kesi Vagga: Kesi Sutta. (24) Dhammapada: kệ 3.

Bí quyết sinh con theo ý muốn theo phong thủy của người xưa

Người xưa dựa trên các quẻ âm và quẻ dương để tính một đứa trẻ sắp sinh ra là con trai hay con gái.
Trong quan niệm về đường con cái, người Việt cho “có nếp có tẻ” mới là đẹp. Bởi thế, từ xưa dân ta đã quan tâm và tìm nhiều cách để điều chỉnh kết quả sinh con mà ngày nay ta gọi là thuật sinh con theo ý muốn.

Dựa theo các quẻ Bát Quái

Bát Quái có 8 quẻ chính là Càn, Khôn, Đoài, Tốn, Khảm, Chấn, Ly, Cấn. Các quẻ này lại chia ra thành các quẻ dương và quẻ âm. Các quẻ dương là Càn, Khảm, Cấn, Chấn. Còn lại các quẻ âm là: Khôn, Đoài, Tốn, Ly. Người xưa dựa trên các quẻ âm và quẻ dương vừa nêu để tính một đứa trẻ sắp sinh ra là con trai hay con gái.

bat-quai
Phương pháp tính là lấy tuổi theo âm lịch của cha và mẹ và tháng thụ thai để tính. Nếu khi có bầu mà người mẹ ở tuổi chẵn: 20, 22, 24, 26… thì vẽ 2 vạch ngắn liền nhau (–). Nếu ở tuổi lẻ như 21, 23, 25… thì vẽ 1 vạch dài ( _ ). Đối với người bố cũng thế. Tiếp theo là tháng thụ thai. Nếu tháng thụ thai là tháng lẻ thì 1 vạch dài, tháng chẵn thì 2 vạch ngắn. Lưu ý là tháng thụ thai cũng tính theo âm lịch và tuổi âm lịch thì phải cộng thêm cả tuổi Mụ, ví dụ sinh năm 1986 thì sang năm 2013 là 27 theo dương lịch nhưng là 28 theo âm lịch.
Tính được các vạch ngắn dài rồi thì ta sắp xếp lại. Xếp vạch ứng với tuổi bố ở trên, mẹ ở dưới và chèn vào giữa là vạch ứng với tháng thụ thai của đứa trẻ. Nếu tạo thành các quẻ dương thì sẽ sinh con trai, ngược lại thì sinh con gái. Để dễ nhớ thì ta tóm lược, nếu tuổi của bố, mẹ và tháng thụ thai tạo thành: 2 chẵn 1 lẻ là con trai, 2 lẻ 1 chẵn là con gái, 3 chẵn là con gái, 3 lẻ là con trai.
Đây là phương pháp để người ta đoán một người mang bầu sẽ sinh ra con trai hay con gái trong thời đại chưa có máy siêu âm. Lâu dần, dựa vào cách toán quẻ này, người ta ứng dụng thành phương pháp để sinh con theo ý muốn. Tuổi bố và tuổi mẹ là đã biết trước, vậy chỉ cần chọn tháng thụ thai làm sao để tạo ra quẻ dương.
Phương pháp tính theo tuổi
Lấy tổng tuổi của vợ chồng theo Âm lịch trừ đi 40. Nếu số dư trên 40 tiếp tục trừ đi 40. Đem số dư còn lại đầu tiên trừ 9, tiếp tục trừ 8, lại trừ 9, trừ 8… cho đến khi số dư nhỏ hơn hoặc bằng 9 thì thôi. Nếu hiệu số cuối cùng là số chẵn thì thụ thai trong năm, sinh trong năm là con trai còn thụ thai ngoài năm, sinh trong năm thì sẽ là con gái. Nếu hiệu số cuối cùng là số lẻ thì thụ thai trong năm, sinh trong năm là con gái. Ngược lại thụ thai ngoài năm, sinh trong năm là con trai.
Bangdudoantraigai-TrungHoa
Ví dụ tuổi bố theo âm lịch là 30, mẹ là 25 ta có tổng là 55. Đem trừ đi 40 còn 15. Trừ tiếp cho 9 thì còn 6. Đây là số chẵn. Vậy thụ thai trong năm và sinh trong năm thì sẽ là con trai còn thụ thai từ năm trước và đến năm nay sinh thì sẽ là con gái.
sinh_con_theo_y_muon_cua_nguoi_xua
Bên cạnh đó, cũng có một phương pháp nữa dựa theo phép cộng trừ tính toán tuổi mẹ với tháng sinh con dựa theo một bài ca quyết chưa rõ xuất xứ:
49 từ xưa đã định rồi.
Cộng vào tháng đẻ để mà chơi.
Trừ đi tuổi mẹ bao nhiêu đấy!
Thêm vào 19 để chia đôi.
Tính tuổi trăng tròn cho thật chuẩn.
Chẵn trai, lẻ gái đúng mười mười.

Theo cách mà bài ca quyết này chỉ dẫn thì ta lấy 49 cộng với tháng sinh lại cộng với 19 rồi trừ đi tuổi người mẹ (theo âm lịch). Được bao nhiêu đem chia đôi, nếu chia hết thì ta gọi là số chẵn, chia không hết thì là số lẻ. Kết quả chẵn sẽ sinh con trai, lẻ sinh con gái. Ví dụ, người mẹ 27 tuổi, sẽ sinh vào tháng 10. Ta lấy 49 + 10 + 19 = 78. 78 – 27 = 51. 51/2 = 25,5. Kết quả này là số lẻ. Vậy người mẹ 27 tuổi mà sinh con vào tháng 10 sẽ là con gái theo cách tính trên.
Ngoài ra, trong lịch vạn sự có bảng tổng kết về “Tháng thụ thai sinh con trai hay con gái”. Người ta truyền tụng rằng bảng tổng kết này là do các thái giám trong cung đình xưa tổng kết mà thành.
Các phương pháp này lưu truyền trong , sự đúng sai ra sao chưa ai dám khẳng định. Nay tác giả sưu tầm và dẫn lại để bạn đọc trước hết biết thêm cách làm đời xưa. Nếu có ai may mắn áp dụng thành công thì âu cũng là một điều vui mừng, đỡ được nạn nạo phá thai vừa hại người vừa ảnh hưởng đến phúc đức.

Cách sinh con trai hay con gái theo ý muốn

Sinh con trai hay con gái theo ý muốn đang là mong mỏi rất thiết thực của các bậc làm cha làm mẹ hiện nay, đặc biệt là các đôi vợ chồng trẻ đang còn nhiều cơ hội để sinh con. Để sinh được trẻ có giới tính theo ý mình muốn là điều mà các bậc cha mẹ hoàn toàn có thể làm được. Điều quan trọng là cả 2 phải tuân thủ khắt khe mọi chế độ trong sinh hoạt, ăn uống và quan hệ để đạt tỷ lệ đậu thai theo nhu cầu cao nhất.
Trước hết, chúng ta cần quan tâm tới một số yếu tố như tuổi tác, nhiệt độ cơ thể hay chế độ ăn uống. Theo thống kê thực tế, người mẹ trên 35 tuổi thường sinh con gái nhiều hơn con trai. Trong khi đó, đối với người bố, cơ thể càng mát mẻ thì càng dễ sinh con trai hơn. Người mẹ nếu cơ thể thiếu chất dinh dưỡng sẽ có xu hướng sinh con gái nhiều hơn con trai, tuy nhiên không vì thế mà các mẹ ăn uống kiêng khem hơ nếu đang có nhu cầu sinh bé gái.
Đặc biệt các bậc cha mẹ phải lưu ý những điều sau:
- Muốn có trứng tốt, người vợ trước tiên phải lo chữa lành các bệnh nhiễm trùng âm đạo. Nhiễm trùng âm đạo sẽ làm khó có con. Đồng thời, cần giữ gìn sức khoẻ tổng quát, ăn uống điều độ và thể dục thường xuyên. Và mỗi ngày, nên uống một viên thuốc bổ đa sinh tố trong có chứa chất Folic Acid.
- Muốn có tinh trùng tốt, người chồng nên cai thuốc lá, rượu. Xuất tinh cứ 3 tới 4 ngày một lần là vừa. Trước ngày giao hợp để có con, phải kiêng khoảng 5 ngày. Có thể uống sinh tố C 500 mg mỗi ngày hoặc ăn nhiều có sinh tố C.
- Điều quan trọng nhất là biết canh ngày rụng trứng. Theo dõi chu kỳ kinh nguyệt của người vợ ít nhất 3 tháng. Chu kỳ phải đều mới dễ có con. Mỗi lần kinh ra, cần ghi rõ ngày đầu tiên có kinh, và tính xem có bao nhiêu ngày giữa hai chu kỳ kinh nguyệt. Thường thường, ngày rụng trứng bằng số ngày trung bình của chu kỳ trừ đi 14. Lấy thí dụ, chu kỳ kinh nguyệt là 30 ngày thì ngày rụng trứng sẽ nhằm ngày thứ 16 của chu kỳ. Bạn có thể thử nước nhờn âm đạo bắt đầu một hai ngày trước thời điểm trứng rụng. Vào ngày trứng rụng, do ảnh hưởng của kích thích tố estrogen, chất nhờn âm đạo sẽ dẻo, mỏng và trong như lòng trắng trứng gà. Bạn có thể đo thân nhiệt mỗi buổi sáng trước khi ra khỏi giường.
Thông thường, trước ngày trứng rụng, thân nhiệt sẽ giảm đi từ 0.1 đến 0.4 độ F, sau đó nhanh chóng tăng lên 0.5 đến 1 độ F. Gần đây, bạn có thể thử nước tiểu bằng thuốc thử tìm lúc trứng rụng: bắt đầu thử nước tiểu mỗi sáng, từ hai ngày trước ngày dự liệu rụng trứng. Bạn nên đến hiệu thuốc Tây mua một hộp thuốc thử. Khi nước tiểu đổi màu xanh đậm bằng với màu chuẩn, là bạn có thể sắp rụng trứng trong vòng 24 đến 36 giờ.
- Theo lý thuyết, đàn ông sản xuất hai loại tinh trùng: X (cái) và Y (đực). Tinh trùng đực Y thường nhỏ hơn, yếu hơn, nhưng nhanh hơn so với các chị, em gái X của chúng, to béo, phục phịch, và tà tà hơn. Dựa trên sự hiểu biết này, có nhiều cách bạn có thể làm để tăng khả năng sinh gái hay trai theo ý muốn.
Giao hợp càng gần với ngày rụng trứng càng dễ sanh con trai, vì tinh trùng đực nhanh chân hơn sẽ đến gặp trứng trước. Như vậy, giao hợp trước khi trứng rụng 3 ngày, sẽ dễ sinh gái, ngược lại, giao hợp dưới 2 ngày và trong ngày trứng rụng, dễ sinh trai.
sinh con theo ý muốn của người xưa phần 3
Trên thực tế, các nghiên cứu cho thấy chỉ trong vòng 15 phút sau khi giao hợp, tinh trùng đã đến được noãn sào với tỉ lệ tinh trùng đực và cái ngang nhau.
Nồng độ pH của âm đạo cũng quan trọng trong việc chọn lựa giới tính. Môi trường acid thường thích hợp hơn cho tinh trùng cái. Ngược lại tinh trùng đực thích môi trường kiềm. Chị em nên rửa âm đạo bằng nước dấm (1, 2 thìa trong một lít nước) trước khi giao hợp, nếu muốn sinh con gái. Còn muốn có quý tử thì nên pha dung dịch baking soda chỉ 1/2 thìa nhỏ trên một lít nước là đủ. Cái khó là pha cho đúng nồng độ, vì có phụ nữ có chất nhờn âm đạo nhiều acid hoặc kiềm hơn người khác.
- Tư thế và độ sâu “nhập nội” cũng khá quan trọng. Càng nông phía ngoài âm đạo, môi trường càng nghiêng về phía acid. Nếu xuất tinh gần cổ tử cung, tinh trùng đực sẽ càng gần trứng, do đó sẽ dễ sinh con trai hơn. Như thế, “nhập nội” cạn nhiều phần sẽ sinh ra gái, còn “nhập nội” sâu sẽ dễ sinh con trai.
- Sự khoái cảm của người phụ nữ đóng vai trò quan trọng. Khi người phụ nữ đạt khoái cảm tuyệt đỉnh, chất nhờn có nhiều kiềm tính, dễ sinh con trai hơn. Vì thế, muốn sinh con gái, người phụ nữ không nên đạt khoái cảm.
- Quân số tinh trùng rất quan trọng cho việc chọn lựa giới tính. Quân số càng cao thì càng dễ sinh con trai.
Khi muốn có con trai, người đàn ông nên nhịn 3-4 ngày cho đến một ngày trước ngày rụng trứng là thời điểm giao hợp. Còn muốn có con gái thì cứ ngày một cho và ngưng tại thời điểm 3 ngày trước khi trứng rụng. Ngoài ra, muốn sinh con gái thì người đàn ông nên đi tắm nước nóng trước giờ hành sự.
Tổng kết một cách tóm tắt:
Muốn có con trai:
- Ăn ngọt. Không ăn chua hoặc thực phẩm lên men.
- Giao hợp TRONG ngày rụng trứng. Tinh trùng đực bơi nhanh hơn tinh trùng cái nhưng chết sớm hơn tinh trùng cái. Tinh trùng cái nặng nề và chậm chạp, sẽ tới sau và không thụ tinh trứng được. Cụ thể hơn, nếu hai lằn gạch của đồ thử nước tiểu xanh đậm bằng nhau thì nên đợi khoảng 36 tới 48 tiếng đồng hồ sau mới nên gần nhau.
- Trong ngày dự định quan hệ, nên súc rửa âm đạo với môi trường kiềm. Pha 9 gram muối trong một lít nước, hoặc 9 gram bicarbonate trong một lít nước.
Muốn có con gái:
- Không ăn mặn. Nên ăn chua, trái cây, yaourt, uống sữa.
- Giao hợp TRƯỚC ngày rụng trứng. Tinh trùng đực sẽ chết sớm hơn tinh trùng cái, nên vào giờ trứng rụng, số lượng tinh trùng cái sẽ nhiều hơn tinh trùng đực. Cụ thể hơn, nếu hai lằn gạch của đồ thử nước tiểu xanh đậm bằng nhau thì nên giao hợp trong vòng 24 tiếng đồng hồ.
- Trong ngày dự định sẽ giao hợp, nên súc rửa âm đạo với nước pha dấm hoặc nước cốt chanh. Một tách dấm trong 9 tách nước (90%), hoặc một muỗng cà phê nước cốt chanh trong một lít nước.
Theo nghiên cứu, xác suất thành công cho con gái là 70-75%, và 75-80% cho con trai.

Cách bố trí phong thủy cho từng sao


Cách bố trí phong thủy cho từng sao

1. Sao Nhất Bạch: thuộc Thủy, chủ về đào hoa, nhân duyên.
Sao Nhất Bạch (số 1) hướng Tây Nam: Đây là ngôi sao đại diện cho người mẹ, phụ nữ trên 50 tuổi. Sao này thuộc Thủy, chủ về đào hoa, nhân duyên. Sao này xuất hiện nhiều ca sĩ, diễn viên có triển vọng, nhưng cũng đi kèm nhiều tai tiếng, scandal. Nhất Bạch tăng cường trí tuệ, trí thông minh, hỗ trợ sự nghiệp, tăng tài lộc và khoa cử, văn chương. Các việc như xuất ngoại, hay thăng chức, thi cử cũng kích hoạt sao này.
Người mệnh Nhất Bạch dễ nhận được ích lợi từ nguồn năng lượng này, đặc biệt trong thời gian từ mùng 8/9 đến 7/10/2014.
Muốn tăng cường tình duyên thì nên đặt bát nước, guồng nước, đá núi lửa, mã não đen. Muốn ngăn chặn đào hoa sát, nên đặt cây màu xanh. Đặt tháp văn xương, voi cũng tăng cường vận nghề nghiệp. Đặt đôi uyên ương mạ vàng sẽ tăng vận tình cảm, tình duyên.
2014hinh2.jpg
Muốn tăng cường tình cảm vợ chồng có thể đặt đôi uyên ương mạ vàng trong phòng ngủ.
2. Sao Nhị Hắc: thuộc hành Thổ, chủ tật bệnh, ôn dịch.
Sao Nhị Hắc (số 2) hướng Đông: Đây là ngôi sao đại diện cho trưởng nam, nên con trai cả trong gia đình, nam giới từ 31 đến 49 tuổi bị tác động nhiều nhất. Sao này chủ về bệnh tật, là năng lượng xấu, có thể làm suy yếu sức khỏe, hệ thống miễn dịch.
Hướng đông là nơi có nhiều dịch bệnh, tai nạn, bệnh về thận hay đường sinh dục. Nếu cửa chính rơi vào sao Nhị Hắc thì dễ mắc bệnh truyền nhiễm, hoặc sức khỏe tự nhiên chuyển biến xấu. Phòng ngủ vợ chồng ở đây cũng phải lưu tâm. Hỏa hoạn cũng hay xảy ra từ phương này.
Nhị Hắc thuộc Thổ, nên tránh màu vàng, màu đỏ. Lấy Kim tiết bằng cách dùng kim loại, tiền xu, hồ lô đồng, thạch anh trắng, mã não trắng, tượng mạ vàng. Có điều kiện thì nên dùng động mã não trắng, vì động mã não có trường khí mạnh hơn.
Đặt tỳ hưu, long quy, kỳ lân bằng đồng cũng hóa giải được. Một cách thông dụng hiện nay là dùng chuỗi tiền xu, phong linh (chuông gió) bằng kim loại, hay bình hồ lô thu sát khí, nhưng hiệu quả đến đâu thì cần phải xem xét. Vì bản thân những vật dụng này có trường khí không cao nên khả năng tiết giảm khí xấu cũng có hạn chế nhất định.
Người mệnh Nhị Hắc dễ bị ảnh hưởng của nguồn năng lượng xấu này, đặc biệt là trong thời gian từ mùng 7/8 đến 7/9/2014.
3. Sao Tam Bích: thuộc hành Mộc, chủ khẩu thiệt thị phi.
Sao Tam Bích (số 3) đại diện cho trưởng nữ, nên con gái cả trong gia đình, phụ nữ từ 31 đến 49 tuổi có ảnh hưởng nhiều. Sao Tam Bích chủ về tranh chấp thị phi nên việc tranh chấp, bất hòa, không ổn định xảy ra nhiều hơn.
Tam Bích tăng cường sự cạnh tranh, có thể mang lại cơ hội cho những người làm việc trong ngành luật, ngân hàng, tài chính, thể thao, bán hàng và quảng cáo, nếu biết tận dụng hợp lý. Ngược lại, nó mang đến sự đối chọi, và cả thị phi, điều tiếng, những tranh chấp không ngừng. Về bệnh tật, sẽ hay liên quan đến chân tay, gan mật.
Nếu cửa chính rơi vào sao Tam Bích, vợ chồng sẽ cãi nhau triền miên, bất hòa, con cái ngỗ nghịch, khó bảo. Tuy vậy, năng lượng của Tam Bích khi thuận lợi có thể giúp bạn tích cực cạnh tranh với phe đối lập.
Vì sao này thuộc Mộc, chủ về tranh chấp, kiện tụng, nên tránh màu xanh, dùng Hỏa tiết Mộc. Có thể đặt nến đỏ, hoặc đặt viên đá ruby đỏ, thạch anh hồng, thạch anh mắt hổ đỏ. Có điều kiện hơn thì nên dùng cầu thạch anh tím, nho mã não đỏ, hay động thạch anh tím. Người mệnh Tam Bích dễ bị ảnh hưởng của nguồn năng lượng xấu này, nhất là thời gian từ mùng 7/7 đến 6/8/2014.
2014hinh3-6666-1388484336.jpg
Đặt cầu thạch anh tím hóa giải thị phi, điều tiếng.
4. Sao Tứ lục: thuộc Mộc, chủ về khoa cử.
Sao Tứ Lục, số 4 nằm ở vị trí trung cung. Thông thường sao nhập trung cung sẽ mất bớt tác dụng của mình nên năm nay cũng sẽ giảm may mắn. Sao này chủ về khoa cử, tăng cường nguồn năng lượng tích cực cho những người làm việc tri thức, các học giả, nhà nghiên cứu, những người trong ngành công nghiệp giải trí, nhà văn, nghệ sĩ, nhà thiết kế, những người làm công việc sáng tạo nói chung.
Người mệnh Tứ Lục dễ được tăng cường sức sáng tạo, sự lãng mạn và may mắn trong con đường học thuật của mình, nhất là trong thời gian từ 6/6 đến 6/7/2014. Cần nắm vững cơ hội của mình. Khi thất vận, Tứ Lục dễ gây họa đào hoa, mắc bệnh hen suyễn, gan mật, bệnh tật hoặc sự cố về thuốc.
Tứ Lục thuộc Mộc, cần bổ sung cây xanh như trúc phát lộc, tháp Văn Xương, thạch anh mắt hổ xanh, lục ngọc để tăng cường vận.
5. Sao Ngũ Hoàng: thuộc Thổ, chủ tai họa bệnh tật.
Sao Ngũ Hoàng số 5, thuộc hướng Tây Bắc. Sao này tượng trưng cho người cha là đàn ông trên 50 tuổi. Sao Ngũ Hoàng tích tụ nguồn năng lượng hỗn loạn, nên tĩnh không nên động. Tuyệt đối tránh động thổ ở đây, do dễ tổn nhân đinh. Nếu cửa chính rơi vào sao Ngũ Hoàng dễ có khí xấu tác động. Trong các sao xấu thì Ngũ Hoàng cần được ưu tiên hóa giải đầu tiên.
Người mệnh Ngũ Hoàng dễ gặp tai họa, sự cố trong thời gian từ mùng 5/5 đến 5/6/2014.
Ngũ Hoàng thuộc Thổ, chủ về tai họa, cần dùng Kim tiết, nên tránh màu vàng, đỏ. Không được treo Thái tuế phù màu đỏ ở đây, vì sẽ có tác dụng ngược lại. Nên dùng tiền đồng, phong linh kim loại, la bàn hóa sát, thạch anh trắng, mã não trắng, quả cầu trắng. Linh khí phong thủy nên dùng là tỳ hưu, long quy, kỳ lân.
2014hinh4_1389243274_1389243281_13892433
Cầu trắng giúp giảm thiểu tai nạn, sự cố.
6. Sao Lục Bạch: thuộc Kim, chủ về chức vụ, tài lộc.
Sao Lục Bạch (số 6), hướng Tây, đại diện cho thiếu nữ, con gái út trong gia đình, hay con gái dưới 15 tuổi. Sao này chủ về chức vụ, tài lộc, chứa đựng nguồn năng lượng tốt cho những người làm hành chính, hay những người trong vị trí quyền lực. Ngân hàng, tài chính trong khu vực có chuyển biến tốt.
Người mệnh Lục Bạch dễ được hỗ trợ để phát triển về nghề nghiệp, địa vị, và quyền lực, nhất là trong thời gian từ mùng 5/4 đến 4/5/2014.
Năm nay, hướng Tây không được để nhà kho, chất nhiều đồ đạc, nếu nhà vệ sinh rời vào hướng này sẽ thất thoát tiền tài, thậm chí phá sản. Trái lại, cửa chính hướng Tây sẽ có lợi về tiền tài, nhưng cần dọn sạch sẽ thường xuyên.
Lục Bạch thuộc Kim, muốn thúc đẩy công danh, nên đặt đồ màu vàng, đỏ như nuôi cá vàng, cá rồng; đặt thạch anh vàng, thạch anh mắt hổ; chậu tụ bảo, cây rung tiền. Đặt voi hoàng ngọc, hay voi vàng.
2014hinh5.jpg
Thăng tiến dùng voi tụ ngọc màu vàng.
7. Sao Thất Xích: thuộc Kim, chủ tai nạn, trộm cướp, phẫu thuật.
Sao Thất Xích (số 7) thuộc hướng Đông Bắc. Sao này đại diện cho thiếu nam, con trai út trong gia đình, hay con trai dưới 15 tuổi. Thất Xích ẩn chứa nguồn năng lượng suy giảm, nên sẽ làm tăng thêm đối thủ cạnh tranh, hiểu lầm, những tin đồn và trộm cắp. Thất Xích cũng liên quan đến hỏa hoạn, hệ thống hô hấp, bệnh tay chân miệng, bệnh phổi, phế quản.
Người mệnh Thất Xích cần cảnh giác với an ninh, hay những thông tin sai lạc, nhất là trong thời gian từ mùng 7/3 đến 4/4/2014 hay từ 7/12/2014 đến 4/1/2015.
Thất Xích thuộc Kim, để giảm sức mạnh của Kim cần bổ sung Thủy, như Guồng nước, Bát nước, đá núi lửa, thạch anh đen, mã não đen. Người kinh doanh cổ phiếu, chứng khoán đặt hồ lô ngũ sắc, thất tinh ngũ sắc ở đây sẽ tăng nhiều cơ hội tốt cho mình.
8. Sao Bát Bạch: thuộc Thổ, chủ về tài vận.
Sao Bát Bạch (số 8), hướng Nam, đại diện cho thứ nữ, con gái thứ trong gia đình, hoặc nữ từ 16 đến 30 tuổi. Sao này chủ về tài vận, kinh tế khu vực này khởi sắc. Có nhiều nhân tài, doanh nhân giỏi xuất hiện. Ngành liên quan về đào hoa như mỹ thuật, nghệ thuật có cơ hội phát triển lớn.
Bát Bạch chứa đựng nguồn năng lượng mạnh mẽ nhất, có thể tăng các cơ hội phong phú, nhất là khi khu vực này có nhiều hoạt động thường xuyên trong năm. Bát Bạch mang đến danh lợi, phúc lộc, điền trạch cũng như khoa cử, là sao tốt nhất trong 9 sao từ nay đến năm 2023.
Người mệnh Bát Bạch rất được hỗ trợ thuận lợi, nhất là trong thời gian từ mùng 4/2 đến 4/3 hay mùng 7/1 đến 6/12.
Bát Bạch thuộc Thổ, muốn tăng cường tài vận, nên bổ sung đồ màu đỏ hay vàng, như nuôi cá vàng, đặt nến đỏ, cắm hoa hồng, đặt động thạch anh vàng, nho mã não đỏ, động thạch anh tím, đá thịt lợn màu đỏ.
2014hinh6_1389243476_1389243525.jpg
Động thạch anh vàng tăng tài lộc.
9. Sao Cửu Tử: thuộc Hỏa, chủ về may mắn.
Sao Cửu Tử (số 9), hướng Bắc đại diện cho thứ nam, con trai thứ trong gia đình, hoặc nam từ 16 đến 30 tuổi. Sao này chủ về may mắn, nhiều người nổi danh trong lĩnh vực âm nhạc, diễn thuyết.
Cửu Tử chứa đựng nguồn năng lượng tích cực, may mắn, vui vẻ trong gia đình bạn, nhất là khi ở đây có tổ hợp sao số 9, sức mạnh sẽ được tăng cường đáng kể. Người mệnh Cửu Tử rất sẽ nhận nhiều tác động, nên có hai xu hướng trái ngược nhau. Một là bạn nhận được nguồn năng lượng tích cực, phát triển quan hệ xã hội và sự may mắn, hai là bạn phải chú ý nhiều hơn để tránh những sự cố nảy sinh, nhất là thời điểm từ mùng 8/10 đến 6/11/2014.
Cửu Tử cũng liên quan đến đào hoa, cầu tự. Chưa có con cái có thể kích hoạt vị trí này bằng quả cầu thạch anh hồng, nhất là khi trường khí trong khoảng 350 đến 890MHz sẽ có hiệu quả nhanh chóng.
Cửu Tử không đồng nghĩa với mọi sự may mắn. Nếu bố trí sai phong thủy, như vị trí này là vệ sinh, nhà kho, chỗ đổ rác… thì nam nữ háo sắc, dễ có bệnh mắt, cũng như tai nạn, sự cố.
Sao Cửu Tử thuộc Hỏa, nên tăng cường Hỏa vận bằng bổ sung màu đỏ như thạch anh tím, san hô đỏ, thạch anh mắt hổ đỏ, nho mã não đỏ. Vận tình duyên cũng có thể kích hoạt ở đây, nhất là khi phòng ngủ ở vị trí sao này.

2014hinh7.jpg
Nho mã não giúp cầu tự.

Ý NGHĨA CÁ CẢNH THEO PHONG THỦY

Cá cảnh không chỉ là thú chơi tao nhã mà nó còn là một trong những “thuật” mang lại may mắn, tài lộc và thành công cho gia chủ…
Cá chép
Theo tiếng Hán, cá đại diện cho sự sung túc và giàu sang.
Cá chép tượng trưng cho sức mạnh, lòng dũng cảm để mang lại thành công mỹ mãn
Theo truyền thuyết, cá chép còn tượng trưng cho sức mạnh, lòng dũng cảm. Dân gian thường ví việc khổ luyện học hành để cuối cùng có kết quả tốt đẹp giống như việc “cá chép vượt vũ môn hóa rồng”. Vì thế, bày tranh hoặc bể cá chép tại bàn học sẽ tốt cho việc học tập.
Cá rồng

Đây là loài cá rất được ưa chuộng hiện nay. Nếu đang tìm kiếm sự may mắn, hạnh phúc và phú quý thì đây chính là loài cá bạn nên nuôi. Tốt nhất là nuôi chú cá rồng trong bể kính cỡ lớn. Nếu không có điều kiện, thì có thể treo bức tranh cá rồng.
Cá chép Nhật

Giống cá này có màu sắc đẹp và đa dạng: đen, đỏ, trắng… Loại cá này không nuôi trong bể kính mà thường được nuôi trong ao nhỏ kết hợp với tiểu cảnh. Nó không chỉ tạo không gian “sơn thủy hữu tình” mà còn có tác dụng thư giãn và mang lại nhiều may mắn cho chủ nhân.
Cá La Hán
Loại này được người Trung Quốc rất ưa thích. Chúng có nhiều màu sắc. Các màu hồng điểm xuyết đốm màu xanh, đen tựa như các ký tự chữ Hán. Điểm đặc biệt là nó có bướu lớn ở trên đầu tựa như các vị La Hán.

Các loài cá thường mang lại may mắn. Có một số loài cá thường đi thành đôi. Vậy nên nếu chúng hiện diện trong cuộc sống của bạn thì sẽ mang lại nhiều điều tốt lành cho hôn nhân.

Ý nghĩa màu sắc theo phong thủy


Ý nghĩa màu sắc theo phong thủy

Nếu màu đen thể hiện sự bí ẩn, niềm say mê thì màu đỏ cho thấy dũng khí và sự lãng mạn.
1. Màu đỏ – Lửa
Màu của niềm đam mê, dũng khí, lãng mạn. Theo phong thủy, màu đỏ là màu mang yếu tố lửa, đồng thời cũng là sắc màu mạnh nhất. Người Trung Quốc quan niệm màu đỏ là màu của may mắn và hạnh phúc. Nó là màu sắc của hôn nhân ở Ấn Độ. Đó là màu biểu tượng của tình yêu, sự lãng mạn, lòng can đảm và niềm đam mê ở phương Tây. Màu đỏ rực rỡ này sẽ mang đến cho căn nhà bạn nguồn năng lượng của niềm vui, nguồn hứng khởi và khơi dậy niềm đam mê mạnh mẽ.
2. Màu vàng – Lửa/Đất
Màu vàng ấm cúng hay được sử dụng trong các phòng bếp, phòng ăn. Ảnh: Colorchats.
Màu vàng ấm cúng hay được sử dụng trong các phòng bếp, phòng ăn. Ảnh: Colorchats.
Màu của nắng, hạnh phúc, bổ dưỡng. Màu vàng là màu của ánh nắng mặt trời, của sự tươi vui và làm bừng sáng lên góc phòng, căn nhà và văn phòng làm việc của bạn. Vì là sắc màu của lửa, màu vàng đem lại sự ấm cúng, do đó rất hữu ích khi được sử dụng trong nhà bếp hay phòng trẻ em. Nếu có ý định trang hoàng lại ngôi nhà, bạn có thể sử dụng sắc vàng đậm nhạt khác nhau để tạo niềm vui cho chính gia đình mình.
3. Màu xanh dương – Nước
Màu của sự điềm tĩnh, yên tĩnh, hòa bình. Màu xanh là sắc màu tuyệt vời trong phong thủy. Từ bầu trời thiên thanh đến nền nước lấp lánh ở đại dương, màu xanh luôn mang đến cho bạn cảm giác thanh bình, nhẹ nhàng. Cũng theo phong thủy, màu xanh dương sẽ phát huy tối đa nguồn lực nếu được sử dụng trong bát quái tại ngôi nhà của bạn, như sơn màu xanh ở hướng đông (phù trợ cho sức khỏe), hướng đông nam (tiền tài) và hướng bắc (cơ nghiệp).
4. Màu xanh lá – Gỗ
Màu của sự sinh sôi nảy nở, sức khỏe dồi dào. Màu xanh lá cây theo phong thủy là màu đại diện của sự đổi mới, năng lượng mới và sự tái tạo. Đây được xem là màu rất có lợi cho sức khỏe vì nó có khả năng tạo trạng thái cân bằng cho toàn bộ cơ thể. Nếu có ý định sử dụng màu xanh lá trong căn nhà, gia chủ nên thêm một màu sắc khác để phát huy tối đa nguồn năng lượng tốt mà sắc màu này mang lại.
5. Màu vàng cam – Lửa
Màu của sự tự tin, quảng giao, xã hội. Nếu bạn cho rằng màu đỏ là quá mạnh khi sử dụng trong căn nhà hoặc văn phòng thì hãy dùng màu cam để thay thế. Màu cam thường được gọi là màu “xã hội” vì nó tạo ra năng lượng phong thủy cần thiết để thúc đẩy các cuộc hội thoại thêm phần sinh động và tạo ra sinh khí mới cho ngôi nhà của bạn. Màu cam còn gợi bạn nhớ đến những giấc mơ mùa hè sôi động cùng những đốm sáng phát ra từ bếp lửa ấm áp.
6. Màu tím – Lửa
Không nên lạm dụng màu tím trong các món đồ nội thất gia đình. Ảnh: Zunetop.
Không nên lạm dụng màu tím trong các món đồ nội thất gia đình. Ảnh: Zunetop.
Màu của hoàng gia, quý tộc, huyền bí. Theo các thầy phong thủy, vì mang tính chất tác động rất lớn nên màu tím nên được sử dụng trong chừng mực. Sắc màu này chỉ nên xuất hiện trong các họa tiết nhỏ, đơn giản như gối, viền rèm cửa, thảm. Phòng chữa bệnh hoặc phòng thiền định nên sử dụng màu tím nhiều hơn một chút để phát huy các nguồn lực tối đa.
7. Màu hồng – Lửa
Màu của sự trang trọng, êm ái, yêu đương. Màu hồng là màu sắc khơi gợi đến tình yêu trong sáng đầy mơ mộng, nó được xem là sắc màu hoàn hảo cho mọi không gian ngôi nhà bạn. Sắc hồng phớt nhẹ nhàng của nó có khả năng xoa dịu mọi cơn nóng giận, lấy lại bình tĩnh và cảm giác yêu thương. Gia chủ có thể sử dụng màu hồng từ phòng ngủ đến phòng là ủi, giặt đồ đều được.
8. Màu xám – Kim loại
Màu của sự rõ ràng, khách quan, trung lập. Nhiều người thường nghĩ rằng, màu xám như mang đến sự ảm đạm, buồn chán, thiếu sức sống. Tuy nhiên, trong phong thủy và nghệ thuật, màu xám có thể được sử dụng trong mọi không gian ngôi nhà bạn. Hơn nữa, nó khá sang trọng trong các thiết kế đồ nội thất thông minh. Trong bát quái, sắc xám sẽ thu hút năng lượng tốt nếu được sử dụng ở hướng tây (tăng sức sáng tạo), hướng tây bắc (tăng lòng bác ái), hướng bắc (phù trợ cơ đồ).
9. Màu đen – Nước
Màu của sự bí ẩn, bất tận, niềm say mê. Là màu sắc của đêm huyền bí, của đại dương sâu thẳm, của vũ trụ bao la, màu đen mang đến nguồn sức mạnh vô biên, không gian bất tận và cả niềm say mê không ngừng. Cũng như màu tím, màu đen nên được sử dụng trong các họa tiết nhỏ, đơn giản. Không nên sử dụng màu đen trong phòng ngủ và phòng của trẻ con.
10. Màu trắng – Kim loại
Màu của sự ngây thơ, tươi sáng, khởi đầu mới. Có thể nói, màu trắng tinh khiết là màu được khá nhiều người ưa dùng trong tường nhà, văn phòng và các công trình công cộng khác. Sắc màu nhẹ dịu này có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp với các màu mang yếu tố lửa và nước khác như đỏ, cam, tím, đen.
11. Màu nâu – Gỗ
Màu sắc của sức mạnh, nền tảng, ổn định. Gần đây, theo phong thủy, màu nâu đang dần được nhiều người sử dụng. Với khả năng nuôi dưỡng nguồn năng lượng tốt, ấm áp, màu nâu được sử dụng rộng rãi trong bát quái, bổ trợ nguồn khí tốt ở hướng đông (sức khỏe), hướng đông nam (tiền của), hướng nam (danh vọng).
Đăng Linh