Success is the ability to go from one failure to another with no loss of enthusiasm. Thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi nhiệt huyết (Winston Churchill ). Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo anh ta nhầm lẫn, khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo anh ta ăn cắp. Tục ngữ IRan. Tiền thì có nghĩa lý gì nếu nó không thể mua hạnh phúc? Agatha Christie. Lý tưởng của đời tôi là làm những việc rất nhỏ mọn với một trái tim thật rộng lớn. Maggy. Tính ghen ghét làm mất đi sức mạnh của con người. Tục ngữ Nga. Men are born to succeed, not to fail. Con người sinh ra để thành công, không phải để thất bại. Henry David Thoreau. Thomas Paine đã viết: Bất lương không phải là TIN hay KHÔNG TIN. Mà bất lương là khi xác nhận rằng mình tin vào một việc mà thực sự mình không tin .

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Độc ác và thú tính

Quảng Trung Thiên



Con người, theo quan điểm của phương Đông bao gồm hai mặt: thiện và ác. Phương Tây lại khác, chia làm ba: bản năng (id), bản ngã (ego) và siêu bản ngã (superego). Cho dù Đông hay  Tây, các hiền triết, học giả vẫn chung mục đích, đó là tìm và lý giải tính năng và sự khác biệt của con người, sinh vật sống có suy nghĩ và con vật, sinh vật sống chỉ hành động theo bản năng. Sự chuyển hóa hành vi ứng xử của con người, nhân tính sang hành động của thú vật, thú tình vẫn chưa được giải thích cụ thể và nhân loại chỉ có biện pháp để ngăn ngừa sự thóai hóa của con người từ nhân tính sang thú tính. Chỉ là biện pháp nên nhiều khi trở nên vô hiệu trước sự tàn bạo, độc ác của con người, ác có thể được cảm hóa thành thiện, nhưng thú tính vẫn mãi là tính hoang dã ác độc của súc vật không có khả năng cảm hóa hay hồi cải.
Thế kỷ 20 được mệnh danh là "thế kỷ giết người hàng loạt". Liên Xô dưới triều đại Stalin tàn sát khoảng 20 triệu người. Tại Trung Quốc dưới triều đại Mao Trạch Đông giết hơn 30 triệu người. Cam Pu Chia dưới tay Khơ Me Đỏ, giết khoảng 1,7 triệu người. Rồi đến Việt Nam dưới triều đại Hồ Chí Minh giết khoảng 500.000 người trong chiến dịch "cải cách ruộng đất" và thảm sát khoảng 7000 người tại Huế vào tết Mậu Thân 1968. Dù giết người ít hơn (!) nhưng chính quyền Hồ Chí Mình nổi trội hơn các chính quyền cộng sản khác nhờ vào khả năng bán nước, điều mà các nước cộng sản anh em không dám làm.
Những tội phạm quốc tế như Hitler cũng chỉ tàn sát người Do Thái, không giết dân Đức, như bộ tộc Hutu hủy diệt bộ tộc Tutsi tại Rwanda, vùng Trung Phi Châu. Tội ác của các chính quyền cộng sản lại càng kinh khủng hơn, giết chính dân tộc mình! Trong tác phẩm "Một ngày dài hơn thế kỷ" [1], Aimatov đã mô tả dân du mục vùng Trung Á dùng miếng da lạc đà đắp lên đầu tù binh, đem phơi nắng, miếng da khô lại sẽ siết chặt bộ não, không gây chết tù nhân nhưng đủ sức tẩy não và biến tù nhân thành thú vật mang lốt người, "mankurt". Chính vì vậy người con trai giết mẹ mình chỉ vì không bao giờ nhận ra mẹ là ai, đối với anh ta khái niệm nhân tính không còn trong ký ức. Trong anh chỉ có thực thể hiện tại nông cạn của bản năng loài vật: sống, ăn và làm theo lệnh chủ.
Để thực hiện sự diệt chủng, những tên đồ tể khát máu kiềm hãm đất nuớc trong chế độ độc tài và duy trì hệ thống quyền lực tuyệt đối.  Chúng xây dựng một bô máy tuyên truyền và dùng hệ thống giáo dục để tẩy não, nhồi sọ nhân dân và dụ dỗ, hứa hẹn người dân vào những ảo ảnh hoang tưởng đó là thiên đường xã hội chủ nghĩa. Nhờ vào quyền lực tuyệt đối vá chính sách ngu dân, khi chính quyền muốn giết ai chỉ cần tạo ra hình tượng đó là kẻ thù cần phải tiêu diệt thì người dân khi bị nhồi sọ và chuyển hóa thành độc ác thì sẽ đồng loạt a dua và rắp tâm thực hiện không cần phải suy nghĩ.
Chính quyền cộng sản Việt Nam đã đi xa hơn dân du mục vùng Trung Á, họ dùng chính sách tuyên truyền và giáo dục ngu dân, nhồi sọ để hủy hoại đầu óc người dân. Sự độc ác đầy thú tính thể hiện rõ nét trong sự cuồng loạn mê muội của người dân miền Bắc trong chiến dịch "cải cách ruộng đất" 1953-1956, sự khát máu điên khùng của những người theo cộng sản tại Huế 1968, và cảnh tương tàn của nhân dân miền Nam trong giai đoạn tịch thu đất đai ép dân vào hợp tác xã, đánh đổ tư sản.
Giáo dục theo hệ thống tuyên truyền đã bôi bác, bóp méo hình tượng của quan lại, trí thức, phú nông trong xã hội thành kẻ tham lam tàn ác, bủn xỉn và ngu dốt. Không biết rằng sự học của những ông tú, ông cử chưa nói đến ông nghè, phải có đầu óc thông minh nhất đinh mới đạt được mức độ học thuật vào thời điểm bấy giờ. Làm quan lại, nhưng họ sống rất thanh bạch và giản dị của kẻ sĩ.  Trong hồi ký của mình, Nguyễn Hiến Lê kể lại lời ngưới bác, “Bác đã vào thăm nhà thờ họ Lê ở Thanh Mai. Nghĩ cảnh thanh bạch của cổ nhân mà đáng phục. Ông Lê Anh Tuấn làm Tham tụng (như tể tướng) mà rất nghèo, suốt đời ki cóp, cất được mỗi ngôi nhà ngói, hiện nay dùng làm nhà thờ họ Lê. Nhà đó chỉ nhỏ bằng nửa nhà mình. Cụ Cúc Hiên (tức Lê Đình Duyên), thầy học của ông nội, cũng đậu tiến sĩ, làm đến chức Tư nghiệp Quốc tử giám mà cũng nghèo như vậy... .Đức giản dị, thanh bạch của cổ nhân, chúng ta đã đánh mất đi nhiều rồi." [2]. Nó mất đi nhiều rồi ở thời kỳ ông Nguyễn Hiến Lê, nhưng nó đã mất hết trong thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội hoang tưởng của Việt Nam.
Trái lại, hệ thống giáo dục nhồi sọ, tạo ra tầng lớp quan chức phục vụ chế độ chứ không phục vụ quốc gia, cố gắng tô vẽ nên hình tượng của tên du côn với tính khí chất phác, hiền lành, thông minh, nhưng thực tế thì dốt nát, học không ra chữ và mang đậm tính chất ti tiện tiểu nông. Nền giáo dục què quặt chỉ đào tạo ra những kỹ sư "cu tèo" và những cử nhân "cái hĩm" chỉ biết nói dóc và phục tùng chính quyền mà không hề biết bày tỏ ý kiến hoặc suy nghĩ nhân bản. Sự ưu đãi và khuyến khích tầng lớp du côn trong xã hội, không cần học, chỉ cần truyền ngôi kế thừa từ cha đến con đã tạo nên đám quan chức, cường hào trong xã hội với nhân cách đã chuyển hóa mang đầy thú tính. Chính tầng lớp quan chức và đám trọc phú cơ hội chủ nghĩa này lại hoang tưởng mang đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa trá hình, thực chất duy trì tính chất tư bản hoang dã, sống trên xương máu nhân dân.
Để duy trì sự tồn tại của mình, chính quyền cộng sản Việt Nam không còn cách nào khác là bám dựa vào tay kẻ khác và nuôi dưỡng, dung túng côn đồ để bắt nạt, ức hiếp người dân. Hiện tượng cắt đất đai của tổ quốc bán ăn dần không còn là điều xa lạ. Càng không lạ khi các quan chức chính quyền vì dốt nát, tham nhũng không đủ sức trả lời những câu hỏi đơn giản của người dân, kể cả những câu chữ pháp luật mà chính họ cố công đặt ra để bảo vệ cho chính quyền. Tính chính thống của một chính quyền trở nên lố bịch khi cấm người dân biểu tình bằng văn bản không người ký! Sự dã man, thú tính của chính quyền khi dùng hơn 100 công an chìm nổi để trấn áp gia đình ông Hùynh Ngọc Tuấn tại Tam Kỳ, Quảng Nam hay là dùng một lực lượng công an hùng hậu để cướp đất gia đình ông Đoàn Văn Vươn tại Tiên Lãng, Hải Phòng, chỉ vì chính quyền bất lực trước những yêu cầu hợp pháp và hợp lý của người dân.
Khi con người không còn nhân tính thì mọi hành vi để che đậy bản chất tàn ác đều được tận dụng. Phật là hình tượng dể bị lợi dụng. Ai nói người cộng sản vô thần? Hãy đến các cơ quan từ sở ban ngành của Việt Nam vào ngày rằm, mùng một, sẽ bắt gặp người trưởng cơ quan xì xụp cúng vái cầu khẩn, và sau đó ngừơi bảo vệ cơ quan đợi đến nhang tàn sẽ rút bỏ các chân nhang ném vào sọt rác phi tang! Lê Khả Phiêu có bàn thờ phật trong nhà. Ngay bây giờ, khi tên đồ tể khát máu Nguyễn Đắc Xuân vẫn nhương nhương, khoe khoang những tháng ngày khóac áo cà sa nằm vùng, để rồi vùi dân Huế trong bể máu. Hãy tưởng tượng lại hình ảnh cũng là con người nhưng dùng cái bừa để bằm đầu nạn nhân, rồi cuớp đất của họ trong "cải cách ruộng đất" hay lạnh lùng chĩa súng AK vào người dân thường rồi xả đạn trong thảm sát tại Huế - Mậu thân. Ai thấu hiểu cho những cái chết oan khiên tức tuởi? Hãy dạo bước tại nghĩa trang Ba Tầng, Huế thì mới xúc cảm đuợc thống khổ này, mới tưởng tượng nổi bản chất thú vật của những tên "mankurt" của thời đại Hồ Chí Minh.
Thú tính của loài vật là tự nhiên, nhưng thú tính của con người đó là sự biến đổi. Thời vận suy sàn của dân tộc là điều kiện béo bở cho sự độc ác nảy sinh. Độc ác và suy đồi đạo đức được dung túng, tích lũy trở thành thú tính. Việt Nam trở thành mảnh đất đỏ màu máu cho những tên "mankurt" đương đại tha hồ tác quái trên thân xác người dân, và chúng lại phủ phục hèn hạ dưới chân của chủ nhân Trung Quốc.
            Khi chính quyền cộng sản Việt Nam đã bị Trung Quốc chụp miếng da lạc đà lên đầu thì trở nên ngoan ngoãn, ngu đần, dể bảo. Chính quyền cộng sản Việt Nam trở thành công cụ, chỉ biết cúi đầu tuân phục theo mệnh lệnh của quan thầy mà đàn áp những người Việt yêu nước Việt.   Mọi kêu than, van nài hay đối thoại của người dân vô tội khi bị bức hại trở thành trò tiêu khiển của bọn quan chức ô trọc vô nhân tính. Người dân Việt bị cai trị, chăn dắt bởi bầy thú. Thú tính được tán tụng và điều khiển bởi bàn tay kẻ khác, kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Dân tộc Việt Nam vẫn phải chìm đắm trong hỗn mang của một nông trại, trại súc vật!

-------------


[1] Chingiz Aitmatov, "Một ngày dài hơn thế kỷ", Lê Khánh Trường dịch thuật, NXB Trẻ
[2] Nguyễn Hiến Lê, "Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê", NXB Văn học

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2016

CỤ TRẦN VĂN HƯƠNG XEM “CHÍ SĨ” NGÔ ĐÌNH DIỆM NHƯ MỘT “THẰNG NGU NGỐC VÔ LIÊM SỈ”



Bữu Châu

Sau 1975 và tại hải ngoại, lợi dụng tình trạng khó kiểm chứng độ khả tín của tài liệu và tình hình càng ngày càng vắng dần nhân chứng, đồng thời, nhằm thực hiện lời nguyền đầy hận thù “… tôi chết trả thù cho tôi” của con chiên cuồng tín Ngô Đình Diệm, nhóm tàn dư Cần lao-Công giáo của gia đình nhà Ngô (“the House of Ngo”, như người Mỹ cũng thích dùng từ nầy) đã tung ra trên các diễn đàn Internet và một số báo giấy những tài liệu ngụy tạo trắng trợn,  nhằm hai mục đích đan kết phối hợp với nhau:

HAI MỤC ĐÍCH, MỘT CÔNG MỘT THỦ
Một mặt, họ xuyên tạc và bôi nhọ tính chính đáng của Phật tử và trí thức Việt Nam trong cuộc vận động đòi bình đẵng tôn giáo dài 6 tháng trong năm 1963, bằng cách chụp mũ cho phong trào Phật giáo là khi thì do CIA Mỹ điều động, khi thì … ngược lại, do Cọng sản Bắc Việt lãnh đạo. Tiêu biểu như bốn bài sau đây:
- Ngụy tạo ra một Đại úy CIA bí mật tên là James Scott như là hung thủ duy nhất, đặt chất nổ trong vụ thảm sát 8 Phật tử tại khuôn viên Đài Phát thanh Huế ngày 8-5-1963 (http://www.talawas.org/?p=5924).
- Vu khống cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11-6-1963 tại Sài Gòn là do một “cán bộ Cọng sản nằm vùng” tên Nguyễn Công Hoan lên kế hoạch và đã tự tay tiêm thuốc mê rồi tưới xăng đốt Ngài (http://thuvienhoasen.org/a16529/27-xuyen-tac-ve-cuoc-tu-thieu-cua-ht-thich-quang-duc-phap-lac-va-nguyen-kha).
- Bôi nhọ cuộc “tự hủy mình” của nhà văn Nhất Linh ngày 7-7-1963, cho đó chỉ là hành động quẫn trí vì Nhất Linh vốn bị bệnh tâm thần từ năm 1939, lúc viết truyện Bướm Trắng. (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/default.aspx?a=143907&z=271).
- Dựng ra một kết luận không hề có cho Bản Phúc trình A/5630 của “Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc tại Nam Việt Nam” (http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/07/blog-post.html ).

Mặt khác, họ tìm cách “đánh bóng” cho hai lãnh tụ Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu một lớp sơn để che dấu những sai lầm và tội ác mà hai ông nầy đã gây hại cho đồng bào miền Nam.
Vì đồng bào xứ Huế (nơi biết rõ gốc gác và tư cách của dòng họ Ngô Đình nhất) đã từng lên án rằng: Họ Ngô có bốn gian hùng / Diệm ngu, Nhu ác, Cẩn khùng, Thục điên (trích từ đồng dao xứ Huế trong những năm đầu thập niên 1960’) nên bây giờ, nhóm tàn dư của nhà Ngô phải gian trá gán bừa cho lãnh tụ của mình những giải thưởng có kích thước quốc tế, những tác phẩm nghiên cứu lý luận có giá trị cao … hầu “dựng tượng” văn hóa cho lãnh tụ!!! Tiêu biểu như hai bài sau đây:
- Phong bừa cho ông Diệm làm khôi nguyên giải thưởng “Leadership Magsaysay Award” mà họ bịa ra là vào năm 1962 (hay 1959?) với trị giá 10,000 (hay 15,000?) đô la Mỹ để ông Diệm mau mắn tặng số tiền nầy cho vị lãnh tụ Phật giáo thế giới là ngài Đạt Lai Lạt Ma. (http://giaodiemonline.com/2013/03/suthat.htm).
- Bịa đặt ra những tình tiết không có thật để mạo nhận ông Nhu trở thành tác giả của cuốn khảo luận chính trị “Chính đề Việt Nam” hầu chứng tỏ rằng lý thuyết gia “uyên bác” của chế độ cũng có tác phẩm lập thuyết như ai! Tuy nhiên, công trình nghiên cứu giá trị nầy thật ra là của ông Tùng Phong Lê Văn Đồng, một người từ Pháp về, từng tham gia chính quyền ông Diệm (Bộ Canh Nông) nhưng đã bỏ đi không hợp tác nữa vì bất đồng quan điểm. (http://hoangnamgiao.blogspot.com/2013/02/chinh-e-viet-nam-c-ua-ngo-inh-nhu-ong.html)

Tại sao những xuyên tạc, gian trá và ngụy tạo nầy không được phổ biến rộng rãi khi hai ông Diệm Nhu còn nắm quyền sanh sát trong tay với bộ máy mật vụ ác ôn và hệ thống tuyên truyền muốn nói gì thì nói? Thậm chí trong những năm đầu thập niên 1970’, khi nhóm Cần lao-Công giáo trở lại khống chế chính trường miền Nam với sự thỏa hiệp của con chiên Nguyễn Văn Thiệu để thiết lập một chế độ “Diệm không Diệm” (nhóm từ của Robert Shaplen trong The Cult of Diem), những vu khống, bôi nhọ, mạo nhận hoặc “bốc thơm” như thế nầy hầu như không xuất hiện mà đến nay, ra hải ngoại và sau 1975, mới được ngụy tạo hoặc kích hoạt lại để tung ra một cách quy mô có hệ thống như thế? Câu trả lời gồm 3 vế.

* * *

CÂU TRẢ LỜI BA VẾ
(i) Vế thứ nhất là sau biến cố long trời lỡ đất vào mùa Xuân năm 1975, về phương diện lịch sử và trong lãnh vực tài liệu, khi đề cập đến Miền Nam, hầu như cà hai “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc” đều muốn viết gì thì viết tùy ý đồ chính trị, chẳng còn tiêu chuẫn chuyên môn nào hay tư cách đạo đức gì được tôn trọng hay làm chuẩn mực nữa. Hiện tượng nầy lan tràn một phần vì trong cơn vật đỗi sao dời đó, luôn luôn có một đám đông bị hội-chứng-bầy-đàn, có đầu mà không có óc, sẳn sàng đưa “sọ” cho những phù thủy “nhồi” gì cũng tin.
Một ví dụ nhồi sọ điển hình là trường hợp nữ sinh viên Nguyễn  Phương Uyên. Em sinh năm 1992 trong một gia đình theo đạo gia tiên thờ ông bà, vì chống chế độ nên bị tòa kết án tù treo 3 năm. Phương Uyên ra khỏi tòa sau phiên xữ đó vào tháng 8/2013. Nhưng dù chỉ mới hơn hai tháng sau, và dù không đủ điều kiện để tiếp cận thông tin đa chiều, do đó không biết gì (và biết đúng) về chế độ Ngô Đình Diệm 50 năm trước đây, thế mà vẫn được mấy “cha” Dòng Chúa Cứu Thế trao bằng khen gì đó, rồi “nhồi sọ” đưa lên mộ ông Diệm khóc thương vào dịp mồng 1 tháng 11 cùng năm 2013 để mấy “cha” chụp hình phát tán khoe trên Internet.
Hiện tượng nhồi sọ nầy không những thành công dể dàng với một em nữ sinh viên trẻ tuổi, mà còn “lừa” được một đám trí thức Hà Nội nông nỗi và vọng động, vì quá bất mản với đảng Cọng sản nên tung hô bất kỳ cái gì họ “vớ” được (và xem đó như mẫu mực của “dân chủ tự do”), kể cả hai nền Cọng hòa cũ ở miền Nam mà họ hầu như không có những kiến thức đầy đủ và sâu sắc về quá trình hình thành và bản chất thực sự của hai nền Cọng hòa nầy!  
 
Sinh viên Phương Uyên cầu kinh cùng các cha dòng Chuá Cứu Thế và chụp hình cạnh ngôi mộ của ông “Huynh” (Ngô Đình Diệm) trong ngày 1-11-2013
(Hình: Dân Chúa Đồng Hành – dcdh.bplaced.net) 
(ii) Vế thứ nhì là kỷ năng lan tỏa thông tin tức thời và khắp nơi của Internet. Mạng lưới Internet được khai sinh (packet networking) từ thập niên 1950’, triển khai trong thập niên 1960’ (ARPANET), rồi đi vào ứng dụng phổ quát và khai dụng đại trà trong những năm cuối thập niên 1980’ (ISPs). Internet với những ứng dụng trong lãnh vực  truyền thông xã hội (social media), một phần, đã trở thành công cụ tuyên truyền hữu hiệu cho  những kẻ giấu mặt bất lương hay minh danh nhưng không biết ngượng. Cứ nói láo mãi và nói láo nhiều, thế nào cũng có ngưới tin. Không tin bây giờ thì để lại tài liệu cho thế hệ sau … “tham chiếu”! (Kỹ thuật nhồi sọ nầy đã được bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc xã và Đệ Tam Quốc tế học thuộc từ một bậc thầy sành sõi là Giáo hội Công giáo, vốn đã xử dụng để truyền đạo kinh qua cả nghìn năm trước).
Một ví dụ điển hình của hiện tượng lan tỏa rộng rãi lời nói láo trong cyberspace là sự kiện một cựu quan chức cao cấp của Việt Nam Cọng Hòa đã dùng Internet để liên tục gian trá khẳng định rằng lãnh tụ của mình là tác giả của một cuốn sách chính luận có giá trị trí thức cao. Thật vậy, nguyên tác phẩm “Chính Đề Việt Nam” đã được ông Tùng Phong Lê Văn Đồng chấp bút và xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1965. Thế mà ông Tôn Thất Thiện, một “nhà nghiên cứu” hoài-Ngô (đã từng làm Giám đốc Báo chí kiêm Thông dịch viên riêng của ông Diệm, và sau 1963, làm đến Bộ trưởng Bộ Thông Tin của Đệ Nhị Cọng Hòa), mãi đến năm 2009 vẫn cứ tiếp tục khẳng định một cách bất lương và không biết ngượng trong một bài viết được phát tán rộng rãi trên Internet, rằng tác phẩm nầy là “viên ngọc quý trong kho tàng tư tưởng của nhân loại” vốn “kết tụ những nghiên cứu và phân tích dựa trên kinh nghiệm lịch sử của cố vấn Ngô Đình Nhu cùng một số phụ tá thân cận”. Ông Thiện nầy, có bằng tiến sĩ ở Anh, vừa làm báo chí vừa làm thông tin trong cả hai nền Cọng hòa, người tự nhận là “tôi đã được học hỏi ở những Đại học có tiếng là đứng hàng đầu thế giới về các môn Chính trị, Kinh tế, Xã hội học, tôi đã đọc rất nhiều sách, báo, về vấn đề phát triển”, thế mà trong 44 năm (1965-2009) lại không biết đến (?) nên không nhắc đến tác giả thật, và duy nhất, là ông Tùng Phong Lê Văn Đồng, nguyên Đổng lý Văn phòng Bộ Canh Nông thời ông Diệm, ở ngay tại Sài Gòn. Ông tưởng sau 1975 ra đến hải ngoại rồi muốn nói gì thì nói sao? Thật là bất lương hết thuốc chữa!

●Bìa “Chính Đề Việt Nam” của Tùng Phong, Nxb Đồng Nai, Sài Gòn 1965.
●Ông Tiến sĩ Bộ trưởng Tôn Thất Thiện, người đánh tráo tác giả để đề cao lãnh tụ Ngô Đình Nhu.
●Google ngày 14-1-2016 với keyword là tựa đề bài viết của ông Thiện (“CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM MỘT VIÊN NGỌC QUÝ TRONG KHO TÀNG TƯ TƯỞNG NHÂN LOẠI”), Internet cho 199,000 kết quả (đường link URL) dẫn về những trang web/blog hoài-Ngô như “Hồn Việt”, “Chúa Cứu Thế”, “Bảo Cệ Cờ Vàng 2012” … Và sự dối trá nầy sẽ cứ, theo thời gian, tiếp tục lan tràn trong không gian Internet như ý đồ bất lương của đám hoài-Ngô.      
(iii) Nhưng “hội-chứng-bầy-đàn” và mạng lưới Internet mà thôi cũng chỉ mới là những điều kiện “đủ”, nên vẫn chưa kết hợp được để có cả một chiến dịch rộng lớn, phối hợp nhịp nhàng trong và ngoài nước, nhằm xuyên tạc lịch sử và bôi nhọ các tôn giáo khác với một ý đồ chính trị rất rõ ràng. Chiến dịch nầy, để thực hiện nó ở tầm cao của chiến tranh tuyên truyền trong thời hiện đại, phải được một thế lực cực mạnh lãnh đạo và cung cấp phương tiện mới làm được. Thế lực đó, như lịch sử đã chứng nghiệm (từ thời cố đạo Alexandre de Rhodes “gọi Thích Ca bằng thằng”) và thực tế đang chứng minh (như Giáo hoàng Benedict 16 gọi Phật giáo là một loại tâm linh tự dâm – “autoerotic spirituality”) chỉ có thể là Vatican. Và Vatican chính là vế thứ ba trong chiến dịch tuyên truyền xám đó!
Thật vậy, trong “mùa gặt lớn” mà Vatican gọi là “chương trình cứu độ của Giêsu” tại lục địa Á châu, theo đúng chiến lược xâm lăng văn hóa để “cải đạo, cướp linh hồn” được Giáo hoàng Gioan Phaolồ 2 đề xuất trong “Tông huấn Giáo hội tại châu Á” (Ecclesia In Asia) vào năm 1999 tại Ấn Độ (http://giaodiemonline.com/2009/07/tonghuan.htm), Vatican đã cởi lên để khuynh loát làn sóng bất mãn với chính quyền Việt Nam bằng một chiến dịch “thánh hóa” trường hợp Ngô Đình Diệm như một viên đá nhắm hai con chim:
Vừa bóp méo quá  khứ để vinh danh dòng họ con chiên Ngô Đình và Đệ Nhất Cọng hòa hầu mong “giải tội” cho Giáo hội Công giáo Việt Nam về quá trình 100 năm (1858-1954) làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp xâm lăng và đô hộ Việt Nam; lại vừa hướng về tương lai, dùng Giáo hội Công giáo để tiêu diệt chế độ Xã hội Chủ nghĩa tại Việt Nam hầu thành lập một “Philippines toàn tòng thứ nhì”, gợi hứng từ chế độ giáo trị Đệ nhất Cọng hòa của Ngô Đình Diệm, trên bán đảo Hoa-Ấn. Ý đồ chiến lược nầy của Vatican, từ góc độ chính trị, là lập lại trường hợp Ba Lan vào mùa Hè năm 1989, chỉ khác là lần nầy “giòng nước lũ” chỉ đại diện không đến 10% dân số Việt Nam nhưng được Internet và hội-chứng-bầy-đàn khuyếch đại lên nhiều hơn …

Từ đó, ta không lấy làm lạ khi thấy những động thái tưởng là rời rạc nhưng thật ra kết hợp nhất quán và đều khắp để phục vụ cho những mục tiêu chiến lược đó của Vatican:
Từ Giáo hoàng Gioan Phaolồ II viết “Crossing the Threshold of Hope” (Bước qua Ngưỡng cửa Hy vọng) để phỉ báng Phật giáo, đến rửa tội cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện ngay trước giờ lâm chung để tạo uy tín truyền đạo dù ông nầy trước đó chỉ muốn quy y Tam bảo – Từ ồ ạt và gấp rút phong một con số kỷ lục 117 người cả Tây lẫn Ta làm “thánh tử đạo” tại Việt Nam chỉ trong vòng một năm (1988), đến một tên nhà văn Công giáo là Chu Tất Tiến ở tại Little Saigon (Mỹ) to mồm vu khống rằngPhật giáo Việt Nam giết hại hơn 100 nghìn người cùng máu đỏ da vàng chỉ vì họ theo đạo Ca Tô. – Từ vận động nhà nước Việt Nam đặt lại tên đường tên trường cho những thành phần Công giáo hợp tác với chính quyền thuộc địa Pháp như Nguyễn Trường Tộ, Petrus Ký, Nguyễn Bá Tòng, cho đến ra sách vinh danh ông Linh mục Trần Lục, người đã từng mộ quân và dẫn đường cho quân Pháp đánh chiếm chiến lũy Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng. –  Từ Giám mục Ngô Quang Kiệt xách động giáo dân xuống đường bạo động đòi lại một mãnh đất vốn của chùa Báo Thiên, đến vận động nhà nước cho xuất bản sách (Việt dịch) của một nữ tác giả Mỹ viết về bà Nhu. Đó là chưa kể hàng trăm video được phát tán trên YouTube để đề cao Ngô Đình Diệm và phỉ báng Phật giáo và Tướng Dương Văn Minh …

* * *

CỤ TRẦN VĂN HƯƠNG VÀ BÀI THƠ “CẢM HOÀI”
Trong chiến dịch thiên la địa võng, huy động sức mạnh tổng hợp vừa thần quyền vừa thế quyền đó của Vatican, sự kiện cụ Trần Văn Hương làm thơ “mắng” ông Ngô Đình Diệm là “thằng ngu ngốc vô liêm sĩ” (vì bài thơ Cảm Hoài) là một trường hợp tuyên truyền xám điển hình khác về thủ đoạn “thấy sang bắt quàng làm họ” để tô son trét phấn cho lãnh tụ, do “bầy tôi” của ông Diệm thực hiện.  Bài thơ Cảm Hoài nầy, một dạo, đã được tàn dư của ông Diệm phổ biến giới hạn trong nước mà họ chú thích rằng tác giả là ông Diệm. Bài thơ được tán dương là một tuyệt tác với “khẩu khí của nhà ái quốc” đang trong thời kỳ làm ẫn sĩ phải “bao năm lê gót nơi quê người” Mỹ. Đến lúc ra đến hải ngoại sau 1975, bài thơ lại được phổ biến rộng rãi trên các diễn đàn và bổng trở thành “viên ngọc quý của thi ca Việt Nam” mà chỉ có người có tấm lòng yêu nước thương nòi như “chí sĩ” Ngô Đình Diệm mới sáng tác nỗi.
Ai cũng bị “đầu độc” tin như thế cho đến khoảng năm 1995, sau khi Mỹ-Việt bang giao, chuyện về Việt Nam để tìm mua sách cũ hoặc gặp lại bạn bè đồng nghiệp xưa trở nên dễ dàng hơn, nhiều người mới phát giác ra rằng tác giả bài thơ Cảm Hoài là một vị khác. Và chuyện gán cho ông Diệm là tác giả bài thơ nầy chỉ là trò gian trá, mạo nhận của nhóm Cần lao-Công giáo để bốc thơm ông Diệm mà thôi!         
Ngoài ra, cũng nhờ vậy mà thế hệ sau mới biết được rằng trể nhất là từ năm 1974, một số ít người sinh hoạt thi ca trong nước đã biết vụ lừa dối nầy rồi.  Đặc biệt, một trong những người đó là cụ Trần Văn Hương, đã biết từ năm … 1961!
  
Cụ Trần Văn Hương là một nhà giáo, một nhân sĩ nỗi tiếng tại miền Nam. Cụ từng tham gia chính quyền Việt Minh, nhưng rồi vì bị quy chụp là Việt gian nên cụ bỏ kháng chiến về quê Vĩnh Long sống ẫn dật. Sau khi đất nước qua phân, cụ hoạt động trở lại và đã từng là Đô trưởng Thành phố Sài Gòn dưới thời ông Diệm. Nhưng chỉ được vài năm rồi cũng bất mãn vì bản chất độc tài của chế độ nầy nên cụ và một số đồng chí thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, ra Tuyên Ngôn (năm 1960 tại khách sạn Caravelle) để lên án chế độ Diệm. Cũng trong năm 1960 đó, cụ ủng hộ cuộc binh biến của binh chũng Nhãy Dù để lật đổ ông Diệm nên bị Nha Tổng Giám đốc Cảnh Sát và Công An Quốc Gia bắt cầm tù vào ngày 12-11-1960. Cụ được phóng thích khoảng 5 tháng sau đó (7-4-1961).
Năm 1964, cụ trở lại tham chính và đã từng giữ những chức vụ Thủ Tướng, Phó Tổng thống và Tổng thống Việt Nam Cọng Hòa. Sau 1975, cụ chọn ở lại quê hương, tiếp tục sống ở căn nhà cũ ở Sài Gòn. Cụ mất năm 1982. Ngày nay, nhắc đến cụ, người ta vẫn gọi cụ là một mẫu mực tiêu biểu và đúng đắn  của một “Sĩ  phu Nam kỳ”. (Xem toàn bộ tiểu sử và hoạt động của cụ tại  https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%C6%B0%C6%A1ng )

Trong thời gian bị tù dưới chế độ Diệm, cụ và một số bạn tù chính trị khác (như các vị Tạ Chương Phùng, Phan Bá Cầm, Trần Văn Tuyên, Phan Khắc Sữu, Nguyễn Trung Hậu, Phan Quang Đán, Phan Huy Quát, …) thỉnh thoảng có làm thơ để ký thác tâm sự. Sau nầy, cụ tập trung một số thơ của mình và của các bạn đồng chí cùng cảnh ngộ in thành một tuyển tập lấy tên là “Lao Trung Lãnh vận” (Những vần thơ lạnh trong tù).
Cụ Trần Văn Hương (1902-1982) và Hình bìa trước của tập thơ Lao Trung Lãnh Vận, Sài Gòn, in lần thứ ba, 1974.  
Trong tuyển tập thơ nầy, cụ có cho đăng bài thơ Cảm Hoài vốn thực sự của cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác mà một người bạn thơ từng bị “tuyên truyền”, nói là của “chí sĩ Ng. Đ.D.”. Sự thực là trong giai đoạn đó, vì bộ máy tuyên truyền của chế độ ông Diệm đã đánh tráo tác giả nên có rất nhiều người bị lầm, tưởng đó là thơ của ông Diệm thật. Cụ Trần Văn Hương và một số bạn thơ cũng đã bị lừa như thế nên sau nầy, khi phát hiện ra bị lừa, đã làm thơ “đã kích ông ta” (ông Diệm). Vì vậy mà  trong bài thơ “Chuyện Trớ Trêu” làm cuối năm 1961 để hoạ lại bài thơ “Phúng Thế” của người bạn “đả kích” ông Diệm từ năm trước, cụ Trần Văn Hương đã kết bài bằng hai chữ mà “muôn đời” sau sẽ dành cho nhà “chí sĩ” Ngô Đình Diệm:
 Tấp tểnh đua đàn tranh “chí sĩ”
             Muôn đời để mãi tiếng thằng công
“Thằng công” là thằng gì? Cuối bài thơ, cụ Trần Văn Hương đã giải thích rằng chữ “thằng công” vốn là diễn âm tiếng Việt của một chữ Pháp là “Un con (tiếng thô tục để mắng mấy thằng ngu-ngốc vô liêm sỉ)

Dưới đây là phần trích dẫn và phóng ảnh ba bài thơ “Cảm Hoài”, “Phúng Thế” và “Chuyện Trớ Trêu” trong tác phẩm Lao Trung Lãnh Vận của cụ Trần Văn Hương:

Bắt đầu trích, với 3 chú thích của NK trong [ ]  
● [Trang 128] 
Một bữa kia, ông bạn Long Giang ĐỖ PHONG THUẦN có đưa cho xem một bài thơ “Cảm Hoài”, nói là của “chí sĩ NG. Đ.D.”. Sau mới biết đó là bài thơ của ông NGUYỄN SĨ GIÁC cũng gọi là NGUYỄN SĨ XÁC, hiện còn mạnh giỏi. Hình như ông cũng đã chịu nhiều gian khổ vì chuyện nước nhà, nhơn lúc buồn sanh cảm làm ra bài nầy:
CẢM HOÀI
Gươm đàn nửa gánh muốn sang sông
Hỏi bán: Thuyền không lái cũng không!
Xe muối nặng-nề thương vó ký,
Đường mây rộng-rãi tiếc chim hồng.
Vá trời lấp bể, người đâu vắng?
Bán lợi mua danh chợ vẫn đồng!
Lần-lữa nắng mưa trong cuộc thế,
Cắm sào đợi nước thưở nào trong!
(Theo trong quyển “Chơi Chữ” của LÃNG NHÂN)

● [Trang 130]
Một số thi-hữu tưởng bài thơ nầy thật của “chí sĩ” nọ, nên họa vận đả kích ông ta [ông Diệm]; tôi cũng thế…
Cũng nhơn bài thơ trên, ông bạn LONG GIANG có gởi cho xem bài thơ “Phúng Thế” như sau đây:
PHÚNG THẾ
Đường đời chen lấn, chợ đời đông.
Chác lợi mua danh mới phập phồng
Trách kẻ ham giàu bôi sử sách
Phụ người công khó giúp non song
Con buôn gặp mối đeo như đỉa,
Thằng mổng no cơm hót tợ nhồng
Ái quốc ưu dân, là quảng cáo
Ngân-hàng ngoại quốc dẫy đầy công (1)
LONG GIANG (Tháng chạp, 1961)
(1)   Công: Un compte de dépôt, un compte en banque (số tiền gởi ở ngân hàng). [Hàm ý rằng gia đình nhà Ngô mở miệng thì nói thương nước thương dân, nhưng thực ra đó chỉ là miệng lưởi “quảng cáo” vì chính nhà Ngô đã chuyển tiền ra nhiều trương mục của ngân hàng nước ngoài rồi - NK]

● [Trang 131]
Tôi họa lại như thế nầy:
CHUYỆN TRỚ-TRÊU
Trớ-trêu mật ít lại ruồi đông!
Thầm nghĩ cười ai mũi sớm phồng!
Môi mỏng khoe lo dân với nước,
Mặt dày quên thẹn núi cùng song.
Thấy lâu xốn mắt, lòng lang sói
Nghe lắm rườm tai, giọng cưởng nhồng (1)
Tấp tểnh đua đàn tranh “chí sĩ”
Muôn đời để mãi tiếng thằng công (2)
(26-12-1961)
(1)   Trong Nam dùng 2 tiếng: a) nhàm: nghĩa là nghe chán lắm, -  b) nhờm: nghĩa là nghe thấy gớm ghê lắm. - Chử “rườm”, ngoài Bắc, gồm hết hai ý ấy.
(2)   Un con (tiếng thô tục để mắng mấy thằng ngu-ngốc vô liêm sỉ) – Ông bạn giả-ngộ dùng một tiếng Pháp làm vần thơ, nên tôi cũng dùng một tiếng Pháp trùng-âm để làm vần họa lại. [Nhấn mạnh của NK]

[Hết trích]
Hình:  Ba trang trong tác phẩm  Lao Trung Lãnh Vận - Trang 128, bài “Cảm Hoài” của cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác; trang 130, bài “Phúng Thế” của cụ Long Giang Đỗ Phong Thuần; và trang 131, bài họa “Chuyện Trớ Trêu” của cụ Trần Văn Hương, có cước chú số (2) để giải thích hai chữ “Un con (tiếng thô tục để mắng mấy thằng ngu ngốc vô liêm sĩ)
Vậy thì cụ Nguyễn Sĩ Giác là ai mà đám tàn dư Ngô Đình Diệm phải hèn hạ dùng thủ đoạn mạo nhận, “thấy người sang bắt quàng làm họ” để đánh bóng cho lãnh tụ không thực tài, không thực danh và không thực lực nên phải dựa hơi người khác!!!
Trích đoạn dưới đây của một người học trò của cụ Nguyễn Sĩ Giác cho ta biết vài nét chấm phá về thân thế và sự nghiệp của Cụ. Tư cách và hành hoạt của Cụ Nghè Giác như vậy nên đám tàn dư nhà Ngô gian trá muốn cho lãnh tụ của mình “bắt quàng làm họ” thật phải!:
 
[Bắt đầu trích - nguyên văn, trừ tấm hình ông Diệm được NK thêm vào để minh họa bài viết]
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác (1888- 197?) là giáo sư Hán Văn tại trường đại học Văn Khoa và Sư Phạm Sài gòn trong thập niên 60.Tiên sinh cũng như giáo sư Nguyễn Huy Nhu ,Viện Đại Học Huế là những vị tiến sĩ cuối cùng của nhà Nguyễn.
Nguyễn Sĩ Giác tiên sinh sinh năm mậu tí (1888) quán xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông , là con trai của cử nhân Nguyễn Duy Nhiếp, cháu nội của tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp, đỗ tiến sĩ khoa canh tuất, niên hiệu Duy Tân thứ tư (1910) vào lúc 23 tuổi, đồng khoa với các phó bảng Hoàng Tăng Bí, Bùi Kỷ , trước Đinh Văn Chấp một khoa (1913), trước Nguyễn Huy Nhu, Nguyễn Can Mộng hai khoa (1916).
Nguyễn Trọng Hợp là cháu bốn đời của Nguyễn Công Thái (1684-1758), đỗ tiến sĩ khoa Ất Vị (1715), làm quan đến chức Tể tướng. Như vậy, tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác cùng thi sĩ Tản Đà chung một tổ tiên.

 [Hết trích]
(Trích từ “Nguyễn Sỹ Giác Thi Văn Tập”, Lời Nói Đầu, của Nguyễn Thiên Thụ
Trái: Tác giả thật của bài thơ “Hoài Cảm”, Cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác
(Hình: sontrung.blogspot.com) – Phải: “Tác giả” dỏm Ngô Đình Diệm
do nhóm tàn dư nhà Ngô gán ghép phịa ra. (Hình: LIFE)

* * *

KẾT LUẬN
Để kết luận, xin chỉ nhấn mạnh một điều: Trong suốt 9 năm chấp chánh của ông Ngô Đình Diệm và gia đình của ông, xã hội miền Nam gồm nhiều thành phần đã lấy những chọn lựa khác nhau trước chế độ mới. Lẽ xuất xữ  thì tùy từng người trước tình thế mới, nhưng đặc biệt có một thành phần trí thức, dù trong hoàn cảnh nào cũng “gìn vàng giữ ngọc” để bảo tồn nguyên khí quốc gia.

Đó là những vị như Tăng Xuân An, Hoàng văn Chí, Nguyễn Xuân Chữ, Vũ Hoàng Chương, Phùng Tất Đắc, Trần Văn Đỗ, Hồ Sỹ Khuê, Tạ Chương Phùng, Phan Huy Quát, Doãn Quốc Sĩ, Phan Khắc Sữu, Nguyễn Tường Tam, Quách Tấn, Đoàn Thêm, Hoàng Trọng Thược, Nguyễn Thế Truyền, Dương Tấn Tươi, Lương Trọng Tường, Trần Văn Văn, Đào Đăng Vỹ, Nguyễn Vỹ, … mà nhân cách và khí tiết của họ thì dân chúng miền Nam lúc bấy giờ, cũng như sau nầy, đều ngưỡng mộ.
Trong số họ, có người an phận trùm chăn nhìn cuộc hí trường lên voi xuống chó, có người khinh bỉ bất hợp tác với gia đình kẻ cầm quyền. Nhưng cũng có người lấy thái độ quyết liệt hơn, thẳng thắn lên án chế độ, thậm chí còn công khai chống lại anh em nhà Ngô bằng võ lực bất chấp tù đày.  Cụ Trần văn Hương là một người trong số thành phần ưu tú nầy.
Nếu một người khí phách và cương trực như Cụ mà, từ năm 1961, đã xem ông Ngô Đình Diệm là một “thằng ngu ngốc vô liêm sĩ” thì còn gì đề nói về ông ta, và về chế độ “nhân vị” của gia đình nhóm chóp bu quyền lực Ngô Đình nữa!!!  
Bữu Châu
Đầu năm 2016

16 nhà thờ Catholic đóng cửa ở Philadelphia - 16 Philly churches closed


- Archdiocese Releases Full List of Church Closures http://www.nbcphiladelphia.com/news/local/At-Least-3-Local-Catholic-Churches-to-Close-261402731.html Officials with the Archdiocese of Philadelphia revealed the fates of 46 churches in our area. 

Read more: http://www.nbcphiladelphia.com/news/local/At-Least-3-Local-Catholic-Churches-to-Close-261402731.html#ixzz41PmCpZ6O Follow us: @nbcphiladelphia on Twitter | nbcphiladelphia on Facebook


Lý do nhà thờ ở Mỹ buộc phải bị đóng cửa?
Chẳng phải vì lý do ở Mỹ không có tự do tôn giáo. Nhưng, vì lý do ở đấy ngày càng ít người cuồng tín. Phải chăng, với thời đại, con người không còn sợ những lời đe dọa bị Chúa trừng phạt đời đời nơi hỏa ngục. Ép buộc cũng không được, vì không phải là thời Trung cổ hắc ám. Bắt chẹt hôn nhân thì không bền lâu, vì bởi cả hai cô cậu đều nhận ra những điều vô lý mà "Chúa" đã đe dọa bằng vô số những điều hung dữ được ghi trong Kinh Thánh. Nhất là cái tệ phản khoa học.

Chỉ có thiểu số những con chiên gốc Việt cuồng tín đến độ "ngu nghiện đạo" (từ của chính ông con chiên Giu-sê Phạm Hữu Tạo) mới có thể dùng cụm từ "văn minh Thiên Chúa giáo".

Sở dĩ chúng tôi phát biểu mạnh, thẳng thắn như thế là nhằm phản bác những người tuyên bố ẩu xự về cụm từ bằng cái gọi là "văn minh Thiên Chúa giáo". Họ còn yêu sách vô lý đến độ trơ trẽn rằng những ai lên án ông Chúa ác ôn (như nó đã được mô tả ở Kinh Thánh ...) thì đừng có ở Mỹ. Có vô số những lãnh tụ, sử gia, giáo sư, học giả,... lừng danh ở Mỹ - người Mỹ họ lên án, tố cáo quyển Kinh Thánh là "những lời nói dốt nát và bệnh hoạn của một kẻ điên khùng" thì sao những thiểu số gốc Việt không dám đụng tới họ? Thiểu số người Mỹ gốc Việt mang nhãn hiệu "Công giáo" dám đập phá tượng đài của người Hoa Kỳ là Đại Tá Robert G. Ingersoll?

Trần Quang Diệu
_____________

"Tôi Là Bạn Gái Của Giáo Hoàng John Paul II"


Được Trình Chiếu Trên BBC
JNi.Media / jewishpress.com/

15-Feb-2016

Hồng Y Wojtyla và bà Anna-Teresa Tymieniecka trong chuyến đi cắm trại vào năm 1978. Ảnh jewwishpress.com
Tòa thánh Vatican phản đối một bộ phim tài liệu của BBC "khói nhiều hơn lửa", sẽ được trình chiếu thứ hai (15 tháng 2, 2016), hứa hẹn diều tra mối liên lạc lãng mạn của vị giáo hoàng mới được phong thánh John Paul II với người đàn bà đã có chồng, một triết gia Ba Lan Anna-Teresa Tymieniecka. "Những lá thư bí mật của Giáo Hoàng John Paul II" làm sáng tỏ mối quan hệ tình cảm của Đức giáo hoàng với Tymieniecka, người đã giữ từng mảnh giấy và phim liên quan đến 32 năm tình bạn của bà với Giáo Hoàng John Paul II.
Sau cái chết của bà, một kho tàng khổng lồ chứa các bức ảnh đã được tìm thấy trong số tài sản của bà, cho thấy Karol Wojtyla (còn gọi là JP II) trên một dốc trượt tuyết, quần soóc trên ven hồ, và sau này trong khu nhà ở của ông.
Hồng Y Karol với Anna-Teresa Tymieniecka trên một chuyến đi trượt tuyết. Ảnh http://www.jewishpress.com/
Trong năm 2008, Tymieniecka bán các thư lưu trữ thư cho Thư viện Quốc gia Ba Lan, và họ giữ kín cho đến khi BBC được mời đến nhìn qua.
Khi bà Tymieniecka gặp Hồng Y Karol Wojtyla vào năm 1973, ông là Tổng Giám Mục ở thành phố Krakow. Cũng giống như ông, bà đã phải chịu đựng sự chiếm đóng của Đức Quốc xã trong thê chiến thứ 2. Sau chiến tranh, bà đã theo học ngành triết học ở Mỹ, nơi bà kết hôn và có ba người con.
Hình ảnh bà Anna-Teresa Tymieniecka thời gặp Hồng y năm 1973. Ảnh do Bill và Jadwiga Smith cung cấp
Trong bốn năm Hồng y Wojtyla và Anna-Teresa Tymieniecka cùng hợp tác làm một cuốn sách về triết học bằng tiếng Anh mà ông đã viết trong khi giảng dạy tại Đại học Lublin. tuy nhiên, mối quan hệ sâu đậm hơn một sự hợp tác đơn thuần, và tiếp tục trong nhiều năm sau đó.
Các dấu hiệu đầu tiên của sự thân mật giữa họ là một lá thư gửi từ Rome, nơi mà Hồng Y Wojtyla đã tham dự một cuộc họp các giám mục Ca-tô Rô-ma giáo vào mùa thu năm 1974. Ông đem theo nhiều lá thư của bà Tymieniecka để trả lời "mà không sử dụng thư." Ông mô tả là "rất có ý nghĩa và riêng tư sâu sắc, dù chúng được viết trong mã từ của triết học."
Rõ ràng ở một thời điểm, khoảng năm 1976, bà đã tuyên bố tình cảm của mình với ông, vì một lá thư ông viết cho bà về sau đó gợi ý rằng ông đã cố gắng để làm cho mối quan hệ của họ có ý nghĩa theo quan niệm Kitô giáo. Ông viết rằng cô là "một món quà từ Thiên Chúa", và rằng "nếu tôi không có lòng tin này, một số ơn cứu chuộc về đạo đức nào đó, và hành động trong sự vâng phục, tôi sẽ không dám hành động như thế này."
Khi ông được bầu làm Giáo Hoàng, Gioan Phaolô (John Paul II) viết cho Tymieniecka rằng ông muốn tiếp tục mối giao tình. Nhưng họ đã xa rời nhau khi Vatican thiết lập một thách thức pháp lý chống lại việc xuất bản cuốn sách của họ, và bà đã bị buộc tội xuyên tạc ý tưởng của ông. Giáo Hoàng đã không bảo vệ thanh danh của bà, và bà cảm thấy bị phản bội. Nhưng khi John Paul đã được chẩn đoán mắc bệnh Parkinson (run) ở những năm đầu thập niên 1990, bà đã đến thăm ông thường xuyên. Chuyến thăm cuối cùng của bà vào ngày trước khi ông qua đời năm 2005.
Bà Tymieniecka thăm Giáo hoàng John Paul II ở Vatican
Bà Tymieniecka thăm Giáo hoàng John Paul II ở Vatican
Bà Tymieniecka thăm Giáo hoàng John Paul II ở Vatican. Ảnh BBC
Về tác giả: JNi.Media cung cấp cho các biên tập viên và các nhà xuất bản với nội dung chất lượng cao về người Do Thái cho các ấn phẩm của họ.
__________________________
Nhận xét của bạn đọc:
- Cathy Cronin - 25 phút trước: Hê, ít nhất đó là đàn bà, dù sao cũng là quan hệ tự nhiên!
-Robert Doktor, Riverside Community College - 1 giờ trước: Người đại diện cho Vatican tại Managua ở Nicaragua năm 1961 đi quanh các đường phố của Managua với bạn gái của mình và con cái của họ. Vậy tôi chẳng có gì ngạc nhiên về chuyện ông Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 này.
- Bonnie Loranger, Wayne State University - 2 giờ trước: Cho mấy ông tu sĩ có vợ là xong chuyện.
- Suzanna Deutsch, University of Wisconsin–Milwaukee - 2 giờ trước: Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã là một con người tốt. Thực tế là ông ta yêu một người phụ nữ và bà cũng yêu ông ta không làm cho ông bớt tốt.
- Roc Diaz - 8 giờ trước: Niềm tin Kitô giáo được dựa trên đạo đức giả. chính xác những gì bạn nhìn thấy ở đây, ở hàng giáo phẩm cao nhất.
- Bạn đọc SH:
- Đức Thím: Lỡ phong thánh cho Chàng rồi làm sao?
- Phi La Tồ: Chúa Giê su còn có bà Mary Magdalene theo nâng... chân, sửa ...áo, thì giáo hoàng có bồ đâu có sao nà. Bởi vậy, phong thánh làm chi cho tốn tiền. Mấy ông giáo hoàng chưa chết vẫn gọi là Đức Thánh Cha rồi!

7265. Tại sao Việt Tân không kiện A.C Thompson, Richard Rowley, PBS ra tòa?


Thạch Đạt Lang
25-2-2016
Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Vụ kiện cáo giữa báo Người Việt và Sài Gòn Nhỏ kết thúc cuối năm 2014 đã khiến cho bà Hoàng Dược Thảo sau mấy chục năm làm báo, trắng tay vì phải bồi thường 3 triệu đô la và một triệu rưỡi tiền phạt. Tháng 4 năm 2015, bà Hoàng Dược Thảo, chủ nhiệm Sài Gòn Nhỏ khai phá sản, tháng 2 năm 2016, báo Người Việt tiếp thu trụ sở báo SGN, coi như trừ một phần vào tiền phạt và tiền bồi thường.
Đây không phải là lần đầu tiên và chắc chắn sẽ không là lần cuối cùng người Việt hải ngoại kiện cáo, đem nhau ra tòa về những tội danh vu khống, chụp mũ, sỉ nhục nhau…
Bài học vu khống, chụp mũ cộng sản, sỉ nhục nhau trong cộng đồng người Việt hải ngoại dường như là một bài học khó thuộc. Khó thuộc vì thiếu hiểu biết, vì ngoan cố, coi thường luật pháp hay còn lý do nào khác như tranh ăn, thù hận cá nhân…? Câu trả lời dành cho những người liên hệ.
Một chuyện gây tranh luận ồn ào mới đây về sự vu khống, nhục mạ xẩy ra vào tháng 11.2015 là chuyện cuốn phim Terror in Little Sàigòn.
Có đúng là khi thực hiện cuốn phim Terror in Little Sài Gòn, hai ký giả Thompson, Rowley và đài truyền hình PBS đã có mục đích vu khống, chụp mũ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam là thủ phạm trong các vụ sát hại những ký giả Việt Nam trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, đồng thời bôi nhọ cộng đồng NVTNCS là môt cộng đồng hiếu chiến, dã man?
Sự việc tưởng chừng sẽ bùng nổ lớn với những lời tuyên bố hăm dọa đưa ra tòa, những bài viết đã kích, những cuộc phỏng vấn những người liên hệ, lên án, giải ảo, giải thật phim Terror in Little Sàigòn trên đài truyền hình Calitoday, báo Người Việt online, những cuộc họp kêu gọi, kích động cộng đồng tham gia phản đối cùng với sự tham gia của TNS Janet Nguyễn, tiểu bang California bằng một lá thư gửi đài ProPublica… cuối cùng đã lặng lẽ chìm xuồng.
Mục đích của bài viết này là đưa ra những nguyên nhân (phỏng đoán) mà đảng Việt Tân, ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Hoàng Cơ Định, Đỗ Hoàng Điềm… đến giờ phút này không dám kiện Thompson, Rowley, PBS ra tòa.
Việc đúng, sai của sự phỏng đoán còn chờ thời gian trả lời. Nếu sự việc chìm xuồng, nghĩa là không có tòa tiếc gì cả giữa Việt Tân, Nguyễn Xuân Nghĩa với Thompson, Rowley xẩy ra trong vòng vài ba năm thì (coi như) phỏng đoán của người viết là đúng.
Trong phạm vi bài viết này, chỉ nói đến vấn đề vu khống, chụp mũ Mặt Trận QGTNGPVN. Những hình ảnh liên quan đến diễn hành ngày 30.04, ngày quân lực 19.06 của cộng đồng NVTNCS trong phim, theo nhận định của người viết, không đủ yếu tố buộc tội người thực hiện phim có ý bôi nhọ cộng đồng.
Với những người quan tâm đến sự việc, có một điều lạ là Việt Tân cũng như ông Nguyễn Xuân Nghĩa không dám kiện cáo gì kẻ vu khống mình như báo Người Việt đã làm với báo Sài Gòn Nhỏ. Việt Tân chỉ bù lu, bù loa với cộng đồng, gửi thư yêu cầu Thompson rút lại những gì đã tuyên bố, đồng thời yêu cầu Propublica, Frontline nên xóa bỏ cuốn phim Terror in Little SàiGòn trên mạng.
Tiếc thay, hai phóng viên Thompson và Rowley đã không rút lại lời mà Việt Tân cho là “vu khống” mà còn tuyên bố sẵn sàng đối chất với ông Nguyễn Xuân Nghĩa, cũng như tiếp tục để phim Terror in Little Sàigòn trên mạng cho ai muốn coi thì cứ tự nhiên.
Vậy đâu là nguyên nhân Việt Tân, ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Hoàng Cơ Định không dám đưa Thompson, Rowley, PBS ra tòa?
Cuốn phim Terror in Little Sàigòn được trình chiếu, ra mắt khán giả tối ngày 03-11-2015, đến nay đã gần bốn tháng. Mọi ồn ào, tranh luận, khen, chê cũng đã lắng xuống nhưng dư âm cuốn phim, thỉnh thoảng vẫn còn khuấy động ít nhiều trong cộng đồng NVHN.
Xin được nhắc sơ lại diễn tiến sự việc trước khi vào chuyện chính.
Chỉ một ngày sau khi phim được chiếu trên đài truyền hình Frontline và PBS, ông cựu đại tá Vũ Văn Lộc, tức nhà văn Giao Chỉ, nổi tiếng trong cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản (NVTNCS) tại Orange County đã lên tiếng phê bình là cuốn phim dở, đầu voi đuôi chuột, đảng Việt Tân có thể kiện 2 ký giả Thompson, Rowley…
Theo sau lời phát biểu của ông Lộc, các đài tuyền hình Calitoday, báo Người Việt… đã có các cuộc phỏng vấn truyền hình trực tiếp hoặc qua điện thoại với các nhân vật liên hệ đến cuốn phim như hai ký giả thực hiện cuốn phim A.C. Thompson, Rowley, các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Lý Thái Hùng…
Việt Tân cũng có 2 cuộc họp báo sau đó, một ở Little Sàigòn ngày 16.11.2015 đo Đỗ Hoàng Điềm chủ tọa, một ở San José ngày 06.12.2015 tại thư viện Tully với các ông Huỳnh Lương Thiện, Đỗ Hùng, Phạm Đức Vượng… để chữa cháy cho Mặt Trận, lên án, chỉ trích cuốn phim.
Sau đó, ông Hoàng Tứ Duy phát ngôn viên của đảng Việt Tân gửi thư đến đài PBS, Thompson, Rowley phản đối nội dung cuốn phim đã có ý và lời lẽ xuyên tạc, vu khống Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam là tiền thân của đảng Việt Tân hiện nay. Trong thư Hoàng Tứ Duy yêu cầu đài PBS rút lại cuốn phim, chính thức xin lỗi cộng đồng NVTNCS. Bà Janet Nguyễn, TNS tiểu bang California cũng lên tiếng phụ họa lập trường này của đảng Việt Tân.
Đồng thời, ông Nguyễn Xuân Nghĩa, một kinh tế gia, cựu thành viên trong ban lãnh đạo Mặt Trận lên tiếng bác bỏ những cáo buộc mà Thompson, Rowley cho rằng ông đã tiết lộ với họ là ông có tham dự một cuộc họp, bàn về việc thanh toán ông Đỗ Ngọc Yến, chủ nhiệm báo Người Việt.
Tuy nhiên Thompson, Rowley đã viết email trả lời rằng họ sẵn sàng đối chất với ông Nghĩa về chuyện này vì ngoài Thompson, Rowley ra còn 2 người nữa là Cliff Parker, Joseph Sexton, nhân chứng đã nghe ông Nghĩa nói như vậy.
Sau email trả lời của Thompson và Rowley, ông Nghĩa đã không có phản ứng nào về mặt pháp lý mà chỉ lên báo Người Việt online phân trần với những giờ giải ảo do Đinh Quang Anh Thái đạo diễn.
Đi xa hơn nữa, Nguyễn Xuân Nghĩa kích động cộng đồng phản đối phim Terror in Little Sàigòn với luận điệu: Chúng ta tiếp tục là nạn nhân của truyền thông Mỹ, đồng thời chửi cộng đồng là ngu, điếc và mù nếu không lên tiếng phản đối phim Terror in Little Sàigòn.
Cộng đồng NVTNCS trở nên sôi động với những bài báo tranh luận về nội dung cuốn phim. Kẻ bênh, người chống nhưng rồi mọi chuyện ồn ào cũng qua đi, không thấy đảng Việt Tân, ông Nguyễn Xuân Nghĩa có thêm bước đi nào về mặt pháp lý để đưa A.C Thompson, Rowley hay PBS ra tòa về tội “vu khống”, “phỉ báng” không có bằng chứng.
Cơn bão trong ly nước tưởng chừng đã lắng, bất ngờ lại bị khuấy động lên bởi những lá thư của ông Nguyễn Thanh Tú – con trai nhà báo Đạm Phong – một gửi cho TNS Janet Nguyễn, một gửi cho bà Libby Liu Tổng Giám đốc đài RFA và ông Nguyễn Văn Khanh, Giám đốc Ban Việt ngữ RFA, một cho TNS liên bang của California, Loretta Sanchez.
Nội dung của ba lá thư giống nhau, yêu cầu điều tra về những liên hệ, hoạt động của Việt Tân với những người làm việc trong ban Việt ngữ đài RFA, nhân viên văn phòng, phụ tá cho bà Janet Nguyễn, Loretta Sanchez…
Cho đến nay chỉ mới có thư của bà Janet Nguyễn trả lời cho Nguyễn Thanh Tú.
Theo sự nhận định (suy đoán) của người viết, những lý do khiến đảng Việt Tân, các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Đỗ Hoàng Điềm… không dám manh động (có thể) như sau:
1. Vấn đề tài chánh
PBS là đài truyền hình lớn, có uy tín và thừa khả năng tài chánh để đối đầu với Việt Tân, Nguyễn Xuân Nghĩa, Hoàng Cơ Định trong một vụ kiện kéo dài, cần nhiều điều tra, nhân chứng.
Nếu PBS thua kiện và bị phạt, họ sẽ bị mất uy tín, mất khán giả và có nguy cơ bị tẩy chay, phải dẹp tiệm tùy theo mức độ thiệt hại, nhưng Việt Tân thua thì coi như rạt gáo. Bao nhiêu tiền bạc quyên góp kháng chiến từ đồng bào hải ngoại, kinh doanh hệ thống phở Hòa, ghe, tàu đánh cá… làm ra được trong mấy chục năm nay để nuôi kháng chiến, coi như tiêu các hoạt động.
2. Khía cạnh pháp lý
Mặt Trận cũng như Việt Tân Không ghi danh hoạt động tại tòa án nên không có tư cách pháp nhân để đứng tên thưa kiện bất cứ cá nhân hay tổ chức nào.
Muốn đứng tên để đưa cá nhân hay tổ chức nào đó ra tòa phải có tư cách pháp nhân, phải là một hoặc nhiều người có tên, tuổi, địa chỉ rõ ràng. Nếu là một tổ chức, phải có ghi danh tại tòa án (register), phải có bản điều lệ, địa chỉ liên lạc, mục đích sinh hoạt, danh sách hội viên, kê khai tài chánh thu nhập, tên tuổi người chịu trách nhiệm hiện hành (chủ tịch, phó chủ tịch, thủ quỹ…).
Còn không, khi muốn đưa Thompson, Rowley ra tòa về tội phỉ báng, vu khống, một hoặc tất cả các ông Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Hoàng Tứ Duy phải đứng tên, không thể dùng tên Việt Tân để khởi tố.
Điều này giống như phiên tòa năm 1994, ông Hoàng Cơ Định đã phải đứng tên thay vì là Mặt Trận để kiện ba ông Vũ Ngự Chiêu, Cao Thế Dung, Nguyễn Thanh Hoàng. Vụ kiện này là một bài học khá đắt giá cho ông Hoàng Cơ Định.
Tất nhiên ai đứng tên kiện thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hệ lụy mà phiên tòa đưa tới.
3.Về mặt quốc tế
Không một quốc gia nào cho phép công dân của mình hoặc những người cư trú trên đất nước thành lập những tổ chức, đảng phái công khai… có mục tiêu lật đổ chính quyền của các quốc gia khác khi hai nước đang có bang giao.
Việc ông Hoàng Cơ Minh thành lập MTQGTNGPVN đầu thập niên 80, hoạt động quyên góp, thu tiền đồng bào rầm rộ khắp nơi là một đặc ân (ngầm) của Tổng thống Reagan vì lúc đó Mỹ và CSVN là hai kẻ thù. Tuy nhiên MT cũng không thể công khai ghi danh tại tòa án để hoạt động hợp pháp cho việc lật đổ chế độ cộng sản, cho dù bằng bạo động hay bất bạo động. Đặc ân (ngầm) đó có thể đã hết hiệu lực khi Mỹ và CSVN thiết lập bang giao.
Do đó nếu ra tòa, Việt Tân có thể bị luật sư bào chữa cho đối phương tố giác là một tổ chức bất hợp pháp, vi phạm công pháp quốc tế.
4.Vấn đề liên hệ
Đặt giả thuyết Mặt Trận là một tổ chức có ghi danh tại tòa án, hoạt động hợp pháp, đương nhiên Việt Tân có quyền đưa Thompson, Rowley, đài PBS ra tòa, nhưng trong cơn hốt hoảng Việt Tân đã phản ứng tiền hậu bất nhất, khi phủ nhận, khi thừa nhận mình chính là hậu thân của MT. Cho dù chính thức ra mắt tại Berlin, Đức ngày 19.09.2004, nhưng vẫn có những bằng chứng không thể chối cãi được khi Việt Tân khẳng định rằng, Việt Tân chính là Mặt Trận, được thành lập ngày 10-9-1982, do ông Hoàng Cơ Minh là Chủ tịch Mặt Trận, cũng là Chủ tịch đảng Việt Tân.
Thông tin này hiện còn ở trên website của Việt Tân: Bối cảnh thành lập. “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng (gọi tắt là Đảng Việt Tân) đã được thành lập trong một Đại Hội Dựng Đảng được tổ chức vào ngày 10 tháng 9 năm 1982. Tại Đại hội này, Chiến hữu Hoàng Cơ Minh được suy cử là Chủ Tịch Đảng“.
5.Việc đối chất
Việc ông Nguyễn Xuân Nghĩa phủ nhận những gì đã nói với Thompson, Rowley rằng trong một buổi họp của MT, ông Nghĩa đã ngăn cản các thành viên MT không nên giết ông Đỗ Ngọc Yến, nếu phải ra tòa thì ông Nghĩa thua là điều chắc chắn khi nhân chứng là một chống bốn.
6.Yếu tố tâm lý
Kẻ phạm pháp dù tàn nhẫn, lạnh lùng, vô cảm tới đâu cũng có những giây phút ăn năn, sám hối hoặc hoảng sợ hậu quả do mình gây ra. Những kẻ chủ mưu hay sát thủ trong vụ giết hại những ký giả Việt Nam trong cộng đồng cho dù không sơ hở, để lại dấu vết khi hành động, thì việc sát nhân vẫn tồn tại.
Nếu không dính dáng đến những vụ sát nhân này, Việt Tân không có điều gì phải sợ hãi, thanh minh thanh nga, lôi kéo cộng đồng vào phản đối phim Terror in Little SàiGòn.
Các ông Hoàng Cơ Định, Nguyễn Xuân Nghĩa, Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng nên đứng tên nhờ luật sư đưa Thompson, Rowley, PBS ra tòa về tội vu khống, nhục mạ, hủy hoại thanh danh của Việt Tân, đồng thời lên tiếng xác nhận trên báo chí, truyền thông rằng Việt Tân chính là Mặt Trận.
7.Tỉ lệ thắng/thua
Không một luật sư khôn ngoan nào dám nhận tiến hành khởi tố một vụ kiện mà tỉ lệ thắng/thua còn thấp hơn xác xuất đi casino đánh bạc, kéo máy ở Las Vegas quá nhiều.
Hơn thế nữa, một vụ kiện do Việt Tân khởi tố có thể là nguyên nhân khiến cho FBI phải mở lại hồ sơ đã bị đóng băng, cho điều tra lại những vụ ám sát các ký giả, nhà báo Việt Nam thập niên 80-90, điều mà chắc chắn không ai trong Việt Tân mong muốn.
Nói tóm lại, căn cứ vào những điểm nêu trên, người ta có thể kết luận Việt Tân cũng như ông Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ không bao giờ dám khởi tố Thompson, Rowley hay đài PBS, ProPublica, Frontline về tội vu khống, phỉ báng.
Do đó khi A.C.Thompson ở cuối phim Terror in Little Sàigòn đã nói thẳng với ông Nguyễn Thanh Tú là, mọi chỉ dấu điều tra sự sát hại ông Nguyễn Đạm Phong đều hướng về MT, thì các ông Hoàng Cơ Định, Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Hoàng Tứ Duy ngoài việc tìm cách vừa phân bua vừa kích động, lôi kéo cộng đồng che chở cho mình, cũng đành ngậm đắng, nuốt cay, im lặng chờ cơn bão tan đi.
Ngay một việc nhỏ như đối với ông Bằng Phong – Đặng Văn Âu với nhiều bài viết đăng trên các trang mạng, nêu rõ ràng tên các ông Hoàng Cơ Định, Nguyễn Kim (Hườn) chất vấn về các sự việc gọi điện thoại hăm dọa, đòi tịch thu báo Lý Tưởng do ông Âu xuất bản… mà Việt Tân vẫn im lặng không dám lên tiếng thì chuyện đòi kiện Thompson, Rowley hay PBS chỉ là chuyện nằm mơ, nói cho sướng miệng.
Nếu lý luận rằng không có nhu cầu trả lời thì tại sao Việt Tân lại cố gắng tìm đủ mọi cách kích động, lôi kéo cộng đồng tham gia việc phản đối phim Terror in Little Sàigòn khi suốt 53 phút không ai nghe Thompson nói đến hai chữ Việt Tân?
Trong môt canh xì phé, chẳng có ai dại dột đi tháu cáy, tố cạn láng một ván bài khi biết rằng đối phương đã rõ quân bài tẩy của mình là con sất (lá bài số 7), dù trên mặt là đồng hoa (thùng) hay mùn xẩu (suốt, sảnh), và chỉ tố lấp lửng chờ mình sập bẫy.
Tuy nhiên trong ván xì phé này, Thompson cũng đã (lấp lửng) tố thêm khi tuyên bố đang làm cuốn phim thứ hai, tiếp tục nói về vụ án các ký giả Việt Nam bị sát hại trong cộng đồng người Việt ở Mỹ.
Việt Tân đang nằm trong một Dilemma.